2. Mục đích và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu Mục đích của đề tài là bước đầu tìm hiểu nghiên cứu và tiến tới đánh giá tiềm năng phát triển loại hình du lịch văn hoá và thực trạng khai thác loại hình du lịch này tại quần thể di tích Phủ Dầy từ đó xây dựng và đưa ra các luận cứ khoa học để chính quyền các cấp, các ngành tham khảo trong việc khai thác các giá trị lịch sử, văn hoá phục vụ phát triển du lịch, góp phần phát triển kinh tế bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của địa phương nói chung và cả tỉnh Nam Định nói riêng 3. Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài 3.1. Đối tượng Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố về lịch sử hình thành,giá trị kiến trúc và lễ hội Phủ Dầy có giá trị phục vụ cho việc phát triển du lịch của Nam Định và đối với người dân địa phương 3.2. Phạm vi nghiên cứu Khoá luận xem xét giá trị lịch sử, văn hoá của di tích Phủ Dầy có thể khai thác phục vụ du lịch Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch tại quần thể di tích Phủ Dầy Trong phạm vi hạn hẹp của người làm khoá luận tốt nghiệp người viết chỉ đưa ra những vấn đề mang tính cơ bản nhất như một ý kiến tham khảo cho công cuộc xây dựng và phát triển loại hình du lịch văn hoá ở Phủ Dầy nói riêng và Nam Định nói chung. 4. Phương pháp nghiên cứu Để hoàn thành khoá lụân này, người viết đã sử dụng tổng hợp nhiều phương pháp nghiên cứu 4.1. Phương pháp thu thập và xử lí số liệu Tiến hành thu thập tài liệu trên sách báo, internet, tại địa phương cũng như phòng văn hoá huyện Vụ Bản, Ban quản lý di tích Phủ Dầy. ..Từ đó tổng hợp nghiên cứu, xử lý và đưa ra mối liên hệ giữa các thành phần của hệ thống để từ đó sử dụng làm tư liệu cho bài viết của mình. 4.2. Phương pháp nghiên cứu thực địa Sử dụng phương pháp này nhằm bổ sung những kiến thức còn thiếu đồng thời kiểm tra và thu thập số liệu còn thiếu để đưa vào bài khóa luận 4.3. Phương pháp khảo sát thực tế Trong quá trình làm khóa luận người viết đã đi khảo sát thực tế đến quần thể di tích Phủ Dầy tìm hiểu, chụp ảnh, và tiến hành phỏng vấn các vị thủ nhang, người dân và một số cụ già cao tuỏi … 5. Bố cục khóa luận Khóa luận gồm có 3 chương: Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa và tiềm năng phát triển du lịch văn hóa tại quần thể di tích Phủ Dầy Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại quần thể di tích Phủ Dầy Chương 3: Đề xuất một số giải pháp để quần thể di tích Phủ Dầy thực sự là điểm đến hấp dẫn của khách du lịch.
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lý do lựa chọn đề tài
Ở nước ta du lịch đang trở thành một ngành kinh tế quan trọng bao gồmnhiều hoạt động khai thác tiềm năng của các hệ địa sinh thái khác nhautrên khắp đất nước Sự phong phú đa dạng của các hình thức du lịch đượcthể hiện từ thăm quan các thắng cảnh tự nhiên, nghiên cứu các thành phần
tự nhiên, xã hội để nghỉ dưỡng, từ du lịch bằng xe, đi thuyền, đi bộ, đến dulịch cưỡi thú lớn Quá trình phát triển mạnh mẽ của các loại hình du lịch
đã tạo khả năng to lớn của các tài nguyên du lịch tự nhiên và nhân văn Đặc biệt trong những năm gần đây thay vì đến những nơi đô thị ồn àonáo nhiệt với những toà nhà cao tầng che khuất tầm nhìn của con người thìkhách du lịch có xu hướng đến với những miền quê để được hoà mình vàocuộc sống của người dân với những phong tục tập quán mang đậm tínhtruyền thống và tính địa phương, được hiểu thêm về những kiến thức lịch
sử, kiến trúc mỹ thuật ở mỗi địa phương nói riêng và đất nước nói chung,được hoà minh với thiên nhiên trong lành với vẻ đẹp cổ kính của các ditích lịch sử, các công trình tôn giáo tín ngưỡng và gắn với nó là các lễ hộitruyền thống độc đáo Do vậy việc tìm hiểu khai thác các giá trị văn hoálịch sử của các di tích ở mỗi vùng quê có ý nghĩa vô cùng quan trọng trongviệc phát triển du lịch
Nam Định là một tỉnh thuộc vùng châu thổ Sông Hồng và vùng du lịchBắc Bộ cách thủ dô Hà Nội 90 km về phía Đông Nam có tuyến đường sắtBắc Nam và các tuyến quốc lộ 10, 21 chạy qua nối với cửa khẩu quốc tếMóng Cái (Quảng Ninh) và khu du lịch Hạ Long cùng với hệ thống giaothông đường thuỷ : Sông Hồng, Sông Đáy, Sông Ninh Cơ Do đó NamĐịnh có điều kiện thuận lợi giao lưu với các vùng miền trong cả nước và
Trang 2quốc tế Thiên nhiên ưu đãi hào phóng đã dành cho Nam Định những cánhđồng thẳng cánh cò bay những dòng sông đỏ nặng phù sa bên những làngquê trù phú Bãi biển Quất Lâm và Thịnh Long còn hồn nhiên với dáng vẻhoang sơ và bầu không khí mát lành, có khu bảo tồn thiên nhiên đất ngậpnước Xuân Thuỷ với hệ sinh thái rừng ngập mặn đa dạng, phong phú vớinhiều loại động vật quí hiếm được ghi trong sách đỏ quốc tế và là nơi dừngchân của các loài chim di trú từ Phương Bắc Không những thế Nam Địnhcòn là vùng đất địa linh nhân kiệt và là nơi sinh ra nhiều danh nhân của đấtnước, nơi phát tích vương triều nhà Trần - một triều đại hưng thịnh vàobậc nhất trong lịch sử phong kiến Việt Nam Con người Nam Định tài hoathông minh, cần cù, dũng cảm với truyền thống lịch sử lâu đời từ ngàn xưangười dân Nam Định đã tạo dựng và để lại cho thế hệ ngày nay nhiều disản văn hoá tinh thần mang đậm bản sắc văn hoá dân tộc.Các quần thể ditích với nét kiến trúc tinh sảo độc đáo: Đền Trần,Chùa Tháp, Chùa Keo,Chùa Cổ Lễ và nơi đây còn có quần thể di tích Phủ Dầy với những côngtrình mang đậm phong cách thời Nguyễn gắn liền với nó là lễ hội dân giantruyền thống đã thu hút đông đảo khách thập phương Ngoài ra còn có cáclàng nghề thủ công truyền thống (làng hoa cây cảnh Vị Khê, làng chạm gỗ
La Xuyên, làng rèn Vân Chàng ) là minh chứng cho quá trình phát triểnlâu dài của Nam Định
Với tiềm năng du lịch đa dạng, phong phú Nam Định có điều kiện trởthành một địa danh du lịch có sức hút lớn đối với du khách bởi nhiều loạihình du lịch : Du lịch sinh thái, du lịch biển đặc biệt là du lịch văn hoá, dulịch tâm linh gắn liền với việc tham quan tìm hiểu, nghiên cứu văn hoá dângian, các di tich lịch sử lễ hội
Tuy nhiên thực trạng phát triển về du lịch của Nam Định trong những
Trang 3năm qua còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng của mình.Hoạt động du lịch chủ yếu còn dựa trên cơ sở khai thác tài nguyên sẵn có,đầu tư còn hạn chế và mang tính tự phát nên chưa có sản phẩm du lịch hấpdẫn du khách Do đó là một người con của đất Nam Định lại học ngànhvăn hoá du lịch vậy người viết chọn đề tài “Tiềm năng phát triển du lịchvăn hoá tại quần thể di tích Phủ Dầy ’’ với mong muốn góp một phần nhỏ
bé của mình vào việc khai thác các giá trị văn hoá phong phú của di tíchPhủ Dầy vào phát triển du lịch
2 Mục đích và ý nghĩa của đề tài nghiên cứu
Mục đích của đề tài là bước đầu tìm hiểu nghiên cứu và tiến tới đánhgiá tiềm năng phát triển loại hình du lịch văn hoá và thực trạng khai thácloại hình du lịch này tại quần thể di tích Phủ Dầy từ đó xây dựng và đưa racác luận cứ khoa học để chính quyền các cấp, các ngành tham khảo trongviệc khai thác các giá trị lịch sử, văn hoá phục vụ phát triển du lịch, gópphần phát triển kinh tế bảo tồn và phát huy giá trị truyền thống của địaphương nói chung và cả tỉnh Nam Định nói riêng
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
3.1 Đối tượng
Đối tượng nghiên cứu của đề tài là các yếu tố về lịch sử hìnhthành,giá trị kiến trúc và lễ hội Phủ Dầy có giá trị phục vụ cho việc pháttriển du lịch của Nam Định và đối với người dân địa phương
3.2 Phạm vi nghiên cứu
-Khoá luận xem xét giá trị lịch sử, văn hoá của di tích Phủ Dầy có thểkhai thác phục vụ du lịch
Trang 4-Tìm hiểu thực trạng hoạt động du lịch tại quần thể di tích Phủ Dầy -Trong phạm vi hạn hẹp của người làm khoá luận tốt nghiệp ngườiviết chỉ đưa ra những vấn đề mang tính cơ bản nhất như một ý kiến thamkhảo cho công cuộc xây dựng và phát triển loại hình du lịch văn hoá ở PhủDầy nói riêng và Nam Định nói chung.
4 Phương pháp nghiên cứu
Để hoàn thành khoá lụân này, người viết đã sử dụng tổng hợp nhiềuphương pháp nghiên cứu
4.1 Phương pháp thu thập và xử lí số liệu
Tiến hành thu thập tài liệu trên sách báo, internet, tại địa phương cũngnhư phòng văn hoá huyện Vụ Bản, Ban quản lý di tích Phủ Dầy Từ đótổng hợp nghiên cứu, xử lý và đưa ra mối liên hệ giữa các thành phần của
hệ thống để từ đó sử dụng làm tư liệu cho bài viết của mình
4.2 Phương pháp nghiên cứu thực địa
Sử dụng phương pháp này nhằm bổ sung những kiến thức còn thiếuđồng thời kiểm tra và thu thập số liệu còn thiếu để đưa vào bài khóa luận
Trang 5Chương 1: Cơ sở lý luận về du lịch văn hóa và tiềm năng phát triển dulịch văn hóa tại quần thể di tích Phủ Dầy
Chương 2: Thực trạng phát triển du lịch văn hóa tại quần thể di tích PhủDầy
Chương 3: Đề xuất một số giải pháp để quần thể di tích Phủ Dầy thực sự làđiểm đến hấp dẫn của khách du lịch
Trang 6CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ DU LỊCH VĂN HÓA VÀ TIỀM NĂNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH PHỦ DẦY
1.1.Các khái niệm cơ bản về du lịch văn hóa
1.1.1 Du lịch
Du lịch là sự di chuyển và lưu trú qua đêm tạm thời trong thời gian rảnh rỗicủa cá nhân hay tập thể ngoài nơi cư trú nhằm mục đích phục hồi sức khỏe,nâng cao tại chỗ nhận thức về thế giới xung quanh, có hoặc không kèm theoviệc tiêu thụ một số giá trị tự nhiên, kinh tế, văn hóa và dịch vụ của các cơ sởchuyên cung ứng
1.1.2 Du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là một loại hình du lịch kết hợp giữa văn hoa và du lịch
Có nhiều cách hiểu khác nhau về du lịch văn hóa
Theo tổ chức du lịch thế giới (UNWTO): “Du lịch văn hóa bao gồm hoạtđộng của những người vơi động cơ chủ yếu là nghiên cứu, khám phá về vănhóa như các chương trình nghiên cứu, tìm hiểu về nghệ thuật biểu diễn, về các
lễ hội và các sự kiện văn hóa khác nhau, thăm các di tích, đền đài, du lịchnghiên cứu thiên nhiên, văn hóa hoặc nghệ thuật dân gian và hành hương”Theo hội đồng Quốc tế các di chỉ và di tích (ICOMOS): “Du lịch văn hóa
là loại hình du lịch mà mục tiêu là khám phá các di tích và di chỉ Nó mang lạinhững ảnh hưởng tích cực bằng việc đóng góp vào việc duy tu, bảo tồn Loạihình này trên thực tế đã minh chứng cho những nỗ lực bảo tồn và tôn tạo, đápứng nhu cầu của cộng đồng vì những lợi ích văn hóa- kinh tế- xã hội”
Theo luật du lịch Việt Nam thì: “Du lịch văn hoá là hình thức du lịch dựavào bản sắc văn hoá dân tộc với sự tham gia của cộng đồng nhằm bảo tồn và
Trang 7phát huy các giá trị văn hoá truyền thống” (Khoản 1, điều 4, chương I, luật dulịch Việt Nam năm 2005)
Du lịch văn hoá là một trong những loại hình du lịch bền vững, hấp dẫn
du khách, có nhiều nguồn lực để phát triển, được nhà nước địa phương quantâm phát triển
Du lịch văn hoá là một sản phẩm du lịch sử dụng những giá trị văn hoáđậm đà bản sắc của địa phương.Vật hấp dẫn bao gồm các công trình kiến trúc
mỹ thuật, các di tích lịch sử, các hoạt động tôn giáo, nghi thức xã hội, ẩmthực…cộng đồng địa phương là người sản sinh, bảo tồn và sở hữu những giátrị văn hoá địa phương
Du lịch văn hoá có nhiều loại như : du lịch lễ hội, du lịch tôn giáo, dulịch tham quan nghiên cứu và vui chơi giải trí Để phát triển du lịch văn hoáchúng ta phải có tài nguyên du lịch văn hoá
1.1.3 Tài nguyên du lịch
Tài nguyên du lịch là cảnh quan thiên nhiên, di tích lịch sử, di tích cáchmạng, giá trị nhân văn, công trình lao động, sáng tạo của con người có thểđược sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu du lịch Là yếu tố cơ bản để hình thànhcác điểm du lịch, khu du lịch nhằm tạo ra sự hấp dẫn du lịch.( Pháp lệnh dulịch Việt Nam-1999)
1.1.4 Tài nguyên du lịch văn hóa
Tài nguyên du lịch văn hoá là các di sản văn hoá do con người tạo ra baogồm các di sản văn hoá vật thể và văn hoá phi vật thể
Di sản văn hoá phi vật thể là sản phẩm tinh thần có giá trị lịch sử, vănhoá , khoa học, được lưu giữ bằng trí nhớ, chữ viết, được lưu truyền bằngmiệng, truyền nghề, trình diễn và các hình thức lưu giữ lưu truyền khác baogồm tiếng nói, chữ viết, tác phẩm văn học nghệ thuật, khoa học ngữ văn,truyền miệng, diễn xướng dân gian, lối sống, nếp sống, lễ hội, bí quyết về
Trang 8nghề thủ công truyền thống, tri thức về y dược học cổ truyền, về văn hoá ẩmthực, về trang phục truyền thống dân tộc và những tri thức dân gian khác.
Di sản văn hoá vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hoá khoahọc bao gồm di tích lịch sử - văn hoá, danh lam thắng cảnh, di vật cổ vật quốcgia
1.2.Đặc điểm của du lịch văn hóa
Hiện nay, du lịch văn hoá đang có xu hướng gia tăng không ngừng đượcphát triển do một số nguyên nhân sau:
Các đối tượng văn hoá được coi là tài nguyên đặc biệt hấp đẫn du khách,thu hút du khách bởi tính đa dạng, độc đáo, truyền thống cũng như tính địaphương của nó
Tập trung chủ yếu ở những nơi có lịch sử lâu đời, có hệ thống giao thông
dễ đến nên thuận lợi cho sự tham quan của du khách
Du lịch đang phát triển mạnh mẽ trở thành ngành kinh tế có đóng góp tolớn trong GDP và trở thành ngành kinh tế chủ đạo của nhiều quốc gia Du lịchthúc đẩy sự hiểu biết về văn hoá giữa các quốc gia, tăng thêm tình đoàn kếtcộng đồng
Ngày nay du lịch đã và đang phát triển rất mạnh Các đối tượng văn hoá, tàinguyên du lịch nhân văn là cơ sở tạo nên các loại hình du lịch văn hoá phongphú Nó đánh dấu sự khác nhau nhau giữa nơi này với nơi khác, dân tộc nàyvới dân tộc khác, quốc gia này với quốc gia khác Đó cũng là yếu tố thúc đẩyđộng cơ du lịch của con người
Di sản văn hóa bao gồm hai loại chính là di sản văn hóa vật thể và di sảnvăn hóa phi vật thể Theo điều 4 của Luật di sản văn hoa sửa đổi bổ sung: “ Disản văn hóa vật thể là sản phẩm vật chất có giá trị lịch sử, văn hóa, khoa học,bao gồm di tích lịch sử- văn hóa, danh lam thắng cảnh, di vật, cổ vật, bảo vật
Trang 9quốc gia” “Di sản văn hoa phi vật thể là sản phẩm tinh thần gắn với cộngđồng hoặc cá nhân, vật thể và không gian văn hóa liên quan, có giá trị lịch sử,văn hóa, khoa học, thể hiện bản sắc của cộng đồng, không ngừng được cải tạo
và được lưu truyền từ thê hệ này sang thế hệ khác bằng truyền miệng, truyềnnghề, trình diễn và các hình thức khác”
Đặc trưng cơ bản của du lịch văn hóa; Du lịch văn hóa gắn liền với cáchoạt động du lịch và hoạt động văn hóa
- Tính đa dạng: Du lịch văn hóa với chất lượng cao được tạo nên bởi sự
đa dạng trong đối tượng phục vụ,mục đích phục vụ hay điểm đến của dulịch văn hóa như các cảnh quan thiên nhiên, ký quan thế giới, các di tíchlịch sử- văn hóa cho đến các lễ hội truyền thống, các phong tục tập quánlâu đời, các loại hình văn hóa nghệ thuật dân gian mang đậm đà bản sắcdân tộc Ngoài ra cần kể đến các cơ sở vật chất và các dịch vụ kèm theo
- Tính đa thành phần: không hề có một giới hạn nào cho những đối tượngliên quan đến du lịch văn óa Du khác tham gia vào du lịch văn hóa, các
tổ chức nhà nước và tư nhân, các doanh nhân trong và ngoài nước đầu
tư, hoạt đọng trong lĩnh vực du lịch những nhân viên, hướng dẫn viên
du lịch, cộng đồng địa phương đều rất đa dạng, gồm nhiều thành phầnkhac nhau trong xã hội, tham gia trực tiếp hoặc gián tiếp vào các hoạtđộng du lịch văn hóa Vì vậy tính đa thành phần còn bao hàm trong đó
cả tính xã hội hóa cao
- Tính đa mục tiêu; Du lịch văn hóa mang lại lợi ích nhiều mặt như bảotồn các tài nguyên thiên nhiên, môi trường, di tích lịch sử- văn hóa, duytrì và phát triển văn hóa phi vật thể, nâng cao chất lượng phục vụ dukhách, nâng cao chất lượng đời sống của người phục vụ du lịch, mởrộng học hỏi và giao lưu văn hóa, kinh tế, nâng cao ý thức trahs nhiệmcho cộng đồng
Trang 10- Tinh liên vùng: Du lịch văn hóa nâng cao ý thức của du khách về vănhóa, thẩm mỹ…Vì vậy nên có ự liên kết giữa các cơ ở du lịch, các vùngvăn hóa với nhau trong việc hoạch định các tuyến, điểm du lịch văn hóaphục vụ cho du khách.
- Tính mùa vụ: đối với bất kì loại hình du lịch nào cũng có đặc trưng này,đối vơi du lịch nói chung thể hiện ở số lượng du khách thường tập trungrất đông ở những tuyên, điểm du lịch văn hóa vào những ngày nghỉ cuốituần, nghỉ hè, nghỉ đông 9du khách nước ngoài), nghỉ lễ…Du lịch vănhóa còn thể hiện riêng ở những thời gian lễ hội, những sự kiện đặc biệtxảy ra như hà Nội với sự kiện 1000 năm Thăng Long, đền Hùng vàonhững ngày giỗ Tổ
1.3 Các loại hình du lịch văn hóa
1.3.1 Du lịch tìm hiểu bản sắc văn hóa
Khách đi tìm hiểu các nền văn hóa chủ yếu Mục đích chuyến đi làtìm hiểu, nghiên cứu, các đối tượng khách chủ yếu là các nhà nghiên cứukhoa học, học sinh, sinh viên, đó là các chương trình dã ngoại đến các bảnlàng, dân tộc ít người (Như Hòa Bình, Sơn La, Lai Châu) để khách tìmhiểu phong tục tập quán, lối sống văn hóa của các dân tộc đó Khách sẽ đi
bộ tham quan các bản làng và thường nghỉ qua đêm ở các bản làng đó
1.3.2 Du lịch tham quan văn hóa
Đây là loại hình du lịch kết hợp giữa tham quan với nghiên cứu tìmhiểu văn hóa trong một chuyến đi Đối tượng tham gia phong phú bao gồm
cả khách đi vừa để tham quan vừa để nghiên cứu và những khách chỉ đi đểchiêm ngưỡng, để biết và thỏa mãn sự tò mò có thể theo trào lưu Do vậy,trog một chuyến đi du khách thường đi đến những điểm du lịch trong đóvừa có điểm du lịch văn hóa vừa có những điểm du lịch như leo núi,du lịch
Trang 11biển, du lịch dã ngoại, săn bắn… Đối tượng khách là những người thíchphưu lưu mạo hiểm, thích cảm giác mới và chủ yếu là người trẻ tuổi.
1.3.3 Du lịch kết hợp tham quan văn hóa với mục đích
khác
Mục đích chính của khách là đi công tác có kết hợp với tham quan vănhóa Đối tượng là những người đi dự hội thảo, hội nghị, kỉ niệm nhữngngày lễ lớn, các cuộc triển lãm…
1.4 Vị trí và vai trò của du lịch văn hóa trong xã hội hiện nay
1.4.1 Vị trí của du lịch văn hóa
Du lịch văn hóa là xu thế chung của trào lưu phát triển du lịch vănhóa từ xa xưa tuy mức độ khác nhau nhưng luôn là nhu cầu của khách.Đầu thời kì cận đại thì phương Đông rất hấp dẫn du khách vì ở đây cónhững đền đài nguy nga, lăng tẩm, nhiều nơi được ông nhận là ký quanthiên nhiên của thế giới
Cuối thể kỉ XX, đặc biệt là những năm 50 đến nay, sự hấp dẫn lại làChâu Âu, Bắc Mý bởi vì ở đó có những ngôi nhà chọc trời, ô tô, rượu sâmbanh… Tời kì này du khách rất chuộng vùng biển Địa Trung Hải, Italia,Pháp, Hawai… Con người có xu hướng xa lánh nhịp sống ồn ào ở các đôthị, sự ô nhiễm môi trường, sự hủy diệt ở các vùng do hậu quả của chiếntranh và nạn phá rừng, đây chính là một trở ngại lớn đối với vấn đề bảo vệmôi trường sinh thái nói chung và ngành du lịch nói riêng Vì vậy mà conngười tìm đến du lịch văn hóa, trở về với quá khứ của mình
Trong quá trình phát triển kinh tế- xã hội thời kì công nghiệp hóa- hiệnđại hóa hiện nay, vẫn đề giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc là sợ chỉ đỏ trongđường lối văn hóa của đảng ta, bởi vì nói đến Việt Nam, vừa được thế giớicông nhận là nước có tình hình an ninh chính trị ổn định nhất, điều đó sẽtạo điều kiện tốt nhất để thu hút khách
Trang 12Theo báo cáo của Sở du lịch Hà Nội trong 6 tháng đầu năm 2001 có
310729 du khách quốc tế của 155 nước đến Hà Nội trong đó 6851 ViệtKiều chiếm 25.5% tổng lượt khách quốc tế của cả nước nếu so cùng kỳnăm 2000 tăng 55.5% trong đó khách Trung Quốc vẫn là đông nhất với
97156 lượt khách, chiếm tỷ trọng 14.3% Khách Nhật là 28961 ngườichiếm tỷ trọng 9.8%, Mỹ là 19619 người chiếm tỷ trọng 6.7% Ngoài rakhách đến từ các quốc gia Austraylia, Anh, Đài loan, Đức, Đan Mạch,Canada từ 4800 đến 14600 lượt khách chiếm 1.6-5%
Trong quá trình phát triển kinh tế xã hội thời kì công nghiệp hóa, hiệnđại hóa đất nươc hiện nay, việc giữ gìn bản sắc dân tộc là sợi chỉ đỏ trongđường lối văn hóa của Đảng ta bởi vì nói đến văn hóa là nói đến dân tộcmiền Bắc đã trải qua hàng nghìn năm sinh tử trong gian truân, vất vả nhândân các dân tộc đã sáng tạo, nâng cao, bảo tồn, chắt chiu để có những côngtrình kiến trúc đền chùa, miếu mạo, phong tục tập quán lễ hội…
Ta có thể khẳng định rằng du lịch không thể tự mình phát triển đượcnếu không dựa vào một nền tảng văn hóa mà ngược lại nhờ có du lịch màcác dân tộc hiểu biết được những thành tựu rực rỡ của nền văn hóa nhânloại, tạo ra sự gần gũi hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc Nhưng du lịchkhông chỉ dừng lại ở thưởng ngoạn cảnh đẹp thiên nhiên, ngắm nhìn cáccông trình văn hóa, tìm hiểu các di tích lịch sử để cảm thụ mà du lịch còn
là một hoạt động khám phá sáng tạo theo quy luật của cái đẹp
1.4.2 Vai trò và ý nghĩa của du lịch văn hóa
Khi nói đến văn hóa du lịch không có nghĩa rằng du lịch là chỗ dựa duynhất của sự phát triển văn hóa, không nhận thức rõ ràng điều này thì vôtình phát triển chỉ có thể thành công xét về mặt kinh tế, còn sẽ thất bại vềviệc giữ gìn bản sắc dân tộc do sự tiếp xúc của du khách từ các miền khácđến du lịch Phát triển văn hóa là ngành kinh tế mũi nhọn đó là một định
Trang 13hướng đúng của Đảng và Nhà nước Văn hóa chính là nền tảng, là độnglực thúc đẩy sự phát triển du lịch và du lịch văn hóa phải tạo ra môi trườngvăn hoa vừa tiên tiến vừa đậm đà bản sắc dân tộc, làm sống lại cac giá trịvăn hóa truyền thống, giữ vững sự ổn định chính trị và an ninh xã hội Xâydựng đội ngũ cán bộ, nhân viên làm du lịch tốt… Nhằm tạo ra sức hấp dẫnvới khách thập phương.
Hoạt động du lịch càng hiện đại hóa thì càng phải làm giàu thêm bản sắcvăn hóa truyền thống dân tộc, nhưng văn hóa phải thật sự là yếu tố nhânbản, là những yếu tố vô hình và hữu hình Cái gọi là vô hình đó chính là sựchuyển hóa các năng lực tinh thần của con người vào hoạt động kinhdoanh, đó chính là văn hóa Văn hóa du lịch bền bỉ tích góp, gạn lọc muônngàn tinh hoa từ muôn nẻo, không ngừng chuyển tải, giao lưu, biến đổi vànâng cao để góp phần vào sự giàu có và cường thịnh về nền văn hóa, kinh
tế xã hội của dân tộc, của đất nước
Vai trò và ý nghĩ của du lịch văn hóa đối vơi kinh doanh du lịch là hếtsức quan trọng, góp phần thúc đẩy du lịch vươn lên, tạo đà cho du lịchngày càng phát triển đem lại hiệu quả to lớn và ổn định cho nền kinh tế
Nó có hiệu quả là càng tăng giá trị văn hóa- văn minh bản sắc dân tộc thìhiệu quả kinh doanh du lịch ngày càng cao
1.5 Điều kiện để phát triển du lịch văn hóa
Kinh doanh du lịch là một loại hình kinh doanh cao cấp không thể táchrời văn hóa ví xét cho cùng thì du lịch là hoạt động văn hóa Văn hóa lànhu cầu thiết yếu trong đời sống văn hóa, xã hội đồng thời nó cũng là nhucầu đặc trưng của con người khi đi du lịch, do vậy văn hóa là yếu tố quyếtđịnh tính hấp dẫn của sản phẩm du lịch vì nó giải quyết nhu cầu về nhậnthức thẩm mỹ Có nghĩa là điểm đến du lịch nên đi pải có cái gì cho người
ta xem và người ta làm Xét về hai khía cạnh: Người đi du lịch và những
Trang 14nhà kinh doanh du lịch để phát triển du lịch văn hóa thì yếu tố quyết định
đó là tài nguyên văn hóa
Khách du lịch: Với ước muốn tìm tòi, hiểu biết thêm về những giátrị văn hóa, tinh thần của một dân tộc, một vùng, một địa phương nào đó
và do vậy họ sẽ đến với du lịch văn hóa Du lịch văn hóa chỉ có thể pháttriển ở một vùng, một địa phương, một đất nước nếu ở đó đã có tài nguyênvăn hóa đa dạng, phong phú, độc đáo mang đậm đà bản sắc dân tộc kếthợp với một số yếu tố khác tạo nên những điểm du lịch văn hóa đầy hấpdẫn thu hút đông đảo du khách Chính những yếu tố đó đã đưa khách dulịch tìm đến những nơi có tài nguyên văn hóa lôi cuốn và do đó tài nguyênvăn hóa là yếu tố quan trọng nhất đối với lưu lượng đi du lịch văn hóangày càng tăng của du khách
Nhà kinh doanh: Mục đích là thu hút được nhiều khách thamquan, vui chơi, giải trí, tìm hiểu về các lĩnh vực văn hóa… để từ đó cóđược doanh thu cao, lợi nhuận lớn Muốn đạt được mục đích đó, để phục
vụ khách du lịch đến tham quan tìm hiểu thì điều kiện đầu tiên là phải cótài nguyên du lịch thì mới có thể phát triển du lịch được Khi có tài nguyên
du lịch thì khách mới có ước muốn tham quan và do đó các nhà kinhdoanh du lịch mới có thể thu hút được lợi nhuận từ đây, ngành du lịchcũng vì thế mà phát triển hơn
Để phát triển du lịch văn hóa thì cũng cần phải có tài nguyên văn hóa,đây là yếu tố quyết định, tài nguyên du lịch văn hóa với đặc điểm thú vị,
đa dạng, độc đáo sẽ ngày càng thu hút đông đảo du khách đến tham quannhằm thỏa mãn trí tò mò cũng như phần nào đó đáp ứng được mong muốnhiểu biết sâu rộng về cái hay, cái đẹp của mỗi vùng, mỗi địa phương Tàinguyên văn hóa bao gồm những tài nguyên có giá trị về văn hóa phi vậtthể, nguồn tiềm năng du lịch phong phú đó là các loại hình nghệ thuật
Trang 15truyền thống: tuồng, chèo, múa rối nước, dân ca, quan họ, hát xẩm, catrù…hết sức độc đáo Đó là những nét văn hóa đặc sắc dân gian và huyềnthoại của các lễ hội, điển hình nhất là những nét đặc trưng về phong tụctập quán, tâm hồn, cốt cách của người Việt Nam nói chung và Bắc Bộ nóiriêng.
Khác với tài nguyên tự nhiên, tài nguyên văn hóa không hề bị canthiệp nếu chúng ta biết duy trì, tôn tạo, bảo vệ và phát triển đừng để chúngsuy thoái theo thời gian và không gian, khia thác hợp lý nguồn tài nguyêncho phát triển du lịch là một hướng đi đúng đắn hiện nay và trong tươnglai
1.6 Mối quan hệ giữa du lịch với lễ hội
Lễ hội là một hoạt động tinh thần mang tính phổ quát trong khi đó du lịch
là một hoạt động kinh tế mang tính tổng hợp Trong bước đường pháttriển, ngành du lịch cũng phải tìm đến, khai thác và sử dụng lễ hội với tưcách một sản phẩm văn hóa đạt được hiệu quả cao trên nhiều mặt
Theo thông lệ có tính truyền thống, lễ hội dân gian thường được mởvào những dịp nông nhàn, trong khi đó du lịch là một dạng hoạt động dànhcho du khách khi họ có thời gian, tiền bạc và có nhu cầu khác Việc gặpnhau giữa hai yếu tố tạm gọi là cung và cầu, như vậy thông qua hoạt động
du lịch, gọi là du lịch lễ hội được hiểu là “Việc tổ chức các tour du lịch tớicác địa phương trên khắp miền đất nước trong một khoảng thời gian nhấtđịnh trong năm mà thời gian đó trùng với thời gian mở lễ hội của địaphương”
Lễ hội là loại hình văn hóa được xuất hiện lâu đời trong lịch sử trởthành nhu cầu không thể thiếu được trong đời sống mỗi người dân Cuộcsống hàng ngày khiên con người cảm thấy dồn nén, căng thẳng, họ đến lễhội để cầu sức khỏe, bình an, phát tài, phát lộc đơn thuần chỉ để thưởng
Trang 16thức những hình thức nghệ thuật dân gian, được hòa mình vào không khínáo nhiệt của nó Hội hè là dịp mọi người tưởng nhớ tới công đức của cácanh hùng dân tộc, bày tỏ lòng tôn kính thánh thần, thể hiện tự do tínngưỡng Ở Việt Nam ta co rất nhiều lêc hội như hội đền Hùng, hội chùaKeo, hội Phủ Đầy, hội Cổ lễ… có thể nói lễ hội truyền thống Việt Nam với
tư cách là một sản phẩm văn hóa đặc sắc, một sản phẩm văn hóa du lịchđặc biệt hấp dẫn, là nét riêng của du lịch Việt Nam trong quá trình hộinhập quốc tế
Du lịch lễ hội góp phần phổ biến rộng rãi văn hóa của các địa phươngtới mọi miền đất nước Truyền bá văn hóa dân tộc ra toàn thế giới gopphần tạo ra sự giao thoa, đan xen văn hóa, làm giàu kho tàng truyền thốngcủa dân tộc Lễ hội làm phong phú, đa dạng và hấp dẫn các chương trình
du lịch văn hóa, thu hút đông đảo nhiều đối tượng khách du lịch đến vớicác công ty du lịch, với địa phương có lễ hội Từ đó làm tăng doanh thucủa các công ty du lịch và thúc đẩy kinh tế địa phương phát triển
1.7 Vai trò của giá trị lễ hội với du lịch
Trong vài năm trở lại đây người ta thường nói tới một loại hình du lịch mớinhưng lại cũ đó là du lịch văn hoá Trong hệ thống các nguồn tài nguyên phục
vụ cho phát triển du lịch văn hoá có một nguồn tài nguyên hết sức quan trọng
mà dường như đã bị mai một dần, đó chính là các lễ hội dân gian ở Việt Nam.Trong các dạng tài nguyên nhân văn, lễ hội truyền thống là tài nguyên mang lại
giá trị phục vụ du lịch rất lớn Lễ hội là một hình thức sinh hoạt tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hoá nghệ thuật, tâm linh và đời thường… là một sinh hoạt có sức hút một số lượng lớn những hiện tượng của đời sống xã hội Như vậy lễ hội là một hình thức sinh hoạt tập
thể của nhân dân sau những ngày lao động vất vả, hoặc là một dịp để mọi ngườihướng về một sự kiện lịch sử trọng đại của đất nước, hoặc liên quan đến nhữngsinh hoạt tín ngưỡng của nhân dân, hoặc chỉ đơn thuần là những hoạt động cótính chất giải trí Do đó lễ hội có tính hấp dẫn cao đối với du khách Bất cứ lễ
Trang 17hội nào cũng diễn ra hai phần chính: phần lễ (hay còn gọi là phần nghi lễ) và phần hội (phần vui chơi).
Lễ hội là một phong tục lớn, một nét văn hoá không thể thiếu trong đờisống của người Việt Đó là lý do thường diễn ra ở các vùng quê nơi có cảnhquan thiên nhiên tươi đẹp, có những công trình kiến trúc mang dấu ấn của từngthời đại như: Đình, Chùa, Đền, Miếu Lễ hội truyền thống ở Việt Nam thườngđược tổ chức vào mùa xuân, mùa thu, khi mùa màng đã kết thúc, nông dân cóthời gian nghỉ ngơi
Trong lễ không thể thiếu phần hội vì hội là để vui chơi, không bị ràng buộcbởi những lễ nghi, tôn giáo, tuổi tác Sau những tháng ngày làm ăn lam lũ, dânlàng chờ đón ngày hội như chờ đón một tin vui Họ đến với hội hoàn toàn tựnguyện, ngoài vui chơi giải trí, gặp gỡ bạn bè, mọi người đi dự hội đều cảm thấynhư mình được thêm một cái gì đó có thể là điều may Thứ quyền lợi vô hình ấylàm cho những người đi dự hội thêm phần phấn chấn Chính vì vậy, lễ hội baogiờ cũng có đông người đến dự Tuy nhiên quy mô của từng hội là khác nhau
Có hội chỉ diễn ra ở một vài làng nhưng cũng có hội mang tính quốc gia như:hội Đền Hùng, hội Chùa Hương, hội Hoa Lư trong quá trình diễn ra lễ hội đãlàm tái hiện lại phong tục tập quán, tín ngưỡng văn hoá và những sự kiện lịch
sử quan trọng Lễ hội chính là một pho sử khổng lồ
Bên cạnh những lễ hội thuần tuý mang ý nghĩa về kinh tế như lễ hội ChùaDâu cầu cho mưa thuận gió hoà, mùa màng tốt tươi còn có những lễ hội mang ýnghĩa lịch sử như: Hội Đền Hùng, hội Gióng
Ngoài những lễ hội trên còn có những lễ hội mang ý nghĩa văn hoá giải trínhư hội lim, hát quan họ, hội hát xoan, hát đúm, hát văn, hát chèo
Tuy chưa có con số thống kê cụ thể nhưng ước tính hàng năm cả nước cóhơn 800 lễ hội, lễ hội tập trung nhiều nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ - nơi cónền văn minh lúa nước phát triển sớm Như vậy, cùng với các loại hình du lịchnghỉ biển, nghỉ núi, dã ngoại chữa bệnh thì loại hình du lịch lễ hội luôn có sứcthu hút khách du lịch trong nước và quốc tế, vì lễ hội không chỉ là sản phẩm vănhoá mà còn là một tiềm năng du lịch hết sức hấp dẫn Du lịch càng phát triển thìcàng gắn bó chặt chẽ với loại hình lễ hội
Trang 18Thông qua những chương trình du lịch lễ hội nhằm giới thiệu với du kháchmột cách sinh động về đất nước con người Việt Nam trong quá khứ và hiện tại;giới thiệu những nét đặc trưng, những giá trị văn hoá tín ngưỡng được thể hiệntrong lễ hội Đến với lễ hội du khách cũng được cộng hưởng niềm vui với cáivui của lễ hội được hoà mình với phong cảnh thiên nhiên tươi đẹp, được chiêmngưỡng nhiều công trình kiến trúc có giá trị.
Du lịch lễ hội xuất hiện rất sớm ở Ai Cập có từ thời cổ đại thông qua cáccuộc hành hương đến thánh địa Ở Việt Nam đây là một sinh hoạt tổng hợp,mang tính lịch sử có từ ngàn đời nay Việc khai thác lễ hội biến nó thành sảnphẩm du lịch sẽ góp phần quan trọng trong việc giữ gìn và bảo tồn bản sắc vănhoá dân tộc Một khi những yếu tố di sản văn hoá được khuyến khích trong dulịch sẽ là cơ sở để phát triển du lịch bền vững và tạo điều kiện thu hút khách dulịch ngày càng đông Có thể nói giữ gìn bản sắc văn hoá là sự trường tồn của lễhội và sẽ là điều kiện quan trọng để phát triển du lịch bền vững
Lễ hội là những sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống củacộng đồng Thông qua lễ hội, có thể hiểu được giá trị tinh thần và những triết lýsâu sắc của nền văn hoá của một quốc gia Vì lẽ đó, lễ hội, nhất là lễ hội truyềnthống đang được nhiều nước trên thế giới và trong khu vực coi là nguồn tàinguyên du lịch nhân văn quan trọng phục vụ phát triển du lịch và một sản phẩmcủa loại hình du lịch văn hoá trong chiến lược phát triển du lịch của mình Thực
tế những năm gần đây cho thấy lễ hội ở Việt Nam nhất là lễ hội dân gian truyềnthống đã và đang có sức thu hút rất lớn Các lễ hội nổi tiếng của ba miền đấtnước như: Chùa Hương, Phủ Giầy, Hòn Chén, Tháp Bà, Núi Bà hàng năm đãthu hút hàng triệu khách hành hương Tuy nhiên, câu hỏi đặt ra là cần phải khaithác lễ hội như thế nào để vừa phục vụ được phát triển du lịch, vừa bảo tồnđược những giá trị chuẩn xác của lễ hội dân gian truyền thống trong giai đoạnhiện nay Trước hết chúng ta cần phải xem xét các xu hướng mới của lễ hội Lễhội hiện nay không bó hẹp trong phạm vi một địa phương nói chung mà toả sangcác vùng lân cận trở thành lễ hội của một vùng thậm chí có tính chất toàn quốc
Số lượng người đi trẩy hội ngày càng đông, người thập phương đông hơn người
Trang 19sở tại Thành phần trẩy hội cũng khác trước, ngày xưa, người đi trẩy hội chủ yếu
là bà con nông dân thì nay bao gồm đủ mọi thành phần người trong xã hội
Không gian và thời gian của các lễ hội cũng rộng hơn và dài hơn Bên cạnhnhững hoạt động mang tính truyền thống còn có sự tham gia của lực lượng vănnghệ chuyên nghiệp, bán chuyên nghiệp và có sự hỗ trợ của các phương tiệnbiểu diễn nghệ thuật phong phú hơn Các nhu cầu vui chơi giải trí lành mạnhđang trở thành nhu cầu của nhiều người Ngoài nhu cầu tâm linh, con người còn
có nhu cầu tìm hiểu cảnh sắc, nghi thức trình tự của tế, rước, nhu cầu ăn uống vàmua hàng lưu niệm cũng tăng lên rất nhiều
Lễ hội là một sinh hoạt văn hoá đặc sắc của dân tộc Đối với con người, lễhội là sự tổng hợp uyển chuyển của cái linh thiêng và trần thế (lễ và hội) Đây làmột không gian mà trong tâm thức của nhiều người vừa rất thực rất đời thường
và rất tâm linh Lễ hội tạo ra sự đồng cảm, để mỗi người tưởng nhớ đến côngđức của các vị anh hùng dân tộc, những người có công với đất nước, và cũng làdịp để người dân thể hiện sự tự do tín ngưỡng và chiêm ngưỡng các nghi thứcthể hiện nét truyền thống văn hoá tốt đẹp của mỗi vùng, miền Là dịp để vuichơi giải trí và ở đó con người tìm thấy cho mình một không gian, một khoảngthời gian ít nhiều có tính thăng hoa khác với cuộc sống đời thường
Đối với du khách, lễ hội là một chỉnh thể thống nhất đa dạng, du khách cóthể được xem cách tổ chức các lễ hội, các vai diễn, trình tự rước tế, cách trangphục và được hiểu biết về cội nguồn lịch sử của nó Đến với các lễ hội cũng làđến với các danh lam thắng cảnh, các di tích, được thưởng thức nhiều giá trị vănhoá tổng hợp bởi vì hầu hết các lễ hội đều diễn ra ở các địa điểm đó
Vì vậy các lễ hội có khả năng thu hút khách du lịch rất lớn Nói đến cácđiều kiện để thu hút khách du lịch đến với các lễ hội thì ngoài những điều kiện
để phát triển du lịch và du lịch văn hoá nói chung, đối với loại hình du lịch lễhội chúng ta cần phải thấy rằng: Không thể quan niệm đơn giản cứ có lễ hội rồi
là chỉ cần tổ chức đưa khách đến là xong, hoặc cũng không thể tuỳ tiện nghĩphải lập kế hoạch đưa lễ hội vào các chương trình du lịch bằng cách tái diễn lại
lễ hội phục vụ du khách
Trang 20Về phương diện lý thuyết, du lịch là một phạm trù độc lập với lễ hội Lễhội là một sinh hoạt văn hoá, tôn giáo, nghệ thuật truyền thống phản ánh lạichính cuộc sống vật chất và tâm linh của cộng đồng xã hội Những giá trị vềmặt văn hoá của lễ hội chỉ được xác định trong một không gian lịch sử nhấtđịnh, đối với một cộng đồng nhất định, nếu đưa ra khỏi không gian và phạm vicộng đồng đó, lễ hội sẽ mất đi những giá trị vốn có của nó Lễ hội không thể
“đóng gói để bán” hàng ngày cho du khách Đối với du khách, lần đầu có thểthấy mới lạ và hấp dẫn, nhưng nếu làm như vậy một cách đều đặn thường xuyênthì về lâu dài du khách cũng không còn thấy hấp dẫn, hứng thú nữa Thử hìnhdung xem, hễ du khách đến Việt Nam thì lại được xem lễ hội chọi trâu, vào bất
cứ thời gian nào thì sẽ trở nên nhàm chán Như vậy tính hấp dẫn sẽ bị làm thôngdụng hoá đi, cho dù vở diễn có đặc sắc đến đâu
Ở đây, không nên lầm lẫn giữa việc giới thiệu các sản phẩm đặc sắc củanền văn hoá với những nghi thức của một lễ hội Nếu như hát quan họ (mặc dù
có hội chính), hay hát ca trù có thể tổ chức để giới thiệu cho du khách bất cứ lúcnào, giống như một thứ hàng hoá (có thể là hàng hoá đặc biệt), thì ngược lại, lễhội là một dạng hoạt động văn hoá đặc thù Như vậy, để khai thác lễ hội phục vụcho phát triển du lịch cần chú ý không được phá vỡ không gian lịch sử của nó.Điều quan trọng thứ hai, khi khai thác lễ hội phục vụ du lịch tuyệt đối khôngđược can thiệp vào hình thức cũng như nội dung của lễ hội
Lễ hội với những giá trị của nó tự thân đã có sức thu hút du khách thậpphương Du lịch không nên can thiệp quá nhiều vào bản thân lễ hội, không nênsửa đổi, cải biên, hoặc bổ xung những yếu tố mới vào lễ hội, mà chỉ có thểtuyên truyền quảng bá nó như một sự kiện, làm chất xúc tác để thu hút thêm dukhách đến Nhờ đó, du lịch có thể bán các sản phẩm như lưu trú, hàng lưu niệm,các dịch vụ vận chuyển
Để phát triển du lịch, mọi quốc gia trên thế giới đều rất coi trọng coi trọng
sự phát triển của du lịch văn hoá, bởi du lịch văn hoá là một loại hình du lịch cónhiều ưu điểm: ít có tính mùa vụ, có thể phát triển quanh năm, tạo nguồn thu ổnđịnh, với mức tăng trưởng ngày càng lớn, nó giúp cho con người hiểu biết sâusắc về thế giới xung quanh…Việt Nam là một đất nước có tiềm năng phát triển
Trang 21du lịch văn hoá rất lớn Với hơn bốn ngàn năm lịch sử dựng nước và giữ nướccủa cha ông đã để lại cho chúng ta hàng ngàn các di sản và di tích lịch sử vănhoá Trong số đó các lễ hội dân gian là một nguồn tài nguyên vô cùng quantrọng cho phát triển du lịch văn hoá ở Việt Nam Chủ trương của Đảng và Nhànước ta đã và đang tổ chức thực hiện việc khôi phục lại một số lễ hội tiêu biểunhằm thu hút khách du lịch trong nước và quốc tế đến với các lễ hội nhiều hơnnữa.
Cùng với sự phát triển của du lịch Việt Nam du lịch văn hoá ngày càngphát triển Đây là thể loại du lịch đem lại hiệu quả kinh tế cao và ổn định, đồngthời nó là một trong những nhân tố quyết định sự phát triển của toàn ngành dulịch Mục tiêu trước mắt cũng như lâu dài của Việt Nam là phải làm sao khaithác tốt loại hình du lịch văn hoá Hoạt động du lịch càng phát triển thì càngphải làm giàu thêm bản sắc và truyền thống dân tộc Vai trò và ý nghĩa của dulịch văn hoá đối với kinh doanh du lịch là hết sức quan trọng, nó góp phần thúcđẩy cho du lịch vươn lên tạo đà cho du lịch ngày một phát triển, đem lại hiệuquả to lớn cho nền kinh tế
Để phát triển du lịch văn hoá thì cần phải có tài nguyên văn hoá, đây là yếu
tố quyết định Tài nguyên văn hoá với những đặc điểm kỳ diệu, đa dạng, độcđáo sẽ ngày càng thu hút đông đảo khách du lịch đến thăm quan nhằm thoả mãntrí tò mò cũng như phần nào đáp ứng được lòng mong muốn hiểu biết sâu rộng
về cái hay, cái đẹp của mỗi vùng mỗi địa phương Trong những nguồn tàinguyên quan trọng để phát triển du lịch văn hoá thì các lễ hội dân gian ngàycàng được các du khách quan tâm và nuốn tìm hiểu Khai thác tổ chức tốt các lễhội dân gian cũng là một trong những biện pháp để giữ gìn bản sắc văn hoá dântộc và phát triển du lịch bền vững trong thời kỳ hội nhập
1.8 Xu hướng phát triển của du lịch văn hóa
Du lịch kể từ khi hình thành đã được coi là “sự mở rộng không gian vănhóa của con người” Bởi vậy, lâu nay cụm từ “du lịch văn hóa” ngay từ khixuất hiện đã được coi như một loại hình du lịch, mà điểm đến là những nơichứa đựng giá trị văn hóa lâu đời như: những công trình kiến trúc nghệ thuật,phong tục tập quán, tôn giáo tín ngưỡng…
Xu hướng củ các nước đang phát triển: Bên cạnh những loại hình du lịchnhư du lịch sinh thái, du lịch khám chữa bệnh, du lịch mạo hiểm, du lịch giáodục gần đây du lịch văn hóa được xem là loại sản phẩm đặc thù của cácnước đang phát triển, thu hút nhiều khách du lịch quốc tế Du lịch văn hóachủ yếu dựa vào những sản phẩm văn hóa, những lễ hội truyền thống dân tộc,
kể cả những phong tục tín ngưỡng để tạo sức hút đối với khách du lịch bảnđịa và từ khắp nơi trên thế giới Đối với khách du lịch có sở thích nghiên cứu,
Trang 22khám phá văn hóa và phong tục tập quán bản địa, thì du lịch văn hóa là cơ hội
Phần lớn hoạt động du lịch văn hóa gắn liền với địa phương - nơi lưu giữnhiều lễ hội văn hóa và cũng là dấu ấn bản sắc văn hóa tại quốc gia đó Bởi lẽ,mỗi khu vực trên thế giới có đặc điểm văn hóa khác nhau Ví dụ, gốc văn hóaphương Đông là nông nghiệp ưa tĩnh, ứng xử với tự nhiên hài hòa, đề cao lốisống cộng đồng, trọng tình nghĩa, ngược lại, gốc văn hóa phương Tây là dumục ưa động, thích chinh phục tự nhiên, đề cao vai trò cá nhân Mỗi quốc gia,dân tộc hình thành trên khu vực đó vừa mang đặc điểm văn hóa bao trùm củakhu vực nhưng lại có những bản sắc riêng theo quá trình hình thành, sinh sôi,
Ở những nước kém phát triển hoặc đang phát triển, nền tảng phát triển phầnlớn không dựa vào những đầu tư lớn để tạo ra những điểm du lịch đắt tiền, màthường dựa vào nguồn du lịch tự nhiên và sự đa dạng trong bản sắc dân tộc.Những nguồn lợi này không tạo ra giá trị lớn cho ngành du lịch, nhưng lạiđóng góp đáng kể cho sự phát triển của cộng đồng xã hội Những quốc giaphát triển mạnh du lịch văn hóa là Thái Lan, Indonesia, Malaysia, TrungQuốc, và một số nước thuộc khu vực Nam Mỹ
Việt Nam là một quốc gia mang dấu ấn rõ nét của nền văn hóa phươngĐông nông nghiệp Theo dòng chảy lịch sử, các yếu tố văn hóa kết tinh ởnhững giá trị vật thể như những công trình kiến trúc nghệ thuật cung vua, phủchúa, lăng tẩm, chùa chiền, đền đài, miếu mạo, những di tích khảo cổ học,…
và những giá trị phi vật thể như ngôn ngữ, nghệ thuật thanh sắc, lễ hội, ẩmthực, trang phục truyền thống, phong cách ứng xử, giao tiếp,… ngay lập tức
đã trở thành sản phẩm du lịch hấp dẫn du khách phương Tây
Ở Việt Nam, sự tác động của du lịch đến văn hóa cũng mang cả những yếu tốtích cực và tiêu cực Du lịch không những giúp mở rộng giá trị sản phẩm vănhóa mà còn giúp bảo tồn, duy trì lâu bền những giá trị văn hóa đang ngàycàng bị mai một hoặc bị phá hủy bởi thời gian hay bởi sự lãng quên của ngườidân bản địa Nếu không có du lịch, sản phẩm văn hóa chỉ đơn thuần có giá trịlịch sử, nghệ thuật hay khoa học không thể một năm đóng góp một giá trịkinh tế nhất định cho nền kinh tế quốc dân
Tuy nhiên, du lịch khi thâm nhập vào cộng đồng lại dễ làm thương mại hóanhững giá trị văn hóa bản địa thuần túy Và trong khi bản sắc chưa được sửdụng sao cho thật hiệu quả để quảng bá, giao lưu văn hóa trong du lịch thì cáchình thức pha tạp văn hóa lại lên ngôi Chính vì vậy, sản phẩm quan trọng của
du lịch là du lịch văn hóa Một khi yếu tố văn hóa trong du lịch được coi trọng
Trang 23hàng đầu thì kinh tế cũng theo đó mà phát triển theo cách "xuất khẩu tại chỗ".Tuyên bố Ô-sa-ka của Hội nghị Bộ trưởng Du lịch thế giới vẫn còn nguyêngiá trị khi nhìn nhận: "Du lịch là con đẻ của hòa bình, là phương tiện củng cốhòa bình, là phương tiện cân bằng cán cân thanh toán quốc tế" Rõ ràng,không phải ngẫu nhiên mà du lịch hiện đang trở thành ngành kinh tế quantrọng bậc nhất thế giới, sánh ngang với các ngành sản xuất ô-tô, xe máy, kinhdoanh vải vóc và thiết bị điện tử Và càng không ngẫu nhiên mà Đảng ta, từlâu cũng đã chỉ rõ: "Du lịch là một ngành kinh tế tổng hợp, mang nội dungvăn hóa sâu sắc, có tính liên ngành, liên vùng và xã hội hóa cao".
Trang 24Tiểu kết chương 1
Như vậy du lịch là ngành công nghiệp không khói, là một trongnhững ngành có đóng góp to lớn vào tổng thu nhập quốc dân và là ngànhmũi nhọn của các quốc gia phát triển bằng con đường du lịch
Du lịch và văn hóa có mối liên hệ bền vững, tương tác lẫn nhau.Ngày nay du lịch mang tính toàn cầu, trong đó văn hóa là nội hàm, độnglực để phát triển du lịch bền vững khiến cho sản phẩm du lịch mang đậmnét độc đáo, nhân văn Các đối tượng văn hóa mà điểm đến là các di tíchlịch sử văn hóa là cơ sở để tạo nên loại hình du lịch văn hóa phong phú, nóđánh dấu sự khác nhau giữa nơi này với nơi khác, quốc gia này với quốcgia khác là yếu tố thúc đẩy động cơ đi du lịch của khách, kích thích quátrình lữ hành góp phần thúc đẩy phát triển du lịch quốc gia nói chung vàđịa phương có tài nguyên nói riêng
Trang 25CHƯƠNG 2.THỰC TRẠNG PHÁT TRIỂN DU LỊCH VĂN HÓA
TẠI QUẦN THỂ DI TÍCH PHỦ DẦY NAM ĐỊNH
2.1 Giới thiệu về quần thể di tích Phủ Dầy Nam Định
2.1.1 Vị trí địa lý
Nam Định là tỉnh thuộc đồng bằng châu thổ sông Hồng “Dân cưđông đúc như hình con Long” Nhiều nhà nghiên cứu lịch sử- văn hóa chorằng: Đây là vùng đất văn hiến mà điểm sáng là vùng văn hóa Thiên Bản -Thiên Trường và Quần Anh Tính địa văn hóa của ba vùng này rất rõ rệtthể hiện sự đa dạng và phong phú của văn hóa tỉnh Nam Vùng ThiênTrường đậm dấu ấn văn hóa Thăng Long của vương triều Trần, vùng QuầnAnh tượng trưng cho sự nghiệp vẻ vang của ông cha ta tiến mạnh ra biển,còn Thiên Bản là vùng đất cổ, lưu giữ những dấu ấn tinh hoa văn hóa củangười Việt từ thời Vua Hùng dựng nước đậm đà bản sắc dân tộc và đượcphát triển mạnh mẽ qua các thời đại Là một huyện của tỉnh Nam Định VụBản cách thành phố Nam Định 15km về phía Tây Nam Huyện có 17 xã, 1thị trấn Diện tích tự nhiên 14766,23 ha, dân số 12700 người có ranh giới:+ Phía Đông giáp thành phố Nam Định và huyện Nam Trực
+ Phía Tây giáp huyện Ý Yên
+ Phía Nam giáp huyện Ý Yên và Nghĩa Hưng
+ Phía Bắc giáp huyện Mỹ Lộc
Với vị trí nằm phía Nam Sông Hồng, cách đây 6 - 7 nghìn năm miềnđất Vụ Bản mới hình thành do quá trình biển lùi và do sự bồi đắp dần củaphù sa sông Hồng và sông Đáy Từ miền trung du các triền sông Hồng,
Trang 26sông Đáy, vùng núi Hoàng Long, Tam Điệp, người Việt cổ tiến về đồngbằng ven biển này Theo nhà nghiên cứu Ngô Đức Thịnh: Huyện Vụ Bản
có hơn chục làng với tên “Kẻ” ở đầu xuất hiện vào thời vua Hùng nằm rảirác ở vùng đất ven chân núi hay bãi cao trong đó có Kẻ Dầy, Kẻ Bángthuộc xã Kim Thái, Kẻ Đội (Nam Đội, Đồng Đội) thuộc xã Cộng Hòa KẻDầy sau này có tên chữ là An Thái nay là thôn Tiên Hương và Vân Cátthuộc xã Kim Thái Dân làng Kẻ Dầy lúc đầu có thể tụ cư trên gò BánhDầy và các gò đất xung quanh sát chân núi Tiên Hương nên gọi là Kẻ Dầy.Khi thành lập xã An Thái gồm 4 thôn: Vân Cát, Vân Đình, Tây Cầu vàNham Miếu hay còn gọi là Giáp Nhất, Giáp Nhì, Giáp Ba, Giáp Tư tươngứng theo thứ tự bốn thôn Vào thời Cảnh Hưng (Cuối thế kỷ XVII) dânthôn Vân Cát phát triển sinh sống ra phía Bắc ngày càng đông đúc và táchthành một xã mới gọi là xã Vân Cát, huyện Thiên Bản Xã An Thái vãncòn 4 giáp cũ Năm Tự Đức thứ 14 (1861) xã An Thái được đổi tên là xãTiên Hương Như vậy Tiên Hương và Vân Cát đều chung một cội nguồn làlàng Kẻ Dầy, là xã An Thái
Không chỉ dừng lại ở mảnh đất non nước hữu tình mà Vụ Bản xưa làThiên Bản là một vùng đất văn hiến, có bề dày lịch sử -văn hóa truyềnthống cách mạng Năm 1999 huyện Vụ Bản đã được nhà nước phong tặngdanh hiệu Anh hùng lực lượng vũ trang nhân dân với truyền thống vănhiến lâu đời, trong suốt triều đại có rất nhiều tướng lĩnh danh nhân củavùng đất này sống cống hiến cho quá trình dựng nước và giữ nước cho lịch
sử phát triển văn hóa, kinh tế, khoa học của dân tộc Vụ Bản là quê hươngcủa trạng nguyên Lương Thế Vinh, nhà sử học Trần Huy Liệu, nhạc sĩ VănCao, nhà thơ Nguyễn Bính Quê hương của nhiều nhà khoa bảng, khoahọc, văn nghệ sĩ, chiến sĩ cách mạng nổi tiếng Từ xa xưa, đất Thiên Bản(nay là Vụ Bản) nhân dân nổi tiếng về đức tính cần cù, sáng tạo trong lao
Trang 27động sản xuất và biết hưởng thụ các sinh hoạt văn hóa tinh thần Quần thểPhủ Dầy hiện nay thuộc xã Kim Thái, huyện Vụ Bản - Nam Định (xã xưa
là xã Yên Thái huyện Thiên Bản thuộc Phủ Kiến Bình) với 21 di tích liênquan đến sự tích truyền thuyết về thánh Mẫu Liễu Hạnh, nằm trải đềutrong một không gian đẹp với cảnh quan nhiên nhiên phong phú, có núisông xen kẽ đồng ruộng màu mỡ Nơi đây còn có núi Bảo Đài, núi Ngô
Xá Theo quyết định số 09/VH-QĐ ngày 21/02/1975 của Bộ trưởngBVHTT, Phủ Dầy được Nhà nước xếp hạng là di tích lịch sử văn hóa.Với vị trí nằm ở giao điểm của các trục đường lớn, quốc lộ 10, quốc
lộ 21, tỉnh lộ 56, tỉnh lộ 12, sắp tới quốc lộ 1 cũng sẽ mở tiếp giáp PhủDầy, cách thành phố Nam Định không xa, chỉ hơn 10km Quý khách từmạn Hà Nội về, từ Quảng Ninh, Hải Phòng, Thái Bình sang, từ Ninh Bình,Thanh Hóa và các tỉnh phía Nam ra có thể bằng phương tiện xe ô tô, xemáy hoặt đường sắt (đến ga núi Gôi) và đường bộ rất thuận lợi
Trong công cuộc đổi mới khi nền kinh tế phát triển các công trìnhgiao thông được mở rộng, nâng cấp đường xá về đây rất thuận tiện (đường
bộ, đường sắt, đường sông) an ninh trật tự được đảm bảo cho nên đang thuhút khách cả nước hành hương về thăm quan quần thể di tích và hưởng thụ
Trang 28tiền của, sức lực xây dựng thành một quần thể kiến trúc để thờ Mẫu và cácbậc danh nhân Triều đại phong kiến xưa đã ban sắc phong cho nhữngnhân vật thờ ở các di tích, ghi nhận sự tồn tại của họ trong sinh hoạt tínngưỡng, tôn giáo của nhân dân Quần thể Phủ Dầy có kiến trúc đa dạng,phong phú, độc đáo Nhiều cổ vật quý như đồ thờ tự, văn bia, sắc phong,tượng pháp, chạm khắc gỗ, chạm khắc đá được bảo vệ, giữ gìn ĐượcBVHTT công nhận 2 điểm di tích: Phủ Vân Cát, Phủ Tiên Hương và LăngMẫu trong quần thể những di tích lịch sử văn hóa Điều đó khẳng định: Từtrước cho đến nay khu di tích Phủ Dầy luôn được Nhà Nước công nhận vàbảo hộ.
Di tích Phủ Dầy gắn liền với sự tích Mẫu Liễu Hạnh Ngoài việc thờMẫu, từ xa xưa, nhiều di tích ở đây đã được xây dựng để thờ những danhnhân, những nhân vật lịch sử, những người có công với đất nước, quêhương và đã được tôn là Thành Hoàng Làng như: Nam Đế (tức Lý Bí) thủlĩnh cuộc khởi nghĩa chống giặc Lương thế kỷ thứ 6 lập nên nước VạnXuân, Đình Lôi - tướng quân của Lý Bí, người xã Liêm Chung, ThanhLiêm đã từng đóng quân ở nơi đây ăn mừng thắng trận; Nguyễn MinhKhông - Ông Tổ nghề đúc đồng, Trần Kỳ đỗ tiến sĩ năm 1487 làm quan tớiĐông các đại học sĩ, tác giả tập thơ “Toàn Việt thư lục” Cũng như nhiềulàng quê khác Phủ Dầy có những nhà thờ họ mà con cháu lập nên để thờcúng tổ tiên Khách thập phương về Phủ Dầy sẽ được tham quan, chiêmngưỡng một quần thể kiến trúc độc đáo, một hệ thống nhân vật thờ tự dobàn tay, khối óc tài hoa của ông cha ta để lại trên một miền đất văn hiến,
có đầy đủ các yếu tố địa, lịch sử, văn hóa để phát tích, tồn tại và phát triểntín ngưỡng thờ Mẫu Đó cũng chính là tiềm năng, thế mạnh của một vùngđất cổ Quần thể di tích Phủ Dầy lại được xây dựng ở một vùng quê sơnthủy hữu tình Một vùng quê có nhiều danh nhân văn hóa, một vùng đất
Trang 29văn hiến có bề dày lịch sử hào hùng trong quá trình dựng nước và giữnước của xã Kim Thái
Tín ngưỡng thờ Mẫu phát triển, cùng với hàng chục đền chùa miếuPhủ trong quần thể di tích Phủ Dầy điểm xuyết trong cảnh sắc thiên nhiênsơn thủy hữu tình hiếm có, làm cho Phủ Dầy trở thành một danh lam thắngcảnh độc nhất ở vùng đồng bằng Bắc Bộ, làm cho quần thể di tích PhủDầy chiếm vị trí đặc biệt quan trọng trong hệ thống các di tích danh thắngcủa tỉnh Nam Trong khung cảnh đất trời mông lung huyền ảo như thế, tâmlinh con người hành hương về đây cũng như muốn hòa mình vào cái linhthiêng huyền diệu của bốn miền vũ trụ hội tụ nơi đây, cảm thấy như đang
có thiện tâm thanh thản trong cuộc sống đời thường
2.1.3 Thánh Mẫu Liễu Hạnh và tục thờ Mẫu ở Việt Nam
2.1.3.1.Vài nét về tục thờ Mẫu ở Việt Nam
Đất nước ta hình thành trên cơ sở một nền nông nghiệp lạc hậu chịuảnh hưởng của khí hậu khắc nghiệt, địa hình phức tạp, bị các thế lực ngoạibang xâm chiếm, cảnh nội chiến phân tranh đã đẩy dân tộc đến chỗ bế tắc
bị kìm hãm triền miên Trước hoàn cảnh bất luận ấy, người Việt cổ cùngcác thế hệ tiếp nối đã có sự đấu tranh sinh tồn vừa giữ gìn bản sắc dân tộc,sáng tạo ra nền văn hóa, văn minh riêng trong đó có tục thờ nữ thần nôngnghiệp
Người Việt xưa, cả người Kinh lẫn đồng bào dân tộc ít người đã lựachọn hình tượng từ xã hội Mẫu hệ, từ nền sản xuất nông nghiệp để có đượccác thần linh như Mẹ Đất, Mẹ Nước, Mẹ Lúa, Mẹ Núi Rừng, Mẹ Xứ Sở.Dân gian cũng khẳng định Mẫu Thượng Thiên, Mẫu Thượng Ngàn, Mẫu
Trang 30Thoải cùng các ông Hoàng, các Cô, các Cậu trong đạo Tứ Phủ, lại đều lànhững thần tượng thuộc hệ hầu xung quanh vị Thánh Mẫu chủ thể, nóicách khách là vị thần chủ trong tín ngưỡng Tam Tòa, Tứ Phủ thuộc điệnthần thờ Mẫu Liễu Hạnh.
Việc thờ phật ở Việt Nam cùng một số nước Đông Nam Á cũng có
sự ảnh hưởng của tục thờ Mẫu bản địa, cụ thể là sự xuất hiện Phật bà quan
âm, một dung hợp màu sắc giữa phật giáo Việt Nam với Ấn Độ, TrungHoa, Triều Tiên Riêng tục thờ thánh Mẫu Liễu Hạnh là nét độc đáo mangbản sắc của dân vùng lúa nước, vùng châu thổ Sông Hồng và các tỉnhtrong nước có mối liên quan Khác với mẹ Âu Cơ của người Việt, khác với
bà Sao Cái của người Tày, khác với nữ thần Yana của đồng bào Chăm,khác với thánh Alak của đạo Hồi, và tín ngưỡng thờ Mẫu Liễu Hạnh mớixuất hiện trên 500 năm nhưng so với các Mẫu nguyên thủy thì thật trẻtrung, ấy vậy mà trở thành một thế giới mơ và qua sự mơ ước còn nảy sinh
ý thức tu dưỡng để trở thành người hoàn thiện hơn, hoàn mỹ hơn
Từ trên năm thế kỷ này, tục thờ Mẫu Liễu Hạnh song song tồn tạicùng đạo phật, cũng như tín ngưỡng thờ thành Hoàng, thờ danh nhân, danhtướng có công với dân, với nước
“Sinh hỏa suất ba phen trinh hiếu gương treo miền quận bắc
Tinh thần năm trăm lẻ anh linh bóng dọi chốn thành Nam”
(Câu đối lăng Mẫu tại Tiên Hương)Tâm thức dân gian tôn vinh Mẫu Liễu Hạnh trong hàng “Tứ bất tử”Việt Nam, công đức lớn lao như Phù Đổng Thiên Vương, Chử Đồng Tửtiên ông và Tản Viên Sơn thánh là những bậc thánh thần đạo cao,đứctrọng, công lớn với nước với hậu thế từ buổi bình minh lịch sử, mãi mãi
Trang 31tồn tại trong đời sống tinh thần dân tộc.
Người xưa đã ghi nhận hiện tượng nữ thân Liễu Hạnh công chúa làmột sự kỳ lạ, qua sách “Truyền kỳ tân phả” do nữ kỳ tài danh Đoàn ThịĐiểm viết Nguyễn Công Trứ viết “Liễu Hạnh công chúa diễn âm” cùngnhiều tác giả viết một số bài về Thánh Mẫu Liễu Hạnh, song trong ý niệmdân gian thì lai lịch của Mẫu trên lãnh thổ Việt Nam vô cùng phong phú,
nó không bó hẹp trong thư tịch hán nôm, bi ký mà lan rộng trong truyềnthuyết khắp các lũy tre xanh, trên lời hay ý đẹp của các câu đối, đại tự, cácbài văn chầu, thi ca cùng những hoạt động tín ngưỡng lễ hội Nó không chỉthể hiện ở Phủ Dầy, Nam Định, Sòng Sơn, Phổ Cát, các tỉnh miền Trung.Tây Hồ, Thăng Long, Lạng Sơn, Ninh Bình, Thái Bình, Hà Nam mà xuấthiện ở khắp mọi nơi Hình bóng bà chúa Liễu như cây tùng, cây bách baotrùm cho cả các vị thần linh khác, giúp các vị ân thần, dương thần, dựabóng Mẫu để âm phù cho nước, cho dân, cứu chữa cho dân gian khỏi tậtbệnh, vận hạn đói nghèo do thiên tai Dân gian tôn vinh Mẫu là mẹ củathiên hạ, sánh cùng với Hưng Đạo Đại Vương của Thời Trần, hoặc BátHải vua cha là những danh thần, danh tướng hơn Mẫu hàng trăm, hàngngàn năm tuổi Ảnh hưởng của Mẫu Liễu, một xu hướng Hồi cổ của cưdân nông nghiệp trồng lúa nước thuộc nhiều tỉnh, nhiều vùng đặc biệt trênđịa bàn châu thổ Sông Hồng như Nam Định, Thái Bình, Hưng Yên, NinhBình, Hà Nội, Hà Nam Vấn đề này không phải sự ngẫu nhiên mà là sựphát triển theo quy luật lịch sử xã hội Nó biểu hiện truyền thống tínngưỡng văn hóa nguyên thủy của dân tộc Nó cũng thể hiện xu hướng bàitrừ “Vọng ngoại” do đó mà diện mạo tục thờ Mẫu Liễu Hạnh vừa phongphú, vừa đa dạng mà có ý nghĩa độc lập, tự chủ
Riêng về với Phủ Dầy, Sòng Sơn, Quảng Nạp, Lãnh Giang, Điện
Trang 32Hòn Chén (Huế), Tây Hồ Mọi người đặc biệt là phụ nữ như được về vớiquê mẹ Một cảm xúc thân quen trào lên, muốn thủ thỉ nhỏ to, nhữngchuyện vui buồn, để cầu mẹ có sự thông cảm, gia ân cho con cháu.
Do vậy mà nguyên lý thờ Mẫu có từ ngàn xưa, lại càng được bổsung, vun đắp, nó sẽ và mãi tồn tại trong tâm thức dân gian (folkoru) ViệtNam và tất nhiên nó là hương sắc của một tín ngưỡng bản địa dân tộc.Tín ngưỡng bản địa thờ Mẫu thực sự quý hiếm, song cũng cần gạnđục, khơi trong tránh những dị đoan, mê tín, tránh những lãng phí vô ích,góp phần làm cho đời sống dân gian thêm đẹp, thêm vui hòa cùng nhịp thởthời đại mới
2.1.3.2 Huyền tích thánh Mẫu Liễu Hạnh
Quần thể di tích Phủ Dầy gắn liền với sự tích về Mẫu Liễu Hạnh.Truyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh đã và đang được các nhà nghiên cứu xãhội, nhân văn làm sáng tỏ để khẳng định tục thở Mẫu là tín ngưỡng tôngiáo của Việt Nam Hơn 10 năm qua (1991 - 2004) đã có 3 cuộc hội thảolớn (Hai cuộc hội thảo Quốc gia và một cuộc hội thảo Quốc tế) về MẫuLiễu Hạnh, về Phủ Dầy và lễ hội Phủ Dầy Phủ Dầy nơi sinh ra Mẫu LiễuHạnh và chính những huyền thoại về bà, về công đức của bà đối với nhândân đã tạo nên sự hấp dẫn kỳ lạ đối với khách thập phương về với PhủDầy Phủ Dầy đã trở thành một trung tâm thờ Mẫu lớn nhất của Việt Nam
mà vị thần chủ trong điện thần thờ Mẫu chính là thánh Mẫu Liễu Hạnh.Mẫu Liễu Hạnh là nhân vật văn hóa dân gian, vừa là Thần như sắcphong, vừa là Thánh như dân phong, vừa là Phật, vừa là Tiên như sự tích,
là biểu tượng bất tử của tâm linh, tâm hồn, tình cảm, ý chí cao cả củangười Việt Nam về khát khao giải phóng phụ nữ, ca ngợi người phụ nữ
Trang 33Việt Nam, người mẹ Việt Nam Mẫu Liễu Hạnh là “Mẫu nghi thiên hạ” là
“thiên bản lục kỳ chi đệ nhất” của đất “Thiên Bản lục kỳ” ngàn năm vănvật
Có khá nhiều tài liệu viết về thánh Mẫu Liễu Hạnh, không kể nhữngtruyền thuyết về Mẫu Liễu Hạnh khá phong phú, sâu sắc trong dân gian,vùng Vụ Bản và nhiều nơi khác
Căn cứ vào “Quảng Cung Linh từ phả ký”, “Quảng Cung Linh từ biký” và “Cát thiên tam thế thực lục” hiện đang lưu giữ ở địa phương do banquản lý di tích - danh thắng của tỉnh Nam Định sưu tầm, được Hội đồngkhoa học lịch sử Nam Định thẩm định thân thế và sự tích Thánh Mẫu LiễuHạnh thì Bà có ba lần sinh hóa:
Lần thứ nhất vào năm 1434 (đầu thời Lê) tại ấp Quảng Nạp, xã VĩNhuế, huyện Đại An, Phủ Nghĩa Hưng, trấn Sơn Nam có ông Phạm HuyềnViên người xã La Ngạn kết duyên cùng bà Đoàn Thị Hằng cùng xã VỉNhuế (Nay là Yên Đồng, Ý Yên, Nam Định) Hai ông bà là những ngườihiền lành, tu nhân tích đức nhưng hiềm một nỗi ngoài 40 tuổi mà chưa cócon Một đêm rằm tháng hai, ông bà được thần báo mộng là Ngọc Hoàng
sẽ cho con gái thứ hai là Công chúa Hồng Liên đầu thai làm con Từ đó bà
có thai Trước khi sinh vào đêm 06 tháng 03 năm Quý Sửu, trời quangmây vàng như có ánh hào quang Ông Huyền Viên ngồi đợi tin mừng bỗngnhư có một nàng tiên từ đám mây bước xuống thềm nhà và bà sinh một bégái Vì vậy ông đặt tên con là Phạm Tiên Nga
Mẫu giáng sinh giai đoạn thứ hai vào thời Lê Thiên Hựu, năm Đinh
Tỵ (1557) tại thôn Vân Cát, xã An Thái, Huyện Thiên Bản (nay là KimThái, Vụ Bản, Nam Định) cách quê Vỉ Nhuế chừng 7km Lần này Mẫu
Trang 34đầu thai vào gia đình họ Lê, khi ra đời được cha mẹ đặt tên là Lê ThịThắng Năm 18 tuổi lấy chồng là Trần Đào Lang ở Tiên Hương cùng xã,sinh được một người con trai tên là Nhâm và một người con gái tên làHòa Do nặng mối tình thương chồng con, thương cha mẹ nên đói khingười ẩn hiện xuống trần gian gặp lại cha mẹ, chồng con Sự huyền hoặctrên đây đã tạo ấn tượng về sự thiêng liêng của một tiên nữ vương vấn bụitrần Đây cũng là một thứ tình cảm tốt đẹp mà người đời cho là sự thủychung ăn đời ở kiếp hiếm có Bà mất ngày 03 tháng 03 năm Đinh Sửu, thời
Lê Gia Thái thứ 5 (1577) Năm ấy bà mới 20 tuổi, lăng mộ và đền thờ ởPhủ Dầy, thôn Thiên Hương, Vân Cát, Kim Thái, Vụ Bản, Nam Định
Sự tích giáng sinh lần thứ 3, truyền thuyết kể rằng Vì tình nghĩathủy chung với chồng con ở trần thế nên đến thời Lê Khánh Đức thứ 2(1650) Phạm Tiên Nga lại giáng sinh tại đất Tây Mỗ- Nga Sơn-ThanhHóa, vào ngày 10 tháng 10 năm Canh Dần tái hợp với ông Trần Đào Langđầu thai làm con họ Mai đặt tên là Mai Sinh, sinh được một người con traitên là Cổn Bà mất ngày 23 tháng chạp năm Mậu Thân, thời Lê Cảnh Trịthứ 6 năm 1668, năm ấy bà vừa 18 tuổi Đền thờ bà ở Phủ Sòng Sơn,Thanh Hóa
Ba lần sinh hóa là thế đó! Ngoài ra còn nhiều giai thoại nói về ngườitiên du ngoạn, khi ở Lạng Sơn, lúc về Hồ Tây vào Phú Đồi, Sòng Sơn, khigiáng Phúc, lúc giáng họa
Sự tích về Thánh Mẫu Liễu Hạnh (Phạm Tiên Nga ) cho thấy bà làngười con gái họ Phạm rất tài hoa và đức hạnh, một gương sáng cho đời.-Tận tâm báo hiếu ân đức sinh thành của cha mẹ
- Có lòng chung thủy với tình nghĩa vợ chồng
Trang 35- Tiêu biểu về công dung ngôn hạnh của người phụ nữ Việt Nam.
- Một phụ nữ đầy lòng nhân ái, từ thiện, thương yêu nhân dân, cứukhổ cứu nạn những người nghèo khổ, luôn khuyên bảo người khác làmđiều lành, tránh điều ác
Tấm gương đó được người đời ca ngợi, kính cẩn lập đền thờ, mở Phủtôn thờ Suốt ngoài Bắc trong Nam, nơi đồng bằng, chốn núi đồi hiểm trở,hỏi nơi nào có thiếu đền thờ? Ngay điện Ngọc Hòn Chén sừng sững đốivới lăng tẩm kinh đô Huế hình bóng Mẫu cũng mãi trường tồn góp tinhhoa cho văn hóa xứ Huế rực rỡ
Trong nhiều thế kỷ qua, nhiều người đến đền Mẫu Liễu Hạnh cúng tếcầu phúc, đều thấy ứng nghiệm Vì vậy trong tâm linh tín ngưỡng của họ,
bà được tôn thờ là “Thánh Mẫu Linh Thiêng” Mẹ của muôn dân
Thực thực hư hư chuyện đời thường của Thánh Mẫu Liễu Hạnhkhông có sự đặc sắc như Bà Trưng, Bà Triệu Song lại hòa hợp với cuộcsống, được người đời chấp nhận, tôn vinh là mẹ, được Triều đình nhàNguyễn phong tặng “Mẫu nghi thiên hạ” một nghi thức là mẹ của loàingười, khác chi một tượng đài văn hóa dân tộc được nghiên cứu để hiểuthêm về cảm quan lịch sử, về văn hóa, văn minh Việt Nam
2.1.4 Di sản văn hóa trên quần thể di tích Phủ Dầy
Quần thể di tích Phủ Dầy nằm trên địa bàn xã Kim Thái chủ yếu làhai thôn Vân Cát và Tiên Hương gồm 19 di tích có thể chia làm nhiều loại
Lọai thứ nhất: Những di tích trực tiếp thờ phụng Thánh Mẫu LiễuHạnh, đó là Phủ Tiên Hương, Phủ Vân Cát, Lăng Mẫu, Nguyệt Du cung
Loại thứ hai: Các đền đài, nhà thờ họ, thờ các vị khải thánh tức là tổ tiên