Một trong những giống gà sinh sản có năng suất cao, chất lượng trứng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Ai Cập.. Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, tôi tiến h
Trang 1ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGŨ THỊ NGÂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA ĐÀN GÀ AI CẬP TỪ 1 ĐẾN 9 TUẦN TUỔI TẠI TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp Khoa : Chăn nuôi - Thú y
Khóa học : 2011 - 2015
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
NGŨ THỊ NGÂN
Tên đề tài:
ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG SINH TRƯỞNG CỦA ĐÀN GÀ AI CẬP TỪ 1 ĐẾN
9 TUẦN TUỔI TẠI TRẠI GIA CẦM KHOA CHĂN NUÔI - THÚ Y
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM THÁI NGUYÊN
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo: Chính quy Chuyên ngành: Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp
Khoa: Chăn nuôi - Thú y Khóa học: 2011 - 2015
Giảng viên hướng dẫn: PGS.TS Từ Trung Kiên
Thái Nguyên, năm 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Trong thời gian học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên cũng như trong thời gian thực tập tại trại gia cầm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi đã nhận được sự giúp đỡ quý báu của các thầy giáo, cô giáo trong Ban Giám hiệu, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình giảng dạy, dìu dắt tôi hoàn thành tốt chương trình học, tạo cho tôi có được lòng tin vững bước trong cuộc sống và công tác sau này
Nhân dịp này, tôi xin chân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu nhà trường, Ban Chủ nhiệm khoa Chăn nuôi - Thú y cùng toàn thể các thầy giáo, cô giáo trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên đã tận tình dạy bảo tôi trong toàn khóa học
Đặc biệt, tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành và sâu sắc đến thầy giáo
hướng dẫn PGS.TS Từ Trung Kiên đã quan tâm, giúp đỡ tận tình và tạo mọi
điều kiện giúp tôi trong suốt quá trình thực tập và hoàn thành khóa luận
Qua đây, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới gia đình, bạn bè, đồng nghiệp
và những người thân đã thường xuyên tạo mọi điều kiện giúp đỡ, giành những tình cảm và sự động viên vô cùng quý báu cho tôi trong suốt thời gian học tập nghiên cứu và trong quá trình hoàn thành bản khóa luận này
Cuối cùng, tôi xin kính chúc các thầy giáo, cô giáo luôn mạnh khỏe, hạnh phúc, thành công trong công tác, đạt nhiều kết quả tốt trong giảng dạy
và nghiên cứu khoa học
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, ngày 24 tháng 05 năm 2015
Sinh viên
Ngũ Thị Ngân
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 3.1 Sơ đồ bố trí thí nghiệm 23
Bảng 4.1 Chế độ chiếu sáng cho đàn gà 30
Bảng 4.2 Lịch dùng vaccine cho đàn gà đẻ tại trại 31
Bảng 4.3 Kết quả phục vụ sản xuất 34
Bảng 4.4 Tỷ lệ nuôi sống của đàn gà Ai Cập qua các tuần tuổi (%) 36
Bảng 4.5 Sinh trưởng tích lũy của đàn gà Ai Cập qua các tuần tuổi (g/con) 37
Bảng 4.6 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của gà theo dõi qua các tuần tuổi (g/con/ngày) 39
Bảng 4.7 Tiêu thụ thức ăn của gà theo dõi qua các tuần tuổi 42
Bảng 4.8 Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng của gà (kg) 43
Trang 5DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang Hình 4.1 Đồ thị sinh trưởng tích lũy của gà Ai Cập 38 Hình 4.2 Đồ thị sinh trưởng tuyệt đối của gà Ai Cập 40 Hình 4.3 Đồ thị sinh trưởng tương đối của gà Ai Cập 41
Trang 7MỤC LỤC
Trang
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC HÌNH iii
DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT iv
MỤC LỤC v
Phần 1 MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài 2
1.3 Ý nghĩa của đề tài 2
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học 2
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 2
Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở lý luận 3
2.1.1 Đặc điểm chung về gia cầm 3
2.1.2 Cơ sở khoa học sinh lý tiêu hóa ở gia cầm 4
2.1.3 Cơ sở khoa học của của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng 5
2.1.3.1 Khả năng sinh trưởng 5
2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng 6
2.1.4 Sức sống và khả năng kháng bệnh 11
2.1.5 Khả năng chuyển hóa thức ăn 12
2.1.6 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm 13
2.1.7 Giới thiệu về giống gà thí nghiệm 17
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước 18
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 18
Trang 82.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 20
Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 23
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 23
3.2 Nội dung nghiên cứu 23
3.3 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 23
3.3.1 Phương pháp bố trí thí nghiệm 23
3.3.2 Phương pháp theo dõi 24
3.3.2.1 Tỷ lệ sống (%): 24
3.3.2.2 Sinh trưởng 24
3.3.3 Phương pháp xử lý số liệu 25
Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 26
4.1 Công tác phục vụ sản xuất 26
4.1.1 Công tác chăn nuôi 26
4.1.1.1 Công tác chuẩn bị chuồng trại 26
4.1.1.2 Công tác chọn giống 26
4.1.1.3 Công tác chăm sóc, nuôi dưỡng 27
4.1.1.4 Chế độ chiếu sáng 30
4.1.2 Công tác thú y 31
4.1.2.1 Công tác phòng bệnh cho gà 31
4.1.2.2 Chẩn đoán và điều trị bệnh 31
4.1.2.3 Tham gia các công việc khác 33
4.1.2.4 Kết quả công tác phục vụ sản xuất 33
4.1.2.5 Bài học kinh nghiệm trong công tác sản xuất 34
4.2 Kết quả nghiên cứu 35
4.2.1 Tỷ lệ sống 35
4.4.2 Khả năng sinh trưởng của gà thí nghiệm 37
4.4.2.1 Sinh trưởng tích lũy 37
Trang 94.4.2.2 Sinh trưởng tuyệt đối và sinh trưởng tương đối của gà Ai Cập qua
các tuần tuổi (g/con/ngày) 38
4.4.3 Tiêu thụ thức ăn của gà thí nghiệm qua các tuần tuổi 41
4.4.3.1 Tiêu thụ thức ăn của gà qua các giai đoạn 41
4.4.3.2 Tiêu tốn thức ăn /1kg tăng khối lượng 42
Phần 5 KẾT LUẬN VÀ ĐỀ NGHỊ 44
5.1 Kết luận 44
5.2 Đề nghị 44
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu tiếng việt
II Tài liệu dịch
III Tài liệu nước ngoài
Trang 10Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam là một nước nông nghiệp với hơn 80% dân số sống ở nông thôn Thu nhập chính của họ là từ ngành trồng trọt và chăn nuôi Trong đó, ngành chăn nuôi gia cầm được ưu tiên phát triển hàng đầu do khả năng đáp ứng nhanh về nhu cầu thịt, trứng Ngoài ra, chăn nuôi gia cầm còn đóng góp một phần không nhỏ trong việc phát triển công nghiệp nước ta như công nghiệp chế biến thực phẩm, chế biến thức ăn gia súc
Tập quán chăn nuôi gia cầm đã gắn bó với nhân dân ta từ lâu đời Ở nông thôn, từ đồng bằng đến miền núi, hầu như gia đình nào cũng có nuôi một vài con Trước đây, chăn nuôi gia cầm thường theo phương thức quảng canh tận dụng Những năm gần đây, xu hướng phát triển ngành chăn nuôi nói chung đã theo con đường thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung Nhiều gia đình chăn nuôi với số lượng lên đến hàng vạn con Đặc biệt là chăn nuôi gà công nghiệp đã khắc phục được nhiều đặc điểm của gà ta như về tốc
độ sinh trưởng và khả năng sinh sản Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của
xã hội, nước ta đã nhập nhiều giống gà mới như các giống chuyên dụng hướng trứng, hướng thịt có giá trị cao với các dòng ông, bà, bố, mẹ nhằm thay đổi cơ cấu đàn giống gia cầm, nâng cao năng suất, hạ giá thành sản phẩm, bước đầu đạt kết quả tốt
Hiện nay, bên cạnh những giống gà hướng thịt, các giống gà hướng trứng cũng ngày càng được quan tâm chú trọng đầu tư phát triển Một trong những giống gà sinh sản có năng suất cao, chất lượng trứng tốt, thích nghi với điều kiện khí hậu của Việt Nam là giống gà Ai Cập
Chăn nuôi gà hướng trứng theo con đường thâm canh công nghiệp hóa, chăn nuôi tập trung ở nước ta đã trở thành một trong những nghề phát triển
Trang 11khá nhanh Với những thuận lợi có được như hiện nay về các giống gà chuyên dụng, những tiến bộ của ngành chăn nuôi gia cầm đòi hỏi phải có quy trình chăm sóc, nuôi dưỡng hợp lý Vấn đề đặt ra là phải tìm ra phương thức nuôi phù hợp mà vẫn đảm bảo khả năng sản xuất của giống
Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết đó, tôi tiến hành thực hiện đề tài: “Đánh giá khả năng sinh trưởng của đàn gà Ai Cập từ 1 đến 9 tuần tuổi tại trại Gia cầm khoa Chăn nuôi - Thú y trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên”
1.2 Mục tiêu và yêu cầu của đề tài
Xác định được sự sinh trưởng của gà Ai Cập con giai đoạn từ 1 - 9 tuần tuổi làm căn cứ đánh giá khả năng phát triển của giống gà qua các giai đoạn
Đánh giá khả năng sử dụng thức ăn và hiệu quả thức ăn của gà Ai Cập giai đoạn từ 1 - 9 tuần tuổi
1.3 Ý nghĩa của đề tài
1.3.1 Ý nghĩa trong khoa học
Đề tài nghiên cứu là sẽ cung cấp số liệu khoa học về sự sinh trưởng, phát triển, tiêu thụ thức ăn của gà Ai Cập giai đoạn từ 1 - 9 tuần tuổi Số liệu này có thể sử dụng trong giảng dạy và nghiên cứu khoa học
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Từ kết quả nghiên cứu, giúp tỉnh Thái Nguyên cũng như các địa phương khác có điều kiện tương tự có cơ sở khoa học để định hướng phát triển chăn nuôi gà Ai Cập ở địa phương
Đánh giá hiệu quả kinh tế từ việc chăn nuôi, phát hiện những tồn tại và
từ đó đề xuất được các giải pháp nhân rộng mô hình nuôi gà Ai Cập trong hộ đạt hiệu quả cao
Trang 12Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU
2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Đặc điểm chung về gia cầm
Gia cầm nói chung, gà nói riêng có nguồn gốc từ chim hoang dã Qua quá trình thuần hóa, nuôi dưỡng hàng nghìn năm, con người đã tạo nên các giống gia cầm ngày nay
Hầu hết các nhà khoa học nghiên cứu về gia cầm trên thế giới đều cho rằng tổ tiên của gia cầm sống hoang dã Bằng chứng là gà hoang miền Bắc Ấn
Độ hay gà Banquiva (Gallus Gallus murghi) - một trong bốn loại hình của gà
rừng được thuần hóa đầu tiên
Gà Banquiva thường đẻ trong tổ lót cỏ khô, lá cây; kéo dài 10 - 12 tháng; ấp 20 - 21 ngày trứng nở Khối lượng gà trưởng thành: Gà mái khoảng 0,7kg; gà trống khoảng 1,0 - 1,1kg Gà Banquiva có lông màu sặc
sỡ Gà trống có lông cổ màu vàng da cam đến vàng, lông mình đỏ nâu, lông cánh ánh đen, lông bụng pha đen Gà mái lông vàng nhạt, vàng trắng đến hoa mơ Mỏ, chân màu vàng đậm, vàng nhạt, đen Từ các di chỉ khai quật khảo cổ ở các vùng châu Á cho kết luận rằng cái nôi của sự thuần hóa gà nuôi là ở châu Á (Lê Hồng Mận và cs 2007) [10]
Ở Việt Nam cho đến nay, các công trình nghiên cứu về nguồn gốc gia cầm chưa thật đầy đủ Tuy nhiên, nước ta lại là một trung tâm thuần hóa gà đầu tiên ở Đông Nam Á Trải qua hàng nghìn năm, nhờ quá trình chọn lọc tự nhiên cũng như chọn lọc nhân tạo và sự sáng tạo của con người, cho đến nay
đã tạo ra được rất nhiều giống gà khác nhau
Ở nước ta, nuôi gà là nghề truyền thống từ lâu đời Phổ biến là giống gà
Ri, gà Ta vàng,… Nhiều tác giả cho rằng chính tổ tiên đã thuần dưỡng được
Trang 13gà ngay trên mảnh đất quê hương từ giống gà rừng có thể từ đời Phùng Nguyên cách đây trên dưới 3500 năm Trải qua quá trình phát triển nông nghiệp, tùy theo sở thích thị hiếu, điều kiện vùng sinh thái đất đai, khí hậu,… những giống gà có đặc điểm, tính năng khác nhau đã được tạo nên (Lê Hồng Mận và cs 2007) [10]
Về phân loại gà, theo Nguyễn Văn Thiện (1995) [13], vị trí sắp xếp của
gà trong giới động vật học như sau:
Giới (Kingdom): Animan
2.1.2 Cơ sở khoa học sinh lý tiêu hóa ở gia cầm
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng việc tạo ra giống mới có năng suất cao thì chưa đủ mà còn phải tạo ra nguồn thức ăn giàu dinh dưỡng phù hợp với các đặc tính sinh lý, phù hợp với mục đích sản xuất
của từng giống, dòng và phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi
Tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm là chỉ tiêu kinh tế kỹ thuật quan trọng Chi phí cho thức ăn thường chiếm tới 70% giá thành sản phẩm
Do đó giải quyết tốt vấn đề thức ăn không chỉ là yêu cầu kỹ thuật đơn thuần mà còn đảm bảo yêu cầu về hiệu quả kinh tế
Theo Phùng Đức Tiến (1996) [15], hệ số tương quan di truyền giữa khối lượng cơ thể và tăng khối lượng với tiêu tốn thức ăn được xác định là 0,5
- 0,9 và tương quan giữa sinh trưởng và chuyển hóa thức ăn là tương quan âm (0,2 - 0,8), người ta cũng xác định tiêu tốn thức ăn trên một đơn vị sản phẩm
Trang 14phụ thuộc vào tính biệt, môi trường và chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khỏe của gia cầm
2.1.3 Cơ sở khoa học của của việc nghiên cứu khả năng sinh trưởng
2.1.3.1 Khả năng sinh trưởng
Sinh trưởng là quá trình tích lũy chất hữu cơ do đồng hóa và dị hóa, là
sự tăng về chiều dài, chiều cao, bề ngang khối lượng của các bộ phận và toàn
cơ thể con vật trên cơ sở tính chất di truyền của đời trước Sự sinh trưởng chính là sự tích lũy dần các chất mà chủ yếu là protein Tốc độ và sự tổng hợp protein cũng chính là tốc độ hoạt động của các gen điều khiển sự sinh trưởng của cơ thể
Chamber J.R (1990) [28], đã định nghĩa sinh trưởng là tổng hợp của các bộ phận như thịt, xương, da Những bộ phận này không những khác nhau
về tốc độ sinh trưởng mà còn phụ thuộc vào chế độ dinh dưỡng Sự tăng trưởng thực sự khi các tế bào mô cơ tăng thêm về khối lượng, số lượng và các chiều đo Vì vậy béo mỡ không phải là tăng trưởng, nó được gọi là sự tăng trọng của cơ thể, vì béo mỡ chủ yếu là tích lũy nước, không có sự phát triển
về thân, mô, cơ
Sự tăng trưởng của sinh vật bắt đầu từ khi trứng được thụ tinh cho đến khi cơ thể đã được trưởng thành và được chia thành hai giai đoạn chính: Giai đoạn trong thai (trong cơ thể mẹ) và giai đoạn ngoài thai (ngoài cơ thể mẹ) Như vậy, cơ sở chủ yếu của sinh trưởng gồm 2 quá trình: Tế bào sản sinh và
tế bào phát triển, trong đó sự phát triển là chính
Theo Phùng Đức Tiến và cs (2006) [16], thì quá trình sinh trưởng trước hết là kết quả của sự phân chia tế bào, tăng thể tích tế bào để tạo nên sự sống
Johanson L (1972) [26], cho biết, cường độ phát triển qua giai đoạn bào thai và giai đoạn sau khi sinh có ảnh hưởng đến chỉ tiêu phát triển của con
Trang 15vật Nhìn từ khía cạnh giải phẫu sinh lý, thì sự sinh trưởng của các mô diễn ra theo trình tự sau:
- Hệ thống tiêu hóa, nội tiết
2.1.3.2 Các yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng
Đường cong sinh trưởng biểu thị tốc độ sinh trưởng của vật nuôi Chamber J.R (1990) [28] thì đường cong sinh trưởng của gia cầm gồm: Pha sinh trưởng có tốc độ nhanh diễn ra từ sau khi nở, đến khi con vật đạt tốc độ sinh trưởng cao nhất và pha sinh trưởng có tốc độ chậm kéo dài từ giai đoạn
kế tiếp, đến khi con vật tiếp cận giá trị trưởng thành
Có nhiều yếu tố ảnh hưởng đến sinh trưởng của gà với những mức độ khác nhau như: Di truyền, tính biệt, tốc độ mọc lông và điều kiện môi trường, chăm sóc, nuôi dưỡng…
Ảnh hưởng của dòng
Các dòng, các giống khác nhau có khả năng sinh trưởng khác nhau Các giống gà chuyên thịt có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn các giống gà kiêm dụng và gà chuyên trứng
Theo tài liệu của Chamber J.R (1990) [28], có nhiều gen ảnh hưởng đến sinh trưởng và phát triển của cơ thể con gà Có gen ảnh hưởng đến sự sinh
Trang 16trưởng chung, có gen ảnh hưởng đến sự phát triển nhiều chiều, có gen ảnh hưởng theo nhóm tính trạng, có gen ảnh hưởng tới 1 vài tính trạng riêng lẻ
Godfrey E.F và Joa R.G (1952) [30] và một số tác giả khác cho rằng các tính trạng số lượng này được quy định bởi 15 cặp gen, trong đó có ít nhất một gen sinh trưởng về liên kết giới tính nằm trên nhiễm sắc thể X, vì vậy có
sự sai khác về khối lượng cơ thể giữa con trống và con mái trong cùng một giống, gà trống nặng hơn gà mái 24 - 32%
Nguyễn Mạnh Hùng và cs (1994) [6] cho biết: Sự khác nhau về khối lượng giữa các giống gia cầm rất lớn, giống gà kiêm dụng nặng hơn giống gà hướng trứng 500 - 700g
Theo Trần Công Xuân và cs (1999) [24], nghiên cứu tốc độ sinh trưởng trên 2 dòng gà kiêm dụng (882 Jiangcun) của gà Tam Hoàng cho thấy tốc độ sinh trưởng của hai dòng gà là khác nhau: Ở 15 tuần tuổi dòng 882 đạt 1872,67g/con dòng Jiangcun đạt 1742,86 g/con Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [5] cho biết, gà con ở 40 ngày tuổi khối lượng tăng gấp 10 lần so với lúc 1 ngày tuổi, trong khi đó vịt con chỉ cần có 20 ngày để tăng gấp
10 lần khối lượng so với lúc 1 ngày tuổi
Trần Thanh Vân (2002) [23] khi nghiên cứu khả năng sản xuất thịt của
gà lông màu Kabir, Lương Phượng và Sasso cho biết: Khối lượng cơ thể gà
10 tuần tuổi đạt lần lượt là 1990,28g/con; 1993,27 g/con; 2189,29 g/con
Còn theo Phùng Đức Tiến (1996) [15] cho biết đối tượng gà Hybro HV85 ở 56 ngày tuổi khối lượng cơ thể đạt 1915,38 g/con
Theo Marco A.S (1982) [35] cho biết hệ số di truyền của tốc độ sinh trưởng là từ 0,4 - 0,5 Còn Nguyễn Ân và cs (1983) [1] thì hệ số di truyền ở các thời điểm khác nhau cũng khác nhau Hệ số di truyền về khối lượng ở 3 tháng tuổi là 0,26 - 0,5
Trang 17Các nghiên cứu ở trên đây cho thấy, đặc tính di truyền của dòng, của giống là nhân tố đặc biệt quan trọng đối với quá trình sinh trưởng và sức sản suất của gia cầm Đồng thời, nó còn chỉ ra giới hạn mà mỗi dòng, mỗi giống
có thể đạt được Điều này giúp cho người chăn nuôi có thể đầu tư thâm canh hợp lý để đạt năng suất cao nhất
Ảnh hưởng của tính biệt
Các loại gia cầm khác nhau có tốc độ sinh trưởng khác nhau Ngoài ra, tính biệt cũng ảnh hưởng rất lớn đến tốc độ sinh trưởng và khối lượng cơ thể Gà trống
có tốc độ sinh trưởng nhanh hơn gà mái khoảng 24 - 32%, (Jull M.A,1923) [34]
Những sai khác này được quy định không phải do hormon sinh dục mà
do gen liên kết giới tính Những gen này ở gà trống (2 nhiễm sắc thể giới tính) hoạt động mạnh hơn gà mái (1 nhiễm sắc thể giới tính)
Nguyễn Thị Hải và cs (2006) [4] cho biết gà nuôi vụ Xuân - Hè ở 10 tuần tuổi có khối lương cơ thể con trống là 2616,33g/con và ở con mái là 2214,48g/con, khác nhau là 18,15%
Ở gà hướng thịt giai đoạn 60 - 70 ngày tuổi, con trống nặng hơn con mái 180 - 250g (Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân 1998) [5]
Hoàng Toàn Thắng (1996) [12] có khuyến cáo với người chăn nuôi: Đối với gia cầm hướng trứng, để đạt hiệu quả cao trong chăn nuôi cần nuôi tách trống, mái
Ảnh hưởng của tốc độ mọc lông đến sinh trưởng
Tốc độ sinh trưởng còn phụ thuộc vào tốc độ mọc lông Các kết quả nghiên cứu xác định, trong cùng một giống, một tính biệt thì gà có tốc độ mọc lông nhanh, tốc độ sinh trưởng và phát triển tốt hơn
Kushner K.F (1974) [27] cho rằng tốc độ mọc lông có quan hệ chặt chẽ tới tốc độ sinh trưởng, thường gà lớn nhanh thì mọc lông nhanh và đều hơn ở
gà chậm mọc lông
Trang 18Hayer J.F và cs, (1970) [31] đã xác định trong cùng một giống thì gà mái mọc lông đều hơn gà trống và tác giả cho rằng ảnh hưởng của hormon sinh trưởng có tác dụng ngược chiều với giới tính quy định tốc độ mọc lông
Ảnh hưởng của chế độ dinh dưỡng đến khả năng sinh trưởng Dinh dưỡng là yếu tố ảnh hưởng lớn nhất tới tốc độ sinh trưởng Các chất dinh dưỡng gồm nhiều thành phần, mỗi thành phần có tầm quan trọng và
ý nghĩa riêng biệt Đặc biệt quan trọng là protein, năng lượng, tỷ lệ năng lượng/protein, các chất khoáng và vitamin các loại
Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) [9] cho rằng để phát huy được khả năng sinh trưởng cần phải cung cấp thức ăn tối ưu với đầy đủ các chất dinh dưỡng, được cân bằng nghiêm ngặt giữa protein, các axit amin với năng lượng Ngoài ra trong thức ăn hỗn hợp nuôi gà, còn được bổ sung thêm nhiều chế phẩm sinh học hóa học, để kích thích sinh trưởng làm tăng chất lượng sản phẩm
Trần Tố (2006) [20] khi nghiên cứu ảnh hưởng của tỷ lệ khác nhau giữa methionin và lysin trong khẩu phần đến sinh trưởng của gà broiler kabir đã cho biết: Đến 10 tuần tuổi lô có tỷ lệ methionin/lysin 40,5% cho sinh trưởng tốt hơn các lô có tỷ lệ này bằng 45,5% và 35,5%
Hoàng Minh Thu (1996) [14] cho rằng khối lượng cơ thể của gà broiler Rhoderi Jiangcun ở hai chế độ dinh dưỡng lúc 12 tuần tuổi hoàn toàn khác nhau
Bùi Đức Lũng và cs (1992) [8] đã nghiên cứu và bổ sung khoáng và vitamin vào khẩu phần nuôi gà Hybro HV85 và cho thấy: Khối lượng ở 7 tuần tuổi tăng 85,3g so với lô đối chứng …
Tóm lại, để đạt được năng suất và hiệu quả trong chăn nuôi gia cầm, đặc biệt để phát huy được tiềm năng sinh trưởng thì một trong những vấn đề căn bản là lập ra những khẩu phần nuôi dưỡng hoàn hảo, cân đối trên cơ sở tính toán nhu cầu axit amin cho từng giai đoạn
Trang 19 Ảnh hưởng của độ tuổi
Cũng như các loại vật nuôi khác, quá trình sinh trưởng, phát dục của gia cầm từ khi mới nở tới khi gà già và chết chịu chi phối của quy luật sinh trưởng và phát dục theo giai đoạn; quy luật sinh trưởng và phát dục không đồng đều …
Trong độ tuổi từ mới nở đến 60 ngày, quá trình sinh trưởng của gà con được chia làm 3 giai đoạn:
+ Từ mới nở đến 10 ngày: Gà con chưa điều tiết được thân nhiệt, chưa
có sự khác nhau về sinh trưởng giữa con trống và con mái, cơ xương mềm yếu, gà ít vận động, buồn ngủ, phản ứng với ngoại cảnh kém, gà có tốc độ sinh trưởng nhanh
+ Từ 11 - 30 ngày: Gà sinh trưởng rất nhanh,có sự khác biệt rõ rệt giữa con trống và con mái về tốc độ sinh trưởng màu sắc lông và các đặc điểm thứ cấp Gà chuyển hóa thức ăn tốt, cơ quan điều tiết thân nhiệt đã hoàn thiện
+ Từ 31 - 60 ngày: Khối lượng của gà tăng lên nhanh gấp nhiều lần so với lúc mới nở, các phản xạ về thức ăn, điều kiện chăm sóc, nuôi dưỡng đã được củng cố bền vững Gà con kết thúc quá trình thay đổi lông tơ bằng lông vũ
Đào Văn Khanh (2002) [7] nghiên cứu trên gà Tam Hoàng nuôi vụ hè ở Thái Nguyên cho biết, gà Tam Hoàng có khả năng sinh trưởng tương đối ở 1 tuần tuổi là cao nhất (83,25%), sau đó giảm dần ở tuần thứ 2 là 62,38% và tuần 3 còn 52,41%
Ảnh hưởng của môi trường chăm sóc, nuôi dưỡng
Để công tác chăn nuôi đạt hiệu quả cao, ngoài việc chú ý đến chế độ dinh dưỡng, chúng ta cũng cần đặc biệt quan tâm đến điều kiện chăm sóc, mùa vụ, khí hậu chuồng nuôi, phương thức chăn nuôi và thú y phòng bệnh vì chúng có ảnh hưởng rất lớn tới quá trình phát triển của gia cầm
Trang 20Nhiệt độ cao làm cho khả năng thu nhận thức ăn giảm, dẫn đến tăng trọng kém Theo Bùi Đức Lũng, Lê Hồng Mận (1993) [9] giai đoạn gà con cần nhiệt độ
30 - 350C, nếu nhiệt độ thấp hơn, gà kém ăn, chậm lớn, chết nhiều Sau 5 tuần tuổi, nhiệt độ tiêu chuẩn chuồng nuôi từ 18 - 200C sẽ giúp gà ăn khỏe, lớn nhanh
Bùi Đức Lũng và cs (1992) [8], nghiên cứu trên gà broiler BE11V35 và AV35 từ 1 - 9 ngày tuổi cho biết, khi mật độ nuôi cao, tăng trọng sẽ giảm
2.1.4 Sức sống và khả năng kháng bệnh
Sức sống của gia cầm đặc trưng cho từng giống, từng dòng, từng cá thể Trong cùng một giống sức sống của mỗi dòng khác nhau là khác nhau, các cá thể khác nhau trong cùng một dòng cũng có sự khác nhau, nhưng nằm trong giới hạn nhất định của phẩm giống
Sức sống của vật nuôi được xác định thông qua khả năng chống đỡ bệnh, khả năng thích nghi với điều kiện môi trường Người ta thông qua tỷ lệ nuôi sống để đánh giá sức sống của vật nuôi trong giai đoạn khảo nghiệm
Tỷ lệ sống của gà con khi nở là chỉ tiêu chủ yếu đánh giá sức sống của gia cầm, ở giai đoạn hậu phôi, sự giảm sức sống được thể hiện ở tỷ lệ chết cao qua các giai đoạn sinh trưởng Tỷ lệ sống được xác định bằng tỷ lệ phần trăm
số cá thể còn sống ở một giai đoạn, so với các cá thể ở giai đoạn trước Sự giảm sức sống ở giai đoạn hậu phôi có thể do sự có mặt của các gen nửa gây chết, nhưng phần lớn là do tác động của môi trường (Brandsch H, và Bichel H,1978) [25] Có thể nâng cao tỷ lệ sống bằng các biện pháp nuôi dưỡng tốt,
vệ sinh tiêm phòng kịp thời Các giống vật nuôi nhiệt đới có khả năng chống bệnh truyền nhiễm, bệnh ký sinh trùng cao hơn các giống vật nuôi xứ lạnh
Tỷ lệ nuôi sống của gia cầm non trong điều kiện bình thường đạt khoảng 90%, nhưng cũng có những dòng gà tỷ lệ nuôi sống có thể lên tới 98 - 99% Theo kết quả nghiên cứu của Bùi Quang Tiến và cs (2005) [17] cho biết tỷ lệ nuôi sống
0 - 140 ngày tuổi của các dòng chuyên thịt HE - Ross 208 đạt 95 - 98%
Trang 21Hill F và cs (1954) [32] đã tính toán hệ số di truyền sức sống là 0,06 Sức sống được tính theo các giai đoạn nuôi dưỡng khác nhau
Xét về khả năng thích nghi, khi điều kiện sống thay đổi như: Về thức
ăn, thời tiết, khí hậu, quy trình chăn nuôi, môi trường vi sinh vật xung quanh của gia súc, gia cầm nói chung, gà lông màu nói riêng có khả năng thích ứng rộng rãi hơn đối với môi trường sống (Phan Cự Nhân, Trần Đình Miên, 1998) [11] Tuy nhiên các giống gà trắng chuyên thịt cao sản gần đây cũng đã được chọn lọc, lai tạo để nâng cao dần sức chống chịu trong điều kiện môi trường khác nhau
Trong chăn nuôi gia cầm thì khâu phòng, trị bệnh là một khâu quan trong và không thể thiếu, quyết định sự thành bại trong chăn nuôi
Gia cầm rất mẫn cảm với dịch bệnh, khi mắc bệnh thường lây lan nhanh và dẫn đến tỷ lệ chết cao, dễ kế phát các bệnh khác, đặc biệt là bệnh truyền nhiễm
Trong công tác lai tạo, khi dùng những dòng, giống có sức sống cao thì con lai sẽ thừa hưởng các tính trạng trội khả năng này Nghiên cứu về vấn đề này Fairful R.W (1990) [29] cho biết ưu thế lai về sức sông là rất cao,dao động từ 9 - 14 %, sức sống cao còn phụ thuộc vào yếu tố mầm bệnh hoặc các dạng vi sinh vật khác
Tỷ lệ nuôi sống không chỉ phụ thuộc vào các yếu tố di truyền, điều kiện chăm sóc nuôi dưỡng, tình hình bệnh tật,… mà còn phụ thuộc vào yếu tố môi trường
2.1.5 Khả năng chuyển hóa thức ăn
Trong chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng, việc tạo ra giống mới có năng suất cao thì chưa đủ, mà còn phải tạo ra nguồn thức ăn giầu chất dinh dưỡng phù hợp hợp với đặc tính sinh lý phù hợp với mục đích sản xuất của từng giống, dòng phù hợp với từng giai đoạn phát triển của vật nuôi mà vẫn đảm bảo được các chỉ tiêu về kinh tế, vì chi phí thức ăn thường
Trang 22chiếm tới 70% giá trị sản phẩm Để đánh giá về vấn đề này người ta đưa ra các chỉ tiêu: “ tiêu tốn thức ăn cho 1kg tăng khối lượng’’ Tiêu tốn thức ăn
trên kg tăng khối lượng càng thấp thì hiệu quả kinh tế càng cao và ngược lại
Tiêu tốn thức ăn/kg tăng khối lượng là tỷ lệ chuyển hóa thức ăn để đạt được 1kg thịt, với gà nuôi thịt tiêu tốn thức ăn chủ yếu dùng cho việc tăng khối lượng Nếu tăng khối lượng càng nhanh thì cơ thể đồng hóa, dị hóa tốt hơn, khả năng trao đổi chất cao, do vậy hiệu quả thức ăn cao dẫn đến tiêu tốn thức ăn thấp
Bằng thực nghiệm đã chứng minh tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng phục thuộc vào các yếu tố như sau: Giống, tuổi, tính biệt, mùa vụ, chế độ chăm sóc nuôi dưỡng cũng như tình hình sức khỏe của gia cầm
Bùi Đức Lũng (1992) [8] cho biết gà lai V135 tiêu tốn thức ăn cho tăng khối lượng ở các độ tuổi như sau: 4 tuần tuổi là 1,91; 5 tuần tuổi là 1,98; 6 tuần tuổi là 2,01; 7 tuần tuổi là 2,13; 8 tuần tuổi là 2,26kg
Theo Phan Sỹ Điệt (1990) [3] khi nuôi gà broiler Ross - 208 ở 6 tuần tuổi với mức năng lượng khác nhau cho tiêu tốn thức ăn 1,88 - 2,2kg
Sinh trưởng nhanh và tiêu tốn thức ăn luôn là mục tiêu của nhiều công trình nghiên cứu về lai tạo giống gia cầm
2.1.6 Cơ sở khoa học về khả năng sinh sản của gia cầm
Trong chăn nuôi gia cầm, khả năng sinh sản của đàn gà bố mẹ có ý nghĩa rất quan trọng trong việc đánh giá khả năng sản xuất của một con giống hoặc một dòng nào đó Khả năng sản xuất của gà không chỉ phụ thuộc vào khả năng sinh trưởng, khối lượng lúc giết thịt mà còn phụ thuộc vào khả năng sinh sản, số lượng trứng, số lượng gà con trên một đầu mái
Theo Hoàng Minh Thu (1996) [14] đã viết: “Con người chú trọng đến sinh sản của gia cầm vì không những chức năng đó liên quan đến sự sinh tồn của loài cầm điểu mà từ đó con người mới có số lượng đông đảo gia cầm để
sử dụng hai sản phẩm quan trọng là trứng và thịt”
Trang 23Để duy trì sự phát triển của đàn gia cầm thì khả năng sinh sản là yếu tố
cơ bản quyết định đến quy mô, năng suất và hiệu quả sản xuất đối với gia cầm Sản phẩm chủ yếu là thịt và trứng Trong đó, sản phẩm trứng được coi là hướng sản xuất chính của gà hướng trứng Khả năng sinh sản hay khả năng đẻ trứng quyết định sự phân đàn di truyền giống, mở rộng quy mô đàn gia cầm
Ở các loài gia cầm khác nhau thì đặc điểm sinh sản cũng khác nhau rõ rệt Trứng là sản phẩm quan trọng của gia cầm sinh sản Đánh giá khả năng sản xuất của gia cầm, người ta không thể không chú ý đến sức đẻ trứng của gia cầm
Theo Brandsch và Bichel (1978) [25] thì sức đẻ trứng của gia cầm chịu ảnh hưởng bởi 5 yếu tố:
- Tuổi đẻ đầu hay tuổi thành thục
- Chu kỳ đẻ trứng hay cường độ đẻ trứng
- Tần số thể hiện bản năng đòi ấp
- Thời gian nghỉ đẻ, đặc biệt là nghỉ đẻ mùa đông
- Thời gian đẻ kéo dài hay chu kỳ đẻ (tính ổn định sức đẻ)
Các yếu tố trên do gen di truyền của từng giống gia cầm quy định
Để đánh giá khả năng sinh sản của gia cầm, người ta dựa vào chỉ tiêu: Tuổi đẻ đầu và năng suất trứng
- Tuổi đẻ đầu: Tuổi đẻ quả trứng đầu là thời điểm đàn gà đã thành thục
về tính Tuổi đẻ đầu phụ thuộc vào nhiều yếu tố như: loài, giống, hướng sản xuất, kỹ thuật chăm sóc, nuôi dưỡng, khí hậu,… Đặc biệt là chế độ chiếu sáng Tuổi đẻ đầu đánh giá sự thành thục về tính của đàn gà Thời gian chiếu sáng dài sẽ thúc đẩy gia cầm đẻ sớm Sự thành thục về tính sớm hay muộn có liên quan chặt chẽ đến sự tăng khối lượng cơ thể cũng như sự hoàn thiện tới các cơ quan, bộ phận của cơ thể Những giống gia cầm có tầm vóc nhỏ thường có tuổi thành thục sớm hơn những giống gia cầm có tầm vóc lớn
Trang 24Trong cùng một giống, cá thể nào được chăm sóc, nuôi dưỡng tốt, điều kiện khí hậu và chế độ chiếu sáng phù hợp sẽ thành thục sớm hơn Nhiều công trình khoa học đã chứng minh, tuổi thành thục sinh dục sớm là trội so với tuổi thành thục sinh dục muộn
Tuổi đẻ lứa đầu là tuổi bắt đầu hoạt động sinh dục và có khả năng tham gia quá trình sinh sản Đối với gia cầm mái, tuổi thành thục sinh dục là tuổi bắt đầu đẻ quả trứng đầu tiên Đây là một trong những yếu tố ảnh hưởng đến năng suất trứng Đối với một đàn gà cùng lứa tuổi thì tuổi đẻ quả trứng đầu tiên là thời điểm tại đó, đàn gà đạt tỷ lệ đẻ 5%
Theo Brandsch và Bichel (1978) [25], những gà có tuổi đẻ đầu trước 215 ngày cho sản lượng trứng cao hơn gà có tuổi đẻ đầu sau 215 ngày là 6,9 quả
- Năng suất trứng
Năng suất trứng hay sản lượng trứng của một gia cầm mái là tổng số trứng đẻ ra trong một đơn vị thời gian Đối với gia cầm thì đây là một chỉ tiêu quan trọng phản ánh trạng thái sinh lý và khả năng hoạt động của hệ sinh dục Năng suất trứng phụ thuộc nhiều vào loài, giống, hướng sản xuất, khí hậu,
TĂ, dinh dưỡng, mùa vụ, tuổi, độ béo, thể trọng và đặc điểm của cá thể Trong cùng một điều kiện nuôi dưỡng như nhau, năng suất đẻ của các cá thể trong cùng một giống khác nhau Giữa các cá thể có sự chênh lệch khá lớn so với chỉ tiêu TB của cả đàn Các giống gà khác nhau thì khả năng đẻ trứng cũng khác nhau Năng suất trứng gia cầm phụ thuộc vào tuổi Năng suất trứng của gà ở năm thứ nhất cao hơn năm thứ hai Nhiệt độ môi trường xung quanh liên quan mật thiết với sản lượng trứng Nếu nhiệt độ môi trường quá cao hoặc quá thấp đều làm cho sản lượng trứng giảm Nhiệt độ chuồng nuôi thích hợp nhất cho gà đẻ là 14 - 220C Năng suất trứng là một tính trạng số lượng, phụ thuộc nhiều vào điều kiện ngoại cảnh Năng suất trứng được đánh giá qua cường độ và thời gian kéo dài sự đẻ
Trang 25Tỷ lệ đẻ: Là chỉ tiêu đánh giá sức đẻ trứng của đàn gia cầm Đỉnh cao
của tỷ lệ đẻ có mối tương quan với năng suất trứng Giống gia cầm nào có tỷ
lệ đẻ cao và kéo dài thời kỳ sinh sản thì chứng tỏ là giống tốt Nếu chế độ dinh dưỡng đảm bảo thì năng suất sinh sản sẽ cao Gà chăn thả có tỷ lệ đẻ thấp trong vài tuần đầu của chu kỳ đẻ, sau đó tăng dần và đạt cao ở những tuần tiếp theo rồi giảm dần và thấp ở cuối thời kỳ sinh sản
Cường độ đẻ trứng: Là sức đẻ trứng trong một thời gian ngắn Thời gian
kéo dài sự đẻ có liên quan đến chu kỳ đẻ trứng Chu kỳ đẻ kéo dài hay ngắn phụ thuộc vào cường độ và thời gian chiếu sáng Đây là cơ sở để áp dụng chế độ chiếu sáng nhân tạo trong chăn nuôi gà đẻ Giữa các trật đẻ, gà thường có khoảng thời gian đòi ấp Các giống khác nhau có bản năng ấp khác nhau Điều này chịu ảnh hưởng bởi nhiều yếu tố như: nhiệt độ, ánh sáng, dinh dưỡng,…
Theo Brandsch H và Bichel H (1978) [25] thì nhiệt độ cao và bóng tối kích thích sự ham ấp Thời gian nghỉ đẻ dài hay ngắn có ảnh hưởng trực tiếp đến sản lượng trứng cả năm Gà thường hay nghỉ đẻ mùa đông do nguyên nhân giảm dần về cường độ và thời gian chiếu sáng tự nhiên Ngoài ra, sự nghỉ đẻ này còn do khí hậu, sự thay đổi TĂ, chu chuyển đàn
Khối lượng trứng: Phụ thuộc vào khối lượng cơ thể, giống, tuổi đẻ, dinh
dưỡng, Khối lượng trứng quyết định chất lượng trứng, giống, tỷ lệ ấp nở, khối lượng cơ thể và sức sống của gà con Brandsch H và Bichel H (1978) [25] cho rằng, hiện nay, chưa có cách nào để tăng khối lượng trứng mà không đồng thời tăng khối lượng cơ thể Đó cũng là một trong những nguyên nhân phải hạn chế khối lượng trứng ở mức 55 - 60g để phù hợp với sinh lý của gà và kỹ thuật ấp
nở Ngoài ra, tăng khối lượng trứng còn làm tăng TTTĂ
Theo Nguyễn Duy Hoan, Trần Thanh Vân (1998) [5] thì trong cùng một độ tuổi, khối lượng trứng tăng lên chủ yếu do khối lượng lòng trắng lớn hơn nên giá trị năng lượng giảm dần Khối lượng gà con khi nở bằng 62 -
Trang 2678% khối lượng trứng ban đầu Khối lượng trứng của các giống khác nhau là khác nhau
2.1.7 Giới thiệu về giống gà thí nghiệm
- Nguồn gốc và sự phân bố của gà Ai Cập: Gà Ai Cập có nguồn gốc
từ Ai Cập được Trung Tâm nghiên cứu gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi nhập vào nước ta từ tháng 4 năm 1997 Trung Tâm đã tiến hành chọn lọc, nhân thuần qua 8 thế hệ và đàn gia cầm ổn định cho năng suất cao Bộ Nông Nghiệp và Phát triển Nông thôn đã công nhận đây là dòng gà thuần theo quyết định số 953 QĐ/BNN - KHCN ngày 16 tháng 04 năm 2004
Hiện nay, giống gà này đã đưa vào nuôi trên cả nước và đạt hiệu quả kinh tế đáng ghi nhận Ngày 26/04/2010, trạm khuyến nông Krong Buk - Tỉnh Đắc Lắc đã đưa vào nuôi thử nghiệm giống gà Ai Cập tại hộ ông Đậu Ngọc Hân thôn Ea Tok, xã Pơng với quy mô 50 con và đã đạt được nhiều kết quả khả quan Điều này cho thấy giống gà này thích nghi với khí hậu nơi đây.Tại Quảng Bình, ông Võ Đại Nghĩa là người đi đầu trong phát triển kinh tế trang trại ở vùng cát Với 6000 con gà Ai Cập sau
5 tháng nuôi, trung bình mỗi ngày trang trại thu được 4500 quả trứng mang lại nguồn thu nhập cao cho gia đình Có thể thấy giống gà này có thể nuôi và phát triển thành công ở nhiều vùng miền trên cả nước
- Đặc điểm của gà Ai Cập:
+ Đặc điểm ngoại hình: Gà Ai Cập có tầm vóc nhỏ, nhanh nhẹn, thiết
diện hình nêm, da trắng Lông bao phủ toàn thân, màu đen đốm trắng xen kẽ, lông cổ màu trắng đục Chân cao, màu chì, có hai hàng vảy Mào và tích có màu đỏ tươi, là mào đơn Gà trống có mào cờ, đứng, ngực rộng dài, lông đuôi dài, cong và xòe ra Trên lưng phần lông trắng chiếm nhiều hơn so với gà
mái Gà mái có thân hình gọn, nhỏ, mào nhỏ hơn, lông đuôi ngắn
+ Đặc điểm sinh trưởng: Gà Ai Cập không đòi hỏi điều kiện chăm sóc
Trang 27khắt khe như các giống gà nhập nội khác TTTĂ/10 quả trứng là 2,33kg Tốc
độ sinh trưởng của gà Ai Cập nhanh hơn gà địa phương Khối lượng cơ thể ở
14 TT gà trống đạt 1,3 - 1,5kg, gà mái đạt 1 - 1,1kg; ở 20 TT gà trống đạt 1,7
- 1,8kg, gà mái đạt 1,3 - 1,4kg
+ Đặc điểm sinh sản: Là giống gà kiêm dụng trứng, thịt có kích thước
không lớn, năng suất trứng không cao như các giống cao sản, nhưng chất lượng trứng thơm ngon, hợp với thị hiếu người tiêu dùng
Gà bắt đầu đẻ trứng từ khoảng 148 - 150 ngày tuổi Năng suất trứng đối với gà nuôi nhốt hoàn toàn là 184,94 quả/ năm, đối với gà nuôi bán chăn thả
là 178,57 quả/mái/năm Tỷ lệ phôi cao từ 95 - 99%, tỷ lệ nở trên trứng ấp là
91 - 93% Trứng có màu hồng nhạt, có kích thước tương đương với trứng gà
ta Khối lượng trứng từ 45 - 55g Tiêu tốn TĂ thấp, mang lại hiệu quả kinh tế cho người chăn nuôi
2.2 Tình hình nghiên cứu trong và ngoài nước
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước
Sau 20 năm đổi mới, chăn nuôi nói chung và chăn nuôi gia cầm nói riêng có tốc độ tăng trưởng nhanh và bền vững với giá trị sản xuất lớn Chăn nuôi gia cầm có giá trị sản xuất 1.701 tỷ đồng năm 1986 tăng lên 3.712,8 năm 2002; đến năm 2006 đạt 9.244,3 tỷ đồng chiếm 19% trong chăn nuôi Tổng
đàn gia cầm năm 1986 có 99,9 triệu con đến năm 2003 đạt 254 triệu con
Trong đó, gà 185 triệu con; vịt, ngan, ngỗng 69 triệu con Tốc độ tăng bình quân 7,85%/năm Trong đó, số lượng đàn gà giai đoạn 1990 - 2003 tăng
từ 80,18 triệu con lên 185 triệu con, tốc độ tăng bình quân 7,7%/năm
Từ năm 2003, do ảnh hưởng của dịch cúm gia cầm, số lượng đàn gia cầm có giảm Năm 2006, tổng đàn gia cầm có 214,6 triệu con; trong đó, gà
152 triệu con, thủy cầm 62,6 triệu con
Một số vùng kinh tế sinh thái có số lượng gia cầm lớn như: đồng bằng sông Hồng 58,4 triệu con; Đông Bắc Bộ 42,5 triệu con; đồng bằng sông Cửu
Trang 28Long 15,4 triệu con; duyên hải miền Trung 12,5 triệu con, Tây Bắc 8,8 triệu con, Đến ngày 01/10/2010, tổng đàn gia cầm có khoảng 300,5 triệu con tăng 7,3%; sản lượng thịt là 621,2 nghìn tấn tăng 17,5%; số lượng trứng gia cầm là 6371,8 triệu quả tăng 16,5 triệu lần so với cùng kỳ năm 2009
Đạt được những kết quả trên là nhờ việc đưa vào sản xuất các giống gà công nghiệp năng suất cao, đẩy mạnh chăn nuôi gà công nghiệp Từ năm
1995 đã tập trung nghiên cứu và phát triển gà chăn thả trên phạm vi toàn quốc Về sản phẩm: Tổng số thịt hơi đạt 3.073 nghìn tấn, trong đó thịt gia cầm đạt 3.444 nghìn tấn, trứng gia cầm đạt 3.969 triệu quả (chiếm 81,8%)
Theo Trần Công Xuân và cs (2002) [24] khi nghiên cứu về khả năng sản xuất của gà Lương Phượng hoa Trung Quốc đã kết luận: Dòng M1 có tuổi
đẻ quả trứng đầu là 145 ngày tuổi, đẻ 5% lúc 160 ngày tuổi, 30% lúc 170 ngày tuổi và đạt 50% lúc 184 ngày tuổi Khối lượng trứng lúc 38 TT đạt 55,42 g; tỷ lệ lòng đỏ đạt 30,92%; tỷ lệ phôi đạt 94,59%; tỷ lệ ấp nở/tổng trứng ấp đạt 83,11%; tỷ lệ ấp nở/tổng trứng có phôi đạt 88,08%
Theo Trần Công Xuân và cs (2001) [24] nghiên cứu về khả năng sản xuất của 4 dòng gà kabir ông bà nhập nội nuôi tại trung tâm nghiên cứu Gia cầm Thụy Phương - Viện Chăn nuôi kết luận: gà có khả năng sinh sản khá cao, năng suất trứng đến 70 TT ở mái B là 163,34 quả; mái D là 177,03 quả TTTĂ /10 trứng giống thấp, tương ứng là 2,94 và 2,79kg Khối lượng trứng
TB 55 - 56g, đơn vị Haugh là 84 Tỷ lệ trứng chọn ấp đạt 92 - 93% Tỷ lệ trứng có phôi đạt 92,18 - 96,02%
Nghiên cứu tính năng sản xuất của giống gà Lương Phượng hoa dòng M1, M2, Nguyễn Huy Đạt và cs (2001) [2] cho biết, hai dòng gà có sức sống cao qua các giai đoạn Gà con 1 - 5 TT dòng M1 đạt 97,3 - 97,8%; dòng M2 đạt 96,3% Gà dò 6 - 20 TT dòng M1 đạt 97,5 - 98%; dòng M2 đạt 96% Gà
đẻ M1 đạt 98,4 - 98,8%; dòng M2 đạt 98,35% Sản lượng 7 tháng đẻ dòng M1
Trang 29đạt 157,1 - 167,6 quả; dòng M2 đạt 158,3 quả TTTĂ/10 quả trứng dòng M1 đạt 3,0 - 3,26kg; dòng M2 đạt 3,17kg Khối lượng trứng lớn ở tuần 38 dòng M1 đạt 55 - 55,4g; dòng M2 đạt 55,3g với đơn vị Haugh đạt 92 - 93%, đảm bảo tỷ lệ ấp nở cao đạt 89,7 - 90,7% và gà nở loại I đạt 87,1 - 88,6%
Theo Phùng Đức Tiến và cs (2006) [16] nghiên cứu về khả năng sản xuất của 4 dòng gà Sasso kết luận: Gà có khả năng thích nghi cao với điều kiện khí hậu nước ta Tỷ lệ nuôi sống đạt 95,12 - 100% Năng suất trứng/mái/11 tuần đẻ của mái X04 là 39,29 quả Năng suất trứng/mái/13 tuần đẻ của mái A01 là 55,93 quả
Tỷ lệ trứng có phôi cao đạt 94,93% Tỷ lệ ấp nở/tổng trứng ấp đạt 79,23%
Gà Ai Cập có sức sống tốt, tỷ lệ nuôi sống cao, giai đoạn gà con (0 - 9 TT) đạt 98,06%, giai đoạn gà dò, hậu bị (10 - 21 TT) đạt 97,03%, giai đoạn sinh sản đạt 90 - 91% Gà có khả năng sinh trưởng tốt Khối lượng cơ thể lúc
9 TT TB gà trống đạt 779,27g/con; gà mái đạt 668,96g/con Khối lượng lúc
19 TT TB gà trống đạt 1767,73g/con; gà mái đạt 1348,10g/con
Gà Ai Cập có khả năng sinh sản tốt, tuổi đẻ đầu là 150 ngày tuổi (5 tháng tuổi), năng suất trứng 190 - 220 quả/mái/năm Tỷ lệ trứng có phôi
TB đạt 93,60%; tỷ lệ nở/tổng trứng ấp đạt 86,55% TTTĂ /gà giai đoạn 0 -
9 TT là 1,8 - 2,0kg; giai đoạn 10 - 21 TT là 5,5 - 6,2kg; trong 1 năm đẻ là
25 - 38kg
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước
Chăn nuôi gia cầm trên thế giới đã và đang phát triển mạnh cả về số lượng và chất lượng Đặc biệt là ở các nước phát triển như Mỹ, Pháp, Hà Lan, Đức,…Theo tài liệu của FAO công bố: Năm 1997, sản lượng thịt gia cầm trên thế giới đạt trên 59 triệu tấn, tăng 3 triệu tấn so với năm 1996 Đứng đầu thế giới về sản lượng thịt gia cầm vẫn là Hoa Kỳ (25,3%) Từ năm 1994, Trung Quốc đã vượt Brazil để chiếm lĩnh vị trí thứ hai (19,5%) Trên thế giới có 41 nước chăn nuôi gia cầm phát triển, đảm đương sản xuất 90% sản lượng thị gia