Bệnh CRD là một trong những bệnh thường gặp về đường hô hấp ở gà, bệnh dễ xảy ra trong điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều hay thời tiết thay đổi đột ngột do sức đề kháng của gia cầm giảm và sự
Trang 1KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Chuyên nghành : Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp
Giảng viên hướng dẫn : TS Ngô Nhật Thắng
Thái Nguyên, 2015
Trang 2Em cũng đã nhận được sự khích lệ động viên quý báu của gia đình và bạn bè
Sau 3 tháng thực tập tốt nghiệp tại Trại gà thương phẩm thuộc xã Khe
Mo - Đồng Hỷ - Thái Nguyên, em đã hoàn thành khoá luận tốt nghiệp của mình Nhân dịp này, em xin được bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y và các thầy cô giáo trong Khoa Chăn nuôi Thú y, đặc biệt là thầy giáo hướng dẫn TS Ngô Nhật Thắng, thầy đã trực tiếp hướng dẫn và đóng góp nhiều ý kiến quý báu cho em hoàn thành tốt khóa luận của mình
Em cũng xin bày tỏ lòng cảm ơn tới bạn gia đình và bạn bè đã động viên khích lệ và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em hoàn thành khóa luận này
Một lần nữa em xin trân trọng gửi tới tất cả các thầy cô trong Hội đồng, các bạn bè sự biết ơn sâu sắc và lời chúc mạnh khỏe, hạnh phúc và thành đạt
Em xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 28 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Vi Văn Đạt
Trang 3DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 2.1: Nhu cầu O2 và lượng CO2 thải ra 7
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 27
Bảng 3.2: Thành phần giá trị dinh dưỡng trong thức ăn của gà thí nghiệm 28
Bảng 4.1: Lịch dùng vaccine và phòng bệnh bằng kháng sinh cho đàn gà 35
Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 39
Bảng 4.3: Tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 40
Bảng 4.4:Một số bệnh thường gặp ở đàn gà thả vườn 41
Bảng 4.5: Tỷ lệ nhiễm CRD trên đàn gà thả vườn theo tuần tuổi 42
Bảng 4.7: Kết quả phòng bệnh của Tylosin và Tetracyclin 45
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh của Tylosin và Tetracyclin 47
Trang 5MỤC LỤC
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU 3
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài 3
2.1.1 Một vài nét về giống gà thí nghiệm 3
2.1.2 Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm 4
2.1.3 Bệnh hô hấp mãn tính (CRD) ở gà 7
2.1.4 Một số đặc điểm của hai loại thuốc Tylosin và Tetracyclin 20
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 22
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 22
2.2.2 Tình hình nghiên cứu nước ngoài 24
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 26
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 26
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 26
3.3 Nội dung nghiên cứu 26
3.4 Các chỉ tiêu theo dõi 26
3.5 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 27
3.5.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 27
3.5.2 Phương pháp theo dõi các chỉ tiêu: 28
3.5.3 Phương pháp xử lý số liệu 29
Trang 6Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 30
4.1 Công tác phu ̣c vu ̣ sản xuất 30
4.1.1 Công tác giống 30
4.1.2 Công tác thức ăn 30
4.1.3 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 30
4.1.4 Công tác vệ sinh thú y 33
4.1.5 Công tác phòng và điều trị bệnh 34
4.1.6 Công tác khác 38
4.1.7 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 38
4.2 Kết quả thực hiện đề tài 39
4.2.1 Kết quả về tỷ lệ nuôi sống của gà thí nghiệm 39
4.2.2 Một số bệnh thường gặp ở đàn gà thả vườn 41
4.2.3 Tình hình nhiễm CRD theo lứa tuổi ở đàn gà thả vườn 42
4.2.4 Kết quả theo dõi triệu chứng lâm sàng và mổ khám bệnh tích ở gà có biểu hiện nhiễm bệnh CRD 44
4.2.5 Hiệu lực phòng bệnh CRD của Tylosin và Tetracyclin 45
4.2.6 Hiệu quả điều trị bệnh CRD của Tylosin và Tetracyclin 46
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 48
5.1 Kết luận 48
5.2 Đề nghị 48
TÀI LIỆU THAM KHẢO 49
Trang 7Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Chăn nuôi gà nói riêng và chăn nuôi gia cầm nói chung là nghề sản xuất truyền thống lâu đời và chiếm vị trí quan trọng thứ hai trong tổng giá trị sản xuất của ngành chăn nuôi ở Việt Nam Tổng đàn gia cầm cả nước năm 2001 là
218 triệu con, năm 2003 là 254 triệu con và năm 2005 chỉ con 220 triệu con, năm 2006 là 214 triệu con Tốc độ tăng đàn năm 2001 - 2003 là 9,0% Hàng năm chăn nuôi gà cung cấp khoảng 350 - 450 nghìn tấn thịt chiếm khoảng 14 - 16% trong tổng sản phẩm các loại thịt và hơn 2,5 - 3,5 tỷ quả trứng Nhiều giống gia cầm có năng suất cao được lai tạo, du nhập và sản xuất đã đem lại nhiều lợi nhuận cho người chăn nuôi (Đoàn Xuân Trúc và cs, 2008) [20]
Năm 2006 cả nước có trên 7,9 triệu hộ chăn nuôi gia cầm, mỗi hộ trung bình nuôi 32 con Hình thức chăn nuôi nhỏ hộ gia đình chiếm khoảng 68,5% Chăn nuôi công nghiệp và bán công nghiệp chiếm khoảng 31,5% Khi nghề chăn nuôi gà theo phương thức công nghiệp có xu hướng phát triển mạnh thì dịch bệnh cũng ngày càng tăng và mức độ lây lan rộng
Qua thực tiễn, bệnh mắc phổ biến và gây thiệt hại kinh tế lớn nhất trong chăn nuôi gà là bệnh hô hấp mãn tính, còn gọi là bệnh CRD (Chu Minh Khôi, 2001) [30] Bệnh CRD là một trong những bệnh thường gặp về đường hô hấp ở
gà, bệnh dễ xảy ra trong điều kiện nóng ẩm, mưa nhiều hay thời tiết thay đổi đột ngột do sức đề kháng của gia cầm giảm và sự mẫn cảm với bệnh tăng lên
CRD là tên viết tắt của bệnh Chronic Respiratory Disease còn gọi là
hen gà do một loại Mycoplasma gây nên Bệnh không gây chết nhiều nhưng
làm cho gà chậm lớn, tiêu tốn thức ăn cao, thuốc điều trị tốn kém, gà mái giảm đẻ, trứng gà bệnh chết phôi Khi gà khỏi bệnh chúng mang trùng suốt đời nên còn gọi là bệnh hô hấp mãn tính Bệnh gây viêm xoang mắt, mũi, phế quản và túi khí,… Làm cho gà sinh trưởng chậm, tăng chi phí chăn nuôi, làm giảm hiệu quả kinh tế và chất lượng sản phẩm
Trang 8Đây là một bệnh mắc phổ biến và gây thiệt hại kinh tế lớn nhất trong chăn nuôi gà Để chăn nuôi gia cầm có hiệu quả thì vấn đề cần thiết là phải chú ý đến công tác phòng và trị bệnh cho gà nhất là với bệnh CRD
Xuất phát từ thực tiễn trên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “So sánh hiệu quả của Tylosin và Tetracyclin trong phòng trị bệnh Chronic Respiratory disease (CRD) cho gà thả vườn tại trại gà thương phẩm thuộc
xã Khe Mo – Đồng Hỷ - Thái Nguyên”
1.2 Mục đích và yêu cầu của đề tài
- Xác định tỷ lệ nhiễm bệnh CRD trên đàn gà thả vườn theo lứa tuổi
- Xác định hiệu lực của thuốc Tylosin và Tetracyclin trong phòng và trị bệnh CRD ở gà thí nghiệm Kết quả thu được là cơ sở khoa học để đưa ra các giải pháp kỹ thuật thích hợp nhằm nâng cao khả năng sản xuất của đàn gà cơ sở
- Đánh giá ảnh hưởng của thuốc Tylosin và Tetracyclin tới tỷ lệ nuôi sống và khả năng sinh trưởng tích lũy của gà thí nghiệm
- Làm quen với việc tiến hành đề tài nghiên cứu khoa học
- Tìm hiểu một số kỹ năng ở người cán bộ chuyên môn thú y sau khi ra trường
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa khoa học
- Đề tài nghiên cứu là cơ sở đánh giá sử dụng thuốc Tylosin trong phòng trị bệnh Chronic Respiratory Disease (CRD) cho gà Mía, đồng thời
bổ sung nguồn thức ăn để tăng năng suất, hiệu quả kinh tế
- Biết cách chăm sóc và nuôi dưỡng, quản lý trong chăn nuôi
1.3.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Kết quả nghiên cứu sẽ là cơ sở xây dựng phòng trị bệnh CRD cho đàn gà Mía theo quy mô bán chăn thả, góp phần nâng cao chất lượng sản phẩm
Trang 9Phần 2 TỔNG QUAN NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở khoa học và pháp lý của đề tài
2.1.1 Một vài nét về giống gà thí nghiệm
* Nguồn gốc, đặc điểm gà Lương phượng
- Nguồn gốc: Gà Phượng là giống Lương gà kiêm dụng lông màu có xuất xứ từ vùng ven sông Lương Phượng, do xí nghiệp nuôi gà Thành phố Nam Ninh, tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) lai tạo thành công sau hơn chục năm nghiên cứu, sử dụng dòng trống địa phương và dòng mái nhập ngoại từ nước ngoài như gà Discan… Gà Lương Phượng được nhập vào nước ta trong những năm gần đây Gà Lương Phượng dễ nuôi, tính thích nghi cao, chịu đựng tốt với điều kiện khí hậu nóng ẩm và nhất là thịt thơm ngon nên được nhiều người tiêu dùng ưa chuộng
- Đặc điểm: Con mái lông màu vàng nhạt, điểm các đốm đen ở cổ, cánh Con trống lông sặc sỡ nhiều màu: sắc tía ở cổ, nâu cánh gián ở lưng, nâu xanh đen ở đuôi Da, mỏ, chân đều màu vàng Mào, tích, tai phát triển; mào đơn, đỏ tươi; ức sâu nhiều thịt, thịt thơm ngon Gà thích nghi cao với nuôi chăn thả và bán chăn thả
- Chỉ tiêu năng suất gà Lương Phượng
Theo tài liệu của Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (2007) [26] cho biết: khối lượng gà Lương Phượng nuôi thịt đến 12 tuần tuổi là 2,0 - 2,5 kg; tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là 3,0 - 3,2 kg Khối lượng gà vào lúc đẻ: 1,9 - 2,1 kg (gà mái); 2,8 - 3,2 kg (gà trống) Sản lượng trứng/ 10 tháng đẻ là
150 - 170 quả/mái Tỷ lệ ấp nở 80 - 85 %
* Nguồn gốc, đặc điểm gà Mía
Nguyễn Hữu Vũ và Nguyễn Đức Lưu (1999) [22] cho biết:
Trang 10Gà Mía có nguồn gốc từ Trùng Thiên, Sơn Tây
Con trống có màu lông đỏ sẫm xen kẽ lông đen ở đuôi, đùi, lườn, hai hàng lông cánh chính xanh biếc Con mái có màu lông vàng nhạt xen kẽ lông đen ở cánh và đuôi, lông cổ có màu nâu
Gà Mía là giống gà hướng thịt, có tầm vóc to, ngoại hình thô, đi lại chậm
- Trọng lượng trưởng thành: Gà mái 2,5 - 3 kg; gà trống 4,4 kg
- Thời gian đạt trọng lượng thịt: 5 tháng
- Sản lượng trứng thấp: 55 - 60 quả/năm
- Thời gian gà mái bắt đầu đẻ: 7 tháng
* Đặc điểm gà lai F1 (trống Mía xmái Lương Phượng):
Gà lai F1 giữa trống Mía và mái Lương Phượng là gà lông màu có chất lượng cao, có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta, tốc độ sinh trưởng và trao đổi chất nhanh, sức kháng bệnh tốt, chất lượng thịt thơm ngon, hiệu quả kinh tế lớn, thích hợp với phương thức nuôi nhốt, bán chăn thả, chăn thả
2.1.2 Đặc điểm sinh lý, giải phẫu cơ quan hô hấp của gia cầm
Theo Nguyễn Duy Hoan và cs, (1998) [5] cho biết: hệ hô hấp của gia cầm gồm: lỗ mũi, xoang mũi, khí quản, 2 phế quản, 2 phổi + 9 túi khí
- Hai lỗ mũi nằm ở gốc mỏ và có đường kính rất nhỏ Ở gà, phía ngoài hai lỗ mũi có “van mũi hoá sừng bất động” và xung quanh lỗ mũi có lông cứng nhằm ngăn ngừa bụi và nước
- Xoang mũi được phát triển từ xoang miệng sơ cấp ở ngày ấp thứ 7 Xoang mũi ngắn, chia ra 2 phần: phần xương và phần sụn Xoang mũi nằm ở
mỏ trên Xoang mũi là cơ quan thu nhận và lọc khí rồi chuyển vào khí quản, ở
gà thanh quản dưới có hai nếp gấp liên kết, hai nếp gấp đó bị dao động bởi không khí và tạo nên âm thanh
Trang 11- Khí quản là ống tương đối dài bao gồm nhiều vòng sụn và nhiều vòng hoá xương Số vòng khí quản ở gà là 110 - 120 và hầu hết là sụn, còn ở thuỷ cầm hầu hết đã hoá xương Khí quản tương đối cong queo, thành khí quản được cấu tạo bởi màng nhầy, màng xơ đàn hồi và màng thanh dịch ngoài
- Khí quản chia ra làm hai phế quản ở xoang ngực phía sau xương ngực Mỗi phế quản dài 6 - 7 cm và có đường kính 5 - 6 mm Một ống phế quản nối với lá phổi bên trái, còn một ống nối với lá phổi bên phải Thành phế quản cấu tạo bởi màng nhầy (ở đó có nhiều tuyến nhỏ tạo ra các dịch nhầy, màng xơ đàn hồi), có các bán khuyên sụn trong suốt và thanh dịch ngoài
- Phổi và phế quản được hình thành từ các nếp gấp ống hầu ở cuối khí quản vào ngày ấp thứ 4, ở ngày ấp thứ 5 xuất hiện túi phổi có màu dạng phế quản Ở ngày ấp thứ 9 phổi đang phát triển và chia ra mạng lưới phế quản, ở phần cuối của nó hình thành các ống hô hấp Phổi của gia cầm màu đỏ tươi, cấu trúc xốp, có dạng bọc nhỏ kéo dài, ít đàn hồi
Phổi nằm ở xoang ngực phía trục xương sống từ trục xương sườn thứ nhất đến mép trước của thận Trọng lượng của phổi vào khoảng 1/180 thể trọng gia cầm, phụ thuộc vào tuổi và loài, phổi gà 9g Chức năng chính của phổi là làm nhiệm vụ trao đổi khí
- Túi khí là tổ chức mỏng bên trong chứa đầy khí Các túi khí là sự mở rộng và tiếp dài của phế quản Cơ thể gia cầm có 9 túi khí chính, trong đó có 4 đôi xếp đối xứng, còn 1 túi khí đơn Các đôi túi khí xếp đối xứng là đôi túi khí xương đòn, đôi túi khí ngực trước, đôi túi khí ngực sau, đôi túi khí bụng Túi khí đơn là túi khí cổ Các túi khí thực ra không phải là xoang tận cùng của phế quản sơ cấp và phế quản thứ cấp mà tất cả chỉ là phế nang khổng lồ
Theo Hoàng Toàn Thắng và cs, (2006) [16]: Tần số hô hấp dao động trong khoảng rất lớn, nó phụ thuộc vào loài, tuổi, sức sản xuất, trạng thái sinh
lý của gia cầm và điều kiện thức ăn, nuôi dưỡng, nhiệt độ, độ ẩm, thành phần
Trang 12không khí Trong điều kiện nuôi dưỡng tốt, tần số hô hấp tương đối ổn định Gia cầm càng lớn thì tần số hô hấp càng nhỏ Ban đêm tần số hô hấp giảm chậm xuống 30 - 40 % Nhiệt độ tăng tần số hô hấp cũng tăng Nếu nhiệt độ tăng tới 370C thì nhịp thở của gà lên tới 150 lần/phút Tần số hô hấp ở gà trưởng thành là 25 - 45 lần/phút Gà từ 4 - 20 ngày tuổi là 30 - 40 lần/phút
Cơ chế hô hấp của gia cầm gồm động tác hít vào và động tác thở ra với
sự hoạt động của phổi và hệ thống 9 túi khí chính
Vận động của xương sườn đóng vai trò quan trọng trong cử động hô hấp Lúc giãn, không khí xoang ngực giãn và mở rộng làm cho áp lực xoang ngực thấp hơn áp lực bên ngoài, do đó không khí từ ngoài đi vào trong phổi Lúc hít vào, không khí qua phổi vào các nhánh nhỏ và vào các túi khí Lúc thở ra thì ngược lại, không khí đi từ các túi khí đi ra ngoài qua phổi lần thứ hai, vì vậy người ta gọi là cơ chế hô hấp kép Vì phổi gia cầm nhỏ nhưng do không khí tuần hoàn hai lần nên lượng oxygen cung cấp vẫn đảm bảo
Trong thời gian ngủ quá trình trao đổi chất nói chung giảm xuống 50 % Trong thời gian hoạt động mạnh (bay, chạy, nhảy…) quá trình trao đổi chất tăng lên và mức độ trao đổi khí tăng lên 60 - 100 %
Hoạt động của phổi và túi khí của gia cầm bao gồm: khí lưu thông, khí hít vào thêm, khí thở ra thêm Hoạt động của phổi và túi khí nói lên khả năng
hô hấp lớn nhất của gia cầm
Sau khi thở ra thêm, trong phổi vẫn còn một lượng khí nhỏ lưu lại gọi
là khí cặn Hoạt động phổi và túi khí của gà tổng cộng là 169 cm3
Nhu cầu O2 và lượng CO2 thải ra sau một giờ tính trên 1 kg thể trọng của gà như sau:
Trang 13Bảng 2.1: Nhu cầu O 2 và lượng CO 2 thải ra
Tuổi gà Nhu cầu O 2 (lít) CO 2 thải ra (lít)
Gà con 1 - 20 ngày tuổi 2,0 - 2,4 1,4 - 1,6
Gà dò 21 - 150 ngày tuổi 1,0 - 1,8 0,7 - 1,2
Một lượng nhỏ khí O2 được hòa tan vào máu và theo máu đến các mô bào, còn phần lớn kết hợp với hemoglobin trong hồng cầu để tạo oxy - hemoglobin vận chuyển theo tuần hoàn máu Lượng O2 tối đa kết hợp với hemoglobin gọi là dung lượng O2 máu, dao động trong khoảng 12 - 21 cm3(Nguyễn Duy Hoan và cs, 1998) [5]
Nhà sinh lý học Nga N.A.Mislapski xác định trung tâm điều hoà hít vào
và thở ra nằm trong cấu trúc lưới của hành não, phải trái đối xứng nhau Đặc điểm cần chú ý là lồng ngực gia cầm rất phát triển, xương ức tương đối lớn, không có cơ hoành Phổi của gia cầm thiếu khả năng đàn hồi, nó cố định và tựa vào sườn Vận động của xương sườn làm xương ngực giãn ra hút khí vào
và khi xoang ngực co lại gây động tác thở ra
Bệnh do Mycoplasma gây ra những tổn thất khá lớn đối với ngành chăn nuôi gia cầm ở mọi nơi trên thế giới Cho đến nay có 16 loài Mycoplasma
phân lập được từ gà và gà tây, 7 loài được phân lập từ ngỗng và vịt và 3 loài khác nhau được phân lập từ bồ câu Trong số đó có 4 loài gây bệnh cho gia
Trang 14cầm được quan tâm đó là M gallisepticum; M synoviae; M meleagridis và
M iowae (Nhữ Văn Thụ và cs, 2004) [27]
Chu Minh Khôi (2001) [30] đã tổng hợp: CRD có thời gian ủ bệnh kéo dài nên khó phát hiện trong giai đoạn đầu Nếu chủ quan không theo dõi phát hiện sớm, bệnh sẽ trở thành mãn tính, chữa sẽ khó khăn và tốn nhiều thuốc vì khi đó mũi, túi khí, niêm mạc thành phế quản đã biến đổi gây cản trở hô hấp
Phạm Sỹ Lăng và cs, (2002) [7] nghiên cứu cho thấy: Bệnh đường hô
hấp mãn tính do M gallisepticum gây nên, viết tắt là CRD (Chronic
Respiratory Disease) là bệnh truyền nhiễm của gà ở các lứa tuổi khác nhau với những bệnh tích ở đường hô hấp, nhất là ở khí quản và phổi, cũng như ở các túi khí Bệnh đường hô hấp mãn tính rất nguy hiểm đối với gà, nhất là gà nuôi tập trung theo hướng công nghiệp bởi vì phương thức truyền lây của bệnh chủ yếu là truyền qua trứng và đường hô hấp Qua xuất khẩu trứng và gà giống, bệnh CRD đã lan tràn ra hầu hết các nước trên thế giới Bệnh có thể làm giảm tỷ lệ đẻ trứng xuống tới 30 %, giảm tỷ lệ ấp nở tới 14 % và giảm tăng trọng của gà thịt thương phẩm tới 16 % Ngoài ra bệnh còn kết hợp với các bệnh khác như Newcastle, viêm phế quản truyền nhiễm, tụ huyết trùng,
bệnh do E coli gây ra… đã gây nên những vụ dịch lớn, có tỷ lệ gà chết cao
* Lịch sử bệnh và địa dư bệnh lý
Bệnh Mycoplasmosis lần đầu tiên được mô tả ở Mỹ vào năm 1936 bởi
Nesten với tên là bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm do vi trùng thuộc loại cầu khuẩn Năm 1943 Delaplane và Stuart đã cho rằng bệnh đường hô hấp mãn tính là do virut Vào năm 1949 Delaplane đã xác định rằng bệnh này ở gia cầm có liên quan về căn bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm ở gà tây con
Markham và Wong năm 1952 đã thành công trong việc phân lập vi trùng viêm màng phổi - phổi thanh dịch, gà mắc bệnh đường hô hấp mãn tính
Trang 15và từ gà tây mắc bệnh viêm xoang mũi là những vi trùng nhỏ giống như cầu khuẩn, vi trùng mà Nelsen đã mô tả
Trong các thí nghiệm sau đó, Jonson, Sullian, Taylor và nhiều nhà khoa học khác đã xác nhận rằng, bệnh đường hô hấp ở gà và bệnh viêm xoang mũi truyền nhiễm ở gà tây ra bởi các vi trùng thuộc loại cầu khuẩn nằm trung gian giữa virut và vi trùng có tính chất đặc trưng đối với nhóm vi trùng viêm
màng phổi - phổi PPLO Berjey đã đặt tên cho loài vi trùng này là M gallisepticum Năm 1961, Hội nghị dịch tễ thế giới đã đổi tên "bệnh đường hô hấp mãn tính" thành "bệnh Mycoplasmosis đường hô hấp gia cầm" Từ cuối
năm 1951 bệnh này phổ biến ở nhiều nơi trên nước Mỹ và đến năm 1956 nó đã lan tràn khắp nước Mỹ Do việc xuất gà giống và trứng để ấp, nên từ nước Mỹ bệnh này trong những năm sau đã lây truyền vào các nước trên thế giới, gây thiệt hại đáng kể cho ngành chăn nuôi gia cầm Ở Việt Nam đã tìm thấy kháng thể
Mycoplasma trong nhiều đàn gà nuôi tập trung từ năm 1975
- phổi gây bệnh đường hô hấp mãn tính và viêm xoang mũi gà tây là M gallisepticum Đến tháng 5/1961, Hội nghị tổ chức dịch tễ thế giới đã cho phép đổi tên bệnh đường hô hấp mãn tính thành bệnh Mycoplasmosis đường hô hấp gia cầm gây ra do M gallisepticum (Phạm Sỹ Lăng và cs, 2002) [9]
Hoàng Huy Liệu (2002) [31] cho biết: CRD do 3 loài Mycoplasma gây ra: M gallisepticum, M synoviae, M meleagridis nhưng chủ yếu là loài
Trang 16M gallisepticum Mycoplasma có nghĩa là “dạng nấm”, nhìn dưới kính hiển vi thì giống như một tế bào động vật nhỏ, không nhân, gallisepticum có
nghĩa là “gây độc cho gà mái” Điều này được thấy rõ tỷ lệ nhiễm bệnh ở gà
đẻ trứng rất cao và sản lượng trứng được giảm đáng kể
Trần Thị Hạnh và cs, (2004) [3] đã nhận định là hầu hết các loại gia cầm đều mẫn cảm với bệnh này, đặc biệt là gà nuôi theo hướng tập chung công nghiêp thì tỷ lệ nhiễm bệnh càng cao Bệnh xuất hiện ở hầu hết các nước trên thế giới Trong những năm gần đây người ta đã sử dụng một số thuốc kháng sinh mới như Tiamulin, Tylosin, Spiramycin, để điều trị nên đã khống chế được bệnh này
Nguyễn Xuân Bình và cs, (2004) [1] cho biết MG rất ít mẫn cảm với các loại kháng sinh thông thường nên điều trị bệnh phải chọn kháng sinh đặc hiệu Do có nhiều Serotype khác nhau nên bệnh lý thay đổi không hoàn toàn giống nhau giữa các đàn gà bị bệnh này
Theo Nguyễn Lân Dũng và cs, (2007) [2] nghiên cứu và kết luận:
Mycoplasma không có thành tế bào, bắt màu Gram âm, có tính đa hình thái,
có dạng nhỏ đến mức lọt qua nến lọc vi khuẩn, dễ mẫn cảm với áp suất thẩm thấu, mẫn cảm với cồn, với các chất hoạt động bề mặt (xà phòng, bột giặt,…), không mẫn cảm với Penicilin, Xicloserin và các chất kháng sinh khác ức chế quá trình tổng hợp thành tế bào
Mycoplasma thuộc loại hiếu khí và hiếu khí không bắt buộc; nhiệt độ tốt
nhất là 370
C; pH: 7,0 - 8,0 Nó có thể phát triển tốt trên phôi gà và một số môi trường nhân tạo như môi trường huyết thanh, môi trường có chứa Hemoglubin, Xistein Trên môi trường thạch chúng cũng có thể tạo nên những khuẩn lạc nhỏ
bé Khuẩn lạc có cấu tạo hạt, ở giữa có màu vàng nâu, xung quanh trong (trứng
ốp nếp) Khi phát triển trên môi trường dịch thể, Mycoplasma làm vẩn đục môi
Trang 17trường và tạo thành những kết tủa Trong môi trường thạch máu, Mycoplasma
làm dung huyết (Nguyễn Xuân Thành và cs, 2007) [15]
Mycoplasma có sức đề kháng yếu, ở ngoài thiên nhiên căn bệnh bị chết
rất nhanh Các điều kiện lý hoá học và các chất sát trùng thông thường đều
diệt mầm bệnh dễ dàng Mycoplasma bị diệt ở nhiệt độ 45 - 550
C trong vòng
15 phút Chúng rất mẫn cảm với sự khô cạn, tia tử ngoại, chất sát trùng và bị
ức chế bởi các chất kháng sinh, nó ngăn cản quá trình sinh tổng hợp protein
của Mycoplasma như Erythomycin, Tetracyclin…
Bệnh hô hấp mãn tính là một bệnh kế phát, chỉ phát thành triệu chứng khi sức đề kháng của cơ thể giảm sút do mắc các bệnh virut, ký sinh trùng, các yếu tố dinh dưỡng và môi trường chăn nuôi Ngoài ra, tiêm phòng các
loại vacxin giảm độc cũng dễ làm trỗi dậy bệnh Mycoplasmosis
* Sự truyền lây
Sự lây nhiễm MG rất dễ dàng từ con này sang con khác thông qua tiếp xúc trực tiếp hoặc gián tiếp Khi MG khu trú ở đường hô hấp trên, một lượng lớn mầm bệnh được giải phóng ra môi trường xung quanh bằng sự xuất tiết của dịch rỉ mũi, qua hô hấp, ho Sự truyền lây phụ thuộc vào kích thước của vùng khu trú mầm bệnh, số lượng cá thể mẫn cảm và khoảng cách giữa chúng Khi con vật bị nhiễm mầm bệnh này thì nó bị coi là mang khuẩn suốt đời vì mầm bệnh có khả năng thay đổi hình thức của cấu trúc kháng nguyên
bề mặt một cách rất tinh vi, nhờ vậy nó có thể tạo ra sự thay đổi liên tục về sự biểu hiện của kháng nguyên bề mặt và tránh được sự tấn công của hệ thống miễn dịch của vật chủ Sự mang bệnh lâu như vậy cho nên một đàn gà bị nhiễm bệnh thì đó là nguồn bệnh cho các đàn gà khác trong quá trình nhiễm bệnh mới Đây là một điều đáng lưu ý trong quá trình tạo giống khi các dòng khác được đưa vào lai ghép Những đàn gà bị nhiễm bệnh mà phải đối đầu với các tác động bất lợi khác nữa như nồng độ amoniac ở ngoài môi trường cao,
Trang 18thời tiết thay đổi đột ngột, các mầm bệnh khác, thì có thể làm tăng bài tiết mầm bệnh MG (Hội bác sỹ thú y, 2008) [32]
Các yếu tố ngoại cảnh bất lợi cho sự sinh trưởng và phát triển của gà như: thời tiết thay đổi đột ngột, thức ăn không đảm bảo chất lượng, gà bị vận chuyển xa, chuồng trại kém vệ sinh, mật độ nuôi nhốt cao, ẩm độ cao, chuồng nuôi không thông thoáng, nồng độ các chất thải cao, sẽ làm bệnh phát ra nhanh và rộng, gây nhiều thiệt hại về kinh tế (Phạm Sỹ Lăng và cs, 1999) [6]
Nguyễn Xuân Bình và cs, (2004) [1] cho biết: Khi gà con trưởng thành thì con đường xâm nhập của mầm bệnh chủ yếu qua không khí vào đường hô hấp Từ đó các vi khuẩn khác lây nhiễm kế phát qua vết thương làm cho bệnh phát ra trầm trọng với nhiều triệu chứng và bệnh tích khác nhau gây khó khăn cho chẩn đoán
Trần Thị Hạnh và cs, (2004) [3] CRD nếu chỉ có một mình loại
Mycoplasma gây bệnh thì nhẹ nhưng nếu kế phát thì nặng hơn hoặc bệnh phát
ra trong điều kiện mới tiêm phòng các bệnh khác hay môi trường ẩm thấp, dơ bẩn, khí NH3 trong chuồng nuôi quá cao thì bệnh sẽ phát nặng hơn Đặc biệt nếu ghép 3 bệnh: viêm thanh khí quản truyền nhiễm (do viurs), viêm phế quản truyền nhiễm (do virus), bệnh cúm (do virus + vi khuẩn Haemophylus) thì bệnh càng kéo dài trầm trọng và không chữa trị được
Thời gian tồn tại của MG ở ngoài cơ thể vật chủ thì khác nhau từ 1 -
14 ngày tùy thuộc vào nhiệt độ của vật mà nó bám vào Vì vậy việc vệ sinh quần áo, đồ dùng, dụng cụ chăn nuôi mà kém thì đó cũng là một con đường truyền lây của bệnh Thời gian tồn tại của bệnh được quan sát ở lòng trắng trứng là 3 tuần ở 50C, 4 ngày ở tủ ấp, 6 ngày ở nhiệt độ phòng; ở lòng đỏ mầm bệnh tồn tại 18 tuần ở 370C, 6 tuần ở 200C Như vậy những quả trứng dập, vỡ trong máy ấp có thể là nguồn lây lan bệnh Điều đáng chú ý là mầm bệnh có
Trang 19thể tồn tại trong tóc, da của người từ 1 - 2 ngày, vì vậy người làm việc trong đàn gà bệnh có thể là yếu tố trung gian truyền bệnh
Một con đường truyền lây khác được mô tả kỹ càng đó là sự truyền lây qua trứng Ở giai đoạn cấp tính, MG dễ dàng tiến đến buồng trứng, tử cung và định cư ở đó, những con gà mái này sẽ đẻ ra trứng nhiễm bệnh Mầm bệnh xâm nhập vào phôi và gây chết phôi, chúng có thể xâm nhập ngay trong lúc mới nở do mầm bệnh có sẵn ở ngoài vỏ trứng vào gà con qua đường hô hấp
MG không những được phân lập từ phôi mà còn phân lập được từ lòng đỏ của trứng tươi, một phần phôi nhiễm bệnh bị chết trong quá trình ấp, một phần nở
ra sẽ là nguồn lây nhiễm bệnh cho đàn gà Trong một số trường hợp cụ thể, sự lây nhiễm có thể thực hiện thông qua việc sử dụng vaccine virus mà không được làm từ trứng sạch bệnh MG còn được tìm thấy trong tinh dịch của gà trống bị bệnh Vì vậy sự truyền lây có thể thực hiện qua con đường thụ tinh nhân tạo và từ gà trống truyền cho gà mái
* Dịch tễ học
Trong thiên nhiên gà, gà tây, gà lôi dễ mắc bệnh Bồ câu, vịt, ngan, ngỗng ít cảm thụ Gà dò và gà mái đẻ dễ mắc bệnh hơn gà con, gà nuôi theo phương thức tập trung công nghiệp dễ mắc bệnh hơn gà nuôi chăn thả vườn
Bệnh Mycoplasmosis liên quan rất chặt chẽ với sức đề kháng của cơ thể, khi
các điều kiện thức ăn, chuồng trại, vận chuyển, thời tiết khí hậu thay đổi làm phát sinh triệu chứng lâm sàng của bệnh Ở gà 2 - 12 tuần tuổi và gà sắp
đẻ dễ nhiễm bệnh này hơn các lứa tuổi khác, thường hay phát bệnh vào vụ đông khi có mưa phùn, gió mùa, độ ẩm không khí cao
* Cơ chế sinh bệnh
Sau khi xâm nhập vào cơ thể, Mycoplasma ký sinh tại đường hô hấp,
gây viêm nhẹ niêm mạc mũi, đường hô hấp và các xoang quanh mũi, thành túi hơi, niêm mạc viêm, bị phù nhẹ, lớp dưới bị thâm nhiễm các tế bào lympho và
Trang 20histoxit tạo nên các hạt nỏ lấm tấm Nếu sức đề kháng của cơ thể cao, bệnh tích này sẽ nhẹ, có khi không nhìn thấy Nếu sức đề kháng của cơ thể thấp, bệnh tích sẽ nặng lên và lan tràn Bệnh càng thể hiện rõ khi niêm mạc đường
hô hấp bị viêm thanh dịch có fibrin Trường hợp này gọi là thể Mycoplasmosis
tạp nhiễm Con vật gầy yếu, kiệt sức dần và chết
gà ta thấy gà thở rất mạnh nhưng quan sát kỹ gà rất khó thở, hay lắc đầu, kèm theo tiếng thở phát ra là tiếng khẹc khẹc ướt
Theo dõi khi gà ngủ thấy gà thở khò khè, còn khi gà ăn uống thỉnh thoảng thấy gà vẩy mỏ khẹt khẹt, phân gà hơi xanh hoặc hơi trắng (Bùi Đức Lũng và cs, 2000) [8]
Theo Lê Hồng Mận, (2007) [11]: gà con và gà dò bị bệnh viêm kết mạc, chảy nước mắt, ít dịch thanh dịch ở lỗ mũi và mi mắt Nhiều con mí mắt sưng tấy và dính vào nhau Thở khò khè có tiếng ran khí quản dễ phát hiện vào buổi đêm yên tĩnh Gà xù lông, thở khó bỏ ăn, bệnh kéo dài làm gà gầy nhanh và chết
Một số con bị ỉa chảy, sưng ở vùng ngoài hốc mắt Những triệu chứng trên biểu hiện ở cường độ khác nhau và kéo dài hàng tháng, bệnh về mùa hè diễn biến nhẹ hơn mùa đông Tỷ lệ chết của gà con từ 10 - 25 % và tập trung vào tuần đầu tiên sau khi xuất hiện bệnh Gia cầm mắc bệnh giảm sản phẩm
từ 10 - 40 %, gà gầy sút và bệnh chuyển sang thể mãn tính
Trang 21Riêng ở gà đẻ: những ngày đầu thấy giảm ăn, sút cân, giảm đẻ trứng Sau đó chẩy nước mắt, nước mũi, hắt hơi, sưng mặt, viêm kết mạc mắt, thở
khò khè, trứng đổi màu, xù xì Nếu ghép với E coli thì trứng méo mó và vỏ
trứng có vệt đỏ lấm tấm (Lê Văn Năm và cs, 1996) [12]
Bệnh có tính chất lây lan chậm, các dấu hiệu đầu tiên ở gà xuất hiện từ
4 - 17 ngày sau khi lây bệnh tuỳ thuộc vào sức đề kháng của cơ thể gà Bệnh kéo dài 20 - 70 ngày hoặc lâu hơn, tỷ lệ chết từ 10 - 40 %
Gia cầm bệnh thường hắt hơi, ho khan, lắc đầu, vảy mỏ và há mồm ra
để thở Niêm mạc mắt đỏ, xung huyết Nước mắt quánh đặc dần sau biến thành fibrin tạo thành hạt lạc nổi lồi lên giữa tròng mắt Đôi khi viêm mủ toàn mắt, lòng mắt bị đặc lại, gà bệnh bị mù
Sau khi các xoang vùng đầu bị viêm thì các niêm mạc hầu, khí quản và các túi hơi liên thông với nó cũng bị viêm Gà bệnh ngày càng khó thở, mào yếm tím bầm, kiệt sức rồi chết Nhiều trường hợp gà bệnh chết sớm do nghẹt thở
Ở đàn gà đẻ trứng mắc bệnh, làm giảm sản lượng trứng Trứng bệnh đem
ấp tỷ lệ chết phôi tăng, số còn lại nở thành gà con bệnh Ngoài ra, gà tây bệnh còn có viêm khớp, viêm bao hoạt dịch Một số gà bệnh có triệu chứng thần kinh
Lê Văn Năm (2003) [14] cho biết CRD thường ghép với một số bệnh
Từ đó triệu chứng cũng thể hiện rất phức tạp
- Bệnh CRD ghép với viêm phế quản truyền nhiễm
Đối với gà nhỏ: lúc đầu gà hay lắc đầu, vẩy mỏ hoặc cạo mỏ xuống sàn, chảy nước mắt, nước mũi, lúc đầu loãng và trong suốt sau trở nên đặc tạo thành rỉ mắt Sau đó gà thở khò khè lạo xạo, miệng bán mở, gà ngẩng cao cổ
há mồm thở một cách khó khăn Khi bắt gà lên nghe tiếng lạo xạo khò khè râm ran ở đoạn khí quản, phế quản và phổi Xung quanh mi mắt bị sưng, thậm chí sưng phù rất to Sau đó bệnh tiến triển nhanh, lan ra toàn đàn, có một số
Trang 22trường hợp tỷ lệ chết chỉ khoảng 2 - 5 %, nhưng nhiều trường hợp gà chết tới
20 - 30 %, thậm chí 40 % Nhưng sau vài tuần bệnh tự nhiên khỏi
Đối với gà lớn: các triệu chứng điển hình vẫn là sự ho hen phát ra ban đầu, sau đó gà giảm đẻ đột ngột, giảm đẻ tới 70 % so với lúc chưa phát bệnh
và kéo dài hàng tháng Trứng xù xì, dễ vỡ, biến màu…
- CRD ghép với sổ mũi truyền nhiễm
Đối với gà con và gà dò:
+ Lúc đầu lác đác có một số con chảy nước mũi, nước mắt liên tục kèm theo hay lắc đầu, vảy mỏ, gà há mỏ ra thở khò khè
+ Bỗng dưng bệnh lây lan rất nhanh ra toàn đàn, nhiều con mắt sưng húp, đầu bị sưng lệch, nhiều con sưng rất to Khi bệnh chuyển sang mãn tính
ta thấy nhiều gà bị thối mắt (mắt bị viêm, casein hóa và trở nên mù)
+ Nước mắt, nước mũi sau 2 - 3 ngày trở nên đặc như mủ, có mùi hôi thối + Do tịt mũi, gà luôn thở bằng miệng nên lưỡi gà thường thâm xịt, mùi hơi thở của gà rất hôi
+ Gà gầy, xù lông, kém ăn và chết
Đối với gà mái đẻ:
+ Bệnh xảy ra với các triệu chứng điển hình của CRD kèm theo viêm thối mắt, nhiều gà bị mù mắt, đầu sưng
+ Tỷ lệ đẻ cũng bị giảm do gà phát dục không đều
- CRD bị bội nhiễm với E coli
Các triệu chứng của CRD luôn nổi bật, chảy nước mắt, nước mũi, mi mắt
bị viêm và bị sưng, đầu bị sưng lệch, mào tái nhợt, gà thường hay tìm chỗ ấm để đứng hoặc nằm thở, hay vẩy đầu, cạo mỏ xuống nền chuồng, tiếng thở khò khè, cào mỏ khoèn khoẹt râm ran nghe rõ từ xa trước khi bước vào chuồng
Khi gà bị nhiễm với E coli, gà sốt nên uống nhiều nước, ỉa chảy phân
loãng vàng trắng xanh vàng trắng Gà thở khó hơn, khi bệnh nặng luôn kèm theo
Trang 23tiếng rít và chết nhanh hơn, những gà bệnh tỷ lệ đẻ giảm sút mạnh từ 20 - 40 %
- CRD ghép với bạch lỵ ở gà con
+ Gà lớn không đều (con to, con nhỏ, con béo, con gầy)
+ Gà thở bằng miệng, sưng và viêm mí mắt, chảy nước mắt nước mũi, gà
bị ngạt nên thở dồn dập, hai cánh sã xuống để thở cho dễ, uống nhiều nước
+ Gà ỉa chảy phân trắng hoặc trắng xanh, một số gà đi ngoài khó vì phân bịt kín hậu môn, chướng hơi, tích nước xoang bụng, đôi con bị viêm khớp
Theo Trần Văn Hạnh và cs, (2004) [3] cho biết: trong giai đoạn cấp tính mổ ra thấy xoang mũi và khí quản tích đầy dịch viêm keo nhầy màu trắng hơi vàng Màng túi khí đục nhẹ và tăng sinh phía bên trong Trong giai đoạn mãn tính, màng túi khí dầy và đục trắng phồng như bã đậu nhão Nếu kế phát bệnh khác thì bề mặt gan, màng ngoài bao tim và màng bao xung quanh phúc mạc tăng sinh trắng đục hoặc viêm dính vào tim, gan, ruột
Võ Bá Thọ (1996) [18] cho biết: năm 1952 Van Roekel đã thống kê kết quả về bệnh tích ở những bộ phận khác nhau với tỷ lệ phần trăm trên tổng số
Trang 24các ca bệnh được mổ khám như sau:
* Phòng bệnh
Hội chăn nuôi Việt Nam (2002) [25] đã đưa ra biện pháp phòng bệnh
có hiệu quả như sau:
- Ăn uống đảm bảo số lượng, chất lượng và vệ sinh tốt Cho uống bổ sung vitamin nhóm B định kỳ 2 lần/ tháng
- Chuồng trại sạch sẽ, thoáng khí, khô ráo thoáng mát vào mùa hè, ấm
áp vào mùa đông, tránh gió lùa đặc biệt với gà dưới 5 tuần tuổi
Trang 25- Kiểm tra hàng ngày phát hiện gà bệnh, có biện pháp xử lý
- Khử trùng vỏ trứng tại nhà kho, trạm ấp
- Không nhập gà, trứng giống từ đàn bố mẹ mắc CRD
- Kiểm tra kháng thể ở huyết thanh của đàn gà bố mẹ
Lê Hồng Mận và cs, (2007) [11] cho biết có thể dùng vacxin phòng bệnh như: Vacxin Nobi - vac MG (hãng Intervet - Hà Lan) tiêm dưới da cho gà con liều 0,5 ml/con vào 15 - 18 ngày tuổi
Vacxin Mycovac - L (hãng Intervet - Hà Lan) dùng dưới dạng phun sương hoặc nhỏ mũi cho gà từ 6 tuần tuổi
Hoặc dùng thuốc phòng bệnh bằng cách cho uống hoặc trộn vào thức
ăn cho gà: Tylosin 98% pha 0,5g/1lít nước uống dùng vào các giai đoạn: 1 - 3; 9 - 12; 18 - 21; 27 - 30; 38 - 40; 50 - 53; 60 - 63 ngày tuổi CRD - STOP - VINA pha 1gr/lít nước/ngày, vào các giai đoạn: 1 - 3; 9 - 12; 21 - 24; 38 - 40;
+ Thuốc điều trị: Tylosin (Lọ 10ml,100ml,10%)
+ Cách dùng: tiêm bắp thịt, pha với nước cất hoặc cho uống, 1g/2lít nước, cho uống liên tục 3 - 5 ngày
+ Thuốc trợ sức: cho uống hoặc trộn với thức ăn các loại Vitamin B1,
Trang 26+ Cách dùng: tiêm dưới da hoặc dưới mào với liều 1mg/5kg TT hoặc cho uống thì dùng loại 20g/gói, pha 20g/16lít nước, cho uống toàn đàn liên tục 3 - 5 ngày
+ Thuốc trợ sức và hộ lý như phác đồ 1
- Phác đồ 3:
+ Thuốc điều trị: Gentatylo: 100mg/lọ
+ Cách dùng: tiêm dưới da hoặc tiêm bắp theo liều 1mg/kg TT, tiêm
3 - 5 ngày Genta - Tylo - 5 hoặc 20ml/lọ tiêm bắp hoặc tiêm dưới da theo liều 1 - 1,5 ml/10kg TT
độ 128 - 1320C, dung dịch trong nước có pH = 5,5 - 7,5 Bảo quản ở 250
C trong 3 tháng Khi ở dạng bazơ, tylosin tan trong các dung môi hữu cơ: methanol, ethanol, acetone, cloroform và ete mà ít hòa tan trong nước Thuốc
có nồng độ 5 mg/ml ở 250C Khi ở dạng muối tan rất nhiều trong nước, có thể đạt nồng độ 600 mg/ml
Theo Nguyễn Đức Lưu và cs, (2000) [10]: Tylosin tác dụng chủ yếu với vi khuẩn Gram(+) và chỉ một số vi khuẩn Gram(-), trùng nguyên sinh và
siêu vi khuẩn cỡ lớn: Clostridium spp, Erysipelothrix, Pasteurella, Spirochetta, Vibrio, Mycoplasma, Leptospira, Brucella, Thuốc bền vững ở
nhiệt độ cao, nhưng dễ bị phá hủy dưới tác dụng trực tiếp ánh sáng mặt trời
Sau khi tiêm hoặc uống, thuốc được hấp thu tốt và đạt được nồng độ kìm khuẩn cao trong máu và trong các mô, đồng thời phân tán tốt vào các mô,
Trang 27các cơ quan cũng như các dịch thể, đặc biệt là các mô đường hô hấp Thuốc còn thấm qua các màng sinh học như màng não, trong mắt, qua nhau thai và các tuyến sinh dục Thuốc có tác dụng kéo dài, giữ được nồng độ chữa bệnh đến 24 giờ Thuốc được đào thải khỏi cơ thể qua nước tiểu, mật, sữa, trứng, thậm chí cả tinh dịch
- Ứng dụng:
Nguyễn Đức Lưu và cs, (2000) [10] cho biết: Tylosin điều trị các bệnh đường hô hấp ở gia cầm, trâu, bò, ngựa, dê, lợn, chó, mèo, thỏ,
+ Gia cầm: đặc trị các bệnh CRD, CCRD; các bệnh viêm nhiễm đường
hô hấp kết hợp viêm ruột ỉa chảy; bệnh viêm màng hoạt dịch, sưng khớp, bệnh khẹc ở vịt
+ Lợn: viêm phổi - phế, bệnh suyễn do Mycoplasmahyopneumoniae, bệnh lỵ do Vibrio và bệnh hồng lỵ do Treponema hyodysenteriae
+ Trâu, bò, dê: viêm phổi - phế, viêm dạ con; bệnh leptospirosis; bệnh
lỵ ở bê, nghé; các bệnh do Mycoplasma và các vi khuẩn Gram(+) gây ra
+ Chó, mèo: trị viêm tai, tử cung, bệnh viêm da, bệnh leptospirosis
- Liều lượng và cách sử dụng: Tylosin được dùng dưới 2 dạng: tiêm và cho uống Theo Nguyễn Đức Lưu và cs, (2000) [10]:
+ Pha thuốc vào nước uống
Gia cầm: Liều phòng: 0,5 - 0,7g/ lít nước uống Liều chữa: 1g/1lít nước uống, dùng liên tục từ 3 - 5 ngày
Lợn: 0,3 - 0,4 g/ 1 - 2 lít nước uống, dùng 3 - 5 ngày
Trang 28- Tồn dư: Nguyễn Quang Tính và cs, (2008) [19] cho biết: Tylosin không sử dụng cho gia cầm đẻ trứng Gà thịt sau 3 ngày kể từ khi ngưng tiêm thuốc và 24 giờ sau khi uống mới được giết thịt Với gà tây không được giết
mổ trước ngày ngừng sử dụng thuốc Sữa bò không được dùng làm thức ăn trong thời gian điều trị và 96 giờ kể từ khi ngừng sử dụng thuốc Lợn ngừng
sử dụng thuốc 21 ngày mới được giết thịt
2.1.4.2 Tetracyclin
- Tính chất: Thuốc ở dạng kết tinh, bột màu vàng nhạt hay vàng nâu non Tetracyclin là chất lưỡng tính Dạng muối acid dễ tan trong nước, chế thành thuốc tiêm được, pH thấp Dạng base khó tan trong nước, không tiêm được
Tetracyclin là thuốc ức chế vi khuẩn ở nồng độ thấp và giết khuẩn ở nồng độ cao Thuốc có hoạt phổ kháng sinh rất rộng, tác dụng với cả vi khuẩn
Gr (+) và Gr (-),…nhưng vi khuẩn Gr (+) mẫn cảm với thuốc nhiều hơn
Nếu uống, thuốc giữ được nồng độ tác dụng trong máu từ 2 - 4 giờ Nếu tiêm, thuốc được hấp thu gần như hoàn toàn, nhanh đạt nồng độ hữu hiệu trong máu và được phân bố trong dịch tổ chức đều hơn, rộng hơn so với uống
Thuốc được thải trừ chủ yếu qua nước tiểu, qua phân
- Ứng dụng: Do có hoạt phổ kháng sinh rộng nên thuốc dùng rộng rãi để chữa viêm ruột, các bệnh về đường hô hấp, sinh dục, tiết niệu,…
- Cách dùng: Gia cầm pha nước uống, liều phòng 1 g/lít nước uống, liều điều trị 2 g/lít nước uống, dùng liên tục 3 - 5 ngày
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Nhìn chung chăn nuôi gia cầm ở nước ta đang phát triển khá nhanh và vững chắc cả về quy mô, sản lượng, chất lượng và hiệu quả Khi chăn nuôi gà phát triển mạnh thì dịch bệnh thường xuyên xảy ra cũng là một vấn đề lớn cần
Trang 29phải giải quyết vì nó có xu hướng lan rộng, gây thiệt hại không nhỏ cho ngành chăn nuôi và làm giảm hiệu quả chăn nuôi
Theo Phạm Sỹ Lăng và cs, (2003) [9] bệnh CRD là một bệnh có khả năng lây lan rất lớn Ở Mỹ, bệnh được mô tả lần đầu tiên vào năm 1943 do J.P.Delaplane và H.O.Stuart với tên là bệnh đường hô hấp mãn tính Ở Việt Nam, bệnh đường hô hấp mãn tính do MG gây ra đã được phát hiện từ năm
1972 do các tác giả như Đào Trọng Đạt và cs, (1972 - 1973) Tác giả đã cho biết bệnh CRD có ở tất cả các giống gà nuôi công nghiệp với tỷ lệ mắc bệnh khá cao Tương tự như vậy những nghiên cứu sau đó của Phan Lục và cs (1990 - 1994) đã đưa ra kết luận rằng tất cả các giống gà nuôi tại các Xí nghiệp gà ở phía Bắc đều bị nhiễm MG ở mức độ cao, thấp khác nhau, dao động từ 0,82 - 11,97 % trong đó cao nhất là giống Plymouth (11,97 %) và thấp nhất là giống Leghorn (0,82 %) Tác giả Nguyễn Tăng Huy trong nghiên cứu về tình hình nhiễm bệnh CRD trên đàn gà nuôi công nghiệp tại các tỉnh Tây Nam Bộ (1996) cũng đưa ra một kết quả là tất cả 8 trại gà nuôi công nghiệp tại các tỉnh Cần Thơ, Vĩnh Long, An Giang đã kiểm tra đều nhiễm M
gallisepticum, tỷ lệ mắc bệnh dao động từ 4,9 - 6,2 %
Theo Nguyễn Hữu Vũ và cs, (2001) [23] tác nhân gây bệnh là MG Tỷ
lệ nhiễm bệnh ở miền Bắc Việt Nam là 51,6 % (gà thương phẩm) còn gà giống là 10 % Tỷ lệ đẻ trứng giảm 20 - 30 % khi gà mắc bệnh
Nguyễn Quang Tuyên và cs, (1993) [21] cho biết: Bệnh do MG gây ra thể hiện bằng triệu chứng chảy nước mũi, lúc đầu trong nhớt hơi hồng, sau đặc trắng tựa như mủ, từng lúc mũi bị tắc, mỏ quặp vào cánh, sưng dưới xoang mũi, sưng hầu ở phía trước và sưng đầu, gà đẻ ít trứng, trứng mềm, mắt
có khi chảy nước đặc thành dử, có bệnh tích viêm niêm mạc mũi, khí quản ứ máu ở phần trên, phế quản có bọt trắng tựa như có mủ quánh, thỉnh thoảng có