Các bước thực hiện quy trình kiểm tra đánh giá chưa đảm bảo đúng theo trình tự nên kết quả môn Ngữ Văn chưa phản ánh đúng chất lượng học tập, chưa khích lệ được người học và điều chỉnh p
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2i
LỜI CẢM ƠN
Sau một thời gian học tập và nghiên cứu, đến nay tôi đã hoàn thành luận văn Với tình cảm chân thành, tôi xin trân trọng cảm ơn Ban Giám hiệu, cán bộ quản lý các thầy, cô giáo, các chuyên gia giáo dục của Trường Đại học Giáo dục - Đại học Quốc gia Hà Nội những người đã tham gia giảng dạy chương trình, tạo mọi điều kiện tốt nhất giúp tôi trong quá trình học tập, nghiên cứu
Đặc biệt, tôi xin được bày tỏ lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc đến
GS.TS Nguyễn Đức Chính, người đã định hướng, cung cấp những kiến thức
lý luận và thực tiễn đồng thời trực tiếp chỉ bảo, hướng dẫn tôi tận tình trong quá trình học tập, nghiên cứu để hoàn thành bản luận văn này
Tôi xin chân thành cảm ơn tập thể lãnh đạo, giáo viên và học sinh trường THCS Võ Thị Sáu quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng đã tạo điều kiện, ủng hộ, cộng tác, giúp đỡ tôi nhiệt tình trong quá trình điều tra, khảo sát thu thập các dữ liệu liên quan đến đề tài
Mặc dù đã có nhiều cố gắng trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài, song những thiếu sót, khiếm khuyết trong luận văn là không thể tránh khỏi Kính mong được sự chỉ bảo tận tình của các thầy giáo, cô giáo, cùng ý kiến đóng góp quý báu của các bạn đồng nghiệp và bạn đọc để luận văn này có giá trị thực tiễn
Hà Nội, tháng 11 năm 2015
Tác giả
Phạm Thị Thủy
Trang 3Trung học cơ sở
Tự nhiên xã hội Trắc nghiệm khách quan
Trang 4iii
MỤC LỤC
Lời cảm ơn i
Danh mu ̣c chữ viết tắt ii
Mục lục iii
Danh mu ̣c bảng vii
Danh mu ̣c hình, biểu đồ viii
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH 6
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề 6
1.1.1 Trên thế giới 6
1.1.2 Ở Việt Nam 7
1.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài 9
1.2.1 Quản lý 9
1.2.2 Quản lý nhà trường 12
1.2.3 Kiểm tra 13
1.2.4 Đánh giá 14
1.2.5 Kiểm tra - đánh giá 15
1.2.6 Năng lực 16
1.3 Một số vấn đề lý luận về kiểm tra - đánh giá 18
1.3.1 Khái quát về kiểm tra đánh giá trong dạy học 18
1.3.2 Vị trí, vai trò, chức năng của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học 19
1.3.3 Cơ sở và nguyên tắc kiểm tra đánh giá trong dạy học 22
1.3.4 Các yêu cầu sư phạm khi kiểm tra đánh giá
24
1.3.5 Các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá 25
1.3.6 Đánh giá thực kết quả học tập của người học 32
1.3.7 Quy trình kiểm tra đánh giá 33
1.4 Đặc điểm môn Ngữ văn bậc THCS 35
Trang 5iv
1.4.1 Những năng lực chung được hình thành và phát triển trong môn Ngữ
Văn 35
1.4.2 Năng lực chuyên biệt của môn ngữ văn 36
1.4.3 Mối quan hệ giữa đánh giá và hình thành năng lực 38
1.4.4 Mối quan hệ giữa mục tiêu dạy học và năng lực trong môn Ngữ Văn 40 1.5 Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá kết quả học tập 45
1.5.1 Những nội dung quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá 45
1.5.2 Những yêu cầu về quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá trong giai đoạn hiện nay 47
Tiểu kết chương 1 48
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÕ THỊ SÁU QUẬN LÊ CHÂN HẢI PHÒNG 50
2.1 Giới thiệu về trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng quá trình hình thành và phát triển 50
2.2 Khái quát về khảo sát thực trạng 54
2.2.1 Mục đích của của khảo sát 54
2.2.2 Đối tượng khảo sát 54
2.2.3 Nội dung khảo sát 54
2.2.4 Phương pháp khảo sát 56
2.3 Thực trạng về hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực của trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 56
2.3.1 Thực trạng xác định mục tiêu môn học làm cơ sở cho KTĐG 56
2.3.2 Thực trạng việc xây dựng kế hoạch KTĐG 58
2.3.3 Thực trạng việc thực hiện các hình thức KTĐG 59
2.3.4 Thực trạng về chất lượng của hoạt động KTĐG 62
2.4 Thực trạng quản lý hoạt động kiểm tra - đánh giá môn Ngữ Văn trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 65
2.4.1 Thực trạng công tác tổ chức để giáo viên xác định các năng lực cần có sau môn học 65
2.4.2 Thực trạng việc tổ chức cho giáo viên xây dựng kê hoạch KTĐG 65
Trang 6v
2.4.3 Thực trạng tổ chức thực hiện các hình thức KTĐG ( thường xuyên, định kì,
tổng kết ) 66
2.4.3 Thực trạng việc thực hiện quy trình kiểm tra đánh giá của nhà trường 68 2.4.4 Thực trạng việc tổ chức để giáo viên theo dõi sự tiến bộ của học sinh qua các kì KTĐG 71
2.4.5 Thực trạng việc ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm tra đánh giá 72
2.5 Đánh giá chung, nguyên nhân 72
2.5.1 Về điểm mạnh 72
2.5.2 Hạn chế về công tác quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh 73
Tiểu kết chương 2 73
CHƯƠNG 3: BIỆN PHÁP QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ VÕ THỊ SÁU QUẬN LÊ CHÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG 75
3.1 Các nguyên tắc xây dựng biện pháp 75
3.1.1 Đảm bảo tính khách quan 75
3.1.2 Đảm bảo tính công bằng 75
3.1.3 Đảm bảo tính toàn diện 76
3.1.4 Đảm bảo tính hệ thống 76
3.1.5 Đảm bảo tính công khai 77
3.1.6 Đảm bảo tính giáo dục 77
3.1.7 Đảm bảo tính phát triển 77
3.2 Các biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 78
3.2.1 Biện pháp 1: Nâng cao nhận thức về tầm quan trọng, vị trí, chức năng của kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh 78
3.2.2 Biện pháp 2: Xây dựng kế hoạch và lập quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh 81
3.2.3 Biện pháp 3: Tổ chức thực hiện kế hoạch và quy trình kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh 85
Trang 7vi
3.2.4 Biện pháp 4: Tổ chức tập huấn các phương thức kiểm tra đánh giá kết
quả học tập môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh 95
3.2.5 Biện pháp 5: Tập huấn kỹ năng xây dựng cấu trúc đề, câu hỏi kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn cho giáo viên 99
3.2.6 Biện pháp 6: Ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động kiểm tra đánh giá và quản lí hoạt động này 102
3.3 Kiểm chứng tính cấp thiết, tính khả thi của các biện pháp 104
Tiểu kết chương 3 107
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 108
1 Kết luận 108
2 Khuyến nghị 109
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 111
Trang 8vii
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
Bảng 2.1 Chỉ tiêu tuyển sinh các năm 50
Bảng 2.2 Chất lượng hạnh kiểm trong 4 năm gần đây 51
Bảng 2.3 Chất lượng học lực trong 4 năm gân đây 51
Bảng 2.4 Kết quả thi vào lớp 10 THPTcủa trường THCS Võ Thị Sáu 52
Bảng 2.5 Kết quả thi vào lớp 10 THPT môn Ngữ Văn trường THCS Võ Thị Sáu 52
Bảng 2.6 Các bước cơ bản trong quy trình kiểm tra đánh giá KQHT của HS THCS 69
Bảng 3.1 Kế hoạch kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn 82
Bảng 3.2 Các bậc nhận thức tương ứng với bài kiểm tra 15 phút 90
Bảng 3.3 Các bậc nhận thức tương ứng với bài kiểm tra 45 phút 91
Bảng 3.4 Câu hỏi ứng với mục tiêu và điểm cho mỗi câu hỏi 91
Bảng 3.5 Hình thức kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn 96
Bảng 3.6 Kết quả khảo sát sự cần thiết và tính khả thi 104
Trang 9
viii
DANH MỤC CÁC HÌNH VÀ SƠ ĐỒ
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý 11
Sơ đồ 1.2 Quan hệ các chức năng quản lý 12
Sơ đồ 1.3 Quy trình đào tạo 20
Sơ đồ 1.4 Phương pháp đánh giá KQHT của học sinh 29
Biểu đồ 2.1 Tầm quan trọng của kiểm tra đánh giá 56
Biểu đồ 2.2 Khảo sát tỉ lệ GV và HS nắm rõ mục tiêu môn học 57
Biểu đồ 2.3 Hình thức kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn 60
Biểu đồ 2.4 Giáo viên thực hiện chấm, trả bài cho học sinh 63
Biểu đồ 2.5 Kiểm tra đánh giá tạo động lực cho học sinh 64
Biểu đồ 2.6 Xây dựng kế hoạch kiểm tra đánh giá 66
Biểu đồ 2.7 Các hình thức kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn 68
Biểu đồ 2.8 Đánh giá mức độ nghiêm túc trong kiểm tra môn Ngữ văn 72
Trang 101
MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Bước sang thế kỉ XXI, nước ta đang đứng trước những thời cơ lớn đồng
thời cũng có những thách thức không nhỏ Thế giới đang tiến như vũ bão trên tất cả các lĩnh vực của đời sống kinh tế, chính trị, xã hội với xu thế toàn cầu hóa, quốc tế hóa
Để vượt qua những khó khăn này nước ta phải phát huy được nguồn lực con người, phát huy được tiềm năng trí tuệ để bắt nhịp kịp với trình độ phát triển, hòa nhập với khu vực và thế giới Để làm được điều đó phải xuất phát
từ giáo dục Giáo dục là một lĩnh vực quan trọng quyết định đến sự tồn tại và phát triển của xã hội bởi đối tượng chịu sự tác động trực tiếp của giáo dục là những con người Như vậy rõ ràng chất lượng cuộc sống cũng như quá trình hình thành và hoàn thiện nhân cách của con người phải phụ thuộc rất nhiều vào giáo dục Điều này cho ta thấy nhu cầu bức thiết hiện tại đòi hỏi giáo dục
phải phát triển, phải tự đổi mới mình để có thể đáp ứng được mục tiêu của đất nước Đổi mới giáo dục là phải đổi mới tất cả các thành tố của quá trình giáo dục: mục đích - mục tiêu - nội dung - phương pháp - phương tiện - giáo viên -
học sinh - kiểm tra đánh giá Trong đó, việc đổi mới kiểm tra đánh giá trong
giáo dục nói chung và trong quá trình sư phạm nói riêng mang ý nghĩa hết sức
quan trọng
Kiểm tra đánh giá định hướng cho toàn bộ quá trình dạy học, khuyến khích, tạo động lực cho người học, giúp người học tiến bộ Kiểm tra đánh giá còn cung cấp các nhà quản lí, các giáo viên những thông tin phản hồi hữu ích, giúp quản lí và điều chỉnh quá trình dạy học đạt được mục tiêu đã đề ra Song thực tế công tác kiểm tra đánh giá vẫn chưa được coi trong đúng mức và còn nhiều bất cập
Môn Ngữ Văn, môn học có tầm quan trọng đặc biệt trong việc giáo dục quan điểm, tư tưởng, tình cảm cho học sinh Môn Ngữ văn có vị trí đặc biệt trong việc thực hiện mục tiêu của trường THCS góp phần hình thành những
Trang 112
con người có trình độ học vấn, có ý thức tự tu dưỡng, biết yêu thương, biết hướng tới những tư tưởng, tình cảm cao đẹp như lòng nhân ái, tinh thần tôn trọng lẽ phải, sự công bằng, lòng sáng tạo, bước đầu có năng lực thực hành và năng lực sử dụng tiếng Việt như một công cụ để tư duy và giao tiếp
Thực tế hiện nay việc kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn ở các trường THCS
vẫn chủ yếu dựa vào kết quả của các bài kiểm tra thường xuyên và định kì Cấu trúc đề mang tính truyền thống, giáo viên chưa thực sự đổi mới, thích nghi với cái mới Nội dung kiểm tra của môn Văn vẫn thiên về học thuộc lòng văn bản, ghi nhớ máy móc một nội dung nào đó của văn bản, kiểm tra trí nhớ
là chính Việc kiểm tra đánh giá đó theo hướng cung cấp nội dung nên kết quả
là học sinh tập trung học thuộc lòng hoặc sưu tầm chép những bài văn mẫu Cách ra đề thực sự chưa tạo được hứng thú cho học sinh Vì vậy, kiểm tra đánh giá còn nặng về cách đánh giá chủ quan và cảm tính của giáo viên mà không kiểm tra được học sinh hiểu và vận dụng; kỹ năng kiểm tra đánh giá học sinh chưa thực sự được giáo viên quan tâm; việc đánh giá còn nặng về hình thức, độ chính xác chưa cao Chính vì vậy, việc kiểm tra đánh giá chưa phát huy được đúng vai trò và khả năng của nó và chưa phát huy được năng
lực của học sinh
Cách quản lí công tác kiểm tra đánh giá chưa chặt chẽ, chưa đảm bảo quy trình Ban giám hiệu chỉ đạo còn chung chung, giáo viên mạnh ai người đấy làm, thiếu sự thống nhất Các bước thực hiện quy trình kiểm tra đánh giá chưa đảm bảo đúng theo trình tự nên kết quả môn Ngữ Văn chưa phản ánh đúng chất lượng học tập, chưa khích lệ được người học và điều chỉnh phương pháp cho người dạy
Trường THCS Võ Thị Sáu nằm trên địa bàn phường Niệm Nghĩa quận Lê Chân thành phố Hải Phòng là một trường có bề dày thành tích với gần 40 năm xây dựng và trưởng thành, có đội ngũ giáo viên có nhiều kinh nghiệm, số lượng học sinh đông Song nhiều năm gần đây, chất lượng giảng dạy nói chung và môn Ngữ Văn nói riêng chưa thực sự xứng đáng với tiềm năng của
Trang 123
trường Trước thực trạng đó của nhà trường, để đáp ứng yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện theo tinh thần của Nghị quyết 29 ngày 4/11/2013 Hội nghị Trung ương 8 khóa XI, tôi nhận thấy rằng công tác kiểm tra đánh giá nói chung và kiểm tra đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn theo hướng phát triển năng lực học sinh trường THCS Võ Thị Sáu còn tồn tại nhiều điều bất cập, nên tôi đã chọn đề tài:
Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
2 Câu hỏi nghiên cứu
Hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh các trường THCS đang đặt ra cho các nhà quản lí những vấn đề
gì và cần những biện pháp nào để giải quyết những vấn đề đó?
3 Giả thuyết nghiên cứu:
Kiểm tra đánh giá là yếu tố quyết định chất lượng của quá trình dạy học Kiểm tra, đánh gia không chỉ định hướng cho hoạt động dạy học, mà còn cung cấp thông tin phản hồi , nhằm điều chỉnh quá trình dạy học, giúp học sinh tiến bộ không ngừng Hiện nay hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn còn rất nhiều hạn chế và bất cập, nhất là khi kiểm tra đánh giá chuyển từ đánh giá kiến thức sang đánh giá năng lực học sinh Nếu tìm được các biện pháp quản lí hoạt động này theo hướng hình thành năng lực và vận dụng một cách đồng bộ các biện pháp đó thì có thể nâng cao chất lượng quá trình dạy học môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
4 Mục đích nghiên cứu:
Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn
Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Trang 135.2 Đối tượng nghiên cứu
Quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
6 Phạm vi nghiên cứu
Luận văn tập trung nghiên cứu quản lí hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
7 Nhiệm vụ nghiên cứu
Để đạt được mục đích nghiên cứu, luận văn phải thực hiện các nhiệm vụ sau:
1- Nghiên cứu cơ sở lý luận về kiểm tra đánh giá và quản lý kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh
2- Khảo sát, đánh giá thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá và quản lý công tác kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng 3- Đề xuất một số biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh nhằm nâng cao chất lượng quá trình dạy học tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
8 Phương pháp nghiên cứu
- Phương pháp nghiên cứu lý luận, bao gồm các phương pháp hồi cứu, phân tích, tổng hợp, khái quát hoá các quan điểm về KTĐG và quản lí KTĐG trong dạy học nói chung và trong dạy học môn Ngữ văn nói riêng
- Phương pháp nghiên cứu thực tiễn: Điều tra khảo sát, thu thập thông tin thực tiễn hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn và quản lí KTĐG môn
Trang 14Luận văn nghiên cứu tổng kết cơ sở lí luận về kiểm tra đánh giá và quản
lí hoạt động KTĐG trong dạy học nói chung, môn Ngữ Văn nói riêng, theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS
Về thực tiễn
Kết quả khảo sát thực trạng hoạt đông KTĐG và quản lí hoạt động này trong dạy học môn ngữ văn tại trường THCS Võ Thị Sáu quận Lê Chân nói riêng, và thành phố Hải Phòng nói chung có thể giúp các nhà quản lí nắm được thực trạng của hoạt động này để điều chỉnh công tác quản lí Các biện pháp đề xuất trong luận văn có thể giúp công tác quản lí hoạt động kiểm tra nói chung và kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn nói riêng hướng tới nâng cao chất lượng giáo dục ở các trường THCS
10 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận khuyến nghị, mục lục và tài liệu tham khảo, nội dung luận văn được trình bày trong 3 chương:
Chương 1: Cơ sở lý luận về hoạt động kiểm tra đánh giá và quản lý hoạt
động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh
Chương 2: Thực trạng hoạt động kiểm tra đánh giá và quản lý hoạt động
kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Chương 3: Biện pháp quản lý hoạt động kiểm tra đánh giá môn Ngữ Văn
theo hướng phát triển năng lực cho học sinh tại trường THCS Võ Thị Sáu, quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng
Trang 156
CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ VÀ QUẢN LÝ HOẠT ĐỘNG KIỂM TRA ĐÁNH GIÁ MÔN NGỮ VĂN THEO HƯỚNG PHÁT TRIỂN NĂNG LỰC CHO HỌC SINH
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Trên thế giới
Trên thế giới, hoạt động quản lí kiểm tra đánh giá rất được quan tâm Đã
có nhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Từ thế kỷ XV - XVIII, nhà giáo dục Tiệp Khắc J.A.Comesnky đã là người nêu lên vai trò ý nghĩa của kiểm tra đánh giá quá trình lĩnh hội tri thức của học sinh và việc kiểm tra đánh giá phải căn cứ vào mục tiêu học tập và hướng dẫn học sinh tự kiểm tra đánh giá kiến thức của bản thân trong tác phẩm “Lý luận dạy học vĩ đại” Các công trình nghiên cứu khác như: Mô hình đánh giá theo mục tiêu ( Goal - based Model) hay mô hình E B Taylor; mô hình CIPP do L.D Sutufflebeam đề xuất năm 1966; mô hình đánh giá sự khác biệt (Discrepancy Evaluation Model) Các nhà nghiên cứu đã phân tích và phát triển lý luận kiểm tra đánh giá ở các góc độ: vai trò, ý nghĩa, mục tiêu, nội dung, nguyên tắc và phương pháp nhằm đảm bảo tính khách quan của việc kiểm tra đánh giá
Tác giả B.S Bloom cùng George F Madaus và J.Thomas Hastings năm
1971 đã cho ra đời cuốn sách “Evaluation to improve Learning” (Đánh giá thúc đẩy học tập) Đây là cuốn sách viết về kỹ thuật đánh giá kết quả học tập của học sinh dành cho giáo viên, cuốn sách hướng tới việc hoàn thiện và sử dụng các câu hỏi, các bài kiểm tra đánh giá quá trình học tập và các dạng bài kiểm tra khác do giáo viên tự làm được áp dụng cho học sinh một cách có hệ thống để tăng cường khả năng học tập của học sinh Thông qua việc liên kết các kỹ thuật đánh giá tốt nhất, cuốn sách hỗ trợ các giáo viên sử dụng đánh giá như một công cụ để cải tiến cả quy trình dạy và ho ̣c
Rất nhiều vấn đề và góc độ của kiểm tra đánh giá đã được các tác giả nghiên cứu Mỗi công trình đều có những điểm mạnh, điểm yếu và những
Trang 167
mục đích kiểm tra đánh giá riêng Nhưng điểm chung nhất của các nghiên cứu
là cùng tập trung nhấn mạnh ý nghĩa, tầm quan trọng của kiểm đánh giá kết quả học tập của học sinh, để đánh giá và nâng cao chất lượng giáo dục đáp ứng nhu cầu của xã hội
1.1.2 Ở Việt Nam
Ở Việt Nam, vấn đề kiểm tra đánh giá đã hình thành và xuất hiện khá sớm Các cuộc thi chọn người tài, người có học vấn được tổ chức định kỳ Từ thời nhà Lý, năm 1070 vua Lí Thái Tông đã cho lập Văn Miếu - nơi được coi là trường Đại học đầu tiên của Việt Nam Cũng từ thời gian này việc học
đã được quan tâm và trở nên bài bản hơn Năm 1075, đời vua vua Lý Thái Tông đã tổ chức khoa thi đầu tiên Chế độ khoa cử thời phong kiến bắt buộc sĩ
tử phải trải qua thi Hương, thi Hội, thi Đình Sĩ tử phải trải qua ba kỳ thi để đạt học vị cao nhất Giáo dục Nho giáo và thi cử thời phong kiến có luật khá nghiêm ngặt, thể lệ khắt khe Hình thức tổ chức thi cũng gò bó, khó khăn và phần nào làm ảnh hưởng đến sự sáng tạo của sĩ từ khi làm bài Thi cử có công bằng chính xác hay không lại phụ thuộc vào đánh giá nhận xét của giám khảo Tuy thi cử thời bấy giờ còn có những bất công, nhưng cũng đào tạo và lựa chọn được nhiều trí thức tài giỏi, góp phần xây dựng và bảo vệ đất nước
Kế thừa những thành tựu về kiểm tra đánh giá tri thức học sinh của một
số nước trên thế giới, ở nước ta cũng đã có một số công trình nghiên cứu và những bài viết của các chuyên gia hàng đầu của Việt Nam Trong đó phải kể đến:
Nguyễn Đức Chính , “Đo lường và đánh giá kết quả ho ̣c tâ ̣p của ho ̣c sinh” (2004)
Nguyễn Đứ c Chính - Đinh Thi ̣ Kim Thoa, “Kiểm tra đánh giá theo mu ̣c tiêu” (2005)
Nguyễn Đức Chính, “Đo lường và đánh giá trong giáo dục và dạy học”, (2008)
Trần Khánh Đức, “Đo lường và đánh giá trong giáo du ̣c” (2006)
Trang 178
Nguyễn Bá Lãm “Kiểm tra đánh giá trong da ̣y ho ̣c đa ̣i ho ̣c” (2003)
Dương Thiê ̣u Tống , “Trắc nghiê ̣m và đo lường thành quả ho ̣c tâ ̣p” (2005)
Các nghiên cứu đã đề cập đến nhiều góc độ khác nhau song tất cả đều có chung một mục đích là đánh giá sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là đánh giá chất lượng cả qúa trình giáo dục
Bên cạnh những công trình nghiên cứu về kiểm tra đánh giá đã nêu trên còn có những nghiên cứu về kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn:
Nguyễn Thúy Hồng - Nguyễn Hồng Vân, “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ văn của học sinh THCS, THPT” ( 2007)
Vũ Xuân Lạng, “Đổi mới cách ra đề bài môn Ngữ văn cho học sinh THCS”, diễn đàn Dân trí 2011
Phan Thanh Vân, “ Xu hướng đổi mới kiểm tra đánh giá môn Ngữ văn”, diễn đàn Dân trí 2011
giaoducphothong.edu.vn, “Đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Ngữ
văn theo yêu cầu phát triển năng lực”, Diễn đàn hỗ trợ dạy và học tích cực
2014
Tài liệu tập huấn, “Dạy học và kiểm tra đánh giá kết quả học tập theo định hướng phát triển năng lực học sinh môn Ngữ văn cấp THCS”, Chương trình phát triển giáo dục trung học 2014
giaoducthoidai.vn “Học văn Trung học cơ sở”, báo Giáo dục và Thời đại
2014
Các nghiên cứu trên đã tập trung phân tích thực trạng, tìm nguyên nhân ảnh hưởng đến chất lượng học tập môn Ngữ văn Trong đó các nghiên cứu cũng đã xác định một trong những nguyên nhân khiến chất lượng giáo dục không được nâng cao chính là do công tác kiểm tra đánh giá kết quả học tập của môn Ngữ văn Các nghiên cứu đã đưa ra những biện pháp khả thi song
Trang 181.2 Các khái niệm cơ bản của đề tài
1.2.1 Quản lý
Từ xa xưa khi xã hội loài người xuất hiện, để thực hiện các mục tiêu
mà cá nhân không thể đạt được thì quản lí xuất hiện Quản lí đã trở thành một yếu tố cần thiết để kết hợp các cá nhân cùng hướng tới mục đích chung Như vậy quản lý là cần thiết, quản lí trở thành một đặc điểm vốn có, bất biến về
mặt lịch sử của đời sống xã hội Các - Mác đã viết: "Bất cứ lao động xã hội trực tiếp hay lao động chung nào tiến hành trên một quy mô tương đối lớn đều yêu cầu phải có một sự chỉ đạo để điều hoà những hoạt động cá nhân Sự chỉ đạo đó phải là những chức năng chung, tức là những chức năng phát sinh
từ sự khác nhau giữa sự vận động chung của toàn bộ cơ thể sản xuất với những vận động cá nhân của những khí quan độc lập hợp thành cơ thể sản xuất đó Một nhạc sỹ độc tấu vĩ cầm thì tự điều khiển lấy mình, nhưng một dàn nhạc thì phải có nhạc trưởng." [7, tr 480]
Với nhiều cách tiếp cận ở các góc độ kinh tế, xã hội, giáo dục, các nhà khoa học trong và ngoài nước đã đưa ra những định nghĩa tương đối đồng nhất về khái niệm quản lý
Henry Fayol, nhà nghiên cứu người Pháp (1841 - 1925) cho rằng: Quản
lý là quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động: Kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo (lãnh đạo) và kiểm tra Ông còn khẳng
Trang 1910
định "Khi con người lao động hợp tác thì điều tối quan trọng là họ cần phải xác định rõ công việc mà họ phải hoàn thành và các nhiệm vụ của mỗi cá nhân phải là mắt lưới dệt nên mục tiêu của tổ chức." [8, tr 31]
Ở Việt Nam, các nhà nghiên cứu cũng có những định nghĩa khác nhau
về thuật ngữ quản lý, tuỳ theo các cách tiếp cận khác nhau
Tác giả Trần Khánh Đức khẳng định "Quản lý là hoạt động có ý thức của con người nhằm phối hợp hành động của một nhóm người, hay một cộng đồng người để đạt được các mục tiêu đề ra một cách hiệu quả nhất." [18,
tr.328]
Theo tác giả Nguyễn Quốc Chí - Nguyễn Thị Mỹ Lộc thì định nghĩa
kinh điển nhất về quản lý là: "Quá trình đạt đến mục tiêu của tổ chức bằng cách vận dụng các hoạt động (chức năng) kế hoạch hoá, tổ chức, chỉ đạo, (lãnh đạo) và kiểm tra.” [8, tr.9]
Qua các khái niệm trên, có thể hiểu khái niệm quản lý bao gồm các nội hàm chủ yếu: quản lý là hoạt động được tiến hành trong một tổ chức; với các tác động có tính hướng đích của chủ thể quản lý, nhằm phối hợp nỗ lực của các cá nhân để thực hiện mục tiêu của tổ chức
Bản chất của hoạt động quản lý là sự tác động có mục đích của người quản lý đến tập thể người bị quản lý nhằm đạt được mục tiêu quản lý Trong giáo dục nhà trường đó là tác động của người quản lý đến tập thể giáo viên, học sinh và các lực lượng khác nhằm thực hiện hệ thống các mục tiêu giáo dục
Có thể mô tả mối quan hệ giữa các thành tố cơ bản của hệ thống quản lý qua sơ đồ sau:
Trang 2011
Sơ đồ 1.1 Mô hình về quản lý
Chủ thể quản lý có thể là một cá nhân, một nhóm hay một tổ chức
Khách thể quản lý là những con người cụ thể và sự hình thành tự nhiên các quan hệ giữa những con người , giữa các nhóm người khác nhau ; là các nhiê ̣m vu ̣ cần giải quyết để tổ chức thực hiện sứ mạng của mình
* Các chức năng cơ bản của quản lý: Quản lý có bốn chức năng chính
như sau:
- Chức năng kế hoạch hoá
- Chức năng tổ chức
- Chức năng lãnh đạo (chỉ đạo)
- Chức năng kiểm tra
Các chức năng chính của hoạt động quản lý luôn được thực hiện liên tiếp, đan xen vào nhau, phối hợp và bổ sung cho nhau tạo thành chu trình quản lý Trong chu trình này, yếu tố thông tin luôn có mặt trong tất cả các giai đoạn, nó vừa là điều kiện, vừa là phương tiện không thể thiếu được khi
Chủ thể quản lý
Công cụ quản lý
Đối tượng quản lý
Mục tiêu quản lý
Quyết định
Xác lập
Thực hiện
Trang 2112
thực hiện chức năng quản lý và ra quyết định quản lý Tác giả Nguyễn Quốc Chí đã nhấn mạnh vai trò của thông tin trong quản lý: "không có thông tin, không có quản lý"
Mối liên hệ các chức năng quản lý được thể hiện qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2 Quan hệ các chức năng quản lý
Như vậy, thuật ngữ quản lý có thể được hiểu theo nhiều nghĩa khác nhau, tuỳ thuộc vào góc độ nghiên cứu của các ngành khoa học khác nhau
Có thể nói rằng: quản lý vừa là một khoa học, vừa là một nghệ thuật Là hoạt động khoa học, bởi lẽ các hoạt động quản lý có tổ chức, có định hướng dựa trên những quy luật, những nguyên tắc và phương pháp hoạt động cụ thể Đồng thời, quản lý cũng là một nghệ thuật vì nó vận dụng sáng tạo trên những điều kiện cụ thể trong sự kết hợp và tác động nhiều mặt của các yếu tố khác nhau trong xã hội
1.2.2 Quản lý nhà trường
Nhà trường là một dạng thiết chế tổ chức chuyên biệt và đặc thù của xã hội, được hình thành do nhu cầu tất yếu khách quan của xã hội, nhằm thực hiện chức năng truyền thụ các kinh nghiệm xã hội cần thiết cho từng nhóm
Trang 2213
dân cư nhất định trong cộng đồng và xã hội Nhà trường là một bộ phận của
xã hội, là tổ chức giáo dục cơ sở của hệ thống Giáo dục quốc dân
Có thể thấy rằng, quản lý hoạt động giáo dục trong nhà trường phổ thông chính là xây dựng mối quan hệ quản lý giữa các hình thức công tác tập thể, cách đối xử giữa học sinh và giáo viên Tất cả những điều đó đặt ra yêu cầu cao đối với việc quản lý nhà trường, việc tổ chức hợp lý quá trình giáo dục, học tập, việc xây dựng các điều kiện vật chất kỹ thuật, tổ chức sư phạm và việc tạo ra những điều kiện khác của lao động, của giáo viên, của học sinh
Theo Đặng Quốc Bảo "Trường học là một thiết chế xã hội trong đó diễn ra quá trình đào tạo, giáo dục với sự hoạt động tương tác của hai nhân tố: Thầy - Trò Trường học là một bộ phận của cộng đồng và guồng máy của
hệ thống GDQD.” [4]
Quản lý nhà trường chính là những công việc mà người cán bộ quản lý nhà trường thực hiện chức năng quản lý để thực hiện các nhiệm vụ công tác của mình Vì vậy, quản lý nhà trường là quản lý toàn diện Bao gồm:
- Quản lý đội ngũ nhà giáo
- Quản lý học sinh
- Quản lý quá trình dạy - học
- Quản lý cơ sở vật chất, trang thiết bị dạy học
- Quản lý tài chính trường học
- Quản lý mối quan hệ giữa con người và cộng đồng
Tận dụng các nguồn lực đầu tư cũng như các lực lượng xã hội đóng góp, xây dựng hướng vào việc đẩy mạnh mọi hoạt động của nhà trường đạt được mục tiêu, kế hoạch đào tạo, đưa nhà trường đến một trạng thái mới
1.2.3 Kiểm tra
Khái niệm kiểm tra có rất nhiều cách luận giải khác nhau:
Từ điển Tiếng Việt (1998) có định nghĩa: “Kiểm tra là xem xét tình hình thực tế để đánh giá, nhận xét” [34]
Trang 2314
Theo tác giả Đặng Bá Lãm (2003) “Kiểm tra là quá trình xác định mục đích, nội dung, lựa chọn phương pháp, tập hợp số liệu, bằng chứng để xác định mức độ đạt được của người học trong quá trình học tập, rèn luyện và phát triển Kiểm tra bao gồm việc xác định điều cần kiểm tra, công cụ kiểm tra và sử dụng kết quả kiểm tra, tức đánh giá” [30]
Tác giả Phạm Viết Vượng: “Kiểm tra là phương pháp xem xét thường xuyên quá trình học tập của học sinh Mục đích của kiểm tra là tích cực hóa hoạt động của học sinh, tăng cường chất lượng học tập Kiểm tra là khâu quan trọng trong quá trình dạy học nhằm đánh giá kết quả học tập” [39]
Theo tác giả Nguyễn Đức Chính (2005): “Đo lường là quá trình thu thập thông tin một cách có định hướng về các đại lượng đặc trưng như nhận thức, tư duy, kỹ năng và các phẩm chất nhân cách khác trong quá trình giáo dục”[14]
Qua các định nghĩa trên, ta có thể khái quát về kiểm tra như sau: Kiểm tra là công việc nhằm đo hay xác định mức độ về kiến thức, kỹ năng, thái độ
mà người học đạt được sau một quá trình học tập Kết quả kiểm tra là cơ sở
để đánh giá
1.2.4 Đánh giá
Một cách tổng quát, đánh giá là sự hình thành nhận định, phán đoán về đối tượng thông qua sự phân tích thông tin thu được trên cơ sở đối chiếu với các mục tiêu, tiêu chuẩn đề ra, nhằm đề xuất các quyết định thích hợp để cải thiện thực trạng, điều chỉnh nâng cao chất lượng hiệu quả công việc Sau đây
là một số quan điểm về đánh giá khá gần gũi với đề tài:
Theo Đại từ điển Tiếng Việt của tác giả Nguyễn Như Ý: “ đánh giá là nhận xét bình phẩm về giá trị ” Theo từ điển Tiếng Việt của tác giả Văn Tân: “ đánh giá là nhận thức cho rõ giá trị của một người hoặc một vật ” Theo Nguyễn Đức Chính “Đánh giá là quá trình thu thập và xử lý thông tin một cách có hệ thống nhằm xác định mục tiêu đã và đang đạt được ở mức
độ nào” Hoặc “Đánh giá là quá trình thu thập thông tin và dữ liệu một cách
Trang 24Đánh giá trong giáo dục được hiểu là: “Sự thu thập, chỉnh lí, xử lí, phân tích một cách toàn diện, khoa học, hệ thống những thông tin về sự nghiệp giáo dục, để rồi phán đoán giá trị của nó nhằm thúc đẩy công cuộc cải cách giáo dục, nâng cao trình độ phát triển của giáo dục, đáp ứng ngày càng cao của cộng đồng xã hội”. [12]
Như vậy đánh giá là đưa ra những nhận định, những phán xét về giá trị của người học trên cơ sở xử lý những thông tin, những chứng cứ thu thập được đối chiếu với mục tiêu đề ra nhằm đưa ra những quyết định về người học và việc tổ chức quá trình dạy học
1.2.5 Kiểm tra đánh giá
Kiểm tra đánh giá kết quả học tập được xem là quá trình thu thập, chỉnh
lý, xử lý thông tin một cách hệ thống những kết quả học tập ở từng giai đoạn khác nhau đối chiếu với mục tiêu dạy học ở từng giai đoạn và cuối cùng đối chiếu với chuẩn kiến thức, kĩ năng của môn học trong Chương trình giáo dục phổ thông do Bộ Giáo dục - Đào tạo ban hành để đánh giá sự tiến bộ của người học qua từng giai đoạn, đánh giá mức độ đạt chuẩn của người học và cuối cùng là đánh giá chất lượng của quá trình dạy học (với cách hiểu chất lượng là sự trùng hợp với mục tiêu, với chuẩn kiến thức, kĩ năng)
Kiểm tra đánh giá là sự so sánh đối chiếu trình độ kiến thức, kỹ năng, thái độ đã được hình thành ở người học với những yêu cầu xác định của mục tiêu dạy học, mục tiêu đào tạo Mục tiêu dạy học là cơ sở cho việc xác định nội dung, xây dựng kế hoạch dạy học, lựa chọn phương pháp và hình thức tổ chức quá trình dạy học Mục tiêu dạy học chi phối toàn bộ quá trình kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của người học, từ việc xác định mục đích kiểm ta,
Trang 25Một là , vì sự tiến bộ của học sinh trong suốt quá trình học tập “ Học
sinh học không phải để KTĐG, nhưng học sinh có quyền được KTĐG để tiến
bộ không ngừng.”
Hai là, làm sáng tỏ mức độ đạt được và chưa đạt được về mục tiêu dạy
học, trình độ kiến thức, kỹ xảo, kỹ năng và thái độ của học sinh so với yêu cầu của chương trình; phát hiện những sai sót và nguyên nhân dẫn tới những sai sót đó, giúp học sinh điều chỉnh hoạt động học tập của mình
Ba là, công khai hóa các nhận định về năng lực, kết quả học tập của mỗi
em học sinh và cả tập thể lớp, tạo cơ hội cho các em có kỹ năng tự đánh giá, giúp các em nhận ra sự tiến bộ của mình, khuyến khích động viên và thúc đẩy việc học tập ngày càng tốt hơn
Bốn là, giúp giáo viên có cơ sở thực tế để nhận ra những điểm mạnh, điểm
yếu của mình, tự điều chỉnh, hoàn thiện hoạt động dạy, phấn đấu không ngừng nâng cao chất lượng và hiệu quả dạy học
Như vậy kiểm tra đánh giá kết quả học tập của học sinh là đưa ra những nhận định phán xét về mức độ thực hiện mục tiêu giảng dạy đã đề ra của học sinh, từ đó đưa ra các giải pháp điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học của trò, giúp trò học ngày càng tiến bộ, giúp thầy dạy ngày càng hiệu quả hơn, và cuối cùng đưa ra các khuyến nghị góp phần thay đổi các chính sách giáo dục
1.2.6 Năng lực
Năm 1959, R.W White đưa ra thuật ngữ “năng lực” và từ đó đến nay
có nhiều quan điểm khác nhau về khái niệm năng lực Các nhà tâm lí học thì
Trang 2617
xác định: năng lực là một thuộc tính tâm lí phức hợp là điểm hội tụ của nhiều yếu tố như tri thức, kĩ năng, kĩ xảo, kinh nghiệm, sự sẵn sàng hành động và trách nhiệm; là sự thành thạo, khả năng thực hiện của cá nhân đối với một công việc
Các nhà giáo dục học cho rằng: “Năng lực là những kiến thức, kĩ năng và các giá trị được phản ánh trong thói quen suy nghĩ và hành động của mỗi cá nhân Thói quen tư duy và hành động kiên trì, liên tục có thể giúp một con người trở nên có năng lực, với ý nghĩa làm một việc gì đó trên cơ sở có kiến thức, kĩ năng và các giá trị cơ bản”
Nhiều nhà nghiên cứu cho rằng, năng lực của một cá nhân là khả năng thực hiện được một công việc cụ thể, liên quan đến một lĩnh vực nhất định, diễn ra trong bối cảnh thực, dựa trên những kiến thức, kĩ năng và những trải nghiệm của bản thân Năng lực có thể được xem như khả năng hành động, giải quyết một nhiệm vụ cụ thể, trong các tình huống khác nhau, tại những thời điểm khác nhau Năng lực được xem là chỉ có thể được hình thành trên cơ sở trí thức thông qua các trải nghiệm Năng lực cũng hàm chứa trong nó ý thức sẵn sàng hành động, ý chí, động cơ và trách nhiệm xã hội để hoàn thành tốt công việc
Năng lực là khả năng cá nhân đáp ứng các yêu cầu phức hợp và thực hiện thành công nhiệm vụ trong một bối cảnh cụ thể” (OECD, 2002)
Năng lực là các khả năng và kỹ năng nhận thức vốn có ở cá nhân hay có thể học được… để giải quyết các vấn đề đặt ra trong cuộc sống Năng lực cũng hàm chứa trong nó tính sẵn sàng hành động, động cơ, ý chí và trách nhiệm xã hội để có thể sử dụng một cách thành công và có trách nhiệm các giải pháp… trong những tình huống thay đổi (Weinert, 2001)
Người có năng lực về lĩnh vực nào đó cần hội tụ các yêu cầu:
- Có kiến thức, hiểu biết một cách hệ thống, sâu sắc về lĩnh vực đó;
Trang 2718
- Biết lựa chọn và thực hiện các hành động cụ thể, lựa chọn được các giải pháp, phương tiện để thực hiện nhiệm vụ phù hợp với mục đích, mục tiêu đặt ra;
- Hành động một cách hiệu quả, ứng phó linh hoạt với những bối cảnh khác nhau
Có thể xem định nghĩa sau bao hàm đầy đủ những đặc trưng cơ bản của khái niệm năng lực:
Năng lực là tổ hợp các hoạt động dựa trên sự huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn tri thức khác nhau để giải quyết vấn đề hay có cách ứng
xử phù hợp trong bối cảnh phức tạp của cuộc sống luôn thay đổi ( Quebec
education program)
Năng lực của học sinh, sinh viên
Năng lực của người học là khả năng làm chủ những hệ thống kiến thức,
kỹ năng, thái độ phù hợp với lứa tuổi và vận hành (kết nối) chúng một cách hợp lý vào thực hiện thành công nhiệm vụ học tập, giải quyết hiệu quả những vấn đề đặt ra cho chính các em trong cuộc sống (Nguyễn Công Khanh,
2012)
Người học phải có khả năng sử dụng kiến thức của bản thân vừa để giải quyết vấn đề, vừa làm công cụ để tư duy, để tìm tòi, để sáng tạo trong suốt quá trình học trong trường cũng như trong cuộc sống lao động sau này
1.3 Một số vấn đề lý luận về kiểm tra đánh giá
1.3.1 Khái quát về kiểm tra đánh giá trong dạy học
Vấn đề đánh giá chất lượng giáo dục nói chung, đánh giá kết quả học tập nói riêng luôn được các quốc gia coi trọng Chất lượng giáo dục đang là vấn
đề mang tính thời sự, đây là điều mà tất cả các cơ sở giáo dục đều quan tâm
Để nâng cao chất lượng, cùng với việc đổi mới mục tiêu, nội dung, phương pháp đổi mới kiểm tra đánh giá là việc làm cần thiết
Thực tế trong những năm gần đây mặc dù ngành giáo dục - đào tạo có nhiều cố gắng nhằm đổi mới phương pháp dạy học, đổi mới hoạt động kiểm
Trang 2819
tra đánh giá trong dạy học của học sinh - sinh viên song do cách thức kiểm tra đánh giá còn nặng về mục tiêu, chương trình, nội dung cùng với bệnh thành tích của giáo dục nên còn tồn tại nhiều hiện tượng tiêu cực trong thi cử và quản lí giáo dục
Do đó, việc cải tiến hoạt động kiểm tra đánh giá trong suốt quá trình dạy học là khâu quan trọng mang tính đột phá để tạo ra những chuyển biến cơ bản nâng cao chất lượng giáo dục trong nhà trường
1.3.2 Vị trí, vai trò, chức năng của kiểm tra đánh giá trong quá trình dạy học
1.3.2.1.Vị trí của kiểm tra đánh giá trong dạy học:
Hoạt động kiểm tra đánh giá trong dạy học của học sinh không chỉ là
khâu cuối cùng mà còn tiếp diễn liên tục trong quá trình dạy học và là khâu quan trọng nhất quyết định chất lượng của toàn bộ quá trình dạy học
Hoạt động kiểm tra đánh giá trong dạy học của học sinh là bộ phận cấu thành trong quá trình thực hiện kế hoạch dạy học, trong hệ thống các nguyên tắc dạy học và thực hiện các nội dung dạy học
Xét trên quan điểm hệ thống, quy trình đào tạo được xem như một hệ thống gồm các yếu tố như: mục tiêu, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức dạy học, phương pháp dạy của thầy, phương pháp học của trò và cuối cùng là kiểm tra đánh giá kết quả của người học
Kiểm tra, đánh giá tổng kết là khâu cuối cùng của chu trình dạy học, song cũng có thể xem là bước khởi đầu cho chu trình tiếp theo với chất lượng mới hơn của cả một quá trình thể hiện qua sơ đồ sau:
Trang 2920
Sơ đồ 1.3 Quy trình đào tạo
1.3.2.2 Vai trò của kiểm tra đánh giá kết quả học tập:
Kiểm tra đánh giá trong dạy học là một trong những hoạt động quan trọng nhất của quá trình dạy học Bản chất của kiểm tra đánh giá là thu thập các thông tin định tính và định lượng, xử lý các thông tin đó và xác định xem mục tiêu của chương trình đào tạo, của môn học có đạt được hay không và nếu đạt được thì ở mức độ nào
Kiểm tra đánh giá là định hướng tới đích cuối cùng để người dạy hướng dẫn người học cùng vươn tới và cũng là để người học tuỳ theo năng lực của bản thân mà tìm cách riêng cho mình hướng tới Với ý nghĩa này, kiểm tra đánh giá sẽ định hướng cách dạy của thầy và học của trò sao cho hiệu quả nhất, nghĩa là cùng hướng tới việc đạt mục tiêu
Ngoài ra, các thông tin khai thác được từ kết quả kiểm tra đánh giá sẽ rất hữu ích cho việc điều chỉnh phương pháp dạy của thầy và phương pháp học
Yêu cầu của xã hội
Phương pháp Dạy Phương pháp Học
Kiểm tra – đánh giá (Tổng kết)
Trang 3021
của trò, đồng thời giúp các nhà quản lý có những thay đổi cần thiết trong việc
tổ chức quá trình đào tạo (như điều chỉnh chương trình, nội dung đào tạo, hình thức tổ chức dạy - học)
1.3.2.3 Chức năng của kiểm tra đánh giá kết quả học tập:
* Chức năng đốc thúc, kích thích, tạo động lực:
Thông qua kiểm tra đánh giá, giáo dục có thể kích thích tinh thần ham học hỏi và không ngừng vươn lên của người học Sau mỗi bài kiểm tra, nhờ kết quả đó sẽ giúp học sinh thấy được mức độ nắm bắt kiến thức của bản thân
để có hướng phấn đấu cho bài kiểm tra sau Đối với mỗi đối tượng học sinh sẽ
có những tác dụng riêng, với những em học giỏi, kết quả học tập tốt sẽ động viên khích lệ các em hăng say học tập, còn đối với những em học học yếu kết quả sẽ là một minh chứng thôi thúc các em, cố gắng vươn lên Như vây, đã tạo ra môi trường cạnh tranh chính thức hoặc phi chính thức
* Chức năng sàng lọc, lựa chọn:
Trong thực tế chúng ta phải thường xuyên tiến hành lựa chọn, sàng lọc, phân loại đối tượng
Trang 3122
Kết quả của quá trình đánh giá sẽ giúp phân loại, sàng lọc đối tượng và
từ đó sẽ có những chiến lược phù hợp với từng loại đối tượng, giúp đối tượng tiến bộ không ngừng
* Chức năng cải tiến dự báo:
Nhờ có đánh giá mới phát hiện được những vấn đề tồn tại trong công tác dạy và học, từ đó tiến hành sử dụng các biện pháp thích hợp để bù đắp những chỗ thiếu hụt hoặc loại bỏ những sai sót không đáng có Đó chính là chức năng cải tiến và dự báo của đánh giá Ví dụ, nhờ có phân tích và nghiên cứu từng khâu, từng bước trong quản lý giáo dục và kiểm tra đánh giá tính chính xác, độ thích hợp của các hoạt động giáo dục, chúng ta mới có thể phán đoán hoặc dự báo các vấn đề hoặc các khâu còn yếu kém trong công tác dạy và học Đây sẽ là căn cứ đáng tin cậy để tiến tới việc xác lập mục tiêu cải tiến giáo dục
1.3.3 Cơ sở và nguyên tắc kiểm tra đánh giá trong dạy học
1.3.3.1 Cơ sở đánh giá trong dạy học
Cơ sở quan trọng nhất của kiểm tra đánh giá trong giáo dục chính là
mục tiêu giáo dục Để đánh giá kết quả học tập của học sinh cần dựa vào mục tiêu môn học, mục đích học tập và mối quan hệ giữa mục tiêu của môn
- Khả năng vận dụng kiến thức vào thực tế;
- Thái độ, tình cảm đối với nghề nghiệp, đối với xã hội
Trang 3223
Mục đích học tập là những gì học sinh cần có được sau khi đã học xong một đơn vị kiến thức, một quy tắc nào đó Mục đích học tập có thể bao gồm các phần sau đây:
- Lĩnh hội tri thức của nhân loại nhằm đáp ứng nhu cầu nhận thức về tự nhiên và xã hội;
- Trang bị kiến thức để đáp ứng nhu cầu về thi tuyển, nghề nghiệp và nhu cầu cuộc sống;
- Thu thập những kinh nghiệm sáng tạo để có thể độc lập nghiên cứu và hoạt động sau này
Giữa mục tiêu của môn học, mục đích học tập và đánh giá kết quả học tập có mối quan hệ chặt chẽ với nhau Nếu mục tiêu của môn học và mục đích học tập được xác định đúng đắn thì chúng hỗ trợ cho nhau trong việc đánh giá, đạt được yêu cầu đề ra của công việc đánh giá kết quả học tập của học sinh
Mục tiêu của môn học và mục đích học tập là cơ sở cho việc xác định nội dung chương trình, phương pháp và quy trình dạy học và học tập Đồng thời nó cũng là cơ sở để chọn phương pháp và quy trình đánh giá kết quả học tập của học sinh Đánh giá kết quả học tập dựa trên tiêu chí của mục tiêu dạy học sẽ nhận được thông tin phản hồi chính xác nhằm bổ sung, hoàn thiện quá trình giáo dục
1.3.3.2 Những nguyên tắc để đánh giá trong dạy học
Để đánh giá trong dạy học cần dựa vào những nguyên tắc mang tính tổng quát và cụ thể Đánh giá là quá trình tiến hành có hệ thống để xác định phạm vi đạt được của các mục tiêu đề ra, phải xác định rõ mục tiêu đánh giá Khi đánh giá phải chọn mục tiêu đánh giá rõ ràng, các mục tiêu phải được
Trang 3324
biểu hiện dưới dạng những điều có thể quan sát được Đánh giá bao giờ cũng
gắn với việc học tập của học sinh, nghĩa là trước tiên phải chú ý đến việc học
tập của học sinh Sau đó mới kích thích sự nỗ lực học tập của học sinh, cuối
cùng mới đánh giá bằng điểm số Đánh giá phải gắn với việc học tập của học
sinh, nghĩa là trước tiên phải chú ý đến việc học tập của học sinh Sau đó mới
kích thích sự nỗ lực học tập của học sinh, cuối cùng mới đánh giá bằng điểm
số Qua những lỗi mắc phải của học sinh, giáo viên cần rút kinh nghiệm để
phát hiện ra những sai sót trong quá trình dạy và đánh giá của mình để thay
đổi cách dạy sao cho phù hợp với học sinh Trong đánh giá nên sử dụng nhiều
phương pháp và hình thức khác nhau nhằm tăng độ tin cậy và chính xác Lôi
cuốn và khuyến khích học sinh tham gia vào quá trình đánh giá Giáo viên
phải thông báo rõ các loại hình câu hỏi để kiểm tra đánh giá
1.3.4 Các yêu cầu sư phạm khi kiểm tra đánh giá
Lý luận và thực tiễn dạy học ngày nay chứng tỏ rằng, vấn đề kiểm tra,
đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo chỉ có tác dụng khi thực hiện những yêu
cầu trong việc kiểm tra đánh giá tri thức, kỹ năng, kỹ xảo của học sinh
Đó là các yêu cầu sau:
* Đánh giá phải xuất phát từ mục tiêu dạy học
* Đảm bảo tính khách quan trong quá trình đánh giá:
Là sự phản ánh trung thực kết quả lĩnh hội nội dung tài liệu học tập của
học sinh so với yêu cầu do chương trình qui định Nội dung kiểm tra phải phù
hợp với các yêu cầu chung của chương trình đề ra
Tổ chức thi phải nghiêm minh Để đảm bảo tính khách quan trong kiểm
tra đánh giá, cần cải tiến, đổi mới các phương pháp, hình thức kiểm tra, đánh
giá, từ khâu ra đề, tổ chức thi tới khâu cho điểm
* Yêu cầu đảm bảo tính toàn diện:
Trang 3425
Trong quá trình kiểm tra đánh giá về khối lượng và chất lượng chiếm lĩnh kiến thức, kỹ năng, vận dụng thuộc về các môn học; về kết quả phát triển năng lực hoạt động trí tuệ, tư duy sáng tạo, ý thức, thái độ…trong đó, chú ý đánh giá cả số lượng và chất lượng, cả nội dung và hình thức
* Yêu cầu đảm bảo tính thường xuyên và hệ thống
* Yêu cầu đảm bảo tính phát triển:
Trân trọng sự cố gắng của học sinh, đánh giá cao những tiến bộ trong học tập của học sinh Cần đảm bảo tính công khai trong đánh giá
* Đánh giá phải đảm bảo tính thuận tiện việc sử dụng công cụ đánh giá
1.3.5 Các hình thức, phương pháp kiểm tra đánh giá
1.3.5.1 Các hình thức kiểm tra đánh giá
Hiện nay trên thế giới khoa học đánh giá ngày càng phát triển các loại hình thức đánh giá được phân loại theo các quan điểm tiếp cận
* Xét theo quá trình học tập sẽ có 4 loại đánh giá tương ứng với đầu vào, quá trình học tập, đầu ra của quá trình dạy học: Đánh giá chẩn đoán, đánh giá từng phần, đánh giá tổng kết và ra quyết định
Đánh giá chẩn đoán:
Theo B.Bloom đánh giá chẩn đoán là một phần thiết yếu của việc giảng
dạy có hiệu quả, đảm bảo chắc chắn cho việc truyền thụ kiến thức phù hợp với nhu cầu và trình độ của các học viên “Chẩn đoán” trong giáo dục không giới hạn ở việc phát hiện ra những khiếm khuyết, thiếu hụt hay tồn tại
Mục đích của chẩn đoán là vạch một chương trình, trong đó giúp loại bỏ các chướng ngại gây cản trở việc học
Trang 3526
Chức năng cốt lõi của chẩn đoán là phát hiện ra những học sinh rơi vào điểm trên hoặc dưới 0 để các em vào danh sách hướng dẫn hoặc dạy dỗ Đánh giá chẩn đoán được tiến hành trước khi dạy một chương hay một vấn đề quan trọng nào đó
Đánh giá theo tiến trình:
Được tiến hành nhiều lần trong giảng dạy nhằm cung cấp nhưng thông tin
ngược để giáo viên và học sinh kịp thời điều chỉnh cách dạy và cách học, ghi nhận xét kết quả từng phần để tiếp tục thực hiện chương trình một cách vững chắc
Đánh giá tổng kết:
Tiến hành khi kết thúc môn học, khóa học bằng những kì thi nhằm đánh
giá tổng quát kết quả học tập, đối chiếu với những mục tiêu đề ra Theo A Nitko “Đánh giá tổng kết kết quả học tập của học sinh có nghĩa là đánh giá chất lượng và giá trị thành tích học tập của học sinh sau khi quá trình học tập
đã kết thúc Việc cung cấp xếp hạng chi tiết trên bản báo cáo là một ví dụ về việc báo cáo đánh giá tổng kết của giáo viên về thành tích của học sinh” Ngoài ra, tiêu chuẩn khách quan của đánh giá tổng kết là dự kiến mục tiêu dự định, nếu như mục tiêu không thật sự cầu thị (không thực sự muốn thực hiện) hoặc khó có thể kiểm tra đo lường sẽ ảnh hưởng đến độ tin cậy của đánh giá tổng kết [14, tr9]
Ra quyết định là khâu cuối cùng của kiểm tra đánh giá Dựa vào những
định hướng trong khâu đánh giá Giáo viên quyết định những biện pháp cụ thể
để giúp đỡ học sinh cả lớp về những sai sót đặc biệt hay những thiếu sót phổ biến của lớp mình
Trang 3627
* Xét theo mục tiêu học tập sẽ có hai loại đánh giá là: Đánh giá vì học
tập của học sinh và đánh giá kết thúc học tập của học sinh
Đánh giá vì sự tiến bộ trong học tập của học sinh ( asessment for
learning ) diễn ra trong quá trình học tập vẫn đang được thực hiện Đó là
đánh giá tiến hành thông qua việc dạy và học nhằm phán đoán những nhu cầu
của học sinh, lên kế hoạch cho các định hướng giảng dạy tiếp theo, cung cấp
cho học sinh những phản hồi để các em có thể sử dụng những phản hồi này
nhằm cải thiện chất lượng học tập của các em
Đánh giá như một công cụ để học, như một phương pháp dạy hoc ( assessment ás learning ) ( learning tool )
Đánh giá kết quả học tập của học sinh ( assessment of learning ) là
những đánh giá diễn ra sau khi học xong một giai đoạn học tập nhằm xác định
xem giáo dục có được thực hiện không Chúng được sử dụng nhằm lập báo
cáo về tình trạng học sinh học tập ở một thời điểm, có thể sử dụng để đưa ra
các quyết định về chương trình
1.3.5.2 Các phương pháp kiểm tra đánh giá kết quả học tập
Hiện nay trên thế giới, ở các nước phát triển giáo viên dụng nhiều
phương pháp kỹ thuật đánh giá hiện đại Tuy nhiên ở Việt Nam đến nay mới
sử dụng một vài phương pháp kỹ thật đó Các phương pháp kỹ thuật rất phong
phú giáo viên có thể sử dụng thích hợp với mục đích, đối tượng, điều kiện
đánh giá Mỗi phương pháp có những ưu thế riêng Theo các nhà khoa học có
3 cách phân loại phương pháp đánh giá KQHT của học sinh như sau:
* Cách phân loại thứ nhất: Dựa trên các hình thức đánh giá trực tiếp và
gián tiếp
- Các hình thức đánh giá trực tiếp: Học sinh sử dụng kiến thức và kỹ
năng để chứng minh chúng có thể vận dụng những điều đã học vào các tình
Trang 37* Cách phân loại thứ hai: Đưa ra sơ đồ hình cây về các phương pháp
đánh giá sau:
- Phương pháp quan sát
- Phương pháp vấn đáp (còn gọi là phương pháp kiểm tra miệng)
- Phương pháp kiểm tra viết
- Nghiên cứu trên sản phẩm của học sinh
- Tự đánh giá
- Chuyên gia
Dưới đây là sơ đồ miêu tả các phương pháp cụ thể:
PHƯƠNG PHÁP ĐÁNH GIÁ KẾT QUẢ HỌC TẬP CỦA HỌC SINH
PP kiểm tra
vấn đáp
PP Quan sát
PP kiểm tra viết
PP Ng.cứu sản phẩm hoạt động
PP
Tự đánh giá
PP Chuyên gia
mở rộng
Trắc nghiệm khách quan
Đúng sai
Có không
Điền thế
Ghép đôi Nhiều lựa
chọn
Trả lời ngắn
Trang 38+ Phương pháp quan sát:
Quan sát trong giáo dục học được hiểu là phương pháp tri giác có mục đích một hiện tượng sư phạm nào đó để thu lượm những số liệu, tài liệu, sự kiện cụ thể, đặc trưng cho quá trình diễn biến của hiện tượng Đây là một phương pháp được sử dụng rộng rãi có thể tiến hành trong lớp hoặc ngoài lớp thuận lợi cho việc thu thập thông tin để đánh giá về thái độ về giá trị của HS
+ Phương pháp nghiên cứu các sản phẩm hoạt động:
Mỗi người hoạt động đều tạo ra sản phẩm đó là thành quả độc đáo của cá nhân Sản phẩm hoạt động để lại dấu ấn về năng lực và phẩm chất của họ Do
đó sản phẩm hoạt động là tài liệu lhách quan để nghiên cứu chính chủ thể và quá trình hoạt động của chủ thể đó
Giáo viên nghiên cứu các sản phẩm do học sinh tạo ra như bài làm của học sinh, vở ghi bài soạn, các công cụ và sản phẩm lao động khác… để tìm hiểu tính chất đặc điểm của học sinh và của hoạt động tạo ra sản phẩm ấy Mọi sản phẩm hoạt động của học sinh đều là sự biểu hiện của tư tưởng, tình cảm, ý chí cũng như phâm chất năng lực của học sinh đó
+ Phương pháp kiểm tra viết:
Phương pháp kiểm tra viết có thể cùng một lúc kiểm tra được hết tất cả các học sinh trong lớp do đó sẽ đánh giá được trình độ chung Bài kiểm tra viết có thể thực hiện ở đầu hay cuối tiết học hoặc thực hiện trong một tiết học
Trang 3930
hoặc vài ba tiết theo yêu cầu kiểm tra Đề kiểm tra viết có thể đề cập đến nhiều vấn đề hơn và kiểm tra được nhiều học sinh hơn kiểm tra vấn đáp Tuy nhiên đề kiểm tra viết cũng bị hạn chế nhất định khó có thể kiểm tra kĩ được
kĩ năng thực hành thí nghiệm của học sinh
+ Phương pháp tự đánh giá:
Người giáo viên cần hướng dẫn học sinh biết tự đánh giá bản thân, tham gia đánh giá lẫn nhau, điều này sẽ giúp các em thấy được những mặt mạnh - yếu của mình, thấy được sự tiến bộ (hay thụt lùi) so với thời gian trước Đồng thời nâng cao ý thức trách nhiệm của bản thân đối với việc học tập, rèn luyện
tu dưỡng Giáo viên có thể giao phiếu kiểm kê, thang xếp hạng, đáp án biểu điểm để học sinh tự đánh giá
Ngoài ra, còn có những phương pháp khác giáo viên có thể sử dụng đánh giá kết quả học tập của học sinh như phương pháp chuyên gia, phương pháp hỏi học sinh bằng phiếu hỏi, phương pháp xử lý số liệu kết quả bài làm của
HS
* Cách phân loại thứ ba: Được phân ra thành bốn phương pháp đánh
giá kết quả học tập của học sinh như sau:
+ Đánh giá dựa trên câu trả lời lựa chọn:
Các phương pháp đáp án được lựa chọn và câu trả lời ngắn bao gồm những câu hỏi mà học sinh lựa chọn câu trả lời tốt nhất từ một danh sách được cung cấp Dạng câu hỏi bao gồm câu hỏi nhiều lựa chọn đáp án đúng/sai, nối câu, câu hỏi trả lời ngắn và câu hỏi điền vào chỗ trống Mặc dù câu trả lời ngắn và điền vào chỗ trống yêu cầu học sinh cần phải tự rút ra câu trả lời, yêu cầu một câu trả lời rất ngắn gọn tính được đúng hay sai nhưng vẫn theo đáp án tác giả tính toán trước
+ Đánh giá dựa trên câu trả lời mở rộng - câu hỏi Tự luận:
Phương pháp này yêu cầu học sinh cần phải trình bày câu trả lời của mình thay vì lựa chọn các câu hỏi có sẵn Phần viết trả lời dài ít nhất một vài
Trang 4031
câu Đánh giá tính chính xác câu trả lời bằng cách đưa ra các tiêu chí chấm điểm được xác định trước
+ Đánh giá dựa trên khả năng thực hiện/sự thể hiện:
Phương pháp đánh giá này dựa vào quan sát nhận xét Chúng ta quan sát kết quả hoặc sản phẩm và đưa ra các nhận xét về chất lượng Ví dụ bao gồm:
- Những kết quả/sự thể hiện phức hợp như có thể chơi được một loại nhạc cụ nào đó, thực hiện các bước trong một thí nghiệm khoa học, nói được ngoại ngữ, đọc một cách trôi chảy, sửa chữa máy móc hoặc làm việc một cách
có hiệu quả trong một nhóm Trong những trường hợp này nó là việc thực hiên một quy trình hoạt động
- Hình thành những thành quả/sản phẩm phức hợp như một bài viết chuyên môn, báo cáo phòng thí nghiệm hoặc sản phẩm nghệ thuật Trong những trường hợp này những gì được tính đến không chứa quá nhiều qui trình sáng tạo (mặc dù có thể cũng được đánh giá), nhưng tính đến mức độ chất lượng của chính sản phẩm Đánh giá khả năng thực hiện có thể bằng 2 cách: Cách 1: Hướng dẫn chấm điểm
Cách 2: Phiếu đánh giá mô tả đạt được những chất lượng
+ Đánh giá dựa trên giao tiếp cá nhân:
- Phương pháp đánh giá này nhằm thu thập thông tin về học sinh dựa trên các giao tiếp cá nhân, tìm hiểu học sinh học được gì thông qua việc các
em trao đổi với nhau Ví dụ như: Quan sát và phản hồi tới những phản hồi của học sinh trong tạp chí và bài báo; Đưa ra các câu hỏi trong quá trình giảng dạy; Phỏng vấn học sinh trong quá trình thảo luận; Lắng nghe học sinh trong lớp học; Đưa ra các bài kiểm tra yêu cầu phát biểu thông thường chúng tôi nhìn nhận phương pháp này là phương pháp không chính thống mà kết quả được ghi nhận dành cho những sử dụng sau đó