Mặc dù vậy cùng sự biến động của lịch sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc anh em khác cho đến nay “Mường” đã được người Mường chấp nhận và coi đó là tộc danh
Trang 1TRƯỜNG ĐẠI HỌC VĂN HÓA HÀ NỘI KHOA VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
=====O0O=====
BIẾN ĐỔI TRONG TẬP QUÁN XÂY DỰNG NHÀ Ở TRUYỀN THỐNG CỦA NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THẠCH LÂM - HUYỆN THẠCH THÀNH - TỈNH THANH HÓA
KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP CHUYÊN NGÀNH: VĂN HÓA DÂN TỘC THIỂU SỐ
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Thật lấy làm vinh dự cho những sinh viên có may mắn được viết khóa luận tốt nghiệp Đây là một công việc khó khăn nhưng đầy thú vị đòi hỏi lòng say mê nghiên cứu khoa học và nhiều kĩ năng Trong quá trình thực hiện bài khóa luận, bản thân sinh viên gặp nhiều trở ngại, tuy nhiên nhận được sự quan tâm, giúp đỡ chỉ bảo tận tình của nhiều cá nhân, cơ quan
Sinh viên gửi lời cảm ơn đến Phòng văn hóa thông tin huyện Thạch Thành; thư viện huyện Thạch Thành; UBND, Ban văn hóa xã Thành Lâm, và nhiều cá nhân khác đã cung cấp nhiều tư liệu quan trọng để tôi hoàn thiện tốt nhất bài viết này
Sinh viên xin gửi lời cảm ơn đến PGS –TS Trần Bình, Thạc sĩ Vũ Thị Uyên, giảng viên Khoa văn hóa dân tộc thiểu số, các Phòng ban chức năng đã cung cấp nhiều tri thức quan trọng cũng như giúp đỡ sinh viên hoàn thiện thủ tục trong quá trình sinh viên thực hiện bài viết
Đặc biệt sinh viên gửi lời cảm ơn sâu sắc đến Tiến sĩ Nguyễn Anh Cường - Giảng viên hướng dẫn đã có sự giúp đỡ nhiều nhất, giúp đỡ sinh viên trong việc định hướng trong quá trình nghiên cứu, đã luôn có sự giúp đỡ chỉ bảo kịp thời để đi đến sự hoàn thiện các bài viết này
Một lần nữa, xin trân trọng cảm ơn!
Sinh viên
Quản Trọng Hải
Trang 3MỤC LỤC
MỞ ĐẦU 6
1 Lý do chọn đề tài 6
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 7
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu 7
4 Phương pháp nghiên cứu 8
5 Lịch sử nghiên cứu 8
6 Đóng góp của đề tài 9
7 Bố cục đề tài 9
CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THẠCH LÂM, HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA 10
1.1 Một số khái niệm 10
1.2 Khái quát môi trường tự nhiên 10
1.2.1 Vị trí địa lí 10
1.2.2 Địa hình 11
1.2.3 Khí hậu 12
1.2.4 Tài nguyên rừng 12
1.2.5 Thổ nhưỡng 12
1.3 Môi trường xã hội 12
1.4 Khái quát người Mường ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa 14
1.4.1 Tên gọi, tộc danh 14
1.4.2 Nguồn gốc 15
1.4.3.Ngôn ngữ 16
1.4.4 Đặc điểm kinh tế 16
Trang 41.4.5 Đặc trưng văn hóa 21
1.4.5.1 Tổ chức cộng đồng 21
1.4.5.2 Quan hệ xã hội 21
1.4.5.3 Tín ngưỡng 21
1.4.5.4 Ẩm thực 23
1.4.5.5 Cư trú 24
1.4.5.6 Sinh đẻ 24
1.4.5.7 Hôn nhân 25
1.4.5.8 Tang ma 33
1.4.5.9 Trang phục 34
1.4.5.10 Phương tiện vận chuyển 40
1.4.5.11 Văn nghệ dân gian 40
1.4.5.12 Trò chơi dân gian 40
1.4.5.13 Lễ hội 41
CHƯƠNG 2 TẬP QUÁN XÂY DỰNG NHÀ SÀN NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THẠCH LÂM, HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA 43
2.1 Quan niệm về nhà cửa 43
2.2 Truyền thuyết về nhà sàn người Mường 44
2.3 Loại hình 45
2.4 Cấu trúc 46
2.5 Quy trình làm nhà sàn 47
2.5.1 Chọn đất, chon hướng nhà, chọn tuổi 47
2.5.2 Chuẩn bị vật liệu làm nhà 48
2.5.3 Làm mộc 51
2.5.4 Dựng nhà 52
2.6 Nghi lễ tân gia 56
2.7 Bố trí mặt bằng sinh hoạt 57
Trang 5CHƯƠNG 3 TÁC ĐỘNG CỦA CÁC YẾU TỐ LÀM BIẾN ĐỔI TẬP QUÁN XÂY DỰNG NHÀ SÀN NGƯỜI MƯỜNG XÃ THẠCH LÂM, 63
HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA 63
3.1 Biến đổi trong tập quán xây dựng nhà sàn 63
3.2 Tác động làm biến đổi trong tập quán xây dựng nhà sàn 67
3.2.1 Tác động về kinh tế 67
3.2.2 Một số chính sách của Đảng và Nhà nước 68
3.2.3 Giao lưu văn hóa 70
3.2.4 Phong tục, tập quán, tri thức dân gian 71
3.2.5 Tài nguyên thiên nhiên 72
3.3 Đánh giá tác động làm biến đổi trong tập quán xây dựng nhà sàn 72
3.3.1 Tích cực 72
3.3.2 Tiêu cực 74
3.4 Giải pháp bảo tồn và phát huy giá trị trong tập quán xây dựng nhà sàn 76
KẾT LUẬN 80
TÀI LIỆU THAM KHẢO 82
PHỤ LỤC 83
Trang 6
MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Văn hoá là một lĩnh vực rất quan trọng của đời sống xã hội, hội tụ những giá trị mà chính con người đã tạo nên Những giá trị quý báu mà con người tạo nên đó không tồn tại bất biến bao giờ Mà theo thời gian và nhiều yếu tố khác nó không còn giữ được những giá trị nguyên vẹn ban đầu, ta không nhận ra được hết những dấu ấn thời đại trong đó nữa Việt Nam là nước đa dân tộc, mỗi dân tộc lại có bản sắc riêng, nên khẳng định rằng văn hoá cũng khá đa dạng Người Mường có truyền thống văn hoá rất đặc sắc, đặc trưng, rõ nét và ít bị hoà lẫn với tộc người khác Nhà sàn là một đặc trưng của người Mường, đó là một giá trị truyền thống quý giá Truyền thống đó được các thế hệ truyền lại cho nhau, gìn giữ như một niềm tự hào Tuy vậy do sự can thiệp tác động của các yếu tố bên ngoài, trong nhiều năm trở lại đây các yếu tố văn hoá truyền thống này dần bị mai một, các yếu tố văn hoá này thật
sự quý giá, và cần được bảo tồn
Giá trị quý báu nhà sàn của đồng bào là vậy Gần đây Chính phủ vừa phát động phong trào “Toàn dân chung sức xây dựng nông thôn mới” Phong trào có nhiều ảnh hưởng, tác động, làm thay đổi đáng kể bộ mặt nông thôn trên khắp cả nước, xã Thạch Lâm cũng nằm trong số đó Lĩnh vực văn hóa cũng có những chính sách nhất định Ngôi nhà sàn của đông bào Mường xã Thạch Lâm tồn tại, biến đổi ra sao? Phong trào xây dựng nông thôn mới có những tác động tích cực nào, có những điểm gì chưa phù hợp? Cần những chính sách như thế nào để lưu giữ lại giá trị quý báu của ngôi nhà sàn trong bối cảnh mới?
Xuất phát từ nhu cầu đó, sinh viên thực hiện công trình công trình nghiên cứu này để mong rằng một lần nữa là sống lại giá trị văn hoá truyền
Trang 7thống đáng tự hào của người Mường, cũng để nhìn lại những thay đổi của giá trị đó, giá trị và đề xuất những giải pháp nhằm giữ lại những tốt đẹp Cũng để góp phần cung cấp thêm tài liệu về địa phương cho các công trình nghiên cứu của các tác giả khác
2 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
2.1 Đối tượng nghiên cứu
Tìm hiểu các trong tập quá xây dựng nhà sàn , những biến đổi hiện nay của người Mường ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
2.2 Phạm vi nghiên cứu
Đề tài tập trung khảo sát nhà ở truyền thống của người Mường và chỉ ra những thay đổi của nhà sàn hiện nay so với trước tại xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu
3.1 Mục đích nghiên cứu
Qua việc khảo sát giá trị văn hoá nhà sàn, đề xuất những giải pháp với chính quyền địa phương, người dân những biện pháp bảo tồn giá trị văn hóa nhà sàn
3.2 Nhiệm vụ nghiên cứu
Nghiên cứu nhà ở người Mường ở các mặt:
- Quan niệm về tầm quan trọng nhà ở
- Dựng nhà và những công việc cần thiết: Chuẩn bị nguyên vật liệu, làm mộc, quy trình dựng nhà
- Loại hình, kết cấu
- Những công việc sau khi dựng nhà: Nghi lễ tân gia, bố trí mặt bằng sinh hoạt, những kiêng kị liên quan đến trước và sau dựng nhà
- Những thay đổi của nhà sàn người Mường hiện nay
- Chỉ ra nguyên nhân biến đổi
Trang 8- Đánh giá sự tác động của các yếu tố tác động đến sự thay đổi tập quán xây dựng nhà sàn
4 Phương pháp nghiên cứu
Trong quá trình nghiên cứu, thu thập tài liệu đã sử dụng các phương pháp như:
- “Đặc trưng văn hóa Mường Thanh Hóa” của tác giả Vương Anh do
Sở Văn hóa Thông tin, Hội Văn hóa các dân tộc Hòa Bình xuất bản năm
1995
- “Văn hóa bản Mường Việt Nam” của tác giả Vũ Ngọc Khánh do
NXB Đà Nẵng xuất bản năm 2011
- “Nhà ở cổ truyền các dân tộc Việt Nam” của tác giả Nguyễn Khắc
Tụng do Hội khoa học lịch sử Việt Nam, Trung tâm nghiên cứu kiến trúc do Trường Đại học Kiến trúc Hà Nội xuất bản năm 2004 Công trình khái quát văn hóa và nghiên cứu các loại hình nhà ở cổ truyền của các dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam
Nhìn chung các công trình của các tác giả đã đề cập đến nhiều khía cạnh trong sinh hoạt văn hóa người Mường
- Khái quát đặc điểm tự nhiên, xã hội của địa bàn nghiên cứu
Trang 9- Khảo sát văn hóa Mường trên các phương diện văn hóa vật chất, văn hóa tinh thần Qua đó thấy được nét đặc sắc trong văn hóa Mường
Tuy nhiên chưa có công trình nghiên cứu nào được tiến hành khảo sát tên địa bàn xã Thạch Lâm
6 Đóng góp của đề tài
- Giới thiệu một nét văn hoá cổ truyền của người Mường ở Thạch Lâm, Thạch Thành Phát hiện ra những nét văn hoá địa phương ẩn chứa trong văn hoá người Mường nói chung
- Khảo sát giá trị văn hóa nhà sàn; chỉ ra những thay đổi trong tập quán xây dựng nhà sàn; thấy được mối liên hệ của những yếu tố tác động
- Góp thêm cơ sở khoa học cho việc định hướng và tạo lập các chính sách về kinh tế, văn hoá, xã hội đối với người Mường ở xã Thạch Lâm trong thời gian tới
- Đóng góp giải pháp cụ thể nhằm giữ gìn văn hoá truyền thống tốt đẹp của người Mường ở xã Thạch Lâm
7 Bố cục đề tài
Ngoài phần mở đầu, kết luận, phụ lục bài nghiên cứu có các phần sau:
Chương 1 Cơ sở lí luận và khái quát môi trường tự nhiên, môi trường
xã hội và người Mường ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
Chương 2: Tập quán xây dựng nhà của người Mường ở Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hoá
Chương 3: Tác động của các yếu tố làm biến đổi tập quán xây dựng nhà sàn người Mường ở xã Thạch Lâm,, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
Trang 10CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ KHÁI QUÁT MÔI TRƯỜNG TỰ NHIÊN, MÔI TRƯỜNG XÃ HỘI VÀ NGƯỜI MƯỜNG Ở XÃ THẠCH LÂM, HUYỆN THẠCH THÀNH, TỈNH THANH HÓA
1.1 Một số khái niệm
Nhà ở: Là nơi cư trú, không gian sinh hoạt của con người, che chở con người khỏi những tác động của thiên tai Được tạo ra từ vật liệu tự nhiên, nhân tạo, bằng kĩ thuật thủ công với tư duy kĩ thuật của các tộc người Nhà ở
là kết quả của sự tương tác của con người với tự nhiên, là nơi hội tụ nhiều giá trị văn hóa, tâm linh
Biến đổi: Là sự thay đổi so với trạng thái ban đầu Đây là quy luật quan trọng của văn hóa
Tập quán: Là phương thức ứng xử và hành động đã định hình quen thuộc
và đã thành nếp trong lối sống, trong lao động ở một cá nhân, một cộng đồng Tập quán gần gũi với thói quen ở chỗ nó mang tính tĩnh tại, bền lâu, khó thay đổi Trong những tình huống nhất định, tập quán biểu hiện như một hành vi mang tính tự động hoá Tập quán hoặc xuất hiện và định hình một cách tự phát, hoặc hình thành và ổn định thông qua sự rèn luyện và là kết quả của quá trình giáo dục có định hướng rõ rệt
1.2 Khái quát môi trường tự nhiên
1.2.1 Vị trí địa lí
Xã Thạch Lâm nằm ở phía Tây Bắc của huyện Thạch Thành tiếp giáp với 2 tỉnh Ninh Bình và Hòa Bình và ba huyện Bá Thước tỉnh Thanh Hóa, huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình, và huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình với 10 xã như sau:
- Phía Đông giáp xã Thành Mỹ, xã Thạch Quảng huyện Thạch Thành
Trang 11- Phía Nam giáp xã Thạch Tượng huyện Thạch Thành
- Phía Tây giáp xã Lương Nội huyện Bá Thước, xã Tự Do huyện Lạc Sơn của tỉnh Hòa Bình
- Phía Bắc giáp các xã Ngọc Lâm, xã Tân Mỹ, xã Ân Nghĩa, xã Yên
- Nghiệp huyện Lạc Sơn tỉnh Hòa Bình và các xã Cúc Phương huyện Nho Quan tỉnh Ninh Bình
Xã Thạch Lâm có 7 thôn bao gồm: Thôn Thượng, thôn Đăng, thôn Nội Thành, thôn Thống Nhất, thôn Nghéo, thôn Biện, thôn Đồi Trong đó có 5 thôn nằm một phần và toàn bộ trong vườn Quốc gia Cúc Phương
1.2.2 Địa hình
Xã Thạch Lâm chạy dọc theo đường mòn Hồ Chí Minh, địa hình không
có sự đồng nhất và tương đối đa dạng bao gồm cả đồi núi và những cánh đồng bằng phẳng Bao quanh xã là những ngọn đồi, không chia cắt mà bao bọc lấy toàn xã Xem như một ưu tiên của tự nhiên, đồng bào ở đây sử dụng tương đối hiệu quả vào các hoạt động nông nghiệp Trên đó, họ trồng nhiều loại cây trồng nhưng đáng chú ý và nhiều nhất vẫn là cây mía Thực tế đây là cây công nghiệp ngắn ngày quan trọng nhất của cư dân nơi đây, trở thành nguồn thu nhập chính, công việc chính bên cạnh một số cây trồng khác như cây lúa và một vài cây trồng ngắn ngày khác
Tuy nhiên, có thể kết luận rằng phần lớn đồng bào ở đây cư trú ở những nơi đất bằng phẳng hoặc triền núi thoai thoải, điều này thuận lợi về mọi mặt trong đời sống Ở những nơi như vậy thuận lợi cho cả việc xây cất nhà, đi lại giao lưu cũng thuận tiện nên dễ hiểu vì sao đồng bào ở đây thường co cụm lại với nhau xung quanh những khoảng đất bằng phẳng hoặc thoai thoải hiếm hoi
Trang 121.2.3 Khí hậu
Khí hậu ở đây mang đặc điểm chung của khí hậu miền Bắc, tức là mang một số tính chất như nhiệt đới ẩm gió mùa, mưa nhiều và mưa theo mùa, và mang thêm một đặc điểm nữa của dải đất miền trung là chịu sự tác động của hiệu ứng gió phơn Tây Nam, hay còn gọi là gió Lào chỉ có hai ngọn đồi với
độ che phủ không cao nên nhìn chung vẫn tương đối nóng bức vào mùa hè
1.2.4 Tài nguyên rừng
Theo khảo sát, xã Thạch Lâm tương đối giàu tài nguyên Chủ yếu là tài nguyên rừng, không có những cánh rừng lớn, tuy nhiên nguồn cung cấp nguyên liệu gỗ hoặc một số cây trồng như nứa, luồng, tre cũng là sự hỗ trợ đáng quý trong đời sống của đồng bào nơi đây rõ nhất trong việc làm nhiên liệu đốt hay nguyên vật liệu để dựng nhà Tài nguyên đất, đá và thảm thực vật cũng tương đối phong phú
1.2.5 Thổ nhưỡng
Đất đai ở đây bên cạnh dải đất phù sa là đất feralit nâu đỏ, điều này thích hợp cho việc trồng mía, lúa và một số cây lâm nghiệp như: luồng, vầu, mây Như vậy, dễ dàng để khẳng định đặc điểm tự nhiên của xã Thạch Lâm mang đầy đủ tính chất của tự nhiên miền núi Bắc Trung Bộ Điều này tương đối thuận lợi cho sự phát triển của sản xuất, đặc biệt là trồng rừng, khai thác nương rẫy Cũng chính điều kiện tự nhiên đó ảnh hưởng và tác động không nhỏ đến đời sống văn hoá của đồng bào nơi đây
1.3 Môi trường xã hội
Xưa xã Thạch Lâm thuộc Mường Đẹ Trước cách mạng tháng Tám năm
1945 thuộc tổng Quảng Tế Sau năm 1945 tổng Quảng Tế được đổi tên là xã Đoàn Kết Năm 1953 xã Đoàn Kết chia ra làm 4 xã nhỏ là xã Thạch Lâm, xã Thạch Cẩm, xã Thạch Quảng, xã Thạch Tượng Xã Thạch Lâm có tên từ đây
Trang 13xã Thạch Lâm là một xã miền núi của huyện Thạch Thành thuộc diện được hưởng chương trình 135 của Chính phủ
Xã Thạch Lâm có 7 thôn, 606 hộ với tổng số dân 2632 nhân khẩu, trong
đó người dân tộc thiểu số chiếm tới 98% Thạch Lâm là xã miền núi còn nhiều khó khăn là xã nghèo, có xuất phát điểm kinh tế - xã hội thấp, tỉ lệ hộ nghèo năm 2012 chiếm 60,2% đời sống của người dân còn rất khó khăn hiện vẫn phải dựa tới 100% vào ngân sách Trung ương Giao thông đi lại khó khăn gây cản trở cho việc giao lưu kinh tế - xã hội Cơ sở vật chất còn hạn chế chủ yếu được đầu tư từ các chương trình, dự án của nhà nước Xã có chiều dài từ đầu xã đến cuối xã hình chữ Y dài hình thành 7 cụm dân cư, còn gọi là 7 thôn xóm và chia thành 2 khu Thạch Lâm I, Thạch Lâm II Xã còn gặp nhiều khó khăn, thôn xa trung tâm xã là 14 km, có 3 thôn bản nằm ở bên kia sông Bưởi, nhất là mùa mưa bão đi lại rất khó khăn cho nhân dân khi mùa lũ lụt, xã Thạch Lâm có 2 dân tộc sinh sống chủ yếu đó là Mường và dân tộc Kinh Trong đó:
- Dân tộc Mường chiếm: 94%
- Dân tộc Kinh chiếm: 6%
Là xã có điểm xuất phát kinh tế thấp, xã đặc biệt khó khăn, người dân tộc thiểu số chiếm trên 98% dân số, trình độ dân trí còn thấp tỉ lệ lao động đã qua đào tạo tại các trường dạy nghề, trung cấp, cao đẳng, Đại học chỉ chiếm 2,5% dân số, đa số người dân còn gặp nhiều khó khăn trong việc ứng dụng các tiến bộ khoa học kĩ thuật vào sản xuất Số người trong độ tuổi lao động có công việc và thu nhập ổn định chiếm tỉ lệ nhỏ, cơ sở hạ tầng yếu kém đặc biệt
là đường giao thông đi lại khó khăn
Trang 141.4 Khái quát người Mường ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành, tỉnh Thanh Hóa
1.4.1 Tên gọi, tộc danh
Ở xã Thạch Thành, người Mường có tên tự gọi là Mol (hoặc Mon, Mual) Không phải ngay từ buổi đầu lịch sử, họ đã có tộc danh như ngày nay
Và đương nhiên trước đây, người Mường cũng không dùng danh từ này làm tên gọi cho dân tộc mình Theo Trần Từ (tức Nguyễn Đức Từ Chi), Mường là
từ dùng để chỉ một vùng cư trú của người Mường bao gồm nhiều làng Mỗi vùng được đặt dưới sự cai quản của một nhà Lang, người đứng đầu một dòng
họ lớn ở khu vực đó
Qua sự tiếp xúc giao lưu giữa người Mường và người Kinh, người Kinh
đã sử dụng từ Mường để gọi dân tộc này Cho đến tận bây giờ, người Mường
ở đây vẫn từ gọi mình là “mon”, “mual” Mặc dù những từ này có biến âm hơi khác ở mỗi vùng, mỗi địa phương nhưng đều quan niệm giống nhau về mặt nghĩa Tất cả những từ mà người Mường dùng để chỉ dân tộc mình có nghĩa là người Vì lẽ đó mà người Mường thường tự xưng mình là con Mol: con
người Còn từ “Mường” vốn là từ “mương” người Mường dùng để chỉ nơi cư
trú chứ không liên quan gì đến tộc danh ngày nay của mình Mặc dù vậy cùng
sự biến động của lịch sử cũng như quá trình giao lưu kinh tế, văn hoá với các dân tộc anh em khác cho đến nay “Mường” đã được người Mường chấp nhận
và coi đó là tộc danh của mình, và hiển nhiên, họ tự nhận mình là người Mường như ngày nay Do đó, Mường đã trở thành tên gọi chính thức và duy nhất của tộc người này để phân biệt với các dân tộc khác Tộc danh Mường đã được các tổ chức, thể chế, các nhà nghiên cứu và nhân dân dùng khi tìm hiểu, nghiên cứu gọi dân tộc này: Người Mường
Trang 151.4.2 Nguồn gốc
Người Mường Thạch Lâm, cũng như trên địa bàn toàn huyện đã định cư
ở đây từ rất lâu Đây là cư dân Mường gốc rất gần với vùng Mường Bá Thước Truyền thuyết về sự ra đời người Mường đến nay vẫn được lưu giữ trong tiềm thức của những vị cao tuổi, và được ghi nhớ trong những áng mo:
“Thuở xưa, khi con người chưa xuất hiện, trời làm hạn hán, cây cối khô
mà chết, rồi trời lại mưa Một trận mưa to chưa từng thấy Nước chảy thành suối thành sông Đất lở bồi thành đồng bằng Đá lăn chất đầy thành gò thành đống, thành đồi thành núi Từ dưới đất mọc lên một cây si Cây si lớn như thổi trở thành to lớn, cành lá che kín cả bầu trời Cây si bị sâu đục ăn làm cho gãy cành rụng lá Từ gốc cây si đẻ ra một đôi chim Chim Ây là đực, Cái ứa là cái Đôi chim rủ nhau bay lên cành cây si làm tổ, cành si gãy Chim bay lên cây đa làm tổ Cây đa đổ Chim Ây và Cái Ứa lại rủ nhau bay lên núi đá lấy
cỏ làm thành tổ Hang Hao Cái Ứa đẻ ra trăm ngàn quả trứng Trứng chim nở
ra thành muôn loài muôn vật Còn lại một trăm cái trứng thì nở ra con người
Đó là người Mường và người Kinh.”
Kể về lịch sử cư trú của người Mường nơi đây, nhiều cụ già kể lại rằng trong lịch sử xảy ra nhiều cơn đói khủng khiếp, mất mùa họ không có cái ăn Buộc những cộng đồng này đi nhiều nơi để kiếm cái ăn, mảnh đất Thạch Thành là nơi họ dừng chân, họ không di cư ồ ạt mà từng dòng họ Dòng họ nào đến trước, có số lượng đông đảo thì cử người cai quản các bản Mường gọi là Lang Một đợt di cư khác là những năm kháng chiến, chiến tranh tàn phá và sự truy đuổi của giặc buộc họ phải tìm nơi an cư mới Và dần dần có
sự ổn định như ngày hôm nay Bao thế hệ Mường đã sinh sống, lao động trên mảnh đất này, dần dần họ đã tạo được bản sắc riêng cho mình Trở thành một vùng Mường đặc sắc
Trang 161.4.3.Ngôn ngữ
Người Mường không có chữ viết, chỉ có tiếng Mường Tiếng Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường (ngữ hệ Nam Á) rất gần với tiếng Việt,
có thể nói một cách khái quát như sau:
- Những từ không dấu trong tiếng Việt thì giữ nguyên là thành tiếng mường như: Con, con chim, con voi, ăn, cho, tiêu pha = tiêu pha một số từ khác phụ âm đầu: tay = thay, đi = ti, đi, con dê = con tê
- Những từ có dấu hỏi trong tiếng Việt cũng giữ nguyên: của cải = của cải, đểu = đểu, giả = giả
- Những từ có dấu ngã thì chuyển thành dấu hỏi như: đã = đả, những = nhửng
- Những từ có dấu nặng thì chuyển thành dấu sắc: nặng = nắng, tận = tấn
- Những từ mà có âm "ặc, ịt, ặc, ục" thì giữ nguyên không chuyển dấu: đông đặc = đông đặc
- Những từ có dấu huyền thì chuyển thành dấu sắc và ngược lại dấu sắc thì thành dấu huyền
1.4.4 Đặc điểm kinh tế
Như bao cộng đồng khác cư trú trên địa hình đồi núi thấp của tỉnh Thanh Hóa Hoạt động kinh tế của đồng bào bị giới hạn, bị chi phối mạnh mẽ bới các yếu tố tự nhiên như địa hình, thổ nhưỡng, khí hậu Hoạt động kinh tế của đồng bào chủ yếu là trồng trọt, chăn nuôi, săn bắt và hái lượm
- Trồng trọt:
Hình thái kinh tế này rất phổ biến, những cây trồng chủ yếu bao gồm: lúa nương, khoai, sắn, đậu tương, mía, ở một số khoảng đất trống trên đồi đồng bào trồng thêm cây sả, ớt
Trang 17Lúa nương được trồng trên địa hình bằng phẳng hiếm hoi, một năm đồng bào gieo trồng được hai vụ Với phương thức canh tác thu công là chính, sử dụng cày, bừa, cuốc, một vài dụng cụ diệt cỏ thủ công, sức kéo trâu bò được tận dụng chứ ít dùng máy móc Cây lúa chỉ đáp ứng nhu cầu lương thực trong gia đình là chính
Nghề nông trồng lúa nước được tiến hành ở những nơi có địa bàn bằng phẳng gần sông, ngòi Đó là những mảng đồng bằng thung lũng hay những doi đất nhỏ hẹp dưới chân các dãy núi, ven các đồi gò thấp Người Mường rất coi trọng cây lúa nếp, vì trong cuộc sống, bữa ăn truyền thống thì cơm nếp là nguồn lương thực chủ đạo Bên cạnh đó, người Mường còn trồng cả lúa tẻ và ngày càng phổ biến giống lúa này cho năng suất cao Ngoài những thửa ruộng nước ở đồng bằng, người Mường đa phần làm ruộng bậc thang tận dụng đất ở sườn, chân đồi gò Loại ruộng này thường hẹp về chiều rộng nhưng lại dài như những cánh cung vòng quanh các đồi gò Do ruộng bậc thang làm ở trên cao, nguồn nước tưới tiêu khó khăn nên người Mường biết đào mương bắc máng, làm guồng xe nước lợi dụng dòng chảy của các con sông, suối, ngòi để đưa nước lên cao, cung cấp cho những thửa ruộng dài ngoằn nghèo
Công cụ làm đất phổ biến là chiếc cày chìa vôi và chiếc bừa đơn, nhỏ có răng bằng gỗ hoặc tre Lúa chín dùng hái gặt bó thành cum gùi về nhà phơi khô xếp để trên gác, khi cần dùng, lấy từng cum bỏ vào máng gỗ, dùng chân chà lấy hạt rồi đem giã Trong canh tác ruộng nước, người Mường có nhiều kinh nghiệm làm thuỷ lợi nhỏ
Bên cạnh những thửa ruộng nước, người Mường còn đốt nương làm rẫy với hình thức lao động kiểu chọc lỗ tra hạt Người Mường có kinh nghiệm quý trong việc chọn đất làm nương rẫy Họ chọn những mảng rừng có giang, nứa mọc dày, trồng mùn màu mỡ hay những vạt đất đen ven đồi núi Khi chọn đất, người Mường thường chặt một cây nứa hoặc cây gỗ vát nhọn đâm xuống
Trang 18đất Nếu đâm được sâu thì điều đó chứng tỏ tầng mùn dày Một kinh nghiệm nữa là xem đất màu gì, nếu đất dính vo trên tay thấy mềm dẻo, bóng như pha
mỡ là đất tốt Chọn được mảng rừng đồi ưng ý, người Mường tiến hành chặt khoanh vùng để phân giới không cho người khác lấy mất Người Mường đốt mảng rừng này để lấy mùn và tiện lợi cho việc dọn nương Công việc gieo trồng tiến hành vào khoảng tháng 3- tháng 4 khi bắt đầu xuất hiện những cơn mưa đầu tiên
Trên địa bàn huyện nói chung, cây mía là cây trồng quan trọng Thổ nhưỡng ở đây rất phù hợp cho sự sinh trưởng của cây mía Mía trồng được 2-
3 vụ trong năm, sau đó được chủ thu mua cung cấp cho nhà mía đường là chính Đây cũng là một trong những nguồn thu nhập chính của của đồng bào
- Chăn nuôi
Nguồn thực phẩm từ trồng trọt được đồng bào tận dụng cho chăn nuôi Phổ biến nhất là một số giống vật nuôi như: gà, vịt, ngan, cá, dê và đại gia súc khác như trâu bò Một số gia đình tổ chức được mô hình chăn nuôi trang trại quy mô hộ gia đình
Hoạt động chăn nuôi nhằm mục đích chính là cung cấp thực phẩm và lấy sức kéo Gà, vịt, ngan, cá cung cấp nguồn thực phẩm đáng kể cho người dân nơi đây, tuy nhiên chủ yếu là phục vụ cho gia đình Trâu bò được sử dụng vào sản xuất nông nghiệp như lấy sức kéo, địa hình đồi núi phù hợp với sử dụng sức kéo trâu bò hơn là sử dụng máy móc công nghiệp
Hoạt động săn bắn và hái lượm là hoạt động kinh tế phụ gắn bó với cuộc sống thường ngày của người Mường Nguồn rau rừng như rau tầu bay, rau rớn, rau vi, đắng cảy, măng giang, măng nứa… được khai thác một cách hợp
lý
Các cây củ cho bột như củ nâu, củ mài, củ vớn … chỉ được người Mường khai thác và những năm đói kém, mất mùa Việc thu hái rau rừng
Trang 19thường được thực hiện cùng với các công việc khác như lấy củi, đi nương rẫy hoặc lấy rau lợn… Họ tranh thủ làm việc này sau khi đã hoàn tất các công việc khác mà theo họ là quan trọng hơn Hoạt động săn bắn chim thú, bổ sung cho bữa ăn là công việc thường xuyên và là đặc quyền của người đàn ông Mường Ngoài ra, săn bắn còn xuất phát từ nhu cầu của việc bảo vệ nương rẫy khỏi sự phá hoại của chim thú cũng như việc mất mát các con vật nuôi Trong gia đình người Mường, người đàn ông thường có những chiếc nỏ súng cho riêng mình Họ rất tự hào và chăm sóc chu đáo cho dụng cụ mà họ cho rằng thể hiện nam tính cũng như vai trò của mình trong gia đình Con trai Mường ngay từ nhỏ đã được ông, cha cho theo trong mỗi lần đi săn, làm bẫy thú nên khi lớn lên rất thạo việc săn bắn Người Mường biết làm nhiều loại bẫy thú với những kiểu dáng khác nhau để bẫy những con thú lớn, thú nhỏ và chim Trong các loại bẫy của người Mường, thông dụng nhất là bẫy đâm, bẫy lao và bẫy sập Loại bẫy này dùng để bẫy các con thú lớn như hươu, nai, gấu hoặc lợn rừng Còn các loại bẫy nhỏ như “ngọ đánh”, “ngọ cắp”, “ngọ rô” dùng để bắt các con thú nhỏ như gà rừng, chim, sóc… được đặt quanh nương rẫy để bảo vệ hoa màu Đặc biệt, những sản phẩm người Mường thu từ rừng không chỉ đủ dùng trong gia đình mà còn được dùng để trao đổi với các lái buôn từ miền xuôi như măng, mộc nhĩ, nấm, trầm hương, sa nhân, cánh kiến, các loại
gỗ quý như đinh, lim, táu, lát và các loại dược liệu quý như đẳng sâm, khúc khắc, hoài sơn
Hoạt động kinh tế săn bắt, hái lượm chỉ đóng vai trò phụ Nguồn cung cấp chủ yếu là từ rừng Địa bàn xã Thạch Lâm gần với khu vực rừng Cúc Phương, đây là khu vực có thảm thực vật phong phú, sinh vật đa dạng, đây là nguồn cung cấp cho hoạt động kinh tế này Đồng bào thường chỉ đi hái một số loại rau rừng về chế biến món ăn, săn bắt trên rừng không còn phổ biến như trước
Trang 20- Nghề thủ công truyền thống
Ở xã Thạch Lâm, người Mường đặc biệt khéo tay trong việc đan lát các vật dụng dùng trong gia đình từ nguyên liệu là tre, nứa và giang, mây như đan vỏ dao dùng để đi rừng, rổ, rá, thúng, nia, mâm, ớp, giỏ… Trong các nghề thủ công truyền thống của người Mường đầu tiên phải kể đến là nghề dệt vải Trong mỗi gia đình Mường đều có các khung cửi dùng để dệt vải bông, vải lanh để phục vụ may mặc cho các thành viên Công việc trồng bông và dệt vải chủ yếu do nữ giới đảm nhận Tuy nhiên, nghề dệt vải ở người Mường chưa mang nhiều yếu tố hàng hoá Họ chủ yếu sản xuất lúc nông nhàn mà chưa dành thời gian đáng kể cho nó Nguyên liệu dùng để dệt vải ngoài bông, lanh còn có tơ tằm Nghề trồng dâu, sắn nuôi tằm tương đối phổ biến trong mỗi gia đình Bên cạnh đó, nghề mộc cũng tương đối phát triển Hầu như ở bản làng nào của người Mường đều có đội mộc riêng của mình để phục vụ trong xây dựng nhà cửa, đình miếu hoặc làm hậu sự cho lễ tang… Đàn ông Mường rất khéo tay trong nghề này Họ làm ra những sản phẩm tương đối độc đáo như bao dao, làm cung, nỏ, đồ thổi xôi từ gỗ và các vật dụng khác phục vụ cho cuộc sống
- Hoạt động trao đổi hàng hóa
Hoạt động này tập trung ở trung tâm của xã Nơi đồng bào trao đổi nguồn thực phẩm tự mình trồng được, đôi khi là măng rừng, mộc nhĩ, nấm hương, hay một số sản phẩm chăn nuôi khác
Hoạt động buôn bán ngày càng len lỏi vào tận các bản mường xa, từng bước tạo nên mối quan hệ giữa miền xuôi và miền ngược, giữa người Mường, người Kinh và các dân tộc khác, góp phần vào giao lưu văn hoá - kinh tế giữa các tộc người gần gũi nhau
Trang 211.4.5 Đặc trưng văn hóa
1.4.5.1 Tổ chức cộng đồng
Trước kia, ở Thạch Lâm tồn tại chế độ Lang đạo Lang đạo là người cai quản bản Mường về tất cả mọi mặt Lang đạo là người của một dòng họ lớn, được cử ra để cai quản bản Mường Giúp việc cho Lang là các Ậu, đây là lớp tay sai của Lang Dưới cùng của xã hội là những người lao động bình thường được gọi là Nọong, họ không có quyền hành gì trong xã hội, họ lao động trên mảnh đất của Lang, do Lang cấp và cai quản Tuy nhiên nó chỉ tồn tại trong
xã hội cổ truyền
Hiện nay, Người Mường được sống bình đẳng với mọi người trong xã hội Đứng đầu bản là trưởng bản, người phụ trách quản lí các mặt hoạt động của bà con trong bản Dưới sự quản lí của chính quyền xã Mọi người sinh sống và lao động trên nguyên tắc tự do, dân chủ
1.4.5.2 Quan hệ xã hội
Người Mường có các mối quan hệ xã hội khác nhau, trong đó nổi bật nhất là quan hệ làng xóm, và dòng họ Trong cuộc sống hàng ngày, làng xóm giúp đỡ nhau trong phát triển kinh tế, chia sẻ tình cảm đùm bọc lẫn nhau Thiết chế dòng họ vẫn thể hiện khá rõ rệt, và chi phối mạnh mẽ đến từng cá nhân
Người Mường theo chế độ phụ hệ, con cái đều lấy họ cha Quyền con trai trưởng được xem trọng, con trai được thừa kế tài sản
1.4.5.3 Tín ngưỡng
Người Mường ở Thạch Lâm cũng như nhiều dân tộc anh em khác trong cộng đồng các dân tộc Viêt Nam có tín ngưỡng thờ tổ tiên Đối tượng thờ là người thân trong gia đình đã mất kể cả nhiều đời trước Họ lập ra bàn thờ trong nhà, trên đó để di ảnh hoặc bài vị của người đã khuất bên cạnh bát hương Tổ chức cúng cho người đã mất vào ngày mất của họ hằng năm gọi là
Trang 22làm giỗ Ngoài ra còn thắp hương vào những dịp như ngày đầu tháng, ngày rằm, lễ tết
Tín ngưỡng thờ tổ tiên thể hiện lòng thành kính, sự tưởng nhớ của những người còn sống với người đã khuất Đặc biệt đối với người Mường nói chung
và trên địa bàn xã Thạch Lâm nói riêng họ quan niệm rằng người đã chết chỉ
là chấm dứt cuộc sống trên trần thế tức là mường người Trong tâm thức của người Mường, họ cho rằng: luôn tồn tại ba mường là mường trời là nơi của thần linh, mương người hay mường giữa là nơi con người sinh sống, còn mường đất là nơi trú ngụ của những linh hồn đã khuất, ở đó họ vẫn tiếp tục cuộc sống Từ quan niệm này mới có chuyện, những người mắc bệnh mà chết được đồng bào chữa bệnh cho trước khi đem đi chôn Họ mời thầy cúng đến làm lễ, thực hiện một vài nghi thức và họ yên tâm rằng người chết đã hết bệnh, không mang bệnh tật về cuộc sống bên kia, và họ có thể khỏe mạnh mà sống ở mường đất
Qua đây thấy được tinh thần nhân đạo sâu sắc của đồng bào Muốn cho người thân của họ có được cuộc sống bên kia khỏe mạnh
Người Mường ở đây theo tín ngưỡng đa thần Đồng bào qua niệm rằng tất cả mọi vật đều có linh hồn, cho đến những thứ tưởng như vô tri vô giác như hòn đá Từ quan niệm đó hệ thống ma này có ma nhà, ma cây, ma đá, ngoài ra còn có thần sông, thần suối, thần núi, thần thổ địa Khi tiến hành bất
kì công việc gì có thể đụng chạm đến các thần, các ma đều phải sửa lễ mà xin phép Lễ vật thường rất đơn giản, là những thứ mà chủ nhà tự sản xuất, phổ biến như chai rượu trắng, xôi nếp, gà luộc, hay thịt lợn
Sở dĩ đồng bào coi trọng thần thổ địa, thần sông suối, thần núi là vì những vị thần này gắn liền và liên quan mật thiết với cuội sống của đông bào
Họ thường cúng xin thổ địa khi cần dùng đất hoặc khởi công làm công trình nào đó trong gia đình mà phổ biến nhất là nhà sàn Đồi núi, sông suối thì rất
Trang 23gần gũi với cuộc sống của đồng bào, liên quan đến canh tác nông nghiệp Họ cầu cho mưa thuận gió hòa, cho mọi việc suôn sẻ để yên tâm lao động, sản xuất
Cũng vì xuất phát từ quan niệm rừng núi, cây cối, dòng sông, suối cũng
có linh hồn, do thần linh hoặc ma quỷ cai quản Cho nên, họ tránh làm nương rẫy ở những vạt rừng, cây cổ thụ coi là linh thiêng - nơi ngự trị của thần rừng, thần cây mặc cho đất đai ở đó có màu mỡ tơi xốp đến đâu Từ quan niệm đó
mà trong lao động sản xuất của người Mường nói chung, người Mường nói riêng có nhiều tục lệ lễ nghi nông nghiệp như tục rước vía lúa, lễ cầu mùa, lễ mừng cơm mới cho đến tục đóng cửa rừng và mở cửa rừng, kèm theo lệ cấm kiêng kị mang tính chất siêu nhiên linh thiêng
1.4.5.4 Ẩm thực
Người Mường sinh sống trên địa bàn xã Thạch Lâm từ lâu đời Quá trình lao động sản xuất họ đã tìm ra và chế biến rất nhiều món ăn, đồ uống rất đặc trưng, lâu dần đã định hình được ẩm thực Mường rất khác với các cộng đồng dân cư khác
Nhìn chung ẩm thực Mường đều có nguyên liệu tự nhiên, những thứ mà đồng bào tự trồng được, tự nuôi được hoặc có thể có sẵn trong tự nhiên Cơm
đồ là món ăn phổ biến của người Mường nơi đây, chủ yếu là cơm nếp với cách nấu rất khác, Lợi dụng sự bốc hơi của hơi nóng trong quá trình đun nấu, xôi đồ chín một cách tự nhiên, có vị rất thơm, hạt cơm chắc, không bị bung
nở nhiều Ở đây người Mường rất chuộng các vị đắng, ngọt, cay Những vị này không phải họ đưa vào món ăn mà là những vị rất tự nhiên Nổi tiếng như măng đắng, lá đắng, vị cay của ớt Vị chua cũng là vị rất phổ biến Đồng bào tạo ra nhiều món ăn như: cà muối, của hành muối, rau cải muối, măng chua Đây là những món ăn bình dân, rất dễ chế biến nên hầu như gia đình nào cũng
có Rượu cần người Mường rất nổi tiếng, nguyên liệu chính là hạt nếp cẩm và
Trang 24nước suối, nước suối tốt thì rược càng ngon Rượu cần thường uống đông người, và được dùng trong những buổi sinh hoạt cộng đồng, tiêu biểu như hội làng Đồ hút chủ yếu là thuốc lào, được chế biến từ lá cây thuốc lào Lá thuốc được hái xuống, thái thành sợi thật nhỏ, đem phơi đến mức nào đó, sẽ đem vào sử dụng
Một điểm rất riêng là dù cúng hay ăn uống bình thường, đồng bào thường có thói quen bày biện lễ vật đồ cúng lên lá chuối, cây chuối có nhiều trong không gian sống của người Mường
Ẩm thực người Mường xã Thạch Lâm thể hiện nét độc đáo trong việc khai thác tự nhiên của đồng bào, những văn hóa đặc sắc này vẫn còn được lưu giữ trong nét sinh hoạt văn hóa hằng ngày của đồng bào
1.4.5.5 Cư trú
Nơi cư trú của người Mường nơi đây phụ thuộc nhiều vào địa hình, tuy nhiên họ thường ưu tiên lựa chọn những địa hình bằng phẳng Nơi cư trú của đồng bào thường gần nương rẫy, gần nguồn nước tiện cho sinh hoạt và sản xuất Mỗi gia đình thường sinh sống trên một khoảng đất rộng, chứ truyền thống người Mường không sống theo hàng lối Ngoài khoảng đất làm nhà còn
có khoảng đất trống để trồng rau và một vài loại cây ăn quả
Người Mường Thạch Lâm cũng như người Mường ở nhiều địa phương khác đều sinh sống trên nhà sàn Đây là không gian sinh hoạt của cả gia đình
1.4.5.6 Sinh đẻ
Khi người vợ sắp sinh con, người chồng phải chuẩn bị nhiều củi, làm một bếp riêng ở gian trong và quây phên nứa thành một buồng kín cho vợ đẻ Khi vợ chuyển dạ đẻ, người chồng đi báo tin cho mẹ vợ và chị em họ hàng nội ngoại biết để đến nhà cùng nhau chờ đợi Bà đỡ cắt rốn cho đứa trẻ bằng dao nứa lấy từ đầu chiếc rui trên mái nhà Nếu là con trai thì dùng dao nứa mái nhà trước, nếu là con gái thì dùng dao nứa mái nhà sau Cuống rốn của
Trang 25các con trong gia đình được đựng chung trong một ống nứa, họ tin rằng làm như thế lớn lên anh em sẽ thương yêu nhau
Ngày sinh con, gia đình tổ chức ăn mừng, mời thầy mo cùng trừ mọi điều xấu hại đến mẹ con Ðẻ được ba đến bảy ngày thường có nhiều anh em,
bà con đến thăm hỏi tặng quà Bà ngoại mừng cháu bao giờ cũng có vài vuông vải tự dệt, gia đình khá giả mừng thêm chiếc vòng bạc đeo cổ, anh em thân thích thì mừng gạo, mừng tiền
Người đẻ thường ăn cơm nếp cẩm với lá tắc chiềng (loại lá thuốc chống được bệnh sài), uống nước nấu với các loại lá cây thuốc và trong thời gian cữ (bảy đến mười ngày) nhất là ba ngày đầu luôn luôn phải sưởi bên bếp lửa Trẻ
sơ sinh nếu là trai thì được âu yếm gọi là lọ mạ (thóc giống), nếu là gái thì lại trìu mến gọi là cách tắc (rau cỏ) Thường thì trẻ khoảng 1 tuổi mới được đặt tên gọi chính thức
1.3.5.7 Hôn nhân
Hôn nhân rất được ng ười Mường coi trọng các bước trong hôn nhân được thực hiện rất công phu, kĩ lưỡng vì đây là việc lớn trong cuộc đời mỗi người Cuộc sống hôn nhân được đánh dấu bởi lễ cưới Các bước đi đến hôn nhân bao gồm: Th¨m dò, ướm hỏi, chạm ngõ, lễ ăn hỏi, lễ cưới
Các nghi lễ trước khi cưới của người Mường truyền thống ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành:
+ Thăm dò, ướm hỏi gọi là kháo thiếng
Khi hai người con trai và con gái yêu nhau, khi thấy đẹp lứa vừa đôi nhà trai nhờ một ông mối hay còn gọi là (ông Mờ) là một người khéo ăn nói được mọi người quý trọng thay mặt nhà trai sang nhà gái hỏi ý kiến, ông Mờ thường đi vào buổi tối, lúc này chưa mang theo thứ gì chỉ cần đến đặt vấn đề + Chạm ngõ
Khi đã chọn được ngày lành tháng tốt gia đình nhà chàng trai sẽ chuẩn bị
lễ vật gồm: 12 miếng trầu cau, 2 chai rượu, 12 cái bánh chưng xanh Bánh
Trang 26chưng phải không nhân quan niệm của người Mường xưa ở xã Thạch Lâm cho rằng con gái còn trong trắng thì nhà chàng trai mang bánh chưng đến không bao giờ được cho nhân vào bánh
Nếu nhà trai cho nhân vào bánh thì gia đình nhà gái cho rằng nhà trai bảo con gái của họ đã có một đời chồng hoặc nhà trai có một ý gì chưa muốn nói ra và gia đình nhà gái sẽ chẳng bao giờ chọn bánh này Trường hợp này ít xảy ra lần này ông Mờ chọn đêm trăng thượng tuần rồi đưa đồ vật đến thưa chuyện với gia đình nhà cô gái
Gia đình nhà cô gái dù ưng hay không họ cũng không trả lời ngay Họ làm bữa cơm tiếp chuyện ông Mờ câu chuyện xong xuôi ông Mờ xin phép gia đình cô gái ra về Theo quan niệm của người Mường xưa ở xã Thạch Lâm huyện Thạch Thành nếu nhà gái không trả lại túi quà thì coi như nhà cô gái đã đồng ý và sẽ gặp ông Mờ và báo cho ông Mờ và báo cho gia đình nhà chàng trai Gia đình nhà chàng trai sẽ phải chuẩn bị một gánh cơm xôi khoảng 10 kg
và một đôi gà, ông Mờ cùng với 2 hay 3 người họ nhà trai mang đến gia đình nhà gái họ ăn uống nói chuyện và gia đình hai bên đã được phép gọi là dâu rể cũng từ nay gia đình nào có việc thì dâu rể được phép đến giúp Nhưng đặc biệt theo quan niệm của người Mường xưa ở xã Thạch Lâm huyện Thạch Thành dù xa hay gần dâu rể không được phép ngủ lại
Sau lễ này khoảng 1 tháng gia đình nhà chàng trai sẽ lại cho ông Mờ cùng 2 thành viên bên nhà trai mang sang nhà gái 1 gánh cơm, 1 đôi gà để ông Mờ cùng gia đình nhà cô gái ăn uống và hẹn ngày ăn hỏi
+ Lễ ăn hỏi
Sau khi đã hẹn được ngày ăn hỏi thì ông Mờ về báo cho gia đình nhà chàng trai lần này gia đình nhà chàng trai sẽ phải chuẩn bị lễ vật khá vất vả
Lễ này gần như là lễ cưới phải thịt lợn và mời đông đủ anh em đến dự và diễn
ra trong hai ngày một ngày chuẩn bị và một ngày làm lễ chính thức Đồ vật
Trang 27mà nhà trai phải mang sang nhà gái gồm: 100 lá trầu, 1 buồng cau, 1 gói chè xanh, 24 bánh chưng không nhân, 20 chai rượu, 2 thúng gạo tẻ, 2 thúng gạo nếp và một con lợn khoảng 40 – 50kg Đại diện cho nhà trai bao gồm đầy đủ các thành phần vai vế trong họ và một số thanh niên mang đồ vật cùng chú rể Dẫn đầu đoàn khách nhà trai là ông Mờ khách nhà trai đến nơi thì đại diện cho họ nhà gái là ông Cậu là em của mẹ cô dâu cùng một số thanh niên ra ngõ
để đón khách và mời đoàn khách nhà trai vào nhà
Ông Cậu đứng dậy cúng trình tổ tiên để từ nay trong nhà đã có con rể, con rể được trở thành con cháu trong nhà, trong họ con gái nhà mình đã có chồng và đã là con nhà người khác Chú rể đến gần ông Cậu quỳ xuống hướng mặt lên bàn thờ lạy rồi lại quay vào bếp tiếp tục làm việc Tương tự như vậy cô dâu cũng được ông Cậu giới thiệu cho đoàn khách nhà trai được biết
Sau đó là bữa tiệc, đám thanh niên hai họ lại hát, mời trầu, mời rượu họ hát đối đáp bên nào không đối đáp được thì sẽ bị phạt rượu bữa tiệc diễn ra rất vui vẻ Tiệc xong ông Mờ xin phép ông Cậu và gia đình nhà cô gái cho phép
cô dâu được về nhà chồng “cho biết cửa biết nhà” Đi cùng với cô dâu có ông Cậu và một số thanh niên và bạn bè của cô dâu Sang đến nhà chàng trai đám thanh niên lại hát hò tương tự như bên nhà gái
Tiệc xong ông Cậu xin phép gia đình nhà trai và đám thanh niên họ vẫn hát đối đáp nhau cho đến khi họ không nghe thấy tiếng của nhau nữa còn cô dâu phải ở lại phục vụ bao giờ xong chú rể mới đưa về
Lễ ăn hỏi thường tổ chức vào mùa xuân vì theo quan niệm mùa xuân mát
mẻ Thời gian từ lúc ăn hỏi đến khi cưới là ba năm cũng có khi là lâu hơn vì
có khi gia đình chưa có điều kiện cho cô gái đi làm dâu hay cho rằng con còn non dại
Trang 28Sau khi lễ ăn hỏi xong vào ngày 5 tháng 5, ông Mờ dẫn chú rể đến nhà
cô dâu Lần này gọi là “mang phần dâu” lễ vật mang theo gồm: 2 kg đường, hai chai rượu, một đôi gà luộc, một chõ xôi (hoông) Tiếp ông Mờ và chú rể lần này là bố mẹ cô dâu, lần này không cần ông Cậu
Khi thu hoạch lúa mùa xong nhà trai lại phải sắm đồ vật để làm cơm mới Lần này chú rể không đi mà đi cùng ông Mờ là bốn người thanh niên khiêng đồ đồ vật mang đi gồm: 1 thúng sôi, 2 đôi gà, 4 chai rượu, một gói chè xanh lễ này không định ngày chỉ khi nào nhà trai thu hoạch lúa mùa xong cho chú rể báo với gia đình nhà gái chuẩn bị Bố mẹ cô gái mời ông Cậu đến tiếp chuyện ông Mờ, đến lễ cơm mới lần thứ ba thì gia đình nhà chàng trai trao đổi với ông Mờ xin cưới luôn Nếu gia đình nhà cô gái đã chuẩn bị được cho con gái đi làm dâu thì báo lại với ông Cậu, ông Cậu và ông Mờ định ngày cụ thể để ông Mờ về cho nhà trai biết Người Mường truyền thống ở xã Thạch Lâm huyện Thạch Thành có tục thách cưới đây cũng là dịp để ông Cậu thay mặt cho gia đình nhà gái để đưa ra thách cưới họ thường thách 1 con trâu đực tiền và một số đồ xanh cồng Gia đình nhà gái càng giàu thì họ thường thách cao qua đó thể hiện sự phân biệt sự mua bán trong đám cưới Nhưng từ những năm thập niên 90 thì họ thường thách 200 lá trầu, 2 buồng cau, 2 gói chè xanh, 3 thúng gạo tẻ, 3 thúng gạo nếp, 40 chai rượu, một con lợn khoảng 80
kg thấy gia đình nhà gái thách toàn số chẵn như vậy thì nhà trai không cần phải xin giảm nữa, nếu thấy họ thách toàn số lẻ thì vào một ngày nào đó ông
mờ có thể đến nhà gái xin giảm bớt xuống còn số chẵn vì theo quan niệm của người Mường xưa cho rằng số chẵn là số may mắn cho nên những dịp vui thường ít mang đi, mang đến số lẻ chỉ trừ vài trường hợp ngoại lệ
Trong thời gian thử thách năm nào cũng vậy cứ đến tết là gia đình nhà chàng trai phải chuẩn bị: 2 đôi gà, 4 chai rượu, 1 thúng xôi để ông Mờ và chú
rể và đám thanh niên khiêng lễ vật đi những lần ấy gọi là “rể năm mới” Sau
Trang 29khi hết thời gian thử thách gia đình nhà gái thấy con mình đã đủ lớn để có thể
lo toan được công việc gia đình thi họ cho phép nhà trai tổ chức lễ cưới
- Các nghi lễ trong ngày cưới truyền thống của người Mường ở xã Thạch
Lâm huyện Thạch Thành
+ Lễ cưới
Sau nhiều lễ nghi phức tạp và cuối cùng lễ đón dâu được tiến hành Đây
là lễ cưới, lễ cưới được tổ chức to nhất, trịnh trọng nhất Thường được diễn ra
4 ngày và thường tổ chức ở hai nhà nhà chủ và mượn thêm một nhà hàng xóm
để tiếp khách Trong khoảng thời gian dài như vậy cho nên chi phí rất tốn kém Phần lớn chi phí do nhà trai chu tất hết do đó số đồ vật mang đến nhà gái có chênh lệch phải là số hơn chứ không được là số kém, ở nhà trai ngày đầu tiên là ngày chuẩn bị Ngày này chỉ mời vài người đứng đầu, trong dòng
họ Ông Mờ và các thành phần giúp việc phải đến đầy đủ các lễ vật mang đi nhà gái trong ngày hôm nay phải sắm chu tất, có một người được cử ra đứng
ra kiểm tra xem đồ vật mang đi còn thiếu những gì, người này phải kiểm tra hai lần Lần đầu là sau khi sắm xong, và lần thứ hai là trước khi mang đi Nhà bếp và các trai viếng mái viếng phải kiểm tra danh sách khách mời xem có bao nhiêu khách và phải chuẩn bị bao nhiêu mâm Trong những ngày diễn ra đám cưới người Mường truyền thống ở xã Thạch Lâm huyện Thạch Thành thì bắt đầu từ ngày thứ hai mỗi ngày phải thịt một con lợn, vì tục cưới truyền thống của người Mường trong đám cưới mỗi lần cúng đặt lên bàn thờ tổ tiên một cái thủ lợn Do vậy mà ở nhà gái đồ vật nhà gái đồ vật nhà trai mang đến ngày hôm trước nhưng cũng phải đến ngày chính thức tổ chức đám cưới ( tức
là ngày đón dâu) mới được làm thị con lợn do nhà trai mang đến Ông Cậu cũng trình tổ tiên đây là cỗ của con rể
Ngày thứ hai những lễ vật mang đã được thỏa thuận được ông mờ dẫn đoàn thanh niên khiêng đi, trên đường khiêng đồ đạc đến nhà gái kiểu gì hai
Trang 30thanh niên khiêng lợn cũng phải đánh vào con lợn kêu thật to để làm tín hiệu Nghe lợn kêu cũng như đã sắp xếp trước ông Cậu cùng đám thanh niên họ gái
ra ngõ để đón mời đoàn khách vào nhà vào trong nhà đồ vật được xếp ở gian bàn thờ tổ tiên (con lợn thì được để dưới gầm sàn nhà) Ông Mờ có nhiệm vụ giao còn ông Cậu có nhiệm vụ nhận trong khi nhận ông Cậu thấy thiếu gì thì nói ngay, mặc dù không về lấy nhưng đó là lời cảnh tỉnh người kiểm tra không chu đáo Nhận xong ông Cậu sẽ tự tay thắp ba nén hương lên bàn thờ
tổ tiên để báo với tổ tiên là đã nhận đủ ngày này không tổ chức ăn cơm mà chỉ
ăn trầu, uống rượu Nhiệm vụ xong xuôi ông Mờ xin phép ra về hôm ấy nhà trai đã phải thịt lợn và mời đông đủ anh em đến dự Ông Mờ lại tiếp tục nhiệm vụ cúng trình tổ tiên bắt đầu từ bây giờ trên bàn thờ tổ tiên lúc nào cũng phải thắp hương và thắp cho đến lúc ông Mờ cúng tiễn đưa tổ tiên thì lúc
đó mới thôi Cũng từ bây giờ các cụ, các bà và thanh niên đến dự họ tập trung
để hát đối đáp, “hát thường rang bọ mẹng”, hát “lời thương” có khi thâu đêm đến sáng
Ngày thứ ba là ngày cưới chính thức buổi sáng anh em họ hàng tập trung đầy đủ Tròn tục cưới hỏi truyền thống ở xã Thạch Lâm, huyện Thạch Thành
có tục ông Mờ đứng ra để cử thành phần đi đón dâu người đi đón dâu nhà trai phải chuẩn bị quả hộp (quả hộp làm bằng gỗ tròn sơn son thiếp vàng) đoàn đi đón dâu khoảng 40 người và nhất thiết phải có một người trưởng họ bên nội
và một người trưởng họ bên ngoại của chú rể riêng thanh niên chiếm hơn số nửa người đi đón dâu vì thanh niên phải có trách nhiệm mang hết số đồ dùng của cô dâu về nhà chồng Những người được cử phân công nhiệm vụ có hai người được phân công cầm cồng, trong đám cưới truyền thống của người Mường ở xã Thạch Lâm huyện Thạch Thành chỉ dùng một cồng cho hai thanh niên họ thay nhau đánh Một thanh niên được cử làm “Piêng” và chọn một người có đông con cái và bố mẹ còn sống hai người đội hộp quả đi trong hộp
Trang 31quả có chục miếng trầu, be rượu, vài chục miếng vải lụa, đôi hoa tai, gương lược Khi được phân công ai vào việc ấy thì ông Mờ chọn giờ đẹp để ra cửa mọi người đều ăn mặc đẹp và sang trọng dẫn đầu đoàn khách là ông Mờ sau
đó là hai người trưởng họ rồi đến người đội quả hộp và thanh niên cầm cồng cuối cùng là đoàn thanh niên và Mệ Mụ đoàn đi họ nói truyện thỉnh thoảng họ lại điểm hồi cồng Khi đến nhà gái ông Cậu và đám thanh niên ra đón và hai bên họ hát đối đáp nhau sau một hồi thì họ ăn trầu, uống nước và sau đó một người trưởng họ đứng lên mời nhà trai sang nhà khách ông Mờ cùng chú rể phù rể ở lại nhà chủ đoàn nhà trai sang nhà khách nhà gái cũng cử một số người cũng đủ cấp bậc sang nhà khách tiếp chuyện đoàn nhà trai Mọi người hát đối đáp mời nước, mời trầu, mời rượu nghe thật vui tai Sau đó ông Cậu thay mặt giới thiệu người nào ở cấp bậc nào để chú rể biết đường xưng hô Ông Cậu nói xong chú rể quỳ lạy ba lạy lên bàn thờ tổ tiên ông Cậu cúng trình tổ tiên là có con rể chào, chú rể lại quay lại chắp tay lạy bốn lạy, tục của người Mường xưa “lạy người lạy ba lạy ma lạy bốn” Thủ tục của chú rể như thế là xong tiếp đến là bữa tiệc của hai họ ăn uống mời nhau thật long trọng Trong khi mọi người đang ăn uống thì mẹ cô dâu chuẩn bị đồ cô dâu mang đi gồm: Một đôi mía, một đôi chiếu, một đôi gối tựa, hai đôi gối kê đầu, trên mười bộ quần áo, một cái rương vuông trên nắp có đề chữ thọ, bốn chăn bông những thứ này là do cô và mẹ cô tự trồng bông dệt vải làm ra Bố cô dâu giắt con trâu ra cột ngay trước nhà đây là con trâu do nhà cô dâu cho cô gái trước khi di làm dâu sau khi bữa tiệc xong được giờ tốt ông Mờ đứng dậy xin phép ông Cậu cùng họ hàng nhà gái cho được đón dâu về
Ông Cậu từ tốn nói:
Trang 32Để cho con làm được cửa được nhà
Ông Mờ khéo léo đáp lại:
“Năm nay năm sáng, tháng này tháng vui
Nói xong cồng hai họ lại được đánh dồn dập mẹ cô dâu dắt cô dâu ra bàn thờ và các thứ đồ của cô dâu cũng được mang ra Cô dâu quỳ trước bàn thờ lạy bốn cái, rồi ông Cậu và ông Mờ ngồi đối diện nhau ông Cậu giao đồ cho ông Mờ đầy đủ Sau đó các thanh niên lại tiếp tục đánh cồng một hồi báo hiệu
đã đến giờ ra khỏi cửa, thế là tự giác từng đôi thanh niên vào khiêng đồ Lúc này họ nhà gái phải chuẩn bị mâm trầu, mâm rượu để tiễn khách gia đình nhà gái đưa dâu khoảng 30 người và cũng đủ các vai vế và ông Cậu làm trưởng đoàn đoàn khách nhà trai ra đến ngõ lại được mời rượu, mời trầu và họ lại hát đối đáp nhau bà Mệ Mụ phải thúc dục họ thì họ mới chịu đi Đến ngõ nhà trai cồng của hai họ lại được đánh dồn dập sau đó cô dâu và Piêng đi thẳng lên buồng, còn hai họ lại cùng ăn trầu, uống nước sau đó một người bên nội của chú rể đứng dậy thay mặt nhà trai mời họ nhà gái sang nhà khách lên nhà khách mọi việc đều diễn ra như nhà gái cơm nước xong họ lại hát đối đáp và uống rượu cần vui vẻ, nhưng thời gian đã muộn ông Cậu xin phép để ra về Nhà trai cũng có mâm trầu, mâm rượu tiễn khách, đoàn khách nhà gái đi rồi nhưng họ nhà trai vẫn lưu luyến đứng lại hát và bao giờ không nghe tiếng của
nhau nữa mới thôi
Trang 33Đến ngày thứ tư cũng là ngày tiếp thông gia ở nhà gái có thể là buổi sáng dâu đi buổi chiều họ tiếp thông gia luôn, nhưng ở nhà trai lại phải kéo thêm ngày nữa, hôm nay các thông gia đến để cùng chia vui với gia đình, các thông gia được mời là bố mẹ vợ hay bố mẹ chồng chị gái của chú rể Ngày này nhà trai phải thịt một con lợn để lấy thủ cúng báo tổ tiên là có thông gia đến góp vui và sau đó là đưa tổ tiên về mồ mả của họ, từ giờ trên bàn thờ không phải thắp hương nữa khi có thông gia đến ông Mờ phải ra tận ngõ đón sau đó cô dâu và Piêng được mời ra cạnh ông Mờ để ông Mờ giới thiệu cô dâu với thông gia Hết ngày thứ tư coi như là đã xong đám cưới anh em họ hàng ai về nhà nấy và ông Mờ cũng không đến nữa Gia đình nhà trai phải để một khoanh thịt mông thật ngon để giành cho ông Mờ Cô dâu tặng các trai piêng mỗi người một chiếc khăn tay do cô làm ra Đến đây coi như đã xong các thủ
tục đám cưới
- Các nghi lễ sau ngày cưới của người Mường truyền thống ở xó Thạch Lâm huyện Thạch Thành
Sau lễ cưới xong cô dâu về nhà mẹ đẻ ba đêm sau đó sau đó nhà trai sắp
một trai rượu 10 cái bánh chưng để mẹ chồng và chú rể đến đón dâu về Đến đây các thủ tục trong đám cưới mới kết thúc
1.4.5.8 Tang ma
Đây được xem là việc quan trọng cuối cùng của một con người, nên được đồng bào tiến hành rất cẩn trọng vì nếu tổ chức không khéo sẽ kéo tho những hệ lụy, những điều không may cho những người còn sống
Mọi việc được bắt đầu khi con người tắt thở Khi người chết tắt thở, con trai trưởng cầm dao nín thở chặt 3 nhát vào khung cửa sổ gian thờ, sau đó gia đình nổi chiêng phát tang Thi hài người chết được liệm nhiều lớp vải và quần
áo theo phong tục rồi để vào trong quan tài làm bằng thân cây khoét rỗng, bên ngoài phủ áo vẩy rồng bằng vải
Trang 34Khi người con trai trong gia đình ấy chống gậy tre thì gia đình ấy có bố mất, nếu chống gậy vông thì gia đình có mẹ mất
Tang lễ do thầy mo chủ trì Hình thức chịu tang của con cái trong nhà không khác so với người Kinh, tuy nhiên con dâu, cháu dâu chịu tang ông bà, cha mẹ còn có bộ trang phục riêng gọi là bộ quạt ma
Tế quạt ma là một nghi lễ độc đáo trong đám ma người Mường Khi tế quạt ma, những người là dâu trong nhà trong họ của người quá cố phải mặc
bộ đồ quạt ma rất đẹp, gồm: váy đen, cạp mới, áo ngắn, áo chùng trắng, yếm
đỏ, hai tay đeo vòng hạt cườm, tay phải cầm quạt cọ múa, tay trái cầm que gậy, đầu đội mũ quạt trong trí tua hạt cườm; phía trước đặt một chiếc ghế mây
áo xuống đến gấu Hai vạt áo trước, phần sát với gấu, người ta may 2 chiếc túi khá to Trên ngực bên trái may 1 túi nhỏ có gân chéo ở gần miệng túi và làm bằng dải màu trang trí Áo không xẻ nách, tay dài buông tới mu bàn tay, ống tay may vừa phải, có thể xắn lên tới khủy tay Tổng thể, áo có dáng khỏe khoắn, giản dị
Áo dài (ạo chùng):
Trang 35Nam giới Mường thường mặc lồng 1 đôi áo chùng (kiểu mặc kép)
- Trang phục nữ
+ Áo:
Áo ngắn (ao pặn) là loại mặc thường ngày của phụ nữ Mường Áo may ngắn thân, xẻ ngực, thường thì không có khuy, nhưng nếu có thì là 1 chiếc khuy bấm ngang ngực Cổ áo tròn, ống tay dài tới mu bàn tay và bó sát cánh tay Ở giữa sống lưng có 1 đường may bổ từ cổ áo xuống tận gấu áo Áo ngắn được may bằng vải thường hoặc lụa với các màu sặc sỡ trong đó phần nhiều
là màu trắng Áo mặc bó sát lấy thân người, không có khuy nên để lộ phần cạp váy trước ngực và chiếc yếm bó sát lấy ngực, vừa nền nã, vừa kín đáo nhưng lại có sức gợi cảm
Áo dài (ạo chùng) thường được mặc khi tiếp khách, trong lễ hội, cưới xin Áo may dài tới quá đầu gối, phần nửa thân trên giống áo ngắn, phần nửa thân dưới (tính từ eo trở xuống) buông xuôi và may rồn dần ra Áo xẻ ngực nhưng không xẻ tà Khi mặc áo phải ôm kín lấy phần lớn thân sau Trước đây
áo chùng may bằng vải mộc (pải nhà) tự dệt lấy Ngày nay, phụ nữ Mường
Trang 36còn dùng các chất liệu vải mỏng, mềm như: Lụa, gấm với các màu sắc sang trọng
Trong lễ cưới, nàng dâu và 2 phù dâu (piềng) mặc áo chùng và ngồi xếp mái (ngồi khép 2 chân về 1 bên thân người hơi nghiêng về bên kia) trình trước bàn thờ tổ tiên nhà chồng Các bà ngồi ăn trầu uống rượu trên nhà sàn thường để áo
Váy (pạy hoặc wáy):Váy được chia làm 3 phần chính:
Từ lưng váy trở lên gọi là cạp váy, phần cạp váy rất rực rỡ, bởi nó được dệt bằng chỉ màu sặc sỡ có hình đầu rồng rất cầu kỳ Đây chính là đặc trưng nổi bật của cạp váy Mường Cạp váy được chai làm 3 phần: cao, tlốk (giữa) và rang (trên cùng)
Phần cao rộng khoảng 10cm, trang trí vòng quanh eo bằng những sọc đứng màu đỏ, vàng, nâu xen kẽ giữa các hình cỏ cây hoa lá cách điệu giống như kiểu hoa văn mặt phà (là loại hoa văn trang trí ở 2 mặt của chiếc chăn) Phần tlốk có nhiều kiểu khác nhau: Wẽn, poong, bông lái mê Tlốk phối với các màu xinh, đỏ, vàng, tlốk wẽn bố trí hoa băn nhỏ, màu tối sẫm, ấm, giản dị Tlốk poong, tlốk lái mê có hoa văn rực rỡ, màu đỏ hoặc màu vàng, là loại tlốk đẹp nhất
Sang trọng và cầu kỳ hơn cả là loại tlốk buôn, được dệt bằng lụa tơ tằm, bền và bóng mịn; trên mặt nổi nhiều hoa văn hình động vật như: Hươu, chim,
gà, rắn, rùa và đặc biệt là đầu rồng Kiểu trang trí hoa văn này giống như trang trí trên mặt trống đồng Các hình con vật chạy theo một hướng nối đuôi nhau theo từng dải Nếu dải trên chạy theo hướng phải thì dải dưới chạy theo hướng ngược lại, mỗi dải được ngăn cách bằng những hình núi đồi
Theo giáo sư Từ Chi, hoa văn trên cạp váy phụ nữ Mường về cơ bản giống hoa văn trang trí trên trống đồng Đông Sơn
Trang 37Phần rang được phối hợp bởi hai màu chính là đen và trắng Trang trí trên rang là các hoa văn kiểu hình học, một màu trắng nổi trên màu đen nhìn như những chùm sao nhỏ trên bầu trời
Phần thân váy thường được may bằng vải mộc (mặc thường ngày) bằng lụa, vóc (mặc dịp lễ tết), thường có màu đen hoặc thẫm Thân váy nối từ cạp váy xuống tới tới gót chân, bên trong gấu váy có lót vải đỏ (rộng chừng 3cm) Riêng đối với váy mặc thường ngày, ít khi người ta lót gấu váy bằng vải đỏ Dải thắt lưng (tênh) được làm bằng vải lụa dài hơn một sải tay, khâu nối
2 đầu thành một vòng tròn khép kín Tênh được thắt đúng giữa eo, trên phần cao của váy Tênh được thắt đúng giữa eo, trên phần cao của váy Khi thắt tênh, đầu nút của tênh thường buông về phía bên kia hông phải và được giấu vào trong, tạo thành kiểu chiếc nơ buông một đầu xuống khoảng độ một gang tay Tênh thường có màu tráng, tím, vàng, xanh; đẹp nhất là màu xanh thiên
lý Màu này hiện các thiếu nữ Mường ưa thích vì nó tôn được vẻ đẹp hài hòa của chiếc váy
cổ và viền mũ được may thêm dải vải màu đỏ
Mũ mo được gọi là mũ đuôi peo là loại mũ mềm, có màu xanh dương, được may bằng vải dệt có thêu hoa văn trang trí Đuôi mũ dài tới tận bắp chân, phía dưới cùng còn may thêm tua bằng vải nhiều màu, trông rất sặc sỡ
Mũ hình chóp như chiếc bồ đài úp trên đầu, màu xanh, khi đội, mũ hơi ngả
về phía sau Đạo cụ của thầy Mo gồm 1 chiếc quạt, 1 cây kiếm, 1 chiếc
Trang 38chuông (khếng) Khi thầy Mo đứng làm lễ, tay trái cầm chiếc quạt giấy rất to
có vẽ hình rồng phương, cũng có khi quạt làm bằng lông chim Tay phải cầm khếng (quả chuông đồng nhỏ) lắc liên tục để giữ nhịp cho lời Mo Kiếm đeo sau lưng hoặc bên sườn trái Khi diễn xướng Mo, thầy Mo thường vác kiếm trên vai
Trong đám tang của người Mường có hai loại trang phục đáng chú ý là tang phục của con cháu người chết và trang phục hành lễ của ông Mo.Tang
phục của người Mường được may toàn bộ bằng vải trắng tự dệt, gọi là đồ tem
Quần áo tang khi may không được vắt gấu, phải đẻ mép vải xơ ra, cố tình làm cho xấu đi, làm cho rách rưới để biểu hiện lòng thường tiếc đối với người quá
cố Bộ đồ tang như muốn thế hiện sự đau buồn khi có người thân qua đời Trang phục tang lễ của người Mường, ngoài mục đích biểu thị tình cảm, thái độ đối với người chết, còn để phân biệt mối quan hệ ruột thịt, anh chị
em, họ hàng xa, gần với người quá cố, tuy nhiên theo phong tục của một số làng, chồng không bao giờ để tang vợ Đây là nét hồi quang, phản ánh rõ ràng chế độ phụ quyền của người Mường
Một bộ đồ tem của nam giới có quần, áo pán, áo trùng, khăn, một chiếc
mũ rơm kết hình tròn, một vỏ dao đeo bên người và một chiếc túi vải tự may gọi là thoong Khi đứng chịu tang, người con trai cả phải để hai tay lên cầm
và chống một cái gậy Nếu bố chết phải chống gậy trúc, mẹ chết phải chống gậy vông Tục chống gậy vông cũng có trong đám tang của người Việt, song
ở người Mường lại có cách giải thích về hiện tượng này khác hẳn Người Mường cho rằng tre là loại cây sống được bốn mùa không đổi mấu, ví như tình cảm đau thương của người con không bao giờ giảm sút Gậy tre để tròn tượng trưng cho trời, ý coi cha như trời cao Mẹ chết chống gậy vông vì cây vông tròn tên là đồng, đồng nghĩa cùng, ý rằng lòng mẹ vẫn hợp cùng ý cha Gậy vông được đẽo phần trên tròn, phần dưới vuông Hình vuông tượng trưng
Trang 39cho đấy, ý coi mẹ như đất dày Vì vậy, chống gậy để tỏ ra là người con có hiếu, vì quá buồn thương, khóc lóc đến nỗi yếu không đủ sức đi đứng bình thường Một bộ đồ tem đầy đủ của con gái gồm có váy không có cạp, áo pắn,
áo báng, khăn eo, mũ, mũ mấn và mặc ngoài là chiếc áo choàng dài đến bắp chân Các em dâu, con dâu, cháu dâu, cũng tùy từng hoàn cảnh mà mặc loại
đồ tem tương ứng Ai còn đủ cả bố mẹ đẻ chỉ mặc váy trắng, đội mũ trắng và
mũ mấn Ai có bố hoặc mẹ đã mất thì mặc thêm áo pắn trắng, nếu cả bố và
mẹ đã mất thì mặc bộ đồ tem đầy đủ như con gái người quá cố
Riêng các nàng dâu, khi có cha, mẹ bị chết, còn có thêm bộ trang phục
để mặc khi đứng quạt hầy người quá cố, gọi là trang phục quạt ma Đó là một chiếc áo thụng bằng vải hoa đỏ, cài khuy ở bên nách phải, ống tay áo rất rộng
và hơi ngắn, trên đầu đội một chiếc mũ hình chữ nhật cao chụp xuống trán, hai góc trên của mũ treo hai dải vải gần tới vai và vạt sau mũ kéo dài từ đỉnh đầu đến tận bắp chân Đuôi mũ chia làm nhiều ô nhỏ hình chữ nhật, trang trí những sọc bằng hai ngón tay xen kẽ các màu xanh, đỏ, tím, vàng, mỗi sọc đều đính một hạt cườm
Ngoài ra con cháu trong nhà của người quá cố còn phải đeo khậu Khậu
là một chuỗi vòng được xâu bằng nhiều vỏ ốc khác nhau, ở giữa ngăn cách bởi một đồng xu Những người có tang trùng không được đeo vòng khậu Những người bình thường khác phải mang chuỗi (kleo) khậu này cho đến kỳ giỗ 100 ngày, nhưng cũng phải đợi đến khi thầy cúng ra lệnh tháo tang mới được tháo chiếc vòng ra khỏi cổ
Tất cả những người đến phúng viếng, chia buồn với gia đình và dự tang
lễ đều được phát khăn tang Phong tục này, về hình thức có hơi khác nhưng
về bản chất chúng ta thấy cũng giống như ở người Việt, mỗi người khi vào viếng đều được phát một miếng vải đen cài ở trước ngực
Trang 401.4.5.10 Phương tiện vận chuyển
Phụ nữ phổ biến dùng loại gùi đan bằng giang hoặc tre, 4 góc nẹp thành thẳng đứng, có dây đeo qua trán hoặc qua vai để chuyên chở Ðôi dậu, đòn gánh có mấu 2 đầu, đòn xóc cũng thường được sử dụng Nước sạch được chứa trong ống nứa to, dài hơn 1 mét vác vai từ bến nước về dựng bên vách
để dùng dần Ngoài ra, khi vận chuyển trên khoảng cách xa, hàng hóa nặng đồng bào thường dùng sức kéo trâu bò
1.4.5.11 Văn nghệ dân gian
Kho tàng văn nghệ dân gian của người Mường khá phong phú, có các thể loại thơ dài, bài mo, truyện cổ, dân ca, ví đúm, tục ngữ Người Mường còn
có hát ru em, đồng dao, hát đập hoa, hát đố, hát trẻ con chơi Cồng là nhạc
cụ đặc sắc của người Mường, ngoài ra còn nhị, sáo trống, khèn lù
Hát Xéc bùa (có nơi gọi Xắc bùa hay Khoá rác) được nhiều người ưa thích Thường (có nơi gọi Ràng thường hoặc Xường) là loại dân ca ca ngợi lao động, và các nét đẹp phong tục dân tộc Bọ mẹng là hình thức hát giao duyên tâm sự tình yêu Ví đúm cũng là loại dân ca phổ biến
Bên cạnh đó, người Mường còn có các thể loại hát khác như hát ru, hát đồng dao Ðặc biệt, ở người Mường phải kể đến lễ ca Ðó là những áng mo, bài khấn do thầy mo đọc và hát trong đám tang
Những hình thức văn nghệ dân gian trên đây vẫn còn được lưu giữ trong sinh hoạt văn hóa của đồng bào nơi đây
1.4.5.12 Trò chơi dân gian
Trò chơi của người Mường gần gũi với mọi đối tượng Có những trò chơi được tổ chức chu đáo, công phu như: thi bắn nỏ, chạy cà khoeo, đẩy gậy v.v Các trò chơi của lứa tuổi thiếu niên nhi đồng được tổ chức linh hoạt ở mọi nơi, mọi lúc với những điều kiện chơi đơn giản, tiện lợi như trò đánh cá cắt, trò cò le, trò đánh mảng Tuy nhiên những trò chơi dân gian ít được thế hệ