Mục đích nghiên cứu Làm rõ những vấn đề lí luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay; phân tích nội dung cá
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Bạo lực gia đình dưới mọi hình thức đã và đang đe dọa tính mạng, ảnh hưởng xấu tới sức khoẻ con người và bị xem là hành vi vi phạm nghiêm trọng quyền con người Bạo lực gia đình, như nhận định của nhiều nhà nghiên cứu,
là hành vi làm tổn thương về thể chất và tinh thần của nạn nhân (thậm chí còn gây tử vong) và còn ảnh hưởng tới kinh tế gia đình Đối với phụ nữ trong gia đình có bạo lực dễ bị tổn thương và mang thai ngoài ý muốn do không có khả năng kiểm soát hành vi tình dục của bản thân Phụ nữ mang thai nếu là nạn nhân của bạo lực gia đình còn có thể hứng chịu những hậu quả như không thể chăm sóc thai tốt, sẩy thai, đẻ non, thai chết lưu…, bạo lực gia đình làm cho quan hệ gia đình bị sứt mẻ, có thể dẫn tới tan vỡ Trẻ em sống trong các gia đình có bạo lực giữa cha và mẹ chịu các ảnh hưởng tiêu cực như học hành sa sút, dễ trở thành nạn nhân của bạo lực hoặc khi lớn lên dễ sử dụng bạo lực đối với người khác
Trong những năm gần đây, tình hình bạo lực gia đình diễn ra phức tạp,
có chiều hướng gia tăng về số lượng và ngày càng trở nên nghiêm trọng hơn
về tính chất và mức độ vi phạm Theo thống kê chưa đầy đủ, hằng năm trong toàn quốc diễn ra hàng ngàn vụ bạo lực gia đình, trong số đó, mỗi năm có không dưới 300 vụ án hình sự về tội phạm bạo lực gia đình Bạo lực gia đình xâm hại đến các quyền cơ bản của các thành viên gia đình, làm nhiều gia đình
bị tan vỡ, ảnh hưởng đến sự phát triển lành mạnh và hài hòa của xã hội
Tuy nhiên, trên thực tế việc nhận thức về tính nguy hiểm của những hành vi bạo lực gia đình nói chung và tội phạm bạo lực gia đình nói riêng vẫn còn hạn chế Trong khi đó, việc điều chỉnh các mối quan hệ có liên quan đến bạo lực gia đình được quy định rải rác tại các văn bản quy phạm pháp luật
Trang 2khác nhau; các văn bản này còn mang tính quy định chung, chưa bao quát hết những nội dung liên quan đến hoạt động phòng, chống bạo lực gia đình Vì vậy, tình hình bạo lực gia đình, đặc biệt là tội phạm về bạo lực gia đình không những không suy giảm mà có xu hướng ngày càng diễn ra nghiêm trọng, phức tạp hơn Phòng, chống bạo lực gia đình đang đặt ra những nhiệm vụ cấp bách
và lâu dài, đòi hỏi phải áp dụng nhiều biện pháp và phương thức phòng, chống khác nhau
Trong số các biện pháp đấu tranh phòng, chống bạo lực gia đình thì biện pháp đấu tranh bằng pháp luật hình sự luôn giữ vai trò quan trọng Bằng việc quy định các tội phạm về bạo lực, đặc biệt là các trường hợp người phạm tội và người bị hại cùng là thành viên gia đình, từ đó áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các hành vi này, pháp luật hình sự đã trở thành công cụ sắc bén, hiệu quả để đấu tranh với hiện tượng bạo lực gia đình
Thực tiễn xử lý các tội phạm bạo lực gia đình cho thấy do nhận thức
về trách nhiệm hình sự chưa đầy đủ và thống nhất dẫn đến quá trình xây dựng pháp luật hình sự và áp dụng pháp luật hình sự đối với các hành vi phạm tội bạo lực gia đình còn hạn chế, việc áp dụng hình phạt còn quá nặng hoặc quá nhẹ, nhiều đối tượng phạm tội được hưởng án treo, một số bản án tuyên phạt nhưng không được chấp hành nghiêm chỉnh Bên cạnh
đó, việc áp dụng các hình thức khác của trách nhiệm hình sự cũng chưa được chú trọng áp dụng dẫn đến làm giảm hiệu quả đấu tranh với tình trạng bạo lực gia đình bằng pháp luật hình sự, pháp luật hình sự đã không còn là
vũ khí răn đe, cảnh tỉnh và trừng phạt đích đáng đối với nhiều người có tiềm năng và thực tế đã phạm tội bạo lực gia đình Nói cách khác, trong trường hợp này pháp luật hình sự đã không đáp ứng được mục đích xã hội của nó
Trang 3Xuất phát từ các lý do nêu trên, việc nghiên cứu trách nhiệm hình sự trong đấu tranh phòng, chống tội phạm bạo lực gia đình đang là một yêu cầu bức thiết Nhận thức được điều đó, tác giả đã mạnh dạn lựa chọn đề tài:
“Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam” làm đề tài Luận án tiến sỹ luật học
2 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
2.1 Mục đích nghiên cứu
Làm rõ những vấn đề lí luận và thực tiễn về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình theo pháp luật hình sự Việt Nam hiện nay; phân tích nội dung các quy định của pháp luật hình sự về các tội phạm bạo lực gia đình, những bất cập, hạn chế trong áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình và nguyên nhân của những hạn chế, bất cập, từ
đó, Luận án đề xuất các giải pháp nhằm hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình
2.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nêu trên, Luận án thực hiện các nhiệm vụ nghiên cứu sau:
- Nghiên cứu tổng quan những công trình nghiên cứu khoa học đã được công bố liên quan đến đề tài nghiên cứu; đánh giá kết quả nghiên cứu của các tác giả trước đó
- Phân tích những vấn đề lí luận về bạo lực gia đình, trách nhiệm hình
sự nói chung, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình nói riêng; nêu các khái niệm liên quan, các đặc điểm và phân tích làm rõ các khái niệm, đặc điểm đó
- Phân tích pháp luật về phòng, chống bạo lực gia đình của một số nước trên thế giới
Trang 4- Khái quát thực trạng quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình trong pháp luật hình sự Việt Nam trước khi ban hành
Bộ luật hình sự hiện hành
- Đánh giá thực trạng quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình trong pháp luật hình sự Việt Nam hiện hành và thực tiễn áp dụng
- Đề xuất phương hướng, giải pháp để hoàn thiện pháp luật hình sự và các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình ở Việt Nam; đề xuất cụ thể về hoàn thiện pháp luật và các giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của trách nhiệm hình sự đối với
các tội phạm bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
Các quan điểm, tư tưởng, nhận thức lý luận về bạo lực gia đình, tội phạm bạo lực gia đình, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình, các văn bản pháp luật hiện hành của Việt Nam về bạo lực gia đình, thực tiễn xây dựng, áp dụng pháp luật trong lĩnh vực này ở Việt Nam là đối tượng nghiên cứu chủ yếu của Luận án
3.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài Luận án “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia
đình theo pháp luật hình sự Việt Nam” được thực hiện dưới góc độ luật hình
sự và tố tụng hình sự với phạm vi nghiên cứu như tên gọi của đề tài Các số liệu được sử dụng phục vụ nghiên cứu đề tài được thu thập, thống kê từ dữ liệu của lực lượng Công an nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân, các tạp chí, các báo mạng và báo giấy từ năm 2009 đến năm 2015
Thời gian nghiên cứu: từ năm 2009 đến năm 2015
Trang 54 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Tác giả dựa trên cơ sở chủ nghĩa duy vật biện chứng và chủ nghĩa duy vật lịch sử, phương pháp luận của chủ nghĩa Mác - Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm, đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam, chính sách và pháp luật của Nhà nước Việt Nam về vấn đề bạo lực gia đình và phòng, chống tội phạm bạo lực gia đình, coi đó là cơ sở phương pháp luận để tiếp cận và giải quyết những nội dung cơ bản của Luận án
Để hoàn thành Luận án, tác giả còn sử dụng các phương pháp nghiên cứu khoa học cụ thể như: phương pháp thống kê, phương pháp so sánh, phương pháp phân tích, khảo sát, đối chiếu, tư vấn chuyên gia, phương pháp
hệ thống hoá; cụ thể như sau:
- Phương pháp phân tích tổng hợp - được sử dụng trong tất cả các chương của Luận án, nhằm tìm hiểu, trình bày các nhận thức, quan điểm về bạo lực gia đình, tội phạm bạo lực gia đình, trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm này; trên cơ sở đó đã khái quát và rút ra bản chất của các hiện tượng, các quy định và hoạt động thực tiễn liên quan (Chương 2 và Chương 3), từ đó đưa ra các đánh giá, kết luận, kiến nghị và giải pháp phù hợp nhằm củng cố nhận thức, hoàn thiện pháp luật hình sự về tội phạm bạo lực gia đình và áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình (Chương 4)
- Phương pháp thống kê, tổng hợp nhằm thống kê và so sánh các quy định pháp luật về bạo lực gia đình, tội phạm bạo lực gia đình trong lịch sử lập pháp của Việt Nam (Chương 2)
- Phương pháp hệ thống hóa - được sử dụng trong toàn bộ các chương của Luận án nhằm trình bày các vấn đề, các nội dung trong Luận án theo một trình tự, bố cục hợp lý, chặt chẽ, có sự gắn kết, kế thừa, phát triển các vấn đề, các nội dung để đạt được mục đích, yêu cầu đã được xác định
Trang 6- Phương pháp khảo sát thực tiễn, sử dụng số liệu thống kê hình sự của các cơ quan quản lý nhằm tìm hiểu, đánh giá về thực tiễn bạo lực gia đình, tội phạm bạo lực gia đình, quy định về bạo lực gia đình trong Luật hình sự, Luật hành chính Việt Nam (Chương 3)
- Phương pháp tọa đàm khoa học, phỏng vấn chuyên gia, bảng câu hỏi điều tra xã hội học, nhằm tìm hiểu, đánh giá về bạo lực gia đình, tội phạm bạo lực gia đình, cơ chế và các biện pháp áp dụng pháp luật bảo vệ nạn nhân của bạo lực gia đình (Chương 3)
- Phương pháp phân tích dự báo khoa học, nhằm dự báo các vấn đề liên quan tới bạo lực gia đình trong tương lai gần, từ đó đề xuất giải pháp, biện pháp nâng cao hiệu quả phòng, chống bạo lực gia đình nói chung và
áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình nói riêng (Chương 4)
5 Những điểm mới và ý nghĩa của Luận án
- Luận án là công trình khoa học đầu tiên nghiên cứu trực tiếp và tổng
thể vấn đề “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình theo
pháp luật hình sự Việt Nam” Bằng những luận cứ khoa học, Luận án đã làm
rõ căn cứ lý luận và thực tiễn quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình ở Việt Nam; đề xuất những kiến nghị hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự và giải pháp khác nhằm nâng cao hiệu quả của việc áp dụng trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm này
- Luận án là công trình khoa học có giá trị tham khảo cho việc nghiên cứu, giảng dạy, học tập những nội dung liên quan đến bạo lực gia đình và tội phạm bạo lực gia đình ở Việt Nam hiện nay
Trang 7- Luận án góp phần tư vấn chính sách hình sự nói chung và chính sách hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình nói riêng, nhất là cho việc sửa đổi Bộ luật hình sự và các văn bản hướng dẫn thi hành Bộ luật hình sự
6 Kết cấu của Luận án
Ngoài phần mở đầu và danh mục tài liệu tham khảo, Luận án gồm 4 chương, cụ thể như sau:
- Chương 1: Tổng quan về tình hình nghiên cứu
- Chương 2: Những vấn đề lý luận về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình
- Chương 3: Thực trạng quy định trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình và thực tiễn áp dụng
- Chương 4: Hoàn thiện các quy định của pháp luật hình sự về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình
Trang 8Chương 1 TỔNG QUAN VỀ TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 1.1 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài
Xuất phát từ tính chất nguy hiểm của hành vi BLGĐ nói chung và của TPBLGĐ nói riêng, đặc biệt là mối quan hệ đặc thù giữa chủ thể xâm phạm
và chủ thể bị xâm phạm trong mối quan hệ gia đình mà BLGĐ cũng như TPBLGĐ nhận được sự quan tâm nghiên cứu của nhiều nhà khoa học trên thế giới Bởi vậy, đã có khá nhiều công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp
đề cập đến BLGĐ và các TPBLGĐ được công bố Tuy nhiên, do rào cản ngôn ngữ, tác giả Luận án khó có thể tham khảo hết những công trình nghiên cứu
đó Bởi vậy, tổng quan tình hình nghiên cứu ở nước ngoài, tác giả Luận án chỉ nêu những công trình nghiên cứu mà tác giả có điều kiện tiếp cận
Trong số những công trình nghiên cứu trực tiếp hoặc gián tiếp liên quan đến BLGĐ cũng như TPBLGĐ, trước hết cần kể đến công trình nghiên cứu:
“Chuẩn mực quốc tế của Luật phòng, chống bạo lực trong gia đình”, của tác giả Shelley Casey, chuyên gia về giới của Liên Hợp Quốc Trong công trình nghiên cứu này, Shelley Casey nêu rõ mục đích của Luật phòng, chống BLGĐ của các quốc gia, trong đó nêu rõ khái niệm BLGĐ, phân biệt BLGĐ với các dạng bạo lực khác, mục đích của việc ban hành luật về BLGĐ giải quyết vấn đề gì, phạm vi điều chỉnh, các loại hành vi BLGĐ, trẻ em là nạn nhân của tình trạng BLGĐ và trẻ em phải chứng kiến cảnh BLGĐ, phòng ngừa BLGĐ, những tình huống có thể dẫn tới việc ban hành quyết định bảo
vệ, độc lập với bất cứ việc kiện tụng hoặc sự can thiệp pháp lý nào khác (hình
sự, dân sự, hành chính), chế tài đối với việc vi phạm quyết định bảo vệ, các hoạt động hỗ trợ nạn nhân của BLGĐ, trợ giúp khẩn cấp, các hình thức xử
lý bổ sung đối với người vi phạm, thu thập và báo cáo số liệu, hoạt động điều phối và trách nhiệm của các cơ quan Có thể nói, đây là một trong số
Trang 9những công trình nghiên cứu chuyên sâu về BLGĐ, cung cấp cho người đọc một cái nhìn sâu và rộng về hiện tượng tiêu cực - BLGĐ, cách thức, phương tiện hạn chế, khắc phục và dần loại trừ nó
Tác giả Luận án lĩnh hội từ công trình nghiên cứu trên đây của Shelley Casey cách tiếp cận, nghiên cứu về khái niệm, bản chất của BLGĐ; các chuẩn mực phòng, chống BLGĐ khi xem xét vấn đề trách nhiệm hình sự ở Chương tiếp theo
Cuốn sách “Freedom from violence - Women‟strategies from Around the world” (Thoát khỏi bạo lực – chiến lược toàn cầu của phụ nữ) do Marrgaret Schuler làm chủ biên, phản ánh tình trạng bạo lực đối với phụ nữ ở
Mỹ và các nước đang phát triển như: Srilanka, Pakistan, Ấn Độ, Malaysia, Thái Lan, Suddan, Mexico, Brazil, Chile… đồng thời đề xuất chiến lược phòng, chống bạo lực đối với phụ nữ ở phạm vi toàn thế giới Nhiều ý tưởng cũng như các nhận xét, đánh giá về tình trạng BLGĐ đối với phụ nữ trong cuốn sách này đã được tác giả tiếp thu, tham khảo trong quá trình thực hiện Luận án
Về các công trình nghiên cứu tội phạm bạo lực gia đình của các nước, không thể không nhắc đến cuốn sách “Luật phòng, chống BLGĐ của một số nước trên thế giới” do Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2006, bao gồm bản dịch của 10 đạo luật hoặc dự án luật phòng, chống BLGĐ của các nước, luật mẫu về phòng, chống bạo lực của Liên hợp quốc Trong cuốn sách này nhóm tác giả đã nêu các quy định cụ thể về phòng, chống bạo lực của các nước, như: Luật bảo vệ chống BLGĐ của Bungari, Luật phòng ngừa BLGĐ và bảo
vệ nạn nhân của Vương quốc Campuchia, Luật chống BLGĐ của Đông Ti
mo, Luật đặc biệt về trừng phạt hành vi bạo lực trong gia đình của Hàn Quốc, Luật về xóa bỏ bạo hành trong gia đình của Cộng hòa In đô nê xia, Luật chống bạo hành gia đình của Mông Cổ, Luật phòng ngừa bạo lực hôn nhân và
Trang 10bảo vệ nạn nhân của Nhật Bản, Luật chống bạo hành phụ nữ và trẻ em năm
2004 của Cộng hòa Philipin, Dự thảo Luật phòng ngừa và hiệu chỉnh BLGĐ của Thái Lan, Quy tắc 9 của Ủy ban liên ngành về BLGĐ đối với phụ nữ và trẻ em của Cộng hòa Philipin Trên cơ sở phân tích có so sánh nội dung của Luật phòng, chống BLGĐ của một số nước trên đây, cuốn sách đã cung cấp bức tranh toàn cảnh về những vấn đề liên quan đến BLGĐ đã được luật hóa trong các văn bản quy phạm pháp luật của các nước; cho thấy những điểm tương đồng và khác biệt trong nhận thức cũng như trong thể chế hóa các quy định nhằm phòng, chống BLGĐ ở mỗi nước
Chuyên gia về vấn đề hôn nhân ở Hồng Kong, bà Paulian Kwok ing đã khẩn thiết kêu gọi các cơ quan chức năng cũng như các nhà hoạt động
Chi-xã hội: “trước khi mải mê đi tìm giải pháp cho những vấn đề trọng đại như chiến tranh, kinh tế, chính trị, hãy cứu lấy các “tế bào đang nhiễm bệnh” Các
tế bào mà bà Paulina Kwok Chi-ing nói ở đây chính là các gia đình - tế bào của xã hội Quả đúng như vậy, bởi ở hầu hết mọi nền văn hóa, gia đình được coi là giá trị nền tảng và gia đình đều được coi là tế bào xã hội
Một trong những đặc điểm của BLGĐ là bạo lực giới, như nhận định của Tổ chức Y tế Thế giới: “Phần lớn bạo lực chống lại phụ nữ xẩy ra trong gia đình và người gây ra bạo lực gần như luôn luôn là nam giới, thường là người chồng/người tình, hoặc người chồng cũ/người tình cũ” (WH 1998:5) Theo Tuyên ngôn về loại trừ bạo lực chống lại phụ nữ do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua năm 1993 thì: bất kì hành động bạo lực nào dựa trên cơ
sở giới dẫn đến, hoặc có khả năng dẫn đến, những tổn thất về thân thể, về tình dục hay tâm lý hoặc những đau khổ của phụ nữ, bao gồm cả sự đe dọa
có những hành động như vậy, sự cưỡng bức hay tước đoạt một cách tùy tiện sự tự do, dù nó xẩy ra ở nơi công cộng hay trong cuộc sống riêng tư
Trang 111.2 Tình hình nghiên cứu trong nước
Vấn đề BLGĐ nói chung và TPBLGĐ nói riêng cũng là một trong những vấn đề được các nhà khoa học Việt Nam quan tâm nghiên cứu Kết quả nghiên cứu về BLGĐ nói chung và TPBLGĐ nói riêng được thể hiện dưới nhiều hình thức khác nhau, như các sách chuyên khảo, tài liệu công tác, các giáo trình, luận án tiến sĩ, luận văn thạc sĩ… Trong số những cuốn sách chuyên khảo, có thể kể đến một số công trình tiêu biểu:
* Sách chuyên khảo:
- Nguyên tắc công bằng trong Luật hình sự Việt Nam của GS.TS Võ Khánh Vinh do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 1993 Cuốn sách nghiên cứu nhiều vấn đề xoay quanh nguyên tắc công bằng trong luật hình sự Việt Nam, đặc biệt là công bằng trong vấn đề hình phạt và quyết định hình phạt - hòn đá tảng của việc giải quyết các vấn đề tội phạm, hình phạt và các vấn đề khác liên quan đến tội phạm và hình phạt
- Cuốn sách do TS Hoàng Bá Thịnh chủ biên: “Bạo lực giới trong gia đình Việt Nam và vai trò của truyền thông đại chúng trong sự nghiệp phát triển phụ nữ”, do Nhà xuất bản Thế giới ấn hành năm 2005 đã phân tích thực trạng bạo lực trong gia đình, phân tích tầm quan trọng của truyền thông đại chúng trong phòng, chống BLGĐ, cuốn sách cho thấy bức tranh toàn cảnh về bạo lực giới, tác hại của nó và phương tiện khắc phục, loại trừ Trong cuốn sách này, tác giả đặc biệt nhấn mạnh tới vai trò của truyền thông đại chúng trong giải quyết vấn đề bạo lực về giới trong gia đình, nhấn mạnh, ngoài vấn
đề TNHS còn phải kết hợp tổng thể các biện pháp và phương tiện khác
- Cuốn sách: “Luật hình sự quốc tế với việc đảm bảo quyền con người” của TS Nguyễn Thị Phương Hoa do Nhà xuất bản Đại học Quốc gia thành phố Hồ Chí Minh xuất bản năm 2014 đề cập việc PLHS quốc tế quy định TNHS của cá nhân khi vi phạm pháp luật, vi phạm quyền con người
Trang 12của cá nhân khác Cuốn sách phân tích một cách thấu đáo và khoa học các kiến thức về luật hình sự quốc tế và vai trò của luật hình sự trong việc bảo đảm quyền con người Cuốn sách giúp tác giả Luận án này tiếp cận vấn đề TNHS đối với tội phạm nói chung và đối với TPBLGĐ nói riêng
- Cuốn sách: “Bảo vệ quyền con người trong Luật hình sự, tố tụng hình
sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 2004, đề cập tới vấn đề bảo vệ quyền con người nói chung, bảo
vệ quyền con người tại Việt Nam nói riêng Theo tác giả, tôn trọng và bảo vệ quyền con người vốn là truyền thống quý báu của dân tộc Việt Nam, đặc biệt được phát triển rực rỡ sau cách mạng tháng tám thành công Trong các giai đoạn lịch sử Việt Nam, quyền con người luôn được thể hiện, cụ thể là quyền con người được bảo vệ trong luật hình sự, tố tụng hình sự Việt Nam từ thời Đinh, Lý, Trần, Lê, Nguyễn Như vậy, quyền con người là quyền tối thượng của từng cá nhân đã được cả thế giới thừa nhận Nghiên cứu về quyền con người trong luật hình sự Việt Nam cho thấy, PLHS luôn đặt sự chú ý tới việc bảo vệ quyền con người: như quyền được sống, quyền tự do, quyền bảo đảm sức khỏe, quyền nhân thân khác Từ đó, suy rộng ra, BLGĐ cũng chính là xâm phạm quyền con người, quyền được bảo vệ tính mạng, sức khỏe, được tự
do, bình đẳng, không phân biệt nam, nữ, già trẻ Như vậy, cuốn sách này cũng
là tài liệu tham khảo hết sức hữu ích để nghiên cứu sinh hoàn thành Luận án
- Cuốn sách “Đồng phạm trong Luật hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp do Nhà xuất bản Tư pháp ấn hành năm 2007 đã phân tích một cách toàn diện và có hệ thống những vấn đề lý luận, cũng như thực tiễn áp dụng PLHS, đặc biệt là áp dụng các quy định về TNHS trong đồng phạm,
đề xuất các giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng TNHS trong PLHS nói chung Đây là tài liệu tốt để nghiên cứu sinh tham khảo trong quá trình hoàn thiện Luận án
Trang 13- Cuốn sách “Nguyên tắc nhân đạo trong Luật hình sự Việt Nam” của PGS.TS Hồ Sỹ Sơn do Nhà xuất bản khoa học xã hội ấn hành năm 2009 đã
đề cập đến TNHS nhìn từ góc độ của nguyên tắc nhân đạo Tác giả cuốn sách dành dung lượng lớn để phân tích sự thể hiện của nguyên tắc nhân đạo trong các quy định về TNHS, về hình phạt và về quyết định hình phạt Qua phân tích, tác giả còn làm nổi bật cái được và cái chưa được trong các quy định pháp luật về TNHS, về hình phạt, về quyết định hình phạt Các hình thức khác (ngoài hình phạt) như miễn TNHS, miễn hình phạt, án treo, các biện pháp tư pháp, xóa án tích cũng được tác giả cuốn sách phân tích một cách thấu đáo Cuốn sách này là tài liệu quan trọng giúp tác giả Luận án thực hiện nhiều vấn
đề thuộc nội dung của đề tài nghiên cứu
- Cuốn sách “Nguyên tắc phân hóa trách nhiệm hình sự” của TS Cao Thị Oanh do Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2008, cũng là tài liệu mà nghiên cứu sinh đã tham khảo khi nghiên cứu TNHS nói chung và TNHS đối với các tội phạm bạo lực gia đình nói riêng Theo TS Cao Thị Oanh thì chỉ có thể thực hiện được mục tiêu công bằng trong xử lí người phạm tội mỗi khi TNHS được áp dụng tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của tội phạm được thực hiện Như vậy, vấn đề này đã giúp Nghiên cứu sinh tìm hiểu rõ hơn về TNHS đối với tội phạm nói chung, tội phạm bạo lực gia đình nói riêng
- Cuốn sách “Trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm về ma túy” của
TS Trần Văn Luyện do Nhà xuất bản Chính trị quốc gia xuất bản năm 1998, là một trong những tài liệu được Nghiên cứu sinh tham khảo nhiều vì cuốn sách
đã nêu một số vấn đề lý luận về chính sách hình sự, trong đó tác giả nhấn mạnh TNHS là một nội dung cơ bản của chính sách hình sự và được thể hiện tập trung nhất trong PLHS Trong cuốn sách này các hình thức TNHS, nhất là hình phạt được phân tích một cách chi tiết và thuyết phục
Trang 14- Cuốn sách “Hình phạt trong Luật Hình sự Việt Nam” của Viện Nghiên cứu khoa học pháp lí - Bộ Tư pháp, do Nhà xuất bản chính trị Quốc gia ấn hành năm 1995, tập trung phân tích những căn cứ lý luận và thực tiễn của chính sách hình sự và hình phạt, đi sâu phân tích khá chi tiết các loại hình phạt trong Luật hình sự Việt Nam Cuốn sách là tài liệu tham khảo có giá trị
về mặt lí luận giúp Nghiên cứu sinh hoàn thành Luận án
- Cuốn sách “Lịch sử Luật Hình sự Việt Nam” của TS Trần Quang Tiệp, do Nhà xuất bản Chính trị Quốc gia xuất bản năm 2003, nêu bật tính kế thừa và tính phát triển của việc quy định các chế định tội phạm và hình phạt trong luật hình sự Việt Nam Cuốn sách cung cấp cho tác giả Luận án nghiên cứu lịch sử phát triển của TNHS, giúp tác giả Luận án phân tích nhiều vấn đề thuộc nội dung nghiên cứu từ góc độ lịch sử
- Tài liệu Công tác phòng, chống BLGĐ do Cơ quan phòng chống ma túy và tội phạm Liên hợp quốc phối hợp với Cục Chính trị - Tổng cục Cảnh sát Phòng, chống tội phạm Bộ Công an và Vụ Pháp luật Hành chính, Hình sự,
Bộ Tư pháp thực hiện Tài liệu này tập trung phân tích, làm rõ bạo lực đối với phụ nữ, đối với gia đình như là hiện tượng mang tính toàn cầu nhưng mức độ ảnh hưởng và hậu quả của nó vẫn thường bị đánh giá thấp Hiện tượng này đã ảnh hưởng trực tiếp đến 1/3 số phụ nữ trên thế giới vì cứ 3 người phụ nữ thì
có một người trong cuộc đời từng bị đánh, bị cưỡng bức về tình dục hay các hình thức lạm dụng khác Ở Việt Nam, BLGĐ có nguồn gốc từ trong xã hội phong kiến và diễn ra ở tất cả các tầng lớp xã hội Hậu quả của BLGĐ là rất lớn vì không chỉ đối với nạn nhân và còn là người thân của họ, gây tốn kém
về chi phí cho điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án, chữa trị thương tích và công tác hỗ trợ nạn nhân Từ nhận thức về tính nghiêm trọng của BLGĐ, tài liệu này đã được bố cục thành 6 phần: trong đó có tập huấn về BLGĐ cho cán
bộ hành pháp và tư pháp Việt Nam; tìm hiểu về bình đẳng giới và BLGĐ;
Trang 15khung pháp lý của Việt Nam về phòng, chống BLGĐ; xử lý ban đầu đối với BLGĐ; hệ thống xử lý vi phạm hành chính và vấn đề BLGĐ; hệ thống tư pháp hình sự và các vụ BLGĐ Đặc biệt, tài liệu đã nêu khái quát về hệ thống
tư pháp hình sự Việt Nam trong giải quyết các vụ án BLGĐ; việc tiến hành điều tra vụ án hình sự; quyết định khởi tố vụ án hình sự, quyết định áp dụng các biện pháp ngăn chặn phù hợp, tiến hành phiên tòa và kỹ thuật làm việc với nạn nhân Đây là nội dung tham khảo rất quan trọng cho tác giả trong quá trình thực hiện Luận án
- Tài liệu Công ước của Liên hiệp quốc về quyền trẻ em là nguồn pháp
luật quốc tế, đã quy định cụ thể về việc trẻ em có quyền được chăm sóc và
giúp đỡ đặc biệt, với mong muốn gia đình là nhóm xã hội cơ bản và môi trường tự nhiên cho sự phát triển và hạnh phúc của tất cả thành viên Đặc biệt, trẻ em cần có sự bảo vệ và giúp đỡ cần thiết có thể đảm đương được đầy đủ các trách nhiệm của mình trong cộng đồng, để phát triển đầy đủ và hài hoà nhân cách của mình Trẻ em cần được lớn lên trên môi trường gia đình, trong bầu không khí hạnh phúc, yêu thương và cảm thông phù hợp với Tuyên ngôn
về Quyền trẻ em rằng: “do còn non nớt về thể chất và trí tuệ, trẻ em cần được bảo vệ và chăm sóc đặc biệt, kể cả sự bảo vệ thích hợp về mặt pháp lý trước cũng như sau khi ra đời” Đặc biệt, trong phạm vi của Công ước này, trẻ em
có nghĩa là mọi người dưới 18 tuổi, trừ trường hợp luật pháp áp dụng với trẻ
em đó qui định tuổi thành niên sớm hơn Điều này cũng chính là một trong những căn cứ để xác định tuổi chịu TNHS đối với trẻ em quy định trong BLHS Việt Nam năm 1999 và BLHS Việt Nam năm 2015
- Trong quá trình nghiên cứu đề tài Luận án này, Nghiên cứu sinh có tham khảo các báo cáo và tài liệu như: Báo cáo tổng kết 3 năm (2008-2011) thi hành BLHS năm 1999 trong lực lượng Công an nhân dân; dự thảo Báo cáo tổng kết thực tiễn thi hành BLHS năm 1999 của Bộ Tư pháp; Những định
Trang 16hướng cơ bản xây dựng dự án BLHS (sửa đổi) của Ban soạn thảo xây dựng
dự án BLHS (sửa đổi); Báo cáo số 979/BC-UBTVQH13 ngày 24/11/2015 của
Ủy ban thường vụ Quốc hội; Báo cáo số 1018/BC-UBTVQH13 ngày 24/11/2015 của Ủy ban thường vụ Quốc hội giải trình, tiếp thu, chỉnh lý dự thảo BLHS (sửa đổi) trình Quốc hội thông qua
Trong các báo cáo và tài liệu nêu trên, vấn đề TNHS, đặc biệt là áp dụng TNHS nói chung, hình phạt nói riêng được các tác giả đề cập, phân tích, đánh giá một cách sâu sắc, nhiều tài liệu đã làm rõ những thành tựu trong việc xây dựng các quy định và áp dụng TNHS, hình phạt cũng như những hạn chế, bất cập trong các quy định về TNHS, hình phạt; nêu rõ nguyên nhân cũng như phương hướng hoàn thiện Những tài liệu này giúp tác giả Luận án có cái nhìn tổng quan, biện chứng hơn về sự phát triển của các quy định về TNHS và hình phạt, tính quyết định về mặt xã hội của các quy định pháp luật đó
- Trong số những tài liệu có đề cập nghiên cứu về chất lượng dịch vụ tư pháp hình sự hiện nay dành cho nạn nhân BLGĐ ở Việt Nam có tài liệu của
Dự án “Tăng cường năng lực cho cơ quan hành pháp và tư pháp phòng chống BLGĐ tại Việt Nam”(VNM/T28) Đây là tài liệu giới thiệu về tình hình BLGĐ ở Việt Nam, phân tích các số liệu liên quan đến bạo lực trong nước cũng như hình thức và tỷ lệ BLGĐ, nêu rõ các quy định của luật pháp Việt Nam, về BLGĐ Trên cơ sở phỏng vấn 900 phụ nữ và 30 cán bộ công an, nhân viên tư pháp, các tác giả Dự án đã có những kiến nghị hợp lý và hữu ích Đối với tác giả Luận án, tài liệu là một kênh thông tin quan trọng để nghiên cứu, tham khảo, hoàn thiện Luận án
* Các giáo trình:
Nghiên cứu TNHS đối với các TPBLGĐ không thể không nghiên cứu
lý luận chung về trách nhiệm pháp lý Do vậy, một trong những giáo trình lý luận chung về Nhà nước và Pháp luật mà tác giả luận án tham khảo là: “Giáo
Trang 17trình lý luận nhà nước và pháp luật” của Trường Đại học Luật Hà Nội được Nhà xuất bản Công an nhân dân ấn hành năm 2008 Giáo trình này cung cấp cho tác giả khái niệm trách nhiệm nói chung và trách nhiệm pháp lý nói riêng, đặc biệt là bản chất của dạng trách nhiệm này, đây chính là tiền đề để nghiên cứu TNHS đối với các tội phạm bạo lực gia đình
Để nghiên cứu TNHS đối với các TPBLGĐ, Nghiên cứu sinh đã tìm đến các giáo trình chuyên ngành Luật hình sự Một trong số đó là “Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung” do GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên được Nhà xuất bản Khoa học xã hội phát hành vào năm 2014 Đây là cuốn giáo trình
có quy mô đồ sộ không chỉ về số lượng trang xuất bản mà còn đồ sộ về những vấn đề thuộc đối tượng nghiên cứu, trong đó có vấn đề trọng tâm là TNHS Các tác giả của cuốn Giáo trình đi sâu nghiên cứu các vấn đề như TNHS, miễn TNHS, hình phạt, hệ thống hình phạt, các biện pháp tư pháp, miễn hình phạt, xóa án tích Đối tượng phục vụ của Giáo trình là học viên cao học và nghiên cứu sinh ngành luật, do vậy, hàm lượng khoa học của giáo trình này là rất cao Cũng chính Giáo trình này đã cung cấp cho tác giả luận án cách tiếp cận nghiên cứu rất bổ ích và lý thú, giúp tác giả luận án phân tích sâu nhiều vấn đề thuộc nội dung của luận án
Ngoài giáo trình sau đại học về Luật hình sự Việt Nam - Phần chung nói trên, tác giả luận án còn tham khảo một số loạt giáo trình đại học cũng về Luật hình sự (phần chung), trong số đó, có thể kể đến:
- Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần chung của Đại học Huế, do
GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên và Nhà xuất bản Công an nhân dân, xuất bản năm 2014;
- Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam - Phần các tội phạm của Đại học Huế, do GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2000;
Trang 18- Giáo trình Lý luận chung về định tội danh của Đại học Huế, do
GS TS Võ Khánh Vinh chủ biên, Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2013;
- Giáo trình Tội phạm học của Đại học Huế, của GS TS Võ Khánh Vinh, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2013;
- Giáo trình Luật Hình sự Việt Nam tập I, II của Trường Đại học Luật
Hà Nội, do Nhà xuất bản Công an nhân dân xuất bản năm 2012
Các giáo trình nêu trên tập hợp hệ thống những kiến thức cơ bản về PLHS Việt Nam, để phân tích chuyên sâu nhiều nội dung liên quan đến một lĩnh vực chuyên biệt của PLHS Việt Nam trong đó có TNHS nói chung và TNHS đối với đối từng loai tội phạm nói riêng
- Năm 2007, nghiên cứu sinh đã bảo vệ xuất sắc Đề tài cấp cở sở về vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong phòng, chống BLGĐ Đề tài đã phân tích khái niệm BLGĐ, vai trò của lực lượng Công an nhân dân trong đấu tranh phòng, chống các vi phạm pháp luật có liên quan đến BLGĐ; tình hình, kết quả đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật liên quan đến BLGĐ của Công an nhân dân Tác giả đã dự báo tình hình tội phạm và vi phạm pháp luật
về bạo lực trong thời gian tới và đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật về BLGĐ của lực lượng Công
an nhân dân Đề tài này cũng là tài liệu tham khảo hữu ích giúp tác giả hoàn thiện Luận án
* Luận văn, luận án và các bài báo
- Trong số những luận văn, luận án mà Nghiên cứu sinh tham khảo để thực hiện đề tài Luận án của mình, trước hết phải kể đến Luận văn thạc sĩ của chính tác giả, bảo vệ năm 2007 tại Viện Nhà nước và pháp luật về TNHS đối với những hành vi phạm tội BLGĐ Luận văn bước đầu phân tích một số cơ
sở lí luận và thực tiễn về TNHS đối với những hành vi phạm tội BLGĐ, làm
Trang 19rõ một số khái niệm, quan niệm về BLGĐ và hành vi phạm tội BLGĐ, từ đó đưa ra một số khuyến nghị cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng TNHS đối với các hành vi phạm tội BLGĐ Là luận văn Thạc sỹ, tác giả chỉ mới dừng lại ở việc nghiên cứu, làm sáng tỏ một số khái niệm và hành vi phạm tội BLGĐ, TNHS đối với các hành vi đó mà chưa đề cập, phân tích sâu về các tội phạm bạo lực gia đình, TNHS đối với các tội phạm bạo lực gia đình, do đó tác giả Luận án sẽ giải quyết vấn đề nêu trên trong các chương của Luận án
- Luận án tiến sĩ luật học của Nguyễn Ngọc Chí về TNHS đối với các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trong luật hình sự Việt Nam, trong
đó đã đề cập đến nhiều vấn đề như khái niệm, bản chất, hình thức của TNHS Tuy phạm vi và giới hạn nghiên cứu TNHS mà tác giả Nguyễn Ngọc Chí thực hiện chỉ liên quan đến các tội xâm phạm sở hữu có tính chiếm đoạt trong luật hình sự Việt Nam nhưng tác giả Luận án đã tiếp thu cách tiếp cận nghiên cứu của tác giả Nguyễn Ngọc Chí để nghiên cứu các vấn đề tương tự thuộc Luận
đã tìm hiểu thêm về khái niệm, quan điểm đối với vấn đề TNHS, một số vấn
đề lý luận về mặt nguyên tắc đối với chính sách hình sự, vấn đề TNHS được quy định trong BLHS qua các thời kì khác nhau
- Luận án tiến sĩ luật học của Bùi Văn Thịnh về hoạt động phòng ngừa tội phạm xâm phạm tính mạng, sức khỏe con người của lực lượng Cảnh sát nhân dân - Học viện Cảnh sát nhân dân, năm 2007 đã mô tả tình hình, diễn
Trang 20biến các loại tội phạm mang tính bạo lực này ở Việt Nam, trình bày và đề xuất các giải pháp phòng ngừa từ phía lực lượng Cảnh sát nhân dân - lực lượng chủ công trong đấu tranh phòng, chống tội phạm Nghiên cứu luận án này, tác giả tìm thấy tính tương đồng nổi bật giữa tội phạm bạo lực nói chung
và tội phạm bạo lực gia đình nói riêng, vai trò của TNHS cũng như các giải pháp phòng, chống tương tự
- Luận án tiến sĩ của Phạm Minh Chiêu, Học viện Cảnh sát nhân dân về hoạt động của lực lượng Cảnh sát nhân dân trong phòng ngừa tội phạm về BLGĐ ở Việt Nam Mặc dù tác giả Luận án tiếp cận vấn đề từ góc độ Tội phạm học và điều tra tội phạm, song rất nhiều nội dung như: tình hình tội phạm về BLGĐ ở Việt Nam, hoạt động phòng ngừa tội phạm về BLGĐ của lực lượng Cảnh sát nhân dân rất đáng được nghiên cứu, tham khảo, bổ sung thêm vào nội dung Luận án đang được thực hiện
- Bên cạnh các luận án tiến sĩ luật học nêu trên, nhiều luận văn thạc sĩ, bài viết về BLGĐ đã được công bố như: luận văn thạc sĩ của Nguyễn Thị Thùy Linh - Học viện Cảnh sát nhân dân năm 2011 về Phòng ngừa tội phạm
về BLGĐ của lực lượng Cảnh sát nhân dân Công an tỉnh Nghệ An; Bài viết Bạo lực của chồng đối với vợ ở Việt Nam trong những năm gần đây của nhóm tác giả Viện gia đình và giới đăng trên tạp chí Khoa học về phụ nữ, số 3/2006; Bài viết BLGĐ – một yếu tố cản trở sự phát triển của xã hội của Nguyễn Hữu Tiên, Hà Huy Ngọc đăng trên Tạp chí Cộng sản chuyên đề cơ sở
số 9/2007; Bài viết BLGĐ - những vấn đề pháp luật có liên quan của Đinh Văn Quảng, Tạp chí Lao động và Xã hội số 3 năm 2007; Bài viết Những biện pháp hạn chế BLGĐ của Hoàng Bích Liên đăng trên tạp chí dân vận số 12/2007; Bài viết BLGĐ với vấn đề bảo vệ nhân phẩm và quyền con người của Phạm Thị Tính đăng trên Tạp chí Nhà nước và Pháp luật số 3/2008
Trang 21Các công trình nghiên cứu đã được công bố trên đây đều tập trung phân tích về tính nghiêm trọng của tình trạng BLGĐ, dưới mọi hình thức, nêu rõ nguyên nhân và đề xuất các giải pháp rất cụ thể nhằm phòng ngừa, giảm thiểu những hành vi BLGĐ ở từng khu vực và trong phạm vi toàn quốc Đây cũng
là bộ phận tư liệu quý giá giúp tác giả đi sâu nghiên cứu về những nội dung liên quan thuộc phạm vi nghiên cứu của mình
1.3 Đánh giá tình hình nghiên cứu
Qua phân tích các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước có liên quan đến TNHS đối với các TPBLGĐ có thể rút ra các kết luận sau đây:
1 Phần lớn các công trình khi nghiên cứu TNHS đều gắn TNHS với các nguyên tắc công bằng, nhân đạo, phân định TNHS với chính sách hình sự, chú trọng chính sách hình sự về hình phạt Cùng với việc nghiên cứu về hình phạt, nhiều công trình nghiên cứu cũng đã nghiên cứu các hình thức khác của TNHS như miễn TNHS, miễn hình phạt, giảm thời hạn chấp hành hình phạt,
án treo, xóa án tích…
2 Các công trình nghiên cứu trong và ngoài nước mà tác giả Luận án tiếp cận đều khẳng định và đề cao vai trò của gia đình là tế bào của xã hội, nhấn mạnh việc phải bằng các phương tiện khác nhau, trong đó có pháp luật nói chung và PLHS nói riêng để bảo vệ tế bào xã hội đó Nhiều công trình nghiên cứu trong và ngoài nước đều nhấn mạnh hiện tượng bất bình đẳng giới
đã, đang ngự trị trong một bộ phận không nhỏ gia đình; trẻ em và phụ nữ là nạn nhân của BLGĐ; người gây ra BLGĐ thường là nam giới và đa số hành động BLGĐ đều dựa trên cơ sở giới dẫn đến những tổn thất về tính mạng, sức khỏe, về tình dục hay tâm lý cho người phụ nữ
Các công trình nghiên cứu đều nhấn mạnh tính nguy hiểm của hành vi BLGĐ BLGĐ cũng chính là sự xâm phạm quyền con người, quyền tự do, quyền bình đẳng, không phân biệt nam, nữ, già trẻ Bởi vậy hầu hết các công
Trang 22trình nghiên cứu đều gắn vấn đề phòng, chống BLGĐ với việc bảo vệ quyền con người
Tuy nhiên, phần lớn các công trình nghiên cứu như đã nêu mới chỉ đề cập đến BLGĐ nói chung và cách thức, biện pháp, phương tiện phòng, chống nhằm đầy lùi BLGĐ ra khỏi đời sống xã hội
Rất ít các công trình trực tiếp đề cập TNHS đối với các tội phạm bạo lực gia đình Một số công trình có đề cập nghiên cứu đến TNHS đối với các BLGĐ nhưng thường chỉ tập trung vào khái niệm, các dấu hiệu pháp lý của các hành vi BLGĐ, chứ chưa nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện TNHS đối với các TPBLGĐ
Khi phân tích cơ sở của TNHS đối với các TPBLGĐ các công trình nghiên cứu nói trên chỉ mới tập trung phân tích cơ sở pháp lý của nó là CTTP tương ứng được quy định trong Luật hình sự mà chưa tập trung phân tích cơ
sở thực tế của nó, tức là hành vi phạm tội đã xẩy ra trên thực tế Hơn thế, các tác giả cũng chưa phân tích đặc điểm của mối quan hệ giữa chủ thể thực hiện tội phạm và người bị xâm hại Đây cũng chính là những vấn đề sẽ được tác giả tiếp tục làm rõ trong luận án này
Từ việc đánh giá tổng quan tình hình nghiên cứu nêu trên, nghiên cứu sinh đặt ra những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu như sau:
Thứ nhất, nghiên cứu làm rõ hơn khái niệm, cơ sở của TNHS đối với
các tội phạm bạo lực gia đình làm cơ sở cho việc đánh giá mức độ ghi nhận trong pháp luật và thực tế thực hiện các quy định pháp luật về TNHS đối với các TPBLGĐ
Thứ hai, nghiên cứu và làm rõ hơn các hình thức của TNHS đối với các
TPBLGĐ
Thứ ba, phân tích, làm rõ hơn thực trạng quy định TNHS đối với các
TPBLGĐ trong PLHS Việt Nam hiện hành
Trang 23Thứ tư, phân tích, đánh giá, làm rõ thực tiễn áp dụng các quy định về
TNHS đối với các TPBLGĐ ở nước ta hiện nay trong thời gian từ năm 2009 đến năm 2015
Thứ năm, nghiên cứu, đề xuất hoàn thiện PLHS về TNHS đối với các
tội phạm bạo lực gia đình và một số giải pháp bảo đảm áp dụng đúng các quy định về TNHS đối với các tội phạm bạo lực gia đình ở nước ta hiện nay
KẾT LUẬN CHƯƠNG 1
Gia đình là tế bào của xã hội, gia đình mạnh thì xã hội mới mạnh Do vậy, hành vi xâm phạm các quan hệ gia đình luôn được các nhà nghiên cứu ở mọi quốc gia quan tâm nghiên cứu để tìm tới các giải pháp phòng, chống có hiệu quả Một trong những hướng hoạt động phòng, chống các hành vi bạo lực gia đình là đẩy mạnh việc nghiên cứu hiện tượng BLGĐ nói chung và tội phạm bạo lực gia đình nói riêng, từ đó quy định về trách nhiệm hình sự tương xứng với tính chất và mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội bạo lực gia đình và việc áp dụng một cách có hiệu quả các quy định về trách nhiệm hình
sự trên thực tế
Cho đến nay đã có một số công trình nghiên cứu có đề cập đến trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình Tuy nhiên, các công trình này chỉ mới dừng lại ở mức độ phân tích khái niệm, các hình thức trách nhiệm hình sự, chứ chưa đi sâu vào bản chất, đặc điểm, giới hạn, yêu cầu cần phải có của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình Các công trình nghiên cứu đó cũng chưa đánh giá được toàn diện thực tiễn quy định và thực tiễn áp dụng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình ở Việt Nam Các công trình nghiên cứu đó cũng chưa
đề xuất được những kiến nghị cụ thể nhằm góp phần hoàn thiện các quy định
về trách nhiệm hình sự đối với hành vi bạo lực gia đình, cũng như chưa đề
Trang 24xuất các giải pháp cần thiết bảo đảm áp dụng đúng các quy định về trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình Bởi vậy, trong Luận án này, ở các chương tiếp theo, Nghiên cứu sinh sẽ tiếp tục nghiên cứu làm rõ hơn những vấn đề chưa được các công trình nghiên cứu đề cập hoặc nghiên cứu chưa sâu sắc như đã nêu ở trên
Trang 25Chương 2 NHỮNG VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ TRÁCH NHIỆM HÌNH SỰ
ĐỐI VỚI CÁC TỘI PHẠM BẠO LỰC GIA ĐÌNH
2.1 Khái niệm, cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình
2.1.1 Khái niệm trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình
Trong khoa học pháp lý, TNHS được coi là một loại trách nhiệm pháp
lý, phân biệt với trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm kinh tế TNHS là khái niệm cơ bản của luật hình sự, là hình thức chủ yếu của việc áp dụng PLHS
Nói đến TNHS, trước hết không thể không nói đến trách nhiệm pháp lý: là trách nhiệm của một người đối với hành vi vi phạm pháp luật do mình thực hiện Trách nhiệm pháp lý bao hàm việc chủ thể vi phạm pháp luật phải gánh chịu hậu quả bất lợi mà pháp luật quy định đối với vi phạm đó [97, tr.108] Cơ sở, điều kiện và các dạng của trách nhiệm pháp lý được quy định trong pháp luật Trong số những dạng của trách nhiệm pháp lý, TNHS có tính nghiêm khắc nhất và xuất hiện khi có tội phạm xẩy ra
TNHS là một trong những vấn đề lý luận phức tạp Tính phức tạp của TNHS được tăng thêm khi BLHS năm 2015 đã bổ sung các quy định về tội phạm do pháp nhân thương mại thực hiện Một trong những nguyên tắc cơ bản của PLHS Việt Nam là người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội, thỏa mãn các dấu hiệu của tội phạm được quy định trong BLHS mới phải chịu TNHS Như vậy TNHS được nhận diện thông qua việc tìm hiểu các quy định của BLHS Thuật ngữ “trách nhiệm” ở đây không dùng để chỉ nghĩa vụ nói chung mà công dân phải có đối với Nhà nước và xã
Trang 26hội, mà nó được dùng để chỉ hậu quả pháp lý bất lợi mà họ phải gánh chịu trước Nhà nước và xã hội mỗi khi thực hiện những hành vi mà PLHS cấm hoặc không thực hiện nghĩa vụ mà PLHS bắt buộc phải thực hiện, gây ra hoặc
đe dọa gây ra thiệt hại đáng kể cho quan hệ xã hội được PLHS bảo vệ Nhà nước thay mặt xã hội bảo vệ những quan hệ xã hội này bằng việc quy định những chế tài (hình phạt) trong BLHS để áp dụng đối với người phạm tội, tước bỏ hoặc hạn chế những quyền và lợi ích thiết thân của họ, đồng thời buộc họ phải chấp nhận những chế tài ấy Hậu quả pháp lý nêu trên chính là TNHS Cách nhìn nhận mang tính khái quát này về TNHS đã được nhiều nhà nghiên cứu thừa nhận [83, tr.217]
Tuy nhiên do, TNHS là một trong những vấn đề có nội hàm phức tạp, nên hiện nay ở các nhà luật học còn tồn tại nhiều quan điểm, nhiều cách tiếp cận khác nhau về TNHS Từ những cách tiếp cận khác nhau đó, các nhà luật học đã đưa ra những định nghĩa về TNHS với nội hàm có những điểm khác nhau Chẳng hạn, có quan điểm cho rằng, TNHS là hậu quả pháp lý của việc phạm tội, thể hiện ở chỗ người đã gây ra tội phạm phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình trước Nhà nước [87, tr.36]
Tương tự là quan điểm cho rằng TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện tội phạm và được thể hiện bằng việc áp dụng đối với người phạm tội một hoặc nhiều biện pháp cưỡng chế của Nhà nước do luật hình sự quy định [25, tr.56]
Cũng có quan điểm nêu khái quát và trừu tượng hơn, cho rằng: “TNHS
là việc làm suy giảm trên cơ sở quy định của pháp luật địa vị pháp lý của người phạm tội thể hiện ở sự tước đoạt hoặc hạn chế quyền và tự do của người đó hoặc sự lên án khác được nêu trong bản án buộc tội của Tòa án” [104, tr.7]
Trang 27Những cách tiếp cận nêu trên, theo tác giả là còn thiếu tính cụ thể và dễ gây nhầm lẫn trong cách hiểu về TNHS, chưa phân biệt được tính cưỡng chế của TNHS như là hậu quả pháp lý tất yếu của việc thực hiện hành vi phạm tội với cưỡng chế tố tụng hình sự như là các biện pháp cần thiết để nhận diện và thực hiện TNHS Ngoài ra, như đã nêu ở trên với việc bổ sung TNHS của pháp nhân thương mại trong BLHS năm 2015 ngày nay cần có cách hiểu rộng hơn về TNHS, nhất là từ phương diện chủ thể chịu TNHS
Nhà nước quy định TNHS trong PLHS là để áp dụng đối với người phạm tội theo một thủ tục bắt buộc (thủ tục tố tụng), không phụ thuộc vào ý muốn của người hoặc pháp nhân phạm tội, cũng như ý muốn của người bị hại (trừ một số trường hợp cá biệt được quy định tại Điều 88 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003, Điều 118 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015) TNHS phát sinh từ khi có hành vi phạm tội và cũng từ thời điểm đó cho đến hết thời hạn được quy định, Nhà nước có quyền buộc người hoặc pháp nhân phạm tội phải chịu trách nhiệm về hành vi phạm tội của mình TNHS là một loại trách nhiệm pháp lý nói chung, thể hiện ở yêu cầu áp dụng các biện pháp trừng phạt của Nhà nước đối với người hoặc pháp nhân phạm tội nhằm bảo vệ trật tự pháp luật, trật tự quản lý, giáo dục người vi phạm pháp luật và phòng ngừa họ tái phạm Khi xem xét bản chất của TNHS, không thể không đề cập đến mục đích của nó Xuất phát từ vấn đề có tính nguyên tắc về sự loại trừ dần những biểu hiện chống đối trong xã hội - xã hội chủ nghĩa, chúng tôi đồng ý với các quan điểm xem mục đích của TNHS là loại trừ những vi phạm pháp luật Trong nhà nước xã hội chủ nghĩa, TNHS là phương tiện bảo vệ những quan
hệ xã hội trước những hành vi chống đối pháp luật, nhằm ngăn chặn những hành vi vi phạm pháp luật, gây trở ngại cho trật tự, an toàn xã hội, trật tự quản
lý, qua đó giáo dục tính kỷ luật, trật tự và tinh thần tôn trọng pháp luật của mọi công dân Việc giáo dục công dân tuân theo pháp luật, vấn đề phòng
Trang 28ngừa chung, phòng ngừa riêng đối với người phạm tội luôn được coi là mục đích của trách nhiệm pháp lý nói chung và TNHS nói riêng Mục đích đó được thể hiện ở nội dung, vị trí của TNHS như là giải pháp mạnh mẽ và cuối cùng trong hệ thống các phương tiện bảo vệ trật tự pháp luật ở nước ta
Việc quy định và áp dụng TNHS là sự lên án mang tính nhà nước đối với hành vi có lỗi không có mục đích tự thân mà qua đó, hướng vào giáo dục lại người phạm tội, tác động, giáo dục những người khác ý thức tuân thủ pháp luật Khi tiến hành cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, Nhà nước không xuất phát từ mục đích trừng trị, đàn áp mà thông qua việc cưỡng chế cần thiết
để khôi phục những giá trị đạo đức tốt đẹp của cá nhân, tạo ra thói quen có ý thức tự giác thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình Như vậy, TNHS là phương tiện mà Nhà nước sử dụng nhằm tác động tới ý thức của người phạm tội để họ thấy được sai trái của mình, từ đó tự cải tạo, trở thành người có ích cho xã hội [2, tr.13] Bên cạnh đó, nội dung của TNHS bao gồm cả yếu tố giáo dục các thành viên trong xã hội, để họ thấy được đúng sai, thấy được thái
độ của Nhà nước và xã hội, để từ đó tránh được sai phạm Nói cách khác, TNHS chứa đựng yếu tố phòng ngừa chung mà Luật hình sự hướng tới
TNHS thể hiện nghĩa vụ của Nhà nước trong việc phát hiện tội phạm, xác định người phạm tội và áp dụng đối với họ những biện pháp mà PLHS quy định TNHS còn thể hiện nghĩa vụ của người hoặc pháp nhân phạm tội phải chịu những biện pháp cưỡng chế phù hợp được áp dụng đối với họ theo quy định của PLHS Trong trường hợp tội phạm đã xảy ra song không bị phát hiện (còn gọi là tội phạm ẩn), với tính cách là hình thức thực hiện quan hệ PLHS, TNHS không xuất hiện TNHS cũng không xuất hiện trong trường hợp người phạm tội đã chết Chẳng hạn, chồng giết vợ do ghen tuông rồi tự sát hay như việc khởi tố vụ án giết người bị đình chỉ khi người phạm tội đã chết (khoản 7 Điều 107 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2003; khoản 7 Điều 157 Bộ
Trang 29luật tố tụng hình sự năm 2015) Như vậy, trong trường hợp không có ai bị truy cứu TNHS với tính cách là hình thức thực hiện quan hệ PLHS thì TNHS không xuất hiện Vì lý do này, không thể đồng nhất quan hệ PLHS với TNHS
Theo quy định của pháp luật tố tụng hình sự, trước khi bị xét xử và kết tội một người (và cả pháp nhân) có thể họ đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn như bắt, tạm giữ, tạm giam, cấm đi khỏi nơi cư trú, phong tỏa tài sản… nhằm mục đích ngăn chặn bị can, bị cáo gây khó khăn cho việc điều tra, truy tố, xét
xử hoặc tiếp tục phạm tội cũng như bảo đảm cho việc thi hành bản án Về bản chất, các biện pháp cưỡng chế này chỉ là các biện pháp cưỡng chế tố tụng mà không phải là sự thể hiện của TNHS Việc áp dụng biện pháp ngăn chặn đối với một người không có nghĩa là đã xác định người đó phạm tội, vì trên thực
tế một người đã bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể không phạm tội hoặc được miễn TNHS và ngược lại, một người không bị áp dụng biện pháp ngăn chặn vẫn có thể phải chịu TNHS nếu sau đó bị tòa án kết tội bằng bản án
có hiệu lực pháp luật Tuy nhiên, việc áp dụng một số biện pháp ngăn chặn lại liên quan đến TNHS ở khía cạnh: biện pháp ngăn chặn có thể chuyển thành
bộ phận của việc thực hiện TNHS thông qua hình phạt, ví dụ, nếu một người
đã bị tạm giữ, tạm giam thì thời hạn tạm giữ, tạm giam được trừ vào thời hạn
tù hoặc cải tạo không giam giữ, theo quy ước một ngày tạm giữ, tạm giam bằng một ngày tù hoặc ba ngày cải tạo không giam giữ
Như vậy, TNHS tuy bắt đầu được thực hiện từ thời điểm đưa một người
bị truy cứu TNHS và kết thúc từ thời điểm xóa án tích hoặc từ thời điểm miễn TNHS, nhưng chỉ có bản án hoặc quyết định của tòa án đã có hiệu lực pháp luật mới xác định TNHS thực chất và chính thức
Việc xác định TNHS được thực hiện theo một quá trình gồm nhiều giai đoạn và bằng các hình thức như khởi tố bị can, điều tra, truy tố và xét xử đối với người hoặc pháp nhân thương mại đã thực hiện hành vi phạm tội với kết
Trang 30quả cuối cùng là tuyên bản án kết tội và buộc người phạm tội chấp hành hay không chấp hành hình phạt đã tuyên; thi hành hình phạt và thử thách để được xóa án tích Trong những trường hợp PLHS cho phép, có thể miễn TNHS thì việc thực hiện TNHS có thể kết thúc ở những giai đoạn sớm hơn mà không phải trải qua tất cả các giai đoạn nói trên
Với cách nhìn nhận như trên, chúng tôi tán thành quan điểm của nhiều nhà luật học khi cho rằng tuy TNHS phát sinh từ khi chủ thể phạm tội thực hiện hành vi phạm tội trong thực tế nhưng TNHS thực sự được khởi động khi
và chỉ khi cơ quan tiến hành tố tụng hình sự thực hiện việc truy cứu TNHS bằng một quyết định TTHS Đấy chỉ có thể là quyết định khởi tố bị can, là quyết định buộc tội một người (một pháp nhân) đã có dấu hiệu phạm tội và cơ quan tiến hành tố tụng có quyền áp dụng các biện pháp tố tụng để điều tra, truy tố, xét xử cũng như thi hành án
Như đã đề cập ở trên, do TNHS là dạng trách nhiệm pháp lý có tính nghiêm khắc nhất, được thực hiện khi không thể dùng các dạng trách nhiệm pháp lý khác (như trách nhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự hay trách nhiệm kỷ luật) để thay thế Việc áp dụng biện pháp tác động của TNHS được thực hiện thông qua trình tự và thủ tục tố tụng chặt chẽ bởi các cơ quan tiến hành tố tụng như Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát nhân dân, Tòa án nhân dân là những cơ quan được Bộ luật tố tụng hình sự quy định Ngoài ra, đối với TNHS thì khi người phạm tội bị áp dụng hình phạt hoặc miễn hình phạt đều bị mang án tích và ghi vào lí lịch tư pháp Hậu quả pháp lý của án tích là nếu chưa được xóa án tích mà phạm tội thì có thể bị coi là tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm Điều này càng thể hiện tính nghiêm khắc của TNHS so với các loại trách nhiệm pháp lý khác
TNHS là một dạng của trách nhiệm pháp lý, nên bên cạnh việc thỏa mãn các dấu hiệu của trách nhiệm pháp lý nói chung, TNHS còn có những
Trang 31dấu hiệu, đặc điểm riêng nhằm phân biệt nó với các loại trách nhiệm pháp lý khác; đó là các đặc điểm:
- TNHS là hậu quả pháp lý của việc thực hiện hành vi phạm tội Hậu quả này chỉ phát sinh khi có người hoặc pháp nhân thương mại thực hiện hành
vi nguy hiểm cho xã hội bị PLHS cấm hoặc không thực hiện những nghĩa vụ
mà PLHS yêu cầu phải thực hiện;
- TNHS chỉ có thể được xác định bằng trình tự đặc biệt theo quy định của pháp luật - trình tự tố tụng hình sự mà chỉ có các cơ quan tiến hành tố tụng mới có quyền và nghĩa vụ thực hiện;
- TNHS được biểu hiện cụ thể ở việc cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội phải chịu các biện pháp cưỡng chế hình sự của Nhà nước mà hình phạt là biện pháp chủ yếu và nghiêm khắc nhất;
- Sự gánh chịu TNHS của cá nhân, pháp nhân thương mại phạm tội là trước Nhà nước mà không phải là trước người có quyền và lợi ích hợp pháp bị hành vi phạm tội trực tiếp xâm hại;
- TNHS phải được phản ánh trong bản án hay quyết định khác có hiệu lực pháp luật của Toà án Điều 31 Hiến pháp năm 2013 đã quy định nguyên
tắc này “Người bị buộc tội được coi là không có tội cho đến khi được chứng
minh theo trình tự luật định và có bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật” [34, tr.19, 20] Nguyên tắc này cũng được khẳng định tại Điều 13 Bộ
luật tố tụng hình sự năm 2015 Như vậy, bản án kết tội của Toà án có hiệu lực pháp luật là cơ sở pháp lý duy nhất xác nhận một người có tội Đó là hậu quả pháp lý cụ thể thể hiện nội dung chủ yếu và quan trọng nhất của TNHS
Từ sự phân tích trên đây có thể rút ra kết luận rằng TNHS là nghĩa vụ của một người hoặc pháp nhân thương mại phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình thể hiện ở việc thông
Trang 32qua bản án kết tội của Tòa án họ bị tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền và lợi ích nhất định
Nhận thức về TNHS trên đây là căn cứ cho việc lý giải TNHS đối với các TPBLGĐ Tuy nhiên, để nhận thức được TNHS đối với các TPBLGĐ, theo chúng tôi, đầu tiên phải hiểu thế nào là các TPBLGĐ theo PLHS Việt Nam
Như chúng ta đã biết, gia đình là tế bào của xã hội, là tổ ấm hạnh phúc
và còn là nơi trú ngụ an toàn của mỗi con người, nhất là khi họ va vấp trong cuộc đời Thế nhưng, những năm gần đây, BLGĐ đã tạo nên những vết rạn nứt, gây đau thương, tổn thất trong đời sống của nhiều gia đình, trở thành vấn nạn thu hút sự quan tâm của toàn xã hội BLGĐ không chỉ diễn ra ở những nơi có điều kiện kinh tế thấp hay ở các nước đang phát triển, nghèo nàn, lạc hậu mà BLGĐ xẩy ra ở hầu khắp các nước trên thế giới, từ thành thị đến nông thôn, gây nên những thiệt hại hết sức to lớn đối với đời sống tinh thần và vật chất của xã hội Do đó, đấu tranh phòng, chống BLGĐ là nhiệm vụ chung của
xã hội, của cả nhân loại tiến bộ Tuy nhiên, mỗi quốc gia tùy theo đặc điểm, tổ chức xã hội, truyền thống lịch sử mà có những chính sách, cách thức riêng
về hành vi hăm dọa hay sử dụng vũ lực trực tiếp là đánh đập một người thân nên đã không đầy đủ và chuẩn xác
Trang 33Theo khoản 2 Điều 1 Luật phòng, chống bạo lực gia đình được Quốc hội nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thông qua ngày 21 tháng 11
năm 2007, có hiệu lực từ ngày 01 tháng 7 năm 2008 thì: “Bạo lực gia đình là
hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại
về thể chất, tinh thần, kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình”
Chúng tôi đồng ý với quan điểm về BLGĐ được thể hiện trong Luật phòng, chống bạo lực gia đình Bởi quan điểm này đã xem xét BLGĐ theo nghĩa rộng, không chỉ là hành vi dùng vũ lực, hành vi xâm hại đến thể chất như tính mạng, sức khỏe mà còn là hành vi bạo lực về tinh thần dưới nhiều hình thức hoặc gây tổn hại về kinh tế, về tình dục, về quan hệ xã hội khác cho các thành viên khác trong gia đình Đáng chú ý là các hành vi này lại diễn ra giữa các thành viên trong gia đình với nhau
Vấn đề đặt ra là thành viên gia đình được hiểu như thế nào, bao gồm những ai? - Người sống chung trong một nhà hay toàn bộ anh em, bố mẹ, ông
Chúng tôi cho rằng, thành viên gia đình là những người gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau do quan hệ gia đình mà không phụ thuộc vào việc họ có cùng chung sống cùng một mái nhà hay không
Trang 34Từ những phân tích trên đây, có thể nêu khái niệm BLGĐ như sau: Bạo
lực gia đình là hành vi cố ý gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần hoặc kinh tế của thành viên này đối với thành viên khác trong gia đình - những người gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng
Những hành vi BLGĐ, dù là bạo lực về thể chất hay bạo lực về tinh thần đều đáng bị lên án, về mặt đạo đức và pháp luật cần can thiệp Tùy theo mức độ, pháp luật có thể coi đó là vi phạm hành chính hay dân sự, cao hơn là
vi phạm luật hình sự - là hành vi phạm tội BLGĐ
Trước khi đi sâu tìm hiểu khái niệm TPBLGĐ, chúng ta cần xem khoa học pháp lý quan niệm thế nào về tội phạm bạo lực nói chung (còn được gọi là tội phạm có sử dụng bạo lực hay tội phạm có tính chất bạo lực)
Về tội phạm bạo lực, có tác giả cho rằng, tội phạm có sử dụng bạo lực
là thuật ngữ dùng để chỉ những hành vi sử dụng sức mạnh thể chất tác động trực tiếp hoặc gián tiếp lên người bị hại để từ đó gây thiệt hại về tính mạng, sức khoẻ, danh dự, phẩm giá hay tài sản, tinh thần của người bị hại một cách trái pháp luật [33, tr.11] Ở đây tác giả chỉ dừng lại ở việc sử dụng sức mạnh thể chất một cách trực tiếp trong khi chúng tôi muốn đề cập đến tội phạm bạo lực ở phạm vi rộng hơn Đây không chỉ là những hành vi sử dụng sức mạnh thể chất để tác động đến người khác mà còn là những hành vi không sử dụng sức mạnh thể chất nhưng vẫn mang tính bạo lực như bạo lực về tinh thần, kinh tế, tình dục…
Xét theo tính chất của bạo lực thì có nhiều hình thức bạo lực khác nhau, nhưng có hai loại bạo lực thường được viện dẫn nhiều hơn cả là bạo lực về thể chất và bạo lực về tinh thần
Bạo lực về thể chất là những hành vi bạo lực thể hiện ở chỗ người gây
ra bạo lực thường sử dụng sức mạnh cơ bắp (tay, chân) hoặc công cụ (thậm
Trang 35chí cả vũ khí) gây nên sự đau đớn về thể chất cho nạn nhân Những hình thức phổ biến của bạo lực về thể chất thường thấy là: đâm, chém, đánh đập, tát, đấm, đá, cưỡng bức tình dục bằng sức mạnh cơ bắp… Đó là những hành động gây nên sự đau đớn về thể xác (và cả tinh thần, tình cảm), thường để lại dấu vết trên thân thể nạn nhân và đó là chứng cứ của hành vi vi phạm pháp luật dễ phát hiện, dễ đưa người gây ra bạo lực thể chất truy cứu trước pháp luật
Bạo lực về tinh thần là những hành vi hành hạ tâm lý như sỉ nhục, đe doạ, cố tình bỏ rơi không quan tâm Bạo lực về tinh thần hành hạ nạn nhân hoặc tức thời, hoặc âm ỉ gây thiệt hại về tinh thần và cả thể chất của người bị bạo lực tác động Những hành vi bạo lực loại này khá phổ biến trong quan hệ hôn nhân, tình dục, kinh tế và cả trong quan hệ xã hội (như cấm đoán, sỉ nhục phụ nữ tham gia hoạt động xã hội) Những hành vi bạo lực này không dễ phát hiện, khó thu thập chứng cứ và do vậy pháp luật rất khó can thiệp
Từ nhận thức trên đây, chúng tôi cho rằng TPBLGĐ là những hành vi
nguy hiểm cho xã hội được quy định trong BLHS, do người là thành viên gia đình có năng lực TNHS thực hiện một cách cố ý bằng hình thức bạo lực xâm phạm tới tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền
và lợi ích hợp pháp khác của các thành viên khác trong cùng gia đình
Việc quy định TPBLGĐ trong BLHS sẽ không có ý nghĩa nếu không kèm theo đó là TNHS TNHS là phạm trù của Luật hình sự bao hàm nhiều hình thức tác động khác nhau đến người phạm tội nhằm bảo vệ các quan hệ xã hội mà Luật hình sự bảo vệ Đó trước hết là hình phạt với tư cách là biện pháp cưỡng chế nghiêm khắc nhất của Nhà nước; ngoài ra là các biện pháp tư pháp khác Với các hình thức tác động như trên thì TNHS là hậu quả pháp lý bất lợi
mà người phạm tội về BLGĐ phải gánh chịu vì chính họ đã thực hiện hành vi
nguy hiểm cho xã hội mà BLHS đã quy định Theo đó, có thể nói TNHS đối
với các TPBLGĐ là một dạng TNHS được quy định và áp dụng đối với các
Trang 36TPBLGĐ, thể hiện ở nghĩa vụ của một người là thành viên gia đình phải gánh chịu hậu quả pháp lý bất lợi trước Nhà nước về hành vi phạm tội của mình đối với thành viên khác trong gia đình theo đó, người phạm tội bị tước bỏ hoặc bị hạn chế quyền và lợi ích nhất định theo bản án kết tội của Tòa án
2.1.2 Cơ sở của trách nhiệm hình sự đối với các tội phạm bạo lực gia đình
Vấn đề đặt ra là, TNHS đối với TPBLGĐ xuất hiện khi nào và cơ sở của TNHS đối với TPBLGĐ là gì? Theo Điều 2 BLHS năm 1999 và Điều 2 BLHS năm 2015 thì “chỉ người nào phạm một tội đã được BLHS quy định mới phải chịu TNHS”, theo đó, người phạm tội BLGĐ là người phạm một trong các tội danh được quy định trong BLHS và phải chịu TNHS đối với tội
đã phạm Để kết án một người nào đó có tội hay không, phạm vào tội nào được quy định trong BLHS và hình phạt áp dụng đối với họ như thế nào thì phải xác định được hành vi của họ có thỏa mãn hay không các yếu tố của CTTP cụ thể CTTP chính là cơ sở pháp lý của TNHS và một người chỉ có thể phải chịu TNHS đối với TPBLGĐ khi hành vi của họ có đủ yếu tố cấu thành một tội phạm Cụ thể, để phân biệt hành vi bị coi là tội phạm với hành vi không bị coi là tội phạm, khoản 4 Điều 8 BLHS năm 1999, tương tự là khoản
4 Điều 8 BLHS năm 2015 đã quy định “Những hành vi tuy có dấu hiệu tội phạm nhưng tính chất nguy hiểm cho xã hội không đáng kể nên không bị coi
là tội phạm và được xử lý bằng các biện pháp pháp lý khác”
Như vậy, hành vi bị coi là tội phạm khi thỏa mãn bốn dấu hiệu: tính nguy hiểm đáng kể cho xã hội, tính có lỗi, tính trái pháp luật và tính phải chịu hình phạt CTTP là tổng hợp những dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho loại tội phạm cụ thể được quy định trong luật hình sự Việc kết tội một người nào
đó phạm tội theo BLHS và buộc người đó phải chịu TNHS chỉ có thể dựa trên
cơ sở pháp lý là CTTP CTTP gồm bốn yếu tố, tồn tại không tách rời nhau,
Trang 37nhưng được phân chia thành: khách thể của tội phạm, mặt khách quan của tội phạm, chủ thể của tội phạm, mặt chủ quan của tội phạm Trong sự thống nhất của mình, bốn yếu tố nêu trên thể hiện đầy đủ bản chất của tội phạm Nếu các tội phạm có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội khác nhau, thì bốn yếu
tố nêu trên cũng có những nội dung biểu hiện khác nhau Mỗi yếu tố trên có ý nghĩa khác nhau trong việc xác định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm, nhưng đã là tội phạm thì không thể thiếu bất kỳ yếu tố nào trong bốn yếu tố
kể trên Bốn yếu tố CTTP có liên quan với nhau và tổng hợp lại cùng quyết định tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm
CTTP bao gồm bốn nhóm các dấu hiệu đặc trưng cho bốn yếu tố nêu trên Mỗi yếu tố CTTP gồm các dấu hiệu khác nhau Căn cứ vào vai trò của các dấu hiệu đối với các CTTP, có thể phân chia tất cả các dấu hiệu thuộc các yếu tố CTTP thành hai loại: các dấu hiệu bắt buộc phải có trong mọi CTTP và các dấu hiệu không bắt buộc phải có
Các dấu hiệu bắt buộc phải có trong mọi CTTP bao gồm: hành vi nguy hiểm cho xã hội thuộc yếu tố mặt khách quan của tội phạm; lỗi thuộc yếu tố mặt chủ quan của tội phạm; đạt một độ tuổi nhất định và năng lực TNHS thuộc yếu tố chủ thể của tội phạm
Các dấu hiệu không bắt buộc phải có trong mọi CTTP bao gồm: hậu quả nguy hiểm cho xã hội; địa điểm phạm tội; thời gian phạm tội; công cụ phạm tội; động cơ phạm tội; mức độ phạm tội Các dấu hiệu này có thể là bắt buộc đối với một số CTTP nhất định, nhưng không phải là bắt buộc đối với mọi CTTP [101, tr.132, 133]
Như vậy, cơ sở pháp lý của TNHS đối với các TPBLGĐ chính là CTTP, gồm: Khách thể, mặt khách quan, chủ thể, mặt chủ quan của các TPBLGĐ
Trang 38Tương tự như cơ sở TNHS nói chung, cơ sở TNHS đối với các TPBLGĐ cũng bắt nguồn từ hành vi phạm tội và CTTP BLGĐ
Căn cứ vào nhóm quan hệ xã hội khác nhau được Luật hình sự bảo vệ
mà BLHS đã phân chia tội phạm thành các nhóm, quy định tại các chương khác nhau của BLHS với các CTTP cụ thể CTTP BLGĐ nằm rải rác tại một
số chương khác nhau của BLHS thể hiện trong 38 điều luật Mặc dù, BLHS không có chương riêng quy định TPBLGĐ, song để thuận lợi cho việc nghiên cứu, căn cứ vào yếu tố khách thể của tội phạm, theo quan điểm cá nhân, Nghiên cứu sinh đã chia 38 tội danh liên quan thành các nhóm tội xâm phạm thể chất, xâm phạm tình dục, xâm phạm tinh thần, xâm phạm quyền
tự do, dân chủ, xâm phạm sở hữu, xâm phạm chế độ hôn nhân và gia đình
và nhóm các tội khác
* Khách thể của các TPBLGĐ
BLGĐ cũng giống như các hình thức bạo lực khác ngoài xã hội, đều là hành vi xâm hại tới quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân vốn là những khách thể được Nhà nước bảo vệ BLGĐ, như đã nêu là những hành vi cố ý của thành viên gia đình gây tổn hại hoặc có khả năng gây tổn hại về thể chất, tinh thần, tình dục và kinh tế đối với thành viên khác trong gia đình Vậy, một thành viên gia đình thực hiện hành vi xâm hại thế nào tới một thành viên khác trong gia đình thì sẽ bị coi là tội phạm và bị trừng trị? Theo chúng tôi, đó là các hành vi bị Luật hình sự nghiêm cấm, như: giết người; giết con mới đẻ; giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; bức tử; xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; đe doạ giết người; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khoẻ của người khác do vượt quá giới hạn phòng vệ chính
Trang 39đáng; hành hạ người khác; hiếp dâm; hiếp dâm trẻ em; cưỡng dâm; cưỡng dâm trẻ em; giao cấu với trẻ em; dâm ô với trẻ em; lây truyền HIV cho người khác; làm nhục người khác; vu khống; bắt, giữ hoặc giam người trái pháp luật; xâm phạm bí mật hoặc an toàn thư tín, điện thoại, điện tín của người khác; xâm phạm quyền bình đẳng của phụ nữ; cướp tài sản; cưỡng đoạt tài sản; huỷ hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản; cưỡng ép kết hôn hoặc cản trở hôn nhân tự nguyện, tiến bộ; tổ chức tảo hôn, tảo hôn; vi phạm chế độ một vợ, một chồng; loạn luân; ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con, cháu, người có công nuôi dưỡng mình; từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng; cưỡng bức, lôi kéo người khác sử dụng trái phép chất ma tuý; vi phạm quy định về sử dụng lao động trẻ em; phá thai trái phép; dụ dỗ, ép buộc hoặc chứa chấp người chưa thành niên phạm pháp; mua bán phụ nữ; mua bán, đánh tráo hoặc chiếm đoạt trẻ em
Vấn đề đáng lưu ý là trong số 38 hành vi phạm tội phổ biến trong quan
hệ gia đình được nêu trên đây, có những hành vi phạm tội chỉ do thành viên trong gia đình thực hiện đối với nhau, như tội giết con mới đẻ, tội loạn luân, tội ngược đãi hoặc hành hạ ông bà, cha mẹ, vợ chồng, con cháu, người có công nuôi dưỡng mình, tội từ chối hoặc trốn tránh nghĩa vụ cấp dưỡng Đây là các hành vi phạm tội đặc trưng mà chỉ cần nêu tên cũng đã có thể nhận biết là
do các thành viên trong gia đình xâm hại lẫn nhau Các tội phạm còn lại thì đối tượng tác động của tội phạm hoặc là thành viên gia đình, tài sản của thành viên gia đình - những người gắn bó với nhau bởi quan hệ hôn nhân, quan hệ huyết thống hoặc quan hệ nuôi dưỡng, làm phát sinh các nghĩa vụ và quyền giữa họ với nhau hoặc có thể là người không phải là thành viên gia đình Trong trường hợp đối tượng bị tội phạm xâm hại không phải là thành viên gia đình thì hành vi phạm tội đó không coi là TPBLGĐ
Trang 40Như vậy, khách thể mà các TPBLGĐ đã xâm hại tới chính là các quan
hệ xã hội, thể hiện các quyền về thể chất, tinh thần, tình dục và kinh tế của các thành viên trong gia đình được Nhà nước bảo vệ
Là một tập hợp gồm 38 tội danh phổ biến mà các thành viên trong gia đình thường thực hiện, xâm hại lẫn nhau, nên để thuận tiện cho việc phân loại, nghiên cứu những đặc điểm, đặc trưng cùng loại của các tội phạm này, tác giả đề xuất phân thành 07 nhóm tội xâm phạm BLGĐ Việc phân nhóm này căn cứ vào khách thể xâm hại: về thể chất, về tình dục, về tinh thần, về quyền tự do, dân chủ, về sở hữu, về chế độ hôn nhân và gia đình và về các khách thể bị xâm hại khác
Như đã nêu, việc phân loại dựa theo khách thể phổ biến được quy định trong BLHS chỉ nhằm mục đích thuận tiện cho việc nghiên cứu, so sánh và đánh giá tình hình tội phạm Còn các tội phạm được phân nhóm này bao gồm các tội gì, chúng tôi sẽ đề cập kỹ hơn ở phần mặt khách quan của các TPBLGĐ
* Mặt khách quan của các TPBLGĐ
Hành vi khách quan của các TPBLGĐ thể hiện ở những hành vi vi phạm các quy định của Nhà nước về bảo vệ tính mạng, sức khoẻ, danh dự, nhân phẩm, tự do, tài sản, các quyền, lợi ích hợp pháp khác của các thành viên trong gia đình
Căn cứ vào hành vi thực hiện của các TPBLGĐ phổ biến hiện nay thì mặt khách quan của TPBLGĐ thể hiện qua các nhóm hành vi được phân loại căn cứ vào quan hệ xã hội bị xâm hại như sau:
Ở nhóm hành vi xâm phạm thể chất, gồm các hành vi: giết người, giết
con mới đẻ; giết người trong trạng thái tinh thần bị kích động mạnh; giết người do vượt quá giới hạn phòng vệ chính đáng; bức tử, xúi giục hoặc giúp người khác tự sát; đe doạ giết người; cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại