1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị

65 895 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 65
Dung lượng 1,09 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Bệnh giun đũa bê, nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi,

Trang 1

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp Khoa: Chăn nuôi - Thú y

Khoá học: 2011 - 2015

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp Lớp: K43 - SPKTNN

Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khoá học: 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn: ThS Nguyễn Hữu Hòa

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại huyện Đồng Hỷ, Tỉnh thái nguyên, em đã nhận được sự quan tâm, giúp đỡ tận tình của các thầy giáo, cô giáo để em hoàn thành khóa luận tốt nghiệp

Nhân dịp này, em xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo em trong toàn khóa học

Đặc biệt, em xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến giáo viên hướng dẫn ThS Nguyễn Hữu Hòa và cô giáo TS Nguyễn Thị Ngân đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi điều kiện giúp đỡ em trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận

Em xin gửi lời cảm ơn tới tất cả các cán bộ tại trạm Thú y huyện Đồng

Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và bà con nông dân địa phương đã tận tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi cho em trong suốt quá trình thực tập

Qua đây, em xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè và những người thân đã động viên, giúp đỡ cho em trong suốt thời gian học

Cuối cùng, em xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy

và nghiên cứu khoa học

Em xin chân thành cảm ơn

Thái Nguyên, ngày tháng 6 năm 2015

Sinh viên

Triệu Văn Vĩnh

Trang 4

LỜI NÓI ĐẦU

Với phương châm “Học đi đôi với hành, lý thuyết gắn liền với thực tiễn sản xuất”, trong mục tiêu đào tạo của nhà trường, ngoài việc cung cấp kiến thức còn phải tạo cơ hội cho sinh viên rèn luyện kỹ năng và thái độ nghề nghiệp

Thực tập tốt nghiệp là giai đoạn cuối cùng trong toàn bộ chương trình đào tạo của tất cả các trường Đại học nói chung và Đại học Nông Lâm Thái Nguyên nói riêng Thực tập tốt nghiệp chiếm một vị trí hết sức quan trọng đối với mỗi sinh viên trước khi ra trường

Thực tập là thời gian giúp cho sinh viên củng cố và hệ thống lại toàn bộ kiến thức, rèn luyện tay nghề, học hỏi phương pháp quản lý và làm quen với công tác nghiên cứu khoa học để khi ra trường trở thành người cán bộ kỹ thuật

có trình độ chuyên môn vững vàng, quản lý giỏi, nắm được các phương pháp tổ chức và tiến hành nghiên cứu khoa học, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật vào sản xuất, góp phần thúc đẩy sự phát triển của nền kinh tế đất nước

Xuất phát từ mục tiêu đó, theo sự phân công của nhà trường, của ban chủ nhiệm Khoa Chăn nuôi Thú y - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, sự đồng ý của thầy giáo hướng dẫn ThS Nguyễn Hữu Hòa và sự tiếp nhận của

cơ sở, em đã về thực tập tại Trạm Thú y huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên từ

ngày 02/03/2015 đến ngày 24/5/2015 và thực hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

Do lần đầu làm quen với công tác nghiên cứu khoa học và thực tiễn sản xuất, thời gian thực tập ngắn, trình độ chuyên môn còn hạn chế nên bản khóa luận này của em không tránh khỏi những thiếu sót Kính mong nhận được sự đóng góp ý kiến của các thầy cô giáo và bạn bè đồng nghiệp để đề tài của em được đầy đủ và hoàn chỉnh hơn

Em xin chân thành cảm ơn!

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang

Bảng 4.1 Kết quả tiêm phòng vacxin phòng bệnh cho vật nuôi 34

Bảng 4.2 Tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé ở ba xã Khe Mo, Văn Hán, Linh Sơn thuộc huyện Đồng Hỷ 35

Bảng 4.3 Tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tuổi 36

Bảng 4.4 Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi 38 Bảng 4.5 Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại và khu vực xung quanh chuồng nuôi trâu, bò 40

Bảng 4.6 Sự phát tán trứng giun đũa bê, nghé ở khu vực bãi chăn nuôi trâu, bò 41

Bảng 4.7 Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa 43

Bảng 4.8 Kết quả theo dõi ủ phân và tác dụng diệt trứng giun đũa 44

Bảng 4.9 Hiệu lực thuốc điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 45

Trang 6

DANH MỤC CÁC HÌNH

Trang

H̀ình 2.1 Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum 8

Hình 4.1 Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tuổi bê, nghé 37Hình 4.2 Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi 39

Trang 7

DANH MỤC CÁC CỤM TỪ VIẾT TẮT Cs: cộng sự

Nxb : nhà xuất bản

TT : thể trọng

tr : trang g: gam

Trang 8

MỤC LỤC

Trang

PHẦN 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Đặt vấn đề 1

1.2 Mục đích nghiên cứu 2

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn 2

1.3.1 Ý nghĩa khoa học 2

1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 4

2.1 Cơ sở khoa học của đề tài 4

2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé 4

2.1.2 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé 11

2.1.3 Đặc điểm của bệnh do giun đũa Neoascaris vitulorum gây ra ở bê, nghé 14

2.1.4 Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum bê, nghé 17

2.1.5 Biện pháp phòng trị bệnh 18

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 21

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 21

2.2.2 Tình hình nghiên cứu ở nước ngoài 23

PHẦN 3 NỘI DUNG, VẬT LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 27

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu: 27

3.1.2 Vật liệu nghiên cứu: 27

3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27

3.3 Nội dung nghiên cứu 27

3.3.1 Nghiên cứu tình hình nhiễm giun đũa ở bê, nghé dưới 3 tháng tuổi ở 3 xã của huyện Đồng Hỷ 27

Trang 9

3.3.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê, nghé và khả năng

tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở ngoại cảnh 28

3.3.3 Nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 28

3.3.4 Nghiên cứu biện pháp phòng, trị giun đũa cho bê, nghé 28

3.4 Phương pháp nghiên cứu 28

3.4.1 Nghiên cứu một số đặc điểm dịch tễ bệnh giun đũa bê, nghé ở huyện Đồng Hỷ 28

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu đặc điểm lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé 31 3.4.3 Nghiên cứu đề xuất phương pháp phòng, trị bệnh giun đũa cho bê, nghé 31

3.5 Phương pháp xử lý số liệu 32

PHẦN 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 34

4.1 Công tác thú y tại huyện Đồng Hỷ 34

4.2 Nghiên cứu một số đặc điểm địch tế bệnh giun đũa bê, nghé ở huyện đồng hỷ 35

4.2.1 Khảo sát tình hình nhiễm giun đũa bê, nghé 35

4.2.2 Nghiên cứu sự phát triển của trứng giun đũa bê nghé và sự tồn tại của trứng có sức gây bệnh ở điều kiện ngoại cảnh 40

4.3 Nghiên cứu những biểu hiện bệnh lý và lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa ở một số xã của huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên 43 4.4 Nghiên cứu đề xuất biện pháp phòng trị bênh cho bê, nghé 44

4.4.1 Phương pháp ủ phân nhiệt sinh học theo phương pháp truyền thống có khả năng sinh nhiệt cao để diệt trứng giun đũa bê, nghé 44

4.4.2 Nghiên cứu lựa chọn thuốc điều trị bệnh giun đũa cho bê, nghé và hiệu lực của thuốc 45

4.5 Đề xuất quy trình phòng, trị bệnh giun đũa ở bê, nghé 46

4.5.1 Tẩy giun đũa cho bê, nghé 47

Trang 10

4.5.2 Vệ sinh chuồng trại 47

4.5.3 Xử lý phân bê, nghé để diệt trứng giun đũa có trong phân 48

4.5.4 Cải tạo đồng cỏ, bãi chăn thả 48

4.5.5 Tăng cường chăm sóc nuôi dưỡng cho bê, nghé 48

PHẦN 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 49

5.1 Kết luận 49

5.2 Đề nghị 49

TÀI LIỆU THAM KHẢO 51

I Tài liệu tiếng việt 51

II Tài liệu tiếng anh 53

Trang 11

PHẦN 1

MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề

Chăn nuôi trâu, bò ở nước ta trước đây chủ yếu để cung cấp sức kéo cho nông nghiệp và lâm nghiệp Trong những năm gần đây, ngành chăn nuôi của nước ta phát triển khá mạnh, góp phần ổn định đời sống nhân dân và sự phát triển kinh tế - xã hội Ngành chăn nuôi trâu bò cung cấp cho con người hai loại thực phẩm có giá trị cao và hoàn chỉnh về dinh dưỡng là thịt và sữa Thịt trâu, bò được xếp vào loại thịt đỏ có giá trị dinh dưỡng cao, hàng năm thế giới tiêu thụ khoảng 40 - 50 triệu tấn thịt, giá 1kg thịt dao động từ 6- 7 USD/kg Sữa bò được xếp vào loại thực phẩm cao cấp vì đây là loại thực phẩm hoàn chỉnh về dinh dưỡng và giúp tiêu hóa tốt Trâu bò là những gia súc nhai lại có khả năng biến thức ăn rẻ tiền như cây cỏ, rơm rạ thành hàng trăm thành phần khác nhau của thịt, sữa Tuy nhiên, các bệnh xảy ra ở lứa tuổi bê, nghé đã gây ảnh hưởng rất lớn đến công tác phát triển chăn nuôi trâu bò,

trong đó phải kể đến bệnh giun đũa bê, nghé

Bệnh giun đũa bê, nghé nói riêng và bệnh ký sinh trùng nói chung không gây thành ổ dịch lớn như các bệnh do vi khuẩn và virus, nhưng nó thường kéo dài âm ỉ, làm giảm năng suất chăn nuôi, ảnh hưởng đến khả năng sinh trưởng và phát triển của bê, nghé

Bệnh giun đũa là khá phổ biến ở bê nghé nước ta Bệnh thường phát vào vụ đông - xuân, ở bê nghé dưới 3 tháng tuổi Bê nghé ở miền núi nhiễm giun đũa cao hơn vùng trung du và đồng bằng

Theo Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8], Phan Địch Lân và cs

(2005) [1010], bệnh do giun Neoascaris vitulorum gây ra, chúng ký sinh

trong ruột non của bê, nghé và gây ra các tác hại như: gây tổn thương ruột non, một số cơ quan (gan, phổi ) do ấu trùng di hành, giun lấy chất dinh

Trang 12

dưỡng làm cho bê, nghé gầy còm, chậm lớn Ngoài ra, giun đũa còn tiết độc tố làm cho bê, nghé bị trúng độc, sốt cao, ỉa chảy, gầy sút và dễ chết nếu không được điều trị kịp thời

Đồng Hỷ là huyện miền núi, bãi chăn thả rộng, có điều kiện tự nhiên thuận lợi để phát triển chăn nuôi trâu bò thịt Tuy nhiên, việc nghiên cứu về bệnh giun đũa bê, nghé và biện pháp phòng trị vẫn chưa được chú ý Vì vậy,

bê, nghé ở các địa phương của huyện còn bị mắc bệnh, gây thiệt hại kinh tế đáng kể Mặt khác, điều kiện tự nhiên, thời tiết khí hậu, phương thức chăn thả, điều kiện chăn nuôi các tỉnh miền núi nói chung và huyện Đồng Hỷ nói riêng có nhiều thay đổi Điều đó có thể ảnh hưởng và làm thay đổi sự sinh tồn của ký sinh trùng, từ đó ảnh hưởng đến đặc điểm dịch tễ của bệnh

Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết của thực tiễn chăn nuôi trâu bò ở huyện Đồng Hỷ, tỉnh Thái Nguyên và những vấn đề đề cập ở trên, chúng tôi thực

hiện đề tài: “Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ - tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị”

1.3 Ý nghĩa khoa học và ý nghĩa thực tiễn

1.3.1 Ý nghĩa khoa học

Kết quả của đề tài là những thông tin khoa học về đặc điểm dịch tễ, bệnh lý, lâm sàng và biện pháp phòng chống bệnh giun đũa bê, nghé; đồng thời có thêm một số đóng góp mới cho khoa học, góp phần phát triển chăn nuôi trâu bò

Trang 14

PHẦN 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học của đề tài

2.1.1 Đặc điểm sinh học của giun đũa ký sinh ở bê, nghé

2.1.1.1 Vị trí của giun đũa bê, nghé trong hệ thống phân loại động vật

Bệnh giun đũa do loài giun Neoascaris vitulorum, hay còn có tên gọi khác là Toxocara vitulorum thuộc họ Anikidae gây ra

Theo Phan Thế Việt và cs (1977) [28], giun đũa bê, nghé có vị trí trong

hệ thống phân loại động vật học như sau:

Ngành Nemathelminthes Schneider, 1873

Lớp Nematoda Rudolphi, 1808

Phân Lớp Rhabditia Pearse, 1942

Bộ Ascaridida Skrjabin et Schulz, 1940

Phân bộ Ascaridina Skrjabin, 1915

Họ Anisakidae Skrjabin et Karokhin, 1945

Giống Neoascaris Travassos, 1927

Loài Neoascaris vitulorum Goeze, 1782

2.1.1.2 Đặc điểm hình thái của Neoascaris vitulorum

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [22], giun đũa

Neoascaris vitulorum ký sinh ở bê nghé có kích thước: Giun đực ở nghé dài

13 - 15 cm, đường kính 0,3 cm; ở bê dài 14 - 16 cm Giun cái ở nghé dài 19 -

23 cm, đường kính 0,5 cm, trứng 0,07 - 0,075 x 80 - 90 mm; giun cái ở bê dài

20 - 26 cm, trứng 0,075 - 0,085 x 0,09 - 0,1 mm Vị trí âm hộ của giun cái là 1/8 phần trước thân

Theo Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6]; Nguyễn Thị Kim Lan và cs

(1999) [8], giun tròn Neoascaris vitulorum có thân màu vàng nhạt, đầu có ba

lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, thực quản dài 3 - 4,5 mm, chỗ nối

Trang 15

tiếp với ruột phình thành dạ dày nhỏ, vòng thần kinh và lỗ bài tiết ở ngang nhau phần đầu Giun đực không có cánh đuôi, dài 13 - 15 cm, rộng nhất 0,35

cm, đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon tròn, trước và sau hậu môn ở phía bụng có

20 - 27 gai, có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm Giun cái dài 19 - 23

cm, chỗ rộng nhất là 0,5 cm, âm hộ ở khoảng 1/8 trước thân, đuôi hình nón dài 0,37 - 0,42 mm, đuôi có nhiều gai bao phủ Trứng giun hơi tròn, có vỏ với nhiều lỗ lõm nhỏ, dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,075 mm

Theo Phan Lục (2005) [17] cho biết, giun tròn có kích thước to, dài khoảng 13-22 cm, thân màu vàng nhạt, đầu có 3 lá môi, rìa của những môi này có răng cưa, tròn đầu có 3 môi Thực quản hình ống dài, phần cuối có chỗ phình to ra gọi là dạ dầy giả Xung quanh lỗ hậu môn của giun đực có nhiều gai chồi, có hai gai giao hợp to bằng nhau Trứng có 4 lớp vỏ màu nhạt, lớp ngoài cùng lỗ chỗ như tổ ong, trứng dài 0,08 - 0,09 mm, rộng 0,07 - 0,75mm

Nguyễn Thị Lê và cs (1996) [16] đã mô tả cấu tạo của giun đũa: Giun đực dài 110 - 189 mm, rộng nhất 3,52 - 4,81mm; đuôi dài 0,21 - 0,46 mm, thon dần về cuối mút; thực quản dài 4,49 mm; gai sinh dục dài 0,57 - 1,19

mm, có màng mỏng bao bọc; ở phía trước hậu môn có 20 - 27 nhú xếp thành

2 hàng, sau hậu môn có 5 đôi nhú, đôi nhú thứ nhất kép Giun cái dài 151 - 200mm, rộng 4,0 - 5,7 mm; đuôi hình nón, phủ nhiều gai, dài 0,37 - 0,42mm; gần mút đuôi có 2 nhú bên; lỗ sinh dục nằm ở phần trước cơ thể, cách mút đầu khoảng 1/10 - 2/10 chiều dài cơ thể; trứng hình cầu kích thước 0,076

- 0,095 x 0,065 - 0,080 mm

Theo Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch lân (1996) [11] cho biết, con đực dài

13 - 15 cm, rộng nhất 0,35 cm Đuôi dài 0,21 - 0,46 mm thon dần, từ phần giữa đuôi trở xuống có hình ngón tay Trước và sau hậu môn ở phía bụng có nhiều gai từ 20 - 27 cái; ở mặt bụng có 2 hàng, 5 đôi gai sau hậu môn, trong

Trang 16

đó có một đôi gai giao hợp dài 0,95 - 1,20 mm, có một màng mỏng trong suốt dọc chiều dài

Con cái dài 19 - 23 cm, rộng nhất 0,5 cm, âm hộ khoảng 1/8 trước thân Đuôi hình nòn dài 0,37 - 0,42 mm Gần chóp đuôi có hai bên mặt bụng, đuôi giống con đực bao phủ nhiều gai

Trứng hơi tròn, màng ở ngoài có cấu tạo như tổ ong: kích thước 0,08 - 0,09 x 0,07 - 0,075 mm

Theo những nghiên cứu của Taira và Fujita (1991) [46] từ năm 1982 -

1988 về giun tròn Hai tác giả đã nghiên cứu 7 giun đũa đực và 21 giun đũa cái về hình thái học ở hai huyện Kyushu và Okinawa, Nhật Bản Tác giả cho biết: độ dài trung bình của giun đực là 15,64 cm (14-18cm) giun cái 25,75 cm (16,5 - 34cm), thân trắng đục và mềm Trứng giun dài 81,6 µm và rộng 71,8µm, bề mặt vỏ trứng trơn nhẵn, không nhăn nheo

Prokopic J và Sterba J (1989) [41] đã quan sát giun đũa Neoascaris

vitulorum trên kính hiển vi điện tử thấy cấu trúc bề mặt của giun gồm môi,

răng, gai nhỏ và phần đuôi; ở giun non răng hình nón và nhọn chúng dài hơn khi tuổi giun tăng lên

Theo mô tả của Urquhart G.M và cs (1996) [47], thì giun đũa

Neoascaris vitulorum là ký sinh trùng đường ruột lớn nhất của bê nghé, giun

dài có thể đến 30 cm, giun đũa có thân dày, màu hơi hồng khi còn sống, và lớp biểu bì khá trong suốt nên có thể nhìn thấy các cơ quan nội tạng Trứng giun đũa có một lớp vỏ dày và trong suốt

2.1.1.3 Đặc điểm vòng đời của Neoascaris vitulorum

Vòng đời của giun đũa bê, nghé là vòng đời trực tiếp không qua ký chủ trung gian Dactian (1934-1937) làm thí nghiệm: cho bê nuốt trứng giun đũa

có sức gây bệnh thì sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành và con non

ở cơ thể bê Ngoài ra, nếu cho bò mẹ trước khi đẻ 124 -192 ngày nuốt trứng

Trang 17

giun có sức gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân đã có trứng giun đũa Điều đó chứng tỏ giun đũa bê, nghé có thể qua máu truyền vào bào thai

Ở trâu mẹ thời kỳ chửa đầu nuốt trứng giun cảm nhiễm thì tất cả nghé đẻ ra đều bị nhiễm giun qua nhau thai Giun đũa bê, nghé nhiễm vào cơ thể bằng 2 con đường: nhiễm trực tiếp và nhiễm qua bào thai (Trích dẫn theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [19])

Theo Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [22], trứng giun thải

ra ngoài môi trường ở thời kỳ đầu là trứng không cảm nhiễm Sự phát triển của trứng đến giai đoạn cảm nhiễm kéo dài 12 - 13 ngày ở nhiệt độ 28 - 300C

và 17 - 19 ngày ở nhiệt độ 250C

Phạm Sỹ Lăng (2005) [15] cho biết, bệnh giun đũa bê, nghé lây nhiễm qua 2 con đường:

- Qua đường tiêu hóa do bê, nghé ăn phải trứng giun đũa cảm nhiễm

- Ấu trùng từ máu trâu bò mang thai xâm nhập vào bào thai

Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai

Giun đũa có chu kỳ phát triển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê, nghé đẻ trứng, trứng theo phân

ra ngoài, gặp điều kiện thuận lợi thì phát triển thành phôi thai trong trứng Trứng có phôi thai là trứng đã có sức gây bệnh Sau đó trứng này lại vào cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia Tuỳ theo điều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau

Trang 18

H̀ình 2.1 Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum

Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [28], trứng giun đũa ra ngoài thiên nhiên gặp nhiệt độ nóng ẩm thích hợp thì phát triển thành phôi thai: ở nhiệt độ 15 -

170C thì phải 38 ngày, ở nhiệt độ 19 - 220C thì phải sau 20 ngày Nếu để phân khô hoặc ủ theo phương pháp nhiệt sinh học thì trứng giun sẽ ngừng phát dục Dưới ánh nắng trực tiếp mùa hè thì một tuần, nếu sâu trong đất thì 12 - 15 ngày phôi sẽ chết, mùa đông phân khô thì sau một tháng phôi bị diệt

Vichitr Sukhapesna (1982) [49] đã nghiên cứu 10 trâu bò mẹ nhiễm Strongyloides papillosus và Neoascaris vitulorum cùng với bê nghé kể từ khi

bê nghé được sinh ra Tác giả cho rằng trâu bò me ̣ là nơi chứa mầm bệnh chính

Trang 19

làm cho bê nghé con bị nhiễm S papillosus và N vitulorum Bê, nghé đã bị nhiễm S papillosus qua bú sữa từ trâu bò mẹ và nhiễm N vitulorum qua nhau thai

Nghé đẻ ra sau 14 ngày đã có trứng giun trong phân (tức là có giun trưởng thành trong ruột) chứng tỏ nghé bị nhiễm bệnh từ trong bào thai

Giun đũa có chu kỳ phát tri ển trực tiếp, không qua ký chủ trung gian Giun trưởng thành sống trong ruột non của bê nghé đẻ trứng, trứng theo phân

ra ngoài , gặp đi ều kiện thuận lợi thì phát tri ển thành phôi thai trong trứng Trứng có phôi thai là tr ứng đã có s ức gây bê ̣nh Sau đó trứng này l ại vào cơ thể con vật theo thức ăn, nước uống Khi mới theo phân ra ngoài trứng không phân chia Tuỳ theo đi ều kiện nhiệt độ và độ ẩm bên ngoài, thời gian trứng phát triển thành trứng cảm nhiễm có khác nhau

Rufuerzo và Jemenez (1954) đã làm thí nghiệm về sức đề kháng của trứng giun đũa ở Philipin, thấy trứng có sức đề kháng kém dưới ảnh hưởng trực tiếp của ánh nắng mặt trời Trứng trong phân thì tồn tại lâu hơn và còn phụ thuộc vào khối lượng cục phân Nước nóng có tác dụng diệt phôi thai rất nhanh, nếu ở trong phân thì tác dụng hạn chế, trong nước nóng 90 - 1000C trứng đã phân lập ra bị hỏng sau 2 giây, phôi bị hủy, nhưng nếu ở trong phân thì chỉ ở lượt ngoài trứng bị hỏng

Trứng giun cảm nhiễm có sức đề kháng cao với một số hoá chất cũng như yếu tố vật lý Khi trứng ở trong phân thì trứng có sức đề kháng cao đối với một số chất sát trùng Đối với một số chất sát trùng thông thường như Lysol 2%, Zyphen 4 - 5%, sau 17 - 20 giây phôi bị huỷ hoàn toàn, nhưng ở trong phân thì phôi không bị diệt Phạm Chức (1980) [2] cho biết, Lysol 5% diệt trứng giun đũa trong một giờ; Axit phenic 5% diệt trứng trong thời gian

45 phút đến một giờ

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân ( 1999) [12] cho biết, con cái đẻ trứng

Trang 20

ở ruột non, theo phân ra ngoài, gặp nhiệt độ thích hợp trứng phát triển thành trứng có khả năng gây bệnh (nhiệt độ 15 - 17°C cần 38 ngày, 19 - 22°C cần

20 ngày, 25°C cần 10 - 12 ngày, 28 - 30°C cần 65 ngày, nhưng khi nhiệt độ đến 34 - 35°C thì trứng không phát triển

Nếu cho bê nuốt trứng giun đũa gây bệnh sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành ở cơ thể bê Ngoài ra, nếu cho mẹ trước khi đẻ 124 - 129 ngày nuốt trứng giun gây bệnh thì bê đẻ ra 20 - 31 ngày trong phân có trứng giun đũa Điều này chứng tỏ giun đũa bê, nghé có thể truyền qua máu vào bào thai

Sự cảm nhiễm tự nhiên của nghé đối với Neoascris vitulorum đã thấy ở

lứa tuổi 26 ngày Khi trâu qua các thời kỳ chửa đều ăn trứng giun cảm nhiễm thì phát hiện tất cả các nghé đều bị nhiễm giun qua nhau thai

Theo Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [19] trứng giun đũa bê, nghé

có sức đề kháng với điều kiên ngoại cảnh, chỉ bị tiêu diệt ở nhiệt độ 450C và ánh nắng trực tiếp chiếu trực tiếp

Dương Công Thuận và cs (1986) [27], đã lấy phân của bê nghé bị nhiễm giun đũa có nhiều trứng, trộn với nước để giữ ẩm, cho vào đĩa Pettri, để ở nhiệt

độ trong phòng khoảng 15 - 220

C (tháng 10 - 11), thấy trứng phát triển thành phôi thai sau 20 ngày, ở nhiệt độ 15 - 170C phôi hình thành sau 38 ngày

Sau khi trứng giun cảm nhiễm vào cơ thể trâu bò mẹ, dưới tác dụng của dịch vị và ruột non, ấu trùng nở ra và từ ruột non theo mạch máu vào gan, qua tim lên phổi, ấu trùng đến tim và từ đó vào hệ tuần hoàn Phần lớn ấu trùng đều theo mạch máu đến các mô và phủ tạng, ở đó nó đóng kén và có thể sống

từ 5 đến 6 tháng hay hơn Trường hợp trâu bò cái nhiễm phải trứng giun trong giai đoạn có chửa thì ấu trùng có thể qua hệ tuần hoàn của nhau thai đến bào thai, hoặc có thể trâu bò cái nhiễm trong thời gian không chửa, ấu trùng đóng kén ở mô và phủ tạng, khi trâu bò chửa, ấu trùng thoát ra khỏi kén theo mạch máu đến nhau thai và vào bào thai

Trang 21

Kén của ấu trùng có thể thấy ở nhiều mô và phủ tạng của trâu bò mẹ như: cơ, thận, não, gan, phổi Ấu trùng có thể sống ở đó 6 tháng Ở con vật không chửa, quá thời gian 6 tháng ấu trùng chết Ở con vật chửa trong vòng

6 tháng, ấu trùng chui ra khỏi kén đi vào nhau thai Tuổi mắc bệnh quá sớm của bê, nghé làm người ta nghĩ đến bê, nghé có thể mắc bệnh từ khi còn trong bào thai

Ở bào thai ấu trùng sống trong gan, không biến đổi trong suốt thời kì bào thai còn ở trong tử cung Thời kì cuối, trước khi ấu trùng có thể từ gan lên nghé được đẻ ra, ấu trùng mới tiếp tục biến thái sau khi hoàn thành một đợt di hành qua phổi, khí quản, ruột giống như sự di hành giun đũa lợn, xuống ruột, giun lớn lên nhanh chóng và phát triển thành giun trưởng thành đẻ trứng

Trong điều kiện tự nhiên, ở bê nghé từ 17 ngày tuổi trở lên đã có thể tìm thấy trứng giun đũa trong phân Thường tuổi bê nghé mắc bệnh là 15 - 42

ngày Đối với một số giun đũa khác như Ascaris của lợn, Parascaris của ngựa

thì thời gian khi con vất bắt đầu cảm nhiễm trứng giun đũa cho đến khi thành giun trưởng thành có khả năng đẻ trứng tối thiểu phải 1 tháng Mặt khác, nhiều thí nghiệm: gây bệnh cho bê nghé một ngày tuổi trở lên nuốt trứng giun đũa có phôi đều không thành công Năm 1935, Davtian đã gây bệnh được bằng cách cho một bê nghé nuốt trứng giun 2 giờ sau khi đẻ, sau đó 30 ngày xuất hiện trứng trong phân Mổ khám sau khi chết, ngày thứ 43 thấy môt giun đũa trưởng thành và 8 giun con

2.1.2 Dịch tễ học của bệnh giun đũa bê, nghé

Bệnh giun đũa bê, nghé do Neoascaris vitulorum gây ra, chủ yếu là súc

vật non ở lứa tuổi từ 2 tuần rưỡi đến 3 tuần và dưới 3 tháng tuổi, thường xảy

ra hầu khắp các nơi trên thế giới

Swain G.D (1987) [45] cho biết, đã kiểm tra 12 nghé ở ấn độ, thấy 4

con có Neoascaris vitulorum, có con có tới 400 giun trong ruột

Trang 22

Theo Vichitr Sukhapesna (1981) [41], bê nghé nhiễm giun đũa

Neoascaris vitulorum chủ yếu qua bào thai và sữa

Muangyai M (1989) [39] thông báo rằng, giun đũa bê nghé Neoascaris

vitulorum là một trong những ký sinh trùng chủ yếu gây bệnh cho nghé Hầu

hết bị nhiễm qua bào thai một số ít trường hợp nhiễm qua sữa Bê, nghé phát bệnh trong độ tuổi 3 - 17 tuần tuổi

Theo Pandey V.S và cs (1990) [40], kiểm tra phân của 20 bê nghé trong giai đoạn 15 - 20 ngày tuổi ở đồng cỏ Zimbabwe, thấy trứng giun có trong phân, số trứng đếm được từ 257 - 19821 trứng/gam phân

Akyol C.V (1993) [30] cho biết, bê ở khu vực Barsa ( Thổ Nhĩ Kỳ ) bị

nhiễm Neoascaris vitulorum phổ biến qua việc kiểm tra trứng trong phân Ấu

trùng cũng được tìm thấy trong sữa Đồng thời là nơi có nhiều trứng giun nên làm cho bê nghé bị nhiễm bệnh nhanh Tỷ lệ nhiễm bệnh giữa các vùng sinh thái là khác nhau

Starke W.A và cs (1996) [43] đã kiểm tra 75 mẫu phân bê, nghé từ 9 -

115 ngày tuổi thấy có 86,7% bê nghé nhiễm giun đũa Số lượng trứng cao nhất khi bê nghé được 45 ngày tuổi

Theo Roberts J A (1989) [42], tỷ lệ chết của nghé trong 6 tháng đầu

sau khi sinh ở vùng Đông Nam Á tới 30% do giun Neoascaris vitulorum và S

papillosus

Gupta và cs (1985) [35] cho biết, trong 1626 bê ở bang Haryana (Ấn Độ)

có 55,8% bị nhiễm ký sinh trùng, bao gồm: giun móc 44,2%, giun đũa 15,2%, giun đầu gai 6,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (68,2%) cao hơn trong mùa xuân (54,2%), mùa hè (52,4%) và màu đông (52,2%) Trong 1411 nghé ở Bang Haryana có 62,9% nhiễm ký sinh trùng, trong đó giun đũa là 29,1%, giun móc 20,7%, giun đầu gai 9,2% và cầu trùng 5,2% Tỷ lệ nhiễm trong mùa thu (69,8%) và mùa hè (67,8%) cao hơm mùa xuân (51,9%) và mùa đông (56,3%)

Trang 23

Ở Việt Nam, bệnh giun đũa bê, nghé là một bệnh rất phổ biến, gây thiệt hại lớn cho đàn trâu sinh sản ở miền núi Nghé có triệu chứng đặc trưng là phân có màu trắng, nên nhân dân thường gọi là bệnh "Nghé ỉa phân trắng"

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [22], cho biết do ảnh hưởng của khí hậu thời tiết nên mầm bệnh lưu truyền từ mùa này sang mùa khác Trứng giun đũa có phôi thai có thể tồn tại từ mùa đông này sang mùa đông năm sau, gặp đợt nghé đẻ ra chúng nhiễm vào nghé, gây bệnh tạo thành vùng “ nghé ỉa cứt trắng ”

Do tập tính sinh sản của trâu bò miền núi phía bắc nước ta là đẻ vào mùa đông khô lạnh, thiếu cỏ, thiếu nước nên bệnh giun đũa bê, nghé gây tác hại nhiều đối với nghé sơ sinh

Theo Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [4] thì bệnh giun đũa bê là bệnh phổ biến ở nước ta, tuổi bê dễ mắc bệnh là 20 - 35 ngày sau khi đẻ, chưa thấy bò trưởng thành mắc bệnh Ở nghé nếu mắc phải giun đũa thì mẫn cảm hơn là ở

bê và có thể bị chết do tiêu chảy

Tô Du (2005) [3] cho biết, bệnh giun đũa ở bê, nghé hay mắc từ 15 - 60 ngày tuổi vì trong đất nền chuồng, hoặc ngoài bãi cỏ có dính trứng giun đũa,

bê nghé khi gặm cỏ liếm phải rồi mắc bệnh Bệnh thường gặp nhiều ở nghé đẻ vào vụ Đông - Xuân

Phùng Quốc Quảng và cs (2006) [21] cho biết, bệnh giun đũa ở bê phổ biến ở lứa tuổi 20 - 25 ngày sau khi đẻ Bệnh phân bố khắp nơi trên thế giới

Ở nước ta bệnh thường phát vào mùa rét, tại các vùng nuôi thuộc vùng đồng bằng, trung du, miền núi Bệnh phổ biến hơn là ở miền núi vì bê thường thả rông đi theo mẹ đi ăn

Bệnh giun đũa bê, nghé thường thấy ở bê, nghé dưới 3 tháng tuổi ở các vùng chăn nuôi trâu bò thuộc miền núi, trung du, đông bằng và ở các cơ sở chăn nuôi trâu bò sữa Trứng giun đũa có đề kháng mạnh với nhiệt độ lạnh

Trang 24

dưới 00

C và nóng trên 420C Khô ráo tuy trứng ngừng phát triển không trở thành ấu trùng được nhưng khi đã thành trứng có sức gây bệnh thì nắng mặt trời chiếu trực tiết mới diệt được trứng (Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân,

1999 [12])

Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [19] cho biết, bê nghé nuôi ở vùng núi bị bệnh giun đũa nhiều hơn so với vùng trung và đồng bằng Ở nước ta bê nghé thường bị vào tháng 12, 1, 2 hằng năm ( vụ Đông - Xuân ) do trâu bò thường đẻ vào các tháng 11, 12, 1 Bê nghé mắc bệnh giun đũa sớm nhất là 14 ngày tuổi, nhiều nhất là ở lứa tuổi 30 - 45 ngày tuổi và muộn nhất ở 65 ngày tuổi, trâu bò không mắc bệnh

Qua điều tra liên tục 6 vụ đông xuân ( từ 1954 - 1960 ) trên hàng nghìn nghé tại xã Hòa Phúc, Phúc Thịnh (Chiêm Hóa - Tuyên Quang), xã Minh Sơn (Ngọc Lặc - Thanh Hóa), xã Phượng Tiến (Định Hóa - Thái Nguyên), Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [22] thấy, tỷ lệ nghé ốm do giun đũa chiếm tới 38 - 44% so với số nghé đẻ ra, số nghé chết về bệnh chiếm tới 25-50% số nghé ốm Như vậy, mỗi năm số nghé chết về bệnh giun đũa chiếm tới 20% số nghé đẻ ra

2.1.3 Đặc điểm của bệnh do giun đũa Neoascaris vitulorum gây ra ở bê, nghé

2.1.3.1.Cơ chế sinh bệnh

Khi bê, nghé nuốt phải trứng giun đũa có sức gây bệnh, sau 43 ngày có thể thấy giun đũa trưởng thành ở ruột non bê, nghé Trong thời kỳ ấu trùng giun đũa di hành đến một số khí quản như phổi, gan Khi giun trưởng ở ruột non số lượng nhiều, vít chặt làm tắc ruột non, có khi làm thủng ruột hoặc chui vào ống dẫn mật, gan

Giun còn tiết chất độc làm cho bê, nghé bị trúng độc, gây ỉa chảy, gầy sút nhanh Giun lấy chất dinh dưỡng làm bê, nghé gầy yếu (Phạm Văn Khuê

và Phan Lục, 1996 [8]) Giun đũa Neoascaris vitulorum cũng như các loài

Trang 25

giun sán khác, ngoài tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng của vật chủ, còn gây tổn thương niêm mạc ruột, tạo điều kiện cho các vi khuẩn có trong đường

tiêu hoá (E coli, Salmonella, Proteus ) xâm nhập gây rối loạn quá trình phân

tiết, viêm ruột và tiêu chảy cấp tính hoặc mãn tính

Ngoài ra, giun đũa còn gây viêm ruột cata, một số ít bị biến đổi hoại tử

ở gan Giun ở trong ống dẫn mật gây viêm cỏ mủ, viêm do tổn thương ở phổi cũng được phát hiện Gia súc non mắc bệnh giun đũa bị viêm ruột thứ phát có thể chết đến 80%

Đặc điểm chủ yếu của bệnh là gây tiêu chảy song không liên tục, có sự xen kẽ giữa tiêu chảy và bình thường, cơ thể thiếu máu, da nhợt nhạt, bê, nghé

có biểu hiện nôn từng cơn, kém ăn, thể trạng sa sút Nếu không phát hiện sớm

và điều trị kịp thời bê, nghé chết rất nhanh

Theo Chu Thị Thơm và cs (2006) [26], ấu trùng sau khi xâm nhập vào

cơ thể bê nghé, ấu trùng di hành gay tổn thương nhiều cơ quan Chúng đem nhiều vi khuẩn, virus gây các bệnh truyền nhiễm kế phát Giun chiếm đoạt nhiều chất dinh dưỡng, tiết độc tố đầu độc vật chủ làm bê, nghé gầy yếu ỉa chảy, ỉa phân trắng Do giun có kích thước lớn, khi ký sinh với số lượng lớn thường gây tắc ruột, thủng ruột, tắc ống mật

Nguyễn Hùng Nguyệt và cs (2008) [19] cho biết, giun đũa ký sinh trong ruột non bê, nghé sẽ gây ra các tác động:

- Tác động cơ giới: Ấu trùng di hành làm tổn thương gan, phổi Giun trưởng thành dùng các lá môi bám vào niêm mạc ruột và gây tổn thương niêm mạc ruột, viêm cata, ảnh hưởng đến tiêu hóa, sữa không tiêu hóa bị vón lại Sữa này bị vi khuẩn lên men phân hủy, sinh ra nhiều sản phẩm của quá trình phân hủy protit Vì vậy, khi phân ra ngoài có màu trắng sữa, lỏng và có mùi thối

khắm Số lượng giun đũa nhiều sẽ gây tắc, thủng ruột, gây viêm phúc mạc

- Tác động do độc tố: giun đũa ký sinh ở bê, nghé sẽ tiết độc tố làm cho

Trang 26

con vật trúng độc

- Tác động chiếm đoạt chất dinh dưỡng: giun đũa lấy dinh dưỡng làm cho bê con gầy còm

2.1.3.2 Biểu hiện lâm sàng và bệnh tích

Bệnh tiến triển ngắn nhất là 5 ngày, dài nhất là 48 ngày, phổ biền là 11

- 30 ngày Nghé thường chết vào 7 - 16 ngày sau khi phát bệnh Thời gian tiến triển của bệnh dài hay ngắn phụ thuộc vào tuổi, sức khỏe của gia súc, cách nuôi dưỡng

Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [23], bê nghé ốm dáng đi lù đù, đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp, bụng ỏng, có khi con vật nằm xuống một chỗ không theo mẹ Bệnh nặng bê nghé gầy rạc, xù lông, mắt lờ đờ, chảy nước mắt có nhử, mũi khô, thân nhiệt khoảng 40 - 410C Con vật mệt mỏi, đứng lên nằm xuống, đi ỉa phân lúc đầu táo hoặc lồn nhồn, màu đen, dần dần biến thành màu trắng, lỏng

Phan Địch Lân (1986) [9] đã thông báo bê Zê bu mắc bênh giun đũa ở Nông trường Phú Mẫn (Hà Sơn Bình) có triệu chứng ỉa chảy, ủ rũ, nằm liệt tại chỗ có con chết

Theo Trịnh Văn Thịnh và sc (1982) [25], con vật ăn kém, ỉa chảy, đôi khi táo bón, chướng hơi, đi lại không yên, đau bụng, co giật Trường hợp tự thải giun hay được điều trị thì các triệu trứng sẽ mất đi, ở thể mãn tính bệnh kéo dài 2 - 3 tháng

Lê Thị Thanh Nhàn (2008) [20], Phạm Sỹ Lăng và cs (2002) [13] cho biết, bê nghé mắc bệnh thường lù đù, chậm chạp, đầu cúi, lưng cong, bụng to, lông xù lên, khoeo và đuôi hơi dính phân bẩn, phân có mùi tanh khắm, màu trắng ngà

Chu Thị Thơm và cs (2006) [26] cho biết, về lâm sàng của bệnh giun đũa bê, nghé: bệnh xảy ra phổ biến ở bê, nghé từ 11 - 30 ngày tuôi Bê, nghé ủ

Trang 27

rũ, lù xù, chậm chạp đầu cúi, lưng cong, đuôi cụp thường chết vào ngày thứ 7

- 16 Lúc đầu còn theo mẹ, khi bệnh nặng bỏ bú, không theo mẹ nằm một chỗ, thở yếu, đau bụng, nằm ngứa dãy dụa, đạp chân lên phía trước bụng Có khi nghe rõ tiếng sôi bụng Bê, nghé gầy sút nhanh chóng, da khô, lông dựng, mắt

lờ đờ, niêm mạc nhợt nhạt, mũi khô, hơi thở thối

Phân màu trắng, mùi rất thối, con vật ỉa chảy nặng, ỉa vọt cần câu, phân dính ở khuỷu chân và xung quanh hậu môn Có thể xem đây là một triệu chứng điển hình giúp cho việc chẩn đoán xác định bệnh giun đũa bê, nghé

Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) [27], Phạm Sỹ Lăng và

cs (2002) [14] cho biết, giun đũa Neoascaris vitulonim là ký sinh trùng chính

của bê trong 2 tháng tuổi và làm giảm khối lượng từ sơ sinh đến giai đoạn cai sữa khoảng l0,5kg, bê nghé mắc bệnh lú đù, chậm chạp, đầu cúi, lưng cong, bụng to, lông xù lên, kheo và đuôi dính phân bẩn, phân có mùi tanh khắm, màu trắng ngà

Trứng giun đũa có trong phân nghé từ 21-131 ngày tuổi Cường độ nhiễm cao nhất trong khoảng 21-35 ngày Khi có số lượng giun lớn bê nghé bệnh có triệu chứng kém ăn, ỉa chay và thiếu máu, phân hôi thối, lưng cong, đau bụng và dáng đi cứng nhắc

Mổ khám thấy ruột non viêm cata, có nhiều giun đũa ký sinh, có thể tạo thành búi làm tắc ruột Sữa bị vón cục, màu trắng, có mùi khó chịu, gạt lớp sữa, chất chứa và giun đũa ra thấy niêm mạc có nhiều vết loét Có trường hợp

bị thủng ruột, chất chứa lọt ra xoang bụng gây viêm phúc mạc Ngoài ruột non, có thể thấy giun đũa ở các bộ phận: dạ cỏ, dạ múi khế Biến đổi hoại tử ở gan, thấy giun ở trong ống dẫn mật, viêm có mủ ở vỏ thận và viêm do tổn thương ở phổi

2.1.4 Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum bê, nghé

Chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum ở bê, nghé dựa vào

Trang 28

triệu chứng lâm sàng, các thông tin về dịch tễ học, xét nghiệm mẫu phân bê nghé bằng phương pháp Fullebom để tìm trứng giun đũa

Theo nhiều tác giả, việc chẩn đoán bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum

ở bê, nghé có thể căn cứ vào những đặc điểm dịch tễ học: vùng và mùa phát

bệnh, tỷ lệ nhiễm bệnh, tuổi mắc bệnh

Phạm Văn Khuê và cs (1996) [6], Nguyễn Thị Kim Lan và cs (1999) [8] cho biết, bệnh giun đũa bê, nghé thường mắc nhiều nhất ở miền núi, bệnh thường phát nhiều vào tháng 12, 1, 2 Tuổi mắc bệnh sớm nhất là 14 ngày, tuổi càng cao thì tỷ lệ nhiễm càng giảm, tới 3 - 4 tháng tuổi thì không bị nhiễm Trâu bò không mắc bệnh này Đây chính là những điều tra cơ bản để

sơ bộ chẩn đoán bệnh Triệu chứng lâm sàng đáng chú ý như: phân màu trắng rất thối, nếu bệnh nặng bê, nghé ỉa vọt cần câu, phân dính ở xung quanh hậu môn và khuỷu chân là những dấu hiệu hết sức quan trọng để chẩn đoán bệnh giun đũa bê, nghé

Tuy nhiên, nếu chỉ dựa vào triệu chứng lâm sàng, đặc điểm dịch tễ học của bệnh thì chưa chẩn đoán chính xác được bệnh gì, vì có rất nhiều bệnh ký sinh trùng có biểu hiện giống nhau Chính vì vậy, xét nghiệm phân tìm trứng

giun đũa Neoascaris vitulorum là căn cứ quyết định kết quả chẩn đoán bệnh

Các phương pháp thường dùng là phương pháp Fullerborn, Darling, có thể dùng phương pháp đếm trứng giun trong 1 gam phân bằng buồng đếm Mc Master để xác định mức độ nhiễm giun đũa nặng hay nhẹ

Trang 29

- Cho bò mẹ ăn uống tốt để có đủ sữa cho con bú, kết hợp vệ sinh chuồng trại, môi trường Cho uống nước sạch Giữ chuồng nuôi ấm và khô ráo Tập trung phân ủ để diệt trứng giun

Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978) [22] cho biết, trong bệnh giun đũa Neoascaris vitulorum của bê, người ta dùng Santonin với liều 0,02 g/kg TT, cho uống thuốc tẩy kèm theo

Theo Phạm Sỹ Lăng và cs (1999) [12], Piperazin,Mebendazol, Tetramisol, Thiabendazol có tác dụng rất tốt khi sử dụng để tẩy giun đũa cho

bê, nghé

Theo Robert J.A (1989) [42], hiệu quả tẩy giun đũa bê nghé của Pyrantel là 100%; Febentel là 100%; Levamisol (7,5mg/kg TT cho uống) là 83%, Levamisol tiêm ( 0,1ml/kg TT) là 73%, Piperazine là 57%

Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [23] đã dùng 8 hạt cau tươi giã nhỏ, trộn với 20 gam bột diêm sinh, hoà với 1/3 lít nước hơi ấm, cho uống vào buổi sáng trong 3 ngày liền; hoặc một nắm vỏ xoan (50 gam) giã nhỏ, trộn với

2 gam muối, hoà với 1/3 lít nước ấm, để lắng, gạn lấy nước cho uống vào buổi sáng, 3 ngày liền; hoặc 2 đến 3 lá đu đủ non giã nhỏ, hoà với 1/3 lít nước, cho uống vào buổi sáng ba ngày liền Có thể cho uống 3 ml tinh dầu giun trộn với 60 ml dầu đu đủ, cho uống một lần vào buổi sáng Cũng có thể cho uống Phenothiazine 1,5 - 2,0 gam/ngày trong ba ngày, hoặc Piperazin 0,2

- 0,3 gam/kg TT

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [25]: Piperazin 0,3-0,5g/kg TT, Silicofluorat natri liều 0,035g/kg TT chia làm hai lần trong ngày, tinh dầu giun 30-60 ml, cho uống Kết hợp việc giữ gìn vệ sinh sạch sẽ, ủ phân, chăm sóc chu đáo cho trâu bò mẹ Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6] cũng đã

sử dụng công thức những hóa dược như trên tẩy giun đũa bê, nghé cho kết quả tốt

Trang 30

Theo Cao Tuyết Lan (1996) [7], dùng Mebenvet liều 120 mg/kg TT tẩy cho nghé nhiễm giun đũa thị xã Lai Châu có hiệu quả tốt

Vương Đức Chất (1995) [1] đã tẩy giun đũa cho bê, nghé bằng thuốc Piperazin 0,25 g/kg TT lúc 15 - 20 ngày tuổi, Mebendazole 10 mg/kg TT đạt kểt quả tốt

Phạm Văn Khuê và Phan Lục (1996) [6] đã thử nghiệm ở Mê Linh, Phong Châu (Vĩnh Phúc), Kim Bảng (Hà Nam), Gia Lâm, Đông Anh, Từ Liêm, Sóc Sơn (Hà Nội) dùng Benzimidazole liều 7,6 - 9 mg/kg TT, tẩy cho

73 bê nhiễm Neoascaris vitulorum, kết quả đạt 100%

Lê Đăng Đảnh và cs (2004) [4] cho biết, để chủ động phòng trị bệnh giun đũa bê nghé ngay sau khi sinh, chúng ta có thể dùng một số thuốc đặc trị bệnh giun đũa cho bê nghé, có thể dùng: Polystrongle với liều lượng 0,04g/kg

TT cho uống, Levamisol tiêm bắp, Ivomec tiêm dưới da với liều lượng 1ml/50kg TT

Vichitr Sukhapesna (1981) [48] đã dùng Pyrantel Tartrate với các liều khác nhau 5, 10 và 20 mg/kg tẩy cho bê 28 nghé bị nhiễm giun đũa thì thấy với các liều lượng trên thì đều có hiệu quả cao (100%) Số lượng trứng giun đũa thải ra theo phân giảm nhiều sau một tuần điều tra

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [11] cho biết, dùng các loại hóa dược nhu Piperazin 0,3 - 0,5 g/kg TT, Tetramizole 10 mg/kgTT,

Mebenvet 0,5g/kg TT và một số hóa dược khác để tẩy trừ Neoascaris

vitulorum cho kết quả rất tốt, bê nghé khỏi bệnh phân trắng

Chu Thị Thơm và cs (2006) [26] đã đưa ra các phác đồ sau: Dùng Piperazin 0,5 g/kg TT trộn lẫn với thức ăn hay hoà vào nước cho uống, tẩy vào buổi sáng; Phenolthiazin 0,5 g/kg TT uống 2 lần trong ngày, uống 2 ngày liền; Tetramisol 10-15 mg/kg TT, cho uống sau khi bê, nghé đã bú hoặc ăn Ngoài ra tác giả còn đưa ra một số loại thuốc nam có tác dụng tẩy giun đũa

Trang 31

như sau:

- Vỏ xoan: cạo bỏ lớp vỏ nâu, sao vàng tán nhỏ thành bột Cho gia súc uống 3-5g liên tục vào buổi sáng Hoặc có thể sắc lấy nước, cô đặc, cho uống vào lúc sáng sớm trước khi cho ăn với liều lượng 30-50ml

- Hạt cau: Nhiền nhỏ 4g hạt cau, sắc lấy nước cho gia súc uống Hoặc nghiền nhỏ, rang khô đem trộn thức ăn, cho ăn vào buổi sáng

2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước

2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước

Bệnh giun đũa bê nghé gây ra tình trạng bê nghé ỉa phân trắng là khá phổ biến và trầm trọng ở miền núi, nơi có chăn nuôi trâu bò sinh sản với số lượng lớn

Theo Trịnh Văn Thịnh và cs (1982) [25] cho biết, nghé nhiễm bệnh từ trong bào thai, đến tuổi ngoài hai tháng rưỡi không phát bệnh nữa, có trường hợp khi đến tuổi ấy nghe tự tống giun ra ngoài

Theo Trịnh Văn Thịnh (1962) [24], qua điều tra trên 32 xã thuộc nhiều tỉnh miền núi và trung du miền bắc nước ta, nghé ốm do bệnh giun đũa chiếm tới 39,1%, nghé chết chiếm 38,7% so với nghé ốm Đặc biệt bệnh chỉ phổ biến trên đàn trâu sinh sản ở miền núi và trung du, ở vùng đồng bằng bệnh giảm rõ rệt

Phan Địch Lân (1986) [9] đã kiểm tra 30 bê Hà Lan nhập nội ở nông trường Sao Đỏ, cho kết quả tỷ lệ nhiễm giun đũa 25% Ở Mộc Châu, kiểm tra

50 bê Hà Lan dưới 6 tháng thấy tỷ lệ nhiễm 30% Nghé Murrah dưới 3 tháng tuổi nuôi ở HTX Trực Chính - Khánh Phù - Phù Thượng - Hà Nam Ninh nhiễm tới 71%, nghé 1 tháng tuổi nhiễm 67%

Phan Lục (2005) [17] đã điều tra bệnh ký sinh trùng đường tiêu hoá vùng đồng bằng sông Hồng cho kết quả, trâu bò bị nhiễm nhiều loại ký sinh trùng, trong đó nghé nhiễm giun đũa là 15,1%, bê là 5,4%

Trang 32

Vương Đức Chất (1995) [1] cũng thấy tỷ lệ nhiễm giun đũa trên đàn bê

ở Hà Nội qua mổ khám là 15,6%

Phạm Sỹ Lăng và Phan Địch Lân (1996) [11] cho biết, bệnh giun đũa

bê, nghé có tỷ lệ nhiễm từ 23% - 64% ở nghé trong độ tuổi 1- 3 tháng, bê trong độ tuổi 17 ngày đến 3 tháng tuổi cũng bị nhiễm bệnh

Theo Cao Tuyết Lan (1996) [7], Tỷ lệ nhiễm giun đũa là 35,3%, cao nhất lúc 31 - 45 ngày tuổi (71,4%)

Theo Phạm Sỹ Lăng (2002) và cs [13], có thể sử dụng một trong các loại hóa dược sau để điều trị bệnh giun đũa bê, nghé: Piperazin dùng liều 0,3 - 0,5 gam/kg TT, thuốc cho uống trực tiếp hoặc trộn với thức ăn; Levamisol dùng với liều 15 - 20 mg/kg TT, cho uống hoặc 10 - 15 mg/kg TT dùng tiêm; Mebenvet (10% Mebendazol) dùng liều 0,5 gam/kg TT; Ivermectin dùng liều 0,2 mg/kg TT tiêm cho bê, nghé

Theo Nguyễn Văn Thiện và cs (1977) [23], bê nghé từ 15 - 60 ngày tuổi hay mắc bệnh ỉa cứt trắng, bệnh thường hay gặp nhất ở miền núi

Phạm Văn Khuê và cs (1981) [5] cho biết, bệnh giun đũa bê nghé khá phổ biến ở các tỉnh miền núi phía bắc, tỷ lệ mắc bệnh giun đũa từ 30 - 50%

Dương Công Thuận và Nguyễn Văn Lốc (1986) [27] đã điều tra tình hình nhiễm giun đũa ở nghé Murah ở nước ta: 3 tuần tuổi nhiễm 58,1%; 4 tuần tuổi nhiễm 67,2%; 6 tuần tuổi nhiễm 25,2%; 7 tuần tuổi nhiễm 28%; 9 tuần tuổi nhiễm 25%; 10 tuần tuổi nhiễm 23%

Lê Thị Thanh Nhàn (2008) [20] đã điều trị tiêu chảy cho bê, nghé do giun đũa bằng cách: sử dụng một trong các thuốc kháng sinh như Norfacoli hoặc Colistin để điều trị tiêu chảy, sau vài ngày dùng thuốc tẩy giun đũa cho

bê, nghé dưới 3 tháng tuổi với mục đích điều trị cho những nghé bị bệnh và tẩy phòng cho những nghé mang giun đũa Trong quá trình điều trị bổ sung

chất điện giải và vitamin C để tăng cường sức đề kháng cho con vật

Ngày đăng: 19/05/2016, 16:01

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Vương Đức Chất (1995), “Khảo sát giun tròn ký sinh đường tiêu hóa của đàn bò sữa Hà Nội”, Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y, tập 2, (số 1), tr. 95 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Vương Đức Chất (1995), “Khảo sát giun tròn ký sinh đường tiêu hóa của đàn bò sữa Hà Nội”, "Tạp chí khoa học kỹ thuật thú y
Tác giả: Vương Đức Chất
Năm: 1995
2. Phạm Chức (1980), “ Sức đề kháng của trứng các loài giun đũa đối với các chất hóa học”, Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y 1968 - 1978, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 339 - 406 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sức đề kháng của trứng các loài giun đũa đối với các chất hóa học”, "Kết quả nghiên cứu khoa học kỹ thuật thú y 1968 - 1978
Tác giả: Phạm Chức
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1980
4. Lê Đăng Đảnh, Lê Minh Châu, Hồ Mộng Hải (2004), Chăn nuôi bò thịt, Nxb Nông nghiệp, TPHCM, tr. 108 - 111 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chăn nuôi bò thịt
Tác giả: Lê Đăng Đảnh, Lê Minh Châu, Hồ Mộng Hải
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2004
5. Phạm Văn Khuê, Phan Trịnh Chức (1981), “ Khái quát về tình hình và kết quả điều tra giun sán trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1976 - 1980”, Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp, Đại học Nông nghiệp IV, (số 4), tr.195 - 201 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Khái quát về tình hình và kết quả điều tra giun sán trong kế hoạch 5 năm lần thứ hai 1976 - 1980”, " Tạp chí khoa học kỹ thuật Nông nghiệp
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Trịnh Chức
Năm: 1981
6. Phạm Văn Khuê, Phan Lục (1996), Ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 124 - 127 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phạm Văn Khuê, Phan Lục
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
7. Cao Thị Tuyết Lan (1996), “Bệnh giun đũa bê, nghé ở thị xã Lai Châu và biện pháp phòng trừ”, Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y, tập 3, (số 3), tr. 66 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun đũa bê, nghé ở thị xã Lai Châu và biện pháp phòng trừ”, "Tạp chí Khoa học Kỹ thuật Thú y
Tác giả: Cao Thị Tuyết Lan
Năm: 1996
8. Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên (1999), Giáo trình ký sinh trùng thú y, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 94 - 97 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình ký sinh trùng thú y
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Lan, Nguyễn Văn Quang, Nguyễn Quang Tuyên
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
9. Phan Địch Lân (1986), “Tình hình nhiễm ký sinh trùng ở đàn bò nhập nội”, Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật nông nghiệp (1979 - 1984), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 199 - 121 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình nhiễm ký sinh trùng ở đàn bò nhập nội”, "Kết quả nghiên cứu khoa học và kỹ thuật nông nghiệp (1979 - 1984)
Tác giả: Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1986
10. Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc (2005), Bệnh giun tròn của động vật nuôi ở Việt Nam, NXB Nông nghiệp, Hà Nội, tr.84 - 91 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh giun tròn của động vật nuôi ở Việt Nam
Tác giả: Phan Địch Lân, Phạm Sỹ Lăng, Đoàn Văn Phúc
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
Năm: 2005
11. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1996), Bệnh thường thấy ở đàn bò sữa Việt Nam và kỹ thuật phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 78 - 85 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh thường thấy ở đàn bò sữa Việt Nam và kỹ thuật phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1996
12. Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân (1999), Bệnh ở trâu bò và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội tr. 176 - 177 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh ở trâu bò và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Phan Địch Lân
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 1999
13. Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo (2002), Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr.5-10, 125 - 131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn phòng trị bệnh ký sinh trùng, bệnh nội khoa và nhiễm độc ở bò sữa
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
14. Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo (2002), Bệnh truyền nhiễm ở bò sữa và biện pháp phòng trị, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 5-10, 125 - 131 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bệnh truyền nhiễm ở bò sữa và biện pháp phòng trị
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng, Lê Văn Tạo
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2002
15. Phạm Sỹ Lăng (2005), Sổ tay điều trị một số bệnh phổ biến ở vật nuôi, Nxb Lao động - Xã hội, tr. 16 - 19 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay điều trị một số bệnh phổ biến ở vật nuôi
Tác giả: Phạm Sỹ Lăng
Nhà XB: Nxb Lao động - Xã hội
Năm: 2005
16. Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh (1996), Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam, Nxb Khoa học và kỹ thuật, Hà Nội, tr. 228 - 229 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giun sán ký sinh ở gia súc Việt Nam
Tác giả: Nguyễn Thị Lê, Phạm Văn Lực, Hà Duy Ngọ, Nguyễn Văn Đức, Nguyễn Thị Minh
Nhà XB: Nxb Khoa học và kỹ thuật
Năm: 1996
17. Phan Lục (2005), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Hà Nội, tr. 127 - 18. Phan Lục (2006), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Hà Nội, tr. 32 - 33 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y", Nxb Hà Nội, tr. 127 - 18. Phan Lục (2006), "Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y
Tác giả: Phan Lục (2005), Giáo trình bệnh ký sinh trùng thú y, Nxb Hà Nội, tr. 127 - 18. Phan Lục
Nhà XB: Nxb Hà Nội
Năm: 2006
19. Nguyễn Hùng Nguyệt, Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Văn Quang (2008), Một số bệnh phổ biến ở gia súc - gia cầm và biện pháp phòng trị (tập 1), Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 134 - 139 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số bệnh phổ biến ở gia súc - gia cầm và biện pháp phòng trị (tập 1)
Tác giả: Nguyễn Hùng Nguyệt, Đỗ Trung Cứ, Nguyễn Văn Quang
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2008
20. Lê Thị Thanh Nhàn (2008), “Một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của giun đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy của bê nghè dưới 3 tháng tuổi ở tỉnh Tuyên Quang và biện pháp điều trị”, Luận văn Thạc sỹ khoa học nông nghiệp, Trường Đại học Nông Lâm Thai Nguyên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số đặc điểm dịch tễ, vai trò của giun đũa Neoascaris vitulorum trong hội chứng tiêu chảy của bê nghè dưới 3 tháng tuổi ở tỉnh Tuyên Quang và biện pháp điều trị”
Tác giả: Lê Thị Thanh Nhàn
Năm: 2008
21. Phùng Quốc Quảng, Hoàng Kim Giao (2006), Nuôi bò thịt thâm canh trong nông hộ và trang trại, Nxb Nông nghiệp, Hà Nội, tr. 156 - 158 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nuôi bò thịt thâm canh trong nông hộ và trang trại
Tác giả: Phùng Quốc Quảng, Hoàng Kim Giao
Nhà XB: Nxb Nông nghiệp
Năm: 2006
22. Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh (1978), Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Tập 2: Giun sán ở động vật nuôi, Nxb khoa học kỹ thuật, Hà Nội, tr. 91, 259 - 275 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Công trình nghiên cứu ký sinh trùng ở Việt Nam, Tập 2: Giun sán ở động vật nuôi
Tác giả: Đỗ Dương Thái và Trịnh Văn Thịnh
Nhà XB: Nxb khoa học kỹ thuật
Năm: 1978

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

H̀ình 2.1. Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
nh 2.1. Sơ đồ vòng đời của Neoascaris vitulorum (Trang 18)
Bảng 4.1. Kết quả tiêm phòng vacxin phòng bệnh cho vật nuôi - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.1. Kết quả tiêm phòng vacxin phòng bệnh cho vật nuôi (Trang 44)
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé ở ba xã Khe Mo, Văn Hán, Linh - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.2. Tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé ở ba xã Khe Mo, Văn Hán, Linh (Trang 45)
Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tuổi - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.3. Tỷ lệ nhiễm giun đũa bê, nghé theo tuổi (Trang 46)
Bảng 4.3 cho thấy: bê nghé từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi nhiễm giun đũa  biến động  từ 14,13  đến 36,08% - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.3 cho thấy: bê nghé từ sơ sinh đến 3 tháng tuổi nhiễm giun đũa biến động từ 14,13 đến 36,08% (Trang 47)
Bảng 4.4. Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi  Tình trạng - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.4. Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi Tình trạng (Trang 48)
Hình 4.2. Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Hình 4.2. Tỷ lệ nhiễm giun đũa theo tình trạng vệ sinh trong chăn nuôi (Trang 49)
Bảng 4.5. Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại và - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.5. Tình trạng ô nhiễm trứng giun đũa bê, nghé ở chuồng trại và (Trang 50)
Bảng 4.7. Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa - Tình hình mắc bệnh giun đũa ở bê, nghé tại một số xã của huyện Đồng Hỷ  tỉnh Thái Nguyên và biện pháp phòng trị
Bảng 4.7. Tỷ lệ biểu hiện lâm sàng của bê, nghé bị bệnh giun đũa (Trang 53)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w