1. Trang chủ
  2. » Thể loại khác

Nội dung ôn tập môn Lịch sử Đảng lớp ccllct tập trung Khu vực II, Quận 9, Tp.HCM

74 624 2

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 74
Dung lượng 585,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nhiều câu hỏi ôn tập môn Lịch sử Đảng lớp ccllct tập trung như: Phân tích, chứng minh tính đúng đắn cương lĩnh đầu tiên của Đảng; Phân tích quá trình nhận thức đường lối cách mạng DTDC của Đảng ta từ 1930 đến 1954; Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền non trẻ 19451946; Phân tích bối cảnh lịch sử của chỉ thị toàn quốc kháng chiến (22.12.1946) và kết quả của chủ trương ấy.

Trang 1

Câu 1: Phân tích, chứng minh tính đúng đắn cương lĩnh đầu tiên của Đảng

A Bối cảnh lịch sử :

Cuối thế kỉ XIX đầu thế kỉ XX, sau khi cơ bản kết thúc giai đoạn xâm lược vũ trang, thựcdân Pháp đã thi hành nhiều chính sách thống trị nô dịch và bóc lột nhân dân ta rất tàn bạo.Đất nước Việt Nam biến đổi từ một xã hội phong kiến thành một xã hội thuộc địa, mất hẳnquyền độc lập, chủ quyền trở thành một dân tộc bị nô lệ, mất nước

Các giai cấp xã hội bị biến, xã hội Việt Nam hình thành 2 mâu thuẫn cơ bản là : mâu thuẫngiữa toàn thể dân tộc Việt Nam với chủ nghĩa đế quốc xâm lược Pháp và bọn tay sai; mâuthuẫn giữa nhân dân Việt Nam, chủ yếu là giai cấp nông dân với giai cấp địa chủ phong kiến.Cuối thế kỉ XIX, đầu thế kỉ XX, nhân dân Việt Nam đã nhiều lần nổi dậy đấu tranh chốngPháp dưới nhiều ngọn cờ, tư tưởng khác nhau, hình thức và phương pháp đấu tranh khácnhau, nhưng các phong trào yêu nước này đều thất bại, chứng tỏ CMVN đang thực sự lâmvào tình trạng khủng hoảng về đường lối cứu nước và giai cấp lãnh đạo cách mạng Từ đónảy sinh yêu cầu khách quan là cần có một đường hướng cứu nước mới cho CMVN

Giữa lúc dân tộc ta đứng trước cuộc khủng hoảng về đường lối cứu nước, Nguyễn Ái Quốc

ra đi tìm con đường cứu nước theo phương hướng mới Sau nhiều năm bôn ba hải ngoại,Người nghiên cứu nhiều loại hình chủ nghĩa cả về lí luận và thực tiễn Cách mạng thángMười Nga thành công, Người đã hướng đến cách mạng tháng Mười và chịu ảnh hưởng củacuộc cách mạng vĩ đại đó, Người gia nhập Đảng cộng sản Pháp và trở thành người chiến sĩcộng sản đầu tiên của giai cấp công nhân và và dân tộc Việt Nam

Từ khi trở thành người cộng sản, Người thành lập tổ chức Việt Nam thanh niên cách mạngđồng chí hội, thông qua tổ chức này và các báo : Người cùng khổ, Nhân đạo, tác phẩm Bản

án chế độ thực dân Pháp, Đường cách mệnh…truyền bá chủ nghĩa Mác-Lenin về Việt Nam

và đã trở thành tư tưởng cách mạng hướng đạo phong trào dân tộc và các tổ chức chính trịtheo khuynh hướng cách mạng vô sản, dẫn đến sự ra đời các tổ chức Đảng cộng sản ở ViệtNam là : Đông Dương cộng sản Đảng, An Nam cộng sản Đảng, Đông Dương cộng sản liênđoàn

Trước tình hình xuất hiện ba tổ chức cộng sản trong một nước Được giao nhiệm vụ củaQuốc tế cộng sản, đ/c Nguyễn Ái Quốc chịu trách nhiệm hợp nhất các phần tử chân chính lại

để thành lập một Đảng duy nhất Hội nghị hợp nhất được tiến hành từ 3/2 đến 7/2/1930 (hộinghị tháng Hai) tại Hương Cảng và thống nhất hợp nhất các tổ chức cộng sản thành mộtĐảng lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua 4 văn kiện do Nguyễn Ái Quốc dựthảo : Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt, điều lệ vắn tắt và lời kêu gọi của lãnh tụNguyễn Ái Quốc thay mặt cho Quốc tế cộng sản và Đảng cộng sản Việt Nam gửi đến quầnchúng công, nông, binh, đồng bào và đồng chí trong cả nước nhân dịp thành lập Đảng Bốnvăn kiện này được coi là cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng ta

Tuy bị Hội nghị BCH.TW Đảng tháng 10/1930 phê phán Chánh cương vắn tắt, sách lượcvắn tắt của hội nghị tháng Hai có nhiều sai lầm, thậm chí còn cho rằng sai phạm chính trị rấtnguy hiểm nên quyết định thủ tiêu Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt và điều lệ củaĐảng; thay đổi bằng luận cương : Tư sản dân quyền cách mạng do Trần Phú soạn thảo vàđổi tên Đảng là : Đảng cộng sản Đông Dương Nhưng thực tiễn quá trình lãnh đạo CMVN

đã chứng minh sự sáng tạo, tính đúng đắn của cương lĩnh đầu tiên về quan điểm, tư tưởng,đường lối chiến lược và sách lược của Đảng, phù hợp với nguyện vọng thiết tha của đại đa sốnhân dân Tính đúng đắn của cương lĩnh đầu tiên của Đảng ta được thể hiện ở nội dung cơbản Chính cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt của Đảng như sau :

Trang 2

B Tính đúng đắn của cương lĩnh tháng Hai

1)- Đảng ta chủ trương thực hiện đường lối chiến lược cách mạng trên cơ sở phân tích tìnhhình kinh tế, thành phần giai cấp, xã hội nước ta, Cương lĩnh viết :  Chủ trương làm tư sảndân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng để đi tới xã hội cộng sản Thực chất chủ trươngcuộc cách mạng có 2 giai đoạn : đánh đổ đế quốc và phong kiến tay sai giành độc lập chodân tộc là làm cho nước Việt Nam được độc lập, tự do; tịch thu ruộng đất của bọn đế quốc,phong kiến để làm của công chia cho dân nghèo; chuẩn bị và lãnh đạo nông dân nghèo làmcách mạng ruộng đất, quốc hữu hóa toàn bộ xí nghiệp của bọn đế quốc; thiết lập chính phủcông, nông, binh và tổ chức quân đội công nông

Các nhiệm vụ trên bao hàm cả nội dung dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chống phongkiến Mục tiêu chủ yếu lúc này là đánh đổ ách thống trị của đế quốc xâm lược và tay sai,giành độc lập dân tộc và dân chủ cho nhân dân Mục đích cuối cùng là xây dựng thành côngCNXH, CNCS ở Việt Nam Song, nổi bật lên là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai phảnđộng, giành độc lập, tự do cho dân tộc Vì thế, giữa hai giai đoạn cách mạng : Giải phóngdân tộc và xây dựng CNXH không có bức tường ngăn cách (cuộc vận động trước thành côngtạo điều kiện cho cuộc vận động sau giành thắng lợi), không phải tiến hành một cuộc cáchmạng chính trị lần thứ hai để giải quyết vấn đề chính quyền như cách mạng Nga và TrungQuốc

Nhận thức của Đảng là do những yêu cầu khách quan của CMVN, với chính sách thống trịcủa thực dân Pháp biến Việt Nam từ xã hội phong kiến thành xã hội thuộc địa nữa phongkiến với nhiều mâu thuẫn tồn tại là : mâu thuẫn giữa nhân dân Việt nam với đế quốc Phápxâm lược về độc lập dân tộc; mâu thuẫn giữa nhân dân Việt Nam mà đa số là nông dân mâuthuẫn với chế độ phong kiến chung quanh vấn đề dân chủ mà chủ yếu ruộng đất và dân cày,dân cày hoàn toàn phụ thuộc vào địa chủ, bị trói chặt vào mảnh ruộng của giai cấp địa chủvới tô thuế nặng nề Theo tư tưởng của Nguyễn Ái Quốc thì nhiệm vụ cách mạng sẽ tiếnhành đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến, làm cho nước Nam hoàn toànđược độc lập, tổ chức ra quân đội công, nông, binh, thâu hết ruộng đất của đế quốc làm củacông chia cho dân cày nghèo, bỏ sưu thuế cho dân nghèo, mở mang công nghiệp và nôngnghiệp, thi hành luật ngày làm 8 giờ

So với nhận thức của Nguyễn Ái Quốc đã nêu trong Cương lĩnh tháng 2/1930, Luận cươngchánh trị của Đảng cộng sản Đông Dương do Trần Phú soạn thảo là : chủ trương đánh đổ đếquốc và phong kiến phải thực hiện đồng thời và ngang nhau, không có nhiệm vụ nào hơnnhiệm vụ nào Về vấn đề này, là do sự nhận thức và giáo điều về mối quan hệ giữa vấn đềdân tộc và giai cấp trong cách mạng thuộc địa, hiểu biết không đầy đủ về tình hình đặc điểm

xã hội, giai cấp và dân tộc ở Đông Dương, lại mang khuynh hướng tả của quốc tế cộngsản trong bối cảnh thời gian lúc đó, cho nên BCHTW Đảng mà đứng đầu là Trần Phú đãkhông vạch rõ được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa dân tộc ViệtNam với bọn thực dân xâm lược Pháp cùng bọn tay sai của chúng, nên không nêu toát lênđược vấn đề dân tộc lên hàng đầu, mà nặng về đấu tranh giai cấp Về cách mạng ruộng đất,Luận cương không đề ra được một chiến lược liên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trongcuộc đấu tranh chống đế quốc Pháp và tay sai Luận cương đánh giá không đúng mức vai tròcách mạng của giai cấp tiểu tư sản, phủ nhận mặt tích cực của giai cấp tư sản dân tộc, cườngđiệu mặt tiêu cực của giai cấp này, không thấy được khả năng phân hóa và lôi kéo một bộphận giai cấp địa chủ trong cuộc cách mạng giải phóng dân tộc

2)- Đảng chủ trương đề cao nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai lên hàng đầu; nhiệm vụchống phong kiến được thực hiện ở mức độ thấp hơn Song, ở đây ngoài 2 mâu thuẫn giữanông dân và chế độ phong kiến, nhân dân Việt Nam và đế quốc Pháp còn có mâu thuẫn giữa

Trang 3

dân tộc Việt nam với liên minh đế quốc và bọn tay sai Vì vậy, mâu thuẫn chủ yếu đòi hỏitrong khi đồng thời chống đế quốc và phong kiến phải ưu tiên đặt nhiệm vụ chống đế quốc

và tay sai lên hàng đầu (đại địa chủ, đại tư sản phản cách mạng và vua quan phong kiến),nhằm giành lại độc lập, tự do, dân chủ cho toàn dân tộc Vì có giành được độc lập, dân tộcmới có thể tiến hành cuộc cách mạng XHCN và đi lên CNXH

3)- Về lực lượng cách mạng :

Cương lĩnh của Đảng chủ trương đoàn kết tất cả các giai cấp cách mạng, các lực lượng tiến

bộ và cá nhân yêu nước nhằm tập trung lực lượng đánh đổ kẻ thù chủ yếu của dân tộc làCNĐQ Pháp và tay sai, mở đường cho cách mạng phát triển đến thắng lợi hoàn toàn Về lựclượng CM Đảng ta xác định : Mọi người Việt Nam đều là con Lạc, cháu Hồng Ai cũngchịu cái khổ, cái nhục của họa mất nước Vì vậy, việc cứu nước là việc của mọi người,không phụ thuộc vào địa vị xã hội, vào hoàn cảnh kinh tế, vào năng lực cá nhân Trong đóxác định giai cấp công nông là động lực chính của CMVN

Trong tác phẩm Đường cách mệnh, Nguyễn Ái Quốc đã chỉ rõ :công nông là gốc cáchmệnh còn học trò, nhà buôn nhỏ, điền chủ nhỏ… chỉ là bầu bạn của cách mệnh công nông.Đảng phải thu phục cho được công nông và làm cho giai cấp công nhân lãnh đạo được đôngđảo quần chúng; ngoài lực lượng công nông là chính, phải hết sức liên lạc với tiểu tư sản, tríthức, trung nông… để kéo họ về phía vô sản giai cấp Đối với phú nông, trung tiểu địa chủ

và tư sản Việt Nam mà chưa rõ mặt phản cách mạng thì phải lợi dụng, ít lâu mới làm cho họđứng trung lập Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng (Đảng Lập hiến) thì phải đánh đổ.Trong khi liên lạc tạm thời với các giai cấp, phải rất cẩn thận, không khi nào nhượng bộ mộtchút lợi ích gì của giai cấp công nông mà đi vào đường lối thỏa hiệp Tư tưởng này củaNguyễn Ái Quốc khác với luận cương 10/30 là : Luận cương tư sản dân quyền cách mạngtháng 10/1930 chưa xác định đầy đủ tính chất giai cấp của xã hội đương thời, lực lượng cáchmạng chỉ dựa vào công nông và thành phần lao khổ thành phố (như là bọn bán rao ngoàiđường, bọn thủ công nghiệp nhỏ không mướn thợ, bọn trí thức thất nghiệp,…), phủ nhận vàphủ định những mặt tích cực của các thành phần yêu nước khác (thành phần tiểu tư sản, tríthức, trung nông, tư sản dân tộc…) và chủ trương không thành lập mặt trận, nên không lợidụng và huy động được sức mạnh của cả dân tộc tham gia cách mạng

Đồng thời, Hồ Chí Minh cũng cho rằng tất cả những người yêu nước Việt Nam đều có khảnăng trở thành cộng sản, và người cộng sản chân chính là người có tinh thần yêu nước triệt

để Chính sách Đại đoàn kết dân tộc là tư tưởng lớn của Hồ Chí Minh, là nhân tố cơ bản vàquyết định thắng lợi của CMVN Chính sách Đại đoàn kết là truyền thống yêu nước của dântộc ta đã thực hiện trong quá trình lịch sử dựng nước và giữ nước của dân tộc như : Hội nghịDiên Hồng, Hội nghị Bình Than thời nhà Trần đã tập hợp được lòng yêu nước của nhân dânđánh bại quân Nguyên Mông ở thế kỷ XIII, lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Chủ tịch

Hồ Chí Minh đã tập hợp được mọi tầng lớp quần chúng nhân dân lao động đánh đuổi đếquốc Pháp xâm lược với cách mạng 8/1945 thành công xây dựng nên Nước VNDCCH, chiếnthắng Điện Biên Phủ vang dội năm 1954, miền Bắc hoàn thành cuộc cách mạng DTDC tiếnlên CNXH Đại thắng mùa xuân năm 1975 thống nhất nước nhà, hoàn thành CMDTDCND ởmiền Nam, cả nước cùng tiến lên xây dựng CNXH

4)- Xác định giai cấp lãnh đạo CMVN là giai cấp công nhân lãnh đạo thông qua đội tiềnphong của họ là Đảng cộng sản Việt Nam, và khẳng định sự lãnh đạo của Đảng là nhân tốquyết định thắng lợi của cách mạng Đảng là đội tiên phong của vô sản giai cấp, cho nênĐảng có trách nhiệm thu phục cho được đại bộ phận giai cấp mình, phải làm cho giai cấpmình lãnh đạo được dân chúng, phải thu phục cho được đại đa số dân cày (lúc này Việt Namtrên 90% là nông dân) và phải dựa chắc vào dân cày nghèo, phải liên lạc với các giai cấp

Trang 4

cách mạng và các tầng lớp yêu nước để đoàn kết họ lại Đảng là một khối thống nhất ý chí vàhành động đảng viên phải : hăng hái tranh đấu cẩn thận và dám hi sinh, phục tùng mệnhlệnh Đảng và đóng kinh phí, chịu phấn đấu trong một bộ phận Đảng.

Từ thực tiễn các phong trào đấu tranh từ năm 1919-1925, đã có nhiều cuộc đấu tranh củaphong trào công nhân như : 8/3/1920 226 thủy thủ ở Sài Gòn bãi công đòi phụ cấp đắt đỏ,

1924 thợ nhuộm Sài Gòn - Chợ Lớn bãi công, 27/2/1924 công nhân nhà máy dệt Nam Địnhbãi công… nhưng các cuộc bãi công này vẫn mang tính chất tự phát, chỉ đưa yêu sách kinh

tế chứ chưa có tổ chức chỉ đạo chặt chẽ và chưa nêu được khẩu hiệu chính trị (chưa giác ngộchính trị, chưa có ý thức tổ chức kỷ luật) Từ 1926, khi tổ chức VNTN phát triển mạnh ởtrong và ngoài nước, thì giai cấp công nhân được nhận thức chủ nghĩa Mác-Lênin, đồng thờikhi có Đảng tiền phong của GCCN ra đời đã kết thúc giai đoạn đấu tranh tự phát, đạt đếntrình độ đấu tranh tự giác ngày càng cao đưa cuộc đấu tranh dân tộc kết hợp chặt chẽ vớicuộc đấu tranh giai cấp tiến lên giành thắng lợi Chính vì vậy, GCCN Việt Nam đã đảm nhậnđược vai trò lịch sử, thông qua đội tiền phong của họ là Đảng CSVN (Đảng lấy chủ nghĩaLênin làm kim chỉ nam, Đảng có vững cách mạng mới thành công) và trở thành giai cấp lãnhđạo CMVN

5)- Đảng chủ trương giành chính quyền bằng phương pháp bạo lực cách mạng, thiết lậpchính quyền mới của GCCN Cương lĩnh của Đảng đã khẳng định CMVN phải tiến hànhbằng bạo lực cách mạng của quần chúng, để đánh đổ đế quốc Pháp và bọn phong kiến làmcho nước nam hoàn toàn được độc lập, rồi dựng nên chính quyền công, nông, binh chứkhông phải bằng con đường cải lương, thỏa hiệp Kinh nghiệm của cách mạng tháng MườiNga, sau cách mạng DCTS tháng 2/1917, tồn tại song song hai chính quyền : Chính phủ tưsản lâm thời và chính quyền Xô viết, hai nền chuyên chính với hai bản chất giai cấp đối lậpnhau không thể cùng tồn tại trong một nước Lênin chủ trương thực hiện 2 phương án hòabình & vũ trang Phương án đấu tranh hòa bị thất bại, Đảng cộng sản Bônsêvích phải rút vàohoạt động bí mật và Đảng đã tổ chức lãnh đạo hoạt động cách mạng bằng phương pháp đấutranh vũ trang và đã giành được thắng lợi Vì vậy, Đảng ta đã rút ra kinh nghiệm là do bảnchất của CNĐQ và giai cấp tư sản với hai bản chất giai cấp hoàn toàn đối lập, là một cuộcchiến đấu không khoan nhượng; phải dùng bạo lực cách mạng đánh đổ bạo lực phản cáchmạng mới giành được thắng lợi hoàn toàn

Lịch sử Việt Nam đã chứng minh trong quá trình dựng nước và giữ nước; cách mạng tháng8/1945 thành lập nước VN.DCCH, trận Điện Biên Phủ 1954 buộc Pháp phải ngồi vào bànhội nghị ký kết hiệp định Giơnevơ, miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, và 30/4/1975 giảiphóng hoàn toàn miền Nam thống nhất tổ quốc; Đảng ta đã dùng bạo lực cách mạng đánhđuổi lần lượt đế quốc Pháp, Nhật, Mỹ và tay sai hoàn thành cuộc cách mạng DTDC nhândân, cả nước cùng tiến lên xây dựng chế độ CNXH

6)- Dùng chủ trương liên minh - đoàn kết với giai cấp vô sản bị áp bức của các dân tộcthuộc địa trên thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc

Hồ Chí Minh đi từ chủ nghĩa yêu nước đến chủ nghĩa Mác-Lênin Vì vậy, Hồ Chí Minh đãphát huy cao độ chủ nghĩa yêu nước truyền thống của Việt Nam trong sự thống nhất với chủnghĩa quốc tế vô sản Hồ Chí Minh cho rằng : Những tư tưởng dân tộc chân chính đồngthời cũng là những tư tưởng quốc tế chân chính Sự bóc lột thuộc địa không chỉ là mộtnguồn sống của bọn tư bản mà còn là cái nền móng của CNĐQ Do đó, cuộc cách mạnggiải phóng dân tộc không những phải trở thành bộ phận khắng khít của cuộc cách mạng vôsản mang tính toàn cầu mà còn có vai trò là một trào lưu lớn của cách mạng trong thế kỷ này

Vì thế phải CMVN phải đoàn kết với các dân tộc bị áp bức và giai cấp vô sản quốc tế, nhất làgiai cấp công nhân Pháp Cách mạng giải phóng dân tộc không tách rời cách mạng vô sản

Trang 5

nhưng chỉ có thể thực hiện bằng nỗ lực của bản thân các dân tộc thuộc địa; và Người chorằng CMVN phải vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin phù hợp với tình hình thực tế củaViệt Nam mới mang đến thắng lợi hoàn toàn Thực tế đã chứng minh rằng, phong trào vô sảnthế giới đã giành được nhiều thắng lợi; sau chiến tranh thế giới II hệ thống XHCN hìnhthành, và thắng lợi của cách mạng Việt Nam trong đó có sự giúp đỡ và tạo điều kiện của cácnước XHCN và phong trào liên minh - đoàn kết với giai cấp vô sản bị áp bức của các dân tộcthuộc địa trên thế giới chống lại chủ nghĩa đế quốc.

Ngoài ra, theo quan điểm Hội nghị tháng 10/1930 việc đổi tên Đảng cộng sản Việt Namthành Đảng cộng sản Đông Dương là bao gồm được Cao Miên và Lào Việt Nam, Cao Miên,Lào tuy tiếng nói, phong tục và nòi giống khác nhau nhưng về mặt chính trị và kinh tế thìphải liên hệ mật thiết với nhau; xứ Đông Dương là một xứ thuộc địa để khai khẩn của đếquốc chủ nghĩa Pháp Bởi vậy kinh tế Đông Dương bị phụ thuộc vào kinh tế của đế quốc chủnghĩa Pháp; xứ Đông Dương cần phải phát triển độc lập, nhưng vì là thuộc địa nên khôngphát triển độc lập được; các mâu thuẫn về giai cấp và kinh tế ở các nước Đông Dương đềugiống nhau… việc đặt tên Đảng cộng sản Việt Nam bỏ qua Ai Lao và Cao Miên là khôngđúng

Về việc đổi tên Đảng cộng sản Việt Nam thành Đảng cộng sản Đông Dương của Luậncương tháng 10/1930 nhìn ở một khía cạnh nào đó thì phản ánh đúng Tuy nhiên, theo quanđiểm của Nguyễn Ái Quốc, việc đặt tên Đảng cộng sản Việt Nam là đúng hơn Đó là do sựhiểu biết đúng đắn về tình hình, đặc điểm, tâm lí dân tộc của ba nước Đông Dương (ViệtNam, Cao Miên, Lào), việc đặt tên Đảng còn mang tính khoa học của chủ nghĩa Mác-Lenin.Những căn cứ đúng đắn để đặt tên Đảng cộng sản Việt Nam được thể hiện ở các đặc điểmsau :

Theo LêNin, các dân tộc bị lệ thuộc sau khi độc lập được tách ra để xây dựng độc lập dântộc và có quyền tự quyết

Cách mạng ba nước Việt Nam, Cao Miên, Lào sông liền sông - núi liền núi, không nhấtthiết phải thành lập Liên bang Đông Dương

Xuất phát từ tư tưởng, tâm lí dân tộc đã hình thành và ăn sâu vào tư tưởng nhận thức củatừng con người ở từng quốc gia về lãnh thổ và ranh giới Khi đã giành được độc lập thì tùytheo yêu cầu cụ thể mà có thể liên hiệp thành Liên bang Đông Dương

Cương lĩnh chính trị của Đảng ta ra đời sau Nghị quyết đại hội quốc tế cộng sản lần thứ VIkhoảng một năm rưỡi Nguyễn Ái Quốc đã tiếp thu nhiều tư tưởng đúng đắn, đồng thời đãkhông chịu ảnh hưởng một số quan điểm tả của quốc tế cộng sản Cương lĩnh đầu tiên củaĐảng là kết quả của sự vận dụng và phát triển sáng tạo học thuyết Mác-Lenin, đường lối củaquốc tế cộng sản và kinh nghiệm cách mạng thế giới vào hoàn cảnh cụ thể nước ta, là sự thểhiện tập trung tư tưởng cơ bản của Chủ tịch Hồ Chí Minh về cách mạng XHCN ở nước thuộcđịa nửa phong kiến

Sở dĩ có những vấn đề chưa thống nhất giữa Cương lĩnh đầu tiên do Ngyễn Ái Quốc soạnthảo và Chính cương 10/1930 là vì không chỉ do kết hợp hay tách rời yếu tố giai cấp với yếu

tố dân tộc, mà còn do xác định đúng hay chưa đúng vị trí của mỗi yếu tố đó trong điều kiện

cụ thể của nước ta Chủ tịch Hồ Chí Minh đã vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lenin, đánhgiá đúng hơn và đầy đủ hơn các yếu tố dân tộc trong CMVN Tuy bị phê phán, nhưng thựctiễn CMVN đã chứng minh sự đúng đắn, sáng tạo của Cương lĩnh đầu tiên do Chủ tịch HồChí Minh soạn thảo Chủ tịch Hồ Chí Minh viết Việc thành lập Đảng là bước ngoặt vôcùng quan trọng trong lịch sử CMVN Nó chứng tỏ rằng giai cấp vô sản ta đã trưởng thành

và đủ sức lãnh đạo cách mạng

Trang 6

Sau đại hội VII quốc tế cộng sản, 7/1936, tại Hương Cảng, đ/c Lê Hồng Phong chủ trì hộinghị BCHTW đã vạch ra những chủ trương mới về CMVN Đặc biệt là bắt đầu xem xét lạiquan điểm chỉ đạo chiến lược của hội nghị 10/1930 và đưa ra những quan điểm mới đúngđắn, phù hợp với tư tưởng chiến lược của cương lĩnh 2/1930, và nó mở đường cho chiến lượccủa Đảng ta về sau này.

Hội nghị BCHTW 5/1941 do Chủ tịch Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo đã đi đến quyết địnhđiều chỉnh lớn về chiến lược Cách mạng tư sản dân quyền mà nội dung là nêu cao nhiệm

vụ giải phóng dân tộc, coi đó là nhiệm vụ cốt lõi của cách mạng Đông Dương, xác định cáchmạng Đông Dương trong giai đoạn đầu là cách mạng giải phóng dân tộc Đây chính là sự kếtục và phát triển hoàn chỉnh hơn nữa tư tưởng cách mạng giải phóng dân tộc của Hồ ChíMinh đã vạch ra trong cương lĩnh 2/1930, là một bước trưởng thành vượt bậc của Đảng ta vềlãnh đạo chính trị, xây dựng đường lối cách mạng giải phóng dân tộc, có ý nghĩa quyết địnhthành công của cuộc tổng khởi nghĩa tháng 8/1945…

C Tóm lại :

Thắng lợi của CMVN dưới sự lãnh đạo của Đảng CSVN là bằng chứng không thể bác bỏtính đúng đắn của tư tưởng Hồ Chí Minh về sự gắn bó sự nghiệp giải phóng dân tộc với giảiphóng giai cấp bằng con đường đi lên CNXH Đó là cương lĩnh đúng đắn của Đảng, chấmdứt thời kỳ khủng hoảng về đường lối cứu nước của CMVN, mở ra giai đoạn mới, giai đoạnđấu tranh giải phóng dân tộc Chúng ta cũng không thể phủ nhận được rằng chủ nghĩa Mác-Lênin đã như một thứ động lực tinh thần hợp lòng người nhất, để trên nền móng đó phát huysức mạnh của lòng yêu nước của dân tộc Việt Nam

Nghị quyết của Đại hội lần IX nêu rõ: “Thực tiễn phong phú và những thành tựu thu đượcqua 15 năm đổi mới đã chứng minh tính đúng đắn của cương lĩnh được thông qua tại đại hộiVII của Đảng, đồng thời giúp chúng ta nhận thức ngày càng rõ hơn về con đường đi lênCNXH ở nước ta Đảng và nhân dân ta quyết tâm xây dựng đất nước VN theo con đườngCNXH trên nền tảng Chủ nghĩa Mác – Lê Nin và tư tưởng Hồ Chí Minh”

Đại hội IX của Đảng đã rút ra các bài học kinh nghiệm sau 15 năm đổi mới (1986-2000) là:

“Một là, trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộitrên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Hai là, đổi mới phải dựa vàodân, vì lợi ích của nhân dân, phù hợp với thực tiễn, luôn luôn sáng tạo Ba là, đổi mới phảikết hợp với sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Bốn là, đường lối đúng đắn của đảng lànhân tố quyết định sự thành công của sự nghiệp đổi mới.” (VKĐH IX, trang 19)

Ý nghĩa:

Một là trong quá trình đổi mới, phải kiên trì mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hộitrên nền tảng chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh Độc lập dân tộc gắn vớiCNXH trên nền tảng CNMLN, tư tưởng HCM là sự nghiệp CM vĩ đại, triệt để nhất tronglịch sử dân tộc ta Trong gắn bó đó, độc lập dân tộc không chỉ bó hẹp trong phạm vi độc lậpchủ quyền quốc gia - lãnh thổ, nhân dân thoát khỏi ách thống trị của bọn đế quốc xâm lược,

mà còn đi tới giải phóng giai cấp, giải phóng dân tộc và giải phóng con ngưới khỏi bị ápbức, bóc lột, bất công và mọi tha hoá; nhân dân lao động có cuộc sống ấm no, tự do hạnhphúc và làm chủ đất nước, làm chủ vận mệnh của mình Thống nhất giữa độc lập dân tộc vàCNXH là quy luật, là sợi chỉ đỏ xuyên suốt đường lối cách mạng Việt nam Độc lập dân tộc

là cơ sở và điều kiện tiên quyết để xây dựng CNXH CNXH bảo đảm vững chắc cho độc lậpdân tộc Chính nhờ nhận thức và vận dụng đúng đắn quy luật đó, cuộc kháng chiến chốngthực dân Pháp đã thành công, cuộc kháng chiến chống đế quốc My cứu nước và giành đượcthắng lợi Trong những năm đổi mới vừa qua, mặc dù đứng ytrước những khó khăn thửthách, biến động phức tạp của tình hình thế giới và khu vực, nhưng Đảng vẫn kiên định mục

Trang 7

tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội Những kết quả đạt được trong quá trình xây dựngCNXH trên phạm vi cả nước nói chung, trong 15 năm đổi mới nói riêng cũng bắt nguồn từđó.

Hai là, phải dựa vào nhân dân, vì lợi ích của nhân dân , phù hợp với thực tiễn, luôn luônsáng tạo Cách mạng là sự nghiệp của quần chúng Để đưa công cuộc đổi mới tới thắng lợi,phải phát huy tính chủ động, sáng tạo, tham gia một cách tích cực, tự giác của nhân dân.Việc dựa vào nhân dân, qua thực tiễn phong phú của nhân dân tiến hành tổng kết từng bướctìm ra quy luật các mặt của cuộc sống để đi lên, đó là chìa khóa của thành công” dễ mười lầnkhông dân cũng chịu; khó trăm lần dân chịu cũng xong” Ngày nay, bài học đó vẫn giữnguyên giá trị Quá trình hình thành đường lối đổi mới cũng như trong suốt quá trình triểnkhai thực hiện đường lối đó, Đảng ta luôn quán triệt tư tưởng dựa vào dân, lấy dân làm gốc,lắng nghe ý kiến nguyện vọng của nhân dân, tổng kết những điển hình tiên tiến và nhữngkinh nghiệm hay của nhân dân trong quá trình thực hiện đường lối của đảng, để không ngừnghoàn thiện đường lối chính sách

Ba là, phải kết hợp sức mạnh dân tộc với sức mạnh thời đại Công cuộc đổi mới của nhândân ta diễn ra trong lúc cuộc cách mạng khoa học – công nghệ thế giới phát triển mạnh mẽ;

xu thế khu vực hoá, toàn cầu hoá có ảnh hưởng mạnh mẽ đến nhịp độ phát triển và cuộc sốngcủa các dân tộc; cuộc đấu tranh của nhân dân thế giới và hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ

và tiến bộ xã hội, vì một trật tự chính trị, kinh tế thế giới thực sự dân chủ, công bằng, hợp lýđang dâng cao…Để tiến hành đổi mới có kết quả, trong khi không một chút xem nhẹ việcphát huy nội lực là chính, chúng ta phải ra sức tranh thủ tối đa mọi cơ hội tốt do những xuhướng nói trên tạo ra việ tranh thủ các nguồn lực bên ngoài phải đảm bảo nguyên tắc thựchiện chính sách đa phương hoá, đa dạng hoá, giữ vững độc lập dân tộc và định hướng xã hộichủ nghĩa, bảo vệ và phát triển nền văn hoá dân tộc, không xâm phạm công việc nội bộ, bìnhđẳng, cùng có lợi

Bốn là, đường lối đúng đắn của Đảng là nhân tố quyết định thành công của sự nghiệp đổimới Kinh nghiệm lịch sử rút ra từ sự sụp đổ chế độ XHCN ở Liên Xô và các nước Đông Aucho thấy: Nguyên nhân hàng đầu dẫn đến sự sụp đổ là do đường lối chính trị, tư tưởng, tổchức sai lầm nghiêm trọng Đối với Đảng ta, đảng khới xướng và lãnh đạo công cuộc đổimới với đường lối đúng đắn Đường lối đó là kết quả tổng kết từ thực tiễn và nghiên cứuphát triển lý luận trên sở nhận thức đúng đắn về chủ nghĩa Mác Lê Nin, tư tưởng Hồ ChíMinh, kiên định mục tiêu độc lập dân tộc gắn với chủ nghĩa xã hội Kế thừa truyền thống vănhoá dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hoá nhân loại, phải biết dựa vào dân, vì dân, phát huy sứcmạnh đại đoàn kết toàn dân, tăng cườmg và phát huy nội lực đi đôi với không ngừng hoànthiện đường lối đổi mới; thường xuyên xây dựng; chỉnh đốn Đảng; tạo ra sự thống nhất vềquan điểm, ý chí và hành động trong toàn Đảng, lãnh đạo nhân dân thực hiện các mục tiêu,nhiệm vụ do Đảng đề ra, kiện toàn bộ máy và hoạt động của Nhà Nước…Vì vậy, có cơ sởvũng chắc để tin tưởng đường lối của Đảng, ở sự lãnh đạo của Đảng và tương lai tươi sángcủa dân tộc

Đảng cộng sản Việt Nam ra đời và sự ra đời của cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng làbước ngoặc vĩ đại trong lịch sử cách mạng nước ta, chấm dứt cuộc khủng hoảng về đường lốicứu nước, là cơ sở định hướng cho mọi hoạt động của Đảng hiện nay và trong những thập kỷtới Thực hiện thắng lợi cương lĩnh này, nước ta nhất định trở thành một nước xã hội chủnghĩa phồn vinh./

Trang 8

Câu 2: Phân tích cao trào cách mạng chống đế quốc, chống phong kiến giai đoạn 1930-1945 ?

Trong thế kỷ XIX, khi thực dân Pháp xâm lược nước ta, lực lượng chính của dân tộc lànông dân đã bị mòn mỏi sau các cuộc chiến tranh Nam Bắc Triều, rồi Trịnh Nguyễn phântranh; triều đình nhà Nguyễn lại thối nát, đầu hàng, nên đế quốc Pháp đã đặt được áchthống trị lên đầu lên cổ nhân dân Việt Nam Nhiều cuộc khởi nghĩa của nhân dân ta đã nổ

ra rất mãnh liệt, song đều thất bại vì không có đường lối đúng Đảng Cộng Sản Việt Nam

ra đời năm 1930 đánh dấu bước chuyển biến quyết định của cách mạng Việt Nam, mởđường thắng lợi cho cách mạng giải phóng dân tộc Việt Nam Bắt đầu từ đó một đường lối,chiến lược cách mạng rõ ràng, đúng đắn được xác định và đưa hoạt động cách mạng củanhân dân VN đi đến thành công, đặc biệt là trong cao trào cách mạng chống đế quốc Pháp

và phong kiến 1930-1945

Ngay sau khi ra đời, trong Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, tiếp đó là Luận cươngchính trị, Đảng đã xác định đường lối cách mạng Việt Nam là phải trải qua hai giai đoạn:trước hết là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, sau đó tiến lên chủ nghĩa xã hội, bỏ quagiai đoạn phát triển của chế độ tư bản chủ nghĩa, mục đích cuối cùng của Đảng là thực hiệnchủ nghĩa cộng sản ở nước ta Trong suốt quá trình lãnh đạo cách mạng, Đảng luôn luônnắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, vì vậy đã giải quyết đúng đắn hàngloạt vấn đề lớn của cách mạng VNvà đã giành được những thắng lợi vĩ đại

Cương lĩnh chính trị (tháng 2/1930) và Luận cương chính trị (tháng 10/1930) đều khẳngđịnh : dưới thời Pháp thuộc, xã hội Việt Nam có hai mâu thuẫn cơ bản: mâu thuẫn giữa dântộc ta với chủ nghĩa đế quốc và mâu thuẫn giữa nhân dân ta, chủ yếu là nông dân, với giaicấp địa chủ phong kiến Cụ thể hơn, Đảng nhận định nước ta là nước nông nghiệp, nôngdân chiếm hơn 90% số dân, chủ nghĩa đế quốc dựa vào chế độ phong kiến để bóc lột nhândân, chủ yếu là bóc lột nông dân Nguyện vọng tha thiết và trực tiếp của nông dân là dântộc độc lập, người cày có ruộng Từ đó chỉ ra con đường cách mạng VN là “tư sản dânquyền CM và thổ địa CM để đi tới XH cộng sản”; bằng bạo lực cách mạng đánh đuổi đếquốc Pháp và xóa bỏ chế độ phong kiến VN, tiến đến cách mạng XHCN bỏ qua phát triểnTBCN

Tuy nhiên, việc giải quyết mối quan hệ giữa nhiệm vụ chống đế quốc và nhiệm vụ chốngphong kiến để có thể phát huy cao độ yếu tố dân tộc là vấn đề phức tạp, Đảng ta đã phảimất một thời gian tương đối dài mới đạt được sự nhất trí cao Luận cương chính trị có hạnchế là chưa vạch ra được mâu thuẫn chủ yếu của xã hội thuộc địa nửa phong kiến; đặtnhiệm vụ chống phong kiến lên hàng đầu, chống đế quốc là hàng thứ yếu, cho việc phânloại địa chủ là một sai lầm Ngược lại với chính cương vắn tắt cho rằng: Mâu thuẩn giữadân tộc và đế quốc là mâu thuẩn cơ bản của xã hội nhưng đồng thời là mâu thuẩn chủ yếucủa xã hội, thì phải giải quyết nó trước hết; từ đó Đảng phải đặt nhiệm vụ chống đế quốc -giải phóng dân tộc lên hàng đầu, với khẩu hiệu "Tổ quốc trên hết" để phát huy cao độ sứcmạnh dân tộc nhưng không coi nhẹ những nhiệm vụ dân chủ; chống phong kiến được rải ratừng bước, chia ra 3 loại địa chủ: tiểu địa chủ, trung địa chủ và đại địa chủ để có sách lượcphù hợp với từng đối tượng, nhằm lôi kéo tranh thủ tập hợp lực lượng CM Hai nhiệm vụchiến lược trên phải được tiến hành kh#ng khít với nhau, không được tách rời Đó là tưtưởng đúng đắn về chỉ đạo chiến lược, sách lược của Đảng ta

Đảng lãnh đạo phong trào đấu tranh dân tộc, dân chủ tạo nên cao trào CM 1930-1931, xâydựng lực lượng ctrị với nòng cốt là công – nông… với đỉnh cao là phong trào Xô viết -Nghệ tĩnh, đây là cuộc tổng diễn tập đầu tiên của CM VN dưới sự lãnh đạo của Đảng, đem

6-2

Trang 9

lại cho Đảng một số kinh nghiệm về xác định mục tiêu đấu tranh, lựa chọn phương pháp

CM phù hợp với giai đoạn CM và về tập hợp lực lượng CM

Từ giữa năm 1935, Đảng tập trung củng cố và phát triển Đảng trong các xí nghiệp, hầm

mỏ và nông thôn…; đẩy mạnh công tác vận động, thu phục quần chúng và mở rộng tuyêntruyền chống đế quốc, chống chiến tranh

Suốt giai đoạn thực hiện phong trào vận động dân chủ (1936 - 1939), vận dụng nghị quyếtcủa quốc tế cộng sản vào đông dương, hai nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến của CM

VN là không hề thay đổi Tháng 7/1936, CM VN chuyển hướng chỉ đạo chiến lược; đề ranghị quyết đấu tranh chống phát xít và bọn phản động nội địa, đòi tự do, dân chủ, cơm áo,hòa bình Thành lập Mặt trận nhân dân phản đế rộng rãi bao gồm các giai cấp, các đảngphái, các đoàn thể chính trị, tôn giáo và dân tộc Chuyển hướng hình thức tổ chức từ bí mật,bất hợp pháp là chủ yếu chuyển sang đấu tranh công khai, hợp pháp và nửa hợp pháp là chủyếu như: hội cày, hội cấy, hội đá banh…để đấu tranh Cao trào CM dân chủ phát triểnmạnh mẽ, đòi hỏi Đảng phải tiếp tục bổ sung chủ trương và biện pháp để chỉ đạo phongtrào, tháng 3-1938, TW họp quyết định tổ chức thực hiện Mặt trận thống nhất dân chủ vàcoi đó là nhiệm vụ trọng tâm của Đảng trong giai đoạn hiện tại Thời gian này, Đảng còn

sử dụng báo chí công khai làm vũ khí đấu tranh CM; xuất bản nhiều sách giới thiệu về đấutranh giai cấp, về CNXH, CNCS

Cao trào dân chủ 1936-1939 là thắng lợi to lớn, đánh dấu bước phát triển mới của phongtrào CM VN Qua phong trào, Đảng và các lực lượng CM VN trưởng thành nhanh chóng.Cao trào 36-39 là cuộc tổng diễn tập lần thứ 2 cho tổng khởi nghĩa sau này Để lại choĐảng ta nhiều bài học kinh nghiệm quý giá về: xác định kẻ thù và mục tiêu đấu tranh trướcmắt; tập hợp lực lượng rộng rãi trên cơ sở động viên sự tham gia của mọi tầng lớp XH; đểlãnh đạo được mặt trận, Đảng phải vững mạnh về chính trị và tổ chức, phải xây dựng khốiliên minh công – nông làm nòng cốt; phải biết sử dụng linh hoạt nhiều hình thức đấu tranh.Giai đoạn 1939 – 1945 trước những biến động to lớn của tình hình thế giới và trong nước,Đảng quyết định chuyển hướng chỉ đạo chiến lược, tiếp tục hoàn chỉnh mối quan hệ 2nhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến Thể hiện qua Nghị quyết TW 6 (11/1939); NQ TW

7 (11/1940); NQ TW 8 (5/1941) Các nghị quyết đều khẳng định những nhiệm vụ chống đếquốc và phong kiến của CM nước ta là không thay đổi, nhưng mục tiêu trước mắt là đánh

đổ đế quốc và tay sai, làm cho nước nhà hoàn toàn độc lập; tạm gác khẩu hiệu CM ruộngđất, thay vào đó là khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của đế quốc và tai sai chia cho dân cày.Lợi dụng Pháp thua Đức trong chiến tranh thế giới thứ hai, Nhật vào chiếm nước ta, buộcPháp thỏa hiệp với Nhật cùng cai trị VN Nhân dân ta chịu một cổ hai tròng Xu hướng đấutranh vũ trang phát triển mạnh trong nhân dân, mở đầu là cuộc khởi nghĩa Bắc Sơn, tiếptheo là khởi nghĩa Nam Kỳ (11/1940), khởi nghĩa Đô Lương (1/1941) đã thức tỉnh nhândân cả nước vùng lên tranh đấu

Hội nghị lần thứ tám BCH TW (5/1941), Đảng chủ trương thành lập Mặt trận VN độc lậpđồng minh (gọi tắt là Việt Minh), đánh đuổi đế quốc Pháp - Nhật, thành lập Chính phủnhân dân của nước VN dân chủ cộng hòa Trên cơ sở lực lượng chính trị được xây dựng,Đảng chỉ đạo tổ chức lực lượng vũ trang CM gồm Hội cứu quốc quân, Đội VN tuyêntruyền giải phóng quân; thành lập các khu căn cứ địa CM; xác định khởi nghĩa từng phầntiến đến tổng khởi nghĩa, xác định kẽ thù của CM là Phát Xít Nhật và thực dân Pháp Đồngthời thúc đẩy mạnh mẽ các hoạt động trên mặt trận văn hóa tư tưởng, xây dựng Đảng…chờđợi thời cơ tổng khởi nghĩa giành chính quyền

Đêm 9-3-1945, Nhật đảo chính Pháp ở Đông Dương; cũng đêm đó BTV TW Đảng họp tạiĐình Bảng (Bắc Ninh) quyết định và Chỉ thị “Nhật - Pháp bắn nhau và hành động của

Trang 10

chúng ta”; chỉ rõ phát xít Nhật giờ đây là kẻ thù chính của nhân dân Đông Dương và nêucác khẩu hiệu “Đánh đuổi phát xít Nhật”, “Thành lập chính quyền CM của nhân dân” đểchống lại chính phủ bù nhìn tay sai của Nhật, phát động cao trào kháng Nhật, làm tiền đềcho cuộc tổng khởi nghĩa.

Giữa tháng 8-1945, tình thế trực tiếp CM đã xuất hiện, khi chính phủ Nhật đầu hàng Liên

Xô và quân đồng minh vô điều kiện, quân đội Nhật ở Đông Dương bị tê liệt hoàn toàn Cơhội ngàn năm cho dân tộc ta vùng lên tổng khởi nghĩa giành chính quyền đã tới Dưới sựlãnh đạo của Đảng, nhân dân ta tiến hành cuộc cách mạng tháng Tám thành công Và ngày2/9/1945 tại Quảng Trường Ba Đình Chủ Tịch Hồ Chí Minh đã đọc bảng Tuyên ngôn độclập, khai sinh nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa- mở đầu một kỷ nguyên mới - kỷ nguyênđộc lập tự do, dân chủ nhân dân, tiến lên CNXH cho dân tộc VN

Thắng lợi của cuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám năm 1945 là kết quả của quá trình đấutranh lâu dài, gian khổ của nhân dân ta; là bước nhảy vọt vĩ đại đánh dấu sự biến đổi cực kỳ

to lớn trong lịch sử tiến hóa của dân tộc Việt Nam, từng cống hiến to lớn về lý luận và thựctiễn đối với CM thế giới, đặt biệt là CM giải phóng dân tộc Nói lên sự lãnh đạo đúng đắncủa Đảng và tinh thần quật khởi mạnh mẽ của toàn dân

Nhưng với dã tâm đế quốc, thực dân pháp đã không từ mọi thủ đoạn, đã quay lại tái xâmlược nước ta một lần nữa Nhưng với bản lĩnh chính trị của Đảng cầm quyền đã trãi qua thửthách trong thực tiễn đấu tranh trên mọi lĩnh vực để giải phóng dân tộc, một lần nữa Đảng

ta lãnh đạo nhân dân đi vào đấu tranh ở giai đoạn mới với hình thức, tính chất và quy mô ácliệt hơn

Chủ tịch HCM ra “Lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến” Đảng ta khẳng định đường lốikháng chiến chống thực dân Pháp của ta là: toàn dân, toàn diện, lâu dài và dựa vào sứcmình là chính; tuy lâu dài, gian khổ nhưng nhất định thắng lợi

Đại hội Đảng lần thứ II (2/1951), Đảng đổi tên là Đảng lao động Việt Nam (được tách ra

từ ĐCS Đông Dương) và ra hoạt động công khai Đảng đã xác định đối tượng của CM ViệtNam lúc là chủ nghĩa đế quốc xâm lược cụ thể là thực dân Pháp can thiệp Mỹ, phong kiếnphản động làm tay sai cho đế quốc là đối tượng thứ 2 của CM Vạch ra 3 nhiệm vụ cơ bảncủa CM Việt Nam là đánh đuổi đế quốc giành độc lập dân tộc; xóa bỏ di tích phong kiến,làm cho người cày có ruộng phát triển chế độ dân chủ nhân dân; xây dựng cơ sở vật chấtCNXH Nhiệm vụ chính vẫn là hoàn thành giải phóng dân tộc Động lực của cuộc khángchiến CM dân tộc dân chủ nhân dân là giai cấp công nhân, nông dân, tiểu tư sản thành thị,tiểu tư sản tri thức và tư sản dân tộc Ngoài ra còn có những nhân sĩ yêu nước và tiến bộ.Người lãnh đạo CM là giai cấp công nhân thông qua đội tiền phong của giai cấp công nhân

là Đảng Lao Động Việt Nam

Song, đồng thời Đảng chỉ đạo thực khẩu hiệu “Người cày có ruộng”, tiến hành cải cáchruộng đất ở vùng tự do và phát động quần chúng triệt để giảm tô ở các vùng địch chiếmđóng Các hội nghị TW 1 (tháng 3/1951), TW 2 (10/51), TW 3 (4/52), TW 4 (tháng1/1953) và đặc biệt là hội nghị TW 5 (tháng 11/191953) đều trực tiếp chỉ đạo thực hiệnnhững Nvụ trên

Quá trình thực hiện CM ruộng đất diễn ra đồng thời với cuộc tiến công chiến lược Đông –Xuân 1953 – 1954 và chiến dịch Điện Biên Phủ, quân dân ta đã đánh bại hoàn toàn mọi cốgiắng quân sự của Pháp ở VN Hiệp định Giơnevơ được ký kết (tháng 7/1954), hòa bìnhlập lại ở Miền Bắc

Phản ánh đúng tư tưởng chiến lược về tính không tách rời của hai nhiệm vụ chống đếquốc và phong kiến, phản ánh nhận thức của Đảng muốn giữ quyền lãnh đạo dân tộc phảithực hiện những yêu cầu dân chủ đối với nông dân, Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng

Trang 11

(2-1951) đã định rõ "nhiệm vụ giải phóng dân tộc bao gồm nhiệm vụ phản phong kiến", vàthay khái niệm "cách mạng tư sản dân quyền" bằng khái niệm "cách mạng dân tộc dân chủnhân dân" Nhận thức của Đảng đã rõ ràng Tuy nhiên, trong việc tổ chức thực hiện, Đảng

đã phạm sai lầm hữu khuynh, có lúc quá chú trọng tranh thủ tầng lớp trên, coi nhẹ pháttriển lực lượng công nhân, và sai lầm tả khuynh trong cải cách ruộng đất

Từ những thành công cũng như sai lầm nghiêm trọng dù là tạm thời, Đảng đã rút ra bàihọc quan trọng về mối quan hệ giữa chiến lược và sự chỉ đạo chiến lược Đó là: "nắm vững

và giương cao ngọn cờ dân tộc và dân chủ với hai khẩu hiệu chiến lược "dân tộc độc lập"

và "người cày có ruộng", Đảng ta đã lôi cuốn được đông đảo nông dân đi theo giai cấpcông nhân, động viên được các tầng lớp nhân dân khác cùng với công, nông bước lên trậntuyến cách mạng chống đế quốc và phong kiến Trong quá trình cách mạng, những nhiệm

vụ chiến lược đó đã được cụ thể hoá bằng những mục tiêu thích hợp với từng thời kỳ, dựatrên sự phân tích những mối quan hệ giai cấp cụ thể và khả n#ng phân hoá hàng ngũ kẻ thù

đế quốc và phong kiến, nhằm tập trung ngọn lửa cách mạng vào kẻ thù nguy hại nhất trongtừng lúc một Song, dù ở bất cứ thời kỳ nào, những mục tiêu và nhiệm vụ chính trị cụ thể

do Đảng đề ra, về cơ bản đều bao hàm cả hai nội dung dân tộc và dân chủ, về cơ bản đềugắn liền hai nhiệm vụ chống đế quốc và chống phong kiến" Như vậy về mối quan hệ giữahai nhiệm vụ chiến lược, Đảng đã nhận thức đầy đủ hơn, diễn đạt rõ ràng hơn, có tính lýluận sâu sắc và bảo đảm cho Đảng tránh mắc sai lầm tả hữu khuynh trong việc lãnh đạohoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ ở miền Nam trong thời kỳ chống đế quốc Mỹ

Dưới sự lãnh đạo sáng suốt, đúng đắn của Đảng, cuộc kháng chiến chống thực dân Phápxâm lược và can thiệp của Mỹ đã kết thúc thắng lợi, đã đi vài lịch sử dân tộc như một chiếncông hiển hách Với thắng lợi của kháng chiến chống Pháp, nhiệm vụ của cuộc cách mạngdân tộc, dân chủ mà Đảng ta đã vạch ra trong cương lĩnh chính trị đầu tiên đã căn bản hoànthành trên một nửa nước, mở đường cho miền Bắc bước lên thời kỳ quá độ lên CNXH, xâydựng hậu phương vững mạnh để nhân dân tiếp tục đấu tranh hoàn thành CM dân tộc, đưachủ trương cả nước, giải phóng miền nam, thực hiện thống nhất đất nước đi lên xây dựngCNXH, đem lại cuộc sống tự do, ấm no, hạnh phúc cho người dân

Câu 3: Phân tích bài học kinh nghiệm, bài học xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc qua các giai đoạn từ 1930 đến nay Liên hệ Nghị quyết Trung Ương 7 Khoá IX

Ngay khi Đảng Cộng Sản Việt Nam ra đời, chủ trương đoàn kết toàn dân trong Mặt trậndân tộc thống nhất là một chính sách lớn của Đảng ta trong suốt quá trình lãnh đạo cáchmạng Việt Nam Sức mạnh đoàn kết đã được phát huy trong đấu tranh giành độc lập dân tộc

và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh đã khẳng định : Đại đoànkết trong Mặt trận dân tộc thống nhất là một trong những nhân tố quyết định thắng lợi củacách mạng Việt Nam

Nhìn lại lịch sử Việt Nam, ngay từ thời xa xưa, các nhà lãnh đạo triều đại Lý, Trần, Lê…cũng đã nhìn thấy sức mạnh của dân, để chủ trương dựa vào dân chống ngoại xâm TrầnQuốc Tuấn đã rút ra bài học: "phải khoan thư sức dân, làm kế rễ sâu gốc vững, ấy là thượngsách để giữ nước" Nguyễn Trãi cũng đã nói: "Đỡ thuyền cũng là dân mà lật thuyền cũng làdân"… Kế thừa di sản quý báu của dân tộc, vận dụng di sản đó và kinh nghiệm của thế giớivào cách mạng Việt Nam, Chủ tịch Hồ Chí Minh cũng đã khẳng định "dân là gốc của nước",

"có dân là có tất cả" và thực hiện chủ trương: “Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết, Thành công,thành công, đại thành công" Trong tác phẩm "Đường kách mệnh", Người cũng đã nhấnmạnh “Kách mệnh là việc chung của dân chúng, chứ không phải là việc của một hai người

Trang 12

Với tư tưởng cối lõi ấy, ngay từ ngày thành lập, Đảng ta đã coi Mặt trận dân tộc thống nhất

là vấn đề có ý nghĩa chiến lược và đã phê phán mọi biểu hiện coi nhẹ công tác mặt trận, hạthấp vai trò của quần chúng, coi thường nhân tố dân tộc trong cách mạng

Để hình thành được mặt trận, tập hợp được hết thảy các lực lượng cách mạng và tiến bộtrong mỗi thời kỳ cách mạng, Đảng ta đã đề ra những chủ trương, chính sách thích hợp nhằmđoàn kết toàn dân, phấn đấu cho một mục tiêu nhất định xem đó là chương trình hành độngthống nhất của tất cả các giai cấp, các đảng phái, các lực lượng tham gia Mặt trận dân tộcthống nhất Thể hiện tính chất quần chúng rộng rãi trong công tác mặt trận và căn cứ vàotừng thời kỳ, Đảng ta đã linh hoạt trong việc chỉ ra cách thức đấu tranh, lựa chọn hình thứcđấu tranh và tên gọi Mặt trận cho phù hợp với hoàn cảnh cụ thể và mục tiêu, nhiệm vụ từngthời kỳ cách mạng như: Mặt trận dân chủ, Mặt trận Việt Minh, Mặt trận Liên Việt, Mặt trận

Tổ quốc, Mặt trận dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam v.v Có mặt trận được tổ chứcchặt chẽ theo hệ thống từ trung ương đến cơ sở; có mặt trận chỉ mang tính chất liên hiệphành động; nhưng tất cả đều nhằm tập hợp, động viên được hết thảy mọi người tích cực thamgia vào sự nghiệp chung giải phóng dân tộc và xây dựng, bảo vệ Tổ quốc

Song song đó, Đảng luôn coi đoàn kết dân tộc luôn là nguồn sức mạnh của cách mạng và làmột trong những nhân tố quyết định thắng lợi của cách mạng Việt Nam Chính vì vậy, Đảng

ta đã chủ trương xây dựng được khối đại đoàn kết dân tộc trên cơ sở liên minh công - nông –trí thức Đảng đã

Ngay từ khi mới thành lập, trong Cương lĩnh đầu tiên của Đảng đã chỉ rõ giai cấp vô sảnphải tranh thủ được nhiều bạn đồng minh, phải tập hợp các lực lượng cách mạng trong Mặttrận dân tộc thống nhất Hình thức Mặt trận dân tộc thống nhất đầu tiên lấy tên là Hội phản

đế đồng minh Trong chỉ thị lập Mặt trận, Đảng đã nhấn mạnh: Nếu không tổ chức được lựclượng thật rộng, thật kín thì cách mạng cũng khó thành công

Sau cao trào cách mạng 1930-1931, đế quốc Pháp khủng bố ác liệt, phong trào cách mạngtạm thời lắng xuống, Đảng chuyển hướng tổ chức quần chúng đấu tranh và quần chúng vẫnhướng về Đảng Khi điều kiện và thời cơ thuận lợi xuất hiện, Đảng đã kịp thời đề ra chủtrương, chính sách đúng nên đã nhanh chóng tập hợp lực lượng, liên hiệp hành động với cácgiai cấp, các tầng lớp yêu nước, các đảng phái dân chủ, hình thành Mặt trận dân chủ Đôngdương trong thời kỳ 1936-1939 Vì vậy, Đảng đã phát động được một cao trào đấu tranhcách mạng đòi cải thiện dân sinh, dân chủ, cơm áo, hòa bình, chống phản động thuộc địa,chống chủ nghĩa phát xít, chống chiến tranh

Tháng 9/1939, Chiến tranh thế giới lần thứ hai bùng nổ, Đảng đặt nhiệm vụ giải phóng dântộc lên hàng đầu Đồng chí Hồ Chí Minh về nước, cùng Ban Chấp hành Trung ương Đảnghoàn chỉnh chủ trương chuyển hướng chỉ đạo chiến lược Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ

8 khoá I (tháng 5-1941), dưới sự lãnh đạo trực tiếp của đồng chí Hồ Chí Minh đã chủ trươngtạm gác khẩu hiệu tịch thu ruộng đất của địa chủ, thành lập Mặt trận Việt Nam độc lập đồngminh (gọi tắt là Mặt trận Việt Minh) để mở rộng khối đoàn kết dân tộc không chỉ bao gồmgiai cấp công – nông mà còn cả những người Việt Nam yêu nước, tập trung mũi nhọn đấutranh vào nhiệm vụ chống đế quốc, giành độc lập dân tộc Dưới ngọn cờ đại đoàn kết củaMặt trận Việt Minh, nhân dân ta đã dấy lên một cao trào kháng Nhật cứu nước sôi nổi và đềukhắp, nắm vững thời cơ Đảng đã chỉ đạo Mặt trận khởi nghĩa từng phần, khởi nghĩa vũ trangdẫn đến tổng khởi nghĩa đưa Cách mạng Tháng Tám 1945 đến thắng lợi

Chính quyền cách mạng vừa mới thành lập, thì quân Pháp núp sau quân đội Anh trở lại xâmlược nước ta từ phía Nam, còn quân Tưởng kéo vào phía Bắc Trước tình thế hiểm nguy ấy,Đảng ta và Chủ tịch Hồ Chí Minh chủ trương mở rộng hơn nữa Mặt trận dân tộc thống nhất.Tháng 5-1946, Mặt trận Liên Việt ra đời, khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố, làm hậu

4-2

Trang 13

thuẫn vững chắc cho chính quyền cách mạng Với mục tiêu giai đoạn này là đặt nhiệm vụđánh đổ đế quốc hàng đầu, Đảng đã huy động lực lượng toàn dân tham gia và áp dụng nhiềubiện pháp linh hoạt để thêm bạn, bớt thù, do đó đã đẩy lùi được mọi âm mưu thâm độc củathù trong, giặc ngoài

Sau chiến thắng Điện Biên Phủ, miền Bắc được hoàn toàn giải phóng, ở miền Nam, đếquốc Mỹ biến miền Nam nước ta thành thuộc địa kiểu mới và Mỹ trở thành kẻ thù chính củadân tộc ta Trong hoàn cảnh mới, Đảng chủ trương thành lập ở mỗi miền một mặt trận dântộc thống nhất nhằm mở rộng và t#ng cường khối đoàn kết dân tộc để hoàn thành cách mạngdân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước và đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội

Tháng 9-1955, ở miền Bắc, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam ra đời với mục tiêu xây dựngCNXH Tháng 12-1960, ở miền Nam, sau cao trào "đồng khởi", Mặt trận dân tộc giải phóngmiền Nam Việt Nam được thành lập với mục tiêu giải phóng Miền Nam

Nhân dân ta còn đoàn kết với nhân dân các dân tộc Lào và Campuchia anh em, hình thànhMặt trận đoàn kết ba nước, các lực lượng hoà bình, tiến bộ trên thế giới, kể cả nhân dân tiến

bộ Mỹ, ủng hộ sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước của nhân dân ta Trong cuộc kháng chiến Mỹ,cứu nước đã hình thành trên thực tế ba tầng mặt trận : ở trong nước, trên bán đảo ĐôngDương và trên thế giới, đoàn kết mọi lực lượng có thể đoàn kết, tranh thủ mọi lực lượng cóthể tranh thủ để lên án và cô lập đế quốc Mỹ xâm lược

Sau đại thắng mùa Xuân n#m 1975, miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất,

cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội Nhưng chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động vẫn còn

âm mưu và hành động phá hoại sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc của nhân dân ta.Đảng ta vẫn chủ trương tiếp tục coi trọng vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, nơi tậphọp đông đảo nhân dân cả nước ra sức thực hiện hai nhiệm vụ chiến lược là xây dựng chủnghĩa xã hội và bảo vệ Tổ quốc xã hội chủ nghĩa Nhân dân ta tiếp tục t#ng cường đoàn kếtvới nhân dân hai nước Lào và Campuchia, đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa và cácnước, các dân tộc tiến bộ trên thế giới, đấu tranh cho hoà bình, độc lập dân tộc, dân chủ vàtiến bộ xã hội

Từ những kết quả xây dựng mặt trận dân tộc thống nhất qua các giai đoạn trên, ta có thể rút

ra một số kinh nghiệm như sau :

Một là phải xác định đúng kẻ thù, sắp xếp đúng bạn đồng minh Muốn có chính sách mặttrận đúng đắn, trước hết phải xác định đúng kẻ thù cụ thể, phải chỉ rõ kẻ thù cần phải đánh

đổ trong từng giai đoạn chiến lược, trong từng thời kỳ của một giai đoạn Có như vậy mớitập trung được toàn bộ lực lượng cách mạng đánh đổ kẻ thù cũng như mới lợi dụng đượcnhững mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù và vận dụng sách lược mềm dẻo để cô lập cao độ kẻthù nguy hiểm nhất Đảng ta đã có nhiều thành công nổi bật trong việc xác định kẻ thù cụ thể

và chính sách mặt trận trong các thời kỳ cách mạng Đặc biệt là trong thời kỳ 1945-1946,công tác mặt trận lúc này hết sức phức tạp, nhưng phong phú và sáng tạo Tình hình lúc bấygiờ thay đổi từng ngày, từng tháng Cùng một lúc cách mạng nước ta phải đối phó với nhiều

kẻ thù, nhưng Đảng đã đánh giá đúng các loại kẻ thù, xác định đúng kẻ thù chính, để có sáchlược và phương pháp đấu tranh phù hợp : khi thì hòa với Tưởng để chống Pháp, khi thì tạmthời hoà với Pháp để đuổi Tưởng nhằm phân hoá, cô lập kẻ thù, tránh thế bất lợi phải chốngvới nhiều kẻ thù cùng một lúc, để t#ng thêm sức mạnh giành thắng lợi Trong kháng chiếnchống Mỹ, Đảng ta đã sáng suốt chỉ rõ kẻ thù nguy hiểm nhất không chỉ của dân tộc ta màcủa cả loài người tiến bộ là đế quốc Mỹ, nên đã hình thành được ba tầng mặt trận: ở trongnước, ở Đông Dương và trên thế giới, tạo ra sức mạnh để giành thắng lợi trong sự nghiệpchống Mỹ, cứu nước

Trang 14

Trong công tác mặt trận, vì trong dân tộc có nhiều giai cấp, nên Đảng phải đánh giá đúngthái độ chính trị của các giai cấp và tầng lớp xã hội khác nhau để sắp xếp đúng đắn vị trí cáclực lượng trong Mặt trận dân tộc thống nhất: vai trò lãnh đạo, lực lượng nòng cốt, bạn đồngminh lâu dài và gần gũi, bạn đồng minh tạm thời, v.v Ngay từ khi thành lập, Đảng ta đãđánh giá đầy đủ vị trí của giai cấp nông dân Việt Nam, giai cấp đông đảo nhất, chiếm 95%

số dân, là bạn đồng minh cách mạng và trung thành nhất của giai cấp công nhân Việt Nam.Hai giai cấp công nhân và nông dân và tầng lớp trí thức có liên minh chặt chẽ mới phát huyđầy đủ sức mạnh, thực hiện triệt để nhiệm vụ giải phóng dân tộc và giai cấp, trong đó giaicấp công nhân phải đóng vai trò lãnh đạo của giai cấp công nhân Bên cạnh đó, Đảng ra sứctập hợp đông đảo lực lượng về phía cách mạng trên cơ sở đánh giá cao truyền thống yêunước của mọi tầng lớp nhân dân Đảng đã lôi cuốn giai cấp tư sản dân tộc, một bộ phận hoặctừng cá nhân xuất thân từ giai cấp phong kiến địa chủ có tinh thần yêu nước tham gia cáchmạng giải phóng dân tộc Trong giai đoạn cách mạng dân tộc dân chủ, Đảng hết sức chú ýphân tích thái độ chính trị của các giai cấp, các tầng lớp, nhất là các tầng lớp trên để tranhthủ mọi khả n#ng có thể tranh thủ nhằm t#ng cường mặt trận dân tộc rộng rãi để chống đếquốc và tay sai Trong cách mạng xã hội chủ nghĩa, Đảng ta tiếp tục lắng nghe, tìm hiểuquan điểm, tư tưởng và thái độ chính trị của các giai cấp, các tầng lớp để kịp thời đề ranhững chủ trương chính sách đúng đắn, những hình thức tổ chức sát hợp để tập hợp lựclượng đông đảo, nhằm củng cố khối đoàn kết dân tộc, xây dựng thành công chủ nghĩa xã hội

ở nước ta

Hai là giải quyết đúng đắn các mối quan hệ trong nội bộ mặt trận Để tránh tả và hữukhuynh trong việc thực hiện chính sách đoàn kết dân tộc, Đảng ta đã giải quyết đúng đắn cácmối quan hệ trong nội bộ mặt trận

- Đối với mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, mặt trận là tổ chức tập hợp lực lượng dântộc bao gồm nhiều giai cấp, tầng lớp được tập hợp, đoàn kết trên cơ sở chương trình hànhđộng chung Vì vậy, cương lĩnh chung của mặt trận thể hiện đúng mối quan hệ giữa lợi íchchung toàn dân tộc với lợi ích riêng từng giai cấp Nếu vượt ra khỏi giới hạn mục tiêu đó làphạm sai lầm tả khuynh Trái lại, không đấu tranh để thực hiện những mục tiêu chung đã xácđịnh là phạm sai lầm hữu khuynh Trong thời kỳ 1936-1939, Đảng nêu ra mục tiêu đấu tranhđòi cải thiện dân sinh, dân chủ, chống chủ nghĩa phátxít, chống chiến tranh; trong thời kỳ1939-1945 là đấu tranh chống Nhật, Pháp, giành độc lập dân tộc; trong thời kỳ chống Mỹ,cứu nước đã có lúc Đảng nêu ra mục tiêu trước mắt tranh đấu cho miền Nam Việt Nam, hoàbình, trung lập, v.v

- Đối với mối quan hệ giữa liên minh công nông và mặt trận, đây là mối quan hệ lớn nhấttrong công tác mặt trận Chỉ nhấn mạnh liên minh công nông mà không chú ý tranh thủ cácgiai cấp, tầng lớp khác là hẹp hòi, tả khuynh Ngược lại, chỉ chú ý vận động các giai cấp,tầng lớp khác mà không chú ý củng cố liên minh công nông là phạm sai lầm hữu khuynh.Đảng ta đã giải quyết đúng đắn mối quan hệ trên bằng việc thường xuyên nắm vững mụctiêu lâu dài và mục tiêu chủ yếu trong từng thời kỳ cách mạng, phân tích được mâu thuẫnchủ yếu để vạch rõ kẻ thù trực tiếp, nguy hiểm nhất Khi cần tập trung lực lượng để giảiquyết những nhiệm vụ cấp bách nhất của cách mạng, Đảng đã giải quyết đúng mức quyền lợicủa công nông và của các giai cấp, các tầng lớp tham gia mặt trận

- Đối với mối quan hệ giữa tranh thủ tầng lớp trên (tiểu tư sản, địa chủ ) đi đôi với phátđộng quần chúng cơ bản Đảng chủ trương “có thể và cần phải” tranh thủ tầng lớp trên, nhất

là những cá nhân có uy tín trong quần chúng, đó là điều cần thiết và có lợi cho việc phátđộng quần chúng cơ bản Nhưng phong trào vững chắc phải là phong trào cách mạng củaquần chúng cơ bản Chỉ khi nào phong trào đó mạnh mới bảo đảm tranh thủ được tầng lớp

Trang 15

trên Vận động các dân tộc ít người là một trong những công tác quan trọng bậc nhất củamặt trận, của chính quyền cách mạng Để đoàn kết đồng bào theo các tôn giáo, Đảng đưa rachính sách tự do tín ngưỡng và giáo dục quần chúng, nâng cao trình độ giác ngộ chính trị củagiáo dân, làm cho họ phân biệt rõ địch - ta, ra sức đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống vậtchất và tinh thần Đối với tầng lớp trên trong tôn giáo, Đảng chủ trương đoàn kết với họ trêntinh thần yêu nước chân chính và giúp đỡ họ hiểu biết đường lối, chính sách của cách mạng,vận động họ cùng với đồng bào theo các tôn giáo làm những việc có ích cho Tổ quốc, chốnglại mọi âm mưu chia rẽ dân tộc và phá hoại của kẻ thù Trong việc xây dựng mặt trận, Đảnggiải quyết đúng đắn mối quan hệ giữa đoàn kết và đấu tranh Đoàn kết một chiều, thiếu đấutranh trong thực tế dẫn đến phá vỡ khối đoàn kết, thủ tiêu mặt trận Đấu tranh vượt quácương lĩnh là phạm sai lầm tả khuynh, trái lại, thiếu đấu tranh để thực hiện cương lĩnh là hữukhuynh, dẫn đến mất đoàn kết

Ba là nâng cao sự lãnh đạo của Đảng trong mặt trận Đây là vấn đề có tính nguyên tắcnhằm giữ vững đường lối chính trị, mục tiêu, nhiệm vụ cách mạng của Đảng, chống mọikhuynh hướng hạ thấp vai trò của Đảng, đòi chia quyền lãnh đạo trong mặt trận, xa rờiphương hướng, mục tiêu chiến lược của cách mạng Để bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trongmặt trận, phải luôn luôn tránh hai khuynh hướng lệch lạc là: cô độc, hẹp hòi, coi nhẹ tranhthủ các lực lượng có thể tranh thủ; hoặc đoàn kết một chiều, đoàn kết mà không đấu tranhđúng mức với những tư tưởng và việc làm sai trái của các thành viên trong mặt trận Về phầnmình, Đảng không ngừng phấn đấu nâng cao n#ng lực lãnh đạo bằng sự hoàn thiện đường lốichiến lược, đổi mới chủ trương, sách lược cho phù hợp với tình hình, nhiệm vụ và cải tiếnphong cách, phương thức làm việc trong mặt trận, chống tác phong quan liêu, mệnh lệnh,thiếu kiên trì giáo dục, thuyết phục

Tóm lại, bài học thành công của Đảng ta về xây dựng khối đoàn kết thống nhất dân tộcthông qua hình thức tổ chức các mặt trận là vấn đề có ý nghĩa chiến lược, xuyên suốt quátrình cách mạng nước ta từ trước đến nay, tạo nên một sức mạnh không gì có thể phá vỡ nổi.Trong công cuộc đổi mới hiện nay, vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam cần phải tiếp tụcđược coi trọng và ngày càng mở rộng để tập hợp mọi thành phần, lực lượng của đất nước,tạo thành sức mạnh tổng hợp làm nên sự nghiệp dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng vàvăn minh tiến lên chủ nghĩa xã hội

Câu 4: Phân tích quá trình nhận thức đường lối cách mạng DTDC của Đảng ta từ

1930 đến 1954.

I Sự ra đời của Đảng cộng sản Việt Nam

Trước yêu cầu của lịch sử, Nguyễn Ái Quốc được sự phân công của quốc tế cộng sản,nhận trách nhiệm thống nhất các tổ chức cộng sản để lập ra một Đảng cộng sản duy nhất ởViệt Nam Hội nghị thống nhất lấy tên là Đảng cộng sản Việt Nam, thông qua chánh cươngvắn tắt, điều lệ vắn tắt, chương trình tóm tắt, sách lược vắn tắt của Đảng và điều lệ tóm tắtcủa các hội quần chúng do Nguyễn Ái Quốc Soạn thảo

Hội nghị hợp nhất mang ý nghĩa lịch sử là đại hội thành lập Đảng cộng sản Việt Nam.Chánh cương vắn tắt và Sách lược vắn tắt đã xác định một cách tóm gọn những nét chính

về các vấn đề chiến lược và sách lược của CMVN Tuy còn sơ lược, nhưng đã vạch rađường lối cơ bản, đúng đắn cho CMVN, là cương lĩnh đầu tiên của Đảng Nội dung cươnglĩnh tóm tắt :

- Đảng chủ trương làm tư sản dân quyền cách mạng và thổ địa cách mạng, tức là làm cuộcCMDTDCND để đi tới xã hội cộng sản

4-6

Trang 16

- Nhiệm vụ của cuộc cách mạng là : Đánh đổ đế quốc chủ nghĩa Pháp và bọn phong kiến,làm cho nước Nam được hoàn toàn độc lập, dựng ra Chính phủ công nông binh, tổ chức raquân đội công nông; thủ tiêu các quốc trái, thu hết sản nghiệp lớn của bọn đế quốc chủnghĩa Pháp để giao cho Chính phủ công nông binh, thu hết ruộng đất của đế quốc chủ nghĩalàm của công chia cho dân cày nghèo, tiến hành cách mạng ruộng đất, miễn thuế cho dânnghèo, mở mang công nghiệp và nông nghiệp, thi hành luật ngày làm 8 giờ; dân chúngđược tự do tổ chức, nam nữ bình quyền, phổ thông giáo dục theo hướng công nông hóa…Các nhiệm vụ trên bao hàm cả hai nội dung : dân tộc và dân chủ, chống đế quốc và chốngphong kiến, trong đó nổi bật lên là nhiệm vụ chống đế quốc và tay sai phong kiến, giànhđộc lập và tự do cho toàn thể dân tộc.

- Đảng phải vận động thu phục cho được đông đảo công nhân, làm cho GCCN lãnh đạodân chúng, phải thu phục cho được đông đảo nông dân và dựa vững vào nông dân nghèo,lãnh đạo họ làm cách mạng ruộng đất Đảng phải hết sức lôi kéo tiểu tư sản, trí thức, trungnông đi về phía giai cấp vô sản, lợi dụng hoặc trung lập phú nông, trung và tiểu địa chủ và

tư bản Việt Nam Bộ phận nào đã ra mặt phản cách mạng thì phải đánh đổ Trong khi liênlạc với các giai cấp, phải cẩn thận không được đi vào đường lối thỏa hiệp

- Đảng là đội tiên phong của giai cấp vô sản, tổ chức lãnh đạo CMVN đấu tranh nhằm giảiphóng cho toàn thể đồng bào bị áp bức bóc lột Đảng phải liên kết với các dân tộc bị áp bức

và quần chúng vô sản trên thế giới, nhất là giai cấp vô sản Pháp

Chính cương vắn tắt, sách lược vắn tắt do Hồ Chí Minh soạn thảo là cương lĩnh đầu tiêncủa Đảng CSVN, đó là cương lĩnh cách mạng giải phóng dân tộc đúng đắn và sáng tạo, phùhợp xu thế phát triển của thời đại mới, nhuần nhuyễn về quan điểm giai cấp, thấm đượmtinh thần dân tộc Độc lập tự do gắn liền với định hướng tiến lên CNXH, là tư tưởng cốt lõicủa cương lĩnh

II Quá trình nhận thức đường lối cách mạng dân tộc dân chủ từ 1930-1954

1)- Thời kì 1930-1945 :

Sau hội nghị thành lập Đảng, cương lĩnh và điều lệ của Đảng được các cơ sở Đảng bí mậtđưa vào quần chúng Phong trào cách mạng rộng lớn của quần chúng diễn ra ngày càng sôinổi và trên đà phát triển mạnh mẽ Cương lĩnh đầu tiên của Đảng cộng sản Việt Nam chỉphác ra những nét cơ bản nhất về đường lối CMVN yêu cầu khách quan đòi hỏi Đảng phải

có một cương lĩnh đầu đủ, toàn diện hơn

Trần phú sau một thời gian dài học ở Liên Xô, được quốc tế cộng sản cử về nước hoạtđộng và bổ sung vào BCHTW Đảng, được giao nhiệm vụ soạn thảo Luận cương chínhtrị Hội nghị lần thứ nhất BCHTW Đảng họp 10/1930, thống nhất đổi tên Đảng thànhĐảng cộng sản Đông Dương, thông qua Luận cương chính trị, điều lệ Đảng, cử BCHTWchính thức… BCHTW Đảng đã đánh giá rằng Chánh cương vắn tắt, sách lược vắn tắt củaHội nghị hợp nhất tháng 2/1930 đã phạm sai lầm chính trị rất nguy hiểm vì chỉ lo đếnviệc phản đế mà quên mất lợi ích giai cấp tranh đấu Vì vậy đã quyết định thủ tiêu

Chánh cương, Sách lược vắn tắt của Đảng và phải dựa vào Nghị quyết của quốc tế cộngsản, chính sách và kế hoạch của Đảng theo tinh thần hội nghị tháng 10/1930 Luận cươngchính trị 10/1930 xác định :

- Mâu thuẫn giai cấp ngày càng diễn ra gay gắt ở Việt Nam, Lào, Cao Miên là : một bênthì thợ thuyền, dân cày và các phần tử lao khổ, một bên thì địa chủ phong kiến, tư bản và

đế quốc chủ nghĩa

- Tính chất cách mạng Đông Dương lúc đầu là một cuộc cách mạng tư sản dân quyền,

có tính chất thổ địa và phản đế, Tư sản dân quyền cách mạng là thời kì dự bị để làm xã

Trang 17

hội cách mạng Sau khi cách mạng tư sản dân quyền thắng lợi thì sẽ tiếp tục phát triển bỏqua thời kì tư bản mà tranh đấu thẳng lên con đường XHCN.

- Sự cốt yếu của cách mạng tư sản dân quyền là phải tranh đấu để đánh đổ các di tíchphong kiến, thực hành cách mạng ruộng đất cho triệt để và tranh đấu để đánh đổ đế quốcchủ nghĩa Pháp, làm cho Đông Dương hoàn toàn độc lập Hai mặt tranh đấu đó liên lạc mậtthiết với nhau, vì có đánh đổ ĐQCN mới phá được giai cấp địa chủ, tiến hành cách mạngthổ địa thắng lợi và có phá tan được chế độ phong kiến mới đánh đổ được ĐQCN Luậncương coi vấn đề thổ địa cách mạng là cái cốt của cách mạng tư sản dân quyền, là cơ sở

để Đảng giành quyền lãnh đạo dân cày

- Xác định giai cấp vô sản (GCVS) và nông dân là hai động lực chính của cách mạng tưsản dân quyền Trong đó GCVS là động lực chính và mạnh, là giai cấp lãnh đạo cáchmạng Tư sản thương nghiệp chỉ đứng về phía đế quốc chống cách mạng, tư sản côngnghiệp thì đứng về phía quốc gia cải lương và khi cách mạng phát triển cao thì họ sẽ theophe đế quốc Giai cấp tiểu tư sản, bộ phận tiểu thủ công nghiệp thì có thái độ do dự; tiểu tưsản thương gia thì không tán thành cách mạng; tiểu tư sản trí thức thì có xu hướng quốc giacách mạng và chỉ có thể hăng hái chống đế quốc trong thời kì đầu Chỉ có các phần tử laokhổ ở đô thị mới đi theo cách mạng mà thôi

- Sự lãnh đạo Đảng là điều kiện cốt yếu cho sự thắng lợi của cách mạng Đảng phải cóđường lối chính trị đúng đắn, tập trung gắn bó quần chúng, lấy chủ nghĩa Mác-Lenin làmnền tảng tư tưởng Đảng là đội tiên phong của GCCN, đại biểu cho chính quyền lợi củaGCCN, đấu tranh cho mục tiêu CSCN

+ Đảng phải liên lạc mật thiết với vô sản và các dân tộc thuộc địa, nhất là vô sản Pháp.+ Đảng phải lãnh đạo nhân dân chuẩn bị tiến lên võ trang, bạo động để giành chính quyền,phải coi võ trang là một nghệ thuật, phải theo khuôn phép nhà binh

Nhìn chung, qua những nội dung cơ bản nêu trên của luận cương tháng 10/1930, đã thấy

rõ là luận cương chính trị đã khẳng định lại nhiều vấn đề cơ bản thuộc về đường lối chiếnlược cách mạng nước ta mà Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt đã nêu

Tuy có mang tính kế thừa Chính cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của hội nghị tháng2/1930, nhưng do nhận thức giáo điều về mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc và giai cấp trongcách mạng thuộc địa, hiểu biết không đầy đủ về tình hình đặc điểm của xã hội, giai cấp vàdân tộc ở Đông Dương, đồng thời lại chịu ảnh hưởng khuynh hướng tả của quốc tế cộngsản, cho nên BCHTW Đảng do Trần Phú đứng đầu đã không vạch rõ được mâu thuẫn chủyếu của một xã hội thuộc địa là mâu thuẫn giữa dân tộc Việt Nam với bọn thực dân xâmlược Pháp cùng bọn tay sai của chúng, nên không nêu toát lên được vấn đề dân tộc lên hàngđầu, mà nặng về đấu tranh giai cấp Về cách mạng ruộng đất : không đề ra được chiến lượcliên minh dân tộc và giai cấp rộng rãi trong cuộc đấu tranh chống đế quốc Pháp và tay sai

Từ đó đã phê phán gay gắt quan điểm đúng đắn của Hội nghị hợp nhất là đặt vấn đề dân tộclên hàng đầu và đã quyết định thủ tiêu Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt của Đảng doNguyễn Ái Quốc soạn thảo Song, ngay từ đầu, thực tiễn cách mạng đã khẳng định tínhchất khoa học, cách mạng và vị trí lịch sử của Cương lĩnh đầu tiên của Đảng

Cao trào cách mạng của quần chúng với đỉnh cao là cao trào Xô Viết Nghệ Tĩnh, cuộc đấutranh giữa cách mạng và phản cách mạng quyết liệt thì Ban thường vụ TW Đảng ra chỉ thịthành lập Hội phản đế đồng minh, trong đó nêu lên tư tưởng chiến lược cách mạng đúngđắn đã được nêu trong Chánh cương vắn tắt, Sách lược vắn tắt, coi việc đoàn kết toàn dânthành một tổ chức rộng rãi, lấy công nông là động lực chính quyết định thắng lợi của cáchmạng giải phóng dân tộc Chỉ thị cũng phê phán những nhận thức sai lầm trong Đảng làtách rời vấn đề dân tộc và giai cấp, nhận thức không đúng về vai trò đoàn kết dân tộc, về

Trang 18

vai trò Hội phản đế đồng minh trong cách mạng thuộc địa Hậu quả là làm cho tổ chức cáchmạng vẫn đơn thuần mầu sắc công nông, thiếu một tổ chức thật quãng đại quần chúngtrong hàng ngũ chống đế quốc Pháp.

Tuy nội dung của bản chỉ thị phù hợp với tư tưởng đoàn kết dân tộc đã được nêu trongcương lĩnh đầu tiên của Đảng Song quan điểm và chủ trương đúng đắn về vấn đề quan hệgiữa dân tộc và giai cấp, vấn đề đoàn kết dân tộc vẫn chưa trở thành tư tưởng chủ đạo củaBCHTW lúc đó

Từ tháng 10/1930 cho đến đại hội đại biểu toàn Đảng lần thứ I (3/1935), nhiều chươngtrình hành động và Nghị quyết của Đảng đều tiếp tục đứng trên quan điểm tư tưởng sai lầmcủa Hội nghị tháng 10/1930 Nhìn nhận và đánh giá một cách khách quan về chủ trươngcủa Hội nghị BCHTW Đảng lúc bấy giờ về mối quan hệ giữa dân tộc và giai cấp, giữanhiệm vụ chống đế quốc và phong kiến, giữa liên minh công nông và đoàn kết với các lựclượng yêu nước trong dân tộc thì thấy có nhiều quan điểm, nhận thức mâu thuẫn nhau.Bệnh ấu trĩ về chính trị, khuynh hướng tả, biệt phái và giáo điều rập khuôn vẫn còn làkhuynh hướng chi phối trong các chủ trương và chính sách của Đảng

Trước những chuyển biến của tình hình trong nước và quốc tế, đặc biệt là chủ trươngchiến lược của đại hội lần thứ VII quốc tế cộng sản Tháng 7/1936, đ/c Lê Hồng Phong chủtrì hội nghị đã vạch ra những chủ trương mới về chính trị, tổ chức và đấu tranh; xác địnhchiến lược cách mạng ở Đông Dương vẫn là cách mệnh tư sản dân quyền - phản đế vàđiền địa - lập chính quyền công nông bằng hình thức Xô Viết, để dự bị điều kiện đi tới cáchmệnh XHCN Trung ương Đảng nêu rõ, tạm thời không nêu khẩu hiệu độc lập dân tộc vàruộng đất cho người cày; mục tiêu trước mắt và trực tiếp là : nhiệm vụ lập mặt trận nhândân phản đế rộng rãi bao gồm các giai cấp, các đảng phái, các đoàn thể chính trị và tínngưỡng tôn giáo khác nhau, các dân tộc Đông Dương cùng đấu tranh đòi những điều kiệndân chủ, dân sinh cho nhân dân lao động và chống hoạt động thuộc địa Trung ương cònchủ trương đổi mới về tổ chức và đấu tranh, chuyển từ hình thức tổ chức đấu tranh bí mật,không hợp pháp sang các hình thức công khai, và nửa công khai, hợp pháp và nửa hợppháp

Điều đáng chú ý là trong khi đề ra chủ trương mới lãnh đạo nhân dân đấu tranh đòi cácquyền về dân chủ dân sinh Trung ương Đảng đã bắt đầu chú ý và xem xét lại quan điểmchỉ đạo chiến lược chống đế quốc và phong kiến của hội nghị tháng 10/1930 và đi đến kếtluận : không nhất thiết phải thực hiện ngang bằng nhiệm vụ chống đế quốc và chống phongkiến mà tùy thuộc vào điều kiện và hoàn cảnh lịch sử cụ thể, tùy vào tương quan so sánhlực lượng giữa hai bên mà đề cao nhiệm vụ này hay nhiệm vụ kia Và cho rằng, nhiệm vụđấu tranh chống đế quốc là cần kíp cho lúc hiện thời, còn vấn đề điền địa tuy quan trọngnhưng chưa phải trực tiếp bắt buộc, thì có thể trước hết tập trung đánh đổ đế quốc rồi giảiquyết vấn đề điền địa sau; nhưng có khi vấn đề điền địa và phản đế phải liên tiếp giảiquyết, vấn đề này giúp cho vấn đề kia làm xong mục đích của cuộc vận động Nghĩa làcuộc phản đế phát triển tới trình độ võ trang tranh đấu kịch liệt, đồng thời vì muốn tăngthêm lực lượng tranh đấu chống đế quốc cần phải phát triển cuộc cách mạng điền địa Đây

là tư duy mới, là một quan điểm đúng đắn phù hợp với tư tưởng chiến lược của Cương lĩnhtháng 2/1930, và nó mở đường cho chiến lược của Đảng ta từ năm 1939 về sau này

Chiến tranh thế giới thứ hai bùng nổ Ở Đông Dương, thực dân Pháp thi hành chính sáchthống trị thời chiến Phát xít Nhật nhảy vào Đông Dương, từ đó nhân dân ta một cổ haitròng áp bức Pháp - Nhật Mâu thuẫn giữa nhân dân ta và Pháp - Nhật gay gắt hơn bao giờhết Hội nghị TW6 (11/1939) do đ/c Nguyễn Văn Cừ chủ trì và đặc biệt là hội nghị

Trang 19

BCHTW lần thứ 8 (5/1941) do Hồ Chí Minh trực tiếp lãnh đạo đã đề ra những thay đổi mới

về đường lối, chủ trương cách mạng tư sản dân quyền ở Đông Dương

Hội nghị 5/1941 nhận định : bước đường sinh tồn của các dân tộc ở Đông Dương không

có con đường nào khác hơn là con đường đánh đổ đế quốc Pháp, chống tất cả ách ngoạixâm vô luận là da trắng hay da vàng để tranh lấy giải phóng dân tộc BCHTW Đảngkhẳng định : tập hợp toàn dân tộc, đề cao khẩu hiệu đánh đổ đế quốc giành độc lập cho dântộc, đề cao khẩu hiệu dân tộc trên hết, nhiệm vụ chống phong kiến rải ra nhiều bước; trungương Đảng chủ trương đấu tranh để xây dựng các quốc gia riêng biệt : Việt Nam, CaoMiên, Lào theo quan điểm thực hiện quyền dân tộc tự quyết, không tổ chức thành Liênbang Đông Dương; chủ trương thành lập mặt trận Việt Minh để tập hợp toàn dân tộc chốngPháp - Nhật, và chỉ ra con đường đấu tranh giành chính quyền là khởi nghĩa võ trang vớihình thức khởi nghĩa từng phần tiến lên tổng khởi nghĩa

Trong thư gửi đồng bào 6/1941, Người viết : Trong lúc này quyền lợi dân tộc giải phóngcao hơn hết thảy, chúng ta hãy đoàn kết lại đánh đổ bọn đế quốc và bọn Việt gian đặng cứugiống nòi ra khỏi nước sôi lửa nóng…, Việc cứu nước là việc chung, ai là người ViệtNam đều phải kề vai gánh vác một phần trách nhiệm : người có tiền góp tiền, người có củagóp của Riêng phần tôi, tôi xin đem hết tâm lực đi cùng các bạn, vì đồng bào mưu giành

tự do độc lập, dầu phải hi sinh tính mệnh cũng không nề

Các Nghị quyết trên và sự điều chỉnh chiến lược của BCHTW chính là sự kế tục và pháttriển những quan điểm, tư tưởng đúng đắn của Chính cương vắn tắt, Sách lược văn tắt2/1930 và là nguồn gốc quyết định thắng lợi của tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 sau này

2)- Thời kì 1945 - 1954 :

a)- Bối cảnh lịch sử :

Tổng khởi nghĩa tháng 8/1945 thành công, khai sinh ra nước Việt Nam dân chủ cộng hòa.Kết thúc chiến tranh TG II, tương quan lực lượng trên thế giới có nhiều thay đổi, hệ thốngcác nước XHCN hình thành tạo một dòng thác cách mạng phối hợp phong trào giải phóngdân tộc, đấu tranh vì hòa bình tiến bộ trên thế giới tiến công đẩy lùi CNĐQ Chủ nghĩa thựcdân cũ thất bại, Pháp suy yếu do chiến tranh TG II và lệ thuộc Mĩ về nhiều phương diện.CNĐQ dưới sự điều khiển của Mĩ coi Việt Nam là trọng điểm, thỏa thuận với nhau về quanđiểm bao vây tiêu diệt CMVN

Ở trong nước, lực lượng mọi mặt của Nhà nước còn non yếu, các nước đế quốc và các thếlực phản động quốc tế và trong nước liên kết bao vây chống phá quyết liệt Miền Bắc, quânTưởng kéo vào với danh nghĩa quân đồng minh tước vũ khí quân Nhật, nhưng thực chất là

âm mưu Cầm Hồ, diệt cộng tạo lập một Chính phủ tay sai tranh giành quyền lực gây khókhăn cho cách mạng Ngoài ra còn có 2 vạn quân Anh dưới danh nghĩa đồng minh dọnđường cho Pháp trở lại tái chiếm Việt Nam Ngày 23/8/1945, quân Pháp đã nổ súng đánhchiếm : Sài Gòn, Gia Định, Chợ Lớn Bên cạnh đó, Chính phủ cách mạng phải đương đầuvới nhiều tổ chức và giáo phái phản động ở miền Nam do Pháp viện trợ để tranh giànhquyền lực với Việt Minh… Mặt khác, Chính quyền cách mạng phải đương đầu với nềnkinh tế nghèo nàn, các di sản văn hóa nô dịch nặng nề… Đất nước lâm vào tình thế :

nghìn cân treo sợi tóc

Trước tình thế khó khăn, Đảng ta do Chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiện chính sách đạiđoàn kết dân tộc, huy động mọi sức mạnh của cả dân tộc, dùng sách lược đấu tranh linhhoạt và khôn khéo với địch, từng bước vượt qua mọi hiểm nguy, chủ động trước mọi tìnhthế để giữ vững chính quyền, đưa cách mạng tiến lên Lúc này, Ban thường vụ TW Đảng taxác định : Cuộc cách mạng Đông Dương lúc này vẫn là cuộc cách mạng dân tộc giảiphóng Cuộc cách mạng ấy đang tiếp diễn, nó chưa hoàn thành, vì nước ta chưa hoàn toàn

Trang 20

độc lập Phân tích âm mưu của các đế quốc đối với Đông Dương, Đảng ta nêu rõ : Kẻ thùchính của dân tộc lúc này là thực dân Pháp xâm lăng, phải tập trung ngọn lửa đấu tranhvào chúng Vì vậy, phải lập mặt trận dân tộc thống nhất chống thực dân Pháp xâm lược,

mở rộng Việt Minh … Kiên quyết giành độc lập, tự do, hạnh phúc cho dân tộc, độc lập vềchính trị, thực hiện chế độ dân chủ cộng hòa, cải thiện đời sống nhân dân

Những chủ trương trên của Ban thường vụ TW Đảng được nêu trong chỉ thị Kháng chiếnkiến quốc Ngoài ra, Chỉ thị Kháng chiến kiến quốc Đảng cũng nêu rõ : cách mạng muốnđứng vững phải biết tự bảo vệ, phải đồng thời thực hiện hai mặt song song :

- Kiến quốc để phát triển thực lực cách mạng nhằm đủ mạnh để thắng kẻ thù

- Thực hiện sách lược hòa hoãn, nhân nhượng kẻ thù để nhằm hòa hoãn những kẻ có thểhòa hoãn được để tập trung lực lượng chống Pháp

 Về tổ chức thực hiện chỉ thị kháng chiến kiến quốc

- Về xây dựng và phát triển thực lực cách mạng : ta tổ chức tổng tuyển cử, xây dựng chínhquyền cách mạng, ban hành Hiến pháp (1946) tạo tính hợp hiến, hợp pháp của Chính phủ

Hồ Chí Minh Tích cực xây dựng lực lượng vũ trang : Quân đội nhân dân và Công an nhândân, diệt nạn đói, giặc dốt

- Về thực hiện chính sách hòa hoãn : thực hiện thành 2 giai đoạn

+ Giai đoạn I (9/1945-2/1946) : chủ trương hòa với Tưởng để tập trung lực lượng đánhPháp ở Nam Bộ, tranh thủ hòa hoãn để tập trung phát triển lực lượng cách mạng

+ Giai đoạn II (3/1946-12/1946) : kí kết với Pháp Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, đặt cơ sở điđến đàm phán để kí một Hiệp định chính thức Cuộc đàm phán chính thức giữa ta và Pháptại Phông-ten-nơ-bơ-lo không đi đến kết quả Nhằm tranh thủ kéo dài thời gian cho việctiếp tục xây dựng lực lượng, chuẩn bị cho cuộc kháng chiến toàn quốc Chủ tịch Hồ ChíMinh kí với Chính phủ Pháp bản tạm ước 14/9/1946 : chấp nhận cho Pháp mang 15 vạnquân ra miền Bắc, Việt Nam là quốc gia nằm trong sự bảo hộ của Pháp Phía Pháp phảichấp nhận Bắc kì trải qua cuộc trưng cầu dân ý, công nhận Chính phủ Hồ Chí Minh là quốcgia tự do nằm trong Liên hiệp Pháp Với kết quả đàm phán và thương lượng : 20 vạn quânTưởng, 6 vạn quân Nhật, 2 vạn quân Anh phải rút về nước

Nhìn chung, từ 9/1945-12/1946, Đảng ta đã lãnh đạo nhân dân đấu tranh giữ vững đượcChính quyền cách mạng, đẩy mạnh kháng chiến ở miền Nam, chuẩn bị mọi mặt cho cuộckháng_chiến trên quy mô cả nước Thực tiễn lịch sử của thời kì này đã đem lại cho Đảng tanhiều bài học quý báu, nhất là bài học về phát huy sức mạnh đoàn kết dân tộc, chống chia

rẽ, đối lập, về lợi dụng triệt để mâu thuẫn trong nội bộ kẻ thù và về sự nhân nhượng cónguyên tắc

 Phát động toàn quốc kháng chiến; đường lối kháng chiến của Đảng

Sau kí Hiệp định sơ bộ, thực dân Pháp đem quân ra miền Bắc liên tục khiêu khích và lấnchiếm, gửi tối hậu thư Chính phủ ta đòi tước vũ khí lực lượng tự vệ Hà Nội, kiểm soát anninh thủ đô Hành động của thực dân Pháp đã đặt Đảng và Chính phủ ta trước một tình thếkhông thể nhân nhượng Lịch sử dân tộc đã đặt trước một sự lựa chọn mới : phải đứng lênkháng chiến trong toàn quốc để bảo vệ nền độc lập Đêm 19/12/1946, Ban thường vụ TWĐảng đã quyết định phát động cuộc kháng chiến trên quy mô cả nước Chủ tịch Hồ ChíMinh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến

Lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh là tiếng gọi của non sông đất nước, là lời hịch làmthấu động tình cảm sâu xa và cao đẹp nhất trong mỗi lòng người dân Việt anh hùng bấtkhuất, làm cho cả nước sôi sục đứng lên chiến đấu bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, với ýchí cảm tử cho tổ quốc quyết sinh, với một thái độ chính trị dứt khoát và kiên định, vìđộc lập tự do của tổ quốc Lời kêu gọi đó là một cương lĩnh kháng chiến, khái quát ở trình

Trang 21

độ cao, chứa đựng những tư tưởng, quan điểm và đường lối chiến tranh nhân dân của Chủtịch Hồ Chí Minh và của Đảng Ngày 22/12/1946, Ban thường vụ TW Đảng ra bảng chỉ thịtoàn dân kháng chiến Tóm tắt những nội dung cơ bản đường lối kháng chiến của Đảng nhưsau :

- Về tính chất và mục tiêu của cuộc kháng chiến : nhân dân Việt Nam xác định cuộc chiếntranh chính nghĩa chống chiến tranh phi nghĩa xâm lược của thực dân Pháp; chiến tranhchống Pháp là sự tiếp tục của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm bảo vệ độc lập dântộc, giành ruộng đất cho người cày và xây dựng cơ sở đi lên CNXH

- Về xác định phương châm kháng chiến : kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện,kháng chiến trên tinh thần tự lực cánh sinh, kháng chiến lâu dài và trải qua ba giai đoạn :cầm cự, phòng ngự và tổng phản công Đảng ta xác định kháng chiến nhất định thắng lợi

Về mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ trong giai đoạn này, tác phẩm : Kháng chiếnnhất định thắng lợi của Trường Chinh đã nêu rõ quan điểm của Đảng là : cuộc khángchiến chỉ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, củng cố và mở rộng chế độ Cộng hòadân chủ Nó không tịch thu ruộng đất của địa chủ phong kiến chia cho dân cày, chỉ tịch thuruộng đất và các hạng tài sản khác của Việt gian phản động để bổ sung ngân quỹ khángchiến hay ủng hộ các gia đình chiến sĩ hi sinh

 Đại hội toàn quốc lần thứ II của Đảng (1951)

Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ II triệu tập từ ngày 11 đến 19/2/1951 tại Tuyên Quang.Đại hội quyết định tách ba Đảng bộ Đảng cộng sản ở Đông Dương để lập ra mỗi nước mộtĐảng cách mạng riêng Đảng cộng sản Đông Dương được đổi tên là Đảng lao động ViệtNam

Tại Đại hội Đảng, báo cáo chính trị của Hồ Chí Minh đã vạch rõ khẩu hiệu chính của ta làtiêu diệt thực dân Pháp và đánh bại bọn can thiệp Mĩ, giành thống nhất độc lập hoàn toàn,đưa Đảng ra hoạt động công khai lấy tên Đảng là Đảng lao động Việt Nam Báo cáo chínhtrị Bàn về cách mạng Việt Nam của Trường Chinh đã trình bày toàn bộ đường lối CMVN

Đó là cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân tiến lên CNXH ở Việt Nam Nội dung cốt lõicủa bản báo cáo bàn về CMVN là Cương lĩnh chính trị thứ ba của Đảng ta

Đại hội xác định nhiệm vụ cơ bản hiện nay của CMVN là đánh đuổi bọn đế quốc xâmlược, giành độc lập và thống nhất cho dân tộc, xóa bỏ những di tích phong kiến và nửaphong kiến, làm cho người cày có ruộng, phát triển chế độ dân chủ nhân dân, gây cơ sở choCNXH Ba nhiệm vụ đó khắng khích với nhau, song nhiệm vụ chính trước mắt là hoànthành giải phóng dân tộc Đại hội xác định lực lượng CMDTDCND ở Việt Nam là :GCCN, giai cấp nông dân, giai cấp tiểu tư sản thành thị, tiểu tư sản trí thức và tư sản dântộc Ngoài ra là những thân sĩ (địa chủ) yêu nước và tiến bộ Những giai cấp, tầng lớp vàphần tử đó hợp thành nhân dân Nền tảng của nhân dân là công, nông và lao động trí thức.Người lãnh đạo cách mạng là GCCN…

Đảng lãnh đạo thực hiện cải cách ruộng đất trong vùng tự do Đầu 1953, Hội nghị TW lần3,4 của Đảng chủ trương tổ chức cải cách ruộng đất, xóa bỏ giai cấp địa chủ, chia ruộng đấtcho nông dân ở vùng tự do Kết quả : trong một thời gian ngắn đã xóa bỏ hoàn toàn giaicấp địa chủ, chia ruộng đất (đất địa chủ và đất làng xã) cho nông dân Đây là cuộc cáchmạng đổi đời của nông dân, lúc này nông dân chỉ có đóng một sắc thuế duy nhất là thuếkháng chiến, không còn phải nộp tô thuế cho địa chủ

III Đảng lãnh đạo đường lối, xây dựng thực lực kháng chiến về mọi mặt

Do tương quan lực lượng giữa ta và địch, phương châm chiến lược của ta là đánh lâu dài

Là một quá trình vừa đánh vừa xây dựng lực lượng, từng bước làm biến đổi so sánh lựclượng có lợi cho ta Vì thế phải đánh địch trên tất cả các lĩnh vực : quân sự, kinh tế, chính

Trang 22

trị văn hóa, trong đó Đảng xác định quân sự là mặt trận hàng đầu, nhằm tiêu diệt lực lượngđịch trên toàn bộ đất nước.

- Về chính trị : Đảng chủ trương tiếp tục củng cố chính quyền dân chủ nhân dân ở vùng tự

do, mở rộng mặt trận đoàn kết dân tộc chống Pháp bằng việc duy trì mặt trận Việt Minh vàxây dựng thêm mặt trận Liên Việt để thu hút mọi lực lượng chống Pháp; tuyên truyền tínhchất chính nghĩa của cuộc kháng chiến để cô lập và hạn chế tối đa những hoạt động củabọn Việt gian

- Về kinh tế : xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp ở vùng tự do, đảm bảo đời sống nhândân và nuôi quân đánh Pháp, thực hiện sách lược tiêu thổ kháng chiến ở vùng tự do xâydựng các nhà máy quốc phòng, chế tạo vũ khí với phương châm phục vụ trước mắt chokháng chiến và khi kháng chiến thành công sẽ phục vụ chuyển sang xây dựng CNXH Ởvùng tạm chiếm : đưa lực lượng phá hoại nền kinh tế bằng lực lượng du kích, đặc công, đẩymạnh sách lược làm chảy máu nền kinh tế của Pháp

- Mặt trận tư tưởng văn hóa : tuyên truyền đấu tranh xóa bỏ những tàn dư phong kiến lạchậu, tư tưởng thực dân, xây dựng nền văn hóa mới, nền văn hóa khoa học đại chúng

- Về quân sự : Dựa vào thực lực kháng chiến ngày càng tăng cường, nhất là sự phát triểncủa ba thứ quân, Đảng chỉ đạo đấu tranh đi từ đánh nhỏ đến đánh lớn, từ chiến tranh dukích phát triển lên chiến tranh chính quy, kết hợp chiến tranh du kích với chiến tranh chínhquy Đảng chủ trương dẫn dắt cuộc kháng chiến qua ba giai đoạn :

+ Giai đoạn 1 (9/1945 đến cuối 1947) : chủ động tiến hành cuộc kháng chiến cục bộ ởmiền Nam và sau đó phát động kháng chiến trong cả nước Ta đã đánh bại kế hoạch đánhnhanh thắng nhanh của thực dân Pháp (kế hoạch một tuần dạo mát ở Việt Nam) Đỉnh caocủa giai đoạn này là ta đã đánh bại cuộc hành quân Thu Đông 1947 của Pháp ra miền Bắc.+ Giai đoạn 2 (1948 đến 1950) : trên cơ sở chiến tranh du kích được mở rộng, ta đã liêntiếp mở nhiều chiến dịch nhỏ hạ hàng loạt đồn bót, tiêu diệt nhiều sinh lực của địch, thuhẹp vùng chiếm đóng của chúng ở nhiều nơi Kết hợp một số chiến dịch nhỏ ta đã đánh bại

kế hoạch dùng người Việt đánh người Việt, lấy chiến tranh nuôi chiến tranh của thực dânPháp Năm 1950, ta chủ động mở chiến dịch Biên giới, một chiến dịch tấn công lớn đầutiên của quân đội ta Chiến dịch Biên giới thắng lợi đánh dấu một bước trưởng thành của vềtrình độ tác chiến và nghệ thuật chỉ đạo chiến dịch của quân đội ta

+ Giai đoạn 3 (1951 đến 7/1954) : chủ động mở nhiều chiến dịch ở vùng đồng bằng Bắc

bộ, sau đó là chiến dịch Đông Xuân 1953-1954 mà đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ.với chiến dịch Điện Biên Phủ ta đã đánh bại mọi cố gắng quân sự cao nhất của quân độiviễn chinh Pháp ở Đông Dương và buộc Pháp phải ngồi vào bàn hội nghị kí Hiệp địnhGiơnevơ

Chiến thắng Điện Biên Phủ là thắng lợi to lớn nhất trong cuộc đọ sức toàn diện và quyếtliệt nhất của quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội xâm lược Pháp Chiến công đó mãimãi được ghi nhớ vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đatrong thế kỉ XX và đi sâu vào lịch sử thế giới như một chiến công hiển hách, một sự kiệnbáo hiệu sự sụp đổ hoàn toàn của chủ nghĩa thực dân

Câu 5: Đảng lãnh đạo cuộc đấu tranh bảo vệ chính quyền non trẻ 1945-1946.

Thắng lợi của cách mạng Tháng Tám thành công mở ra kỷ nguyên mới cho lịch sử dân tộcViệt Nam:kỷ nguyên đất nước được độc lập thống nhất Song ngay từ những ngày đầu củachính quyền cách mạng, các thế lực phản động, “thù trong giặc ngoài” hợp vây, chống pháhòng thủ tiêu thành quả cách mạng của nhân dân ta, xóa bỏ nền độc lập mà nhân dân ta vừagiành được

Trang 23

Thời điểm cách mạng tháng 8/1945 nước ta cơ sở rất nhiều khó khăn:

Về kinh tế: nền kinh tế vốn đã nghèo nàn lạc hậu, bị chiến tranh và thiên tai tàn phá nặng nềlàm cho xơ xác, kiệt quệ Nạn đói đầu năm 1945 do Pháp, Nhật gây ra làm 2 triệu người chếtchưa được khắc phục, thì tháng 8/1945 lại xảy ra lụt lớn ở Miền Bắc, sau đó thì bị hạn kéodài Sản xuất nông nghiệp bị đình đốn, hàng vạn công nhân không có việc làm, hàng hóakhan hiếm, giá cả tăng vọt Tài chính cạn kiệt, ngân sách trống rỗng, Ngân hàng Đông dươngcòn nằm trong tay tư bản Pháp Quân Tưởng tung tiền Quan kim mất giá ra thị trường gâyrối loạn nền tài chính, kinh tế của ta Phải cung cấp lương thực cho 20 vạn quân Tưởng

Về mặt xã hội, dưới chính sách ngu dân của Pháp, 95% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội pháttriển mạnh mẽ

Bên cạnh đó Chính phủ Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa chưa được thế giới công nhận và đặtquan hệ ngoại giao với ta Chính quyền non trẻ chưa được lực lượng tiến bộ trên thế giớigiúp đỡ

Nhưng nghiêm trọng hơn cả vẫn là nạn ngoại xâm và nội phản Chỉ trong vòng 20 ngày saucuộc tổng khởi nghĩa tháng Tám những đội quân của các nước đồng minh đã dồn dập kéođến 20 vạn quân Tưởng đã ồ ạt tràn qua biên giới tiến vào Miền Bắc cho đến vĩ tuyến 16 vớidanh nghĩa là quân đồng minh Nhưng thực chất có âm mưu thực hiện kế hoạch “Cầm Hồdiệt Cộng” nhằm tiếp diễn đảng cộng sản Việt Nam, lật đổ chính quyền nước ta, lập chínhquyền tay sai của chúng Cũng với danh nghĩa đồng minh, phía Nam vĩ tuyến 16, quân Anhkéo vào tước vũ khí của quân Nhật Nhưng thực chất là tiếp tay cho Pháp quay lại xâm lượcĐông Dương Ngày 23/9/1945, 6000 quân Pháp được tiếp tay của quân Anh nổ súng xâmlược Sài Gòn, mở đầu xâm lược Việt Nam lần thứ hai Trong nước còn hơn 6000 quân Nhậtđầu hàng đồng minh làm tay sai cho quân Anh và Pháp

Ơ trong nước, nhiều đảng phái phản động như Việt Nam quốc dân đảng do Vũ HồngKhanh, Việt Nam cách mạng đồng minh hội (Việt Cách) do Nguyễn Hải Thần, hai lực lượngtrên là phản quốc, từ lâu không liên lạc với cách mạng Việt Nam, dựa vào thế lực của đếquốc chúng phá cách mạng Việt Nam, tìm cách tranh quyền lãnh đạo Bọn ngụy quân, ngụyquyền chưa bị tiếp diễn tiếp tục chống phá cách mạng Bên cạnh đó thì có lực lượng tôn giáonhư Hòa hảo, Cao đài, phát triển mạnh ở phía Nam tìm cách tranh giành chính quyền PhíaBắc bọn phản cách mạng đội lớp thiên chúa giáo chống phá cách mạng rất mạnh

Song, cách mạng nước ta cũng có mặt thuận lợi đó là: nhân tố phát huy sức mạnh tổng hợp

có ba dòng thác cách mạng là cách mạng xã hội chủ nghĩa, phong trào cộng sản công nhânquốc tế, phong trào giải phóng dân tộc

Tuy vậy, Đảng ta có đánh giá thuận lợi mang tính chất lâu dài vững chắc là có đảng cầmquyền trên cả nước thống nhất về chính trị, tư tưởng và tổ chức Hệ thống chính quyền cáccấp được nhân dân ủng hộ, khối đại đoàn kết dân tộc được củng cố, đang phát huy Uy tínlãnh đạo của đảng, lãnh tụ ngày càng lớn hơn Tình hình thế giới có tác động lớn đối với ViệtNam, đó là sự phát triển của 3 dòng thác cách mạng, đó là phong trào giải phóng dân tộc, xãhội chủ nghĩa, công nhân thế giới gián tiếp ủng hộ cách mạng Việt Nam

Tóm lại, sau cách mạng tháng 8/1945, chính quyền cách mạng chưa được sự giúp đỡ củacách mạng thế giới, chính quyền đứng trước những khó khăn đang lâm vào tình thế “ngàncân treo sợi tóc” Chưa bao giờ đất nước ta lại có nhiều kẻ thù hung bạo và xảo quyệt nhưvậy Chính quyền nhân dân có thể bị lật đổ, nền độc lập mới giành được có nguy cơ bị mất.Tình hình đó đòi hỏi đảng và chính quyền cách mạng phải có đường lối chiến lược và sáchlược đúng đắn mới có thể bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng

Ngày 3/9/1945, trong phiên họp đầu tiên của Chính phủ lâm thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đãnêu 6 việc cấp bách là fađp chiến dịch tăng gia sản xuất để chống đói; mở phong trào chống

Trang 24

nạn mù chữ; sớm tổ chức tổng tuyển cử; mở phong trào giáo dục cần, kiêm, liê, chính;bỏthuế thân, thuế chợ, thuế đò và tuyên bố tự do tín ngưỡng, lương giáo đoàn kết Ba nhiệm vụlớn là diệt giặc đói; diệt giặc dốt; diệt giặc ngoại xâm.

Khi thực dân Pháp đánh chiếm Nam bộ, đồng chí Hoàng Quốc Việt được cử vào Nam đểcùng đảng bộ Nam bộ kháng chiến Đảng ta chủ trương phát triển chiến tranh nhân dân, cảnước ủng hộ kháng chiến nam bộ

Ngày 25/11/1945 Ban chấp hành Trung ương Đảng ra chỉ thị “kháng chiến kiến quốc” xácđịnh cách mạng Việt Nam lúc này vẫn là cuộc cách mạng giải phóng dân tộc Đảng xác định

kẻ thù chính của ta lúc này là thực dân Pháp xâm lược, phải tập trung ngọn lửa đấu tranh vàochúng Đảng phát động phong trào chống ngoại xâm vừa kháng chiến vừa kiến quốc để giữvững nền độc lập và thống nhất

Chỉ thị “kháng chiến kiến quốc” nêu ra ba nhiệm vụ trước mắt là củng cố chính quyền;chống thực dân Pháp, bài trừ nội phản; cải thiện đời sống nhân dân

Để thực hiện các nhiệm vụ đó, Đảng vạch ra các biện pháp đó là:

Một, về chính trị: để giữ vững củng cố chính quyền cách mạng, đảng xúc tiến việc tổngtuyển cử quốc hội trong cả nước, xác lập quyền làm chủ của nhân dân, xác lập pháp lý củachính quyền, kiện toàn bộ máy chính quyền từ trung ương đến cơ sở Mở rộng Mặt trận ViệtMinh nhằm tập hợp lực lượng cách mạng

Hai, về kinh tế, tài chính: trước mắt đảng tổ chức lạc quyên cứu đói, biện pháp cơ bản vàlâu dài là tăng gia sản xuất Phát động phong trào thi đua sản xuất với khẩu hiệu “tấc đất tấcvàng”; khôi phục các nhà máy, hầm mỏ, lập ngân hàng quốc gia, phát hành giấy bạc Nhờ đónạn đói được đẩy lùi, sản xuất được khôi phục nhanh và phát triển

Phát động nhân dân tự nguyện đóng góp tiền của hưởng ứng “tuần lễ vàng”, xây dựng “quỹđộc lập” ngân hàng nhà nước tăng lên hàng chục triệu đồng với hàng trăm kg vàng, nền tàichính độc lập được từng bước xây dựng

Ba, về quốc phòng, an ninh: chính quyền cách mạng nhanh chóng xóa bỏ bộ máy cai trị củachính quyền cũ, giải tán các đảng phái phản động, kiên quyết trừng trị bọn phản quốc, giáodục nhân dân tăng cường cảnh giác, bảo vệ chính quyền cách mạng Đảng coi trọng và pháttriển các công cụ bạo lực cách mạng, củng cố lực lượng cách mạng trên cơ sở 3 thứ quân(thường trực, địa phương, du kích) Cuối năm 1946, quân đội thường trực đã lên đến 8 vạnngười Việc quân sự hóa toàn dân được thực hiện rộng khắp

Bốn, về văn hóa xã hội: Đảng vận động toàn dân xây dựng nền văn hóa mới, xóa bỏ mọi tệnạn, văn hóa nô dịch, thực hiện nền giáo dục mới, phát triển “bình dân học vụ” để diệt “giặcdốt” Chỉ trong một năm cả nước đã có 2,5 triệu người biết đọc, biết viết

Năm đối với công tác tổ chức của đảng: duy trì hệ thống bí mật, bán công khai Đảng tuyên

bố tự giải tán tháng 11/1945 mà thực chất là rút vào hoạt động bí mật Đây là sách lược đểbảo toàn lực lượng

Sáu, về ngoại giao: Đảng tiến hành thực hiện công tác tuyên truyền quốc tế vạch mặt kẻ thùcủa 3 nước Đông Dương, vạch mặt kẻ thù chủ yếu là thực dân Pháp xâm lược

Để thoát khỏi vòng vây đế quốc, tránh tình thế đối đầu với nhiều kẻ thù cùng một lúc, Đảng

và chủ tịch Hồ Chí Minh đã thi hành những sách lược ngoại giao khôn khéo, mềm dẻo nhằmngăn chặn chiến tranh, thực hiện thêm bạn bớt thù, kéo dài thời gian hòa hoãn để xây dựnglực lượng cách mạng

Thực hiện sách lược hòa hoãn hai giai đoạn:

Giai đoạn thứ nhất từ tháng 9/1945 đến tháng 3/1946 Đây là giai đoạn tạm thời hòa hoãnvới Tưởng trên Miền Bắc để tập trung chống Pháp ở Miền Nam

Trang 25

Đảng ta xác định rõ thực dân Pháp là kẻ thù chính, trước mắt và nguy hiểm hơn cả, cần phảitập trung chĩa mũi nhọn đấu tranh vào chúng, vì chúng đã và đàng trắng trợn vũ trang xâmlược Nam bộ Vì thế đảng chủ trương hòa hoãn, nhân nhượng ở Miền Bắc để tập trung sứcchống Pháp ở Miền Nam Nội dung nhân nhượng chủ yếu là: ta cung cấp lương thực choquân đội Tưởng và tay sai của chúng; mở rộng 70 ghế trong Quốc Hội cho bọn Việt Quốc,Việt Cách không phải qua bầu cử và đưa một số đại diện của các đảng này vào Chính phủliên hiệp lâm thời; các lực lượng vũ trang được lệnh tránh các xung đột với quân Tưởng,không để mắc vào cạm bẫy khiêu khích kiếm cơ hội lật đổ chính quyền cách mạng củachúng

Tuy có nhân nhượng với Tưởng ở một số mặt, nhưng ta vẫn đảm bảo nguyên tắc giữ vữngthành quả cách mạng và đảm bảo sự lãnh đạo của Đảng đối với chính quyền, nhà nước Dùthực hiện Chính phủ liên hiệp, nhưng bản chất cách mạng của chính quyền vẫn được giữvững và chỉ liên hiệp ở cấp trung ương Trong khi hòa hoãn với Tưởng, ta vẫn không ngừngcảnh giác, khi cần thiết thì kiên quyết trấn áp bọn phản động để giữ vững chính quyền cáchmạng Nhờ đó Miền Bắc được ổn định và củng cố tập trung sức người, sức của cho MiềnNam chống xâm lược Trải qua nửa năm đấu tranh gay go với sách lược ngoại giao sángsuốt, ta đã làm thất bại một bước ý định âm mưu của Tưởng và tay sai, giữ vững và củng cốchính quyền cách mạng

Giai đoạn thứ hai từ tháng 3/1946 đến tháng 12/1946, đây là giai đoạn tạm thời hòa hoãnvới thực dân Pháp để đẩy nhanh quân Tưởng về nước

Ngày 28/2/1946, Tưởng và Pháp đã ký hiệp ước thỏa thuận để quân Pháp vào Miền Bắcthay thế quân Tưởng “canh giữ tù binh Nhật” và giữ trật tự” theo “hiệp ước quốc tế” Hiệpước Hoa-Pháp thực chất là sự mua bán chính trị giữa các thế lực đế quốc nhằm hợp pháp hóahành động xâm lược của Pháp ở Đông dương Điều đó đặt cho cách mạng nước ta trước “sự

đã rồi”, chỉ có hai con đường hoặc cầm súng đánh Pháp, ta sẽ cùng lúc đối đầu với kẻ thù,hoặc tạm thời hòa hoãn với Pháp ta sẽ tránh được tình thế bất lợi phải chiến đấu với nhiều kẻthù Đảng ta chọn con đường thứ hai “hòa để tiến”

Thực hiện chủ trương đó, chủ tịch Hồ Chí Minh thay mặt Chính phủ Việt Nam ký với đạidiện Chính phủ Pháp bản hiệp định sơ bộ ngày 6/3/1946 Với hiệp định này, về pháp lý Pháp

đã phải công nhận nước ta là một nước tự do có Chính phủ, nghị viện, quân đội và tài chínhriêng Việc quân Pháp vào Miền Bắc cũng được qui định rõ về địa điểm, thời gian và sốlượng Quân Tưởng rút khỏi Việt Nam, bọn tay sai tan rã

Trong bối cảnh lịch sử lúc đó, ký hiệp định sơ bộ là một chủ trương đúng đắn, sáng tạo,mộtmẫu mực tuyệt vời của sách lược Lêninnit về lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù và

về nhân nhượng có nguyên tắc Thực tế cách mạng đối với cả nước, hiệp định sơ bộ tạo điềukiện hòa hoãn để nhân dân ta củng cố thành quả cách mạng đã giành được, chuẩn bị điềukiện đưa sự nghiệp kháng chiến kiến quốc tiến lên bước phát triển mới Ký hiệp định sơ bộ làtạo thêm cơ sở pháp lý buộc Tưởng phải rút nhanh khỏi Miền Bắc Đối với Miền Nam, trướctình thế cuộc kháng chiến đang đứng trước những thử thách gay gắt, hiệp định sơ bộ tạo điềukiện cho lực lượng kháng chiến trở lại bám trụ thôn xã, tạo sức mạnh để cùng cả nước bướcvào cuộc kháng chiến toàn quốc với tư cách và sức mạnh mới

Ngày 14/9/1946 ta ký tạm ước với Chính phủ Pháp, đây là một nhân nhượng cuối cùng của

ta đối với Pháp Chúng ta không nhân nhượng được nữa và cuộc kháng chiến chống thực dânPháp bắt đầu

Như vậy, với những sách lược ngoại giao tài tình, sáng suốt trong điều kiện vô cùng khókhăn ở giai đoạn 45-46 thể hiện năng lực lãnh đạo của đảng cộng sản Việt Nam và chủ tịch

Hồ Chí Minh là rất sáng suốt, nhạy cảm về chính trị, đánh giá đúng âm mưu, hành động, thế

Trang 26

lực của kẻ thù để có đối sách thích hợp Qua đó đảng ta rút ra một số bài học kinh nghiệmsau:

Thứ nhất là tăng cường lực lượng cách mạng mới bảo vệ được chính quyền nhân dân Tăngcường lực lượng cách mạng không trông chờ bên ngoài Phát huy quyền làm chủ đất nướccủa nhân dân, vượt qua tình thế “ngàn cân treo sợi tóc” và giữ được chính quyền nhân dân.Thứ hai là triệt để lợi dụng mâu thuẫn trong hàng ngũ kẻ thù, chĩa mũi nhọn vào kẻ thùchính, hòa hoãn với kẻ thù có thể hòa hoãn Tận dụng khả năng hòa hoãn để xây dựng lựclượng, củng cố chính quyền nhân dân, sẳn sàng ứng phs với khả năng chiến tranh lan ra cảnước

Thứ ba là phải mềm dẽo nhưng bảo đảm đúng nguyên tắc Không bở rơi vai trò lãnh đạocủa đảng, không làm mất quyền làm chủ của nhân dân và chủ quyền dân tộc

Tóm lại, qua phân tích những điều đã nêu trên đã cho chúng ta thấy được tình hình đất nướcsau cuộc cách mạng tháng Tám năm 1945 Cách mạng Việt Nam phải đương đầu với nhữngkhó khăn và thử thách để bảo vệ chính quyền non trẻ, tình thế cách mạng ở trạng thái “nghìncân treo sợi tóc” Nhưng với sự lãnh đạo của đảng và chủ tịch Hồ Chí Minh đã thực hiệnđược nhiều nhiệm vụ lớn: kháng chiến chống xâm lược, giữ vững độc lập, trấn áp các thế lựcphản động, củng cố chính quyền, xây dựng chế độ mới, phát triển kinh tế, văn hóa đã từngbước ổn định đời sống nhân dân, củng cố độc lập dân tộc Những chủ trương, biện phápđúng đắn đó đã khơi dậy sức mạnh to lớn của dân tộc, do đó chẳng những bảo vệ được chínhquyền, mà còn đưa cách mạng tiếp tục bước vững chắc giành thế chủ động ngay từ đầu cuộckháng chiến chống thực dân Pháp xâm lược

Câu 6: Phân tích bối cảnh lịch sử của chỉ thị toàn quốc kháng chiến (22.12.1946) và kết quả của chủ trương ấy.

“Nhất định không sớm thì muộn Pháp sẽ đánh mình và mình cũng nhất định phải đánhPháp” Đầu 11/1946, Hồ Chí Minh ra chỉ thị “Công việc khẩn cấp bây giờ” người nêu lênkháng chiến phải đi đôi với kiến quốc, vạch ra những công việc về quân sự , chính trị, kinhtế… Người nhấn mạnh cần phải hiểu và làm cho dân hiểu cuộc kháng chiến của ta rất gay

go, gian khổ, phải kháng chiến lâu dài để chống lại chiến tranh “chớp nhoáng” của địch.Muốn kháng chiến lâu dài và thắng lợi phải có quyết tâm “Cố gắng sức qua khỏi mùa lạnhlẽo, thì ta sẽ gặp mùa xuân”…

Đúng như nhận định của Đảng, thực dân Pháp hoàn toàn bội ước cố ý gây cuộc chiếntranh xâm lược toàn bộ nước ta, Đảng phải lãnh đạo nhân dân cả nước đứng lên khángchiến trong một bối cảnh một là khoanh tay, cúi đầu trở lại làm nô lệ; hai là đấu tranh đếncùng để giữ lấy độc lập và tự do

A- Thuận lợi :

 Trong nước :

Trước ngày kháng chiến toàn quốc nổ ra, Đảng ta đã có những chủ trương quan trọng kịpthời chỉ đạo kháng chiến ở miền Nam và chuẩn bị cho cả nước kháng chiến

Trang 27

* Nội dung chỉ thị “Kháng chiến toàn quốc” (25 tháng 11 năm 1945)

* Nghị quyết hội nghị quân sự toàn quốc của Đảng (19/10/1946) và văn kiện “Công việckhẩn cấp bây giờ” đã đặt nền móng cho đường lối kháng chiến của Đảng ta

- Từ tháng 2 năm 1946, Đảng và Nhà nước ta đã kiên trì đấu tranh với Pháp, liên tiếpnhân nhượng Pháp những quyền lợi quan trọng để bày tỏ thiện chí hòa bình của nhân dânViệt Nam, đồng thời tạo điều kiện chuẩn bị cho cuộc kháng chiến mà ta biết khó có thểtránh khỏi

- Tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến cùng những thành quả đạt được từ sau khigiành chính quyền đến ngày kháng chiến toàn quốc đã tạo nên những thuận lợi mới, cănbản có thể phát huy lâu dài, bảo đảm thắng lợi cho nhân dân ta trong cuộc kháng chiến.Như : tổ chức tổng tuyển cử, bầu Quốc hội (06/01/1946), ban hành hiến pháp Nhà nước(11/1946)… đã tạo tính hợp hiến, hợp pháp của chính phủ Hồ Chí Minh tích cực xây dựnglực lượng vũ trang bao gồm : Quân đội và Công an nhân dân Thành lập Hội liên hiệp quốcdân Việt Nam (5/1946) thu hút sức mạnh của khối đại đoàn kết dân tộc Phát động “tuần lễvàng”, xây dựng “quỹ độc lập”, diệt giặc đói, khai hoang phục hóa, phát triển sản xuất,thực hành tiết kiệm, phát hành tiền tệ… đã ngăn chặn được nạn đói, cải thiện đời sống nhândân Tổ chức phong trào bình dân học vụ, kêu gọi “chống nạn thất học”, xây dựng nếp sốngvăn hóa mới cho xã hội, xóa bỏ các hủ tục…

 Thế giới :

- Cuộc kháng chiến của nhân dân ta diễn ra khi chủ nghĩa tư bản thế giới, đặc biệt là nướcPháp bị suy yếu nghiêm trọng sau chiến tranh thế giới thứ hai, lệ thuộc vào Mỹ trên nhiềuPhương diện

- Hệ thống XHCN đang hình thành, phong trào giải phóng dân tộc phát triển rất mạnhmẽ… đã cổ vũ tạo nhiều điều kiện thuận lợi để nhân dân ta góp phần quan trọng cùng nhândân các nước thuộc địa đánh thắng chủ nghĩa thực dân (Liên Xô và các nước Đông Âu)

B- Khó khăn :

 Trong nước :

- Đối tượng của ta là quân đội nhà nghề của thực dân Pháp, có trình độ tác chiến phươngpháp chiến tranh hiện đại, được sự hậu thuẫn bởi một nền sản xuất TBCN phát triển Thựcdân Pháp lại có kinh nghiệm trong chiến tranh xâm lược và thống trị ở Việt Nam gần mộtthế kỉ, đã từng xây dựng ở Việt Nam những cơ sở kinh tế, xã hội, chính trị nhất là làm cơ

sở cho chiến tranh và chính sách thống trị thuộc địa Tính đến thời điểm 12/1946 quân độiPháp đã có gần 10 vạn người đóng tại những vị trí trọng yếu trên khắp Việt Nam, trong khi

đó lực lượng vũ trang của ta chỉ có trên 8 vạn người với trang bị còn thô sơ, lại chưa đượchuấn luyện kĩ càng…

- Nền kinh tế của nước ta lúc đó còn rất lạc hậu và kém phát triển chưa thể đáp ứng đủ vàkịp thời cho nhu cầu của cuộc chiến tranh quy mô to lớn hiện đại

 Thế giới :

- Hành động đánh chiến Việt Nam của thực dân Pháp lần này xuất phát từ chiến lược phảnkích toàn cầu của chủ nghĩa đế quốc sau chiến tranh thế giới lần thứ II để chống lại chủnghĩa cộng sản và phong trào giải phóng dân tộc Chính vì vậy, các nước đế quốc tiêu biểuđặc biệt là Mĩ đã ủng hộ và tạo nhiều điều kiện cho cuộc chiến tranh xâm lược của Pháp ởViệt Nam, và thông qua đó nhằm từng bước chi phối, gây ảnh hưởng trong khu vực

- Chủ nghĩa đế quốc bao vây nước ta từ bốn phía, trong khi đó chúng ta chưa có điều kiệnliên lạc, trao đổi kinh nghiệm và nhận sự giúp đỡ trực tiếp từ các nước anh em

Từ bối cảnh trên, cuộc kháng chiến toàn quốc bùng nổ trong điều kiện so sánh lực lượngkhông có lợi cho nhân dân ta Nhưng Đảng và nhân dân ta vẫn dám đánh và quyết thắng

Trang 28

thực dân Pháp xâm lược, vì độc lập dân tộc, vì sự tồn vong của đất nước Để phát huythuận lợi, khắc phục khó khăn, chiến thắng thực dân Pháp đòi hỏi Đảng, Chính phủ phảikịp thời đề ra đường lối kháng chiến đúng đắn, phù hợp vì nó sẽ đóng vai trò quyết định,vạch đường đi đến thắng lợi.

II Diễn biến tình hình

Với dã tâm thôn tính nước ta một lần nữa, thực dân Pháp chẳng những không đình chỉchiến sự ở miền Nam mà còn gây ra nhiều vụ khiêu khích, lấn chiếm và sau khi đưa quânđội vào miền Bắc, lại được thêm viện binh chúng trắng trợn đánh chiếm Hải Phòng, LạngSơn (20/11/1946) Tiếp đó, từ ngày 07 đến 15/12/1946, Pháp tấn công ta ở Tiên Yên, ĐìnhLập tăng quân trái phép ở Hải Dương, Đà Nẵng, Hà Nội … Đặc biệt nghiêm trọng là18/12/1946, ở Thủ đô Hà Nội sau khi liên tiếp gây ra vụ thảm sát ở phố Hàng Bún đánhchiếm trụ sở Bộ tài chính, Bộ giao thông công chánh, thực dân Pháp gởi tối hậu thư choChính phủ ta đòi tước vũ khí tự vệ, đòi để cho chúng giữ trật tự ở Hà Nội Với lực lượnggần 10 vạn quân được trang bị vũ khí hiện đại, đang đứng trấn ở nhiều vị trí chiến lược trênđất nước ta, bọn thực dân Pháp quyết lấn chiếm toàn bộ nước ta một lần nữa, buộc chúng taphải đầu hàng chúng

A Chủ trương của Đảng : Ta không thể nhân nhượng với thực dân Pháp được nữa và

thực chất mọi khả năng duy trì hòa hoãn với thực dân Pháp không còn nữa, chúng ta càngnhân nhượng, chúng càng lấn tới và vì nhân nhượng nữa thì mất nước hóa thành nô lệ,Nhân dân Việt Nam chỉ còn một con đường duy nhất là đứng lên cầm vũ khí đánh thực dânPháp bảo vệ tổ quốc, giữ vững độc lập chủ quyền và bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ của mình.18/12/1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng đã họp hội nghị triển khai khẩn cấp tại làngVạn Phúc (Hà Đông) dưới sự chủ tọa của Hồ Chí Minh trên cơ sở đánh giá một cách khoahọc ý đồ chiến lược của thực dân Pháp và so sánh lực lượng giữa ta và địch, Hội Nghịquyết định phát động cuộc kháng chiến trên quy mô cả nước và vạch ra những vấn đề cơbản về đường lối kháng chiến

Đêm 19/12/1946, Ban thường vụ TW Đảng đã quyết định phát động cuộc kháng chiếntrên quy mô cả nước, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ra lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến Sáng20/12/1946 lời kêu gọi toàn quốc kháng chiến của Hồ Chủ Tịch qua làn sóng điện đượctruyền đi khắp nơi, lời kêu gọi đó chính là tiếng gọi của non sông đất nước, thấu độngnhững niềm sâu xa và cao đẹp nhất trong lòng mỗi người dân Việt Nam, khơi dậy mạnh mẽlòng tự hào dân tộc, truyền thống anh hùng bất khuất, làm cho cả nước sôi sục đứng lên,bình tĩnh chiến đấu bằng mọi thứ vũ khí có trong tay, với một ý chí cảm tử cho tổ quốcquyết sinh, với một thái độ chính trị dứt khoát và kiên định vì độc lập tự do của tổ quốc.Lời kêu gọi đó là một cương lĩnh kháng chiến, khái quát ở trình độ cao, chứa đụng những

tư tưởng, quan điểm và đường lối chiến tranh nhân dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh và củaĐảng ta

Ngày 22/12/1946, Ban thường vụ Trung ương Đảng ra chỉ thị toàn dân kháng chiến, bảnchỉ thị nêu một cách khái quát những nội dung cơ bản đường lối của cuộc trường kì khángchiến của Đảng như :

- Về tính chất và mục tiêu của cuộc kháng chiến : nhân dân Việt Nam xác định cuộc chiếntranh chính nghĩa chống chiến tranh phi nghĩa xâm lược của thực dân Pháp; chiến tranhchống Pháp là sự tiếp tục của cuộc cách mạng giải phóng dân tộc nhằm bảo vệ độc lập dântộc, giành ruộng đất cho người cày và xây dựng cơ sở đi lên CNXH

- Về xác định phương châm kháng chiến : kháng chiến toàn dân, kháng chiến toàn diện,kháng chiến trên tinh thần tự lực cánh sinh, kháng chiến lâu dài và trải qua ba giai đoạn :cầm cự, phòng ngự và tổng phản công Đảng ta xác định kháng chiến nhất định thắng lợi

Trang 29

Về mối quan hệ giữa dân tộc và dân chủ trong giai đoạn này, tác phẩm : Kháng chiếnnhất định thắng lợi của Trường Chinh đã nêu rõ quan điểm của Đảng là : cuộc khángchiến chỉ hoàn thành nhiệm vụ giải phóng đất nước, củng cố và mở rộng chế độ Cộng hòadân chủ Nó không tịch thu ruộng đất của địa chủ phong kiến chia cho dân cày, chỉ tịch thuruộng đất và các hạng tài sản khác của Việt gian phản động để bổ sung ngân quỹ khángchiến hay ủng hộ các gđình chiến sĩ hi sinh.

B Nhận xét và đánh giá : Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ hai của Đảng (từ 11 đến

19/2/1951) đã khẳng định sự đúng đắn của đường lối kháng chiến được nêu trong các vănkiện trước đây, đồng thời tiếp tục bổ sung, cụ thể hóa cho phù hợp trong giai đoạn còn lạicủa cuộc kháng chiến Như vậy đường lối của Đảng về kháng chiến được hình thành ngay

từ đầu cuộc kháng chiến và tiếp tục được hoàn thiện cụ thể hóa trong một quá trình liên tục,bám sát và đáp ứng kịp thời cuộc kháng chiến của toàn dân ta

Cuộc kháng chiến của chúng ta chỉ có thắng lợi với điều kiện căn bản là : Đường lối chínhtrị và quân sự đúng, đoàn kết chặt chẽ toàn dân, hậu phương được củng cố, quân và dân tachiến đấu anh dũng, chỉ huy của ta có tài

 Đường lối : Đảng chỉ rõ đối tượng của cuộc kháng chiến là bọn thực dân Pháp phảnđộng đang dùng vũ lực cướp nước ta, đây là một cuộc chiến tranh cách mạng của dân tộc,

là chiến tranh chính nghĩa, tiến bộ vì tự do độc lập, vì dân chủ và hòa bình chống lại cuộcđấu tranh phi nghĩa xâm lược của bọn thực dân phản động Cuộc kháng chiến của nhân dân

ta là sự tiếp tục triển khai sự nghiệp của cuộc cách mạng tháng tám, CMDTDCND bằngnhiều hình thức chiến tranh cách mạng, nhằm hoàn thành nhiệm vụ cách mạng giải phóngdân tộc, giành ruộng đất cho người cày và xây dựng cơ sở đi lên CNXH Ở đây Đảng đãgiải quyết thành công mối quan hệ giữa chiến tranh và cách mạng, kháng chiến chống Pháp

về hình thức là sự đối đầu quân sự giữa cách mạng và phản cách mạng nhưng nội dung bêntrong thực chất là giải quyết những mâu thuẫn cơ bản, mâu thuẫn chủ yếu của xã hội ViệtNam lúc này Đảng chỉ rõ nhiệm vụ trước mắt, cấp bách là đánh đuổi thực dân Pháp xâmlược giành độc lập và thống nhất cho đất nước, đồng thời trong quá trình kháng chiến phảithực hành cải cách dân chủ, giải quyết từng bước vấn đề ruộng đất để bồi dưỡng sức dân.Cuộc kháng chiến này là một cuộc kháng chiến nhân dân với phương châm “kháng chiếntoàn dân, kháng chiến toàn diện, kháng chiến tự lực cánh sinh (dựa vào sức mình) khángchiến lâu dài”, với đường lối này Đảng ta chủ trương “kháng chiến nhất định thắng lợi”

 Kết quả của chủ trương “toàn dân kháng chiến”, “toàn diện kháng chiến”

- Thực dân Pháp xâm lược nước ta thì toàn dân ta phải nhất tề đứng lên chống giặc Đảng

ta đánh giá cao vai trò của quần chúng nhân dân trong chiến tranh cách mạng, tin tưởngvững chắc khả năng vô tận, sức mạnh vô địch của nhân dân, với chiến lược toàn dân khángchiến, ta đã tạo nên nguồn sức mạnh to lớn đối trọng với bộ phận phản động xâm lượcPháp, toàn dân kháng chiến, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả dân tộc, ta có thể khángchiến khắp nơi, mọi lúc, “mỗi người dân là một chiến sĩ”, “mỗi phố là một mặt trận”, “mỗilàng là một pháo đài”, toàn dân kháng chiến là nội dung trọng yếu và xuyên suốt toàn bộquá trình kháng chiến

- Chiến tranh là một cuộc đọ sức toàn diện giữa hai bên tham chiến “toàn dân khángchiến” đi liền với “kháng chiến toàn diện”, nhờ kháng chiến toàn diện mới phát huy caonhất sức mạnh toàn dân đánh bại chiến tranh tổng lực của kẻ thù Đảng ta lãnh đạo tổ chứccuộc chiến tranh toàn dân đánh giặc trên mọi mặt trận, mọi phương diện, quân sự, chính trị,văn hóa, kinh tế, tư tưởng, ngoại giao …

Về chính trị : Ta tiếp tục củng cố phát triển chính quyền dân chủ nhân dân ở vùng tự do,

ta đã mở rộng được mặt trận đoàn kết dân tộc chống Pháp xâm lược bằng việc duy trì Mặt

Trang 30

trận Việt minh và xây dựng thêm Mặt trận Liên Việt đã thu hút được mọi lực lượng đoànkết chống Pháp Chúng ta tuyên truyền tính chất chính nghĩa của cuộc kháng chiến diễn rangay tại trên đất nước mình trước sự phi nghĩa của kẻ thù xâm lược từ xa đến nhằm cô lập

và hạn chế được tối đa những hoạt động của bọn Việt gian

 Về kinh tế :

- Trong hoàn cảnh cuộc kchiến bùng nổ ta bị kẻ thù bao vây bốn phía chưa nhận được sựgiúp đỡ trực tiếp của nhân dân các nước anh em, nên ngay từ đầu Đảng đã xác định đườnglối kháng chiến là “phải tự lực cánh sinh”, Đảng chủ trương “phải tự ta giúp ta rồi ngườimới giúp ta” Dựa vào sức mình là dựa vào sức lực của toàn dân, vào sự lãnh đạo củaĐảng, vào các điều kiện nhân hòa, địa lợi thiên thời của đất nước, “tự lực cánh sinh” không

có nghĩa là không đồng thời ra sức tranh thủ ủng hộ, giúp đỡ qtế để thắng kẻ thù

- Ta xây dựng nền kinh tế tự cung tự cấp ở vùng tự do với mục tiêu đảm bảo ổn định đờisống nhân dân lao động để nuôi binh đánh Pháp, phối hợp với hoạt động gia tăng sản xuất

là thực hiện sách lược “tiêu thổ kháng chiến” Còn ở vùng địch tạm chiếm ta đã đưa lựclượng tấn công đánh phá kho tàng, bến bãi, cầu cống của địch để tiêu diệt lực lượng vậtchất của chúng, đồng thời thực hiện chiến lược “làm chảy máu” nền kinh tế của chúng nhưthu gom như yếu phẩm, mua thuốc điều trị bệnh, mua vũ khí , đạn dược trang bị cho ta …

 Về văn hóa tư tưởng : tuyên truyền vận động nhân dân ta đấu tranh xóa bỏ những tàn dưphong kiến lạc hậu, tư tưởng thực dân, ra sức xây dựng nền văn hóa mới, nền văn hóa khoahọc đại chúng Trên mặt trận này, nhân dân ta cũng giành được những thành tựu quantrọng, nhất là sau Hội nghị văn hóa toàn quốc (7/1948) và chủ trương bổ túc văn hóa chocán bộ, phong trào xóa nạn mù chữ tiếp tục phát triển mạnh, động viên mọi lực lượng vănhóa, văn học nghệ thuật bám sát nhu cầu kchiến, lấy đối tượng là qchúng công, nông,binh…

 Về quân sự : Được xem là mặt trận có vị trí quan trọng nhất, quyết định sự thành bại củahai bên, trên cơ sở đường lối kháng chiến toàn dân, toàn diện và tương quan lực lượng giữa

ta và địch, đồng thời nắm chắc qui luật chuyển hóa của tương quan đó, Đảng ta khẳng địnhphương châm chiến lược của chúng ta là đánh lâu dài, qui luật chiến tranh xâm lược buộcđịch phải đánh nhanh, thắng nhanh Ta chủ trương đánh lâu dài làm cho những chỗ yếu cơbản của chúng bộc lộ rõ, chỗ mạnh của chúng ngày càng hạn chế, chỗ yếu của ta dần dầnđược khắc phục, chỗ mạnh của ta ngày một phát huy, từng bước chuyển hóa lực lượng cólợi cho ta, không có lợi cho địch Đó là quá trình vừa đánh, vừa xây dựng lực lượng, nhưngkhông có nghĩa là đánh kéo dài mà Đảng ta chủ động dẫn dắt cuộc kháng chiến qua 3 giaiđoạn :

- Giai đoạn 1 (từ 9/1945 đến cuối 1947)

Ta chủ động tiến hành cuộc kháng chiến cục bộ ở miền Nam và sau đó phát động cuộckháng chiến trong cả nước, đánh bại kế hoạch “đánh nhanh, thắng nhanh” của giặc Pháp,đỉnh cao của giai đoạn này là ta đã đánh bại cuộc hành quân thu đông 1947 của thực dânPháp

- Giai đoạn 2 (từ 1948 đến cuối 1950)

+ Hoạt động quân sự của ta tập trung 2 vấn đề lớn Một là : thúc đẩy hoạt động chiếntranh du kích ở vùng địch tạm chiếm kết hợp với một vài chiến dịch nhỏ, đánh bại chiếnlược “dùng người Việt đánh người Việt”, “Lấy chiến tranh, nuôi chiến tranh” Hai là : vàonăm 1950 ta chủ động mở chiến dịch biên giới giải phóng các tỉnh Biên giới Việt Trung nốihành lang chiến khu Việt Bắc của ta với các nước xã hội chủ nghĩa (lúc này THoa lục địa

đã được giải phóng vào tháng 10/1946)

Trang 31

+ Chiến dịch biên giới thắng lợi, kết thúc giai đoạn 2; các nước Liên Xô, Trung Quốc …công nhận Việt Nam và tích cực viện trợ cho ta.

- Giai đoạn 3 (từ 1951 đến 7/1954)

Ta chủ động mở nhiều chiến dịch ở vùng đồng bằng Bắc bộ, sau đó là chiến dịch ĐôngXuân 1953 - 1954, đỉnh cao là chiến dịch Điện Biên Phủ đã đánh bại mọi cố gắng quân sựcao nhất của quân đội Pháp ở Đông Dương, buộc Pháp phải kí Hiệp định Giơne vơ cam kếttôn trọng nền độc lập, chủ quyền thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam …

III Đánh giá và kết luận :

A- Đánh giá

Những thành tựu kể trên là thể hiện sinh động của đường lối triển khai trong thực tiễn,đường lối kháng chiến “toàn dân, toàn diện, lâu dài và tự lực cánh sinh” do Đảng đề rangay từ đầu cuộc kháng chiến, là sự vận dụng sáng tạo đường lối chiến tranh cách mạngcủa chủ nghĩa Mác LêNin vào hoàn cảnh lịch sử cụ thể của đất nước, đồng thời là sự kếthừa khoa học truyền thống đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam trong lich sử, là một bộphận trong đường lối cách mạng, đường lối kháng chiến sớm được vạch ra đúng đắn, khoahọc là vấn đề đầu tiên có ý nghĩa quyết định của cuộc kháng chiến

B- Kết luận

Phân tích bối cảnh lịch sử của chỉ thị toàn quốc kháng chiến và kết quả của chủ trương ấycho thấy trên cơ sở nhận thức rõ bản chất và âm mưu của kẻ thù, nên trong thời kì đấutranh hòa bình với Pháp, Đảng vẫn luôn quan tâm tăng cường công tác chuẩn bị khángchiến, ta chủ động bước vào kháng chiến chống Pháp là sự lựa chọn sáng suốt, thể hiện ýchí quyết tâm, tư tưởng cách mạng tiến công, ý thức tự chủ của Đảng ta và nhân dân tatrong cuộc kháng chiến ngay sau mệnh lệnh kháng chiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh đượcban hành đã mang lại nhiều ý nghĩa và bài học sâu sắc

- Đảng và nhân dân ta đã biết mở đầu đúng lúc cuộc kháng chiến toàn quốc chống thựcdân Pháp, quân và dân ta không những ít tiêu hao, mà còn làm tiêu diệt được một bộ phậnsinh lực địch Điều quan trọng là đã cầm chân địch, tạo thời cơ chiến lược chuyển đất nướcsang chiến tranh, xây dựng, bảo tồn và củng cố được lực lượng, đẩy lùi âm mưu chiến tranhđánh nhanh thắng nhanh của địch, chuyển đất nước vào thời chiến mới và bước đầu xác lậpthế trận chiến tranh nhân dân tạo tiền đề quan trọng để nhân dân ta đánh bại âm mưu mớicủa địch

Câu 7 : Trong bản Chỉ thị kháng chiến kiến quốc của thường vụ Trung ương Đảng ngày 25/11/1945 có khẳng định : “Giành chính quyền càng dễ bao nhiêu thì giữ chính quyền lại càng khó bấy nhiêu” Bằng kiến thức lịch sử Đảng, đồng chí hãy phân tích làm rõ nhận định trên Trình bày những chủ trương biện pháp của đảng để giữ chính quyền trong thời kỳ 1945-1946? Liên hệ với việc xây dựng nhà nước của dân, do dân và

vì dân hiện nay.

Bài làm

Vấn đề chính quyền như Lênin đã nhiều lần chỉ rõ là vấn đề cơ bản và quyết định sự pháttriển của cách mạng Người nhấn mạnh: "Chính quyền nhà nước nhất định là vấn đề chủ yếunhất của mọi cuộc cách mạng Giai cấp nào giữ chính quyền? Điều đó quyết định tất cả" Vìvậy, Đảng cộng sản khi lãnh đạo cách mạng nhất thiết đặt lên hàng đầu mục tiêu giành lấychính quyền về tay giai cấp công nhân và nhân dân lao động Trong lịch sử đấu tranh chốnggiặc ngoại xâm của dân tộc Việt Nam, đánh đuổi giặc ngoại xâm để giành lấy chính quyền

đã khó, thì việc giữ vững chính quyền về tay nhân dân lại càng khó khăn hơn, lâu dài và giankhổ hơn Lịch sử cách mạng Việt Nam đã chứng minh điều đó, đặc biệt là trong giai đoạn

Trang 32

sau Cách mạng tháng 8 năm 1945, việc giữ vững một chính quyền còn non trẻ trong thời kỳ1945-1946 với vô vàn những khó khăn, thù trong, giặc ngoài

Các giai cấp và thế lực thống trị cũ không bao giờ tự rời bỏ địa vị thống trị của chúng Vìthế, cuộc đấu tranh giành chính quyền phải trải qua nhiều hy sinh, gian khổ và cuối cùngbằng bạo lực cách mạng của quần chúng mới có thể giành được thắng lợi Tuy nhiên, việcgiành được chính quyền mới chỉ là nhiệm vụ bước đầu và cũng chưa phải là nhiệm vụ khónhất Nhiệm vụ nặng nề, khó khǎn và phức tạp nhất chính là xây dựng và bảo vệ chính quyềnmới, làm cho nó thật sự là công cụ có hiệu lực để cải tạo xã hội cũ, xây dựng thành công xãhội mới, vì hạnh phúc của nhân dân Thực tiễn của tất cả các cuộc cách mạng từ trước tớinay ngày càng cho thấy: "Giữ vững chính quyền thì khó hơn là giành lấy chính quyền" Thắng lợi của Cách mạng tháng Tám nǎm 1945 dẫn tới sự ra đời Nhà nước dân chủ nhândân đầu tiên ở Việt Nam và ở vùng Đông Nam á Đó là thành quả của 15 nǎm đấu tranhgiành chính quyền của nhân dân ta dưới sự lãnh đạo của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, mở

ra kỷ nguyên mới trong lịch sử dân tộc, kỷ nguyên độc lập, tự do và tiến lên chủ nghĩa xãhội

Tuy nhiên, trong giai đoạn này, nước ta còn gặp rất nhiều khó khăn trên tất cả phương diệnkinh tế, xã hội, chính trị, ngoạo giao Về kinh tế : nền kinh tế vốn đã nghèo nàn lạc hậu, bịchiến tranh và thiên tai tàn phá nặng nề làm cho xơ xác, kiệt quệ Nạn đói đầu năm 1945 doPháp, Nhật gây ra làm 2 triệu người chết chưa được khắc phục, thì tháng 8/1945 lại xảy ra lụtlớn ở Miền Bắc, sau đó thì bị hạn kéo dài Sản xuất nông nghiệp bị đình đốn, hàng vạn côngnhân không có việc làm, hàng hóa khan hiếm, giá cả tăng vọt Tài chính cạn kiệt, ngân sáchtrống rỗng, Ngân hàng Đông dương còn nằm trong tay tư bản Pháp Quân Tưởng tung tiềnQuan kim mất giá ra thị trường gây rối loạn nền tài chính, kinh tế của ta Đã vậy, ta còn phảicung cấp lương thực cho 20 vạn quân Tưởng Về mặt xã hội, dưới chính sách ngu dân củaPháp, 95% dân số mù chữ, tệ nạn xã hội phát triển mạnh mẽ Về ngoại giao : Chính phủ ViệtNam Dân Chủ Cộng Hòa chưa được thế giới công nhận và đặt quan hệ ngoại giao với ta.Chính quyền non trẻ chưa được lực lượng tiến bộ trên thế giới giúp đỡ

Nhưng nghiêm trọng hơn vẫn là tình hình an ninh, chính trị Ngay sau cách mạng thànhcông, chủ nghĩa đế quốc và các thế lực phản động đã bao vây, chống phá hòng tiêu diệtchính quyền cách mạng non trẻ Gần 20 vạn quân Tưởng, đồng minh của đế quốc Mỹ cùngbọn tay sai kéo vào miền Bắc nước ta với ý đồ tiêu diệt Đảng ta, lật đổ chính quyền cáchmạng, lập nên chính quyền tay sai của chúng Ở miền Nam, quân đội Pháp được đế quốcAnh che chở đã đánh chiếm Nam Bộ hòng lập lại chế độ thực dân của chúng Nhiều đảngphái phản động (Việt Quốc, Việt Cách, Đại Việt ) công khai hoạt động chống chính quyền.Chính quyền cách mạng tiếp thu một đất nước đổ nát với nạn đói và sự kiệt quệ về kinh tế,tài chính và biết bao hậu quả khác mà chế độ phong kiến, thực dân để lại Với những thửthách nặng nề đó, sự mất - còn của chính quyền đặt trong thế "ngàn cân treo sợi tóc" Chínhquyền nhân dân có thể bị lật đổ, nền độc lập mới giành được có nguy cơ bị mất Tình hình đóđòi hỏi đảng và chính quyền cách mạng phải có đường lối chiến lược và sách lược đúng đắnmới có thể bảo vệ và phát triển thành quả cách mạng Đảng đã chủ trương bất kể tình hìnhnhư thế nào cũng phải "củng cố chính quyền, chống thực dân Pháp xâm lược, bài trừ nộiphản, cải thiện đời sống cho nhân dân"

Củng cố chính quyền trước hết là tǎng cường sức mạnh, hiệu lực và cơ sở pháp lý về cả đốinội cũng như đối ngoại Chính quyền mới ra đời trong hoàn cảnh đất nước đã bị chế độphong kiến thống trị hàng ngàn nǎm và chế độ thực dân cai trị gần một thế kỷ nên nước takhông có hiến pháp, nhân dân ta không được hưởng quyền tự do dân chủ Vấn đề cấp báchđặt ra là "chúng ta phải có ngay một hiến pháp dân chủ" Đảng chủ trương phải xúc tiến

Trang 33

nhanh việc bầu cử Quốc hội, lập chính phủ chính thức và soạn thảo Hiến pháp Ngày

6-1-1946, lần đầu tiên ở nước ta tổ chức tổng tuyển cử bầu Quốc hội của một nhà nước dân chủ.Ngày 2-3-1946, Quốc hội họp, cử ra chính phủ tiêu biểu cho ý chí, lợi ích của toàn dân Hiếnpháp đầu tiên của nước Việt Nam dân chủ cộng hoà được công bố ngày 9-11-1946 và sau đóNhà nước ban hành hàng loạt sắc lệnh và những quy định cần thiết

Xây dựng và củng cố bộ máy chính quyền các cấp là một nhiệm vụ bức bách Chính phủ đãxem xét các vǎn bản của Uỷ ban nhân dân các xứ và có kế hoạch "cải cách chính quyền nhândân ở các địa phương và thanh trừng những phần tử xấu trong Uỷ ban nhân dân địa phương

và cải tiến cách làm việc của những Uỷ ban ấy" Chính quyền nhân dân cũng đã kiên quyết

"trừng trị bọn phản quốc đã nhân những khó khǎn về nội trị, ngoại giao và dựa vào thế lựcbên ngoài mà ngóc đầu dậy; trừng trị bọn chia rẽ, bọn đầu cơ, tích trữ và bọn lạm quyền,nhiễu dân" Đảng chủ trương trong mọi tình thế phải bảo đảm sự thống nhất của chính quyềnnhân dân từ trung ương đến cơ sở, xử trí kịp thời "bọn đối lập"

Với tinh thần “Nước độc lập mà dân không hưởng hạnh phúc tự do thì độc lập cũng cókhông nghĩa lý gì”, Đảng ta nhận thức rằng chính quyền cách mạng trước mắt phải chǎm lođời sống nhân dân, đưa đất nước nhanh chóng thoát khỏi nạn đói Do vậy, việc cứu đói thật

sự cần kíp như đánh giặc ngoài mặt trận Chính phủ quyết định phát động phong trào tănggia sản xuất, thực hành tiết kiệm, cứu đói cho nhân dân Chỉ trong một thời gian ngắn, nhândân ta đã quyên góp được hàng vạn tấn gạo, hoa màu được trồng nhiều ở các địa phương, sảnlượng lương thực đã tăng đáng kể, nhiều diện tích đất đai đã được khôi phục sử dụng, nhờ đó

mà nạn đói đã được khắc phục nhanh chóng Cùng với những biện pháp khẩn cấp trước mắt,chính quyền mới cũng đã bước đầu thực thi nhiều cải cách dân chủ, đáp ứng nguyện vọngthiết tha của nhân dân, đặc biệt là nông dân : tịch thu ruộng đất của ruộng công, giảm tô 25%cho nông dân Quy định ngày làm việc 8 giờ, bảo vệ quyền lợi của công dân Công tác y tế,văn hóa, giáo dục mà nổi bật là vấn đề thanh toán nạn mù chữ rất được quan tâm chú ý Tưtưởng của Chủ tịch Hồ Chí Minh “Một dân tộc dốt là một dân tộc yếu” đã có tác dụng kíchthích lòng tự hào dân tộc, tạo nên một phong trào bình dân học vụ trong cả nước với khí thếsôi nổi người người đi học, nhà nhà đi học, nâng cao dân trí góp phần xây dựng biết viết, đó

là một thành tích nổi bật trong điều kiện đất nước vừa mới được độc lập còn biết bao khókhăn cần giải quyết

Song song với việc khôi phục, phát triển kinh tế để ổn định đời sống nhân dân, Đảng vàChủ tịch Hồ Chí Minh còn đặc biệt quan tâm chỉnh đốn bộ máy và đội ngũ cán bộ chínhquyền, ngǎn chặn nguy cơ quan liêu hoá, cán bộ chính quyền trở thành những "quan cáchmạng" Trong Thư gửi Uỷ ban nhân dân các cấp, tháng 10-1945, Chủ tịch Hồ Chí Minh đãchỉ ra những cǎn bệnh xuất hiện trong bộ máy chính quyền mới như: trái phép, cậy thế, hủhoá, tư túi, chia rẽ, kiêu ngạo Những hành vi đó là trái với bản chất của chính quyền nhândân, làm giảm uy tín, làm suy yếu chính quyền Người vạch rõ: Các cơ quan của Chính phủ

từ toàn quốc cho đến các làng đều là đầy tớ của nhân dân, nghĩa là để gánh việc chung chodân

Trong hoàn cảnh cùng một lúc chính quyền phải đương đầu với nhiều kẻ thù (quân Pháp Tưởng) và nhà nước ta lúc bấy giờ chưa có sự giúp đỡ trực tiếp của các nước anh em, bầubạn trên thế giới, đòi hỏi Đảng và Chính phủ phải thực hiện một chính sách ngoại giao đúngđắn, khôn khéo thì mới có thể củng cố và giữ vững chính quyền cách mạng non trẻ Quántriệt tư tưởng “thêm bạn bớt thù”, Đảng và chính quyền cách mạng đã thực hiện chính sáchnhân nhượng có nguyên tắc, khéo léo “hòa để tiến” đồng thời ttriệt để lợi dụng mâu thuẫntrong hàng ngũ kẻ thù, phân hoá chúng Với sách lược mềm dẻo nhưng có nguyên tắc : khithì hoà với Tưởng để tập trung đánh thực dân Pháp, khi thì hoà với Pháp để đuổi Tưởng,

Trang 34

-chẳng những bảo vệ được sự tồn tại của chính quyền mà còn đưa sự nghiệp cách mạng pháttriển một cách vững chắc.Đó cũng là nét nổi bật về và là một mẫu mực về khả nǎng tự bảo

vệ của chính quyền cách mạng Việt Nam trong hoàn cảnh khó khǎn điển hình

Nhà nước và nhân dân ta muốn hoà bình nên đã nhân nhượng với thực dân Pháp Nhưng dãtâm xâm lược của thực dân Pháp ngày càng trắng trợn Khi không thể nhân nhượng đượcnữa, chính quyền cách mạng đã chủ động phát động nhân dân cả nước đứng lên kháng chiến.Kháng chiến toàn quốc chống thực dân Pháp và can thiệp Mỹ (từ 12-1946 đến 7-1954) làtiếp tục sự nghiệp của Cách mạng tháng Tám, là tiếp tục công cuộc bảo vệ chính quyền bằngmột cuộc chiến tranh cách mạng Cuộc kháng chiến được tiến hành trong điều kiện đã cóchính quyền cách mạng Chính quyền là công cụ mạnh mẽ và hiệu lực để tổ chức, động viênnhân dân tham gia kháng chiến

Tóm lại, trong khoảng thời gian 16 tháng (9-1945 đến 12-1946), trước bao tình thế khókhăn, hiểm nghèo, trước những thử thách cực kỳ nghiêm trọng tưởng chừng không thể vượtqua, nhưng nhờ có sự lãnh đạo Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh, chính quyền mới vẫn pháthuy hiệu lực và bản chất của mình, từng bước đưa đất nước vượt qua những khó khăn, thửthách Từ những thành công của Đảng trong việc xây dựng, bảo vệ chính quyền giai đoạn1945-1946, có thể rút ra một số kinh nghiệm trong quá trình xây dựng nhà nước ta giai đoạnhiện nay như sau :

Một là, phải gắn bó mật thiết với nhân dân, dựa hẳn vào dân, vì lợi ích của nhân dân, đó lànguồn gốc sức mạnh của chính quyền trong các giai đoạn cách mạng Là chính quyền nhândân, chính quyền với nhân dân "phải kết thành một khối", chính quyền phải gắn bó với dân,dựa vào sức mạnh của nhân dân và phải trở thành công cụ làm chủ thật sự của nhân dân.Quyền làm chủ của dân, những yêu cầu dân chủ cơ bản phải được thể chế hoá bằng hiếnpháp và hệ thống pháp luật, quy chế, quy tắc trong đời sống xã hội, được ghi nhận và thựchiện qua các chính sách kinh tế, xã hội Hệ thống pháp luật và chính sách kết tinh ý chí,nguyện vọng và lợi ích của nhân dân, nó càng đúng đắn và hoàn chỉnh bao nhiêu, càng thểhiện quyền làm chủ của nhân dân bấy nhiêu Đó cũng là thước đo trình độ của nền dân chủ

xã hội chủ nghĩa của nước ta hiện nay Xây dựng và củng cố chính quyền thực sự của dân,

do dân và vì dân là một quá trình đấu tranh giữa cái mới và cái cũ, giữa ý thức và nǎng lựclàm chủ của nhân dân với thói quen an phận của người bị trị dưới chế độ cũ cùng lề thói hủlậu của kẻ có chức quyền Quá trình đó đòi hỏi phải có nhận thức và quan điểm đúng đắn,phải đổi mới, hoàn thiện cơ cấu tổ chức, cơ chế quản lý, phương thức hoạt động và cả sự lựachọn con người vào bộ máy chính quyền sao cho thể hiện đúng bản chất của chính quyềnnhân dân

Hai là, phải thường xuyên củng cố bộ máy nhà nước trong sạch, vững mạnh, chống nguy

cơ quan liêu hoá, bảo đảm khả nǎng tự bảo vệ Sức mạnh của nhà nước biểu hiện trước hết ở

sự trong sạch, vững mạnh trong bộ máy của nó, ở nǎng lực tổ chức, quản lý mọi hoạt độngkinh tế - xã hội theo pháp luật Vì vậy, tǎng cường sức mạnh của nhà nước là tǎng cường bộmáy nhà nước sao cho gọn nhẹ, hiệu quả vững mạnh Hoạt động của các cơ quan quyền lực

đã đi vào thực chất, khắc phục chủ nghĩa hình thức, mang lại hiệu quả thiết thực Quốc hội

đã từng bước làm được chức nǎng của cơ quan quyền lực cao nhất của nhà nước Chính phủ

và các cấp chính quyền với chức nǎng hành pháp, quản lý, điều hành theo cơ chế quản lýmới và nắm chắc công cụ pháp luật Các cơ quan bảo vệ luật pháp đã phát huy vai trò độclập của mình Chính sự chuyển động tích cực và đúng hướng đó đã làm cho bộ máy có hiệulực hơn và sức mạnh của Nhà nước được tǎng cường

Ba là không ngừng chǎm lo xây dựng, củng cố cơ sở kinh tế và cơ sở xã hội là sự bảo đảmcho chính quyền nhân dân vững mạnh Cơ sở kinh tế, xã hội quyết định sức mạnh của nhà

Trang 35

nước, ngược lại nhà nước có vai trò quan trọng, thậm chí là nhân tố quyết định làm cho cơ sởkinh tế và xã hội ngày càng lớn mạnh Vì vậy, phát triển kinh tế, xã hội là một trong nhữngchính sách hàng đầu của Nhà nước ta trong mọi giai đoạn cách mạng, đặc biệt là trong giaiđoạn hiện nay Điều đó không chỉ nhằm củng cố sức mạnh của Nhà nước, mà còn là mụctiêu của chủ nghĩa xã hội

Bốn là phải có sách lược mềm dẻo, khôn khéo, lợi dụng mâu thuẩn trong hàng ngũ địch, côlập cao độ kẻ thù chính, trung lập những người có thể trung lập, tranh thủ những người cóthể tranh thủ, nhằm làm suy yếu vị trí và thế lực của chúng, làm tăng thêm sức mạnh và tạođiều kiện đưa cách mạng tiến lên

Năm là sự lãnh đạo của Đảng là nhân tố quyết định bản chất, sức mạnh và sự tồn tại củachính quyền nhân dân Giữ vững và nâng cao hiệu quả lãnh đạo của Đảng đối với Nhà nướckhông chỉ có ý nghĩa quyết định sự sống còn của chính quyền cách mạng, mà còn là sự tồntại của bản thân Đảng và chế độ xã hội chủ nghĩa Để đảm đương được vai trò lãnh đạo,Đảng phải vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức, phải thường xuyên tự đổi mới, tựchỉnh đốn, ra sức nâng cao trình độ trí tuệ, nǎng lực lãnh đạo Giữ vững truyền thống đoànkết thống nhất trong Đảng, bảo đảm đầy đủ dân chủ và kỷ luật trong sinh hoạt Đảng

Tóm lại, xây dựng và bảo vệ chính quyền nhân dân là một bài học lớn của quá trình đấutranh cách mạng của nhân dân ta từ khi Đảng lãnh đạo chính quyền Diễn biến phức tạp củatình hình quốc tế, nhiệm vụ nặng nề của thời kỳ quá độ ở nước ta đòi hỏi Đảng và nhân dân

ta nâng cao cảnh giác, nỗ lực phấn đấu xây dựng chính quyền nhân dân thật sự trong sạch,vững mạnh, xứng đáng là công cụ có hiệu lực nhất tổ chức thắng lợi sự nghiệp đổi mới vàxây dựng đất nước theo con đường xã hội chủ nghĩa

Câu 08: Phân tích đường lối nắm vững ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội của Đảng ta trong giai đoạn 1954- 1975, khi cả nước tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng: cách mạng xã hội chủ nghĩa ở miền Bắc và cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân

ở miền Nam.

BÀI LÀM

1 Sau thắng lợi của cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, với việc ký kết Hiệp địnhGiơnevơ (07/1954), miền Bắc hoàn toàn được giải phóng, thắng lợi đó tạo thêm khí thế hàohứng, phấn khởi, tin tưởng vào Đảng trong nhân dân được tăng cường mạnh mẽ; sự lãnh đạocủa Đảng được tiếp tục khẳng định và kiện toàn hơn Trong khi đó đối với miền Nam cònđang ở dưới chế độ thực dân kiểu mới của đế quốc Mỹ và bè lũ tay sai đang cần được giảiphóng để đi tới giải phóng nước nhà Trong tình hình đó Đảng buộc phải chọn 1 trong 3 quanđiểm lúc bấy giờ:

Quan điểm 01: Trường kỳ mai phục ở miền Nam, tập trung xây dựng chủ nghĩa xã hội ở

miền Bắc Thông qua tính ưu việt của chủ nghĩa xã hội để đấu tranh thống nhất đất nước(theo mô hình Triều Tiên, Đức)

Quan điểm 02: Duy trì tình trạng lạc hậu ở miền Bắc, tập trung sức để giải phóng miền

Nam thống nhất đất nước Sau khi thống nhất đất nước cả nước đi lên chủ nghĩa xã hội

Quan điểm 03: Tiến hành đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược ở 2 miền (cách mạng xã hội

chủ nghĩa ở miền Bắc, cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam) nhằm hỗ trợ lẫnnhau nhưng phục tùng nhiệm vụ chung của cả nước là hoàn thành cách mạng dân tộc dânchủ nhân dân đi lên chủ nghĩa xã hội

Đảng ta đã quyết định chọn quan điểm thứ 03, thực hiện đồng thời 2 nhiệm vụ chiến lược

có mối quan hệ mật thiết, chi phối lẫn nhau Đảng khẳng định đây là quyết định lịch sử mangtính tất yếu khách quan

Trang 36

Đường lối kết hợp độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội là sản phẩm của sự kết hợp sáng tạogiữa Chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và thực tế cách mạng Việt Nam Thựcchất của vấn đề giương cao ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội chính là quan niệm

và cách thức giải quyết mối quan hệ giữa vấn đề dân tộc với giai cấp, giữa cách mạng giảiphóng dân tộc với xu thế thời đại của Đảng cộng sản Việt Nam Vấn đề dân tộc bao giờ cũngmang tính giai cấp và được giải quyết theo quan điểm của tùng giai cấp Khi giai cấp tư sản

là giai cấp tiên tiến đại diện cho phương thức sản xuất mới, dân tộc gắn với giai cấp tư sảngiương cao ngọn cờ dân tộc chống chế độ phong kiến Khi giai cấp tư sản tạo được ách thốngtrị xã hội, nó không còn là giai cấp tiên tiến nữa mà trở thành giai cấp phản động, ngăn cản

sự phát triển của dòng chảy lịch sử Giai cấp công nhân, giai cấp đại diện cho phương thứcsản xuất mới, phương thức sản xuất xã hội chủ nghĩa, trở thành giai cấp tiên tiến của dân tộc,

có khả năng giải quyết đúng đắn lợi ích giai cấp với lợi ích dân tộc trong thời đại mới ViệtNam cũng chịu sự tác động của xu thế chung đó

Để đi đến quyết định trên, Đảng ta dựa trên những cơ sở lý luận và thực tiễn sau:

Cơ sở lý luận:

Lý thuyết hình thái kinh tế- xã hội của Mác: Hệ thống xã hội chủ nghĩa, Phong trào cộngsản công nhân quốc tế, phong trào giải phóng dân tộc đang ở thế tiến công, xu thế thời đạingày nay là xu thế quá độ lên chủ nghĩa xã hội trên phạm vi toàn thế giới, đưa miền Bắc tiếnlên chủ nghĩa xã hội là phù hợp với xu thế của thời đại

Học thuyết về “cách mạng không ngừng” của Lênin: Thời đại ngày nay, độc lập dân tộc vàchủ nghĩa xã hội không tách rời nhau; ở nước ta giai cấp công nhân đang giữ vai trò lãnh đạocách mạng thì thắng lợi của cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân cũng là bắt đầu cách mạng

xã hội chủ nghĩa và thời kỳ thực hiện chuyên chính vô sản

Tư tưởng Hồ Chí Minh về con đường giải phóng dân tộc: Vấn đề dân tộc chỉ được giảiquyết đúng đắn theo lập trường của giai cấp công nhân; công cuộc cách mạng giải phóng dântộc phải gắn bó với đấu tranh giải phóng giai cấp, giải phóng xã hội, giải phóng con người.Nói cách khác độc lập dân tộc phải gắn với chủ nghĩa xã hội

Cơ sở thực tiễn:

Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội xuất phát từ yêu cầu của cách mạng miền Nam và

cả nước, miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội để làm hậu phương cho miền Nam, làm cơ sởcho xã hội chủ nghĩa cả nước sau này

Đưa miền Bắc tiến lên chủ nghĩa xã hội là nguyện vọng của nhân dân cả nước

Đảng trung thành với đường lối chiến lược cách mạng đã đề ra từ 02/1930: “cách mạng tưsản dân qv thổ địa cách mạng để tiến lên xã hội cộng sản”

Miền Bắc có đủ điều kiện để tiến lên chủ nghĩa xã hội: Có Đảng cộng sản lãnh đạo, Nhànước quản lý, có quần chúng nhân dân ủng hộ, có lực lượng xã hội chủ nghĩa giúp đỡ

2.Thời kỳ cả nước tiến hành đồng thời 2 chiến lược cách mạng (1954- 1975).

Dưới sự lãnh đạo của Đảng, trãi qua 21 năm đấu tranh anh dũng, nhân dân Việt Nam đãđánh thắng đế quốc Mỹ xâm lược, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân thốngnhất đất nước Thắng lợi vĩ đại này có tầm vóc thời đại, có y nghĩa lịch sử sâu sắc Một trongnhững nguyên nhân quan trọng làm nên chiến thắng này là sự lãnh đạo của Đảng thông quaviệc xác định đường lối đúng đắn, sáng tạo, đường lối thực hiện đồng thời 2 chiến lược cáchmạng khác nhau ở 2 miền đất nước

Trước tình trạng nước ta đang bị chia cắt thành hai miền , với 2 chế độ chính trị, xã hội đốilập nhau Sự kết hợp ngọn cờ độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội lúc này được thực hiện 1cách độc đáo, chưa có tiền lệ trong lịch sử Thành công rực rỡ của Đảng ta thời kỳ này là đã

Trang 37

nhận thức sâu sắc và thực hiện sáng tạo, thành công sự kết hợp chặt chẽ giữa 2 cuộc cáchmạng ở 2 miền đất nước, hướng tới mục tiêu chung của cả nước.

Tiếp tục thực hiện cương lĩnh chính trị đầu tiên của Đảng, phát triển tư tưởng của nhiều Hộinghị TW, nhất là Nghị quyết TW 15 (khoá II) và Nghị quyết Đại hội III (09/1960) đã vạch rõnước ta tạm thời chia cắt thành 2 miền, có 2 chế độ chính trị, xã hội khác nhau Do đó cáchmạng Việt Nam có 2 nhiệm vụ thuộc 2 chiến lược khác nhau, miền Bắc bước vào thời kỳquá độ lên chủ nghĩa xã hội, miền Nam tiếp tục cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân, 2nhiệm vụ đó có mối quan hệ mật thiết với nhau, ảnh hưởng lẫn nhau, thúc đẩy nhau cùngphát triển Nghị quyết ĐH III đã chỉ ra đường lối chung của Đảng và nhiệm vụ cách mạngtrong việc thực hiện 2 nhiệm vụ chiến lược độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội như sau:+Tiến hành quá độ lên chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc: “Đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thầnyêu nước nồng nàn, truyền thống chiến đấu anh dũng và lao động cần cù của nhân dân ta,đồng thời tăng cường đoàn kết với các nước xã hội chủ nghĩa anh em do LX đứng đầu đểđưa miền Bắc tiến nhanh, tiến mạnh, tiến vững chắc lên chủ nghĩa xã hội, xây dựng đời sống

ấm nông dân hạnh phúc ở miền Bắc và củng cố miền Bắc thành hậu phương vững mạnh chocuộc đấu tranh thực hiện hòa bình thống nhất nước nhà”

+Cuộc đấu tranh cách mạng ở miền Nam là 1 quá trình đấu tranh lâu dài, gian khổ, phứctạp, kết hợp nhiều hình thức đấu tranh linh hoạt từ thấp đến cao, lấy việc xây dựng, củng cố,phát triển lực lượng cách mạng của quần chúng làm cơ sở Để bảo đảm cho cuộc đấu tranhcách mạng ở miền Nam, cần ra sức xây dựng khối công nông binh liên hợp và thực hiện 1mật trận dân tộc thống nhất rộng rãi chống Mỹ- Diệm, lấy liên minh công nông làm cơ sở.+Vị trí chiến lược cách mạng của từng miền được xác định: miền Bắc xã hội chủ nghĩa giữvai trò quyết định nhất cho sự nghiệp cách mạng cả nước và sự nghiệp đấu tranh nhằm thựchiện thống nhất nước nhà Miền Nam giữ vai trò quyết định trực tiếp trong việc đánh đuổi đếquốc Mỹ và tay sai, giải phóng miền Nam

+Hai chiến lược với 2 nhiệm vụ cụ thể khác nhau được tiến hành cùng 1 thời gian dưới sựlãnh đạo thống nhất của Đảng, có tác dụng hỗ trợ lẫn nhau, cùng phát triển Miền Bắc vừaxây dựng và bảo vệ xã hội chủ nghĩa, vừa làm hậu thuẩn, chi viện cho miền Nam, miền Namvừa trực tiếp đấu tranh để giải phóng, vừa góp phần bảo vệ miền Bắc xã hội chủ nghĩa Cả 2cuộc cách mạng cùng góp phần thực hiện nhiệm vụ chung của cả nước là hoàn thành độc lập,thống nhất nước nhà

3.Những kết quả đạt được trong từng nhiệm vụ chiến lược.

a.Cải tạo và xây dựng xã hội chủ nghĩa ở miến Bắc.

Lần đầu tiên trong lịch sử nước ta, nhân dân lao động nắm quyền làm chủ xã hội Trên cơ

sở quan hệ sản xuất mới, các giai cấp công nông và trí thức đã hợp thành cơ sở xã hội củachế độ chính trị Sự nhất trí về chính trị và tinh thần đã trở thành mặt cơ bản của xã hội ta.Vĩnh viễn xóa bỏ bóc lột và các giai cấp bóc lột, cải tiến nền kinh tế cá thể, phân tán củanông dân và thợ thủ công thành nền kinh tế xã hội chủ nghĩa

Thắng lợi cơ bản của cải cách ruộng đất: đánh đổ toàn bộ giai cấp địa chủ, phong kiến; giảiphóng được nông dân, nông thôn tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất; chia 810.000 ha ruộng đấtcho 2 triệu hộ nông dân không có hoặc thiếu ruộng đất

Bằng việc thực hiện kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961- 1965), khôi phục các ngành côngnghiệp; những cơ sở đầu tiên của nhiều ngành công nghiệp đã được xây dựng Sản lượngcông nghiệp 1964 tăng 08 lần so với 1954

Sự nghiệp giáo dục, y tế, văn hóa,xã hội có bước phát triển vượt bật Tính đến 1965 có 5triệu học sinh phổ thông, 28.000 sinh viên của 18 trường đại học Số y, bác sĩ được đào tạo

Ngày đăng: 19/05/2016, 16:11

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w