Nhận thấy rõ lợi ích to lớn trong quan hệ thương mại với các nước trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan, một nền kinh tế năng động và phát triển thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam
Trang 2LỜI MỞ ĐẦU
Đông Nam Á là một khu vực có lịch sử phát triểu lâu đời Trong quá trình phát triển của mình, khu vực này đã đóng góp đáng kể cho sự phát triển của nền văn minh nhân loại Các quốc gia trong khu vực là những đất nước có sự tương đồng trên nhiều lĩnh vực văn hóa – xã hội cũng như trình độ phát triển kinh tế
Vì vậy nhu cầu hợp tác, liên kết khu vực luôn được đặt ra, đặc biệt trong bối cảnh hiện nay, toàn cầu hóa kinh tế đang phát triển mạnh mẽ và trở thành một xu hướng tất yếu, mở cửa kinh tế để xóa bỏ những rào cản trong thương mại quốc tếtrở thành một mục tiêu mà tất cả các quốc gia quyết tâm theo đuổi
Nhận thấy rõ lợi ích to lớn trong quan hệ thương mại với các nước trong khu vực, đặc biệt là Thái Lan, một nền kinh tế năng động và phát triển thứ hai trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam đã thiết lập quan hệ với Thái Lan rất sớm (1976), chỉ một năm sau khi dành được độc lập Trong thời gian qua, quan hệ Việt Nam và Thái Lan được cải thiện rõ rệt cả về quan hệ kinh tế và chính trị Đặc biệt, cả hai nước đã xây dựng nên mối quan hệ thương mại song phương hết sức tốt đẹp Việt Nam và Thái Lan trở thành bạn hàng thân thiết của nhau Quan
hệ thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan đã mang lại lợi ích to lớn cho cả hai quốc gia
Nhằm nghiên cứu sâu hơn nữa về sự phát triển quan hệ thương mại song phương Việt Nam – Thái Lan và tìm ra những giải pháp mới thúc đẩy hơn nữa
mối quan hệ này, nhóm 8 chúng em đã lựa chọn đề tài: “Quan hệ thương mại
Việt Nam – Thái Lan, thực trạng và triển vọng”.
Trang 3CHƯƠNG 1 LÝ LUẬN CHUNG VỀ THƯƠNG MẠI QUỐC TẾ VÀ KHÁI
QUÁT TÌNH HÌNH QUAN HỆ VIỆT NAM – THÁI LAN
1.1 Cơ sở lý luận chung về thương mại quốc tế
1.1.1 Khái niệm thương mại quốc tế
Hoạt động thương mại quốc tế ra đời sớm nhất trong các quan hệ kinh tế quốc tế và ngày nay nó vẫn giữ vị trí trung tâm trong các quan hệ kinh tế quốc tế
Thương mại quốc tế là việc trao đổi hàng hóa và dịch vụ giữa các chủ thể
kinh tế có quốc tịch khác nhau (trong đó đối tượng trao đổi thường là vượt ra ngoài phạm vi địa lý của một quốc gia) thông qua hoạt động mua bán, lấy tiền tệ làm môi giới nhằm mang lại lợi ích cho các bên
1.1.2 Nội dung của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế bao gồm nhiều hoạt động khác nhau Trên giác độ một quốc gia đó chính là hoạt động ngoại thương Nội dung của thương mại quốc tế bao gồm:
• Xuất nhập khẩu hàng hóa hữu hình
• Xuất nhập khẩu hàng hóa vô hình hay còn gọi là dịch vụ
• Gia công thuê cho nước ngoài và thuê nước ngoài gia công
• Tái xuất khẩu và chuyển khẩu
• Xuất khẩu tại chỗ
1.1.3 Vai trò của thương mại quốc tế
Thương mại quốc tế vừa là cầu nối kinh tế giữa các nước, vừa góp phần cho sản xuất và đời sống toàn xã hội:
• Thương mại quốc tế tạo nguồn ngoại tệ cho đất nước để đầu tư phát triển
• Đẩy nhanh đổi mới cơ cấu nền kinh tế và sự phát triển kinh tế xã hội
• Phát huy lợi thế so sánh, khai thác hiệu quả tiềm năng nguồn lực sẵn có của đất nước
• Tiếp thu, học hỏi khoa học kỹ thuật tiên tiến của các nước trên thế giới
Trang 4• Nâng cao đời sống kinh tế - xã hội của người dân.
1.2 Khái quát về quan hệ của Việt Nam và Thái Lan
1.2.1 Tổng quan về Thái Lan
1.2.1.1 Khái quát chung về đất nước Thái Lan
Vương quốc Thái Lan là một quốc gia nằm ở vị trí trung tâm khu vực Đông Nam Á, phía bắc giáp Lào và Myanma, phía Đông giáp Campuchia và Vịnh Thái Lan, phía Nam giáp Malaysia, phía Tây giáp biển Andaman và Mianma, là cửa ngõ đi các nước Đông Dương, Myanma và miền nam Trung Quốc
Thái Lan có diện tích khoảng 514.000 km2, rộng thứ ba Đông Nam Á, sau Indonesia và Myanma, với bờ biển dài, tiếp giáp hai đại dương lớn là Thái Bình Dương và Ấn Độ Dương Theo thống kê đến tháng 7/2013, dân số Thái Lan khoảng 67.448.120 người đứng thứ 21 trên thế giới và là nước đông dân thứ
tư Đông Nam Á, sau Indonesia (khoảng 250 triệu dân), Philippines (105 triệu)
và Việt Nam (92 triệu) Trong đó, có khoảng 75% dân số là người dân tộc Thái, 14% là người gốc Hoa và 3% là người Mã Lai, phần còn lại là những nhóm dân tộc thiểu số như Môn, Khmer và các bộ tộc khác
Thái Lan là một quốc gia quân chủ lập hiến đứng đầu là vua Bhumibol Adulyadej lên ngôi từ năm 1946, vị nguyên thủ quốc gia tại vị lâu nhất trên thế giới và vị vua trị vì lâu nhất trong lịch sử Thái Lan Vua Thái Lan theo nghi thức
là nguyên thủ quốc gia, về danh nghĩa là người đứng đầu nhà nước, là tổng tư lệnh quân đội và nhà lãnh đạo tinh thần Phật giáo của đất nước Theo Hiến pháp ngày 24/8/2007, Quốc hội Thái Lan là Quốc hội lưỡng viện, Hạ viện (cơ quan lập pháp) gồm 480 ghế và Thượng viện gồm 150 ghế
Đạo Phật được coi là quốc đạo của đất nước Thái Lan Khoảng 95% dân
số theo Đạo Phật, ngoài ra có Đạo Hồi (4%), Thiên chúa giáo và các đạo khác (1%)
Trang 5Thủ đô Bangkok là trung tâm các hoạt động chính trị, thương mại, công nghiệp và văn hóa của Thái Lan Bangkok với diện tích 1.500 km² và dân số trên
6 triệu người Với kiến trúc của những ngôi chùa Phật, cung điện tráng lệ và phong cảnh sông nước, Bangkok được mệnh danh là “Venice của phương Đông” Bangkok cũng nổi tiếng là thiên đàng mua sắm ở Châu Á Du khách có thể tìm thấy nhiều trung tâm mua sắm bán các loại lụa, đá quý, đồ đồng, đồ thiết, và vô số mặt hàng thủ công tinh xảo
1.2.1.2 Nền kinh tế Thái Lan
Kinh tế Thái Lan là nền kinh tế lớn thứ hai ở khu vực Đông Nam Á, chỉ sau Indonesia Theo số liệu thống kê của Ngân hàng Thế giới (World Bank),GDPdanh nghĩa của Thái Lan năm 2015 đạt 397,475 tỷ USD, đứng thứ
32 trên thế giới, đóng góp 0,6% vào tổng GDP của kinh tế thế giới Tốc độ tăng trưởng GDP bình quân của Thái Lan giai đoạn 1993 – 2015 đạt 0,94%, cao nhất vào quý I, năm 2012, lên tới 9,6%
Biểu đồ 1.1: GDP danh nghĩa của Thái Lan giai đoạn 2010 - 2015
Đơn vị: tỷ USD
Nguồn: Ngân hàng thế giới
Theo đánh giá của Quỹ tiền tệ quốc tế (IMF), Thái Lan được xếp vào nhóm các quốc gia có mức thu nhập trung bình cao.GDP bình quân đầu người của Thái Lan tăng dần theo các năm Năm 2014, GDP (danh nghĩa) bình quân đầu người của Thái Lan đứng thứ 95 trên thế giới, đạt $5.445/người Quy đổi theo sức mua tương đương, GDP bình quân đầu người của Thái Lan đạt
$14.354/người, giữ vị trí thứ 81 trên thế giới.Đến năm 2015, GDP bình quân đầu người của Thái Lan tăng lên $15.319/người (PPP) và $ 5.771/người (danh nghĩa)
Trang 6Vềthương mại quốc tế:
Cán cân thương mại của Thái Lan luôn đạt trạng thái thặng dư từ năm
1997 đến nay
Biểu đồ 1.2: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của
Thái Lan (1997 – 2014)
Nguồn: Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BOT)
Kinh tế Thái Lan là một nền kinh tế thị trường phụ thuộc vào xuất khẩu với kim ngạch xuất khẩu chiếm hơn 60% GDP.Năm 2013, Thái Lan đã xuất khẩu 239 tỷ USD, giúp cho quốc gia này đứng thứ 23 trong số các quốc gia xuất khẩu lớn nhất thế giới Trong 5 năm (2008 – 2013), xuất khẩu Thái Lan tăng trưởng với tốc độ bình quân hằng năm là 4,6%, từ 191 tỷ USD năm 2008 đến
239 tỷ USD năm 2013 Các mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Thái Lan là dệt may, giày dép, thủy sản, gạo, cao su, đồ trang sức, ô tô, máy vi tính và thiết bị điện tử Hàng hóa của Thái Lan xuất khẩu chủ yếu sang thị trường Trung Quốc (11%), Mỹ (10,5%), Nhật Bản (9,6%), Malaysia (5,6%), Hongkong (5,5%), Singapore (4,6%),…
Trong giai đoạn 2008 – 2013, nhập khẩu của Thái Lan tăng trưởng bình quân 7%/năm, từ 165 tỷ USD vào năm 2008 lên 232 tỷ USD vào năm 2013, đưa Thái Lan lên vị trí thứ 21 trong danh sách các quốc gia nhập khẩu lớn nhất thế giới Các mặt hàng nhập khẩu chủ yếu của Thái Lan thuộc nhóm hàng hóa công nghiệp và hàng hóa trung gian, nguyên vật liệu, hàng tiêu dùng, nhiên liệu Bạn hàng nhập khẩu lớn của Thái Lan (năm 2014) là Trung Quốc (16,9%), Nhật Bản (15,6%), Malaysia(5,6%), UAE (5,6%),…
Về đầu tư quốc tế:
Thu hút FDI luôn được coi là một trong những nhân tố kích thích quan
Trang 7trọng đối với nền kinh tế Thái Lan Chính phủ Thái Lan đã xây dựng một chính sách ưu đãi để cho dòng vốn này phát huy được lợi thế Thống kê cho thấy, FDI vào Thái Lan đầu tư nhiều nhất là lĩnh vực công nghiệp, sau đó là thương mại, bất động sản, xây dựng,…
Trước cuộc khủng hoảng tài chính châu Á năm 1996-1997, Thái Lan chỉ thu hút được nguồn vốn FDI tương đương với 11% GDP của nước này Tuy nhiên, đến cuối năm 2013, con số này đã tăng lên 48% Trong khi đó, dòng vốn đầu tư ra nước ngoài của Thái Lan cũng tăng mạnh, từ mức tương đương 1% GDP năm 1995 lên 15% vào năm 2013
1.2.2 Khái quát về Việt Nam
1.2.2.1 Khái quát chung về Việt Nam
Nước Cộng hoà Xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một dải đất hình chữ S, nằm ở trung tâm khu vực Đông Nam Á, ở phía đông bán đảo Đông Dương, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía đông nam trông ra biển Đông và Thái Bình Dương Bờ biển Việt Nam dài 3.260 km, biên giới đất liền dài 4.510 km
Việt Nam có diện tích 331.698 km², bao gồm khoảng 327.480 km² đất liền và hơn 4.500 km² biển nội thủy, đứng thứ tư trong khu vực Đông Nam Á Dân số Việt Nam tính đến năm 2015 là trên 92 triệu người, xếp thứ ba trong khu vực, chỉ sau Indonesia và Philippines
Việt Nam là đất nước có 54 dân tộc Mỗi dân tộc đều có tiếng nói và sắc thái văn hoá riêng nhưng lại có chung một nền văn hoá thống nhất Tính thống nhất của nền văn hoá Việt Nam biểu hiện ở ý thức cộng đồng, gắn bó giữa các dân tộc với nhau trong quá trình dựng nước và giữ nước Tiếng Việt được sử dụng là tiếng phổ thông, là công cụ giao tiếp chung của các dân tộc sống trên dải đất Việt Nam
Việt Nam có 63 tỉnh và thành phố Thủ đô Hà Nội nằm ở phía Bắc đất
Trang 8nước với dân số khoảng 6,45 triệu người, còn Thành phố Hồ Chí Minh ở miền Nam là trung tâm đô thị lớn nhất cả nước với dân số ước tính 7,16 triệu người.
1.2.2.2 Tình hình kinh tế Việt Nam
Kinh tế Việt Nam là nền kinh tế thị trường, phụ thuộc cao vào xuất khẩu thô và đầu tư trực tiếp nước ngoài Đây là nền kinh tế lớn thứ 6 ở Đông Nam Á trong số 10 quốc gia Đông Nam Á; lớn thứ 56 trên thế giới xét theo quy mô tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa năm 2013 và đứng thứ 128 xét theo tổng sản phẩm nội địa danh nghĩa bình quân đầu người
Bảng 1.1: GDP và tốc độ tăng trưởng kinh tế của Việt Nam (2011 – 2015)
Trong 5 năm gần đây (2011 – 2015), Việt Nam có tốc độ tăng trưởng kinh tế khá
ổn định, và thuộc những nước có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao của khu vực và thế giới
Về thương mại quốc tế:
Trong quá trình phát triển, kinh tế Việt Nam luôn chịu thâm hụt thương mại dai dẳng từ năm 1990 đến năm 2011 Với những thay đổi trong chính sách thương mại, cán cân thương mại Việt Nam lần đầu đổi chiều vào năm 2012 và liên tiếp giữ được mức thặng dư trong ba năm 2012 – 2014
Trang 9Biểu đồ 1.3: Kim ngạch xuất khẩu, nhập khẩu và cán cân thương mại của
Việt Nam (2011 – 2015)
Nguồn: Tổng cục Hải quan
Theo số liệu thống kê hàng hóa xuất nhập khẩu vừa được Tổng cục Hải quan công bố, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của cả nước năm 2015 đạt 327,76
tỷ USD, tăng 10% tương ứng tăng 19,69 tỷ USD năm 2014
Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu tiếp tục chuyển biến tích cực, với sự chuyển dịch dần từ xuất khẩu nguyên liệu thô, sản phẩm khai khoáng sang các mặt hàng gia công, chế tạo Năm 2014, tỷ trọng nhóm hàng công nghiệp nặng và khoáng sản đạt 66,5 tỷ USD, chiếm 44,31% tổng kim ngạch hàng hóa xuất khẩu, trong đó: Mặt hàng điện thoại và linh kiện đạt 23,6 tỷ USD, chiếm 15,7%; điện tử, máy tính và linh kiện ước đạt 11,4 tỷ USD và chiếm 7,6%.Các thị trường xuất khẩu chính của Việt Nam vẫn duy trì tăng trưởng bất chấp bối cảnh kinh tế toàn cầu ảm đạm Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch đạt 28,5 tỷ USD, tăng 19,6% so với năm 2013 Thị trường tiếp theo
là EU với 27,9 tỷ USD, ASEAN đạt 19,0 tỷ USD, Trung Quốc đạt 14,8 tỷ USD
Kim ngạch nhập khẩu trong năm 2014 của một số mặt hàng phục vụ sản xuất tăng cao so với năm trước, đứng đầu: Nguyên phụ liệu dệt may, giày dép đạt 4,75 tỷ USD, chiếm 3,21%; máy móc, thiết bị, dụng cụ phụ tùng đạt 22,46 tỷ USD, chiếm 15,18%; vải các loại đạt 9,5 tỷ USD, tăng 14%, chiếm 6,42%; chất dẻo đạt 6,3 tỷ USD, tăng 10,9%, chiếm 4,26%; hóa chất đạt 3,32 tỷ USD, tăng 9,5%, chiếm 2,24%; xăng dầu đạt 7,62 tỷ USD, tăng 9,3%, chiếm 5,15% Về thị trường hàng hóa nhập khẩu năm 2014, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch ước tính đạt 43,7 tỷ USD, tăng 18,2% so với năm 2013 Đứng thứ hai là ASEAN, ước tính đạt kim ngạch 23,1 tỷ USD,
Trang 10tăng 8,2% Hàn Quốc đạt 21,7 tỷ USD, tăng 4,9% Nhật Bản đạt 12,7 tỷ USD, tăng 9,4% Thị trường EU đạt 8,9 tỷ USD, giảm 5,9%.
Về đầu tư quốc tế:
Hoạt động đầu tư ra nước ngoài tại Việt Nam mới bắt đầu tăng tốc trong vài năm trở lại đây Nếu như giai đoạn 1989-1998 Việt Nam mới có 18 dự án đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đăng ký trên 13,6 triệu USD thì đến thời kỳ 1999-2005, số dự án ra nước ngoài là 131, với tổng vốn đăng ký đạt 731,4 triệu USD, gấp 7 lần về số dự án và gấp 53 lần về tổng vốn đầu tư đăng ký so với thời
kỳ trước.Theo Cục Đầu tư nước ngoài, lũy kế đến 31-12-2014 đã có 930 dự án đầu tư ra nước ngoài với tổng vốn đầu tư là 19,78 tỷ USD.Có thể thấy các dự án quy mô lớn tập trung trong các lĩnh vực viễn thông, nông - lâm nghiệp tập trung tại Lào, Campuchia và một số nước thuộc châu Âu, châu Phi, phù hợp với các lĩnh vực và địa bàn ưu tiên đầu tư ra nước ngoài của Việt Nam Đặc biệt, đã có
xu hướng đầu tư sang các thị trường mới nổi, nhiều tiềm năng
Sau gần 30 năm mở cửa đối với đầu tư nước ngoài (FDI) kể từ khi ban hành Luật Đầu tư nước ngoài tại Việt Nam (29/12/1987), Việt Nam đã có những thành công đáng kể trong việc thu hút FDI.Tính lũy kế đến hết năm 2014, tổng
số vốn đăng ký FDI Việt Nam thu hút được là 254,3 tỷ USD với 17.520 dự án, trải rộng trên nhiều lĩnh vực, từ khai khoáng, nông lâm nghiệp đến công nghiệp chế biến và các ngành dịch vụ như bất động sản, y tế, giáo dục, khách sạn, Các nhà đầu tư châu Á (Nhật Bản, Singapore, Hàn Quốc, Đài Loan, Hong Kong) trong nhiều năm liền đứng ở vị trí dẫn đầu đầu tư vào Việt Nam.Về cơ cấu thu hút FDI theo ngành, công nghiệp chế biến chiếm tỷ trọng cao nhất (53,8%), tiếp theo là dịch vụ bất động sản (20,9%), còn lại các ngành khác có tỷ trọng dưới 5%
1.2.3 Giới thiệu chung về quan hệ Việt Nam – Thái Lan
Việt Nam và Thái Lan chính thức thiết lập mối quan hệ ngoại giao vào
Trang 11ngày 6/8/1976 Từ năm 1991 đến nay, quan hệ hai nước phát triển mạnh, nhất là sau khi Việt Nam chính thức gia nhập ASEAN.Ngày 20-21/2/2004, Chính phủ hai nước đã tiến hành cuộc họp Nội các chung lần thứ nhất tại thành phố Đà Nẵng (Việt Nam) và tỉnh Na-khon Phan-nom (Thái Lan)
Sau đảo chính quân sự tại Thái Lan ngày 19/9/2006, mức độ hoạt động trong quan hệ chính trị đối ngoại giữa hai nước có phần chững lại song quan hệ hợp tác trong các lĩnh vực khác nhất là kinh tế thương mại và đầu tư vẫn phát triển tốt Do tác động của cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính toàn cầu, kim ngạch thương mại hai nước đến tháng 8/2009 đạt gần 3,4 tỷ USD, giảm 22,7%
so với cùng kỳ năm trước, trong đó Việt Nam xuất sang Thái Lan 808 triệu USD
và nhập gần 2,6 tỷ USD Về đầu tư, tính đến tháng 8/2009, Thái Lan có 208 dự
án còn hiệu lực với tổng vốn đăng ký là 5,7 tỷ USD, đứng thứ 9 trong tổng số 88 quốc gia và vùng lãnh thổ có đầu tư tại Việt Nam
Việt Nam và Thái Lan là hai nước ASEAN đầu tiên thiết lập quan hệ Đối tác chiến lược vào tháng 6/2013 và mối quan hệ này đã không ngừng phát triển mạnh mẽ trên nhiều lĩnh vực.Hai bên cam kết đẩy mạnh hợp tác kinh tế, gia tăng kim ngạch thương mại hai chiều mỗi năm lên 20% để đạt mục tiêu 15 tỷ USD vào năm 2020; thúc đẩy sớm ký và triển khai Thỏa thuận hợp tác về lao động Theo đó, Thái Lan sẽ nhận lao động Việt Nam sang làm việc ở Thái Lan, đặc biệt là trong lĩnh vực xây dựng cơ sở hạ tầng, tăng cường kết nối giao thông theo trục hành lang Đông-Tây, trong đó có tuyến đường số 8 và số 12 Việt Nam cam kết sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho các nhà đầu tư Thái Lan, khuyến khích các doanh nghiệp Thái Lan đầu tư vào các lĩnh vực công nghiệp phụ trợ, hóa dầu, thăm dò và khai thác dầu khí
Hai nước hợp tác tốt trong ASEAN, các diễn đàn khu vực và quốc tế Thái Lan mong muốn hai nước tăng cường hợp tác phát triển mạng giao thông kết nối hai nước qua Lào và Campuchia Chính phủ hai nước đã ký kết hơn 50 thỏa thuận hợp tác, tạo cơ sở pháp lý nhằm thúc đẩy quan hệ song phương trên nhiều
Trang 12lĩnh vực, tăng cường trao đổi đoàn cấp cao, từ đó nâng cao hơn nữa sự hiểu biết
và tin cậy lẫn nhau
Trang 13CHƯƠNG 2 THỰC TRẠNG QUAN HỆ THƯƠNG MẠI VIỆT NAM –
THÁI LAN 2.1 Quan hệ thương mại Việt Nam – Thái Lan trước năm 1995
2.1.1 Giai đoạn trước năm 1975
Đây là thời kỳ kháng chiến chống thực dân Mỹ của nhân dân ta Ngay từ những ngày đầu của cuộc kháng chiến, nhân dân và chính phủ Việt Nam do Chủ tịch Hồ Chí Minh đứng đầu đã nhận được sự ủng hộ và giúp đỡ của Chính phủ Thái Lan do Thủ tướng Luong Pardit đứng đầu Cũng chính vì vậy hai nước là
“bà con láng giềng”
Tuy nhiên, trong bối cảnh lịch sử lúc đó, cũng như tình hình chính trị của Thái Lan có sự thay đổi, việc Mỹ viện trợ kinh tế, đầu tư trực tiếp cũng như xây dựng căn cứ quân sự trên đất nước Thái Lan làm cho nền kinh tế Thái Lan phụ thuộc nhiều hơn vào Mỹ, và với ý định biến Miền nam Việt Nam thành thuộc địa kiểu mới của Mỹ dẫn đến quan hệ giữa Việt Nam và Thái Lan trong thời kỳ này trở nên tồi tệ Quan hệthương mại Việt Nam - Thái Lan diễn ra không đáng
kể, chủ yếu là với miền Nam Việt Nam
Bảng 2.1: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam - Thái Lan (1972 – 1975)
(đơn vị: triệu USD)
Trang 14tướng kiêm Bộ trưởng Bộ Ngoại giao Việt Nam Nguyễn Duy Trinh và Thủ tướng Phạm Văn Đồng đã đến thăm chính thức Thái Lan năm 1978 Hai bên đã
ký thoả thuận về hàng không, mậu dịch, hợp tác kinh tế và kỹ thuật Điều này thể hiện rõ quan điểm của chính phủ Việt Nam là muốn thiết lập và tăng cường hơn nữa mối quan hệ hữu nghị với các nước trong khu vực nói chung và Thái Lan nói riêng Sau khi ký kết ngoại giao, hoạt động xuất nhập khẩu giữa Việt Nam và Thái Lan đã tăng lên đáng kể
Bảng 2.2: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam – Thái Lan (1976 –
ty Thái Lan xuất sang Việt Nam 9,5 triệu Baht, còn giá trị nhập về là 8,5 triệu Baht
Bảng 2.3: Buôn bán của Thái Lan với Việt Nam (1980 – 1984)
(Đơn vị: Triệu USD)
Trang 15nền kinh tế thị trường.Về phía Thái Lan, trong giai đoạn những năm 1987 –
1989 cũng là giai đoạn nền kinh tế Thái Lan phát triển nhanh chóng, tăng trưởng hàng năm đạt trên 10%, kim ngạch xuất khẩu tăng vọt
Cải chính sách đổi mới kinh tế của Việt Nam và thực trạng phát triển kinh
tế - xã hội của Thái Lan đã thúc đẩy sự phát triển quan hệ thương mại giữa hai nước Từ năm 1989, khi nền kinh tế Việt Nam thực sự chuyển sang cơ chế thị trường, quan hệ buôn bán giữa hai nước có bước nhảy vọt, mức tăng trưởng mậu dịch năm 1989 tăng 384,6% so với năm 1988
Bảng 2.4: Kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam- Thái Lan (1986-1989)
(Đơn vị: triệu USD)
sơ chế, song mây chiếm trên 70% kim ngạch, phế liệu chiếm 5,7%, da sống và thuộc da chiếm 5,4 %, hải sản đông lạnh chiếm 4%, còn lại là các sản phẩm khác như sản phẩm nhựa, hóa chất, giầy dép, tơ sợi và dệt may
2.2 Quan hệ thương mại Việt Nam – Thái Lan sau năm 1995 đến nay
Từ năm 1995 đến nay đánh dấu một bước chuyển mới trong quan hệ của giới kinh doanh hai nước, ngoài những ngành nghề truyền thống, đã có nhiều lĩnh vực mới hợp tác hơn Những tập đoàn trong kinh doanh xây dựng và vật
Trang 16liệu xây dựng, tập đoàn Siam Cement, CP Group vẫn đứng đầu trong thiện chí làm ăn với Việt Nam Phía Thái Lan còn có chính sách đẩy mạnh quan hệ với các nước láng giềng trong đó có Việt Nam Hai nước đã cử nhiều đoàn cấp cao sang mở rộng quan hệ kinh tế thương mại cho cả hai phía.
Đối với Việt Nam, Thái Lan là một trong những đối tác xuất nhập khẩu lớn với tổng trị giá trao đổi thương mại luôn nằm trong 10 các quốc gia có quan
hệ thương mại lớn nhất với Việt Nam Theo số liệu thống kê của Tổng cục Hải quan, trong năm 2013, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa giữa Việt Nam với Thái Lan đạt 9,17 tỷ USD, tăng 9,1% so với năm 2012 Trong đó, xuất khẩu
từ Việt Nam sang thị trường Thái Lan đạt 2,86 tỷ USD, tăng gần 9,2% và nhập khẩu hàng hóa vào Việt Nam có xuất xứ từ Thái Lan đạt gần 6,32 tỷ USD, tăng 9,07%
Tuy nhiên, cán cân thương mại giữa Việt Nam và Thái Lan trong những năm qua luôn ở trạng thái không cân bằng với mức thâm hụt nghiêng về phía Việt Nam Trong năm 2013, mức thâm hụt trong quan hệ thương mại Việt – Thái đạt mức 3,45 tỷ USD, cao gấp 1,2 lần so với con số xuất khẩu từ Việt Nam sang Thái Lan và tăng 9,04% so với năm 2012
Biểu đồ 2.1: Diễn biến thương mại Việt Nam – Thái Lan trong năm
2012, 2013 và 11T/2014
Nguồn: Tổng cục Hải quan
2.2.1 Xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan
2.2.1.1 Trị giá xuất khẩu của Việt Nam sang Thái Lan
Giai đoạn 1995 – 2014, trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thái Lan chiếm tỷ trọng khá cao trong số 10 nước ASEAN, đạt bình quân 13,13%/năm
Trang 18Đơn vị:Triệu USD
Năm Thái Lan ASEAN Tỷ trọng trị giá
XKHH Thái Lan so với ASEAN (%)
Nguồn: Tổng cục Hải quan & Tổng cục Thống kê
Năm 1995, trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thái Lan đạt 101,3 triệu USD, chiếm 10,2% trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam vào thị trường ASEAN Chỉ sau 10 năm (năm 2005), con số này tăng lên gấp 8,5 lần, đạt 863,0 triệu USD Năm 2007, việc Việt Nam trở thành thành viên chính thức của tổ chức Thương mại thế giới WTO đã đưa vị thế của Vệt Nam tăng lên trong mối quan hệ với các đối tác thương mại, trong đó có Thái Lan Chính vì vậy, trị giá xuất khẩu hàng hóa của Việt Nam sang Thái Lan lần đầu cán mốc