Lợn hay mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng, bệnh sản khoa… Một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản là bệnh viêm tử cung.. Với mục đích góp phần nân
Trang 1MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Sƣ phạm kỹ thuật nông nghiệp Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2011 - 2015
THÁI NGUYÊN, NĂM 2015
Trang 2ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN
TRƯỜNG ĐẠI HỌC NÔNG LÂM
MỘT SỐ PHÁC ĐỒ ĐIỀU TRỊ BỆNH
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC
Hệ đào tạo : Chính quy Chuyên ngành : Sư phạm kỹ thuật nông nghiệp Khoa : Chăn nuôi thú y
Khóa học : 2011 - 2015 Giảng viên hướng dẫn : GS.TS Nguyễn Thi ̣ Kim Lan
THÁI NGUYÊN, NĂM 2015
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thiện khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu
Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn tới:
Ban giám hiệu, toàn thể các thầy cô giáo khoa Chăn nuôi Thú y Trường
Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt cô giáo GS.TS Nguyễn Thi ̣ Kim Lan
đã luôn động viên giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiê ̣n và hoàn thành khoá luâ ̣n
Tôi xin trân tro ̣ng cảm ơn: toàn thể công nhân viên trại lợn của công ty TNHH Phú Kỳ - xã Ngọc Lương - huyện Yên Thủy - tỉnh Hòa Bình đã tiếp nhâ ̣n và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài trong quá trình thực tập tại
cơ sở
Để hoàn thành khóa luận này, tôi luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè
Tôi xin chân thành cảm ơn!
Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015
Sinh viên
Lê Thị May
Trang 4DANH MỤC CÁC BẢNG
Bảng 3.1: Sơ đồ bố trí thí nghiệm 29
Bảng 4.1: Quy trình phòng bệnh của trại lợn nái 35
Bảng 4.2: Kết quả công tác phục vụ sản xuất 40
Bảng 4.3: Điều tra quy mô đàn lợn nái năm 2014, 2015 41
Bảng 4.4: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 41
Bảng 4.5: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ của lợn 42
Bảng 4.6: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở các tháng (3 - 5) 43
Bảng 4.7: Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn 44
Bảng 4.8: Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung của 2 phác đồ điều trị 44
Trang 5DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT
Cs : Cộng sự Nxb : Nhà xuất bản STT : Số thứ tự
TT : Thể trọng
Trang 6MỤC LỤC
LỜI CẢM ƠN i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
DANH MỤC CÁC TỪ, CỤM TỪ VIẾT TẮT iii
MỤC LỤC iv
Phần 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục đích nghiên cứu 2
1.3 Mục tiêu của đề tài 2
1.4 Ý nghĩa của đề tài 2
1.4.1 Ý nghĩa khoa học 2
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn 2
Phần 2: TỔNG QUAN TÀI LIỆU 3
2.1 Cơ sở khoa học 3
2.1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái 3
2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái 6
2.1.3 Sinh lý lâm sàng 8
2.1.4 Quá trình viêm tử cung 9
2.1.5 Các bệnh thường gặp về viêm tử cung 10
2.1.5.1 Viêm cổ tử cung (Cervitis) 10
2.1.5.2 Viêm tử cung 11
2.1.6 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung 14
2.1.7 Một số bệnh khác ở đường sinh dục của lợn nái 16
2.1.8 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung 19
Trang 72.1.9 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong
đề tài 21
2.2 Tình hình nghiên cứu trong nước và ngoài nước 24
2.2.1 Tình hình nghiên cứu trong nước 24
2.2.2 Tình hình nghiên cứu ngoài nước 25
Phần 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CÚU 27
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 27
3.2 Địa điểm và thời gian tiến hành 27
3.3 Nội dung nghiên cứu 27
3.4 Phương pháp nghiên cứu và các chỉ tiêu theo dõi 27
3.4.1 Các chỉ tiêu theo dõi 27
3.4.2 Phương pháp nghiên cứu 27
3.4.2.1 Xác định một số chỉ tiêu lâm sàng của nái khỏe và nái viêm tử cung 27
3.4.2.2 Phương pháp bố trí thí nghiệm 28
Phần 4: KẾT QUẢ ĐẠT ĐƯỢC 31
4.1 KẾT QUẢ CÔNG TÁC PHỤC VỤ SẢN XUẤT 31
4.1.1 Công tác chăm sóc nuôi dưỡng 31
4.1.2 Phát hiện lợn nái động dục và thụ tinh nhân tạo cho lợn 32
4.1.3 Công tác thú y 34
4.2 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 41
4.2.1 Quy mô đàn lợn nái năm 2014 và 2015 của Trại 41
4.2.2 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung của đàn lợn nái 41
4.2.3 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo lứa đẻ 42
4.2.4 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở điều các tháng (từ tháng 3 đến tháng 5) 42
Trang 84.2.5 Tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung theo giống lợn 43
4.2.6 Kết quả điều trị bệnh viêm tử cung của 2 phác đồ điều trị 44
Phần 5: KẾT LUẬN, TỒN TẠI VÀ ĐỀ NGHỊ 46
5.1 Kết luận 46
5.2 Tồn tại 46
5.3 Đề nghị 47
TÀI LIỆU THAM KHẢO
I Tài liệu trong nước
II Tài liệu dịch
Trang 9Phần 1
MỞ ĐẦU 1.1 Đặt vấn đề
Trong những năm gần đây, nhờ áp dụng các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, chăn nuôi lợn nước ta đã có những bước phát triển như: tổng đàn tăng, cơ cấu đàn lợn đa dạng, năng suất, chất lượng cao… Chăn nuôi theo kiểu hộ gia đình ngày càng giảm, thay vào đó là các trang trại với quy
mô nhỏ và vừa ngày càng tăng
Tuy nhiên, nghề chăn nuôi lợn luôn gặp khó khăn, ngoài sự cạnh tranh với các ngành nghề khác, các chính sách, chi phí đầu vào, chi phí thức ăn… chăn nuôi lợn còn phải đối mặt với tình hình dịch bệnh Lợn hay mắc một số bệnh như: Bệnh truyền nhiễm, kí sinh trùng, bệnh sản khoa… Một trong những bệnh sản khoa thường gặp ở lợn nái sinh sản là bệnh viêm tử cung Bệnh viêm tử cung ở lợn ảnh hưởng rất lớn đến khả năng sinh sản, làm mất sữa, lợn con không có sữa sẽ còi cọc, suy dinh dưỡng, lợn con chậm phát triển Lợn nái chậm động dục trở lại, không thụ thai, có thể dẫn đến mất khả
năng sinh sản Bệnh viêm tử cung do một số vi khuẩn như: Escherichia coli,
Streptococcus, Staphylococcus… Bệnh có thể dẫn đến hậu quả như: gây chết
thai, sẩy thai… và làm hạn chế khả năng sinh sản của lợn nái ở các lứa tiếp theo, ảnh hưởng đến năng suất, chất lượng và hiệu quả của nghề chăn nuôi lợn
Với mục đích góp phần nâng cao khả năng sinh sản của đàn lợn, nâng cao hiệu quả phòng trị bệnh, tiết kiệm chi phí tại trại lợn của Công ty TNHH Phú Kỳ - xã Ngọc Lương - huyện Yên Thủy - tỉnh Hòa Bình, tôi thực hiện
chuyên đề: “Tình hình mắc bệnh viêm tử cung ở đàn lợn nái tại trại lợn của Công ty TNHH Phú Kỳ - xã Ngọc Lương - huyện Yên Thủy - tỉnh Hòa Bình và thử nghiệm một số phác đồ điều trị bệnh"
Trang 101.2 Mục đích nghiên cứu
- Đánh giá tỷ lệ mắc bệnh viêm tử cung ở lợn nái
- Thử nghiệm và đánh giá hiệu quả của hai phác đồ điều trị
1.3 Mục tiêu của đề tài
- Xác định tỷ lệ viêm tử cung ở lợn nái
- Xác định những biểu hiện lâm sàng của bệnh
- Xác định hiệu lực và độ an toàn của một số loại thuốc điều trị bệnh
1.4 Ý nghĩa của đề tài
1.4.1 Ý nghĩa khoa học
Đề tài cung cấp một số thông tin có giá trị khoa học, bổ sung thêm những hiểu biết về bệnh viêm tử cung ở lợn, là cơ sở khoa học cho những biện pháp phòng trị bệnh có hiệu quả
1.4.2 Ý nghĩa trong thực tiễn
Xác định được một số thuốc có hiệu lực và độ an toàn cao trong điều trị bệnh viêm tử cung ở lợn
Những khuyến cáo từ kết quả của đề tài giúp cho người chăn nuôi hạn chế được những thiệt hại do bệnh gây ra
Trang 11Phần 2 TỔNG QUAN TÀI LIỆU 2.1 Cơ sở khoa học
2.1.1 Cấu tạo giải phẫu và sinh lý cơ quan sinh dục cái
Quá trình hoạt động sinh lý của cơ quan sinh dục là rất quan trọng và
cơ bản, giúp gia súc trong hoạt động sinh sản nhằm duy trì nòi giống Cấu tạo gồm bộ phận sinh dục bên ngoài và bộ phận sinh dục bên trong
Bộ phận sinh dục bên ngoài là bộ phận sinh dục có thể nhìn thấy, sờ thấy và quan sát được Bao gồm: âm môn, âm vật và tiền đình Bộ phận sinh dục bên trong không nhìn thấy được nhưng bằng phương pháp gián tiếp người
ta có thể quan sát, hoặc sờ thấy bao gồm: âm đạo, tử cung, ống dẫn trứng, buồng trứng Mỗi bộ phận này đều đảm nhiệm một chức năng khác nhau và giữ một vai trò quan trọng khác nhau
* Âm môn (vulva)
Âm môn hay còn gọi là âm hộ, nằm dưới hậu môn Bên ngoài có hai môi, bờ trên của hai môi có sắc tố, nhiều tuyến tiết chất nhờn màu trắng và tuyến tiết mồ hôi
* Tiền đình (vetstibulum vaginae simusinogenitalism)
Tiền đình là giới hạn giữa âm môn và âm đạo Trong tiền đình có màng trinh, phía trước là âm đạo Màng trinh là các sợi cơ đàn hồi do hai lớp niêm mạc gấp lại tạo thành một nếp Tiền đình có một số tuyến xếp theo hàng chéo, hướng quay về âm vật
Trang 12* Âm đạo (vagina)
Âm đạo là một ống tròn, phía trước là cổ tử cung, phía sau là tiền đình
có màng trinh Âm đạo được cấu tạo bởi ba lớp:
Lớp liên kết bên ngoài
Lớp cơ trơn: bên ngoài là cơ dọc, bên trong là cơ vòng, chúng liên kết với các cơ tử cung
Lớp niêm mạc: trên bề mặt có nhiều tế bào thượng bì gấp nếp dọc Ngoài ra âm đạo còn là bộ phận thải thai ra bên ngoài khi sinh đẻ và là ống thải các chất dịch từ trong tử cung
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], âm đạo của lợn dài 10 - 12 cm
* Tử cung (uterus)
Tử cung của lợn có hai sừng, một thân và một cổ tử cung
Cổ tử cung: là phần ngoài của tử cung, cổ tử cung của lợn dài và tròn, không gấp nếp hoa nở mà là những cột thịt dài xen kẽ cài răng lược với nhau
do đó dễ dàng cho việc thụ tinh nhân tạo đồng thời cũng dễ gây sảy thai (Đặng Quang Nam và Phạm Đức Chương, 2002 [8])
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] thì cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm
Thân tử cung: thân tử cung lợn ngắn, độ dài khoảng 3 - 5 cm nối giữa sừng tử cung và cổ tử cung Niêm mạc thân và sừng tử cung là những nếp gấp nhăn nheo theo chiều dọc
Sừng tử cung: sừng tử cung của lợn ngoằn ngoèo như ruột non dài 0,5
- 1 m Ở lợn thai làm tổ đều hai sừng tử cung
* Ống dẫn trứng
Ống dẫn trứng (vòi fallop) nằm ở màng treo buồng trứng Chức năng của ống dẫn trứng là vận chuyển trứng và tinh trùng theo chiều ngược nhau Cấu tạo ống dẫn trứng cũng phù hợp với chức năng này, một đầu ống dẫn trứng thông với xoang bụng, gần sát buồng trứng có loa kèn là một màng
Trang 13mỏng tạo thành một tán rộng lô nhô không đều ôm lấy trứng Trứng được vận chuyển qua lớp nhầy đi đến lòng ống dẫn trứng, nơi xảy ra quá trình thụ tinh
và phân chia của phôi Thời gian tế bào trứng di chuyển trong ống dẫn trứng
từ 3 - 10 ngày Trên đường di hành, tế bào trứng có thể ở lại các đoạn khác nhau do những chỗ hẹp của ống dẫn trứng
Có thể chia ống dẫn trứng thành bốn đoạn chức năng: đoạn tua điểm, đoạn phễu, phồng của ống dẫn trứng và đoạn co của ống dẫn trứng
đã có khoảng 60.000 trứng non Theo thời gian, buồng trứng này phát triển qua các giai đoạn khác nhau Tầng ngoài là những noãn bào sơ cấp phân bố tương đối đều, tầng trong là những noãn bào thứ cấp đang sinh trưởng, khi noãn bào chín sẽ nổi lên bề mặt buồng trứng
Noãn bào sơ cấp có trứng ở giữa, xung quanh là noãn bào, noãn bào lúc đầu có hình dẹt sau có hình trụ Noãn bào thứ cấp do noãn bào tăng sinh và hình thành xoang noãn bào ép trứng về một phía, khi noãn bào chín là quá trình sinh trưởng đã hình thành Noãn bào nổi lên trên bề mặt buồng trứng, đến một giai đoạn nhất định sẽ vỡ ra, tế bào trứng theo dịch noãn bào vào loa kèn rồi đi vào ống trứng, nơi noãn bào vỡ sẽ hình thành thể vàng
Thể vàng tiết ra progesteron, khối lượng thể vàng và hàm lượng progesteron tăng nhanh từ ngày thứ 8 và tương đối ổn định cho đến ngày thứ
Trang 1415, sự thoái hóa thể vàng bắt đầu từ ngày thứ 17 - 18 và sẽ chuyển thành thể bạch nếu trứng không được thụ tinh
2.1.2 Đặc điểm sinh lý, sinh dục của lợn nái
là sự biến đổi về thần kinh lúc đầu hưng phấn sau chuyển sang giai đoạn mê ì Cùng với sự biểu hiện sinh dục bên ngoài, ở bên trong buồng trứng cũng có
sự biến đổi, các noãn bào nổi trên bề mặt trứng và chín, niêm mạc tử cung tăng sinh, cổ tử cung mở dần kèm theo tiết dịch
Theo Lee (1993) tuổi đầu tiên của nái hậu bị trung bình là 4 - 5 tháng tuổi nhưng tuổi phối giống lần đầu thích hợp là 7 - 8 tháng tuổi và tuổi đẻ lứa đầu là 11 - 12 tháng tuổi
* Chu kỳ tính
Khi gia súc thành thục về tính, những biểu hiện tính dục được biểu hiện
ra liên tục có tính chu kỳ, nó chấm dứt hoàn toàn khi cơ thể già yếu
Đây là một quá trình sinh lý phức tạp, sau khi cơ thể phát triển hoàn toàn, cơ quan sinh dục không có bào thai và không có hiện tượng bệnh lý thì bên trong buồng trứng các noãn bào phát triển, chín và nổi cộm lên bề mặt buồng trứng Khi noãn bào vỡ, trứng rụng gọi là sự rụng trứng, mỗi lần rụng
Trang 15trứng con vật có những biểu hiện tính dục ra bên ngoài gọi là động dục Do trứng rụng có tính chu kỳ nên động dục cũng mang tính chu kỳ
Sở dĩ trứng rụng có tính chu kì: dưới sự điều khiển của thần kinh trung ương, tuyến yên tiết ra FSH tác động lên buồng trứng làm các noãn bao phát triển, trong khi đó LH làm trứng chín, khi đạt đến tỷ lệ LH/FSH là 3:1 thì khi
đó rụng trứng, hình thành thể vàng Thể vàng tồn tại cho đến khi gần đẻ nếu gia súc được thụ thai, nó chỉ tồn tại từ 3 - 15 ngày nếu trứng không được thụ tinh, sau đó nó teo đi dưới tác dụng của PGF2α làm co mạch máu ngoại vi nuôi thể vàng, lúc này thể vàng rơi vào tình trạng không được cung cấp chất dinh dưỡng và bị tiêu hủy trong vòng 24h giờ, kết quả làm hàm lượng progesteron giảm, lúc này FSH và LH được giải phóng làm trứng phát triển
và chín, xuất hiện chu kỳ động dục tiếp theo
Một chu kỳ động dục được tính từ lần thải trứng trước đến lần thải trứng sau Các loài gia súc khác nhau thì thời gian hình thành chu kỳ là khác nhau Ở lợn thời gian hình thành một chu kỳ trung bình là 21 ngày biến động trong phạm vi từ 18 - 25 ngày Khi tiến hành phối giống lợn có chửa thì lợn không động dục lại Thời gian có chửa của lợn là 114 ngày, thời gian động dục trở lại là 7 ngày sau cai sữa, dao động từ 5 - 12 ngày
* Khoảng cách giữa các lứa đẻ
Khoảng cách giữa các lứa đẻ là chỉ tiêu quan trọng đánh giá khả năng sinh sản của gia súc cái Đây là tính trạng bao gồm nhiều tính trạng tạo nên bao gồm thời gian có chửa, thời gian nuôi con, thời gian cai sữa đến thụ thai lứa sau, do vậy khoảng cách lứa đẻ ảnh hưởng đến số con cai sữa/nái/năm Nhiều công trình nghiên cứu cho thấy thời gian mang thai của lợn nái dao động không đáng kể, từ 113 - 115 ngày, đây là yếu tố ít biến đổi
Để rút ngắn khoảng cách các lứa đẻ ta chỉ có thể tác động rút ngắn thời gian bú sữa của lợn con bằng cách cai sữa sớm ở lợn con Nhiều công trình
Trang 16nghiên cứu cho thấy rằng: để rút ngắn thời gian sau đẻ đến phối giống lại có kết quả cao thì phải chăm sóc nuôi dưỡng tốt và đặc biệt phải cai sữa sớm cho lợn con, điều đó tăng số con cai sữa/nái/năm Để rút ngắn thời gian cai sữa, phải tập cho lợn con ăn sớm từ 7 ngày tuổi đến khi lợn con có thể sống bằng thức ăn được cung cấp, không cần sữa mẹ
Hiện nay các cơ sở chăn nuôi tập trung, thời gian cai sữa ở lợn con là 21 ngày, sau cai sữa 5 - 6 ngày nái mẹ được phối giống lại Như vậy khoảng cách các lứa đẻ trung bình là 140 ngày, một năm nái có thể sản xuất được 2,5 lứa
5 h sáng), cao nhất vào buổi chiều từ 16h - 18h (Hồ Văn Nam và cs, 1997 [9])
Thân nhiệt của lợn trong điều kiện sinh lý bình thường dao động trong khoảng 38,5 - 39,50C
+ Sốt
Sốt là phản ứng toàn thân đối với các tác nhân gây bệnh mà đặc điểm chủ yếu là thân nhiệt cơ thể cao hơn so với sinh lý bình thường Quá trình chủ yếu là do tác động của vi sinh vật gây bệnh, độc tố và những chất khác được hình thành trong quá trình sinh bệnh Những chất đó chủ yếu là protein hay sản phẩm của nó (Hồ Văn Nam và cs, 1997 [9]) Một số kích tố như adrenalin, parathyoroxyn, nước muối, glucoza ưu chương đều có thể gây sốt
+ Tần số hô hấp
Tần số hô hấp là số lần thở trên phút, nó phụ thuộc vào cường độ trao
Trang 17đổi chất, tuổi, tầm vóc Gia súc non có cường độ trao đổi chất mạnh nên tần
số hô hấp tăng hơn Động vật nhỏ cũng có tần số hô hấp cao hơn so với động vật có thể vóc lớn Ngoài ra trạng thái sinh lý, vận động, nhiệt độ môi trường cũng ảnh hưởng đến nhịp thở Tần số hô hấp bình thường dao động trong khoảng 8 - 18 lần/phút
2.1.4 Quá trình viêm tử cung
Viêm là phản ứng toàn thân chống lại các tác nhân gây bệnh, thường
biểu hiện ở cục bộ, quá trình viêm xảy ra nhiều giai đoạn khác nhau, mỗi giai đoạn có những biểu hiện khác nhau Tại ổ viêm thường xảy ra các biểu hiện sưng, nóng, đỏ, đau Xét trên mặt tích cực, viêm là phản ứng nhằm ổn định
các hằng số nội môi trong cơ thể, giúp cơ thể chống lại các tác nhân gây bệnh
Theo Metchnikov (1821 - 1902) sau khi quan sát hiện tượng di động và nuốt các dị vật của bạch cầu đa nhân trung tính cho rằng, trung tâm của phản ứng viêm là sự hoạt động của những tế bào thoát mạch và chống lại các vật kích thích viêm mà ông gọi là hiện tượng thực bào (phagocytosis) (Hồ Văn Nam và cs, 1997 [9])
Theo Ado (1973) viêm gây tổn thương các mạch quản, tổ chức liên kết
và hệ thần kinh đối với tính phản ứng của cơ thể
Theo Vũ Triệu An và cs (1990) [1] thì viêm là một phản ứng của cơ thể
mà nền tảng của nó là phản ứng của tế bào Phản ứng này hình thành và phát triển trong quá trình tiến hóa của sinh vật
Ngày nay người ta cho rằng viêm là phản ứng toàn thân chống lại mọi kích thích có hại cho cơ thể, thể hiện ở cục bộ mô bào
* Hậu quả của phản ứng tuần hoàn và tế bào trong viêm
Phản ứng tuần hoàn và phản ứng tế bào trong viêm đã gây ra các rối loạn chủ yếu sau:
+ Rối loạn chuyển hóa
Trang 18Tại ổ viêm quá trình ôxy hóa tăng mạnh, nhu cầu ôxy tăng nhưng vì có rối loạn tuần hoàn nên khả năng cung cấp ôxy không đủ, gây rối loạn chuyển hóa gluxit, lipit và protein làm thay đổi pH, gây tăng độ axit, xeton, lipit, polypeptit, và các axit amin tại ổ viêm
+ Tổn thương ở mô bào
Các tế bào bị thương tại ổ viêm giải phóng các enzym càng làm trầm trọng thêm quá trình hủy hoại mô bào và phân hủy các chất tại ổ viêm, chúng tạo ra các chất trung gian có hoạt tính sinh học cao và hạ thấp pH tại ổ viêm
+ Tăng sinh ở mô bào
Là hiện tượng tăng lên về số lượng, các tế bào này có thể từ máu tới hoặc các tế bào tại chỗ sinh sản và phát triển ra Trong quá trình viêm giai đoạn đầu chủ yếu tăng sinh bạch cầu đa nhân trung tính Sự tăng sinh và phát triển của các loại tế bào phụ thuộc vào mức độ tổn thương của ổ viêm cũng như tình trạng phản ứng của cơ thể (Phạm Khắc Hiếu và Lê Thị Ngọc Diệp,
1997 [6])
+ Các tế bào viêm
Các tế bào tăng sinh trong ổ viêm được gọi chung là các tế bào viêm, bao gồm bạch cầu đa nhân trung tính, bạch cầu ái toan, bạch cầu ái kiềm, bạch cầu đơn nhân lớn
2.1.5 Các bệnh thường gặp về viêm tử cung
2.1.5.1 Viêm cổ tử cung (Cervitis)
Cổ tử cung lợn có những u thịt xen kẽ khép lại với nhau theo lối cài răng lược (Phạm Thị Xuân Vân, 1982 [15])
Trang 19Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] cổ tử cung lợn dài 10 - 18 cm, tròn không có nếp gấp nên dễ thụ tinh nhân tạo hơn trâu bò
Cổ tử cung luôn đóng chỉ hé mở khi động dục và mở hoàn toàn khi sinh đẻ Bệnh viêm cổ tử cung ở gia súc thường là hậu quả của những sai sót về
kỹ thuật thụ tinh nhân tạo, do thao tác đỡ đẻ nhất là các trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không đúng làm niêm mạc cổ tử cung bị xây sát Ngoài ra, viêm cổ tử cung còn do kế phát từ viêm âm đạo, viêm tử cung (Trần Tiến Dũng và cs, 2002 [4])
Hậu quả của viêm cổ tử cung làm cổ tử cung bị tắc, khi gia súc động dục niêm dịch không thoát ra ngoài được Khi ta dùng mỏ vịt và đèn soi khám qua âm đạo thấy cổ tử cung mở đường kính từ 1 - 2 cm thấy niêm mạc xung huyết hoặc phù rõ, cá biệt có vết loét dính mủ (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [13])
2.1.5.2 Viêm tử cung
Tử cung là bộ phận quan trọng của cơ quan sinh dục, nơi thai làm tổ được đảm bảo mọi điều kiện để thai phát triển Mọi quá trình bệnh lý ở tử cung đều ảnh hưởng trực tiếp đến khả năng sinh sản (Nguyễn Văn Thanh, 2003 [13])
Chính vì vậy, bệnh viêm tử cung đã được nhiều tác giả nghiên cứu Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4] thì viêm tử cung chia làm 3 thể: viêm nội mạc tử cung, viêm cơ tử cung và viêm tương mạc tử cung
a Viêm nội mạc tử cung (Endomestritis)
Theo Black (1983) viêm nội mạc tử cung là viêm lớp niêm mạc tử cung Đây là một trong những nguyên nhân chủ yếu làm suy giảm khả năng sinh sản của gia súc cái.Viêm nội mạc tử cung phổ biến và chiếm tỷ lệ cao nhất trong các thể viên tử cung (trích Phùng Thị Vân, 2004 [16])
Nguyên nhân: Khi gia súc sinh đẻ, nhất là trong những trường hợp đẻ khó phải can thiệp bằng tay hoặc dụng cụ, niêm mạc tử cung bị xây sát, tổn
thương, vi khuẩn như: Streptococcus, Staphylococcus, E coli, Salmonella,
Trang 20Brucella, roi trùng xâm nhập và phát triển gây viêm nội mạc tử cung Mặt
khác, một số bệnh truyền nhiễm như sảy thai truyền nhiễm, phó thương hàn, bệnh lao… thường gây ra viêm nội mạc tử cung Căn cứ vào tính chất, trạng thái của quá trình bệnh lý, viêm nội mạc tử cung có thể chia ra làm hai loại: Viêm nội mạc tử cung thể cata cấp tính có mủ
Viêm nội mạc tử cung có màng giả
* Viêm nội mạc tử cung cata cấp tính có mủ (Endomestritis puerperalis Catarhalis purulenta acuta)
Bệnh này xuất hiện trên tất cả các loài gia súc, gặp nhiều ở bò, trâu và lợn Sau khi sinh đẻ, niêm mạc cổ tử cung và âm đạo bị tổn thương, sây sát, nhiễm khuẩn, nhất là khi gia súc bị sát nhau, đẻ khó phải can thiệp
Khi bị bệnh, gia súc có biểu hiện một số triệu chứng chủ yếu: thân nhiệt hơi cao, ăn uống giảm, lượng sữa giảm Con vật có trạng thái đau đớn nhẹ, đôi khi cong lưng rặn, tỏ vẻ không yên tĩnh Từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch, niêm dịch lẫn với dịch viêm, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức chết…
Khi con vật nằm, dịch viêm thải ra ngoài càng nhiều hơn Xung quanh
âm môn, gốc đuôi, hai bên mông dính nhiều dịch viêm, có khi nó khô lại hình thành từng đám vẩy, màu trắng xám Kiểm tra qua âm đạo, niêm dịch và dịch viêm thải ra nhiều Cổ tử cung hơi mở và có mủ chảy qua cổ tử cung Niêm mạc âm đạo bình thường
Kiểm tra qua trực tràng có thể phát hiện được một hay cả hai sừng tử cung sưng to, hai sừng tử cung không cân xứng nhau Thành tử cung dày và mềm hơn bình thường Khi kích thích nhẹ lên sừng tử cung thì mức độ phản ứng co nhỏ lại của chúng yếu ớt Trường hợp trong tử cung tích lại nhiều dịch viêm, nhiều mủ thì có thể phát hiện được trạng thái chuyển động sóng
* Viêm nội mạc tử cung màng giả
Thể viêm này, niêm mạc tử cung thường bị hoại tử Những vết thương
đã ăn sâu vào tầng cơ của tử cung và chuyển thành hoại tử
Trang 21Trường hợp này, con vật xuất hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, ăn uống và lượng sữa giảm, có khi hoàn toàn mất sữa Con vật biểu hiện trạng thái đau đớn, luôn rặn, lưng và đuôi cong lên Từ cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch: dịch viêm, máu, mủ, lợn cợn những mảnh tổ chức hoại tử, niêm dịch…
b Viêm cơ tử cung (Myometritis puerperalis)
Theo Settergreen I (1986), viêm cơ tử cung thường kế phát từ viêm nội mạc tử cung thể màng giả Niêm mạc tử cung bị thấm dịch thẩm suất, vi khuẩn xâm nhập và phát triển sâu vào tử cung làm niêm mạc bị phân giải, thối rữa gây tổn thương mạch quản và lâm ba quản Từ đó làm cho các lớp cơ và một ít lớp tương mạc tử cung bị hoại tử Trường hợp này có thể dẫn đến hiện tượng nhiễm trùng toàn thân, huyết nhiễm trùng hoặc huyết nhiễm mủ, có khi
vì lớp cơ và lớp tương mạc tử cung bị phân giải, bị hoại tử mà tử cung bị thủng hay hoại tử từng đám (trích Nguyễn Văn Thanh (2002) [12])
Ở thể viêm này, gia súc biểu hiện triệu chứng toàn thân rõ: thân nhiệt lên cao, mệt mỏi, ủ rũ, ăn uống giảm, sản lượng sữa giảm hay mất hẳn Gia súc biểu hiện trạng thái đau đớn, rặn liên tục Từ đó cơ quan sinh dục luôn thải ra ngoài hỗn dịch màu đỏ nâu lợn cợn mủ và những mảnh tổ chức thối rữa nên có mùi tanh, thối Kiểm tra qua âm đạo bằng mỏ vịt thấy cổ tử cung
mở, hỗn dịch càng chảy ra ngoài nhiều hơn, phản xạ đau của con vật càng rõ hơn Khám qua trực tràng thì tử cung to hơn bình thường, hai sừng tử cung to nhỏ không đều nhau, thành tử cung dày và cứng Khi kích thích lên tử cung, con vật rất mẫn cảm, đau nên càng rặn mạnh hơn, hỗn dịch bẩn trong tử cung càng thải ra nhiều
Thể viêm này thường ảnh hưởng đến quá trình thụ thai và sinh đẻ lần sau
c Viêm tương mạc tử cung (Perimetritis puerperalis)
Trang 22Theo Athur (1964) viêm tương mạc tử cung thường kế phát từ thể viêm
cơ tử cung Bệnh này thường ở thể cấp tính, cục bộ, toàn thân xuất hiện những triệu chứng điển hình và nặng (trích Đặng Đình Tín (1985) [14])
Lúc đầu, lớp tương mạc tử cung có màu hồng, sau chuyển sang màu đỏ sẫm, mất tính trơn bóng Sau đó các tế bào bị phân hủy và bong ra, dịch thẩm xuất rỉ ra làm cho lớp tương mạc bị xù xì Trường hợp viêm nặng, nhất là thể viêm có mủ, lớp tương mạc ở một số vùng có thể dính với các tổ chức xung quanh dẫn đến viêm phúc mạc, thân nhiệt tăng cao, mạch nhanh Con vật ủ rũ,
uể oải, đại tiểu tiện khó khăn, ăn uống kém hoặc bỏ ăn Con vật luôn luôn biểu hiện trạng thái đau đớn, khó chịu, lưng và đuôi cong, rặn liên tục Từ âm
hộ thải ra ngoài rất nhiều hỗn dịch lẫn mủ và tổ chức hoại tử, có mùi thối khắm Kiểm tra qua trực tràng thấy thành tử cung dầy cứng, hai sừng tử cung mất cân đối, khi kích thích con vật biểu hiện đau đớn càng rõ và càng rặn mạnh hơn Trường hợp một số vùng của tương mạc đã dính với các bộ phận xung quanh thì có thể phát hiện được trạng thái thay đổi về vị trí và hình dáng của tử cung, có khi không tìm thấy một hoặc cả hai buồng trứng
Thể viêm này thường dẫn đến kế phát bệnh viêm phúc mạc, bại huyết, huyết nhiễm mủ
2.1.6 Một số nguyên nhân gây viêm tử cung
Theo Nguyễn Hữu Phước (1982) [11] thì lợn nái sinh sản đều mang khuẩn trong âm đạo nhưng không gây bệnh, chỉ khi cổ tử cung mở, chất tiết dịch tụ lại tạo điều kiện cho vi khuẩn phát triển
Theo Nguyễn Đức Lưu và Nguyễn Hữu Vũ (2004) [7] trong quá trình
có thai, lợn nái ăn uống nhiều chất dinh dưỡng, ít vận động hoặc bị nhiễm một
số bệnh truyền nhiễm như: bệnh xoắn khuẩn, sảy thai truyền nhiễm và một số bệnh nhiễm khuẩn khác làm cho cơ thể lợn nái yếu dẫn đến sảy thai, thai chết lưu và viêm tử cung
Trang 23Ngoài ra còn một số nguyên nhân sau:
* Thiếu sót về dinh dưỡng và quản lý
Khẩu phần ăn thừa hay hiếu protein trước, trong thời kỳ mang thai có ảnh hưởng đến viêm tử cung
Nái mẹ sử dụng quá nhiều tinh bột, gây khó đẻ, gây viêm tử cung do xây sát
Ngược lại thiếu chất dinh dưỡng nái mẹ sẽ bị ốm yếu, sức đề kháng giảm không chống lại mầm bệnh xâm nhập gây viêm tử cung
Khoáng chất, vitamin ảnh hưởng đến viêm tử cung Thiếu vitamin A gây sưng niêm mạc, sót nhau
* Chăm sóc quản lý vệ sinh
Vệ sinh chuồng trại kém, vệ sinh bộ phận sinh dục lợn nái trước khi đẻ không tốt, khu vực chuồng trại có mầm bệnh Do quá trình can thiệp khi lợn
đẻ, thủ thuật đỡ đẻ, thao tác và dụng cụ không đúng kỹ thuật làm tổn thương niêm mạc Do tinh dịch bị nhiễm khuẩn và dụng cụ thụ tinh không vô trùng
đã đưa vi khuẩn gây viêm nhiễm vào bộ phận sinh dục của lợn cái Do lợn đực bị viêm niệu quản và dương vật khi nhảy trực tiếp sẽ truyền sang lợn cái
Chăm sóc, quản lý, vệ sinh là khâu rất quan trọng Vệ sinh trang trại,
cơ sở chăn nuôi, vệ sinh cơ thể lợn nái đồng thời quản lý tốt,… sẽ làm giảm tỷ lệ viêm
* Tiểu khí hậu chuồng nuôi
Thời tiết khí hậu quá nóng hoặc quá lạnh trong thời gian đẻ dễ làm cho lợn nái bị viêm tử cung Vì vậy chúng ta phải tạo tiểu khí hậu phù hợp đối với lợn nái khi sinh để làm hạn chế viêm tử cung
* Tuổi, lứa đẻ, tình trạng sức khỏe
Nái đẻ những lứa đầu và nái đẻ nhiều lứa thường hay ít bị viêm tử cung
Trang 24hơn Nái già do sức khỏe kém, hay kế phát một số bệnh, sức rặn đẻ yếu, thời gian đẻ kéo dài, đẻ khó dễ dẫn đến viêm tử cung
* Đường xâm nhiễm của mầm bệnh
Mầm bệnh có mặt trong ruột, truyền qua niêm mạc đi vào máu, xâm nhập vào tử cung, nguyên nhân chính của sự xâm nhập này là do nhu động của ruột kém
Xâm nhập có thể từ ngoài vào do vi khuẩn hiện diện trong phân, nước tiểu Bệnh nhiễm trùng mãn tính của thận, bàng quang và dường niệu đạo cũng là nguyên nhân gây bệnh
Hầu hết các trường hợp viêm tử cung đều có sự hiện diện của vi sinh vật thường xuyên có mặt trong chuồng lợn Lợi dụng lúc sinh sản, tử cung, âm đạo tổn thương chứa nhiều sản dịch, vi trùng xâm nhập gây viêm tử cung
2.1.7 Một số bệnh khác ở đường sinh dục của lợn nái
2.1.7.1 Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo
Đặng Đình Tín (1985) [14] cho biết: nguyên nhân chính của viêm âm
môn tiền đình và âm đạo ở lợn là những sai sót kỹ thuật khi đỡ đẻ Khi gia súc
đẻ khó, phải can thiệp bằng tay hay dụng cụ không phù hợp, không đảm bảo
vô trùng, gây tổn thương niêm mạc âm môn, tiền đình, âm đạo hoặc sử dụng các thuốc điều trị bệnh ở tử cung, âm đạo kích thích quá mạnh làm niêm mạc
âm đạo, âm môn, tiền đình bị viêm
Theo Trần Tiến Dũng và cs (2002) [4], trong quá trình sinh đẻ, niêm mạc âm môn, tiền đình và âm đạo bị xây sát, tổn thương do bào thai hay do can thiệp các trường hợp đẻ khó Do trong quá trình đỡ đẻ thao tác kỹ thuật không đúng, dụng cụ đỡ đẻ không vô trùng gây tổn thương các bộ phận sinh dục bên ngoài Ngoài ra, bệnh có thể kế phát từ hiện tượng sảy thai, thai thối rữa trong tử cung hoặc từ bệnh sát nhau
Trang 25Lúc đầu niêm mạc bộ phận bị viêm xung huyết nhẹ, có nhiều dịch thẩm xuất Kiểm tra âm đạo bằng mỏ vịt, con vật không có phản xạ đau, không có triệu chứng toàn thân Con vật rặn vặt, đi đái rắt Nhiều dịch viêm lẫn tổ chức hoại tử màu trắng chảy ra ngoài
Viêm âm môn, tiền đình và âm đạo mãn tính, niêm mạc trở nên khô cứng, màu sắc nhợt nhạt, trên bề mặt niêm mạc có chỗ trắng, đỏ không đều Khi kiểm tra âm đạo, con vật đau đớn Những con viêm mãn tính thì ủ rũ, uể oải, kém ăn, lượng sữa giảm Gia súc luôn rặn, khi rặn từ cơ quan sinh dục thải ra ngoài hỗn dịch rỉ viêm gồm mủ lẫn mảnh tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh, dính vào gốc đuôi, hai bên mông
Viêm màng giả trên niêm mạc được phủ một màng mỏng, tổ chức hoại
tử màu trắng, nâu hoặc vàng xám Phía dưới lớp màng có những vết loét nằm rải rác hay tập trung lại thành từng đám lớn trên niêm mạc Con vật đau đớn
rõ rệt, khi kiểm tra âm đạo, con vật luôn cong đuôi rặn, dịch rỉ viêm, máu, mủ lẫn tổ chức hoại tử màu vàng nâu, mùi tanh thối chảy ra Viêm màng giả rất
dễ dẫn tới nhiễm trùng huyết Hậu quả là do tế bào của âm đạo tăng sinh, niêm mạc âm đạo sẹo hóa, nhăn nhúm, lòng âm đạo bị hẹp ảnh hưởng đến quá trình phối giống và sinh sản lần sau
2.1.7.2 Viêm buồng trứng
Theo Anberth Youssef (1997), viêm buồng trứng ở gia súc chủ yếu là
do viêm tử cung, viêm ống dẫn trứng, viêm phúc mạc Nếu viêm cả hai buồng trứng ở thể cấp tính thì gia súc mất hẳn chu kỳ sinh dục, buồng trứng sưng to nên hình thành hình tròn, mềm và mặt ngoài nhẵn bóng, không có noãn bào
và thể vàng
Nếu viêm buồng trứng mãn tính, buồng trứng sưng to rõ rệt, rắn, mặt ngoài có nhiều chỗ lồi lõm khác nhau Nếu buồng trứng bị viêm kéo dài, tế
Trang 26bào trứng bị thoái hóa, các tổ chức liên kết bị tăng sinh, cả hai buồng trứng bị
sơ cứng, con vật mất khả năng sinh sản (dẫn theo Madec (1995) [17])
2.1.7.3 Thể vàng tồn tại (Corpus luteum persistens)
Trong điều kiện sinh lý bình thường, khi gia súc cái xuất hiện động dục lúc đó noãn bào chín và nổi rõ trên mặt buồng trứng Dưới tác dụng của thần kinh hormone, áp suất noãn bào vỡ, giải phóng tế bào trứng đồng thời sản xuất ra dịch follicolin Sau khi noãn bào vỡ, dịch nang chảy ra, nang degraff xẹp xuống, đường kính ngắn lại, tạo ra những vách ngăn trên vách xoang ăn sâu vào trong và chứa nhiều tế bào hạt làm thu hẹp kích thước xoang tế bào trứng Lúc này thay thế cho tế bào trứng là thể vàng và đây chính là nơi tiết ra hormone progesteron
Từ ngày thứ nhất cho đến ngày thứ tư, thể vàng gọi là thể huyết Sau ngày thứ tư có thể sờ thấy qua trực tràng sau ngày thứ tư đến ngày thứ mười hai nó hoàn toàn có màu vàng và tiết ra hormone progesteron Nếu không có thai, thể vàng nhanh chóng đạt đến độ tối đa và bắt đầu tiêu biến Nếu gia súc
có thai thể vàng tồn tại trong suốt thời gian mang thai cho đến ngày gia súc chuẩn bị đẻ Trường hợp sau khi gia súc đẻ xong hoặc có hiện tượng động dục nhưng chưa phối giống, phối giống nhưng không đậu thai mà thể vàng tồn tại kéo dài hàng tháng trên buồng trứng được gọi là bệnh thể vàng tồn tại Đây là một trong những nguyên nhân làm cho gia súc không động dục, vô sinh
Nguyễn Hữu Ninh và Bạch Đăng Phong (1994) [10] cho rằng, nguyên nhân bệnh có thể do kế phát từ viêm tử cung tích mủ, thai canxi hóa, sát nhau
Gia súc bị thể vàng tồn tại hoàn toàn không động dục, có thể khám qua trực tràng phát hiện thể vàng to, nhô lên trên bề mặt buồng trứng
Ngoài ra ở lợn còn có thể bị bệnh thiểu năng và teo buồng trứng, xơ cứng buồng trứng, u nang buồng trứng …
Trang 272.1.8 Biện pháp phòng và trị bệnh viêm tử cung
* Phòng bệnh: vệ sinh chuồng nái đẻ sạch sẽ một tuần trước đẻ, rắc vôi bột hoặc nước vôi 20 % sau đó rửa sạch bằng nước thường hoặc dùng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000
Khi đẻ, vệ sinh sạch sẽ bộ phận sinh dục và bầu vú, phun sát trùng bằng dung dịch Biocid - 30 pha với tỷ lệ 1/1000 lên mình gia súc
Khi đỡ đẻ bằng tay cần có găng tay, tay được sát trùng kỹ bằng rượu, cồn, bôi trơn vazolin hoặc dầu lạc Sau khi lợn đẻ xong phải bơm rửa bằng nước đun sôi để nguội pha thuốc tím 1/1000 hay nước muối sinh lý 9/1000 hay Biocid - 30 1/2000 Sau đó bơm hoặc đặt thuốc kháng sinh penicilin 2 - 3 triệu
UI, tetramycin hay sulfanilamid 2 - 5 g vào tử cung để chống viêm Trước khi cho lợn giao phối cần kiểm tra lợn đực xem có mắc bệnh không, vệ sinh sạch
sẽ bộ phận sinh dục của lợn đực và lợn nái Nếu thụ tinh nhân tạo cần kiểm tra dụng cụ, vệ sinh sát trùng dụng cụ, kiểm tra phẩm chất tinh dịch,
* Biện pháp điều trị
Để điều trị tốt bệnh viêm tử cung cần phải theo dõi, phát hiện bệnh kịp thời và chẩn đoán đúng bệnh Phát hiện điều trị bệnh sớm sẽ rút ngắn được thời gian điều trị, đỡ tốn kém thuốc mà bệnh chóng khỏi, con vật mau chóng hồi phục
+ Tiêm kháng sinh
Cách 1: Tiêm Vetrimoxin: tiêm bắp 1 ml/ 10 - 15 kg TT/ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày
Cách 2: Tiêm Tylo - Genta, tiêm bắp liều 1 ml/10 - 15 kg TT liên tục 3
- 5 ngày kết hợp septotryl tiêm bắp hoặc tĩnh mạch 1 ml/10 - 15 kg TT/ngày, dùng liên tục 3 - 5 ngày
Trang 28+ Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, vitamin C, vitamin B12 Lưu ý khi pha thuốc tiêm vitamin C không dùng chung với kháng sinh peniciline, sulfamid và vitamin B12
+ Tiêm thuốc tạo sữa: thyroxin ngày 1 - 2 ống, liên tiếp 2 - 3 ngày, chỉ dùng khi nhiệt độ cơ thể hạ xuống bình thường
* Phương pháp điều trị bệnh tại trại lợn của công ty TNHH Phú Kỳ
Điều trị bằng thuốc
Phác đồ I:
Vetrimoxin tiêm bắp 1 ml/10 - 15 kg TT
Thụt 1 triệu UI Penicillin + 1 g streptomycine
Liệu trình ngày 1 lần
Phác đồ II:
Tylo - Genta, tiêm bắp 1 ml/10 - 15 kg TT
Thụt 1 triệu UI Penicilin + 1 g Streptomycine
Penicilin 1 triệu UI
Streptomycin 1 g
Nước cất 50 ml
Hòa tan hỗn hợp bơm trực tiếp vào tử cung
Điều trị toàn thân
Tiêm kháng sinh: Vetrimoxin dùng tiêm bắp thịt, tiêm 1 ml/10 - 15 kg TT/ngày
Trang 29Tiêm thuốc trợ sức: vitamin B1, B12, C
Cùng với việc điều trị, con vật được chăm sóc, nuôi dưỡng vệ sinh tốt
2.1.9 Thành phần hóa học và cơ chế tác dụng của thuốc sử dụng trong
đề tài
Tính chất dược lý hóa, thành phần, công dụng của thuốc dùng
- Dung dịch Biocid - 30
+ Thành phần: trong 100 ml Biocid có chứa 3 % I-ốt
+ Công dụng: dùng thụt rửa tử cung, chất lượng thuốc ổn định, có tác dụng diệt khuẩn nhanh, kéo dài, an toàn cho gia súc khi sử dụng, diệt vi khuẩn, virus, các dạng nha bào của vi sinh vật, nấm
Biocid liều lượng sử dụng thụt rửa tử cung là 1/2000 còn có tác dụng sát trùng chuồng trại, dụng cụ chăn nuôi Dùng thuốc pha với tỷ lệ 1/500 để phun rửa Pha tỷ lệ 1/1000 phun sát trùng lên mình gia súc trong chuồng nuôi, pha tỷ lệ 1/2000 sát trùng nước uống gia súc
Lưu ý: Khi sử dụng Biocid thụt rửa pha tỷ lệ 1/2000 không được pha quá liều dẫn đến se, cháy niêm mạc tử cung làm cho khó giao phối lần sau
Kháng sinh:
Trên thị trường hiện nay có rất nhiều loại thuốc kháng sinh, áp dụng khoa học kỹ thuật mà cho ra nhiều kháng sinh tổng hợp điều trị bệnh đạt hiệu quả rất cao
- Tylo - Genta: Dung dịch tiêm vô trùng