A.Cơ sở lí luận về trợ cấp xuất khẩuI.Khái niệm về trợ cấp xuất khẩu 1.Khái niệm về trợ cấp xuất khẩuTrợ cấp xuất khẩu là chính sách ngoại thương trong đó chính phủ áp dụng các biện pháp nhằm kích thích tăng trưởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp trực tiếp hoặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất khẩu. Mục đích của trợ cấp xuất khẩu để nhằm đẩy mạnh xuất khẩu hàng hóa ra nước ngoài. 2. Các hình thức trợ cấp xuất khẩuGồm có trợ cấp xuất khẩu trực tiếp và trợ cấp xuất khẩu gián tiếp:•Trợ cấp trực tiếp: Chính phủ thanh toán trực tiếp cho doanh nghiệp xuất khẩu hàng được trợ cấp tương xứng với khối lượng hay giá trị xuất khẩu. Chính phủ bù đắp trực tiếp thiệt hại cho doanh nghiệp khi xuất khẩu hàng hóa như áp dụng thuế suất ưu đãi đối với hàng xuất khẩu, miễn hoặc giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu,... Cho các nhà xuất khẩu được hưởng các giá ưu đãi cho các đầu vào sản xuất hàng xuất khẩu như điện, nước,vận tải, thông tin liên lạc...•Trợ cấp gián tiếp: Chính phủ cung cấp tài chính cho người xuất khẩu hoặc doanh nghiệp xuất khẩu gián tiếp thông qua các điều kiện tín dụng và các dịch vụ chuyên chở hàng xuất khẩu.Nhà nước dùng ngân sách để giới thiệu, triển lãm, quảng cáo, tạo điều kiện cho các giao dịch xuất khẩu hoặc giúp đỡ về kỹ thuật và đào tạo chuyên gia.Khi người xuất khẩu nhận được một khoản trợ cấp dù là trực tiếp hay gián tiếp cho sản phẩm xuất khẩu thì họ không phải hoàn trả lại cho Nhà nước. Và trợ cấp xuất khẩu trực tiếp có xu hướng bị thu hẹp do sự đấu tranh giữa Chính phủ có buôn bán với nhau, ngược lại trợ cấp xuất khẩu gián tiếp ngày càng tăng lên và thường được che dấu.Cụ thể các hình thức trợ cấp xuất khẩu đối với một số mặt hàng của Việt Nam về lý thuyết:•Đối với sản phẩm gạo: Hỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu hoạch, hỗ trợ lãi suất cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo, hỗ trợ lãi suất xuất khẩu gạo trả chậm, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu gạo.•Đối với cà phê: Hoàn phụ thu, bù lỗ cho tạm trữ cà phê xuất khẩu, bù lỗ cho doanh nghiệp xuất khẩu cà phê, hỗ trợ lãi suất tạm trữ, thưởng xuất khẩu.•Đối với đường: hỗ trợ giá, hỗ trợ giống mía, giảm thuế VAT 50%, hỗ trợ lãi suất sau đầu tư, bù chênh lệch tỷ giá, hỗ trợ lãi suất thu mua mía trong vụ thu hoạch.•Chè, lạc nhân, thịt gia súc, gia cầm các loại, hạt tiêu, hạt điều: thưởng theo kim ngạch xuất khẩu.•Xe đạp, quạt điện: ưu đãi về tín dụng, miễn giảm thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế suất khẩu, miễn thuế nhập khẩu linh kiện, phụ tùng, vật tư, hỗ trợ vay vốn ngân hàng.•Đối với sản phẩm cơ khí: ưu đãi vay vốn tín dụng đầu tư phát triển của Nhà nước.•Đối với dệt may: vốn tín dụng ưu đãi, ưu đãi đầu tư, bảo lãnh của Chính phủ, hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại.II.Vai trò của trợ cấp xuất khẩu•Góp phần phát triển công nghiệp nội địa và thúc đẩy xuất khẩu của quốc gia.•Nâng cao khả năng cạnh trạnh xuất khẩu của doanh nghiệp. Trợ cấp xuất khẩu còn làm tăng lợi thế cạnh tranh của hàng xuất khẩu được trợ cấp so với hàng xuất khẩu không được trợ cấp của các nước khác vào thị trường thứ ba và ngăn cản hàng xuất khẩu của các nước khác vào thị trường này.•Góp phần điều chỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế. Trợ cấp xuất khẩu kích thích lan truyền hiệu ứng tích cực và khắc phục hiệu ứng tiêu cực.•Là một công cụ để “mặc cả” trong đàm phán quốc tế.Tuy nhiên, trợ cấp xuất khẩu có thể mang lại những hậu quả kinh tế, chính trị không như mong muốn:•Trợ cấp xuất khẩu bóp méo sự cạnh trạnh tự nhiên trong môi trường thương mại tự do.•Chí phí cơ hội của trợ cấp rất lớn và xét về dài hạn trợ cấp có thể cản trở sự phát triển của chính ngành được trợ cấp.•Xác suất chọn sai đối tượng trợ cấp khá cao.•Trợ cấp có thể dẫn đến hành động trả đũa.•Trợ cấp không hiệu quả về mặt tài chính.III.Kinh nghiệm về trợ cấp xuất khẩu của một số nước và gợi ý đối với Việt Nam Vấn đề mà các nước đang phát triển quan tâm nhất là việc cắt giảm mạnh mẽ hơn nữa các loại trợ cấp bao gồm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu.Hiện nay chỉ có các nước phát triển là sử dụng nhiều biện pháp trợ cấp, còn các nước đang phát triển do hạn chế về ngân sách nên không thể áp dụng trợ cấp trong nước để bảo vệ sản xuất của họ. Rõ ràng là các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển không thể cạnh tranh nổi với mức ngân sách rất lớn mà hàng năm các nước phát triển dùng để trợ cấp.VN nên học hỏi kinh nghiệm của NewZealand khi nông nghiệp là lĩnh vực mà VN cam kết sẽ xóa bỏ trợ cấp xk ngay khi gia nhập WTO•Bài học từ New Zealand: không có trợ cấp vẫn hiệu quả.Vào năm 1984, chính phủ nước này cắt giảm triệt để trợ cấp nông nghiệp (vốn chiếm 30% giá trị sản xuất nông nghiệp). Sau khi nguồn trợ cấp bị cắt, nông dân phải học cách sản xuất hiệu quả hơn thay vì sản xuất tối đa như trước để hưởng trợ cấp. Việc sử dụng phân bón giảm bớt khiến nguồn nước và môi trường ngày càng tốt. Trái với nhận định ban đầu, ngành nông nghiệp nước này không bị suy sụp mà ngày càng phát triển tốt, năng suất nông nghiệp tăng trung bình 6%năm, và nông nghiệp đóng góp 17% giá trị của nền kinh tế nước này (so mức 14% trước 1984). New Zealand là nước xuất khẩu sản phẩm sữa thứ ba thế giới và chiếm hơn 50% về xuất khẩu thịt cừu. Nông sản xuất khẩu của New Zealand cũng cạnh tranh mạnh mẽ với nông sản được trợ cấp của các nước. Hiệp hội nông dân New Zealand nhận định: kinh nghiệm bãi bỏ trợ cấp nông nghiệp của nước này đã đánh đổ huyền thoại rằng nền nông nghiệp sẽ không phát triển tốt nếu không được chính phủ trợ cấp. (Theo Báo cáo phân tích chương trình nghị sự đàm phán mới của WTO)•Liên minh châu Âu (EU) đã và đang là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của hàng hóa Việt Nam. Vì vậy, mỗi thay đổi hay động thái chính sách mới ở thị trường này đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài cần được các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam theo dõi sát sao và có biện pháp đối phó hợp lý, kịp thời nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của xuất khẩu Việt Nam ở thị trường này.Trước thông tin về khả năng có những thay đổi đáng kể trong cơ chế ra quyết định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, xu hướng tăng cường các hoạt động chống trợ cấp cũng như thắt chặt các biện pháp quản lý khác đối với hàng nước ngoài nhập khẩu vào EU.Ví dụ: Liên minh châu Âu (EU) vừa quyết định ngừng trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm gà đông lạnh sau khi đã giảm mức hoàn tiền xuất khẩu từ 325 euro (430 USD)tấn xuống 217 eurotấn hồi tháng 102012 và còn 108,5 eurotấn hồi tháng 12013.Quyết định này của EU đã làm dấy lên làn sóng phản đối tại Pháp – quốc gia hưởng lợi lớn từ các khoản trợ cấp của EU – trong bối cảnh các doanh nghiệp cho rằng cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt và quyết định này có thể làm gia tăng số người thất nghiệp.Các doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm Pháp vẫn dựa vào các khoản hoàn tiền xuất khẩu này để đẩy mạnh xuất khẩu tại các thị trường Trung Đông. Họ cho rằng các khoản trợ cấp này thực sự cần thiết trong bối cảnh chi phí thức ăn chăn nuôi đang đứng ở mức cao và sự cạnh tranh đang gia tăng từ Brazil.Chính phủ Pháp cho biết nước này đang xem xét các biện pháp để đối phó với động thái này của EU. Trong khi đó, phía EU cho rằng các khoản hoàn tiền xuất khẩu này là không công bằng do tình hình thị trường đang được cải thiện.Trong niên vụ 20122013, Pháp đã nhận được 55 triệu euro, chiếm gần 94% trong tổng số tiền trợ cấp. Chính phủ nước này cho biết thị trường gia cầm đang xấu đi kể từ lần cắt giảm khoản trợ cấp trước đó, chủ yếu do sự cạnh tranh quyết liệt hơn từ Brazil. Pháp khẳng định rằng có 10 trong tổng số 28 nước thành viên EU đã nhất trí với ý kiến này của Pháp.. VN là nước đang phát triển vì vậy việc xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất khẩu là 1 vấn đề đáng lo ngại cho nền kinh tế. Chính phủ nên có những biện pháp để khắc phục và cải thiện tình hình này.B THỰC TRẠNG TRỢ CẤP XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAMI.Một số thành tựu đạt được trong thời gian quaTrên cơ sở kiến nghị của bô thương mại,ngày 20012003 chính phủ đã có văn bản số 78CPKTTH về các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu năm 2003. Và sau đây là 1 số giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh xuất khẩu năm 2003:1.1Về tín dụng hỗ trợ xuất khẩu băm 2003:Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là sự hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà sản xuất sẽ đẩy mạnh sản xuất,khuyến khích xuất khẩu,đồng thời giúp đỡ các nhà nhập khẩu nước ngoài có đủ đk về tài chính để mua hàng hoá của nước đó.Sau khi trao đổi với các bộ,ngành hữu quan,Bộ thương mại ban hành nghị quyết về danh mục mặt hàng đc tín dụng hỗ trợ xuất khẩu năm 2003 bao gồm 18 mặt hàng: gạolạc nhâncà phêchèhạt tiêuhạt điềurau quảđườngthuỷ sảnthịt gia súc, gia cầmgốm sứđồ gỗ mỹ nghệmây tresản phẩm tơ lụaSản phẩm dây điện,cáp điệnsản phẩm cơ khí trọng điểmhàng dệt kimmáy tính nguyên chiếc và phụ kiệnSo với năm 2002 thì danh mục đc bổ sung thêm các mặt hàng mới là đường,sản phẩm dây điện,cáp điện,sản phẩm cơ khí trọng điểm,máy tính nguyên chiếc và phụ kiện,sản phẩm tơ lụa.Những khoản tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thường liên quan đến ba khu vực của quá trình sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu:khu vực thứ 1 là sản xuất,khai thác nguyện liệu cho xuất khẩu.khu vực thứ 2 là thu mua,chế biến hàng xuất khẩu.khu vực thứ 3 là lưu thông và xuất khẩu.Một số hình thức tài trợ xuất khẩu:Tín dụng chiết khấu hối phiếu.Tín dụng ứng trước đối với nhà xuất khẩu.cho vay chiết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xuất khẩu.bao thanh toán tương đối.Như vậy tín dụng tài trợ xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp thực hiện đc những thương vụ lớn. giúp cho doanh nghiệp có vốn để nhập máy móc,thiết bị,dây chuyền sản xuất…Đối với nền kinh tế đất nước thúc đẩy hoạt động kinh doanh XNK và lưu thông hàng hoá XNK.1.2 . Về thưởng kim ngạch xuất khẩu.Chính phủ khuyến khích xuất khẩu đối với phần kim ngạch vượt so với kim ngạch xuất khẩu năm trước,theo danh mục những mặt hàng đó đc thưởng xuất khẩu.1.3 Xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm.Ngày 24012003 Bộ thương mại đã ban hành quyết định số 01042003QĐBMT về quy chế xây dựng và quản lý chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia.1.4.Chi phối đối với giao dịch,tiếp thị của các doanh nghiệp.Đối với hoạt động giao dịch,tiếp thị của các doanh nghiệp,Bộ tài chính quy định mức chi phí tối đa đối với các hoạt động này không đc vượt quá 7% chi phí của doanh nghiệp.1.5 Điều chỉnh một sỗ quy định về thuế GTGT.a. về việc thanh toán qua ngân hàng trong hoạt động xuất khẩuCác quy định về thuế GTGT đã đc siết chặt hơn để hạn chế gian lận thương mại, Nghị định số 762002NĐCP ngày 13092002 của chính phủ quy định cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hoá,dịch vụ được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% phải thanh toán tiền bán hàng hoá,dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng.b. Về phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng:Theo quy định của bộ tài chính,phương pháp thu này đc áp dụng đối với một số doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán,hoá đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ.1.6 Rà soát để giảm chi phí dịch vụ đầu vào đối với xuất khẩu.Tại nghị quyết số 052002NQCP nagyf 24042002 của chính phủ,thủ tướng chính phủ đã giao bộ tài chính chủ trì phối hợp với một số bộ,ngành liên quan tiến hành rà soát lại chi phí này để báo cáo thủ tướng chính phủ.Thực hiện chủ trương này,Bộ bưu chính viễn thông sẽ áp dụng giảm giá cước đối với một số loại các dịch vụ viễn thông,trong đó có cước dịch vụ điện thoại quốc tế,cước truy cập internet,cước hoà mangjvaf thong tin đt di động.đây là đợt giảm giá cước có uy mô lớn nhất,nhằm rút ngắn lộ trình đưa giá cước viễn thong của nước ta xuống mức bằng và thấp hơn so với một số nước trong khu vực.1.7 Quỹ bảo lãnh tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.Tháng 122001, trên cơ sở đề xuất của bộ tài chính, thủ tướng chính phủ đã ban hành quy chế giao cho các tỉnh thành thành lập quỹ bảo tín dụng cho SME.Nhờ có các biệm pháp trợ cấp của chính phủ cho các mặt hàng xuất khẩu mà việt nam đã đạt được mức xuất khẩu cao.các mặt hàng của Việt Nam đã có mặt trên nhiều thị trường quốc tế.Do đc trợ cấp từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm nên có sức cạnh tranh mạnh.Hiện nay, gạo do Việt Nam xuất khẩu có chi phí thấp hơn nhiều so với gạo nhập khẩu.Do đó Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới,tuy nhiên chất lượng lại k đc dánh giá cao như gạo của Thai Lan.Do đc nhà nước đầu tư cho vay vốn nuôi trồng thuỷ sản,Việt nam đc dánh giá là nước xuất khẩu hàng đầu thế giớ hiện nay. Sản lượng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng từ thời gian năm 1995 trở lại đây. Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã tăng từ 239 triệu USD năm 1990 lên 979 triệu USD năm 1999, 1800 triệu USD năm 2001 và đạt tới mức 6,2 tỷ USD năm 2012.Đến nay thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt hơn 60 nước trên thế giới.2.Những thách thức đối với trợ cấp xuất khẩu ở Việt NamViệt Nam đã áp dụng những chính sách trợ cấp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu và đã đạt được kết quả tốt tuy vẫn còn một số tồn tại cần được giải quyết như sau: 2.1. Về thưởng kim ngạch xuất khẩu: Chính phủ đã có văn bản số 78CPKTTH về chế độ thưởng khuyến khích xuất khẩu đối với phần kim ngạch vượt so với kim ngạch xuất khẩu năm trước (theo danh mục mặt hàng đó được thưởng xuất khẩu năm trước) và sau khi đánh giá tiềm năng của ngành rau quả, Bộ thương mại công bố mục tiêu phấn đấu đối với mặt hàng rau quả năm 2003 (vớ dụ) là tăng kim ngạch 10%. Như vậy, chỉ những doanh nghiệp nào có kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng từ 10% trở lên mới thuộc diện được thưởng. Nếu chỉ đạt mức tăng thấp hơn 10% thì không được thưởng. Nếu do khó khăn về thị trường, nguồn hàng hay giá cả mà kim ngạch của cả ngành hàng tăng trưởng âm thì những doanh nghiệp nào đạt tăng trưởng dương đều được thưởng trên phần kim ngạch vượt trội. Phương pháp tiếp cận này nhằm khuyến khích, động viên những doanh nghiệp xuất khẩu giỏi hơn mức bình quân của ngành, đồng thời cũng loại trừ được yếu tố biến động khách quan về giá hoặc sản lượng (Chẳng hạn giá mặt hàng X năm 2003 tăng hơn 30% so với mức bình quân của năm 2002 như vậy nếu lượng xuất không đổi thì các doanh nghiệp trong ngành có thể đạt được mức tăng trưởng xấp xỉ 30% mà không cần phải nỗ lực nhiều, trong khi những ngành hàng giá không tăng hoặc gặp khó khăn về thị trường lại khó đạt được mức tăng trưởng).Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét lại quyết định này bởi tiềm lực tài chính của các tỉnh và thành phố là có hạn, lại không đồng đều. Nếu mỗi tỉnh, thành đều phải tự tìm nguồn để thành lập quỹ cho riêng mình thì hiệu quả thực tế sẽ không cao do nguồn lực bị dàn trải. Đó là chưa kể các doanh nghiệp vừa và nhỏ (SME) ở những tỉnh có hoàn cảnh khó khăn sẽ ở vào thế bất lợi hơn so với SME ở những tỉnh có tiềm năng. Vấn đề tín dụng cho doanh nghiệp nói chung và cho SME nói riêng hiện nay đang là vấn đề hết sức bức xúc. Vì vậy, đề nghị có một cơ chế tập trung nguồn lực để thành lập 01 quỹ bảo hành tín dụng cho SME tại trung ương, chỉ thành lập tại địa phương các chi nhánh hoặc đại lý (là chi nhánh các quỹ hỗ trợ phát triển hoặc tổ chức tín dụng địa phương). Khi có nhu cầu, mọi đại lý đều có thể tiếp cận với nguồn lực tập trung, hiệu quả thực tiễn vì vậy sẽ cao hơn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tất cả các tỉnh cũng ở vào thế bình đẳng hơn. 2.2. Về việc xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm: Việt Nam chưa có được những chương trình xúc tiến trọng điểm 2.3. Sửa đổi qui định về chi phí đối với giao dịch, tiếp thị của các doanh nghiệp: Đối với hoạt động giao dịch, tiếp thị của các doanh nghiệp, Bộ Tài chính qui định mức chi phí tối đa đối với các hoạt động này không được vượt quá 7% tổng chi phí của doanh nghiệp. Theo nhiều doanh nghiệp, qui định này là chưa hợp lý và hạn chế các hoạt động phát triển thị trường vì doanh nghiệp thuộc các ngành hàng, lĩnh vực khác nhau, thậm chí ngay trong một doanh nghiệp thì chi phí cho hoạt động tiếp thị tại các thời điểm kinh doanh cũng khác nhau. Mặt khác, quy định này dẫn đến một nghịch lý là doanh nghiệp nào có tổng chi phí giảm thì chi phí giao dịch, tiếp thị cũng phải giảm theo. Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ bàn giao cho Bộ Tài chính nghiên cứu và điều chỉnh lại quy định trên theo hướng bãi bỏ mức quy định tối đa đối với các chi phí này hoặc nâng mức quy định tối đa từ 7% lên 15 20%. 2.4. Điều chỉnh một số quy định về thuế GTGT 2.4.1. Về việc thanh toán qua ngân hàng trong hoạt động xuất khẩu Nghị định số 762002NĐCP ngày 13092002 của Chính phủ quy định cơ sở kinh doanh xuất khẩu các hàng hóa, dịch vụ được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% phải thanh toán tiền bán hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng. Tuy qui định này đã góp phần hạn chế tình trạng gian lận thương mại nhưngmặt khác cũng đã làm phát sinh một số vướng mắc trong xuất khẩu qua đường biên mậu, nhất là xuất khẩu qua biên giới Trung Quốc. Thực tiễn hoạt động buôn bán với Trung Quốc thời gian qua cho thấy hình thức thanh toán qua ngân hàng mới chỉ chiếm khoảng 15 20% trong tổng kim ngạch giữa hai nước, còn lại đa phần là thanh toán theo các hình thức khác như hàng đổi hàng, thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán theo hình thức tạm ứng.v.v...Theo phản ảnh của một số doanh nghiệp thì việc thực hiện quy định về thanh toán qua ngân hàng có một số vướng mắc do phía đối tác Trung Quốc không muốn áp dụng hình thức này, chưa kể đến việc thanh toán qua ngân hàng sẽ làm phát sinh một số chi phí giao dịch (ước các khoản chi phớ lên tới 0,3% kim ngạch xuất khẩu). Do có những vướng mắc này mà hoạt động xuất nhập khẩu với Trung Quốc cũng đã có dấu hiệu không nhộn nhịp như trước. (Theo số liệu hải quan, xuất khẩu rau quả và thuỷ sản vào Trung Quốc sau 2 tháng đã giảm hơn 60% so với cùng kỳ). Theo Bộ Thương mại, về lâu dài hoạt động thương mại nói chung, trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu qua đường biên mậu, cần từng bước chuyên nghiệp hóa, trong đó có việc áp dụng phương thức thanh toán ngân hàng. Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù trong hoạt động xuất nhập khẩu biên mậu hiện nay, nhất là trong điều kiện việc hoàn khống thuế GTGT đã được bãi bỏ để hạn chế gian lận về thuế GTGT, Thủ tướng Chính phủ nên cho pháp tạm thời có một cơ chế riêng đối với buôn bán qua đường biên mậu, cụ thể là xuất khẩu biên mậu được hưởng thuế suất thuế GTGT 0% đối với các hình thức thanh toán hợp pháp, không chỉ áp dụng đối với các trường hợp thanh toán qua ngân hàng. 2.4.2. Về phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng: Kiến nghị Bộ Tài chính rà soát lại các quy định về việc áp dụng phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng. Theo quy định của Bộ Tài chính, phương pháp thu này được áp dụng đối với một số doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ. Do mức thuế phải nộp căn cứ vào mức doanhthu khoán nên phương thức này cũng dễ làm phát sinh một số kẽ hở khi doanh thu thực tế của đơn vị vượt quá mức khoán nhưng doanh nghiệp lại không báo cáo đầy đủ với cơ quan thuế. Do vậy, vô hình chung đã tạo ra sự không bình đẳng về nghĩa vụ thuế giữa các doanh nghiệp nộp thuế GTGT theo phương pháp khấu trừ và các doanh nghiệp nộp thuế khoán trong cùng một ngành hàng kinh doanh, từ đó ảnh hưởng đến lưu thông hàng hóa trong nước và nhà nước cũng bị thất thu một lượng tiền thuế. Để khắc phục tình trạng này, Thủ tướng Chính phủ cũng nên giao cho Bộ Tài chính rà soát lại các quy định về việc áp dụng phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng và việc tổ chức thực hiện thu thuế GTGT theo phương phỏp này theo nguyên tắc bảo đảm thu đúng, thu đủ và công bằng đối với các doanh nghiệp được tính thuế GTGT theo các phương pháp khác nhau. 2.5. Rà soát để giảm chi phí dịch vụ đầu vào đối với xuất khẩu: Tại Nghị quyết số 052002NQCP ngày 24042002 của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã giao Bộ Tài chính chủ trì, phối hợp với một số Bộ, ngành hữu quan tiến hành rà soát lại các chi phí dịch vụ đầu vào đối với hàng xuất khẩu để báo cáo Thủ tướng Chính phủ. Tuy nhiên, việc rà soát một số loại chi phí dịch vụ khác vẫn chưa hoàn thành. Kiến nghị Bộ Tài chính khẩn trương thực hiện rà soát các loại phí, lệ phí theo tinh thần Nghị quyết số 052002 của Chính phủ. Cần có đoàn kiểm tra thực tế, không nên dựa vào báo cáo của các cơ sở cung cấp dịch vụ. Kết quả kiểm tra cũng nên được công bố công khai trên báo chí cho các doanh nghiệp biết. Các loại phí cần được rà soát kỹ là phí ở cảng, phí ở các tỉnh biên giới và lệ phí cầu, đường trên một số trục đường chính, hàng xuất khẩu thường đi qua. Theo một số doanh nghiệp phản ảnh, mức thu phí đường bộ 80.000 đồng lượt đối với xe tải từ 18 tấn trở lên (theo Thông tư số 1092002 của Bộ Tài chính quy định về chế độ thu, quản lý, sử dụng phí giao thông đường bộ) là quá cao (tăng thêm 20.000 đồng so với trước), mặt khác có những trạm thu phí trên cùng một tuyến đường cách nhau không đủ 70km như quy định tại Thông tư (như trên đường 5 trạm Quán Toan cách trạm Hải Dương chỉ có 30km) làm cho doanh nghiệp bị đội chi phí vận tải. 2.6. Những khó khăn đối với việc áp dụng trợ cấp xuất khẩu của Việt Nam khi gia nhập WTO Các mặt hàng đã và đang được trợ cấp xuất khẩu của Việt nam sẽ bị đánh thuế chống trợ cấp khi gia nhập tổ chức thương mại thế giới. Thuế chống trợ cấp là một loại thuế nhập khẩu đặc biệt nhằm chống lại trợ cấp của Chính phủ nước ngoài cho hàng xuất khẩu, thường được áp dụng sau khi đã có điều tra cho thấy có tổn hại do trợ cấp đó gây ra. Tổ chức thương mại thế giới định nghĩa rằng thuế chống trợ cấp được hiểu là một khoản thuế đặc biệt nhằm mục đích bồi hoàn cho khoản trợ cấp đã được cung cấp một cách trực tiếp hoặc gián tiếp trong quá trình chế tác, sản xuất hoặc xuất khẩu của bất kỳ loại hàng hoá nào”. Đây là định nghĩa chặt chẽ về mặt luật pháp và thường được các nước chấp nhận. Tuy nhiên, định nghĩa này phải được hiểu trong bối cảnh rộng của WTO, có nghĩa là các quy định của WTO liên quan đến quá trình điều tra, thủ tục áp dụng v.v… cũng phải được tuân thủ đầy đủ. Về mặt kinh tế, thuế chống trợ cấp là một hình thức thuế đánh vào hàng hoá được trợ cấp nhằm triệt tiêu lợi thế do khoản trợ cấp đó đem lại. Để đạt được mục tiêu trên, thuế chống trợ cấp phải tương đương với lợi ích mà trợ cấp đem lại cho hàng hoá, hay chính xác hơn, thuế chống trợ cấp phải triệt tiêu được lợi thế hàng nhập khẩu có được do nhận được trợ cấp của chính phủ so với loại hàng tương tự được sản xuất tại nước nhập khẩu. Do đó, sau khi đánh thuế chống trợ cấp, hàng hoá nhận được trợ cấp không còn lợi thế so với hàng tương tự được sản xuất trong nước không được trợ cấp. Tuy nhiên, thuế chống trợ cấp cũng không được đánh quá cao, vượt quá lợi ích thực sự mà hàng nhập khẩu nhận được. Về hình thức bên ngoài, thuế chống trợ cấp lại có nhiều điểm tương đồng với thuế nhập khẩu. Vì vậy, xét về mặt hình thức, ở một chừng mực nhất định cũng có thể coi thuế chống trợ cấp là một hình thức thuế nhập khẩu đặc biệt. Thuế chống trợ cấp giống với thuế nhập khẩu ở các điểm sau: • Đối tượng chịu thuế là hàng nhập khẩu; • Phương phỏp quản lý thuế tương đối giống với thuế thụng thường: cựng được cơ quan hải quan thu tại cửa khẩu; • Tỏc động tương đối rừ ràng và minh bạch ở khõu ỏp dụng nếu so với các biện pháp phi thuế quan khác (mặc dù quá trình điều tra có thể bị các cơ quan áp dụng lạm dụng vì một số mục đích nhất định). Tuy nhiên, thuế chống trợ cấp có một số điểm khác căn bản so với thuế nhập khẩu thông thường: • Thuế nhập khẩu thụng thường chủ yếu nhằm mục đớch bảo hộ cho sản xuất trong nước còn thuế chống trợ cấp nhằm đảm bảo mọi trường cạnh tranh bình đẳng giữa hàng trong nước và hàng nhập khẩu; • Thuế nhập khẩu thụng thường mang tớnh ổn định, trong khi thuế chống trợ cấp mang tính tình huống rõ rệt. Dù là nhằm bảo hộ cho sản xuất trong nước, tạo nguồn thu cho ngân sách hay đảm bảo công bằng xãhội, thuế nhập khẩu đều được áp dụng theo một định hướng tương đối ổn định. Trong khi đó, thuế chống trợ cấp chỉ xuất hiện khi phát sinh trợ cấp làm ảnh hưởng đến nhà sản xuất trong nước. Thuế chống trợ cấp sẽ mất đi khi không còn trợ cấp nữa hay khi các nhà sản xuất trong nước không còn chịu ảnh hưởng bất lợi của hàng hoá được nước ngoài trợ cấp nữa. C.MỘT SỐ GIẢI PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ TRỢ CẤP XUẤT KHẨU Ở VIỆT NAM TRONG ĐIỀU KIỆN HỘI NHẬP1.Các giải pháp ở tầm vĩ môa)Thiết lập các tổ chức xúc tiến thương mại để hỗ trợ các doanh nghiệp tham gia thị trường nước ngoài, góp phần khai thác tới mức cao nhất lợi thế cạnh tranh của nền kinh tế, các doanh nghiệp và các sản phẩm xuất khẩu của Việt Nam.b)Tiếp tục hoàn thiện môi trường pháp lý thuận lợi cho các doanh nghiệp VN tham gia xuất khẩu.c)Để tạo một khung pháp lý hoàn chỉnh, thống nhất hỗ trợ hoạt động xuất khẩu, nhà nước cần có các giải pháp sau đây:Tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật phù hợp với quá trình chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường, xây dựng môi trường kinh doanh bình đẳng.Trong điều kiện môi trường thương mại thế giới ngày càng trở nên toàn cầu hoác và tự do hóa mạnh mẽ với sự phát triển như vũ bão của cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật và công nghệ thông tin… việc phát triển xuất khẩu nhanh và bền vững đòi hỏi các nước phải tham gia phân công lao động quốc tế dựa trên lợi thế cạnh tranh của từng nướcĐịnh hướng xúc tiến xuất khẩu các sản phẩm dịch vụ của VN thời gian tới là: tập trung phát triển thị trường xuất khẩu cho các sản phẩm nông lâm thủy sản, khoáng sản, nguyên liệu, hàng công nghiệp nhẹ và tiểu thủ công nghiệp, sử dụng nhiều lao động… nhưng phải hướng tới việc xúc tiến mạnh các sản phẩm có giá trị gia tăng, có hàm lượng công nghệ và trí thức cao, hàng chế biến sẵn, thiết kế, chế tạo, hàng điện tử, tin học… cũng như xuất khẩu các sản phẩm dịch vụ có khả năng cạnh tranh như xuất khẩu lao động, du lịch, vận tải biển…Xúc tiến xuất khẩu phải trú trọng nâng cao uy tín của hàng hóa và dịch vụ của VN ở cả thị trường trong nước và quốc tế.Tăng cường các hoạt động xúc tiến xuất khẩu ở nước ngoài đi đôi với việc cải tiến khả năng cung cấp cho xuất khẩu ở trong nước và đẩy nhanh tốc độ quốc tế hóa các DN trong nước.Tăng cường cử cán bộ tổ chức các hoạt đông xúc tiến TM ở nước ngoài, khuyến khích các DN mở đại diện thường trú, văn phòng lien lạc, đại diện ủy thác,… để phát triển thị trường XKTăng cường đa dạng hóa nguồn lực XTXK, hoàn thiện về mặt tổ chức và đa dạng hóa các dịch vụ XTXK của chính phủ nhằm đáp ứng được nhu cầu và yêu cầu của các DNXK và khách hàng để đẩy mạnh XK của đất nước.d)Về việc bị đánh thuế chống trợ cấp XK: nếu bị đánh thuế chống trợ cấp trực tiếp, ta có thể khắc phục tình trạng trên bằng cách trợ cấp gián tiếp như: tài trợ cho các hoạt động XTXK, tham gia hội trợ triển lãm ở nước ngoài, cấp kinh phí cho các khu đào tạo nhân lực…2.Các giải pháp ở tầm vi môa.chính sách khuyến khích sản xuấtChính sách đối với làng nghề: Để các ngành nghề thủ công truyền thống, các ngành nghề duy trì và phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh, nhà nước cần có các chính sách khuyến khích hỗ trợ.Chính sách đối với nghệ nhân: Muốn duy trì và phát triển làng nghề truyền thống, nhà nước cần có chính sách đối với nghệ nhân. Giúp đỡ, khuyến khích họ phát huy tài năng, phát triển nghề, phát triển sản xuất phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu, truyền dạy cho con cháu, đào tạo làng nghề cho lao động sản xuất,…Chính sách đối với lao động thủ công:Mở trường mỹ thuật thực hành ở môt số tỉnh thành có nhu cầu hoặc mở thêm khoa kỹ thuật thực hành trong các trường cao đẳng kỹ thuật hiện có để đào tạo thợ phổ thong theo phương thức vừa học vừa lao động sản xuất tại các làng nghề, cơ sở sản xuất, nhất là những cơ sở nhiều hàng xuất khẩu. nhà nước hỗ trợ một phần chi phí và những cơ sở sản xuất có lao động vừa học vừa làm.Nhà nước hỗ trợ một phần kinh phí từ quỹ hỗ trợ việc làm để các cơ sở sản xuất nhất là các cơ sở sản xuất hàng xuất khẩu tự tổ chức việc đào tạo nghề.Chính sách cung ứng nguyên liệu cho sản xuất hàng thủ công mỹ nghệ.Đối với các nguyên liệu khai thác từ rừng tự nhiên: đề nghị ưu tiên giao hạn mức cho các đơn vị có hợp đồng xuất khẩu sản phẩm đồ gỗ mỹ nghệ. Tuy nhiên các đơn vị này phải quyết toán việc sử dụng gỗ nguyên liệu cho các hợp đồng đó thì mới được giao hạn mức gỗ nguyên liệu cho năm sau và được nhận gỗ trực tiếp từ các đơn vị khai thác gỗ tránh việc giao nhận lòng vòng đẩy giá thành lên cao, khó cạnh tranh tiêu thụ sản phẩm…Đối với các loại nguyên liệu khô như mây, tre… nhà nước có chính sách hỗ trợ các dự án đầu tư xây dựng vùng trống nguyên liệu phục vụ xuất khẩub.chính sách tài chính, tín dụng khuyến khích sản xuất và xuất khẩuTăng mức ưu đãi đầu tư sản xuất kinh doanh hàng thủ công mỹ nghệSửa đổi bổ sung các quy định cho vay vốn nhất là vốn ưu đãiĐược ngân hàng ưu tiên cho vay đủ vốn sản xuất,được quỹ hỗ trợ phát triển của nhà nước hoặc quỹ hỗ trợ xuất khẩu hỗ trợ 50% lãi suất trên số vốn vay của ngân hàng. Hưởng ưu đãi về thuế đối với nhà đầu tư sản xuất kinh doanh hàng xuất khẩuc.chính sách khuyến khích xuất khẩu: Chính sách hỗ trợ công tác tiếp thị và xúc tiến thương mại: kiến nghị nhà nước có chính sách hỗ trợ một phần chi phí xúc tiến, tiếp thị mở rộng thị trường xuất khẩud.chính sách thưởng xuất khẩuTheo qui định hiện hành, để được thưởng về kim ngạch xuất khẩu hàng thủ công mỹ nghệ, doanh nghiệp phải đạt mức kim ngạch 5 triệu USD năm trở lên. Đây là một tiêu chuẩn quá cao và khó có doanh nghiệp nào đạt được tiêu chuẩn để đưa vào diện được xét thưởng. Để khuyến khích các doanh nghiệp vừa và nhỏ tích cực tham gia đẩy mạnh xuất khẩu, đồng thời cũng là cách hỗ trợ vượt qua những khó khăn trong sản xuất kinh doanh; kiến nghị cho áp dụng tiêu chuẩn kim ngạch xét thưởng ở từ mức 2 triệu USDnăm trở lên; nếu có được thưởng thì doanh nghiệp cũng chỉ được hưởng 1 lần trong cả cuộc đời tồn tại của mình; còn sau đú nếu doanh nghiệp duy trì và phát triển tốt để được xét thưởng tốt thì doanh nghiệp phải có tốc độ tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu đạt mức qui định. Mức hiện hành là 20%năm đối với toàn bộ kim ngạch của đơn vị năm sau so với năm trước. HTTP:SINHVIENNGANHANG.COM 40
Trang 1A.C s lí lu n v tr c p xu t kh u ơ sở lí luận về trợ cấp xuất khẩu ở lí luận về trợ cấp xuất khẩu ận về trợ cấp xuất khẩu ề trợ cấp xuất khẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu
I.Khái ni m v tr c p xu t kh uệm về trợ cấp xuất khẩu ề trợ cấp xuất khẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu
1.Khái ni m v tr c p xu t kh uệm về trợ cấp xuất khẩu ề trợ cấp xuất khẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu
Tr c p xu t kh u là chính sách ngo i thợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ương trong đó chính phủ áp dụngng trong đó chính ph áp d ngủ áp dụng ụng các bi n pháp nh m kích thích tăng trệm về trợ cấp xuất khẩu ằm kích thích tăng trưởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ưởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ng xu t kh u b ng cách tr c p ấp xuất khẩu ẩu ằm kích thích tăng trưởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu
tr c ti p ho c cho vay v i lãi su t th p đ i v i các nhà s n xu t hàng xu tặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ản xuất hàng xuất ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu
kh u M c đích c a tr c p xu t kh u đ nh m đ y m nh xu t kh u ẩu ụng ủ áp dụng ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ằm kích thích tăng trưởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ấp xuất khẩu ẩu hàng hóa ra nưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuấtc ngoài
2 Các hình th c tr c p xu t kh uức trợ cấp xuất khẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu
G m có tr c p xu t kh u tr c ti p và tr c p xu t kh u gián ti p:ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu
Tr c p tr c ti p: Chính ph thanh toán tr c ti p cho doanh nghi p ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ủ áp dụng ệm về trợ cấp xuất khẩu
xu t kh u hàng đấp xuất khẩu ẩu ượ cấp xuất khẩuc tr c p tợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ương trong đó chính phủ áp dụngng x ng v i kh i lức trợ cấp xuất khẩu ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ối với các nhà sản xuất hàng xuất ượ cấp xuất khẩung hay giá tr ị
xu t kh u Chính ph bù đ p tr c ti p thi t h i cho doanh nghi p ấp xuất khẩu ẩu ủ áp dụng ắp trực tiếp thiệt hại cho doanh nghiệp ệm về trợ cấp xuất khẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ệm về trợ cấp xuất khẩu khi xu t kh u hàng hóa nh áp d ng thu su t u đãi đ i v i hàng ấp xuất khẩu ẩu ư ụng ấp xuất khẩu ư ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất
xu t kh u, mi n ho c gi m thu đ i v i các nhà xu t kh u, Cho ấp xuất khẩu ẩu ễn hoặc giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu, Cho ặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ản xuất hàng xuất ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ấp xuất khẩu ẩu các nhà xu t kh u đấp xuất khẩu ẩu ượ cấp xuất khẩuc hưởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ng các giá u đãi cho các đ u vào s n ư ầu vào sản ản xuất hàng xuất
xu t hàng xu t kh u nh đi n, nấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ư ệm về trợ cấp xuất khẩu ưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ận tải, thông tin liên lạc ản xuất hàng xuấtc,v n t i, thông tin liên l c ại thương trong đó chính phủ áp dụng
Tr c p gián ti p: Chính ph cung c p tài chính cho ngợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ủ áp dụng ấp xuất khẩu ười xuất i xu t ấp xuất khẩu
kh u ho c doanh nghi p xu t kh u gián ti p thông qua các đi u ẩu ặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ệm về trợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ề trợ cấp xuất khẩu
ki n tín d ng và các d ch v chuyên ch hàng xu t kh u.Nhà nệm về trợ cấp xuất khẩu ụng ị ụng ởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ấp xuất khẩu ẩu ưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuấtc dùng ngân sách đ gi i thi u, tri n lãm, qu ng cáo, t o đi u ki n ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ệm về trợ cấp xuất khẩu ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ản xuất hàng xuất ại thương trong đó chính phủ áp dụng ề trợ cấp xuất khẩu ệm về trợ cấp xuất khẩu cho các giao d ch xu t kh u ho c giúp đ v kỹ thu t và đào t o ị ấp xuất khẩu ẩu ặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ỡ về kỹ thuật và đào tạo ề trợ cấp xuất khẩu ận tải, thông tin liên lạc ại thương trong đó chính phủ áp dụng chuyên gia
Khi người xuất i xu t kh u nh n đấp xuất khẩu ẩu ận tải, thông tin liên lạc ượ cấp xuất khẩuc m t kho n tr c p dù là tr c ti p hay ột khoản trợ cấp dù là trực tiếp hay ản xuất hàng xuất ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu gián ti p cho s n ph m xu t kh u thì h không ph i hoàn tr l i cho Nhà ản xuất hàng xuất ẩu ấp xuất khẩu ẩu ọ không phải hoàn trả lại cho Nhà ản xuất hàng xuất ản xuất hàng xuất ại thương trong đó chính phủ áp dụng
nưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuấtc Và tr c p xu t kh u tr c ti p có xu hợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuấtng b thu h p do s đ u ị ẹp do sự đấu ấp xuất khẩu tranh gi a Chính ph có buôn bán v i nhau, ngữa Chính phủ có buôn bán với nhau, ngược lại trợ cấp xuất khẩu ủ áp dụng ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ượ cấp xuất khẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụngc l i tr c p xu t kh u ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu gián ti p ngày càng tăng lên và thười xuất ng đượ cấp xuất khẩuc che d u.ấp xuất khẩu
C th các hình th c tr c p xu t kh u đ i v i m t s m t hàng c a ụng ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ức trợ cấp xuất khẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ột khoản trợ cấp dù là trực tiếp hay ối với các nhà sản xuất hàng xuất ặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ủ áp dụng
Vi t Nam v lý thuy t:ệm về trợ cấp xuất khẩu ề trợ cấp xuất khẩu
Đ i v i s n ph m g o: H tr lãi su t thu mua lúa g o trong v thu ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ản xuất hàng xuất ẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ụng
ho ch, h tr lãi su t cho doanh nghi p xu t kh u g o, h tr lãi ại thương trong đó chính phủ áp dụng ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ệm về trợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu
Trang 2su t xu t kh u g o tr ch m, bù l cho doanh nghi p xu t kh u ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ản xuất hàng xuất ận tải, thông tin liên lạc ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ệm về trợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu
g o.ại thương trong đó chính phủ áp dụng
Đ i v i cà phê: Hoàn ph thu, bù l cho t m tr cà phê xu t kh u, ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ụng ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ữa Chính phủ có buôn bán với nhau, ngược lại trợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu
bù l cho doanh nghi p xu t kh u cà phê, h tr lãi su t t m tr , ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ệm về trợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ữa Chính phủ có buôn bán với nhau, ngược lại trợ cấp xuất khẩu
thưởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ng xu t kh u.ấp xuất khẩu ẩu
Đ i v i đối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ười xuất ng: h tr giá, h tr gi ng mía, gi m thu VAT 50%, hỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu ối với các nhà sản xuất hàng xuất ản xuất hàng xuất ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu
tr lãi su t sau đ u t , bù chênh l ch t giá, h tr lãi su t thu mua ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ầu vào sản ư ệm về trợ cấp xuất khẩu ỷ giá, hỗ trợ lãi suất thu mua ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu mía trong v thu ho ch.ụng ại thương trong đó chính phủ áp dụng
Chè, l c nhân, th t gia súc, gia c m các lo i, h t tiêu, h t đi u: ại thương trong đó chính phủ áp dụng ị ầu vào sản ại thương trong đó chính phủ áp dụng ại thương trong đó chính phủ áp dụng ại thương trong đó chính phủ áp dụng ề trợ cấp xuất khẩu
thưởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ng theo kim ng ch xu t kh u.ại thương trong đó chính phủ áp dụng ấp xuất khẩu ẩu
Xe đ p, qu t đi n: u đãi v tín d ng, mi n gi m thu thu nh p ại thương trong đó chính phủ áp dụng ại thương trong đó chính phủ áp dụng ệm về trợ cấp xuất khẩu ư ề trợ cấp xuất khẩu ụng ễn hoặc giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu, Cho ản xuất hàng xuất ận tải, thông tin liên lạc doanh nghi p, mi n thu su t kh u, mi n thu nh p kh u linh ệm về trợ cấp xuất khẩu ễn hoặc giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu, Cho ấp xuất khẩu ẩu ễn hoặc giảm thuế đối với các nhà xuất khẩu, Cho ận tải, thông tin liên lạc ẩu
ki n, ph tùng, v t t , h tr vay v n ngân hàng.ệm về trợ cấp xuất khẩu ụng ận tải, thông tin liên lạc ư ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu ối với các nhà sản xuất hàng xuất
Đ i v i s n ph m c khí: u đãi vay v n tín d ng đ u t phát tri n ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ản xuất hàng xuất ẩu ơng trong đó chính phủ áp dụng ư ối với các nhà sản xuất hàng xuất ụng ầu vào sản ư ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
c a Nhà nủ áp dụng ưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuấtc
Đ i v i d t may: v n tín d ng u đãi, u đãi đ u t , b o lãnh c a ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ệm về trợ cấp xuất khẩu ối với các nhà sản xuất hàng xuất ụng ư ư ầu vào sản ư ản xuất hàng xuất ủ áp dụng Chính ph , h tr kinh phí xúc ti n thủ áp dụng ỗ trợ lãi suất thu mua lúa gạo trong vụ thu ợ cấp xuất khẩu ương trong đó chính phủ áp dụngng m i.ại thương trong đó chính phủ áp dụng
II.Vai trò c a tr c p xu t kh uủ áp dụng ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu
Góp ph n phát tri n công nghi p n i đ a và thúc đ y xu t kh u c a ầu vào sản ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ệm về trợ cấp xuất khẩu ột khoản trợ cấp dù là trực tiếp hay ị ẩu ấp xuất khẩu ẩu ủ áp dụng
qu c gia.ối với các nhà sản xuất hàng xuất
Nâng cao kh năng c nh tr nh xu t kh u c a doanh nghi p Tr c pản xuất hàng xuất ại thương trong đó chính phủ áp dụng ại thương trong đó chính phủ áp dụng ấp xuất khẩu ẩu ủ áp dụng ệm về trợ cấp xuất khẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu
xu t kh u còn làm tăng l i th c nh tranh c a hàng xu t kh u đấp xuất khẩu ẩu ợ cấp xuất khẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ủ áp dụng ấp xuất khẩu ẩu ượ cấp xuất khẩuc
tr c p so v i hàng xu t kh u không đợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ấp xuất khẩu ẩu ượ cấp xuất khẩuc tr c p c a các nợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ủ áp dụng ưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuấtc khác vào th trị ười xuất ng th ba và ngăn c n hàng xu t kh u c a các nức trợ cấp xuất khẩu ản xuất hàng xuất ấp xuất khẩu ẩu ủ áp dụng ưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuấtc khác vào th trị ười xuất ng này
Góp ph n đi u ch nh c c u ngành, c c u vùng kinh t Tr c p ầu vào sản ề trợ cấp xuất khẩu ỉnh cơ cấu ngành, cơ cấu vùng kinh tế Trợ cấp ơng trong đó chính phủ áp dụng ấp xuất khẩu ơng trong đó chính phủ áp dụng ấp xuất khẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu
xu t kh u kích thích lan truy n hi u ng tích c c và kh c ph c hi u ấp xuất khẩu ẩu ề trợ cấp xuất khẩu ệm về trợ cấp xuất khẩu ức trợ cấp xuất khẩu ắp trực tiếp thiệt hại cho doanh nghiệp ụng ệm về trợ cấp xuất khẩu
ng tiêu c c
ức trợ cấp xuất khẩu
Là m t công c đ “m c c ” trong đàm phán qu c t ột khoản trợ cấp dù là trực tiếp hay ụng ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ản xuất hàng xuất ối với các nhà sản xuất hàng xuất
Tuy nhiên, tr c p xu t kh u có th mang l i nh ng h u qu kinh t , ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ữa Chính phủ có buôn bán với nhau, ngược lại trợ cấp xuất khẩu ận tải, thông tin liên lạc ản xuất hàng xuất chính tr không nh mong mu n:ị ư ối với các nhà sản xuất hàng xuất
Tr c p xu t kh u bóp méo s c nh tr nh t nhiên trong môi ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ại thương trong đó chính phủ áp dụng
trười xuất ng thương trong đó chính phủ áp dụngng m i t do.ại thương trong đó chính phủ áp dụng
Chí phí c h i c a tr c p r t l n và xét v dài h n tr c p có th ơng trong đó chính phủ áp dụng ột khoản trợ cấp dù là trực tiếp hay ủ áp dụng ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất ề trợ cấp xuất khẩu ại thương trong đó chính phủ áp dụng ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
c n tr s phát tri n c a chính ngành đản xuất hàng xuất ởng xuất khẩu bằng cách trợ cấp ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ủ áp dụng ượ cấp xuất khẩuc tr c p.ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu
Trang 3 Xác su t ch n sai đ i tấp xuất khẩu ọ không phải hoàn trả lại cho Nhà ối với các nhà sản xuất hàng xuất ượ cấp xuất khẩung tr c p khá cao.ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu
Tr c p có th d n đ n hành đ ng tr đũa.ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ể nhằm đẩy mạnh xuất khẩu ẫn đến hành động trả đũa ột khoản trợ cấp dù là trực tiếp hay ản xuất hàng xuất
Tr c p không hi u qu v m t tài chính.ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ệm về trợ cấp xuất khẩu ản xuất hàng xuất ề trợ cấp xuất khẩu ặc cho vay với lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất
III.Kinh nghi m v tr c p xu t kh u c a m t s nệm về trợ cấp xuất khẩu ề trợ cấp xuất khẩu ợ cấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ấp xuất khẩu ẩu ủ áp dụng ột khoản trợ cấp dù là trực tiếp hay ối với các nhà sản xuất hàng xuất ưới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuấtc và g i ý đ i v i ợ cấp xuất khẩu ối với các nhà sản xuất hàng xuất ới lãi suất thấp đối với các nhà sản xuất hàng xuất
Vi t Namệm về trợ cấp xuất khẩu
- Vấn đề mà các nước đang phát triển quan tâm nhất là việc cắt giảm mạnh mẽ hơn nữa các loại trợ cấp bao gồm hỗ trợ trong nước và trợ cấp xuất khẩu
Hiện nay chỉ có các nước phát triển là sử dụng nhiều biện pháp trợ cấp, còn các nước đang phát triển do hạn chế về ngân sách nên không thể áp dụng trợ cấp trong nước để bảo vệ sản xuất của họ Rõ ràng là các nhà sản xuất ở các nước đang phát triển không thể cạnh tranh nổi với mức ngân sách rất lớn mà hàng năm các nước phát triển dùng để trợ cấp
VN nên học hỏi kinh nghiệm của NewZealand khi nông nghiệp là lĩnh vực mà VN cam kết sẽ xóa bỏ trợ cấp xk ngay khi gia nhập WTO
Bài học từ New Zealand: không có trợ cấp vẫn hiệu quả
- Vào năm 1984, chính phủ nước này cắt giảm triệt để trợ cấp nông nghiệp (vốn chiếm 30% giá trị sản xuất nông nghiệp) Sau khi nguồn trợ cấp bị cắt, nông dân phải học cách sản xuất hiệu quả hơn thay vì sản xuất tối đa như trước để hưởng trợ cấp Việc sử dụng phân bón giảm bớt khiến nguồn nước và môi trường ngày càng tốt Trái với nhận định ban đầu, ngành nông nghiệp nước này không bị suy sụp mà ngày càng phát triển tốt, năng suất nông nghiệp tăng trung bình 6%/năm, và nông nghiệp đóng góp 17% giá trị của nền kinh tế nước này (so mức 14% trước 1984) New Zealand là nước xuất khẩu sản phẩm sữa thứ ba thế giới và chiếm hơn 50% về xuất khẩu thịt cừu Nông sản xuất khẩu của New Zealand cũng cạnh tranh mạnh mẽ với nông sản được trợ cấp của các nước Hiệp hội nông dân New Zealand nhận định: kinh nghiệm bãi bỏ trợ cấp nông nghiệp của nước này đã đánh đổ huyền thoại rằng nền nông nghiệp sẽ không phát triển tốt nếu không được chính phủ trợ cấp
(Theo Báo cáo phân tích chương trình nghị sự đàm phán mới của WTO)
Liên minh châu Âu (EU) đã và đang là một trong những thị trường xuất khẩu quan trọng nhất của hàng hóa Việt Nam Vì vậy, mỗi thay đổi hay
Trang 4động thái chính sách mới ở thị trường này đối với hàng hóa nhập khẩu từ nước ngoài cần được các doanh nghiệp xuất khẩu Việt Nam theo dõi sát sao và có biện pháp đối phó hợp lý, kịp thời nhằm đảm bảo sự phát triển bền vững của xuất khẩu Việt Nam ở thị trường này
Trước thông tin về khả năng có những thay đổi đáng kể trong cơ chế ra quyết
định áp dụng các biện pháp chống bán phá giá, xu hướng tăng cường các hoạt động chống trợ cấp cũng như thắt chặt các biện pháp quản lý khác đối với hàng nước ngoài nhập khẩu vào EU.
Ví dụ: Liên minh châu Âu (EU) vừa quyết định ngừng trợ cấp xuất khẩu đối với sản phẩm gà đông lạnh sau khi đã giảm mức hoàn tiền xuất khẩu từ 325 euro (430 USD)/tấn xuống 217 euro/tấn hồi tháng 10/2012 và còn 108,5 euro/tấn hồi tháng 1/2013
Quyết định này của EU đã làm dấy lên làn sóng phản đối tại Pháp – quốc gia hưởng lợi lớn từ các khoản trợ cấp của EU – trong bối cảnh các doanh nghiệp cho rằng cạnh tranh quốc tế ngày càng khốc liệt và quyết định này có thể làm gia tăng số người thất nghiệp
Các doanh nghiệp chăn nuôi gia cầm Pháp vẫn dựa vào các khoản hoàn tiền xuất khẩu này để đẩy mạnh xuất khẩu tại các thị trường Trung Đông Họ cho rằng các khoản trợ cấp này thực sự cần thiết trong bối cảnh chi phí thức ăn chăn nuôi đang đứng ở mức cao và sự cạnh tranh đang gia tăng từ Brazil
Chính phủ Pháp cho biết nước này đang xem xét các biện pháp để đối phó với động thái này của EU Trong khi đó, phía EU cho rằng các khoản hoàn tiền xuất khẩu này là không công bằng do tình hình thị trường đang được cải thiện
Trong niên vụ 2012-2013, Pháp đã nhận được 55 triệu euro, chiếm gần 94% trong tổng số tiền trợ cấp Chính phủ nước này cho biết thị trường gia cầm đang xấu đi kể từ lần cắt giảm khoản trợ cấp trước đó, chủ yếu do sự cạnh tranh quyết liệt hơn từ Brazil Pháp khẳng định rằng có 10 trong tổng số 28 nước thành viên
EU đã nhất trí với ý kiến này của Pháp./
VN là nước đang phát triển vì vậy việc xóa bỏ hoàn toàn trợ cấp xuất khẩu là 1 vấn đề đáng lo ngại cho nền kinh tế Chính phủ nên có những biện pháp để khắc phục và cải thiện tình hình này
Trang 5B THỰC TRẠNG TRỢ CẤP XUẤT KHẨU CỦA VIỆT NAM
I.Một số thành tựu đạt được trong thời gian qua
Trên cơ sở kiến nghị của bô thương mại,ngày 20/01/2003 chính phủ đã có văn bản
số 78/CP-KTTH về các giải pháp thúc đẩy xuất khẩu năm 2003 Và sau đây là 1 số giải pháp nhằm thúc đẩy mạnh xuất khẩu năm 2003:
1.1-Về tín dụng hỗ trợ xuất khẩu băm 2003:
Tín dụng tài trợ xuất nhập khẩu là sự hỗ trợ về mặt tài chính để các nhà sản xuất sẽ đẩy mạnh sản xuất,khuyến khích xuất khẩu,đồng thời giúp đỡ các nhà nhập khẩu nước ngoài có đủ đk về tài chính để mua hàng hoá của nước đó.
Sau khi trao đổi với các bộ,ngành hữu quan,Bộ thương mại ban hành nghị quyết về danh mục mặt hàng đc tín dụng hỗ trợ xuất khẩu năm 2003 bao gồm 18 mặt hàng: -gạo
-lạc nhân
-cà phê
-chè
-hạt tiêu
-hạt điều
-rau quả
-đường
-thuỷ sản
-thịt gia súc, gia cầm
-gốm sứ
-đồ gỗ mỹ nghệ
-mây tre
-sản phẩm tơ lụa
Sản phẩm dây điện,cáp điện
-sản phẩm cơ khí trọng điểm
Trang 6-hàng dệt kim
-máy tính nguyên chiếc và phụ kiện
So với năm 2002 thì danh mục đc bổ sung thêm các mặt hàng mới là đường,sản phẩm dây điện,cáp điện,sản phẩm cơ khí trọng điểm,máy tính nguyên chiếc và phụ kiện,sản phẩm tơ lụa.
Những khoản tín dụng xuất nhập khẩu của ngân hàng thường liên quan đến ba khu vực của quá trình sản xuất kinh doanh xuất nhập khẩu:
-khu vực thứ 1 là sản xuất,khai thác nguyện liệu cho xuất khẩu.
-khu vực thứ 2 là thu mua,chế biến hàng xuất khẩu.
-khu vực thứ 3 là lưu thông và xuất khẩu.
*Một số hình thức tài trợ xuất khẩu:
-Tín dụng chiết khấu hối phiếu.
-Tín dụng ứng trước đối với nhà xuất khẩu.
-cho vay chiết khấu hoặc ứng trước chứng từ hàng xuất khẩu.
-bao thanh toán tương đối.
Như vậy tín dụng tài trợ xuất khẩu giúp cho doanh nghiệp thực hiện đc những thương vụ lớn giúp cho doanh nghiệp có vốn để nhập máy móc,thiết bị,dây chuyền sản xuất…Đối với nền kinh tế đất nước thúc đẩy hoạt động kinh doanh XNK và lưu thông hàng hoá XNK.
1.2 Về thưởng kim ngạch xuất khẩu.
Chính phủ khuyến khích xuất khẩu đối với phần kim ngạch vượt so với kim ngạch xuất khẩu năm trước,theo danh mục những mặt hàng đó đc thưởng xuất khẩu 1.3 Xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm.
Ngày 24/01/2003 Bộ thương mại đã ban hành quyết định số 0104/2003/QĐ-BMT về quy chế xây dựng và quản lý chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm quốc gia 1.4.Chi phối đối với giao dịch,tiếp thị của các doanh nghiệp.
Đối với hoạt động giao dịch,tiếp thị của các doanh nghiệp,Bộ tài chính quy định mức chi phí tối đa đối với các hoạt động này không đc vượt quá 7% chi phí của doanh nghiệp.
1.5 Điều chỉnh một sỗ quy định về thuế GTGT.
a về việc thanh toán qua ngân hàng trong hoạt động xuất khẩu
Trang 7Các quy định về thuế GTGT đã đc siết chặt hơn để hạn chế gian lận thương mại, Nghị định số 76/2002/NĐ-CP ngày 13/09/2002 của chính phủ quy định cơ sở kinh doanh xuất khẩu hàng hoá,dịch vụ được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% phải thanh toán tiền bán hàng hoá,dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng.
b Về phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng:
Theo quy định của bộ tài chính,phương pháp thu này đc áp dụng đối với một số doanh nghiệp chưa thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán,hoá đơn chứng từ để làm căn cứ tính thuế theo phương pháp khấu trừ.
1.6 Rà soát để giảm chi phí dịch vụ đầu vào đối với xuất khẩu.
Tại nghị quyết số 05/2002/NQ-CP nagyf 24/04/2002 của chính phủ,thủ tướng chính phủ đã giao bộ tài chính chủ trì phối hợp với một số bộ,ngành liên quan tiến hành rà soát lại chi phí này để báo cáo thủ tướng chính phủ.
Thực hiện chủ trương này,Bộ bưu chính viễn thông sẽ áp dụng giảm giá cước đối với một số loại các dịch vụ viễn thông,trong đó có cước dịch vụ điện thoại quốc tế,cước truy cập internet,cước hoà mangjvaf thong tin đt di động.đây là đợt giảm giá cước có uy mô lớn nhất,nhằm rút ngắn lộ trình đưa giá cước viễn thong của nước ta xuống mức bằng và thấp hơn so với một số nước trong khu vực.
1.7 Quỹ bảo lãnh tín dụng đối với các doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Tháng 12/2001, trên cơ sở đề xuất của bộ tài chính, thủ tướng chính phủ đã ban hành quy chế giao cho các tỉnh thành thành lập quỹ bảo tín dụng cho SME.
Nhờ có các biệm pháp trợ cấp của chính phủ cho các mặt hàng xuất khẩu mà việt nam đã đạt được mức xuất khẩu cao.các mặt hàng của Việt Nam đã có mặt trên nhiều thị trường quốc tế.Do đc trợ cấp từ khâu nguyên liệu đến thành phẩm nên có sức cạnh tranh mạnh.
Hiện nay, gạo do Việt Nam xuất khẩu có chi phí thấp hơn nhiều so với gạo nhập khẩu.Do đó Việt Nam đã trở thành nước xuất khẩu gạo hàng đầu thế giới,tuy nhiên chất lượng lại k đc dánh giá cao như gạo của Thai Lan.
Do đc nhà nước đầu tư cho vay vốn nuôi trồng thuỷ sản,Việt nam đc dánh giá
là nước xuất khẩu hàng đầu thế giớ hiện nay Sản lượng thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam liên tục tăng từ thời gian năm 1995 trở lại đây Xuất khẩu thuỷ sản của Việt Nam đã tăng từ 239 triệu USD năm 1990 lên 979 triệu USD năm
1999, 1800 triệu USD năm 2001 và đạt tới mức 6,2 tỷ USD năm 2012.
Đến nay thuỷ sản xuất khẩu của Việt Nam đã có mặt hơn 60 nước trên thế giới.
Trang 82.Những thách thức đối với trợ cấp xuất khẩu ở Việt Nam
Việt Nam đã áp dụng những chính sách trợ cấp nhằm đẩy mạnh xuất khẩu
và đã đạt được kết quả tốt tuy vẫn còn một số tồn tại cần được giải quyết như sau:
2.1 Về thưởng kim ngạch xuất khẩu:
Chính phủ đã có văn bản số 78/CP-KTTH về chế độ thưởng
khuyến khích
xuất khẩu đối với phần kim ngạch vượt so với kim ngạch xuất khẩu năm trước
(theo danh mục mặt hàng đó được thưởng xuất khẩu năm
trước) và sau khi đánh giá tiềm năng của ngành rau quả, Bộ thương mại công bố mục tiêu phấn đấu đối với mặt hàng rau quả năm 2003 (vớ dụ) là tăng kim ngạch 10%
Như vậy, chỉ những doanh nghiệp nào có kim ngạch xuất khẩu rau quả tăng
từ 10% trở lên mới thuộc diện được thưởng Nếu chỉ đạt mức tăng thấp hơn 10% thì không được thưởng Nếu do khó khăn về thị trường, nguồn hàng hay giá cả mà kim ngạch của cả ngành hàng tăng trưởng âm thì những doanh nghiệp nào đạt tăng trưởng dương đều được thưởng trên phần kim ngạch vượt trội Phương pháp tiếp cận này nhằm khuyến khích, động viên những doanh
nghiệp xuất khẩu giỏi hơn mức bình quân của ngành, đồng thời cũng loại trừ
được yếu tố biến động khách quan về giá hoặc sản lượng
(Chẳng hạn giá mặt
hàng X năm 2003 tăng hơn 30% so với mức bình quân của năm
2002 như vậy
nếu lượng xuất không đổi thì các doanh nghiệp trong ngành có thể đạt được mức tăng trưởng xấp xỉ 30% mà không cần phải
nỗ lực nhiều, trong khi những ngành hàng giá không tăng hoặc gặp khó khăn về thị trường lại khó đạt được mức tăng
trưởng).Tuy nhiên, cũng cần phải xem xét lại quyết định này bởi tiềm lực tài chính của các tỉnh và thành phố là có hạn, lại không đồng đều Nếu mỗi tỉnh, thành đều phải tự tìm nguồn để thành lập quỹ cho riêng mình thì hiệu quả thực tế sẽ không cao
do nguồn lực bị dàn trải Đó là chưa kể các doanh nghiệp vừa
và nhỏ (SME) ở những tỉnh có hoàn cảnh khó khăn sẽ ở vào thế bất lợi hơn so với SME ở những tỉnh có tiềm năng Vấn đề tín
Trang 9dụng cho doanh nghiệp nói chung và cho SME nói riêng hiện nay đang là vấn đề hết sức bức xúc Vì vậy, đề nghị có một cơ chế tập trung nguồn lực để thành lập 01 quỹ bảo hành tín dụng cho SME tại trung ương, chỉ thành lập tại địa phương các chi nhánh hoặc đại lý (là chi nhánh các quỹ hỗ trợ phát triển hoặc
tổ chức tín dụng địa phương) Khi có nhu cầu, mọi "đại lý" đều
có thể tiếp cận với nguồn lực tập trung, hiệu quả thực tiễn vì vậy sẽ cao hơn, các doanh nghiệp vừa và nhỏ tại tất cả các tỉnh cũng ở vào thế bình đẳng hơn
2.2 Về việc xây dựng các chương trình xúc tiến thương mại trọng điểm:
Việt Nam chưa có được những chương trình xúc tiến trọng
điểm
2.3 Sửa đổi qui định về chi phí đối với giao dịch, tiếp thị của các doanh
nghiệp:
Đối với hoạt động giao dịch, tiếp thị của các doanh nghiệp, Bộ Tài chính qui
định mức chi phí tối đa đối với các hoạt động này không được vượt quá 7% tổng chi phí của doanh nghiệp Theo nhiều doanh nghiệp, qui định này là chưa hợp lý và hạn chế các hoạt động phát triển thị trường vì doanh nghiệp thuộc các ngành hàng, lĩnh vực khác nhau, thậm chí ngay trong một doanh nghiệp thì chi phí cho hoạt động tiếp thị tại các thời điểm kinh doanh cũng khác nhau Mặt khác, quy định này dẫn đến một nghịch lý là doanh nghiệp nào có tổng chi phí giảm thì chi phí giao dịch, tiếp thị cũng phải giảm theo
Vì vậy, Thủ tướng Chính phủ bàn giao cho Bộ Tài chính nghiên cứu và
điều chỉnh lại quy định trên theo hướng bãi bỏ mức quy định tối
đa đối với các
chi phí này hoặc nâng mức quy định tối đa từ 7% lên 15 - 20%
2.4 Điều chỉnh một số quy định về thuế GTGT
2.4.1 Về việc thanh toán qua ngân hàng trong hoạt động xuất khẩu
Nghị định số 76/2002/NĐ-CP ngày 13/09/2002 của Chính phủ quy định cơ
sở kinh doanh xuất khẩu các hàng hóa, dịch vụ được áp dụng thuế suất thuế GTGT 0% phải thanh toán tiền bán hàng
Trang 10hóa, dịch vụ xuất khẩu qua ngân hàng Tuy qui định này đã góp phần hạn chế tình trạng gian lận thương mại nhưngmặt khác cũng đã làm phát sinh một số vướng mắc trong xuất khẩu qua đường biên mậu, nhất là xuất khẩu qua biên giới Trung Quốc Thực tiễn hoạt động buôn bán với Trung Quốc thời gian qua cho thấy hình thức thanh toán qua ngân hàng mới chỉ
chiếm khoảng 15 - 20% trong tổng kim ngạch giữa hai nước, còn lại đa phần là thanh toán theo các hình thức khác như hàng đổi hàng, thanh toán bằng tiền mặt, thanh toán theo hình thức tạm ứng.v.v Theo phản ảnh của một số doanh nghiệp thì việc thực hiện quy định về thanh toán qua ngân hàng có một số vướng mắc do phía đối tác Trung Quốc không muốn áp dụng hình thức này, chưa kể đến việc thanh toán qua ngân hàng sẽ làm phát sinh một số chi phí giao dịch (ước các khoản chi phớ lên tới 0,3% kim ngạch xuất khẩu) Do có những vướng mắc này mà hoạt động xuất nhập khẩu với Trung Quốc cũng đã
có dấu hiệu không nhộn nhịp như trước (Theo số liệu hải quan, xuất khẩu rau quả và thuỷ sản vào Trung Quốc sau 2 tháng đã giảm hơn 60% so với cùng kỳ) Theo Bộ Thương mại, về lâu dài hoạt động thương mại nói chung, trong đó có hoạt động xuất nhập khẩu qua đường biên mậu, cần từng bước chuyên nghiệp hóa, trong đó có việc áp dụng phương thức thanh toán ngân hàng Tuy nhiên, xuất phát từ đặc thù trong hoạt động xuất nhập khẩu biên mậu hiện nay, nhất là trong điều kiện việc hoàn khống thuế GTGT đã được bãi bỏ để hạn chế gian lận về thuế GTGT, Thủ tướng Chính phủ nên cho pháp tạm thời có một cơ chế riêng đối với buôn bán qua đường biên mậu, cụ thể là xuất khẩu biên mậu được hưởng thuế suất thuế GTGT 0% đối với các hình thức thanh toán hợp pháp, không chỉ áp dụng đối với các trường hợp thanh toán qua ngân hàng
2.4.2 Về phương pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng:
Kiến nghị Bộ Tài chính rà soát lại các quy định về việc áp dụng phương
pháp tính thuế GTGT trực tiếp trên giá trị gia tăng Theo quy định của Bộ Tài
chính, phương pháp thu này được áp dụng đối với một số
doanh nghiệp chưa
thực hiện đầy đủ các điều kiện về kế toán, hóa đơn chứng từ để làm căn cứ tính