MỘT NỀN VĂN HỌC CÔNG GIÁO BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ CHÍNH THỨC BẮT ĐẦU VỚI GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES[ 1 ] Khi đến Việt Nam vào thế kỷ XVII, các vị thừa sai ngoại quốc tôn trọng nền văn hóa Vi
Trang 1MỘT NỀN VĂN HỌC CÔNG GIÁO BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ
CHÍNH THỨC BẮT ĐẦU VỚI GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES[ 1 ]
Khi đến Việt Nam vào thế kỷ XVII, các vị thừa sai ngoại quốc tôn trọng nền văn hóa Việt Nam: họ học tiếng địa phương, chữ viết Việt Nam, lúc đó là chữ Nôm, thứ chữ của tầng lớp có học sách thánh hiền Các giáo sĩ đến đất Việt Nam với mục đích truyền giáo Vì yêu mến những người mà các ngài Loan Báo Tin Mừng, nên các ngài kính trọng nền bản sắc văn hóa bản địa Các ngài đem Lời Chúa cho hết mọi người, không phân biệt thành phần xã hội, nên đã học chữ Nôm
để tiếp xúc với thành phần trí thức, quan lại, sĩ phu và sư sãi đang quen sử dụng loại chữ viết này Nhưng thành phần đại đa số dân chúng thuộc tầng lớp thất học,
mù chữ không biết đọc chữ Nôm, lam lũ với miếng cơm manh áo hằng ngày, tiếng nói với “cung giọng như tiếng chim hát” tuyệt vời nhưng khó học Các ngài nghiên
phiên âm và viết theo mẫu tự la tinh, để soạn đề cương ngữ pháp và những nội dung giáo lý
Giáo sư Trần Văn Toàn đã nhận định về thái độ của các giáo sĩ mới đến hội
“Trước hết, ngay từ thế-kỷ XVII, các giáo-sĩ Tây-phương sang Việt-Nam truyền giáo, đã ra công quan-sát phong-tục tập-quán, đồng thời học tiếng nói và chữ viết của ta, để dễ bề chia-sẻ niềm tin của họ với người mình Họ rất có thiện-cảm với người Việt, và đã viết ra nhiều lời ca-tụng văn-hóa và ngôn-ngữ của chúng
ta Ngay trong đầu thế-kỷ XVII, giáo-sĩ Girolamo Maiorica là người Ý (Italia) đã soạn ra hàng chục cuốn sách đạo bằng chữ nôm Sau đó giáo-sĩ Alexandre de Rhodes (Đắc- Lộ) quê ở Avignon (nay thuộc về nước Pháp) đã cho in tại Roma năm 1651 sách giáo-lý bằng chữ quốc-ngữ Việt-Nam và tiếng La-tinh, sách về ngữ-học Việt-Nam bằng tiếng La-tinh và tự-vị Việt-Bồ-đào-nha-La-tinh Những người đã xướng-xuất ra các công-trình ấy vốn là những người có học-thức, có đầu
óc cởi mở, và đã ra công học hỏi được nhiều, nhưng ta không nên quên rằng các vị
ấy đã học với người Việt mình”
Các giáo sĩ dòng Tên trong thế kỷ XVII và các giáo sĩ truyền giáo trong những thế kỷ kế tiếp vẫn tôn trọng văn-hóa dân-tộc, nghiên cứu làm các tự điển và trình bày giáo lý bằng chữ Nôm cho một số quan lại, nho sĩ và sư sãi
[ 1 ] Võ Long Tê, “ Lịch sử văn học Công Giáo Việt Nam" , cuốn 1, của, nxb Tư Duy, Sài Gòn 1965, tr.236
[ 2 ] Giáo sư Trần Văn Toàn, “Chữ quốc-ngữ và chữ nôm-Tự-vị Taberd và di-sản văn-hóa Việt-Nam”
Có trích đoạn trong Dictionarium Anamitico Latinum, VH NXB Văn Học, trong tiểu mục: “Tự Vị Taberd và
Di Sản Văn Hóa Việt-Nam” trang il và những trang kế tiếp
Trang 2“Khi viết sách vở cho người Việt về những điều rất nghiêm như giáo, họ đã dùng ngay chữ nôm (như trong các tác-phẩm của Girolamo Maiorica),
tôn-và người công-giáo tiếp-tục viết, in tôn-và dùng sách chữ nôm cho đến giữa thế kỷ
XX Tuy vậy họ cũng tìm cách viết tiếng Việt theo mẫu-tự La-tinh để cho người Âu-châu học tiếng Việt cho dễ Thứ chữ viết ấy được khánh-thành trong sách Phép giảng tám ngày của A de Rhodes cho in tại Roma năm 1651 Chính vì ý-thức được rằng ngôn-ngữ là kho-tàng quí-báu của văn-hóa dân Việt, và cũng chính vì muốn dùng tiếng Việt cho đúng nghĩa, cho đúng văn-pháp, cho nên ngay
từ thế-kỷ XVII, từ A de Rhodes trở đi, nhiều giáo-sĩ Âu-châu đã ra công làm
].
Trong sách Tự điển, Đức cha Taberd cũng quan tâm bảo lưu và đối chiếu chữ Nôm, soạn thảo nhiều khía cạnh trong tự điển của ngài biên soạn (1838) để trải rộng kiến thức khoa học, giáo lý cho nhiều thành phần dân chúng cần tra cứu (sẽ trình bày trong phần nội dung bài nghiên cứu của Giáo sư Trần Văn Toàn)
Giáo sư Trần Văn Toàn khẳng định như sau:
“Đối với những ai có lòng tha-thiết với văn-hóa dân-tộc, thì cuốn tự-vị La-tinh do giám-mục Taberd biên soạn và cho in bên Ấn-độ năm 1838, thực là một tài-liệu không thể bỏ qua, vì nó đánh dấu một chặng đường quan-trọng trong lịch-
Việt-sử hình-thành của nền quốc-học Việt-Nam Quan-trọng là vì đây là lần đầu tiên chữ quốc-ngữ được đối chiếu với chữ nôm trong một cuốn tự-vị được in ra Các tự-
vị chữ nôm được biên soạn và ấn-hành sau này đều lấy lại cái sáng-kiến đó như là
]
Ngay trong thế kỷ XX, Giáo hội Việt Nam vẫn tôn trọng chữ Nôm và soạn thảo sách dạy chữ Nôm cho dân chúng học tập, như quyển “Hán Tự Qui Giảng”
của Đ Hồ Ngọc Cẩn (năm 1927), đã mượn ít nhiều trong sách Thầy Prémare và
Có thể nói, từ hậu bán thế kỷ XVII dần dần phân ra 2 xu hướng thực tiễn trong văn học nước nhà: Văn học Việt nam được trình bày theo chữ viết Nôm và Văn học Nhà đạo theo chữ quốc ngữ, từ từ phát triển trong không gian tôn giáo
[ 3 ] Giáo sư Trần Văn Toàn, “Chữ quốc-ngữ và chữ nôm-Tự vị Taberd và di-sản văn-hóa Việt-Nam”
[ 4 ] Xin xem : Giáo sư Trần Văn Toàn, “Chữ quốc-ngữ và chữ nôm-Tự vị Taberd và di-sản văn-hóa
Việt-Nam”.
[ 5 ] Xin đọc Phần Tựa của “Hán Tự Qui Giảng” của Đ Hồ Ngọc Cẩn, in lần thứ hai, Hồng Kong, Imprimerie
de la Société des Missions Étrangères 1927
[ 6 ] Võ Long Tê, “ Lịch sử văn học Công Giáo Việt Nam" , cuốn 1, của, nxb Tư Duy, Sài Gòn 1965, tr.236
Trang 3Thật vậy, phạm trù theo thuật ngữ “Văn học Công Giáo bằng chữ quốc ngữ”
được hai bài tham luận trong Hội Thảo Khoa Học “BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ”, tổ chức tại Tp Qui-Nhơn vào ngày 12-13/01/2016 trích dẫn bài nghiên cứu của Ông VÕ LONG TÊ, “Lịch sử văn học công giáo Việt Nam”, cuốn
1, nxb Tư Duy, Sài Gòn 1965 , trang 236, đã đi đến kết luận như sau:
“Với Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt và Phép giảng tám ngày, chữ
Quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác Một nền văn học
công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes” - nhà nghiên cứu Võ Long Tê nhận định.[ 7 ]
Chúng tôi dựa vào những tham luận của các nhà nghiên cứu trong kỳ “Hội Thảo Khoa Học, Bình Định Với Chữ Quốc Ngữ” ngày 12-13/01/2016 tại TP Qui-Nhơn Đặc biệt chúng tôi trích dẫn phần lớn những bài chuyên sâu trước 1975 về Giáo Sĩ Đắc Lộ như của các nhà nghiên cứu: ông Nguyễn Khắc Xuyên, Phạm Đình Khiêm, nxb Tinh Việt Văn Đoàn, Sài-gòn năm 1961, ông Võ Long Tê,
“Lịch sử văn học Công Giáo Việt Nam" , cuốn 1, của, nxb Tư Duy, Sài Gòn 1965, cũng như giáo sư Trần Văn Toàn (sđd) để tìm hiểu nội dung sau đây:
“MỘT NỀN VĂN HỌC CÔNG GIÁO BẰNG CHỮ QUỐC NGỮ CHÍNH THỨC BẮT ĐẦU VỚI GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES”
Chúng tôi xin trình bày đề tài nghiên cứu trên theo các chương như sau:
[ 7 ] + Xin xem bài tham luận của ThS Nguyễn Văn Biểu, “ĐẤT BÌNH ĐỊNH TRONG TIẾN TRÌNH LỊCH SỬ
CHỮ QUỐC NGỮ” (Hội Thảo Khoa Học “Bình Định với Chữ Quốc Ngữ”, tại Tp Qui-Nhơn , ngày 13/01/2016.)
Trong phần trích dẫn, chúng tôi in chữ đậm câu: “Một nền văn học công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính
thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes” như điểm khởi đầu cho việc nghiên cứu của chúng tôi
+ Xin xem thêm bài tham luận của 2 tác giả Th.s Nguyễn Ngọc Oanh và PGS TS Nguyễn Công Đức:
“ MỘT VÀI CHỈ DẤU CỦA PHƯƠNG NGỮ BÌNH ĐỊNH - NAM TRUNG BỘ TRONG TỪ ĐIỂN VIỆT -
BỒ - LA CỦA ALEXANDRE DE RHODES”
( Xin trích đoạn):
“Để tiện cho người Âu châu học tiếng Việt, Đắc Lộ đã dụng công viết riêng phần ngữ pháp tiếng Việt bằng tiếng La tinh đặt ở đầu sách Đây là phần dẫn giải về chữ và vần, trọng âm và các thanh điệu, về danh từ, đại danh từ, động từ, đến cú pháp Đây cũng là phần đã tốn nhiều công sức của vị giáo sĩ này
“Với Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt và Phép giảng tám ngày, chữ Quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác Một nền văn học công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes” - nhà nghiên cứu Võ Long Tê nhận định”
Trang 4I- CHƯƠNG MỘT: SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CỦA GIÁO SĨ ALEXANDRE
DE RHODES (ĐẮC LỘ) : GIA TỘC VÀ SỰ NGHIỆP [ 8 ]
II- CHƯƠNG HAI: PHÂN TÍCH CÁC TÁC PHẨM CHỮ QUỐC NGỮ
CỦA ALEXANDRE DE RHODES [ 9 ]
A - Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt
B- Phép Giảng Tám Ngày, chữ Quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác
C- Một nền văn học công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes
III- CHƯƠNG BA: NHẬN ĐỊNH & MỘT SỐ TÁC GIẢ VĂN HỌC
KI-TÔ GIÁO QUA DÒNG THỜI GIAN TRÊN 200 NĂM
Chúng tôi xin trình bày NỘI DUNG bài nghiên cứu trong Chương Một
I- CHƯƠNG MỘT: SƠ LƯỢC TIỂU SỬ CỦA GIÁO SĨ ALEXANDRE
DE RHODES (ĐẮC LỘ) : GIA TỘC VÀ SỰ NGHIỆP
Công trình La tinh hóa tiếng Việt Nam vào tiền bán thế kỷ XVII là một việc làm tập thể của các giáo sĩ Dòng Tên truyền giáo tại Đàng Trong, có sự đóng góp tích cực trong những năm tháng dài của một số tín hữu Việt Nam Nhưng việc soạn thảo, in ấn Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt và Phép Giảng Tám Ngày vào năm 1651 được coi là công lao to lớn của giáo sĩ ALEXANDRE DE RHODES
] Nhưng con người vĩ đại như thế đã hấp thụ được
[ 8 ] Dựa trên tài liệu “Giáo Sĩ Đắc Lộ và Tác Phẩm Quốc Ngữ Đầu Tiên”, Nguyễn Khắc Xuyên - Phạm Đình
Khiêm Tái bản trọn cuốn Phép Giảng Tám Ngày của Alexandre de Rhodes , do André Marillier sao lục, chú thích và lập bảng tham chiếu Tinh –Việt Văn Đoàn, Ban Sử học : 232/19 Hiền Vương, Saiggon `961 (Kỷ Niệm Tam Bách Chu Niên)
[9] Võ Long Tê, “ Lịch sử văn học Công Giáo Việt Nam" , cuốn 1, của, nxb Tư Duy, Sài Gòn 1965
[ 10 ] Xin xem Petrus Paulus Thống,”Chữ Quốc Ngữ và Môi Trường Bình Định”
Xin trích đoạn : “Thật vậy, Chữ Quốc Ngữ (CQN) ở Việt Nam cũng do các vị Thừa sai thuộc Dòng Tên
Tỉnh Dòng Nhật Bản (lúc ấy tập trung ở Macao) nghĩ ra, theo cùng một mô thức, nhắm cùng một mục đích,
đã trường tồn tốt đẹp mãi đến ngày nay do những yếu tố khách quan nhưng chủ yếu do những yếu tố chủ quan Chủ quan ở đây chúng tôi muốn hiểu theo chiều hướng chủ động tích cực Phải khẳng định CQN là một công trình tập thể Nói Alexandre de Rhodes (Đắc Lộ) là cha đẻ, là ông tổ của CQN, đó chỉ là một cách nói thông dụng, phổ thông, tiện dụng Đắc Lộ là người “tập đại thành” CQN Tuy nhiên cách thức này cũng khẳng định vai trò của Đắc Lộ Gần đây có ý kiến cho rằng Đắc Lộ chỉ có công “chép” lại những cuốn tự vị, từ điển của hai vị thừa sai Dòng Tên khác là Gaspar d’Amaral (1592-1645/1646), với cuốn
“Diccionario da Lingua Annamitica” và cuốn “Diccionario amanita-portugues-latim” và Antonio Barbosa (1594-1647), với cuốn “Diccionario portugues-anamita” Thực tế thì những cuốn trên đã bị thất lạc mất rồi Ngày nay chúng ta chỉ nghe nói thế hoặc biết qua một tài liệu nào đó Thật ra công việc soạn từ điển là
Trang 5dòng máu gia tộc, môi trường tôn giáo, và được đào luyện trong một không gian sống đời thánh hiến cho lý tưởng cao đẹp: truyền giáo vùng Viễn Đông như thế nào?
Có thể tóm tắt vài nét sơ lược tiểu sử của Giáo sĩ ALEXANDRE DE RHODES dựa vào một số tài liệu nghiên cứu trong ngày Hội Thảo Khoa Học
] Tuy nhiên,
có tầm nhìn tổng quát về “Gia tộc, và Sự nghiệp” của Giáo sĩ ALEXANDRE DE
RHODES, chúng tôi xin phép trích đoạn hầu như toàn bộ tài liệu của hai tác giả
Nguyễn Khắc Xuyên – Phạm Đình Khiêm, tái bản trọn cuốn “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY”, của ALEXANDRE DE RHODES, NXB Tinh Việt Văn Đoàn
(năm 1961), từ trang XIV – XXVI
(I) CÔNG DÂN ĐỨC GIÁO HOÀNG
“Nếu Giáo sĩ Đắc-lộ có “thẻ căn cước” và thẻ ấy còn giữ được đến ngày nay, chắc chắn ta sẽ đọc thấy ở đó, sau hàng chữ “họ, tên”, đến mục quốc tịch ghi mấy chữ: “Công-dân Đức Giáo-Hoàng” (sujet du Pape) Quả thực đó mới chính
là quốc-tịch của Cha Đắc-lộ trên thực tế cũng như pháp lý Bởi vì tỉnh Avignon, sinh quán của người, thuộc địa hạt Comtat Venaissin, lúc ấy tuy không còn là nơi đóng đô tạm của mấy vị Giáo Hoàng thời cận kim, song vẫn là lãnh thổ của Tòa Thánh La-Mã mà Đức Giáo Hoàng là Quốc Trưởng
Nguyên quán gia đình Đắc-lộ trước ở thị xã Rueda thuộc tỉnh Calatayud, xứ Aragon, trong nước Tây-Ban-Nha Từ địa phương này Ông nội giáo sĩ là
một công việc tập thể, thường người đi sau dựa theo công trình của người đi trước hoặc người khác, hoặc
là công việc của nhiều người cộng tác, người đứng tên tác giả chẳng qua là người chủ biên mà thôi Ngoài
ra nếu đem so sánh các cuốn trên, nếu có thể so sánh được, với cuốn “Dictionarium Annamiticum Lusitanum Latinum” (năm 1651) của Đắc Lộ thì sẽ thấy cuốn từ điển của Đắc Lộ đồ sộ hơn nhiều, hoàn chỉnh hơn Đó là chưa nói đến công sức của một người khi làm cuốn từ điển không ở Việt Nam, không có
sự góp công góp sức của các cộng tác viên người Việt Phải công nhận công sức và tài năng của Đắc Lộ thôi Không gì bằng thực tế trước mắt! Trước đó chưa ai làm được một cuốn từ điển CQN như vây Và mãi
187 năm sau mới có một cuốn từ điển khác vượt qua được Đó là cuốn “Dictionarium
Anamitico-Latinum” (năm 1838) của J.L.Taberd
[ 11 ] Trích dẫn theo tài liệu tham luận của Đặng Thị Phượng (Viện Từ điển học và Bách khoa thư), “L CH S
NGHI N CỨU V S RA Đ I CỦA CH QU C NG ”, trang 38-39, trong tài liệu “ Hội Thảo Khoa Học BÌNH ĐỊNH VỚI CHỮ QUỐC NGỮ”, Bình Định, ngày 12-13/01/2016
“Alexandre de Rhodes sinh năm 1593 tại Avignon, vào d ng Tên tại Roma năm 1612 ng được cử đi truyền giáo tại Đàng Trong năm 1624, được cử đến thành lập vùng truyền giáo Đàng Ngoài năm 1627 và ở đây cho đến khi bị trục xuất năm 163 Đến năm 164 , ông lại được cử phụ trách vùng truyền giáo Đàng Trong (164 -1645), 1645 bị vĩnh viễn trục xuất tại Việt Nam Có nhiều ý kiến khác nhau về vai tr khai sinh các công trình có tính chất quyết định sự hình thành chữ quốc ngữ của Alexandre de Rhodes Nhưng vai tr của Alexandre de Rhodes về sự hình thành chữ quốc ngữ được ghi nhận chính thức vào năm 1993 Ngày nay có nhiều tài liệu coi ông được tôn vinh như “người khai sinh” ra chữ viết Việt Nam”
[ 12 ] Nguyễn Khắc Xuyên – Phạm Đình Khiêm, tái bản trọn cuốn “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY”, của
ALEXANDRE DE RHODES, NXB Tinh Việt Văn Đoàn (năm 1961), từ trang XIV
Trang 6di cư đến Avignon hồi thượng bán thế kỷ thứ 16 [ 13
] sống bằng nghề buôn tơ lụa
Thân sinh người là ông Bernardin de Rhodes (tức Bernardin II) được liệt vào bậc thân hào (noble) tỉnh Avignon
Theo các sách đã xuất bản thì Alexandre de Rhodes chào đời ngày 15 tháng
03 năm 1591, nhưng nếu tính tuổi theo những bút tích của chính giáo sĩ, thì người
] giáo sĩ còn có người em là Georges
de Rhodes, sinh năm 1597, cũng tại Avignon Người em này, năm 1615, cũng vào Dòng Tên theo bước chân anh, rồi làm Viện trưởng học viện Dòng tên tại Lyon, viết nhiều sách về thần học và triết học, và từ trần tại Lyon ngày 17/05/1661 Một người chú ruột của giáo sĩ cũng sinh sống ở Lyon, làm một y sĩ thời danh làm
]
tiên dòng họ Đắc Lộ vốn là người Do-thái cũng trở lại cùng Chúa Danh từ Rhodes (mà ta phiên âm là Đắc Lộ) gốc ở tiếng Y-pha-nha Rueda, vừa là tên thị
xã quê hương, lại vừa có nghĩa là “bánh xe”, biểu hiệu của người Do Thái Biểu hiệu này có khắc trên mộ chí ông bà nội của giáo sĩ hiện còn tại Avignon Nhiều gia đình Do Thái công giáo ở Avignon thời ấy cũng có phù hiệu như vậy
Ra đời dưới bóng những đền đài cổ kính của mấy triều đại Giáo Hoàng lịch-sơn Đắc Lộ lại được nuôi dưỡng trong một gia đình đạo đức, có liên lạc chặt chẽ với các cha Dòng Tên sở tại: Giấy tờ còn lưu trữ lại viện bảo tàng Calvet (Avignon) cho biết Ông nội Giáo sĩ Đắc Lộ đã dâng cúng cho nhà Dòng Tên một thửa đất ở khu Cavaillon để lấy hoa lợi chi dùng
Theo một tài liệu riêng chúng tôi hiện có, thì tên Ông nội giáo sĩ Đắc Lộ là Barthélémy de Rhodes Điều
ấy đúng hay là do sự sao chép lẫn chính tả Bernadinus ra Bartholomeus?
[ 13 ] Sđd Trong cuốn Người Chứng Thứ Nhất, chúng tôi dự theo GAIDE, quelques renseignements sur la
famille de Rhodes (Bulletin des Amis du Vieux Huế, B.A.V.H., 1927, từ tr 225) nói gia đình Đắc Lộ đến ở Avignon từ cuối thế kỷ 15, xét ra không đúng Giáo sĩ sinh vào những năm chót thế kỷ 16, mà gia đình đến
ở Avignon mới từ đời Ông nội mà thôi, vậy thì chỉ độ 5,6 chục năm trước
[ 14 ] Sđd của Nguyễn Khắc Xuyên – Phạm Đình Khiêm : Căn cứ theo bức thư dẫn ở chú thích (1) trang XIV,
giáo sĩ Đức Lộ, hồi mùa thu năm 1617, đã “bước vào năm thứ 25” Căn cứ theo Voyages et Missions (1854) trang 5 thì giáo sĩ rời quê hương vào nhà Tập D ng Tên (năm 18 tuổi) Bút tích của nhà Tập Dòng Tên “năm 18 tuổi” Bút tích của Nhà Tập này (tài liệu văn khố) ghi rõ thanh niên Đắc Lộ được gia nhập năm 1612 và “phỏng 19 tuổi” Vậy nếu giáo sĩ Đắc Lộ sinh năm 1591, thì năm 1612 ng đã 21 tuổi, và năm 1617: 26 tuổi, là sai Căn cứ theo các điều chỉ dẫn trên đây về số tuổi, thì năm sanh của giáo sĩ đúng hơn hết phải là năm 1593: sinh năm này thì đến năm 1612, ng được 18-19 tuổi, và năm 1617: chẵn 24 tuổi hay là “bước sang năm 25 tuổi” Do sự tra cứu hồ sơ gia đình Đắc Lộ tại Avignon (tài liệu riêng của tác giả)
[ 15 ] Sđd : Chi tiết nầy do sự điều tra cứ hồ sơ gia đình Đắc Lộ tại Avignon (tài liệu riêng của tác giả)
[ 16 ] Sđd: Gaide: Sách dẫn thượng
[ 17 ] Sđd: Căn cứ theo một bức thư của Ông Hugues Jean de Dianoux, viên chức cao cấp ngành ngoại giao
Pháp Ông này là dòng dõi gia tộc Đắc Lộ về phía ngoại (Tài liệu riêng do giáo sư Gustave Meillon gửi cho) Lại theo tin tức từ Avignon, thì hiện nay không còn ai mang tên de Rhodes, song có tộc danh du Roddr, có lẽ cùng một nguyên ủy (Tài liệu riêng nhận được do Cha Franchet, Viện trưởng học viện Dòng Tên ở Avignon)
Trang 7Sau những năm tiểu học và trung học ở quê nhà, Alexandre de Rhodes nẩy ý chí dâng hiến cuộc đời cho Chúa: năm 1612, khoảng 18-19 tuổi, ông được nhận vào nhà tập Dòng Tên ở La Mã tập viện Saint-André du Quirinal Dòng Tên Chúa Giêsu do thánh Y-nha-xô sáng lập năm 1534 với mục đích tổng phản công trên mặt trận truyền bá đức tin, hồi ấy đang phát triển rất mạnh mẽ, do ảnh hưởng trực tiếp của vị sáng lập, và tấm gương sáng chói của thánh Phan-xi-cô-Xa-vi-ê, quan thầy Đông Phương Các chiến sĩ của Dòng chia nhau đi khắp thế gian chinh phục các linh hồn, nhiều vị nỗi tiếng như cha Matteo Ricci (Lợi Mã Đậu) ở Trung Hoa, cha Nobili ở Ấn Độ Alexandre de Rhodes, rồi đây sắp nối tiếp lớp người xuất chúng đó
Tại học viện La Mã, chủng sinh Đắc Lộ chuyên chú về thần học và toán học Môn này vào thời đó, là một (phụ tá) rất đắc lực cho việc truyền giáo, vì nhờ nó
mà các giáo sĩ tính toán được nhật thực, nguyệt thực, vẽ được địa đồ thiên đồ, chế tạo được đồng hồ máy móc, do đó mà gây được cảm tình và uy tín đối với vua quan cũng như dân chúng ở các xứ truyền giáo Một trong những bạn đồng môn của Giáo sĩ Đắc Lộ là giáo sĩ Schall, người Đức, sau giảng đạo ở Trung Hoa, có
Sau khi được phép cha bề trên Vitelleschi, giáo sĩ Đắc Lộ đến lãnh phép lành
Nha, để sang Viễn Đông truyền giáo Ngày 4 tháng 4 năm 1619, ông đáp tầu
“Thánh nữ Tê-rê-xa” cùng với năm bạn đồng tu Dòng Tên trong đó có cha Jérôme Majorica, người Ý, về sau có giảng đạo ở Xứ Bắc, và trước tác cả một kho sách Nôm hiện nay còn lưu trữ tại Vatican Vừa ra khơi được mấy ngày đã gặp phong ba rất giữ, xong nhờ ơn riêng Đức Mẹ can thiệp mà giáo sĩ kể như một phép lạ nên được cứu thoát
Sau những chặng ghé khá lâu tại Goa (Ấn Độ) và Malacca (Mã Lai) Cha Đắc Lộ đến Áo Môn (Trung Hoa) ngày 29/05/1623, định vào giảng đạo ở Nhật Bản Nhưng lúc ấy sau những cuộc tàn sát công giáo rất giữ dội người Nhật đã đóng chặt mọi cửa ngõ Cha bề trên tỉnh Việt Đông của Dòng Tên liền phái Giáo
sĩ Đắc Lộ đến xứ Nam tức Đàng Trong Việt Nam, để tăng cường đoàn tông đồ đã
]
(II) DƯỚI ÁNH SAO SINH NHẬT
Sau 19 ngày vượt biển một thời gian khá lâu vì gặp nhiều sóng gió cuối tháng chạp năm 1624, nghĩa là dưới ánh sao Giáng Sinh Giáo sĩ Đắc Lộ đặt chân
[ 18 ] Xem: H Bernard-Maitre: Pour la compréhension de l’Indochine et de l’Occident, tr 123-125
[ 19 ] Sđd của Nguyễn Khắc Xuyên – Phạm Đình Khiêm, từ trang XIV-XVII
Trang 8đến (xứ Nam) lần đầu tiên Giáo sĩ lên bộ ở Tỉnh Quảng Nam (Đà Nẵng hoặc Hội An) Ngoài Giáo sĩ Đắc Lộ chuyến tàu này còn đưa đến xứ Nam 6 giáo sĩ Dòng Tên khác, trong số đó có cha Gabriel de Mattos, thanh tra và một giáo sĩ người nhật thạo chữ Hán
Xứ Nam, còn gọi là Đàng Trong, lúc ấy dưới quyền Chúa Nguyễn Phúc Nguyên tức Chúa Sãi (1613 - 1635), con kế nghiệp Chúa Nguyễn Hoàng, người
đã đoạn giao với Chúa Trịnh ở xứ Bắc và tuy vẫn thuần phục vua nhà Lê đóng đô
ở Hà- Nội, song trong thực tế đã gây dựng một giang sơn biệt lập từ Sông Gianh vào đến Phú Yên Cửa Hàn và Cửa Hội An (thời ấy gọi là Hải Phố, người Âu viết Faifo) đều thuộc tỉnh Quảng Nam, là hai cửa ngõ thông thương với ngoại quốc.Ngoài các thuyền bè Nhật Bản, Trung Hoa, Mã Lai, tàu buôn Tây Phương nhất là của Bồ Đào Nha, từ đầu thế kỷ XVII vẫn thường qua lại cửa bể này, nhân đó, cũng thường có giáo sĩ lui tới song không ở lâu Giáo sĩ Dòng Tên Francesco Buzomi, người Ý, đến xứ Nam ngày 18 tháng giêng năm 1615, chính là vị khai sáng Giáo đoàn xứ Nam Sau 10 năm đầu, đạo công giáo đã có một số ít tín hữu
do ba giáo sĩ trông coi, dưới quyền điều khiển của cha bề trên Buzomi đóng tại Nước Mặn, lúc ấy thuộc Phủ Qui Nhơn nay là tỉnh Bình Định Các Giáo sĩ này đều phải dùng thông ngôn, duy có cha Francesco di Pina, ở Hội An, rất thông thạo tiếng Việt, nên các bài giảng của người được ích lợi hơn
Việc đầu tiên của giáo sĩ Đắc Lộ khi đến xứ Nam là học tiếng Việt, mặc dầu nhận thấy rất khó khăn Giáo sĩ học bài mỗi ngày, cũng chăm chỉ như xứ học thần học ở La mã, lại nhờ có năng khiếu riêng về ngôn ngữ, nên chỉ bốn tháng đã giải tội được và sáu tháng giảng được bằng tiếng Việt Giáo sĩ ghi công một người đã giúp giáo sĩ cách lạ lùng: “Một thiếu niên trong xứ, chỉ trong ba tuần lễ đã dạy tôi
đủ hết các cung giọng của tiếng Việt, và cách đọc của tất cả các tiếng Cậu ấy không hiểu tiếng tôi, và tôi cũng chẳng hiểu tiếng cậu, nhưng cậu thông minh đến nỗi tự nhiên hiểu được hết các điều tôi muốn nói, và thật sự, cũng trong ba tuần lễ
ấy, cậu đã học đọc được các thư của chúng tôi, lại còn viết được tiếng Pháp, và giúp được lễ bằng tiếng La-tinh Tôi ngạc nhiên thấy một trí khôn mẫn tiệp như vậy và cả trí nhớ vững chắc nữa Từ đó, cậu làm thầy giảng giúp các cha, và đã trở nên một lợi khí rất đắc lực làm sáng danh Thiên Chúa ở Giáo đoàn này và trong xứ Lào, vì về sau thầy sang đó hoạt động mấy năm rất có hiệu quả Thầy
giảng ấy yêu mến tôi đến nỗi lấy tên tôi” (A de Rhodes, Voyages et Missions
(1854) tr 88-89)
Sau sáu tháng học tiếng, giáo sĩ Đắc lộ cùng với giáo sĩ Pina từ Quảng Nam lên Thuận Hóa (Kim-Long) Tại đây, Cha Đắc-lộ được chứng kiến một cảnh tượng vô cùng khích lệ, đầy biểu hiện tốt lành cho tương lai: Cuộc tòng giáo của
chúa Nguyễn Hoàng, mẹ Ông Tổng Trấn Nguyễn Phúc Khê tức Nghĩa hưng Quận
Trang 9Vương, dì ghẻ của vị chúa đương quyền Bà này trước kia rất sùng bái thần tượng, đến khi nghe Cha Pina giảng, được ơn Chúa Thánh Thần soi sáng, liền bỏ hẳn sự lầm lạc, chịu phép rửa tội, lấy tên Thánh là Maria Mađalêna, rồi từ đó trở nên cột trụ cho Giáo Hội mới này Giáo sĩ Đắc Lộ ghi chép: “Trong suốt thời kỳ tôi ở xứ này, tôi vẫn gặp bà và tôi tưởng rằng từ 28 năm nay, bà vẫn một lòng bền
đỗ trong sự thực hành đầy đủ các nhân đức công giáo Bà lập ra trong dinh bà một nhà nguyện rất đẹp (…); bà đã dùng những lời lẽ khôn ngoan làm cho nhiều người ngoại giáo trở lại, trong số đó có những người họ hàng với nhà vương Hiện nay bà vẫn là nơi nương tựa của các giáo sĩ và không một giáo hữu nào mà
bà không hết lòng giúp đỡ” (A de Rhodes, Voyages et Missions (1854) tr 91 và
xem Phạm Đình Khiêm : Minh Đức Vương thái phi, Tinh Việt, 1957)
Sau cuộc đại phúc truyền giáo tại Kinh đô, hai giáo sĩ trở về Quảng Nam Chẳng may cũng trong năm đó (1625) giáo sĩ Pina phải chết đuối trong khi thừa hành nhiệm vụ tông đồ ngoài cửa Hội An; rồi tiếp đến một sắc lệnh đầu tiên của chúa Sãi cấm đạo Thiên Chúa Nhờ được thế tử Nguyễn Phúc Kỳ, con Chúa Sãi lúc ấy làm trấn thủ Quảng Nam, tỏ ra rộng rãi, nên các giáo sĩ vẫn có cách ở lại được trong xứ
Tháng bảy năm 1626, giáo sĩ Đắc Lộ được Bề trên gọi về Áo- Môn để trao phó một nhiệm vụ khác Trong 18 tháng lưu trú ở xứ Nam lần đầu tiên, giáo sĩ Đắc Lộ chưa thu hoạch được kết quả bao nhiêu, nhưng đó là một thời kỳ chuẩn bị cần thiết cho những cuộc chinh phục lớn lao sau này
(III) SÁNG LẬP GIÁO HỘI ĐÀNG NGOÀI
Cũng như ở xứ Nam, xứ Bắc trước thời các Cha Dòng Tên, đã có nhiều giáo
sĩ lai vãng, nhưng việc truyền giáo chưa có kết quả Tháng ba năm 1626, Cha Baldinotti là giáo sĩ Dòng Tên đầu tiên đến Đàng Ngoài, vì không biết tiếng, chỉ rửa tội được bốn trẻ em gần chết Nhưng phúc trình của người gởi về Áo Môn đã
mở đường cho giáo sĩ Đắc Lộ đến sáng lập Giáo hội Đàng Ngoài
Cùng với cha Pierre Marquez, sau tám ngày vượt bể, giáo sĩ Đắc Lộ lên bộ ở Cửa Bạng, trong tỉnh Thanh Hóa, chính ngày lễ Thánh Giuse, 19/03/1627 Để ghi nhớ kỷ niệm ấy, người đặt tên cho cửa bể này là cửa thánh Giuse (port de Saint-Joseph) và nhận Thánh Giuse là quan thầy của Giáo hội Đàng Ngoài Việc lựa chọn này về sau được chính thức xác nhận do Công Đồng đầu tiên của Địa phận Đàng Ngoài họp tại Phố Hiến ngày 14 tháng 02 năm 1670 dưới quyền chủ toạn của Đức Cha Lambert de la Motte, giám mục Đàng Trong, Đại diện Đức Cha
François Pallu, giám mục Đàng Ngoài lúc ấy đã từ Xiêm về Âu Châu (Texte du
synode, dẫn trong : Nguyễn Hữu Trọng: Les Origines du Clerrgé viêtnamien)
Nhờ biết nói tiếng Việt, việc truyền giáo của Cha Đắc Lộ đã có kết quả ngay
từ lúc đầu Trước đám đông dân chúng kéo xuống tàu xem các hàng hóa do tàu
Trang 10Bồ Đào Nha chở đến, Cha Đắc Lộ cũng “mở món hàng” của người ra theo lời người và rao rằng: “ Tôi có một món hàng còn quý hơn nữa và rẻ tiền hơn hết mọi thứ khác, ai muốn có thì tôi cho không, ấy là đạo thật, là đường thật đưa đến hạnh
phúc” (A R Voyages et Missions (1854) tr 109) Sau bài giảng đầu tiên ấy, và
trước khi lên bờ, có hai người “rất khôn ngoan” đã quyết định xin tòng giáo Mấy ngày sau, Cha Đắc Lộ rửa tội cho họ cùng cả gia quyến Trong hai tháng hoạt động trong tỉnh Thanh Hóa, giáo sĩ rửa tội được tới hai trăm người, một phần ở vùng cửa Bạng, và phần lớn ở khu An Vực, nơi lập ngôi nhà thờ đầu tiên xứ Bắc,
gần Thần Phù giáp giới Ninh Bình (C.A Poncet : Les voyage du Père A de
Rhodes de Cửa Bạng à Hanoi, trong B A V H 1942, tr 261-282) Do đó có câu
(A de Rhodes, Voyages et Missions (1854) tr 110; Histoire du Tunquin, tr
94-95) Chúa Trịnh tiếp hai giáo sĩ và các thương gia Bồ Đào Nha rất tử tế Cha Đắc
Lộ tặng chúa một cái đồng hồ quả lắc và một quyển sách toán pháp in bằng chữ
Hán có mạ vàng rất đẹp Đó chính là quyển “Kỷ hà nguyên bản viên dung hiệu
nghĩa”, do giáo sĩ Matteo Ricci (Lợi Mã đậu) dịch nguyên văn bộ sách của nhà
toán học trứ danh cổ thời Hy lạp: Euclide, và ấn hành tại Bắc Kinh từ năm 1607 Trịnh Tráng hẹn các giáo sĩ ở lại chờ ông trong tỉnh Thanh Hóa Đến khi thất trận trở về, chúa Trịnh mời các giáo sĩ xuống thuyền để cùng về Hà Nội, dọc đường chỉ nói truyện thiên văn, toán pháp và xem đồng hồ
Về tới Kinh đô (Kẻ chợ) ngày 2/7/1627, Trịnh Tráng cấp cho các giáo sĩ một căn nhà rất đẹp, vừa dùng làm nhà thờ, vừa dùng để ở Tiếng đồn lan đi khắp xứ, người ta kéo đến rất đông, khiến giáo sĩ phải giảng mỗi ngày bốn lần, có khi sáu lần; mà ngày thì quá ngắn, giáo sĩ nhiều khi phải thức cả đêm để tiếp truyện những người xin tòng giáo hoặc giải tội cho bổn đạo Kết quả rất mãn nguyện ngay từ lúc đầu và càng ngày càng tăng Một người em gái của Chúa Trịnh Tráng cùng 17 người trong thân thích tòng giáo một lượt “Bà này tên thánh là Catarina, nguyên là một nữa sĩ đã thành thơ tất cả cuốn giáo lý, từ việc khai thiên lập địa
đến Chúa Giêsu ra đời, chịu nạn, chịu chết, sống lại và lên trời” (A R Histoire du
Tunquin, tr 115) Ngoài ra, lại còn nhiều võ quan, binh lính, sư sãi cũng xin rửa
tội: Năm đầu 1.200, năm sau 2.000, và năm thứ ba: 3.500 người (…)
Không thụ động, đức tin của các giáo hữu đầu tiên là một đức tin, có khả
nhiều người khác trở lại cùng Chúa Như ông sư kia, sau khi tòng giáo, đã dẫn đến cho cha Đắc Lộ năm trăm người tân tòng
Trang 11Trước tinh thần tông đồ mạnh mẽ của giáo dân Việt Nam, giáo sĩ Đắc Lộ liền nảy ra ý kiến lựa chọn một số phần tử ưu tú, chưa có gia đình, lập thành đoàn thầy giảng, chuyền giúp việc truyền giáo: đó là chủng viện đầu tiên ở Việt Nam
để tiến đến hàng giáo sĩ bản quốc Bốn thầy giảng đầu tiên được làm lễ khấn hứa
là Phanxicô, Anrê, Ynhaxô và Antôn, đều là những tông đồ xuất sắc
Chính trong thời kỳ này giáo sĩ Đắc Lộ bắt đầu soạn cuốn giáo lý bằng tiếng
Việt phiên âm theo mẫu tự La mã gọi là quốc ngữ: cuốn “Phép giảng tám ngày”
Người cũng soạn nhiều kinh và sách ngắm mười lăm sự thương khó Chúa Giêsu Sau một năm rưỡi bình an, giông tố bắt đầu nổi dậy trong Giáo hội mới Do
sự xúc xiểm của quan lại, đầu năm 1630, chúa Trịnh ra lệnh cấm cha Đắc Lộ giảng đạo và phải rút ngay về Ái Môn hoặc Đàng Trong Vì lúc ấy không có tầu
đi Áo Môn, giáo sĩ bị giải xuống thuyền để “tống khứ” vào xứ Nam Không ngờ cuộc lưu đày ấy trở nên một cuộc hành trình thỏa mãn: Trong ba tuần lênh đênh mặt biển, giáo sĩ đã rửa tội được 24 trong số 36 người lính có phận sự thi hành án trục xuất giáo sĩ Sau cùng viên đội trưởng cũng xin rửa tội, lấy tên thánh là Augutinô Từ đó người mang án phát lưu trở nên chủ nhân ông chiếc thuyền Nhà nước Thay vì chở giáo sĩ đến hải phận Đàng Trong, họ để giáo sĩ lên bộ ở Bắc
Bố Chính, để gặp các giáo hữu miền này
Cha Đắc Lộ hoạt động kín đáo ở vùng Bố Chính, Nghệ An trong bốn tháng, rồi lại gặp hai cha Dòng Tên khác đưa tàu Bồ Đào Nha đến đón ở Cửa Chúa (Nghệ An) và đen về Hà Nội Chúa Trịnh Tráng biết vậy nhưng không nói gì, đến khi tàu bán hết hàng và nhổ neo, chúa sai người đến truyền cho cả bốn giáo sĩ phải rời xứ (tháng 5/1630)
Gạt nước mắt từ giã giáo hữu Đàng Ngoài, giáo sĩ Đắc Lộ đem theo một bức thư của họ viết bằng chữ Hán gởi lên Đức Giáo Hoàng Urbanô VIII bày tỏ lòng
Đắc Lộ một thư khác cho Cha Bề trên cả Dòng Tên, thỉnh cầu gởi giáo sĩ đến
truyền giáo (Nguyễn Hồng : Lịch sử truyền giáo ở Việt Nam, tr 140 Nội dung thư
này không khác nhau mấy)
(IV) CỦNG CỐ GIÁO HỘI ĐÀNG TRONG
Sau ba năm hai tháng ở xứ Bắc, Cha Đắc Lộ rút lui về Áo Môn, “lòng sầu vô
hạn” vì nhớ giáo hữu Việt Nam (…)
Sau mười năm ở Áo Môn, giáo sĩ Đắc Lộ lại được cử sang xứ Nam lần thứ hai vào tháng 2 năm 1640 Lúc ấy trong xứ có chừng 50.000 giáo hữu (Statistiques A Brou) mà không có một linh mục nào, vì năm trước, chúa Thượng
[ 20 ] (Thư này có đăng bằng tiếng Pháp trong Mission de la Cochinchine et du Tonkin (1858) trang 381-382
Cha Mutius Vitelleschi Bề trên Cả D ng Tên đã đệ nạp thư này lên Đức Giáo Hoàng)
Trang 12Nguyễn Phúc Lan (1635 - 1648) đã trục xuất tất cả các giáo sĩ, và Cha Bề trên Buzomi đã từ trần sau 24 năm tận tụy với Giáo hội này
Sau khi chinh phục được cảm tình của viên bang trưởng Nhật Kiều ở Hội
An, giáo sĩ Đắc Lộ được ông ta dẫn lên yết kiến chúa Thượng ở Kim Long Bao nhiêu tiền mang theo để chi dụng trong một năm, giáo sĩ dùng hết để mua lễ vật dâng tặng cho nhà vương, được vương đối đãi rất có cảm tình Bà Minh Đức Vương Thái Phi, sau mười bốn năm xa cách, rất sung sướng được gặp lại giáo sĩ;
bà mời giáo sĩ về dinh và kêu gọi các giáo hữu đến để chịu các phép Bí tích Ngày nào Cha Đắc Lộ cũng làm lễ trong nhà thờ bà lập ở trong dinh bà Trong 35 ngày, giáo sĩ rửa tội được 94 người, trong đó có ba bà có họ gần với nhà vương và một thầy sãi
Đến khi trở về Hội an, tầu Bồ Đào Nha đã trẩy rồi, quan Cai bộ Quảng Nam
mà giáo sĩ gọi là “Onghebo” tức Ông Nghè Bộ, ra lệnh cho giáo sĩ phải rời xứ bất
cứ bằng cách nào, “dầu phải đi trên mặt nước” Giáo sĩ buộc lòng phải mua một chiếc thuyền, rồi cùng với một giáo sĩ khác, và ba thanh niên công giáo tự lái lấy thuyền vượt sóng Thái Bình Dương đi Áo Môn Thật là một cuộc phiêu lưu nguy hiểm, nhưng “nhờ ơn Chúa dẫn dắt” thuyền đã tới bến bình an ngày 20/09/1640
Ba tháng sau, Cha Đắc Lộ trở lại Đàng Trong lần thứ ba vào ngày áp lễ Sinh nhật 1640 cùng với giáo sĩ Benoit de Mattos, để rồi lại bị trục xuất vào ngày 2 tháng 7 năm 1641 Trong thời gian này, sau khi hoạt động ít lâu ở Quảng Nam, hai giáo sĩ chia tay, de Mattos lên phía Bắc: Thuận Hóa, Quảng ình, giáp giới Đàng Ngoài; Đắc Lộ xuống miền Nam: Quảng Ngãi, Qui-Nhơn, Phú Yên, giáp giới Chiêm Thành Riêng ở họ Phú Yên, trong hai tháng, giáo sĩ đã rửa tội được
90 người trong số đó cớ một thanh niên 16 tuổi sau này sẽ là vị Tử đạo tiên khởi: thầy giảng Anrê Phú Yên Cuộc rửa tội này cử hành trong bốn ngày liền ngay trong dinh quan Trấn Thủ Trấn Biên dinh, lúc ấy là ông Phó tướng Nguyễn Phúc Vinh; và người đứng tổ chức cuộc lễ lại chính là bà vợ quan Trấn thủ, tức công chúc Ngọc Liên, trưởng nữ chúa Sãi, chị ruột chúa Thượng Bà này tòng giáo từ năm 1636, được rửa tội ngay tại Phú Yên, lấy tên thánh là Maria Mađalêna cũng như bà Minh Đức Vương Thái Phi, hẳn là do gương sáng hoặc ảnh hưởng của bà
Minh Đức vậy (Phạm Đình Khiêm : Người Chứng Thứ Nhất, tr 58-68)
Lần thứ tư giáo sĩ Đắc Lộ lưu trú ở xứ Nam tương đối lâu hơn cả: từ cuối tháng giêng 1642 đến tháng chín 1643 Chính trong thời kỳ này, giáo sĩ thành lập
giảng đầu tiên làm lễ khấn ngày 31 tháng 7 năm 1643, sau này sẽ có ba vị tử đạo: Anrê Phú Yên đã nói trên, Y-nha-xô Quảng Trị, cựu quan ở Chính Dinh, thủ lãnh các thầy giảng, và Vinh Sơn Quảng Ngãi cũng 19 tuổi như An Rê Sau khi cha Đắc Lộ tạm rời xứ, mười thầy chia nhau đi khắp nơi thăm viếng bổn đạo và rửa tội được 596 người
Trang 13Với một lòng trung kiên hiếm có, giáo sĩ Đắc Lộ còn vượt trùng dương đến
xứ Nam lần thứ năm, và là lần chót, vào đầu tháng ba 1644 Đây là giai đoạn “leo núi Sọ” của nhà truyền giáo Trong khi đoàn tông đồ được cảm tình của chúa Thượng hơn mọi khi và năng lui tới nhà các quan đại thần để thảo luận về tôn giáo, thì bỗng nhiên do mật lệnh của Tống Thị, một dâm hậu phản phúc và ghét đạo, “Ông Nghè Bộ” Quảng Nam cho đến vây nhà Cha Đắc Lộ ở Hội An, bắt thầy giảng An Rê Phú Yên điệu đến Dinh trấn Thanh Chiêm (Dinh Chiêm) Nội ngày hôm sau, 26 tháng 7 năm 1644, An rê Phú Yên anh dũng đổ máu xưng tỏ Đức tin: đó là “Người chứng thứ nhất” của Chúa Giêsu ở xứ Nam, và cũng đáng
kể là tiên khởi tử đạo của toàn quốc Đời sống nhân đức, cái chết anh hùng và các phép lạ lẫy lừng của người từ Việt Nam qua Âu Châu đã chấn động dư luận thời
ấy và còn gây ảnh hưởng cho bao thế hệ về sau (Xin xem cuốn Người Chứng Thứ
nhất (Tinh Việt 1959)
Hai tháng sau, đến lượt chính giáo sĩ Đắc Lộ bị chúa Thượng ghép án tử hình, sau đổi ra án trục xuất, làm cho giáo sĩ vừa tiếc phúc tử đạo, vừa buồn vì sự biệt ly
Người rời xứ Nam ngày 3 tháng 7 năm 1645, nhưng “lòng và trí lúc nào cũng để cả ở xứ Nam cũng như xứ Bắc” Tính cả năm thời kỳ, người chỉ ở Đàng Trong không quá năm năm bảy tháng, nhưng đã đem đến cho Giáo Hội này, những tiến triển quan trọng đã củng cố nền tảng của Giáo Hội bằng tổ chức thầy giảng, và nhất là bằng máu các vị tử đạo đầu tiên
(V) SỨ GIẢ CỦA GIÁO HỘI VIỆT NAM TẠI ÂU CHÂU
Rời Việt Nam ngày 3 tháng 7 năm 1645, hai mươi ngày sau, giáo sĩ Đắc Lộ tới Áo Môn Bề trên Dòng Tên tại đây thấy không thể để người trở lại Đàng trong được vì làm như thế là khiêu khích nhà cầm quyền ở đó, liền quyết định cử người
đi Âu châu để tìm sự giúp đỡ về đường thiêng liêng và thực tế Trong khi sửa soạn và chờ ngày lên đường, Cha Đắc Lộ dạy tiếng Việt cho hai cha khác có nhiệm vụ đến thế người ở Đàng trong: cha Metello Saccano và cha Carlos della Rocca, đều là người Ý
Ngày 20 tháng 12 năm 1645, hai cha này đáp tầu đi xứ Nam thì giáo sĩ Đắc
Lộ đáp tầu đi Âu Châu với sứ mạng rõ rệt:
- Tâu trình Đức Thánh Cha nhu cầu cần thiết của giáo hữu Việt Nam cần có Giám Mục;
- Bày tỏ cho các vua chúa công giáo biết sự thiếu thốn cực độ của các cha ở các xứ truyền giáo tốt đẹp ấy;
- Trình bày cùng cha Bề trên Cả những hy vọng lớn lao về việc làm cho các dân tộc đó trở lại cùng Chúa, nếu có đủ số người truyền giáo rao giảng Phúc Âm
Trang 14Cha Đắc Lộ định đem một người Trung Hoa, một người ở xứ Bắc và một người xứ Nam đi Âu Châu với người để giới thiệu ba Giáo Hội mới đó, song vì
có ý kiến Bề trên, người chỉ đem theo một người Trung Hoa Nhưng một sứ giả
vô hình của Giáo Hội Việt Nam, vị tử đạo An Rê Phú Yên, đã đi theo Cha Đắc
Lộ, và đã đóng giữ vai trò then chốt trong công cuộc lớn này, như sau đây chúng tôi sẽ nói rõ
Sau 25 ngày vượt biển trong một đoàn gồm tám chiếc tàu lớn của người Bồ Đào Nha, cha Đắc Lộ đến Malacca (Nam Dương quần đảo) ngày 14 tháng Giêng năm 1646, chính là ngày người Hòa Lan kỷ niệm cuộc chiếm đoạt đảo này được sáu năm Cha Đắc Lộ nhớ lại 23 năm trước, khi đi qua đây, đã chứng kiến bao nhiêu công cuộc công giáo do người Bồ Đào Nha gây dựng mà nay chỉ còn đống tro tàn dưới ảnh hưởng bài công giáo của người Hòa Lan, giáo sĩ đã phải đau lòng lắm
Tuân theo lời dặn của Bề Trên, người rời đoàn tàu Bồ Đào Nha, nhờ đáp tàu Hòa Lan để về Âu Châu cho mau chóng hơn, vì lẽ tầu Bồ Đào Nha thường ghé ở lại Goa (Ấn Độ) rất lâu Sau 40 ngày chờ đợi vô hiệu, người liền đi Djakarta (thủ
đô Nam Dương) hy vọng ở đấy có nhiều chuyến tàu đi Âu Châu hơn
Không ngờ vì lòng sốt sắng, vị Tông Đồ lại bị nhà cầm quyền ở đây bắt giam cực khổ luôn trong ba tháng, chỉ vì khi đến nơi, và trong thời gian chờ đợi (năm tháng) người đã truyền bá đức tin Công Giáo giữa những người Hòa Lan thệ phản Được giải phóng, giáo sĩ đi Bantan (đảo Java) định nhờ tàu Anh Cát Lợi về
Âu Châu song người bị từ chối từ cũng vì vấn đề chia rẽ tôn giáo Ngày 25 tháng
10 năm 1646, cha Đắc Lộ rời Java trên một chiếc tàu Bồ Đào Nha đi Macassar, trong quần đảo Célèbes Sau năm tháng đợi ở đây, lần này người được một tầu Anh Cát Lợi nhận chở về Âu Châu (…)
Ra đi đầu tháng ba 1648, giáo sĩ Đắc Lộ nhập bọn với đoàn lữ hành qua Chiras và Ispahan, đều là cố đô Ba tư; Tauris, cố đô xứ Médie nay là Azerbaidjan
bị Nga Sô chiếm cứ; Irvan, thủ phủ Xứ Arménie Thượng, dưới chân một ngọn núi cao chót vót và người ta nói xưa kia tầu ông Noe đậu trên đó sau kỳ Đại hồng thủy, nay cũng bị Nga Sô thôn tính Sau đó, giáo sĩ qua xứ Arménie Hạ và xứ Anatolie là đất của người Thổ Nhĩ Kỳ Đến Hải Cảng Smyrne ngày 17 tháng ba năm 1649, giáo sĩ đáp tàu buôn của người Ý, vượt Địa Trung Hải, qua đảo Sicile, sau cùng về đến La Mã hai ngày trước lễ thánh Phêrô và Phaolô tông đồ, 27 tháng
6 năm 1549 Cuộc hành trình mà ngày nay ta có thể thực hiện trong 20 tiếng đồng
hồ bằng phi cơ phản lực đầy đủ tiện nghi, giáo sĩ Đắc Lộ phải kéo dài trong ba năm sáu tháng, trong đó 12 tháng đi bộ, vượt bao hiểm nguy và cực nhọc vì tương lai Công Giáo Việt Nam
Về tới Thủ đô Giáo Hội, Cha Đắc Lộ lo thi hành ngay sứ mạng của người Người đã yết kiến Giáo Hoàng Innocentê X nhiều lần và “hằng ngày đã đến gõ
Trang 15cửa các đức Hồng Y” – như lời người nói – “để tường tình về các Giáo hội mới
kia đang giơ tay ra và hỏi đường lên thiên đàng” (A R., Voy Et Miss., tr 435)
Người đã đệ hai bản điều trần, một lên các Đức Hồng Y ở Bộ truyền giáo, ngày 2 tháng 8 năm 1650, và một lên chính Đức Giáo Hoàng ngày 6 tháng 3 năm
1651 Trong cả hai tài liệu đó, người trình bày đại khái: Hai miền Đàng Trong và Đàng Ngoài nước Việt Nam là một Giáo hội đã có đến 300.000 giáo hữu và mỗi năm tăng thêm ít nhất 15.000 linh hồn, rải rác trên một diện tích bằng cả nước Ý, vậy mà chưa một giáo hữu nào được chịu phép Thêm sức và rất nhiều người chết không được chịu phép Bí tích sau hết, đã vậy lại còn bị bách hại, và đã có bảy người tử vì đạo Để giúp đỡ một Giáo Hội như vậy, đáng lẽ phải cần gởi đi từ 300 đến 400 linh mục mới đủ, nhưng trong thực tế không thể nào thực hiện được một chương trình như vậy, ấy là chưa nói đến sự khó khăn về phương diện chính trị ở các xứ truyền giáo Kết luận, giáo sĩ đề nghị thiết lập ngay hàng giáo sĩ bản quốc,
và muốn vậy, cần phải cử các vị Giám Mục sang để phong chức cho các linh mục bản quốc chọn trong số các thầy giảng
Lúc ấy việc truyền giáo ở các xứ Viễn Đông còn tùy thuộc sự “bảo trợ” (Patronat) của vua nước Bồ Đào Nha, mà chế độ bảo trợ này đã đến lúc tỏ ra có nhiều trở ngại cho sự tiến triển của việc truyền giáo Vì vậy giáo sĩ Đắc Lộ đề nghị một giải pháp đặc biệt: Các vị giám mục sẽ do Tòa Thánh cử thẳng sang Viễn Đông không phải qua Kinh đô Bồ Đào Nha như trước và sẽ mang tước hiệu
đặc biệt là “Đại diện Tông Tòa” (Vicaire Apostolique) tại các dân ngoại (in
partibus infidelium), chứ không phải là “giám mục chính tòa” (Evêques résidentiels)
Sau khi thảo luận nhiều lần, ngày 1 tháng 8 năm 1651, các Hồng Y đề nghị lên Đức Giáo Hoàng cử sang Đông Dương một vị Thượng Phụ Giáo Chủ (Patriarche) hai hoặc ba vị Tổng Giám Mục và 12 Giám mục đều có tước hiệu “in partibus infidelium” Đề nghị ấy bị trả về để nghiên cứu lại
Ba năm đã qua, mà kết quả chưa đạt, giáo sĩ Đắc Lộ rời La Mã đi Ba Lê (11/09/1952) để vận động cho công cuộc truyền giáo và lựa chọn người có thể sung chức Giám mục ở Việt Nam Tại đây, giáo sĩ làm quen với nhóm “Les Bons Amis” đầy tinh thần truyền giáo, nhiệt liệt hưởng ứng chương trình của người, nhất là cha François Pallu, sau này sẽ là một trong hai vị Giám Mục đầu tiên ở Việt Nam và cũng là người sáng lập Hội Truyền Giáo Ngoại quốc tại Ba Lê Nhiều bậc thế giá cũng hưởng ứng bằng cách quyên cúng tiền bạc Sau cùng, chính Đại Hội hàng Giáo Phẩm Pháp hai lần gởi tỉnh nguyện lên Đức Giáo Hoàng, xin cử các Giám Mục sang coi sóc Giáo Hội Việt Nam Bản thỉnh nguyện thứ hai đề ngày 29 tháng 9 năm 1653 có cả chữ ký của bộ Thánh đại- danh Vinh Sơn Phaolô, mà năm 1690 cũng là năm kỷ niệm tam bách chu niên húy-nhật
Trang 16Đến đây cuộc vận động của Cha Đắc Lộ sắp đạt tới thành công, thì cũng là lúc mà người học sử phải đếm xỉa đến vai trò vô hình nhưng có tính cách quyết định của vị sứ giả Việt Nam: thầy giảng Anrê Phú Yên tử đạo
Lúc rời Đàng Trong lần chót, giáo sĩ Đắc Lộ mang theo bên mình một nguồn
an ủi duy nhất: thủ cấp của vị Tử đạo tiên khởi Việt Nam, người con thiêng liêng
từ nay đã trở nên “vị thủ bảo hộ” của người – theo chính lời người nói Tầu đi đến ngang đảo Hải Nam thì gặp phong ba dữ dội, tưởng chết không đất cứu Giáo sĩ cầm đầu của vị tử đạo lên, bảo mọi người quỳ xuống cầu nguyện Chưa đọc hết kinh cầu Đức Mẹ, thì tức khắc bão tố dừng lại, mọi người la lên “Phép lạ! Phép lạ!” Và giáo sĩ đã tới Áo Môn bình an Đến khi được cử đi La Mã, người quyết định đem thủ cấp vị Tử đạo Việt Nam về tận Giáo Đô để chứng đức tin của dân Việt Khi đến biển Nam dương (25 tháng 2 năm 1646) tầu của giáo sĩ đụng đá ngầm, vỡ một miếng lớn Chính lúc ấy, thủ cấp của vị Tử đạo lại được đưa lên cho mọi người cầu nguyện Và Đức Chúa Trời đã làm một phép lạ lẫy lừng khác đến hiển danh Tôi tớ Chúa và cứu Giáo sĩ Đắc Lộ: Đá đã tự động vá vỏ tầu, và tất
cả hành khách đã được bình an vô sự!
Chẳng những bao nhiêu công cuộc vận động của Cha Đắc Lộ về sau đều tùy thuộc ở ơn cứu tử ấy, mà chính vị Tử đạo An Rê còn làm nhiều phép lạ khác ở giữa “Kinh đô Ánh sáng”, (1653) gây nên một trào lưu thiện cảm nồng nhiệt ở Ba
Lê đối với công cuộc truyền giáo ở Việt Nam, và như vậy là trực tiếp giúp vào sự thành công của sứ mạng cha Đắc Lộ Tất cả các sự việc này đều được giáo sĩ Đắc
Lộ ghi chép cặn kẽ nhiều lần trong các tác phẩm của người
Ngoài sự nghiệp truyền giáo, Cha Đắc Lộ còn thực hiện một sự nghiệp văn hóa cực kỳ quan trọng trong sự tiến hóa của xã hội Việt Nam
Nguyên trước kia, người Việt Nam chỉ dùng chữ Hán hoặc chữ Nôm làm phương tiện diễn đạt và truyền bá tư tưởng Hai lối chữ này đều rất khó học, khó nhớ, nên sự phổ biến có phần hạn chế Khi các giáo sĩ Âu Châu tới giảng đạo, các ngài sáng chế ra một lối viết tiếng Việt theo mẫu tự La Mã, thoạt đầu chỉ có ý cho
dễ nhớ bài học Việt Ngữ Đến lượt cha Đắc Lộ, ngài đã làm cho lối phiên âm đó hoàn hảo hơn, đã bắt đầu dùng lối chữ đó để soạn sách, và đến khi về La Mã, đã nhờ ấn quán của Tòa Thánh đúc riêng lối chữ mới để ấn hành các sách đó Như vậy, người là vị có công nhất trong việc thành lập “chữ Quốc ngữ” và chính là thủy tổ các sách Quốc ngữ vậy
Những tác phẩm căn bản đó là:
1) Cuốn giáo lý La tinh và Quốc ngữ đối chiếu, nhan đề: Cathechismus pro
iis qui volunt suscipere Baptismum in octo dies divisus – Phép giảng tám ngày
Trang 17cho kẻ muẩn (muốn) chịu phép rửa tội mà beào (vào) đạo thánh đức Chúa blời (Trời, lời) Cuốn này, giáo sĩ bắt đầu soạn từ lúc giảng đạo ở Đàng Ngoài, và khi
còn là bản thảo, đã được dùng vào việc truyền giáo ở Đàng Ngoài cũng như Đàng Trong, nhất là để huấn luyện các thầy giảng, sau được ấn hành tại La Mã năm
1651 Sách này đã được dịch ra tiếng Xiêm và mới đây Đức Cha Chappoulie đã
dịch ra tiếng Pháp in trọn vẹn trong bộ “Rome et les Missions d’Indochine au
XVII è siècle” Paris, 1943
2) Cuốn tự điển Việt Bồ La, nhan đề: Dictionarium Annamiticum Lusitanum
et Latinum, in tại La Mã cũng năm 1651, dầy gần 5 trang Để soạn sách này, tác giả đã nhờ sự cộng tác của người Việt Nam, nhất là các thầy giảng, giúp người học tiếng trong gần 12 năm hoạt động ở Đàng Ngoài, và cả các nhà truyền giáo khác, nhất là giáo sĩ Francesco de Pina, D ng Tên Tác giả cũng lợi dụng bản thảo cuốn tự vị Việt Bồ (Annamiticum - Lusitanum) của Gaspard de Amaral,
và cuốn Bồ Việt (Lusitanum – Annamiticum) của Antonio Barbosa, cả hai đều là giáo sĩ D ng Tên, đã đến giảng đạo một tời kỳ ở Đàng Ngoài sau cha Đắc Lộ và
Cả ba cuốn sách kể trên thật là những tài liệu vô giá chẳng những vì đã cống hiến cho chữ quốc ngữ một hình thức xác định và một địa vị vững chắc, nó
c n là viên đá đầu tiên của ngữ học, văn học và truyền giáo học ở Việt Nam
Ngoài ra, trong thời kỳ ở Âu Châu, giáo sĩ Đắc Lộ còn cho ấn hành nhiều tác phẩm ngày nay đã trở nên những sử liệu quý giá cho Việt Nam về cả các phương diện lịch sử, địa dư, tôn giáo, phong tục… Quan trọng nhất là cuốn “lịch
sử xứ Bắc Kỳ” bằng tiếng Ý (1650), tiếng Pháp (1651) và tiếng La tinh (1652); và cuốn “Hành trình và Truyền Giáo” bằng tiếng Pháp (1653) sau được dịch ra tiếng Đức (1858) v.v… Ngoài ra giáo sĩ c n tường thuật đầy đủ về cuộc tử đạo của Thầy giảng An Rê trong một cuốn sách tiếng Ý (1652) sau lại viết ra tiếng Pháp (1653)
(VII) NHỮNG NĂM CUỐI ĐỜI
Tuổi lục tuần, thường tình là tuổi nghỉ ngơi, hưu dưỡng, người ta tìm về quê hương vui thú điền viên Giáo sĩ Đắc Lộ, trái lại, giữa 61 tuổi, lại rời quê hương ra
Trang 18đi một lần nữa, với sứ mạng lãnh đạo một cơ sở truyền giáo của Dòng Tên ở một
xứ hoàn toàn xa lạ: nước Ba Tư
(…)
Lúc cuộc đời xế bóng, người được vui mừng thấy những cuộc vận động nhiệt thành của mình mấy năm trước đã được hoàn toàn thực hiện Ngày 29 tháng 7 năm1658, Đức Giáo hoàng Alexandre VII ký sắc bổ nhiệm hai vị Giám mục để gởi sang Việt Nam Năm sau lại có đạo sắc ngày 9 tháng 9 thành lập và qui định ranh giới hai địa phận công giáo đầu tiên ở Việt Nam: Đàng Trong và Đàng Ngoài Trong một bức thư đề ngày 3 tháng 6 năm 1659, giáo sĩ Đắc Lộ đã biểu lộ sự hoan
hỉ về kết quả tốt đẹp ấy
(…) Theo chứng cớ của người đồng thời, giáo sĩ Đắc Lộ từ trần, những người Hồi Giáo tuy không cùng tín ngưỡng, nhưng họ coi người như một đấng thánh, một người thượng trí, và họ đổ xô nhau đi theo quan tài của người, làm thành một đám tang hiếm có ở kinh đô xứ “Ngàn lẻ một đêm” này Anh em trong Dòng cũng tôn kính người như bậc đáng kính vì người đã thực hành mọi nhân đức và lập công nghiệp vô vàn (Ménologe : Alexandre de Rhodes)
PHẠM ĐÌNH KHIÊM [ 21 ]
II- CHƯƠNG HAI: PHÂN TÍCH CÁC TÁC PHẨM CHỮ QUỐC NGỮ
CỦA ALEXANDRE DE RHODES [ 22 ]
A - Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ pháp tiếng Việt
B- Phép Giảng Tám Ngày, chữ Quốc ngữ được điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác
C- Một nền văn học công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes” : Một số tự điển và bài viết trong Văn Học Nhà Đạo
Phân tích các tác phẩm chữ quốc ngữ của Alexandre de Rhodes
Trước khi nhận định phần đóng góp của giáo sĩ Alexandre de Rhodes trong công cuộc sáng chế chữ quốc ngữ và hình thành ngôn ngữ Công giáo, chúng ta
hãy lần lượt giới thiệu ba tác phẩm chữ quốc ngữ của giáo sĩ là Tự Điển
Việt-Bồ-La, Văn Phạm Việt Ngữ và Phép Giảng Tám Ngày
[ 21 ] Xin xem: Nguyễn Khắc Xuyên – Phạm Đình Khiêm, tái bản trọn cuốn “PHÉP GIẢNG TÁM NGÀY”, của
ALEXANDRE DE RHODES, Tinh Việt Văn Đoàn (năm 1961), từ trang XIV – XXVI
[22] Võ Long Tê, “ Lịch sử văn học Công Giáo Việt Nam" , cuốn 1, của, nxb Tư Duy, Sài Gòn 1965, tr.222-258
Trang 19A - Tự điển Việt-Bồ-La, Ngữ phâp tiếng Việt
Tâc giả còn cho biết đê học tiếng Việt với những người bản xứ trong thời gian 12 năm ở Đăng Trong vă Đăng Ngoăi nhất lă với câc giâo sĩ khâc như giâo sĩ Francesco de Pina Tâc giả lợi dụng cuốn tự điển Việt Bồ của Gaspar d‟Amaral
Cuốn tự điển năy dăy gần 500 trang, mỗi trang chia lăm hai cột, đânh số theo cột chứ không theo trang
Tâc giả sưu tập những tiếng đơn vă thănh ngữ thông dụng
Chẳng hạn như tiếng âc, tâc giả lần lượt đưa ra tiếng đồng nghĩa dữ vă câc
thănh ngữ: âc tđm (lắ dữ = lòng dữ) đại âc (dữ lắm), chơi âc, hay âc, âc nghiệp
Về tiếng ăn, tâc giả lần lượt đưa ra câc thănh ngữ: ăn cơm, ăn mầng, ăn tết,
ăn măy, ăn mót, ăn via, ăn tâp, ăn chay, ăn chay cả, ăn kiíng, ăn lại, ăn tiền, ăn gĩy, ăn chỉ, ăn lở, ăn lêi, của tău ăn, gĩy ăn mực, buầm ăn rỡu, buầm ăn gió, ăn năn tội, ăn trộm, ăn cướp, cưa ăn gỗ
Tâc giả còn định nghĩa theo nhận định của người đương thời Chẳng hạn
như tiếng Bă lêo lă một bă đâng kính, bă giă lă người đăn bă đê có tuổi, bă sang lă
một vị cung phi của nhă vua đê quâ cố (Theo Thanh Lêng, sđd, trang 22)
[ 23 ] Theo bản dịch của Thanh Lêng, Biểu nhất lăm văn học cận đại, tập sđd, trang Cau Bang = Cao bằng, bđy
giờ thuộc về nhă Mạc, Ciampa = Chiím Thănh, Laorum = Lăo, Siam = Thâi Lan
[ 24 ] Xem chương VI, tiểu mục Gaspar d’Amaral vă Antonio Barbosa
Trang 20Cuốn tự điển Việt-Bồ-La của giáo sĩ Alexandre de Rhodes không những là hóa thân của các tự điển của Gaspar d‟Amaral và Antonio Barbosa, mà còn là tài liệu chắc chắn về hình thức chữ quốc ngữ Nhờ công trình san định và dịch nghĩa của Alaxandre de Rhodes mà chúng ta có tài liệu để tìm hiểu sự tiến hóa của ngôn ngữ văn tự Việt Nam
2) Văn Phạm Việt Ngữ
Như trên đã nói, đây là một tác phẩm riêng biệt bằng tiếng La tinh đóng
chung vào với cuốn tự điển Việt-Bồ-La và mang tựa đề: Linguae annamticae seu
Tunkinensis Brevis Declaratio (Tiểu lược về tiếng Việt hay tiếng Đông Kinh)
Mở đầu tác giả nói chung về những đặc tính căn bản của tiếng Việt Theo tác giả, tiếng Việt cũng như tiếng Tàu, tiếng Nhật không có giống loại, từ ngữ không biến thể như các thứ tiếng Tây phương Để chỉ định thời gian cho động từ, có những tiếng thêm vào động từ Các dấu giọng lên xuống là linh hồn của tiếng Việt
Tiếp theo là 8 chương bàn về văn phạm Việt ngữ
Chương I: De littéris et syllabis quibus haec linguae constat (Bàn về chữ
và vần cấu tạo nói tiếng Việt)
Sau khi luận rằng chữ nôm khó học, có thể có hơn tám mươi ngàn tiếng khác nhau nên khó mà thông thạo hết được, tác giả bàn về các mẫu tự chữ quốc ngữ:
“Tiếng Bắc kỳ có hết các chữ như tiếng chúng ta, chỉ tiếu có chữ z Thực ra học không có chữ F của chúng ta mà chỉ có chữ ph hay đúng hơn chữ phỉ Hy Lạp Tuy vậy chúng tôi có dùng chữ ph cho dễ dàng hơn và tiện lợi hơn, cần sao tránh được sự hiểu lẫn lộn Ngoài ra, còn phải trên bốn chữ mới để phát âm mấy tiếng
riêng biệt mà trong tiếng Âu Châu không có Bốn chữ đó là hai chữ nguyên âm ơ
Trang 21Tác giả có tiểu xảo đưa ra tiếng Việt tương đương với nốt nhạc để chứng
minh lập luận: dò (pedica) rệ (radix), mi (nomen cojusdam familiae) pha (miscere) sổ (cathalogus) lá (folium) (…)
Chương III: De Mominibus (bàn về danh từ)
Tác giả chia làm hai hoạt danh từ: một loại thuần túy là danh từ, không thể
trở nên lại tiếng khác được như: Trời, Đất, Người, một loại vừa có thể là danh từ, vừa có thể là động từ, tùy phận sự của nó trong câu, như chèo vừa là cái chèo, vừa là công việc chèo
Bàn về số ít nhiều của danh từ, tác giả nêu ra ba cách chỉ số nhiều:
Cách thứ nhất là thêm trước danh từ những tiếng như: Những, mớ, chúng
Cách thứ hai là thêm những tiếng tổng hợp như coên (quân), các, mọi, nheo (nhiều), muấm (muốn) hết
Cách thứ ba là dùng những tiếng chỉ giống chỉ loại như: Muâng (muông) chim, cây cối, hoa quả
Chương IV: De Pronominibus (Bàn về đại từ)
Tác giả xác nhận tính cách phong phú và phiền phức của các đại từ Việt Nam và giải thích từng đại từ
Chương V: De adjectibus (Bàn về trạng từ)
Chương VI: De verbis (Bàn về động từ)
Chương VII: De reliquis orationis partibus indeclinabilibus (Bàn về những loại tiếng không có dạng)
Chương VIII: De praecepta quaedam ad syntaxim pertinentia (Bàn về nguyên tắc liên quan đến cú pháp)
Tác giả nêu tám nguyên tắc:
Nguyên tắc 1: Chủ từ phải đi trước phải đi trước động từ, nếu không, chủ từ
không còn là chủ từ nữa Thí dụ:
Mầy cười
Cười mầy
Trang 22Nguyên tắc 2: Danh từ nào đi theo động từ thì là túc từ của động từ ấy Thí
Nguyên tắc 5: Trạng từ thường có ý nghĩa một động từ vì thế thường không
cần phải dùng đến động từ, nhất là khi trước trạng từ còn có một tiếng chỉ định rõ ràng Thí dụ:
Núi nầy cao
Thằng ấy lành
Áo này cũ
Mlời Chúa thật
Nguyên tắc 6: Tiếng Việt ít dùng liên từ, bỏ đi thì lời nói trở nên văn hoa
hơn Thí dụ như câu: kẻ có đạo thì thức sớm đaọc (đọc) kinh, lần hột, đi xem lễ,
thí của cho kẻ khó, làm phúc…
Nguyên tắc 7: Phải lập lại động từ trước từng động từ một Thí dụ:
Tôi lạy thầy, tôi bởi làng mà đến, tôi đã nhaọc (nhọc), tôi xin xưng tội, tôi
xin chịu mình Chúa
Nguyên tắc 8: Có những tiếng Việt có vẻ sang trọng đài các khó có thể dịch
ra bằng một tiếng ngoại ngữ, chẳng hạn tiếng thì vừa đề chỉ nguyên nhân (có muấn (muốn) thì làm), vừa để chỉ tính cách đối lập (có kẻ thì lành, có kẻ thì dữ)
(Theo Thanh Lãng, sđd, trang 55-56 )
Cuốn Văn phạm Việt ngữ là một tài liệu về hệ thống phiên âm Việt ngữ phôi thai và chứng tỏ tác giả hiểu rõ đặt điểm âm thanh và cú pháp của tiếng Việt
Trang 23B- Phép Giảng Tám Ngày, chữ Quốc ngữ đƣợc điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác
Sách dày 324 trang khổ 17 x 23 in bằng hai thứ tiếng song song, bên trái là
La ngữ, bên phải là Việt ngữ Để tiện việc so sánh, tác giả ghi mẫu tự theo thứ tự
từ a đến z trước mỗi câu La-ngữ và Việt-ngữ tương đương
Theo hiện tình nghiên cứu, chúng ta không biết ấn bản đầu tiên gồm bao nhiêu cuốn cũng như không rõ sách có được tái bản hay không Có điều chắc chắn là cuốn phép giảng tám ngày được sao chép rất nhiều hoặc bằng chữ quốc ngữ hoặc bằng chữ nôm, và được phiên dịch ra tiếng Thái Lan và tiếng Pháp
Chúng ta không rõ sách được soạn thảo năm nào, chỉ biết rằng năm 1649 khi
về đến Rôma, tác giả đã dự liệu xuất bản cuốn Phép giảng tám ngày, cuốn Tự điển Việt-Bồ-La và Văn phạm Việt ngữ Nguyễn Khắc Xuyên ức đoán rằng cuốn Phép giảng tám ngày “đã được biên soạn hay khởi thảo từ những năm 1627 -
1629” (Nguyễn Khắc Xuyên, Giáo sĩ A-lịch-sơn Đắc-lộ với chữ quốc-ngữ bđd,
trang 97) Điều có thể tin được là sách này được soạn thảo trong kinh nghiệm
truyền giáo, sao chép tay bằng chữ quốc ngữ hay chữ nôm để thông dụng trong các giáo đoàn, sau này được tác giả tăng bổ trước khi ấn hành năm 1651
Theo sự nghiên cứu của André Marillier, “bản văn La ngữ của cuốn Phép giảng tám ngày không phải là quá đơn giản sơ lược, cũng không phải là theo cú
pháp cổ điển: nhiều lúc chỉ là phiên dịch thẳng từ câu văn Việt ngữ” (Xem tái bản
của Tinh-Việt xb Sài-g n, 1961 Chúng ta hãy lưu ý đến lối chính tả đương thời, đặc biệt về lối viết hoa các vế các nhận định) Cũng như tác giả đã thêm phần chú
giải La ngữ trong cuốn Tự điển theo lệnh của các Đức Hồng Y, tác giả đã phụ thêm thoại La-ngữ để cuốn Phép giảng tám ngày giúp ích cho các thừa sai
Sách chia làm tám ngày nhƣ nhan đề đã nói rõ, mỗi ngày là một chương,
không ghi đại mục và tiểu mục Trong khi sao lục để tái bản, Andre Marillier có
dựa vào nguyên tác để đặt đại mục và tiểu mục (Xem tái bản của Tinh Việt, xb
Sài-g n, 1961 Chúng ta hãy lưu ý đến lối chính tả đương thời, đặc biệt về lối viết
Trang 24hoa các vế của nhân-danh) giúp ta thấy rõ bố cục toàn sách và toàn chương như
sau:
“Ngày thứ nhất: Đạo thánh đức Chúa Trời”
- Đời này, đời sau
- Trời và đức Chúa Trời
- Ba đấng bề trên
- Ba đấng thưởng phạt
- Đạo Chúa không phải đạo Pha lang
Ngày thứ hai: Đức Chúa trời
- Đức Chúa trời là cội rễ đầu
- … chứ không phải loài người
- cũng không phải một thể chất nào
- Cội rễ đầu là đấng thế nào?
- Ba loài như bậc thang
- Năm ngày sau
- Loài người: ông Adam
- Bà Eva
- Ngày thứ bảy
- Trong vườn vui vẻ
- Tổ tông phạm tội
Ngày thứ tƣ: Những đạo vạy
- Con cháu ông Adam
- Ông Noe và lụt cả
Trang 25- Tháp Babel
- Nước Đại minh phân ra nhiều đạo vậy
- Đạo bụt: giáo ngoài và giáo trong
- Đạo Lão
- Đạo Nho: Việc thờ ông Khổng
- Những sự dối trá của Thích ca về linh hồn ta
- Những điều lầm lỗi trong việc thờ cúng cha mẹ
- Linh hồn ta chẳng hay chết
Ngày thứ năm: Một đức Chúa Trời Ba Ngôi–Đức Chúa trời ra đời cứu thế
- Một Đức Chúa Trời ba ngôi
- Đức Chúa Trời ra đời cứu thế
- Kẻ chăn chiên đến thờ lạy
- Ba vua dâng cúng của lễ
- Lạy ảnh tượng Đức Mẹ và đức Chúa Con
Ngày thứ sáu: Thầy thuốc cả
- Chúa Jesu tại Nazareth
- Chúa Jesu giảng đạo “gratia”
- Chúa Jesu làm nhiều phép lạ
Trang 26- Con trai bà góa
- Chúa Jesu bỏ mình là Đức Chúa Trời
- Người Seribae và Pharisaei ghen ghét chúa Jesu
- Người đau nặng đến ngày thứ bảy
- Người liệt chân tay
- Người tối mắt từ thủa mới sinh
- Chúa Jesu biến hình
- Ông Lazaro sống lại
- Người Iudaeo lo toan giết Chúa Jesu
Ngày thứ bảy: con chiên lành và chó sói dữ
- Thằng Juda nộp Chúa Jesu cho oan gia
- Quân dữ đến bắt Chúa Jesu
- Đến thày cả Caipha
- Trước quan tòa Pontio Pilato
- Lên núi Calvaria
- Chúa Jesu bị đóng đanh
- Chúa Jesu linh hồn ra khỏi xác
- Trước ảnh Chúa Jesu bị đóng đanh
- Viếng địa ngục “limbo”
- Chúa Jesu trong mả
- Chúa Jesu sống lại
- Hiện ra cùng đầy tớ
- Chúa Jesu lên trời
- Chúa Spirito Sancto hiện xuống
- Dân Jerusalem tan hoang
Ngày thứ tám: Mười bậc thang lên thiên đàng
- Phán xét chung
- Những dấu hiện báo trước
- Mọi người đều sống lại
- Chúa Jesu lại xuống thế phán xét
- Lên thiên đàng hay xuống địa ngục
- Mười điều răn
- Lời răn thứ nhất
Trang 27- Lời răn thứ hai
- Lời răn thứ ba
- Lời răn thứ tư
- Lời răn thứ năm
- Lời răn thứ sáu
- Lời răn thứ bảy
- Lời răn thứ tám
- Lời răn thứ chín và thứ mười
- Dọn mình chịu phép rửa tội
- Những điều trở ngại.”
Qua sự phân tích trên đây, chúng ta thấy bố cục của cuốn Phép giảng tám ngày rất chặt chẽ, nội dung cốt trình bày giáo lý trong màu sắc minh giáo, thích hợp với văn hóa và xã hội Việt Nam trong tiền bán thế kỷ XVII
*
Với ba tác phẩm này, chữ quốc ngữ đƣợc điển chế và thí nghiệm trong phạm vi sáng tác Một nền văn học công giáo bằng chữ quốc ngữ chính thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes [ 27 ]
C- Một nền văn học công giáo bằng chữ Quốc ngữ chính thức bắt đầu với giáo sĩ Alexandre de Rhodes” : Địa vị vủa giáo sĩ Alexandre de Rhodes trong văn học Chúng tôi xin chia ra 2 tiểu mục chính :
I/ GIÁO SĨ ALEXANDRE DE RHODES VÀ CÔNG TRÌNH HOÀN
Khi giáo sĩ Alexandre de Rhodes, đến Việt Nam năm 1625 công việc la mã
[ 27 ] Là công dân Đức Giáo Hoàng như đã nói ở phần tiểu sử giáo sĩ Alexandre de Rhodes hoạt động vì sứ
mạng truyền bá Phúc Âm Công trình văn học của giáo sĩ dù to tát đến đâu cũng là phụ thuộc sánh với sự nghiệp thành lập Giáo Hội Việt Nam mà giáo sĩ đã tích cực góp phần xây dựng Trong nhận định này, tôi xin đồng ý với Phạm Đình Khiêm khi tác giả này chỉ trích luận điệu sai lầm của sử gia Iaboulet: Le père Alexandre de Rhodes Introduisit le Christianisme et la France au Việt Nam (Giáo sĩ Đắc Lộ đem đạo Thiên Chúa và nước Pháp vào Việt Nam), La geste française en Indochine, Tome I, trang 9 Xem chú thích 3, trang 204 – 2 5 trong sách Người chứng thứ nhất của Phạm Đình Khiêm, Tinh Việt, xb, Sài gòn, 1959
[ 28 ] Võ Long Tê, “ Lịch sử văn học Công Giáo Việt Nam" , cuốn 1, của, nxb Tư Duy, Sài Gòn 1965, trang
238-249
Trang 28Hoàn cảnh khách quan thúc đẩy giáo sĩ Alexandre de Rhodes theo dõi phong trào, và nhờ khả năng đặc biệt về ngôn ngữ, giáo sĩ đã hoàn thành việc sáng chế chữ quốc ngữ một cách tốt đẹp
1- Khả năng đa ngữ
], lúc đặt chân lên đất Ấn Độ, giáo sĩ
Alexandre de Rhodes đã thông thạo ba ngôn ngữ cổ và ba sinh ngữ thông dụng,
ba ngôn ngữ cổ là tiếng Do Thái, tiếng Hy Lạp, tiếng La Tinh Ba sinh ngữ thông dụng là tiếng Pháp, tiếng Ý là tiếng nói trong thủ đô Giáo hội Rôma, tiếng Bồ là tiếng phổ thông trong đế quốc Đồ Đào Nha
Vừa đến Goa, giáo sĩ bắt đầu học tiếng bổn xứ, và chỉ trong ba tháng giáo sĩ
đã có thể giao thiệp và giảng dạy bằng tiếng canarin (Xem Alexandre de Rhodes,
Divers voyages et Missions…Lille 1854)
Đến Áo Môn, giáo sĩ bắt đầu tiếp xúc với chữ Hán và bắt đầu học chữ Nhật
vì giáo sĩ được chỉ định đến truyền giáo ở Nhật Bản Theo Nguyễn Khắc Xuyên
(Nguyễn Khắc Xuyên, Giáo sĩ A-lịch-sơn Đắc Lộ với chữ quốc ngữ, bđd, trang 94) “mặc dù giáo sĩ có lẽ không viết được Hán tự, song ngài có thể tạm nói được
tiếng Trung Hoa (và có lẽ cả tiếng Nhật) Tắt một lời, trong cuốn Văn phạm…, ngài đã có lần so sánh các âm vận Nhật ngữ.”
Nhưng ý Chúa Quan Phòng lại đưa giáo sĩ Alexandre de Rhodes đến Đàng Trong và giáo sĩ có dịp học hỏi Việt ngữ Giáo sĩ thú nhận: “Vừa tới miền Nam
và nghe người bản xứ nói với nhau, nhất là phụ nữ, thì tôi tưởng như được nghe chim líu lo hót, đồng thời tôi tưởng không bao giờ có thể học được thứ tiếng
] Nhưng đó chỉ là cảm tưởng đầu tiên Sau sáu tháng học hỏi nhờ một
thanh niên Việt Nam và nhất là nhờ giáo sĩ Francesco de Pina, giáo sĩ đã có thể giao thiệp, giảng dạy bằng tiếng Việt
Sai hai năm ở Đàng Trong, giáo sĩ lại được phải ra Đàng Ngoài nên Giáo sĩ
có cơ hội so sánh cách phát âm ở hai miền Từ năm 1630 đến 1640, giáo sĩ làm giáo sư thần học ở Áo Môn Đây là thời gian thuận tiện cho giáo sĩ nghiên cứu thêm về chữ quốc ngữ Chúng ta có thể phỏng đoán rằng khi trở lại Đàng Trong năm 1649 để thay thế giáo sĩ Buzomi, giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã khởi thảo
[ 29 ] Võ Long Tê, “Lịch sử công giáo Việt Nam”, cuốn 1, xin xem phần thứ nhất, chương VI
[ 30 ] Võ Long Tê, “Lịch sử công giáo Việt Nam”, cuốn 1, xin xem phần thứ nhất, chương IV
[ 31 ] Võ Long Tê, “Lịch sử công giáo Việt Nam”, cuốn 1, xin xem phần Tiểu sử, chương VII
[ 32 ] Alexandre de Rhodes, Tự Điển Việt-La-Bồ, cột 801 Nguyễn Khắc Xuyên trích dịch trong Tác-phẩm
quốc-ngữ đầu tiên: Phép giảng tám ngày, trang LI
Trang 29các tác phẩm chữ quốc ngữ Tiếc rằng chúng ta chưa tìm ra tài liệu để hiểu biết về bảo thảo hay tiền thân của các tác phẩm in năm 1651
2) Hệ thống mẫu tự phiên âm
Qua ba tác phẩm chữ quốc ngữ của giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chúng ta một hệ thống mẫu tự, phiên âm gần như là hoàn toàn, không khác hệ thống thông dụng hiện nay bao nhiêu
a) Về nguyên âm, Alexandre de Rhodes dùng nguyên âm đơn, nguyên âm
kép và nguyên âm ba
Nguyên âm đơn: a ă â e ê i o ô ơ u ơ
Nguyên âm kép: ai ay ao au âu
Nguyên âm ba: iai iay iây
ieo iêu
ioi iôi iơi
iơũ
(iua) iưa iơu iuô
Oai uay uây
uie uây
ươi ưởru
Chúng ta nhận thấy trước Alexandre de Rhodes chưa có nguyên âm ba, và
với Alexandre de Rhodes chỉ còn thiếu nguyên âm ba iua, nhưng lại thừa nguyên
âm ba iơũ còn uyê thì viết uiê (nguiên = nguyên)
b) Về phụ âm: giáo sĩ Alexandre de Rhodes dùng những phụ âm đơn như: b,
c, d, đ, g, h, k, l, m, n, q, r, s, t, x, và những phụ âm kép như: bl, ch, gh, kh, ml,
ng, ngh, nh, ph, th, tl
Chúng ta nhận thấy thiếu phụ âm v và các phụ âm kép bl, ml, tl ngày nay
không còn thông dụng nữa
Trang 30c) Về dấu chữ: Giáo sĩ Alexandre de Rhodes dùng đủ các dấu trên chữ I dấu
mũ (^), dấu râu như các chữ ơ, ư dấu (‿) trên các chữ ă và chủ trương bỏ hẵn dấu
Đối chiếu với chữ quốc ngữ ngày nay, chữ quốc ngữ theo giáo sĩ Alexandre
de Rhodes cĩ một số điểm dị biệt
a) Theo phép giảng tám ngày
- ă khơng dùng đúng chỗ, khi khơng cần lại xuất hiện (như hăọc thay vì học, nhăọc thay vì nhọc) khi đáng dùng ă lại viết là a (như bàng thay vì băng, mạt hay vì mặt)
- ǒ (cĩ dấu ngửa như ă) thường dùng trước nguyên âm như a hoặc u (như
đoạn thì viết là đǒạn, địa ngục thì viết là địa ngǒục)
- ê thường dùng thay cho â (như lấy thì viết là lếy, đất thì bệt là đết)
- â thường thay cho ơ (như muốn thì viết là muấn, nhường thì viết là nhưăng)
- dấu (tilde) dùng để thay cho ng cuối một chữ (như cũng thì viết là cũ, ơng thì viết là ơũ: tuy nhiên cĩ nhiều chữ vẫn viết với ng như chẳng, chưng)
- ao thường thay cho o (trong ã thay cho ong, lịng thì viết là lã, đĩng thì viết là đảõ, song thì viết là sã)
- ou thường thay cho ơ trong oũ thay cho ơng (như sống thì viết là sĩũ, đồng
thì viết lã địũ, khơng thì viết là khoũ)
- Chữ “Bêta” Hy Lạp (tạm ghi là bv theo Hồng Xuân Hãn) dùng thay cho v (như vua thì viết là bvua, vào thì viết bvèao, vui vẻ thì viết là bvui bvẻ)
- C nhiều khi thay cho q (như quên thì viết là cuên, quyền thì viết là cuyền; tuy nhiên chữ q cĩ lúc vẫn đúng như ngày nay: quan, quỉ)
- Bl dùng thay cho tr, gl hay l (như blời thay vì trời, giời, lời; blái thay vì
trái, lái)
Trang 31- ml thay vì nh hoặc l (như mle thay vì nhẽ hay lẽ; mlớ thay vì nhớn hay lớn)
- tl dùng thay vì tr (như tlước thay vì trước, tlâu thay vì trâu)
- i dùng thay vì y (như nguyên thì viết nguiên)
- Nhiều tiếng được phiên âm theo thổ âm như nhất, nhứt thì viết là nhít; nhân, nhơn thì viết là nhin; rất thì viết là rứt: gửi, gởi thì viết là gưởi; nhiêu thì viết là nhêu; vâng thì viết là bvưng
b) Theo Tự điển Việt-Bồ-La:
- ă vẫn thông dụng trong cuốn Tự diện như đọc thì viết là đăọc, móc thì viết
là măóc, sách thì viết là sắch Nhưng một vài nơi, cuốn tự điển đã phiên âm như ngày nay (như chữ ngọc, tự điển ghi: hãy coi chữ ngăọc , về chữ răọc – răọc, hãy coi chữ rọc- rọc)
- e không còn dùng nữa (chữ e có chữ ngửa như chữ ă) (như da ghi hãy coi dea, dài ghi hãy coi dàei)
- o vẫn còn được duy trì như (chữ o có chữ ngửa như chữ ă) hoa, khoa… Tuy nhiên có một vài sự thay đổi (như về chữ tục thì ghi hãy coi toục, ngục thì ghi hãy coi ngoục)
- ê thường được thay thế bằng chữ â trong rất nhiều chữ đầy thay đềy, đấy thay đếy, đây thay đêy…
- â đã được thay thế bằng ô như ruồi = ruầi, nuôi = nuâi và trâ cũng đã được thay thế bằng ươ (như phương = phưâng cường = cưầng, cưới = cuấi)
nhiều chữ như về chữ rụng thì ghi hãy coi chữ rũ, xũ thì ghi hãy coi chữ xung
- ao thì vẫn dùng tay cho o
- ou vẫn dùng thay cho ô
- Chữ Bêta Hy Lạp (tạm ghi là bv theo Hoàng Xuân Hãn) đã có sự thay đổi (như bvấn = vấn, = bvạt = vạt, bvơ = vơ…) Đó là những chữ có ghi ở mục bêta Đến mục v hoặc u (trong cuốn tự điển thực ra không chữ v song chữ u vừa là chữ
u thay cho v, chúng ta thấy nhiều chữ bắt đầu bằng phụ âm v)
Trang 32- Nhiều chữ c đã thay đế bằng q như quên = cuên, quen = cuen, quiên = cuiên, quơn = cuơn, quăn = cƣăn…)
- Bl vẫn còn dùng như blá (trá), blả (trả), blúc blắc (lúc lắc), blai (trai, glai, lai), blái (trải, giải)
- Ml đã được thay thế trong nhiều trường hợp theo cách phát âm ngày nay, như mlạt = nhạt (lạt), mlỡ = lỡ (nhỡ) mlầm = lầm, mlớn = lớn (nhớn)
Tl vẫn được dùng nhưng tr đã xuất hiện Giáo sĩ Alexandre de Rhodes đã chú: “Tla có người đọc là tra, nghĩa là đổi l thành r và trong những chữ tiếp sau
]
c) Theo Văn phạm Việt ngữ:
- Chữ v như ngày nay chưa có Tác giả nói người Việt Nam có hai chữ b và giải thích như sau: “Một chữ giống như chữ b của chúng ta (tức người Tây Phương) chẳng hạn như ba, tức con số 3, tuy vậy nó cũng không giống hẳn chữ b
của chúng ta Khi đọc chữ đó không được thở ra phải hít khí vào cũng giống như
người muốn đọc chữ m, rồi sau mới phát hơn ra Chữ b thứ hai đọc hầu giống như đọc chữ bêta Hy Lạp chẳng hạn như khi đọc tiếng bèao (vào) Thực ra nó cũng không giống hẳn chữ v của chúng ta vì khi đọc nó không nên hít mạnh lắm, mà
chỉ cần mở môi ra như kiểu đọc của người Do Thái chứ không đọc bằng răng”
[ 34 ]
- Ngoài chữ l đọc như ngày nay, Giáo sĩ Alexandre de Rhodes ghi nhận ở Đàng Ngoài “còn có chữ l đọc mềm, chen giữa các phục âm khác như blả (lả = trả); có một miền đọc b ra t, thí dụ như tlả (trả); người ta cũng còn dùng l sau m, thì dụ mlẽ (lẽ), đôi khi dùng l sau p, thí dụ plăn (lăn) nhưng cũng có nơi dùng làn thay vì plàn Còn việc dùng l sau t thì rất thông dụng, thí dụ tla (tra), tle (tre)” [ 35 ]
[ 33 ] Alexandre de Rhodes Tự điển Việt-Bồ-La, cột 801 Nguyễn Khắc Xuyên trích dịch trong Tác phẩm quốc
ngữ đầu tiên: Phép giảng tám ngày, trong LI
[ 34 ] Alexandre de Rhodes, Văn phạm Việt ngữ Thanh Lãng trích dịch, Biếu nhất làm văn học cận đại tập 9 –
trang 25 Theo Thái Văn Kiểm, “trong cuộc Nam tiến, giọng nói của người đã thay đổi rất nhiều theo với thời gian và không gian Trong khi tiếp xúc với dân Chàm, dân Miên, người Việt là bị ảnh hưởng trong cách phát âm, ví dụ như ngoài Bắc nói đi về thì trong Nam nói đi dề hoặc đi bvề hoặc đi bvìa, đi bgià, đi jyà, chính là chúng ta đã bị ảnh hưởng cách phát âm của người Chiêm Thành, vì trong ngôn ngữ của họ có rất nhiều chữ phát âm tương đương, ví dụ như chữ bia hoặc bja có nghĩa là công chúa, cung phi, hoàng hậu như Bia Tan Chan tức là Bà Chúa Ngọc vợ của vua Po Romé, hiện còn thờ trong tháp Hậu sanh (Ninh Thuận)” (Dẫn theo Gérard Gagnon, Hồn Việt, Cần Thơ ẩn quân, 1959, trg 315)
[ 35 ] Thanh Lãng trích dịch, sđd trang 29 – 30
Trang 334 Nhận định về lối phiên âm và chữ viết quốc ngữ của Giáo sĩ Alexandre
de Rhodes
Khảo sát chung về công trình ngữ học của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes, chúng ta có thể đưa ra những nhận định sau đây:
Nhận định thứ nhất là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes hòa hai khuynh hướng
bảo tồn và canh tân trong tinh thần tôn trọng đặc tính Việt Ngữ
Là người tiếp tục công trình phiên âm, giáo sĩ tôn trọng và bảo tồn những
thói quen hợp lý về cách phiên âm Trong khi bàn về lý do chọn phụ âm ph thay
vì f, giáo sĩ tuyên bố theo thói quen và giải thích ph đúng hơn f: “F hay đúng hơn
ph, vì khi đọc nó không cần phải tách biệt hai môi như đọc chữ f của chúng ta
Thực ra khi đọc chữ đó, môi chỉ giề ra rất ít và thở rất nhẹ: ở trong tự điển, chúng
tôi không dùng chữ f mà sẽ chỉ dùng chữ ph vì các sách đã chép đều quen dùng
] Một nơi khác, khi bàn về những vần ghép gia, giu, giơ, giƣ đọc
như tiếng Ý (theo giáo sĩ, chứ thật ra không thể đọc như tiếng Ý được), giáo sĩ
Đành rằng cần phải tôn trọng những thói quen nhưng sự canh tân cũng có những lý do chánh đáng, cho nên giáo sĩ đã bỏ thói quen dùng hai chấm trên chữ
y, trên chữ a hay chữ o, trong các vần au, ao để tránh những phiền phức vô lý
Nếu chúng ta so sánh cách phiên âm của Giáo sĩ Alexandre de Rhodes với cách phiên âm đã có từ đời trước, chúng ta sẽ nhận thấy những cải cách hợp lý như thêm nguyên âm, thêm phụ âm, thêm dấu chữ và dấu giọng
Nhận định thứ hai là Giáo sĩ Alexandre de Rhodes tôn trọng cách phát âm
của thời đại và của địa phương trong khi vẫn ý thức về sự thống nhất của Việt ngữ trong toàn quốc
- Lếy (lấy) đết (đất) là ghi theo giọng đọc đặc biệt của vùng Nam Ngãi thuộc Đàng Trong còn tlâu (trâu) tlộm (trộm) là viết theo lối phiên âm của một đôi
miền ở Đàng Ngoài
- Bvua (vua), bvui vẻ (vui vẻ) ghi với bêta Hy Lạp, mlạt (nhạt) mlỡ (lỡ) là
viết theo cách đọc thông dụng của thời đại
Về mặt lịch sử địa lý ngôn ngữ học, các sách của giáo sĩ Alexandre de Rhodes là chứng tích giúp ích cho rất nhiều nhà khảo cổ
[ 36 ] Thanh Lãng trích dịch, sđd trang 27
[ 37 ] Như trên, trang 27