Ô nhiễm môi trường ở tỉnh Nghệ An bao gồm ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí và môi trường đất, nguyên nhân ban đầu xuất phát từ các hoạt động công nghiệp sản xuất, khai thác
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN CÔNG DŨNG
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH
Hà Nội – 2016
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ
-
NGUYỄN CÔNG DŨNG
QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN
Chuyên ngành: Quản lý kinh tế
Mã số: 60 34 04 10
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ KINH TẾ
CHƯƠNG TRÌNH ĐỊNH HƯỚNG THỰC HÀNH NGƯỜI HƯỚNG DẪN KHOA HỌC: TS LƯU QUỐC ĐẠT
XÁC NHẬN CỦA CÁN BỘ HƯỚNG DẪN
XÁC NHẬN CỦA CHỦ TỊCH HỘI ĐỒNG
Hà Nội - 2016
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, kết quả nghiên cứu nêu trong luận văn là trung thực, chƣa từng đƣợc công bố trong bất kỳ một công trình nào khác
Tác giả
Nguyễn Công Dũng
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Tôi xin chân thành cảm ơn Trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia
Hà Nội, Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Nghệ An, Sở Công Thương tỉnh Nghệ An, Chi cục Thống kê, Cục thuế Nghệ An, đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi được tham gia khóa đào tạo thạc sĩ và hoàn thành luận văn này
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến Khoa Kinh tế chính trị, trường Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội và các quý thầy, cô đã tận tình giảng dạy, giúp đỡ, chỉ dẫn cho tôi trong suốt quá trình học tập Đặc biệt, xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đối với Tiến sỹ Lưu Quốc Đạt, người đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ cho tôi trong suốt quá trình hình thành, triển khai nghiên cứu và hoàn chỉnh luận văn
Xin chân thành cảm ơn các bạn đồng nghiệp và những người đã nhiệt tình giúp đỡ, tạo mọi điều kiện thuận lợi và đóng góp nhiều ý kiến quý báu trong quá trình nghiên cứu thực tế đề tài khoa học
Mặc dù đã có nhiều cố gắng, song luận văn chắc chắn không thể tránh khỏi những thiếu sót và hạn chế Rất mong nhận được sự cảm thông, những ý kiến đóng góp quý báu của quý thầy cô và các bạn đồng nghiệp
Tác giả
Nguyễn Công Dũng
Trang 5MỤC LỤC
DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG ii
DANH MỤC HÌNH VẼ iii
PHẦN MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ KINH TẾ 5
1.1 Tổng quan tài liệu 5
1.1.1 Tài liệu lý luận công tác bảo vệ môi trường bằng công cụ kinh tế 5
1.1.2 Tài liệu các công trình nghiên cứu thực tiễn công tác bảo vệ môi trường bằng công cụ kinh tế: 7
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế 11
1.2.1 Quản lý nhà nước 11
1.2.2 Quản lý môi trường 12
1.2.3 Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế 18
1.3 Thực tiễn áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường 30
1.3.1 Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) 30
1.3.2 Kinh nghiệm của các nước phát triển 32
1.3.3 Kinh nghiệm của các nước đang phát triển 35
1.3.4 Kinh nghiệm áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường ở Việt Nam 36
TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 40
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 41
2.1 Phương pháp tiếp cận 41
2.2 Phương pháp cụ thể 42
Trang 62.2.1 Phương pháp thu thập số liệu 42
2.2.2 Phương pháp thống kê – so sánh 43
2.2.3 Phương pháp logic – lịch sử 43
2.2.4 Phương pháp phân tích – tổng hợp 44
TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 45
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG ÁP DỤNG CÁC CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG VIỆC QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 46
3.1 Tổng quan về tỉnh Nghệ An 46
3.1.1 Điều kiện tự nhiên 46
3.1.2 Dân cư và sức ép từ việc gia tăng, phân bố dân số 47
3.1.3 Tình hình phát triển kinh tế tỉnh Nghệ An 49
3.2 Hiện trạng môi trường tỉnh Nghệ An 53
3.2.1 Môi trường đất 53
3.2.2 Môi trường nước 56
3.2.3 Môi trường không khí 57
3.3 Tình hình áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An 58
3.3.1 Thuế Tài nguyên 58
3.3.2 Thuế môi trường 60
3.3.3 Các loại phí 62
3.3.4 Quỹ Bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An 71
3.4 Đánh giá việc áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An 73
3.4.1 Thuận lợi 73
3.4.2 Hạn chế và nguyên nhân 74
Trang 73.4.3 Vai trò của Sở Tài nguyên và Môi trường, cơ quan Thuế trong
việc áp dụng công cụ kinh tế để quản lý môi trường 76
TIỀU KẾT CHƯƠNG 3 78
CHƯƠNG 4: ĐỊNH HƯỚNG VÀ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ ÁP DỤNG CÔNG CỤ KINH TẾ TRONG QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG TRÊN ĐỊA BÀN TỈNH NGHỆ AN 80
4.1 Định hướng quản lý môi trường của tỉnh Nghệ An giai đoạn năm 2015 – 2020 80
4.2 Giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An 82
4.2.1 Giải pháp về thể chế chính sách 82
4.2.2 Giải pháp giáo dục và truyền thông 84
4.2.3 Một số giải pháp khác 85
TIỂU KẾT CHƯƠNG 4 90
KẾT LUẬN 91
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 93
Trang 8DANH SÁCH TỪ VIẾT TẮT
(Benefil pays principle)
Nguyên tắc người hưởng lợi phải trả tiền
(Foreign Direct Investment)
Đầu tư trực tiếp nước ngoài
(Gross Domestic Product)
Tổng sản phẩm quốc nội
(Global Environment Facility)
Quỹ Môi trường thế giới
(Geographic Information System)
Hệ thống thông tin địa lý
(Newly Industrialized Country)
Các nước công nghiệp mới
10 PPP
(Popluterb pays principle)
Nguyên tắc người gây ô nhiễm phải trả tiền
Trang 99 Bảng 3.8 Số tiền phí bảo vệ môi trường đối với nước thải
10 Bảng 3.9 Số tiền ký quỹ phục hồi môi trường của các dự
Trang 11PHẦN MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Ba mươi năm qua, đặc biệt là từ sau năm 1986, khi tiến hành công cuộc đổi mới, Việt Nam đã đạt được những thành tựu to lớn, toàn diện và có ý nghĩa lịch sử, thay đổi đời sống mọi mặt của người dân Sự phát triển của các ngành: nông nghiệp, lâm nghiệp, thủy sản, dịch vụ và đặc biệt là công nghiệp đã góp phần không nhỏ vào sự phát triển chung của toàn xã hội, song cũng chính từ sự phát triển đó đã làm nảy sinh nhiều vấn đề môi trường nghiêm trọng
Có thể nói ở nước ta hiện nay, công tác bảo vệ môi trường vẫn còn nhiều tồn tại và hạn chế, cụ thể: Chất lượng môi trường mặc dù đã được cải thiện nhưng vẫn còn chậm; môi trường một số khu vực (như đô thị, Khu công nghiệp, Cụm công nghiệp ) tiếp tục bị ô nhiễm, sự cố ô nhiễm môi trường vẫn thường xảy ra; vi phạm pháp luật về bảo vệ môi trường với thủ đoạn ngày càng tinh vi và phức tạp; việc khai thác tài nguyên không hợp lý gây ô nhiễm môi trường còn khá phổ biến Nguyên nhân chủ yếu dẫn đến tình trạng nêu trên trước hết là do nhận thức , ý thức trách nhiê ̣m về b ảo vệ môi trường của người dân, doanh nghiệp vẫn chưa cao; tình trạng coi trọng các lợi ích kinh tế trước mắt và xem nhẹ công tác bảo vệ môi trường lâu dài Bên cạnh đó, nhiều quy định về bảo vệ môi trường còn chồng chéo , việc thực thi pháp luật còn chưa nghiêm Mặt khác, yêu cầu bảo vệ về môi trường chưa được quan tâm đúng mức trong các chiến lược, quy hoa ̣ch, kế hoạch, dự án, nhất là trong quy hoạch phát triển khu, cụm công nghiệp, thủy điện Việc huy động sức mạnh
cô ̣ng đồng tham gia bảo vệ môi trường còn bộc lộ những hạn chế nhất định
Nhận thức được vấn đề đó, thời gian qua, Đảng và Nhà nước ta bằng những biện pháp và chính sách khác nhau đã và đang can thiệp mạnh mẽ vào các hoạt động của cá nhân, tổ chức trong xã hội để bảo vệ các yếu tố của môi
Trang 12trường, ngăn chặn việc gây ô nhiễm, suy thoái và sự cố môi trường Với mục tiêu phát triển bền vững, cân bằng việc tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường
Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế được xây dựng dựa trên các nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường với mục đích điều hòa xung đột giữa tăng trưởng kinh tế và bảo vệ môi trường Các công cụ kinh tế sẽ tạo điều kiện để các doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch bảo vệ môi trường và tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường với chi phí sản xuất kinh doanh và giá thành sản phẩm Điều đó dẫn đến tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra hủy hoại môi trường đồng thời tác động đến hành vi của cá nhân theo hướng có lợi cho môi trường
Tỉnh Nghệ An với vị trí và vị thế là trung tâm kinh tế- xã hội vùng Bắc Trung Bộ cũng không tránh được những hệ quả về suy thoái môi trường nặng
nề Ô nhiễm môi trường ở tỉnh Nghệ An bao gồm ô nhiễm môi trường nước, môi trường không khí và môi trường đất, nguyên nhân ban đầu xuất phát từ các hoạt động công nghiệp sản xuất, khai thác chế biến khoáng sản, rác thải sinh hoạt, nước thải bệnh viện…
Trong những năm qua, cùng với nhiều địa phương khác trên cả nước, tỉnh Nghệ An đã áp dụng các công cụ kinh tế để quản lý môi trường, bao gồm các công cụ thuế tài nguyên và phí môi trường, ký quỹ phục hồi môi trường… bước đầu việc sử dụng các công cụ đó đã thu được những thành quả nhất định, tuy nhiên, điều đó vẫn chưa đáp ứng được nhiệm vụ cấp bách điều kiện
Trang 13Câu hỏi nghiên cứu của luận văn: “Tỉnh Nghệ An đã và sẽ phải làm gì
để nâng cao hiệu quả sử dụng công cụ kinh tế trong công tác bảo vệ môi trường?”
2 Mục tiêu và nhiệm vụ nghiên cứu
Mục tiêu nghiên cứu: Đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện công tác
quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế trên địa bàn tỉnh Nghệ An
Nhiệm vụ nghiên cứu: Để đạt được mục tiêu đề ra, đề tài tập trung vào
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đối tượng nghiên cứu: việc áp dụng các công cụ kinh tế trong công tác quản lý môi trường
- Phạm vi nghiên cứu: địa bàn tỉnh Nghệ An
- Thời gian nghiên cứu: từ năm 2010 đến nay (thời điểm hoạt động Chi cục Bảo vệ môi trường tỉnh Nghệ An đi vào hoạt động)
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận, tài liệu tham khảo, luận văn được trình bày trong bốn chương:
CHƯƠNG 1: Tổng quan tài liệu, cơ sở lý luận và thực tiễn về quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
CHƯƠNG 2: Phương pháp nghiên cứu
CHƯƠNG 3: Thực trạng áp dụng công cụ kinh tế trong việc quản lý
Trang 14môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An
CHƯƠNG 4: Định hướng và giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ quản lý kinh tế trong quản lý môi trường
Trang 15CHƯƠNG 1 TỔNG QUAN TÀI LIỆU, CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN VỀ QUẢN LÝ MÔI TRƯỜNG BẰNG CÔNG CỤ KINH TẾ
1.1 Tổng quan tài liệu
Trong những năm qua, đã có nhiều công trình, bài viết về việc áp dụng các nhóm công cụ trong công tác bảo vệ môi trường nói chung và công cụ kinh tế nói riêng ở các góc độ, khía cạnh khác nhau
Thông qua các kênh thông tin như tra cứu trên mạng internet, tra cứu công báo và danh mục các tài liệu đã được công bố trên các phương tiện thông tin đại chúng, trong một số các thư viện như: Thư viện của Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc Gia Hà Nội, thư viện tỉnh Nghệ An, Trung tâm lưu trữ tỉnh Nghệ An… tác giả đã khảo cứu được một số các văn bản Luật, văn bản pháp quy và các công trình nghiên cứu có liên quan như sau:
1.1.1 Tài liệu lý luận công tác bảo vệ môi trường bằng công cụ kinh tế
Nguyễn Thế Chinh “Giáo trình Kinh tế và quản lý môi trường” (2003),
NXB Thống kê, Giáo trình cung cấp những kiến thức cơ bản về kinh tế học môi trường, quản lý môi trường xem xét trên góc độ kinh tế Để hiểu rõ hơn mối quan hệ giữa kinh tế và môi trường, từ đó có một cách ứng xử hợp lý cho các nhà kinh tế và quản trị kinh doanh trong hoạt động thực tiễn đối với những vấn đề liên quan đến môi trường Bên cạnh đó, giáo trình đã phân tích mối quan hệ giữa môi trường và phát triển; những vấn đề cơ bản về kinh tế học chất lượng môi trường; đánh giá tác động môi trường và phân tích kinh tế của những tác động môi trường; những vấn đề liên quan giữa khan hiếm tài nguyên, dân số, kinh tế và môi trường và những nội dung kiến thức cơ bản của quản lý môi trường phù hợp với hoàn cảnh cụ thể của Việt Nam và xu hướng biến đổi môi trường toàn cầu
Trang 16Trần Thanh Lâm “Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế” (2006),
NXB Lao Động, cuốn sách đã hệ thống các công cụ kinh tế ứng dụng trong quản lý môi trường nhằm giúp các nhà nghiên cứu, các nhà quản lý môi trường hoạch định chính sách và quản lý môi trường, cũng như những ai quan tâm về lĩnh vực này có cái nhìn tổng quan về một công cụ quản lý được đánh giá là mềm dẻo, dễ lựa chọn và hiệu quả trong quản lý môi trường trên nền kinh tế thị trường Cuốn sách đã tập hợp, chọn lọc những vấn đề chủ yếu về lý luận và thực tiễn để biên soạn, chỉ rõ ra những điều kiện để các doanh nghiệp chủ động lập kế hoạch văn bản môi trường và tuân thủ pháp luật thông qua việc lồng ghép chi phí bảo vệ môi trường với chi phí sản xuất, kinh doanh và giá thành sản phẩm
Phan Như Thúc “Quản lý môi trường” (2002), Giáo trình Đại học bách
khoa Đà Nẵng, cuốn sách cung cấp những khái niệm cơ bản về môi trường và phát triển bền vững, trong đó chỉ rõ hệ thống quản lý môi trường là thiết yếu, không thể thiếu được để tổchức có khả năng nhìn thấy trước sự tiến triển thực thi môi trường sẽ diễn ra và bảo đảm sự tuân thủ các yêu cầu quốc gia và quốc
tế về bảo vệ môi trường Hệ thống quản lý môi trường thu được kết quả tốt khi mà công việc quản lý môi trường được tiến hành cùng với các ưu tiên hàng đầu khác của tổ chức Ngoài ra, cuốn sách cũng đã chỉ rõ những nguyên tắc chung của quản lý môi trường gồm: Kết hợp các mục tiêu quốc tế- quốc gia - vùng lãnh thổ và cộng đồng dân cư trong việc quản lý môi trường; Hướng tới sự phát triển bền vững; Quản lý môi trường xuất phát từ quan điểm tiếp cận hệ thống và cần được thực hiện bằng nhiều biện pháp và công cụ tổng hợp đa dạng và thích hợp; Phòng ngừa tai biến, suy thoái môi trường cần được ưu tiên hơn việc phải xử lý hồi phục môi trường nếu để xảy ra ô nhiễm; Người gây ô nhiễm phải trả tiền
Trang 17Lưu Đức Hải, Nguyễn Ngọc Sinh “Quản lý môi trường cho sự phát triển bền vững” (2001), Nhà xuất bản Đại học Quốc gia Hà Nội Tài liệu giúp
có một cái nhìn khái quát về lý thuyết phát triển bền vững, định lượng hóa sự phát triển bền vững, các nhóm mục tiêu của phát triển bền vững và định hướng phát triển bền vững ở Việt Nam
1.1.2 Tài liệu các công trình nghiên cứu thực tiễn công tác bảo vệ môi trường bằng công cụ kinh tế:
“Đánh giá thực trạng và đề xuất các giải pháp tăng cường công tác bảo vệ môi trường ở Việt Nam” (2015), Bài tham luận hội nghị môi trường
toàn quốc lần thứ 4, bài viết đã đánh giá những việc đã làm được trong thời gian qua đối với công tác bảo vệ môi trường, đó là hệ thống chính sách, pháp luật có bước phát triển vượt bậc; Nguồn lực cho công tác bảo vệ môi trường
đã được quan tâm hơn; các công cụ kinh tế bước đầu đã phát huy được vai trò điều phối lợi ích giữa kinh tế và môi trường Tuy nhiên, bên cạnh đó tham luận cũng đã chỉ rõ đưa ra một số khuyết điểm tồn tại cần phải khắc phục trong thời gian tới Trước hết, về quan điểm và nhận thức, có lúc và có nơi, ngay cả ở những cơ quan trung ương, chúng ta chưa thực sự coi môi trường
và bảo vệ môi trường phải gắn kết hữu cơ, không thể tách rời với phát triển kinh tế - xã hội; còn coi nhẹ, thậm chí bỏ qua lợi ích môi trường trong các hoạt động kinh tế; hệ thống văn bản quy phạm pháp luật; mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng vẫn còn những chồng chéo, chưa rõ ràng trong phân công, nhất là trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học; về hệ thống văn bản quy phạm pháp luật, mặc dù đã có những bước tiến lớn nhưng vẫn còn những chồng chéo, chưa rõ ràng trong phân công, nhất là trong lĩnh vực bảo tồn đa dạng sinh học Vẫn còn những quy định chưa thực sự phù hợp; nguồn lực và các điều kiện đảm bảo cho công tác bảo vệ môi trường còn hạn chế
Trang 18Nguyễn Ngọc Anh Đào “Luận án tiến sỹ pháp luật về sử dụng công cụ kinh tế trong bảo vệ môi trường ở Việt Nam hiện nay” (2013), Viện Hàn lâm
khoa học xã hội Việt Nam, Luận án nêu Nghị quyết 24-NQ/TW khẳng định
“Chú trọng xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ứng phó với biến đổi khí hậu, quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường và các lĩnh vực có liên quan như đầu
tư, thuế, xử lý vi phạm hành chính, dân sự theo hướng bổ sung, kết hợp khắc phục các chồng chéo, xung đột pháp luật nhằm tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc thực hiện các nhiệm vụ Hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp, xung đột trong ứng phó với biến đổi khí hậu, khai thác, sử dụng tài nguyên và bảo vệ môi trường Sửa đổi, bổ sung các chế tài hành chính, kinh tế, hình sự
về quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, bảo đảm đủ sức răn đe Đẩy mạnh thanh tra, kiểm tra, xử lý nghiêm các vi phạm pháp luật” Bằng những
nỗ lực của mình, Việt Nam đang dần dần hình thành một hệ thống chính sách, pháp luật về bảo vệ môi trường với sự ra đời của hàng loạt văn bản pháp luật quy định nhiều biện pháp bảo vệ môi trường như: biện pháp hành chính (đây
là biện pháp áp dụng chủ yếu), biện pháp hình sự, biện pháp dân sự và bước đầu sử dụng một số công cụ kinh tế
Nguyễn Lệ Quyên “Luận văn thạc sỹ quản lý nhà nước về môi trường tại thành phố Đà Nẵng” (2012), Trường Đại Học Đà Nẵng, luận văn đã phân tích với
vị thế là một trong số các độ thị loại I của Việt Nam, là thành phố động lực của vùng kinh tế Miền Trung – Tây Nguyên, Đà Nẵng đã có bước phát triển khá nhanh về KT-XH Diện mạo thành phố đã khang trang, văn minh, sạch đẹp và đầy sức sống, thể hiện rõ bản chất của một thành phố trẻ năng động Các đề án về xây dựng và phát triển môi trường đặc biệt là đề án “Xây dựng Đà Nẵng – Thành phố môi trường” đã tạo nên những hướng phát triển sáng tạo của thành phố, với mục đích lớn nhất là phát triển KT-XH bền vững và phấn đấu đạt thành phố thân thiện môi trường, đảm bảo các yêu cầu về chất lượng môi trường
Trang 19Hệ thống cơ quan quản lý nhà nước về môi trường của thành phố Đà Nẵng đã được hình thành và đi vào hoạt động có hiệu quả Về cơ chế quản lý môi trường và tổ chức bộ máy quản lý đã có những thay đổi rõ rệt, nâng cao chất lượng và hiệu quả của công tác quản lý môi trường Công tác ñào tạo nâng cao trình độ chuyên môn của cán bộ quản lý môi trường đã được chú trọng thông qua việc mở các lớp đào tạo, tập huấn các kỹ năng chuyên môn… Bên cạnh việc chỉ đạo sát sao thực hiện các văn bản quy phạm pháp luật của Nhà nước, thành phố còn ban hành các văn bản dưới luật, ñặc biệt sự lồng ghép chương trình bảo vệ môi trường với chiến lược phát triển KT-XH Tuy nhiên công tác quản lý nhà nước về môi trường của Tp.Đà Nẵng vẫn còn một
số hạn chế như tình trạng ban hành các văn bản dưới luật chưa kịp thời, chưa sát với tình hình thực tiễn
Trần Thị Hòa “Luận văn thạc sỹ thực trạng và giải pháp nâng cao hiệu quả áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường trên địa bàn thành phố
Hà Nội” (2008), Đại học Kinh tế quốc dân Hà Nội, tài liệu nêu thành phố Hà
Nội với vị thế là thủ đô của cả nước cũng không tránh được những hệ quả về suy thoái môi trường do các hoạt động sinh sống, hoạt động sản xuất công nghiệp,…Do đó cần thiết phải tiến hành quản lý môi trường bằng các biện pháp kinh tế bởi các công cụ kinh tế tiếp cận môi trường linh hoạt, hiệu quả
và kinh tế, nó cho phép các doanh nghiệp lựa chọn phương án tối ưu đáp ứng các yêu cầu về môi trường
Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường được áp dụng trên địa bàn thành phố Hà Nội bao gồm phí thu gom rác thải, phí bảo vệ môi trường đối với nước thải và phí xăng dầu, quỹ môi trường, đây là những công cụ kinh tế
cơ bản được sử dụng Việc áp dụng các công cụ vừa thực hiện được mục tiêu bảo vệ môi trường, giảm thiểu ô nhiễm, vừa tạo được nguồn thu cho ngân sách nhà nước, đặc biệt là nó được sự đồng tình chấp nhận của cộng đồng dân
Trang 20cư và doanh nghiệp Tuy nhiên, do còn nhiều hạn chế trong công tác tổ chức, trình độ quản lý và trình độ chuyên môn, hệ thống thiết bị còn thiếu và lạc hậu,… nên hiệu quả đạt được thấp hơn yêu cầu đặt ra
Trần Nhật Nguyên “Đề tài thực trạng áp dụng các công cụ kinh tế trong quản lý môi trường tại TP Hồ Chí Minh – Đề xuất các giải pháp”
(2013), Viện nghiên cứu phát triển thành phố Hồ Chí Minh, Đề tài đã thực hiện tổng quan các loại công cụ kinh tế đang áp dụng tại Việt Nam nói chung
và TPHCM nói riêng Qua đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn một số công cụ kinh tế tiêu biểu đang áp dụng tại TP với thời gian áp dụng khá dài để đánh giá Theo đó, nhóm nghiên cứu đã lựa chọn 3 loại công cụ: phí bảo vệ môi trường đối với nước thải công nghiệp, phí bảo vệ môi trường đối với chất thải rắn và thuế tài nguyên nước Qua đó, khảo sát thực tế các đơn vị trực tiếp quản lý thu phí và các doanh nghiệp là đối tượng đang được áp dụng các công
cụ kinh tế trên Từ kết quả khảo sát, rút ra những nhận định chung về những mặt đạt được, những mặt hạn chế của các công cụ trên
Trên cơ sở phân tích thực trạng áp dụng, cơ chế chính sách và tham khảo kinh nghiệm của nước ngoài, đề tài đã đề xuất một số giải pháp đối với mỗi loại công cụ nhóm nghiên cứu đã đánh giá như sau:
- Đối với phí BVMT đối với nước thải công nghiệp: thay đổi mức phí,
cơ sở tính phí, các chất ô nhiễm tính phí, bổ sung đối tượng nộp phí và các giải pháp quản lý về quy trình thu phí, công tác kiểm tra giám sát, các biện pháp xử lý và sử dụng nguồn thu phí
- Đối với phí BVMT đối với chất thải rắn: Điều chỉnh phù hợp các lỗ hổng trong nội dung QĐ số 88/2008/QĐ-UBND của UBND thành phố Hồ Chí Minh về các vấn đề: phân nhóm chủ nguồn thải, mức phí thu gom, tỷ lệ trích nộp phí của các nhóm đối tượng ngoài hộ gia đình; Cải tiến công tác tổ chức thực hiện, đặc biệt là tổ chức tuyên truyền rộng rãi chủ trương của Nhà
Trang 21nước về thu phí vệ sinh và phí BVMT đối với chất thải rắn thông thường; tăng cường nhân lực quản lý lĩnh vực vệ sinh môi trường tại địa phương; xây dựng bản đồ thu gom tại địa phương; giao địa phương tổ chức thu phí
- Đối với thuế tài nguyên nước: Điều chỉnh giá tính thuế tài nguyên nước sao cho không quá chênh lệch với giá nước cấp, để tránh tình trạng khai thác nước tràn lan; Giá tính thuế tài nguyên nước cần phân theo đối tượng khai thác hay lưu lượng khai thác Giá tính thuế đối với các đối tượng khai thác nước sử dụng cho công nghiệp cần khác với mục đích dịch vụ hay sử dụng cho cấp nước
Các bài viết, đề tài khoa học, công trình nghiên cứu, tài liệu nêu trên,
đã đi chuyên sâu từ hệ thống lý luận cho đến thực tiễn triển khai áp dụng công
cụ kinh tế trong công tác bảo vệ môi trường tại cơ sở, cụ thể ở một số địa phương trọng điểm như thành phố Hà Nội, thành phố Đà Nẵng, thành phố Hồ Chí Minh Tuy nhiên, qua khảo cứu và tìm hiểu những tài liệu đã được công
bố, Tác giả thấy chưa có công trình nào nghiên cứu đánh giá thực trạng, tính hiệu quả của việc sử dụng công cụ kinh tế để quản lý môi trường trên địa bàn tỉnh Nghệ An, do vậy tôi đã chọn nội dung này làm đề tài nghiên cứu và không trùng với những nghiên cứu trước
1.2 Cơ sở lý luận về quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
1.2.1 Quản lý nhà nước
1.2.1.1 Khái niệm quản lý
Thuật ngữ quản lý được sử dụng rộng rãi trong mọi lĩnh vực từ doanh nghiệp, khu vực tư nhân, khu vực công, nhất là trong hệ thống các
cơ quan hành chính nhà nước Tùy thuộc vào lĩnh vực nghiên cứu của các ngành khoa học mà thuật ngữ quản lý được sử dụng cho phù hợp với đối tượng nghiên cứu
Một cách khái quát nhất, quản lý có thể được hiểu như sau:
Trang 22“Quản lý là sự tác động có tổ chức, có mục đích của chủ thể quản lý lên đối tượng quản lý và khách thể quản lý nhằm sử dụng có hiệu quả các nguồn lực để đạt được các mục tiêu đặt ra trong sự vận động của sự vật”
Như vậy, quản lý có thể hiểu là hoạt động nhằm tác động một cách có
tổ chức và định hướng của chủ thể quản lý vào một đối tượng nhất định để điều chỉnh các quá trình xã hội và hành vi của con người nhằm duy trì tính ổn định và phát triển của đối tượng theo mục tiêu đã định
1.2.1.2 Khái niệm quản lý nhà nước
Quản lý nhà nước xuất hiện cùng với sự xuất hiện của Nhà nước, là quản lý công việc của Nhà nước Quản lý nhà nước xét về mặt chức năng bao gồm hoạt động lập pháp (Quốc hội), hoạt động hành chính (chấp hành và điều hành) của Chính phủ và hoạt động tư pháp của hệ thống tư pháp (Tòa
án, Viện Kiểm sát)
Chủ thể quản lý nhà nước là các cơ quan trong bộ máy Nhà nước thực hiện chức năng lập pháp, hành pháp, tư pháp Đối tượng quản lý là toàn bộ dân cư sống trong phạm vi lãnh thổ quốc gia
Quản lý nhà nước là sự quản lý xã hội bằng quyền lực nhà nước, ý chí nhà nước, thông qua bộ máy nhà nước làm thành hệ thống tổ chức điều khiển quan hệ xã hội và hành vi hoạt động của con người để đạt được mục tiêu kinh
tế xã hội nhất định, theo những thời gian nhất định với hiệu quả cao
Theo đó, khái niệm chung về quản lý nhà nước là:
“Quản lý nhà nước là một dạng quản ly do nhà nước làm chủ thể định hướng điều hành, chi phối v.v…để đạt được mục tiêu kinh tế xã hội trong giai đoạn lịch sử nhất định”
1.2.2 Quản lý môi trường
1.2.2.1 Khái niệm và mục tiêu quản lý môi trường
a Khái niệm quản lý môi trường
Quản lý môi trường là sự tác động liên tục có tổ chức và hướng đích của
Trang 23chủ thể quản lý môi trường lên cá nhân hoặc cộng đồng người tiến hành các hoạt động phát triển trong hệ thống môi trường và khách thể quản lý môi trường, sử dụng một cách tốt nhất mọi tiềm năng và cơ hội nhằm đạt được mục tiêu quản lý môi trường đã đề ra, phù hợp với pháp luật và thông lệ hiện hành
Như vậy, quản lý môi trường là tổng hợp các biện pháp, luật pháp, chính sách kinh tế, kỹ thuật, xã hội thích hợp nhằm bảo vệ chất lượng môi trường sống và phát triển bền vững kinh tế - xã hội quốc gia
b.Mục tiêu quản lý môi trường
Mục tiêu cơ bản của công tác bảo vệ môi trường ở nước ta trong giai đoạn công nghiệp hóa, hiện đại hóa hiện nay đó là:
- Thứ nhất, khắc phục và phòng chống suy thoái, ô nhiễm môi trường phát sinh trong các hoạt động sống của con người
- Thứ hai, phát triển đất nước theo 9 nguyên tắc phát triển bền vững do Hội nghị Rio-92 đề xuất và được tuyên bố Johannesbug, Nam Phi về phát triển bền vững 26/8 – 4/9/2002 tái khẳng định Trong đó với nội dung cơ bản cần phải đạt được là phát triển kinh tế-xã hội gắn chặt với bảo vệ và cải thiện môi trường, bảo đảm sự hài hòa giữa môi trường nhân tạo với môi trường thiên nhiên, giữ gìn đa dạng sinh học
- Thứ ba, xây dựng các công cụ kinh tế có hiệu lực quản lý môi trường quốc gia và các vùng lãnh thổ Các công cụ trên phải thích hợp với từng ngành, từng địa phương và cộng đồng dân cư
1.2.2.2 Các nguyên tắc cơ bản của quản lý môi trường
Quản lý môi trường phải phản ánh các quy luật khách quan vào điều kiện cụ thể của từng đối tượng quản lý Ở nước ta, quản lý môi trường cần dựa vào những nguyên tắc sau:
- Bảo đảm tính hệ thống
Môi trường là một hệ thống động phức tạp, bao gồm nhiều phần tử hợp
Trang 24thành Các phần tử có bản chất tự nhiên và xã hội khác nhau Trên cơ sở thu thập, tổng hợp và xử lý thông tin về hoạt động của các đối tượng trong hệ thống môi trường, nhiệm vụ của quản lý môi trường là đưa ra các quyết định quản lý phù hợp nhằm thúc đẩy các phần tử cấu thành hoạt động đều đặn, cân đối, hài hòa hướng tới mục tiêu đã định
- Bảo đảm tính tổng hợp
Các hoạt động phát triển thường diễn ra dưới nhiều hình thức khác nhau, dù dưới hình thức nào, quy mô và tốc độ hoạt động ra sao, mỗi loại hoạt động đều gây ra tác động tổng hợp lên hệ thống môi trường Vì thế, trong khi hoạch định chính sách quản lý môi trường cần phải tính đến tác động tổng hợp và hậu quả của chúng
- Bảo đảm tính liên tục và nhất quán
Môi trường là một hệ thống liên tục, tồn tại, hoạt động và phát triển thông qua chu trình trao đổi vật chất, năng lượng Đặc tính này quy định tính nhất quán và tính liên tục của tác động quản lý lên môi trường, đòi hỏi không ngừng nâng cao năng lực dự đoán và xử lý tổng hợp cũng như năng lực quản
lý vĩ mô của Nhà nước
- Bảo đảm tập trung dân chủ
Quản lý môi trường được thực hiện nhiều cấp khác nhau Vì thế, cần phải bảo đảm mối quan hệ chặt chẽ và tối ưu giữa tập trung và dân chủ trong quản lý môi trường Tập trung phải thực hiện trên cơ sở trong bàn bạc, quyết định các vấn đề có liên quan tới môi trường theo phương châm “dân biết, dân bàn, dân làm, dân kiểm tra” Ngược lại, dân chủ phải thực hiện trong khuôn khổ tập trung, không mâu thuẫn, đối với tập trung, tráng lãng phí nguồn lực
xã hội
- Kết hợp quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ
Mỗi thành phần môi trường như không khí, nước, đất, âm thanh, ánh
Trang 25sáng,… thường do từng ngành quản lý và sử dụng, nhưng các thành phần môi trường không chỉ phân bố, khai thác và sử dụng trên một địa bàn cụ thể Trong khi một yếu tố môi trường có thể chịu sự quản lý của nhiều cơ quan khác nhau
Do đó nếu không kết hợp chặt chẽ giữa quản lý theo ngành và quản lý theo lãnh thổ thì sẽ làm giảm hiệu lực và hiệu quả của quản lý môi trường
- Kết hợp hài hòa các loại lợi ích
Quản lý môi trường là quản lý các hoạt động phát triển do con người tiến hành, tổ chức và phát huy tính tích cực của hoạt động vì mục đích phát triển bền vững Các cá nhân, tập thể hay cộng đồng, đều có những lợi ích, nguyện vọng, nhu cầu nhất định Do đó, một trong những nhiệm vụ quan trọng của quản lý môi trường là chú ý đến lợi ích của con người, để khuyến khích có hiệu quả hành vi và thái độ ứng xử phù hợp với mục tiêu bảo vệ môi trường
- Kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý kinh tế, quản lý xã hội
Để đạt tới mục tiêu phát triển bền vững, hướng đến một xã hội bền vững trong tương lai, ngay từ đầu và trong suốt quá trình phát triển, phải kết hợp chặt chẽ, hài hòa giữa quản lý tài nguyên và môi trường với quản lý kinh
tế, quản lý xã hội thông qua việc hoạch định chính sách và chiến lược phát triển đúng đắn, có tầm bao quát và có tính tổng hợp, thông qua quá trình hòa nhập các kế hoạch và đầu tư về môi trường vào các kế hoạch và đầu tư vào kinh tế- xã hội ở tất cả các khâu, các cấp quản lý của Nhà nước
- Tiết kiệm và hiệu quả
Tiết kiệm và hiệu quả là hai mặt liên quan chặt chẽ với nhau của quản
lý môi trường, đảm bảo khai thác và sử dụng tài nguyên một cách hiệu quả Thông qua việc hoạch định chính sách và chiến lược bảo vệ môi trường quốc gia để giảm tiêu hao năng lượng, tiết kiệm lao động, đảm bảo đầu tư vật chất
và tài chính có trọng điểm
Trang 261.2.2.3 Phân loại các công cụ quản lý môi trường
a Phân loại theo chức năng
Theo chức năng của các công cụ có thể phân ra làm 3 loại chức năng chủ yếu của công cụ quản lý môi trường là: công cụ điều chỉnh vĩ mô, công
cụ hành động, công cụ hỗ trợ
- Công cụ điều chỉnh vĩ mô: là luật pháp và các chính sách của Nhà
nước, thông qua đó Nhà nước có thể điều chỉnh các hoạt động sản xuất có tác động mạnh mẽ tới việc phát sinh ra chất ô nhiễm
- Công cụ hành động: là các công cụ hành chính (xử phạt vi phạm môi
trường trong kinh tế, sinh hoạt…), công cụ kinh tế, có tác động trực tiếp tới lợi ích kinh tế - xã hội của cơ sở sản xuất kinh doanh
+ Công cụ hành động là công cụ chủ yếu của các tổ chức môi trường được xây dựng trên cơ sở luật pháp, chính sách của quốc gia
+ Công cụ hành động nhìn chung rất đa dạng, có ảnh hưởng trong một
phạm vi nhất định
- Công cụ hỗ trợ: là các công cụ không có tác động điều chỉnh hoặc
không tác động trực tiếp tới hoạt động Các công cụ này dùng để quan sát, giám sát các hoạt động gây ô nhiễm, giáo dục con người trong xã hội
+ Công cụ hỗ trợ có thể là các công cụ kỹ thuật như: GIS, mô hình hóa, giáo dục môi trường, thông tin môi trường
+ Công cụ hỗ trợ có chức năng hoàn thiện dần các công cụ hành động của các tổ chức và các cá nhân gây ô nhiễm môi trường
b Phân loại theo bản chất công cụ
Có thể phân loại công cụ quản lý môi trường theo bản chất thành 4 loại
cơ bản là: công cụ luật pháp - chính sách, công cụ kinh tế, công cụ kỹ thuật quản lý, công cụ hỗ trợ
- Công cụ luật pháp – chính sách: các quy định luật pháp – chính sách
Trang 27về môi trường và bảo vệ tài nguyên môi trường như các bộ luật về môi trường, luật nước, luật bảo vệ và phát triển bền vững, luật đất đai
- Công cụ kinh tế: là các công cụ đánh vào thu nhập bằng tiền của hoạt
động sản xuất kinh doanh
+ Công cụ kinh tế rất đa dạng: thuế môi trường, nhãn sinh thái, phí môi trường, quota ô nhiễm, quỹ môi trường, …
+ Công cụ kinh tế được xác định và áp dụng cho từng quốc gia, tùy vào mức độ phát triển của nền kinh tế và sự chặt chẽ của các quy định pháp luật đã có
+ Công cụ kinh tế được nhanh chóng hoàn thiện theo thời gian
+ Công cụ kinh tế chỉ được áp dụng có hiệu quả trong nền kinh tế thị trường
c Công cụ kỹ thuật môi trường
- Công cụ kỹ thuật quản lý tác động trực tiếp vào các hoạt động tạo ra
ô nhiễm hoặc quản lý chất ô nhiễm trong quá trình hình thành và vận hành hoạt động sản xuất
- Các công cụ kỹ thuật quản lý bao gồm: công cụ đánh giá môi trường, monitoring môi trường, kế toán môi trường, quy hoạch môi trường, công nghệ xử lý các chất thải, tái chế và tái sử dụng,…
- Công cụ kỹ thuật quản lý được thực hiện thông qua vai trò kiểm soát
và giám sát
- Công cụ kỹ thuật quản lý có thể được thực hiện thành công trong bất
kì một nền kinh tế phát triển như thế nào
d Công cụ giáo dục và truyền thông
Giáo dục và truyền thông nhằm nâng cao nhận thức về môi trường thông qua biện pháp phổ biến kiến thức pháp luật, tuyên truyền, phổ cập nhận thức môi trường bằng các phương tiện thông tin đại chúng hoặc mở các
Trang 28lớp tập huấn, đưa nội dung bảo vệ môi trường vào tất cả các cấp học, đào tạo chuyên gia về môi trường
- Giáo dục môi trường thông qua các hoạt động giáo dục chính quy và không chính quy để nâng cao nhận thức, kỹ năng và sử dụng môi trường theo cách bền vững
- Truyền thông là quá trình trao đổi thông tin, ý tưởng, tình cảm, suy nghĩ, thái độ giữa các cá nhân hoặc nhóm người để hiểu về các yếu tố môi trường, mối quan hệ phụ thuộc lẫn nhau giữa chúng và các tác động liên quan
1.2.3 Quản lý môi trường bằng công cụ kinh tế
1.2.3.1 Khái niệm công cụ kinh tế
Công cụ kinh tế là các công cụ chính sách được sử dụng nhằm tác động tới chi phí và lợi ích trong hoạt động của các cá nhân và tổ chức kinh
tế để tạo ra các tác động ảnh hưởng đến hành vi của các tác nhân kinh tế theo hướng có lợi cho môi trường
Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường có tác động trực tiếp tới thu nhập hoặc hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh, nhằm ngăn ngừa tác động tiêu cực tới môi trường Công cụ kinh tế có thể tác động trực tiếp vào các nhà sản xuất dưới dạng thuế môi trường, phí xả thải hoặc trực tiếp vào người tiêu thụ dưới dạng phí sử dụng Trong tất cả các trường hợp
đó, công cụ kinh tế đều có mục đích chung là hạn chế lượng chất thải phát sinh và giảm ảnh hưởng của việc tiêu thụ tài nguyên, năng lượng
Các công cụ kinh tế hoạt động thông qua giá cả từ đó làm thay đổi chi phí hoặc lợi ích của các chủ thể Việc sử dụng công cụ kinh tế để kích thích các chủ thể hoạt động có lợi cho môi trường theo 2 nguyên tắc: BPP (người hưởng lợi phải trả tiền) và PPP (người gây ô nhiễm phải trả tiền) Theo nguyên tắc PPP thì
ở mức ô nhiễm cao sẽ phải chịu phạt về tài chính cao hơn, còn ở mức ô nhiễm thấp hơn thì chịu phạt thấp hơn, hoặc được thưởng Đối với nguyên tắc BPP thì
Trang 29người sử dụng phải trả toàn bộ chi phí xã hội cho sự cung cấp nguồn lực đó (ví
dụ phí nước thải và phí dịch vụ liên quan đến việc xử lý nước thải)
Công cụ kinh tế rất đa dạng, gồm thuế môi trường, phí và lệ phí môi trường, quỹ môi trường, cota ô nhiễm, trợ cấp môi trường, nhãn sinh thái, ký quỹ môi trường,… Mỗi công cụ đều có những ưu điểm tùy theo từng nội dung quản lý cụ thể
Công cụ kinh tế cần các điều kiện để phát huy hiệu lực trong quản lý môi trường:
- Nền kinh tế thị trường thực sự, hàng hóa tự do trao đổi theo đúng chất lượng và giá trị
- Chính sách và các quy định pháp luật chặt chẽ, cho phép kiểm soát và điều chỉnh các hoạt động sản xuất kinh doanh gây ô nhiễm hoặc sử dụng các thành phần môi trường
- Hiệu lực cao của các tổ chức quản lý môi trường từ Trung ương đến địa phương trong quá trình thi hành các quy định của nhà nước về pháp luật, quy định
- Thu nhập bình quân của quốc gia (GDP) cao, cho phép quốc gia có những nguồn tài chính cho công tác bảo vệ môi trường và giáo dục ý thức môi trường cho mọi người dân
Trong điều kiện kinh tế, khoa học và công nghệ phát triển mạnh mẽ như hiện nay các công cụ kinh tế trong quản lý cần luôn được nghiên cứu để hoàn thiện, tránh sự phản ứng của nhà sản xuất và người tiêu thụ Sự mở cửa của nền kinh tế đòi hỏi rất cao đối với các sản phẩm thương mại quốc tế, yêu cầu về an toàn trong quá trình sản xuất và sử dụng sản phẩm Công cụ kinh tế trong quản lý môi trường là một phần của chính sách môi trường có tác dụng
hỗ trợ nhà quản lý thực hiện nhiệm vụ của mình
Trang 301.2.3.2 Các loại công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
a Thuế tài nguyên
Thuế tài nguyên là một loại thuế thực hiện điều tiết thu nhập về hoạt động khai thác sử dụng tài nguyên thiên nhiên của đất nước
Đối tượng nộp thuế: các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước thuộc mọi thành phần kinh tế quốc doanh, không phân biệt ngành nghề, hình thức khai thác, hoạt động thường xuyên hay không thường xuyên, có địa điểm lưu động hay cố định, có khai thác sử dụng tài nguyên lòng đất, mặt đất, mặt nước
Thuế tài nguyên bao gồm một số sắc thuế chủ yếu như thuế sử dụng đất, thuế sử dụng nước, thuế rừng, thuế tiêu thụ năng lượng, thuế khai thác tài nguyên khoáng sản,…
Cơ cấu tính thuế tài nguyên phải được thay đổi phù hợp với khả năng công nghệ của doanh nghiệp, phương thức quản lý của Nhà nước và điều kiện địa chất kỹ thuật của khu vực khai thác tài nguyên để bảo đảm có sự phân biệt đối với các doanh nghiệp hoặc hoạt động gây ra tổn thất tài nguyên
và suy thoái môi trường ở các mức độ khác nhau Nguyên tắc chung của thuế tài nguyên là: hoạt động càng gây nhiều tổn thất tài nguyên và suy thoái môi trường thì càng phải chịu mức thuế cao hơn
Trong thực tế, người ta thường phân biệt thuế tài nguyên theo mức độ xác định trữ lượng:
- Tài nguyên đã xác định trữ lượng: thuế được tính dựa trên trữ lượng địa chất (hoặc trữ lượng công nghiệp) của loại tài nguyên mà doanh nghiệp được phép khai thác
- Tài nguyên chưa xác định được trữ lượng hoặc xác định chưa chính xác: có thể sử dụng sản lượng khai thác làm cơ sở tính thuế trong khi chờ có thăm dò địa chất về trữ lượng bổ sung
Trang 31Đánh giá:
- Ưu điểm: áp dụng thuế tài nguyên có tác dụng lớn trong việc bổ sung
cho nguồn Ngân sách quốc gia, đồng thời thông qua việc đóng thuế tài nguyên Nhà nước theo dõi và giám sát được việc khai thác và sử dụng tài nguyên trong thực tế
- Nhược điểm: đối với các tài nguyên không có khả năng tái tạo, cách
tính thuế theo giá bán sản phẩm chưa phù hợp, không khuyến khích được doanh nghiệp giảm sản lượng tài nguyên khai thác Đồng thời điều kiện địa chất khác nhau ở mỗi vùng do đó hiệu quả khai thác khác nhau, nếu tính cùng một mức thuế như nhau giữa các vùng là không công bằng đối với chủ khai thác
b Thuế môi trường
Thuế môi trường là khoản thu của ngân sách nhà nước, nhằm điều tiết các hoạt động bảo vệ môi trường quốc gia, bù đắp chi phí mà xã hội bỏ ra để giải quyết các vấn đề như: chi phí y tế, chi phí mất ngày công lao động, chi phí phục hồi môi trường, chi phí phục hồi tài nguyên, chi phí xử lý và ngăn ngừa ô nhiễm,…
Nguyên tắc tính thuế môi trường là thuế phải lớn hơn chi phí để giải quyết phế thải và khắc phục ô nhiễm
Thuế môi trường là công cụ kinh tế nhằm đưa chi phí môi trường vào giá thành sản phẩm theo nguyên tắc “người gây ô nhiễm phải trả tiền” Thuế môi trường nhằm khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và tăng nguồn thu cho ngân sách Thuế môi trường buộc các nhà sản xuất phải cải tiến kỹ thuật, nâng cao hiệu suất sử dụng nguyên, nhiên liệu hoặc thay thế nguyên, nhiên liệu ít gây ô nhiễm hơn
Có hai loại thuế môi trường là thuế trực thu và thuế gián thu:
- Thuế trực thu đánh vào lượng chất thải độc hại đối với môi trường do
Trang 32cơ sở gây ra, ví dụ thuế CO2, SO2, thuế môi trường của hoạt động khai thác khoáng sản
- Thuế gián thu đánh vào giá trị sản phẩm hàng hóa gây ra ô nhiễm môi trường trong quá trình sản xuất Ở lĩnh vực mà thiệt hại môi trường rất khó đo đếm thì thuế môi trường có thể được tính trên tổng doanh thu về sản phẩm của hoạt động sản xuất
Đánh giá:
- Ưu điểm:
+ Khuyến khích người gây ô nhiễm giảm lượng ô nhiễm thải ra môi trường + Khuyến khích người sản xuất thay đổi công nghệ, sản phẩm, quy trình sản xuất để giảm mức thuế phải đóng
+ Thuế dựa trên nguyên tắc càng gây ô nhiễm nhiều thì càng phải trả nhiều tiền, do đó kích thích nhà sản xuất giảm ô nhiễm đến mức tối đa để giảm số thuế phải nộp
- Nhược điểm:
+ Làm tăng chi phí đầu vào, giảm lợi nhuận của các doanh nghiệp + Ảnh hưởng tới phân phối thu nhập: nhóm đối tượng có thu nhập thấp
sẽ bị ảnh hưởng lớn hơn so với nhóm đối tượng có thu nhập cao
+ Đầu tư hệ thống thiết bị và hệ thống quản lý giám sát, kiểm soát việc đánh thuế vào các hành vi gây ô nhiễm môi trường đòi hỏi chi phí lớn
c Phí và lệ phí
Lệ phí là khoản thu của ngân sách Nhà nước khi Nhà nước giải quyết công việc quản lý hành chính, tư pháp của Nhà nước theo thẩm quyền được luật quy định Còn phí là khoản thu của ngân sách Nhà nước nhằm bù đắp chi phí của Nhà nước đầu tư xây dựng, mua sắm, bảo dưỡng và quản lý tài sản, tài nguyên hoặc chủ quyền quốc gia để phục vụ các tổ chức, cá nhân hoạt động sự nghiệp, hoặc hoạt động công cộng
Trang 33Thực hiện theo nguyên tắc “người sử dụng phải trả tiền”, các quốc gia quy định thu phí và lệ phí tùy theo mục đích sử dụng và hoàn cảnh sử dụng như phí xử lý nước thải, khí thải, chôn lấp và phục hồi môi trường trên các bãi thải; lệ phí thu dọn rác sinh hoạt, quét dọn đường phố, lệ phí đổ rác, xử lý rác thải, lệ phí giám sát, thanh tra môi trường, cấp giấy phép môi trường,…
Phí gây ô nhiễm có thể được sử dụng một phần để chi phí cho các hoạt động như nghiên cứu và áp dụng tiến bộ khoa học , công nghệ xử lý ô nhiễm môi trường, ngăn ngừa ô nhiễm
Lệ phí môi trường được áp dụng cho các trường hợp như: Lệ phí thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường, lệ phí cấp giấy phép môi trường… Những loại lệ phí này được thu khi cơ quan quản lý Nhà nước về môi trường giải quyết quản lý hành chính Nhà nước về bảo vệ môi trường đã được Luật bảo vệ môi trường quy định
Phạm vi áp dụng của các loại phí môi trường như sau:
- Phí đánh vào nguồn ô nhiễm
Là loại phí đánh vào các chất gây ô nhiễm được thải ra môi trường Phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm được xác định trên cơ sở khối lượng và hàm lượng chất ô nhiễm Biện pháp này có tác dụng khuyến khích các tác nhân gây ô nhiễm giảm lượng chất ô nhiễm thải ra môi trường và tăng thêm nguồn thu cho Chính phủ để sử dụng vào việc cải thiện chất lượng môi trường
- Phí sử dụng
Là tiền phải trả do được sử dụng các hệ thống công cộng xử lý và cải thiện chất lượng môi trường như: hệ thống thoát nước, thu gom rác thải… Các khoản thu từ phí này được dùng để góp phần bù đắp chi phí bảo đảm cho
hệ thống này hoạt động Mục đích chính của phí này chủ yếu là nhằm tăng nguồn thu cho Chính phủ và đối tượng thu là những cá nhân hay đơn vị trực tiếp sử dụng hệ thống dịch vụ công cộng
- Phí đánh vào sản phẩm
Trang 34Là loại phí được dùng đối với những loại sản phẩm gây tác hại tới môi trường khi chúng được sử dụng trong các quá trình sản xuất, tiêu dùng hay loại bỏ chúng
Loại phí này được áp dụng với những sản phẩm chứa chất độc hại và với một khối lượng nhất định chúng sẽ gây tác hại tới môi trường, chẳng hạn như các chất kim loại nặng, PVC, CFC…
Cũng giống như phí đánh vào nguồn gây ô nhiễm, phí đánh vào sản phẩm nhằm hai mục đích là khuyến khích giảm ô nhiễm bằng giảm việc
sử dụng/tiêu dùng các sản phẩm bị thu phí và tăng nguồn thu cho Chính phủ Đối với mục đích tăng nguồn thu cho Chính phủ thì mức phí được xác định dựa vào tổng mức thu dự định sẽ thu hàng năm và số sản phẩm sẽ được tiêu thụ Còn đối với mục đích khuyến khích giảm ô nhiễm thì mức thu phí được xác định dựa vào nhân tố như độ co giãn về đánh giá của đường cầu của sản phẩm
bị đánh phí, khả năng tồn tại sản phẩm thay thế không hoặc ít gây ô nhiễm hơn
và mục tiêu muốn giảm lượng ô nhiễm (tức là giảm sản phẩm được tiêu thụ)
Trang 35Giấy phép môi trường thường được áp dụng cho các tài nguyên thiên nhiên khó có thể xác định quyền sở hữu và các tài nguyên được sử dụng công cộng như không khí, đại dương,…
Giấy phép xả thải có thể mua bán được là thị trường mà trong đó hàng hóa thường là giấy phép thải khí hoặc thải nước, người bán là các đơn vị sở hữu giấy phép và người mua là các đơn vị cần giấy phép để xả thải
Mục đích của công cụ tạo ra thị trường là tăng cường hiệu quả kinh tế của công tác quản lý ô nhiễm và đầu tư công nghệ xử lý chất ô nhiễm
Các nhà máy hoặc công ty sẽ lựa chọn giải pháp mua giấy phép để trả phí môi trường cao hơn, hoặc bán giấy phép để đầu tư công nghệ xử lý chất ô nhiễm Trong trường hợp thứ nhất, việc đầu tư công nghệ xử lý môi trường không mang lại hiệu quả kinh tế Ngược lại, trong trường hợp thứ hai đầu tư công nghệ xử lý sẽ mang lại lợi ích kinh tế cho doanh nghiệp Ở cả hai trường hợp, ô nhiễm môi trường khu vực sẽ giảm, còn các doanh nghiệp giảm được chi phí cho công tác bảo vệ môi trường
Trang 36e Ký quỹ môi trường
Ký quỹ môi trường là công cụ kinh tế áp dụng cho các ngành kinh tế
dễ gây ra ô nhiễm môi trường trầm trọng như: khai thác khoáng sản, khai thác tài nguyên thiên nhiên, xây dựng các nhà máy tiềm ẩn mức độ ô nhiễm môi trường lớn Ký quỹ và hoàn trả còn được tiến hành với người tiêu dùng khi mua và bán các sản phẩm có nhiều khả năng gây ô nhiễm
Hệ thống này yêu cầu các doanh nghiệp sản xuất trước khi đầu tư phải đặt cọc tại ngân hàng một khoản tiền đủ lớn để đảm bảo cho việc thực hiện đầy đủ nghĩa vụ về bảo vệ môi trường Số tiền này phải lớn hơn hoặc xấp xỉ kinh phí cần thiết để xử lý, khắc phục ô nhiễm Nếu quá trình thực hiện đầu
tư sau đó cơ sở không để xảy ra ô nhiễm hoặc thực hiện đúng cam kết thì số tiền ký quỹ sẽ được hoàn trả cho doanh nghiệp Ngược lại, số tiền sẽ được chi cho công tác khắc phục đồng thời đóng cửa hoạt động nếu doanh nghiệp không thực hiện đúng cam kết gây ô nhiễm môi trường
g Trợ cấp môi trường
Trợ cấp môi trường (trợ cấp tài chính cho công tác bảo vệ môi trường)
Trang 37bao gồm: cấp phát không bồi hoàn kinh phí từ ngân sách dành cho công tác bảo vệ môi trường, khuyến khích về thuế và vay vốn lãi suất thấp đối với các hoạt động nhằm cải thiện và nâng cao chất lượng môi trường, ưu đãi cho các doanh nghiệp vay vốn ngân hàng để nâng cao khả năng quản lý môi trường
Trợ cấp môi trường có thể tạo ra các khả năng giảm thiểu chất ô nhiễm, nhưng không khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư kinh phí và công nghệ xử lý môi trường, không tạo ra sự bình đẳng về cạnh tranh giữa các doanh nghiệp Trong một số trường hợp, trợ cấp tài chính tạo ra các khó khăn cho ngân sách quốc gia
h Quỹ môi trường
Quỹ môi trường được hình thành từ các nguồn vốn hỗ trợ bởi nhiều nguồn khác nhau, quỹ là nguồn kinh phí cho hoạt động bảo vệ môi trường, hỗ trợ cho quá trình thực hiện các dự án hoặc các hoạt động cải thiện chất lượng môi trường
Nguồn hình thành quỹ từ phí và lệ phí môi trường, đóng góp của cá nhân và doanh nghiệp, nguồn tài trợ của các tổ chức trong và ngoài nước, tiền lãi và tiền thu được từ các hoạt động của quỹ
Hỗ trợ do Quỹ môi trường cung cấp dưới hình thức hỗ trợ tài chính với các điều khoản ưu đãi, như các khoản trợ cấp không hoàn lại, các khoản vay vốn dài hạn với lãi suất thấp, hỗ trợ các dự án nghiên cứu triển khai, đào tạo và truyền thông môi trường, các dự án kiểm soát và xử lý ô nhiễm của các doanh nghiệp
Quỹ môi trường tạo nguồn vốn ổn định và lâu dài để hỗ trợ cho các cơ
sở, các ngành trong hoạt động bảo vệ môi trường, nguồn tài chính để xử lý kịp thời khi xảy ra các trường hợp ô nhiễm môi trường Quỹ môi trường quốc gia là cơ sở để hình thành các quỹ môi trường địa phương, tăng cường quan
hệ đa ngành, đảm bảo vai trò giám sát của chính quyền trong việc ngăn ngừa
ô nhiêm môi trường Tuy nhiên, bên cạnh những thuận lợi thì để duy trì hoạt động của quỹ cần có nguồn thu ổn định để đảm bảo quỹ hoạt động liên tục và
Trang 38lâu dài, nguồn thu này phụ thuộc vào nguồn hỗ trợ của các tổ chức, cá nhân
và thu từ xử phạt vi phạm môi trường
1.2.3.3 Mối liên hệ giữa môi trường và Kinh tế, Lựa chọn công cụ kinh tế là một trong những chính sách hàng đầu trong công tác quản lý môi trường
- Mối liên hệ giữa môi trường và Kinh tế
Môi trường có quan hệ trực tiếp với kinh tế Môi trường đóng một vai trò cực kỳ to lớn, có tính chất quyết định với sự tồn tại và phát triển của nền kinh tế và sự sống của con người, bởi vì nó không chỉ cung cấp các nguồn tài nguyên (đầu vào) cho các quá trình sản xuất, cung cấp tiện nghi sinh hoạt cho con người mà còn là nơi chứa đựng và hấp thụ các chất thải do các quá trình sản xuất và tiêu thụ của con người tạo ra Điều đó có nghĩa bất cứ một sự biến đổi nào của môi trường cũng kéo theo sự biến đổi của kinh tế
Ngược lại các hoạt động kinh tế là nguyên nhân trực tiếp làm biến đổi môi trường Sự tăng trưởng kinh tế gắn liền với việc sử dụng ngày càng nhiều các nguồng tài nguyên thiên nhiên, đặc biệt là các nguồn tài nguyên không thể tái tạo được Mặt khác, sản xuất ngày càng phát triển, khối lượng sản phẩm ngày càng tăng thì đồng thời lượng chất thải sản sinh ra từ các quá trình sản xuất cũng tăng Ví dụ như theo Công trình khảo sát chất thải toàn cầu của Tổ chức Hàng hải Quốc tế, cứ tạo ra tổng sản phẩm quốc nội (GDP) 1 tỉ USD sẽ làm phát sinh khoảng 4.500 tấn chất thải công nghiệp, trong đó 20% là CTNH Tuy nhiên khả năng tiếp nhận và đồng hóa của môi trường đối với các chất thải là có hạn,cho nên nếu không được kiểm soát tốt thì chất thải sẽ phá
vỡ trạng thái cân bằng của môi trường
Để đảm bảo cho tăng trưởng kinh tế có tính ổn định và bền vững các quốc gia cần phải đồng thời quan tâm tới 3 mục tiêu cơ bản là: mục tiêu kinh tế, mục tiêu xã hội và mục tiêu môi trường Nếu nền kinh tế của quốc gia nào thục sự đạt được 3 mục tiêu đó thì chính là nền kinh tế hướng tới sự phát triển bền vững
Trang 39Như vậy để hướng tới một sự phát triển bền vững, các quốc gia đều phải cân nhắc, tính toán, xem xét, cân bằng cả 3 mục tiêu đã nêu trên Ba mục tiêu này có quan hệ mật thiết với nhau, ràng buộc và quy định lẫn nhau Phát triển kinh tế nhằm thỏa mãn tốt hơn nhu cầu vật chất của con người trên cơ sở nâng cao không ngừng tính hiệu quả, bảo đảm tính ổn định, vững chắc
Bảo vệ môi trường nhằm duy trì và phát huy sự đa dạng sinh học, bảo tồn các nguồn TNTN , ngăn chặn ô nhiễm là các tiền đề cơ bản bảo đảm cho
sự tồn tại và phát triển bền vững của toàn xã hội Để bảo vệ môi trường một cách hữu hiệu các quốc gia cần tiến hành thường xuyên đánh giá tác động tới môi trường của các hoạt động phát triển, tiền tệ hóa tác động môi trường của chúng thông qua các công cụ có hiệu lực của nền kinh tế thị trường – các công cụ kinh tế
- Lựa chọn công cụ kinh tế là một trong những chính sách hàng đầu trong công tác quản lý môi trường
Hiện nay theo quan niệm chung, khi nói về các công cụ kinh tế, người
ta thường đưa ra những định nghĩa dưới những đặc trưng cơ bản của nó:
+ Công cụ kinh tế là những phương tiện chính sách có tác dụng làm thay đổi chi phí và lợi ích của những hoạt động Kinh tế thường xuyên tác động đến Môi trường nhằm mục đích trách nhiệm tăng cường ý thức trách nhiệm trước việc gây ra sự hủy hoại môi trường
+ Công cụ kinh tế sử dụng sức mạnh của thị trường để đề ra các quyết định nhằm đạt tới mục tiêu môi trường, từ đó sẽ có cách ứng xử hiệu quả chi phí cho bảo vệ môi trường
+ Công cụ kinh tế đơn giản là việc Chính phủ có thể thay đổi hành vi ứng
xử của mọi người thông qua việc lựa chọn những phương thức Kinh tế khác nhau hoặc giảm thiểu các chi phí trên thị trường nhằm mục tiêu môi trường
+ Công cụ kinh tế là biện pháp “ cung cấp những tín hiệu của thị
Trang 40trường để giúp cho những người ra quyết định ghi nhận những hậu quả môi trường trong việc lựa chọn của họ”
Từ các khái niệm được nhìn nhận ở những góc độ khác nhau như vừa nêu
ở trên, có thể rút ra hai điểm cơ bản nhằm làm sáng tỏ hơn bản chất bên trong của các công cụ Kinh tế nhằm mục tiêu thực thi các chính sách về môi trường là:
Thứ nhất : Công cụ kinh tế hoạt động thông qua cơ chế trên thị trường, chúng có chức năng làm tăng giá cả các hành động làm tổn hại đến môi trường lên và hạ giá cả các hành động bảo vệ môi trường xuống
Thứ hai : Công cụ kinh tế sẽ tạo ra khả năng lựa chọn cho các tổ chức hoặc cá nhân hành động sao cho phù hợp với điều kiện của họ
Rõ ràng chúng ta có thể nhận thấy rằng, Công cụ kinh tế hoàn toàn có tính tương phản với công cụ điều hành và kiểm soát (CAC : Commen And Control ), bởi lẽ Công cụ kinh tế hoạt động theo cơ chế có tính linh hoạt và mềm dẻo dựa trên cơ sở lợi ích và chi phí về mặt kinh tế, chúng làm thay đổi hành vi của những cá nhân hay tổ chức làm tổn hại đến môi trường thông qua việc khuyến khích hoặc thưởng phạt về kinh tế Như vậy khi chúng ta sử dụng công cụ kinh tế trong nhiều trường hợp, chúng còn tạo ra khả năng ý thức tự nguyện chấp hành đối với những hành vi ứng xử môi trường Chính
vì vậy người ta cho rằng công cụ kinh tế là loại công cụ sử dụng rất có hiệu quả trong bối cảnh của cơ chế thị trường
1.3 Thực tiễn áp dụng công cụ kinh tế trong quản lý môi trường
1.3.1 Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF)
Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF) được thành lập vào tháng 10 năm
1991 với chương trình thí điểm 1 tỷ đô la của Ngân hàng Thế giới để hỗ trợ bảo vệ môi trường toàn cầu và thúc đẩy phát triển bền vững môi trường GEF cung cấp các khoản hỗ trợ mới, bổ sung và tài trợ nhượng quyền để “lấy lãi” hoặc tính các chi phí phụ cùng với chuyển đổi từ 1 dự án với lợi ích quốc gia thành 1 dự án lợi ích môi trường toàn cầu