- Giai đoạn : Giao dịch Transaction Những chức năng cung cấp dịch vụ đa dạng hơn, không còn là đơn thuần là cung cấp thông tin hướng dẫn và thể hiện các hình thức hoạt động phổ biến liê
Trang 11
PHÁT TRIỂN CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ NHẰM NÂNG CAO TÍNH MINH BẠCH CỦA CÁC DVCĐT Ở VIỆT NAM
I LÝ LUẬN CHUNG VỀ CHÍNH PHỦ ĐIỆN TỬ VÀ DỊCH VỤ CÔNG
Trong hơn một thập kỷ qua, khi trào lưu chính phủ điện tử bắt đầu, Internet với công nghệ web đã mang đến cho chính phủ các quốc gia khả năng tương tác mới giữa chính phủ với công chúng Một số người còn cho rằng đấy là một cuộc cách mạng trong mối quan hệ giữa chính phủ và công dân bằng công nghệ web
1.1 Khái niệm chính phủ điện tử
Chính phủ điện tử theo cách đơn giản là: Chính phủ hoạt động trực tuyến (online) 24/24h; 7/7ngày/tuần; 365/365 ngày/năm Chính phủ không ồn ào, không giấy tờ, tạo sự tin tưởng, tin cậy cao với hai nguyên tắc hỗ trợ cơ bản: Giải quyết công việc một cách công khai và đảm bảo an ninh
Tuy nhiên, định nghĩa của Ngân hàng thế giới (World Bank) cho chúng ta thấy cách hiểu rõ ràng về chính phủ điện tử: Chính phủ điện tử là việc các cơ quan của chính phủ sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông để thực hiện các quan hệ với công dân, với doanh nghiệp và các cơ quan hành chính Những công nghệ này nhằm cải thiện giao dịch giữa Nhà nước với công dân và doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả quản lý, giảm chi phí và bớt tham nhũng thông qua tăng cường công khai và minh bạch
Một mô hình chính phủ điện tử hiệu quả sẽ bao gồm cách thức giải quyết quan hệ tương tác về thông tin giữa ba chủ thể: chính phủ, công dân và doanh nghiệp
Thứ nhất, giữa chính phủ với nhau (Government to Government – G2G)
Đây là cấp độ thường được khởi động trước tiên khi xây dựng một chính phủ điện
tử Cấp độ tương tác e-gov này giúp cho các cơ quan hành chính chia sẻ dữ liệu, trao đổi công việc thuận tiện hơn, giảm thiểu chi phí và thời gian hội họp không cần thiết
Thứ hai, giữa chính phủ với doanh nghiệp (Government to Business –
G2B) Cấp độ tương tác này cho phép nhiều hoạt động trực tuyến có thể được kết nối giữa cộng đồng doanh nghiệp và chính phủ Đây là một cấp độ e-gov kỳ vọng nhất của bất cứ chính phủ điện tử nào
Và cuối cùng là giữa chính phủ với dân chúng (Government to Citizen –
G2C) Ở cấp độ tương tác này chính phủ sẽ cung cấp các dịch vụ công như làm hoặc cấp mới các giấy tờ cá nhân, đóng và hoàn thuế thu nhập, nhận trợ cấp…
1.2 Mục tiêu và lợi ích của chính phủ điện tử
Mục tiêu của chính phủ điện tử là giao dịch của các cơ quan Chính phủ với
công dân, với doanh nghiệp và các tổ chức sẽ được cải thiện, nâng cao chất lượng,
Trang 22
đảm bảo công bằng trong các dịch vụ công Nâng cao hiệu lực và hiệu quả của các
cơ quan nhà nước, tăng cường quản lý nhà nước với sự tham gia của cộng đồng Thiết lập môi trường kinh doanh thuận lợi, hỗ trợ và đẩy mạnh phát triển thương mại điện tử, khách hàng "trực tuyến" (on line) chứ không phải "xếp hàng" (in line)
Chính phủ điện tử cho thấy rõ ràng tiềm năng cải thiện chất lượng, phạm
vi, và khả năng tiếp cận các dịch vụ Một số nhà quan sát cho rằng, ngoài việc nâng cao hiệu quả, chất lượng dịch vụ có thể được cải thiện thông qua các giao dịch nhanh hơn, trách nhiệm và quy trình tốt hơn Sự phát triển của chính phủ điện tử cũng tạo ra các tiềm năng cho các dịch vụ mới Cùng với khả năng kết hợp các dịch vụ hiện có, chính phủ điện tử có thể đóng góp cho một thay đổi về chất trong cách công dân tương tác với chính phủ và các biện pháp điều hành nền kinh tế và quản lý xã hội của chính phủ
Chính phủ điện tử cho phép tăng cường sự tham gia của công dân với chính phủ Thông qua hệ thống mạng, bằng cách kết nối những người sống ở vùng sâu, vùng xa của đất nước để họ có thể gửi và nhận thông tin dễ dàng hơn tới và từ chính phủ Thêm vào đó, có thể gia tăng những người trẻ tuổi tham gia đóng góp ý kiến đối với chính phủ bởi thế hệ công dân ngày nay hiểu biết về chính trị, xã hội
đã lớn lên với Internet và các công nghệ truyền thông kỹ thuật số trong cuộc sống hàng ngày, tương tự như những công dân, người mà họ được sử dụng cho các hoạt động chuyên nghiệp trong công việc và các hoạt động cá nhân khác Thêm vào đó, qua sự mở rộng khả năng tương tác và chia sẻ thông tin, chính phủ điện tử cũng có thể tăng cường tương tác “công dân với công dân” (C2C) bằng cách cung cấp cơ hội cho những người có cùng quan điểm và mối quan tâm nhưng bị ngăn cách bởi các điều kiện về địa lý
1.3 Các giai đoạn xây dựng chính phủ điện tử
Quá trình xây dựng Chính phủ điện tử chia làm 4 giai đoạn như sau:
- Giai đoạn 1: Sự hiện diện (Presence)
Sự hiện diện là giai đoạn đầu của sự phát triển và thiết lập một địa chỉ cung cấp thông tin trong tương lai Nó cho thấy cách thức đơn giản trong truy cập
và tìm kiếm thông tin của chính phủ điện tử, nhưng nó cũng cung cấp một số tùy chọn tối thiểu cho công dân Ví dụ như xây dựng một trang web cơ bản liệt kê các thông tin chung về một cơ quan hay tổ chức nào đó, chẳng hạn như giờ hoạt động, địa chỉ email, và số điện thoại, nhưng không có khả năng tương tác Đây là một website thụ động, đơn thuần chỉ cung cấp thông tin chung
- Giai đoạn : Tương tác (Interaction)
Giai đoạn thứ hai cho thấy các giao dịch dựa trên web tương tác cung cấp khả năng nâng cao, tuy nhiên vẫn tương đối đơn giản và thường xoay quanh cung cấp thông tin và còn hạn chế trong khả năng sắp xếp hợp lý và tự động hóa các chức năng của chính phủ Các website tương tác này được thiết kế để giúp khách
Trang 33
hàng có các hướng dẫn để thực hiện được các dịch vụ Cho phép các truy cập để tải mẫu biểu để in ấn và gửi trả lại một cơ quan, hoặc có thể e-mail liên lạc để đáp ứng những câu hỏi đơn giản
- Giai đoạn : Giao dịch (Transaction)
Những chức năng cung cấp dịch vụ đa dạng hơn, không còn là đơn thuần
là cung cấp thông tin hướng dẫn và thể hiện các hình thức hoạt động phổ biến liên quan của chính phủ điện tử Chúng cho phép công dân (khách hàng) thực hiện hoàn toàn các giao dịch điện tử tại bất kỳ thời điểm nào, dù ngày hay đêm Những phương thức này tạo ra các hoạt động tự phục vụ có hiệu quả cho loại hình dịch vụ như gia hạn giấy phép, thanh toán thuế, lệ phí, nộp hồ sơ dự thầu… Mặc dù mức
độ tương tác ở một cường độ cao hơn so với các giao dịch ở giai đoạn thứ hai, các hoạt động này vẫn liên quan đến một dòng chảy của thông tin mà chủ yếu là một chiều (hoặc chính phủ hoặc các khách hàng, tùy thuộc vào hoạt động)
- Giai đoạn : Chuyển đổi (Transformation)
Cấp cao nhất của sự phát triển chính phủ điện tử là giai đoạn chuyển đổi Ở cấp độ này, công nghệ được sử dụng đầy đủ tính năng để biến đổi chức năng của chính phủ được hình thành, tổ chức và thực hiện Như vậy các dịch vụ sẽ có khả năng quản lý mối quan hệ khách hàng chặt chẽ để xử lý một loạt đầy đủ các câu hỏi, các vấn đề và nhu cầu Một trong những sự khác biệt của giai đoạn này là tạo dòng chảy thuận lợi và liền mạch của thông tin và sự hợp tác giữa nhà nước, địa phương, công cộng, tư nhân và các đối tác Nói cách khác, chính phủ điện tử làm thay đổi phương thức hoạt động và loại bỏ các rào cản của tổ chức, nhằm thúc đẩy các giải pháp khách hàng là trung tâm Người ta cho rằng, ở mức độ tiên tiến nhất của nó, chính phủ điện tử có thể có khả năng tổ chức lại, kết hợp, hoặc loại bỏ các
cơ quan hiện có và thay thế chúng bởi tổ chức ảo đúng thể thức (quy tắc) và đưa ra
các kết quả dự đoán trước
1.4 Tính minh bạch của dịch vụ công
Dịch vụ là một lĩnh vực rất rộng Dịch vụ nằm trong cấu trúc nền sản xuất xã hội, ngoài hai lĩnh vực sản xuất sản phẩm vật chất ra, sự đóng góp của khu vực dịch vụ chiếm tỷ trọng ngày càng lớn Theo đà phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ, đặc biệt là sự phát triển nhanh chóng của công nghệ thông tin và truyền thông, viễn thông, lĩnh vực dịch vụ vốn đã rất đa dạng lại có thêm phương tiện mới hữu hiệu – công nghệ web cho phép các ngành dịch vụ quảng bá, cung cấp dịch vụ trên môi trường điện tử
Theo xu hướng chung này, chính phủ các nước cũng đưa việc cung cấp các dịch vụ của họ thông qua trang web hay cổng thông tin (portal), để phục vụ người dân và doanh nghiệp nhanh chóng và thuận lợi hơn
1.4.1 Khái niệm dịch vụ công
Dịch vụ công và tư tưởng đổi mới dịch vụ công lần đầu tiên được xuất hiện trong Nghị quyết Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương Đảng
Trang 44
Cộng sản Việt Nam khoá VIII Tiếp sau đó, nó được khẳng định tại Văn kiện Đại hội Đảng lần thứ IX và Báo cáo chính trị Đại hội lần thứ X Quán triệt tinh thần cơ bản trên, Quốc hội đã đưa khái niệm này vào Luật tổ chức Chính phủ năm 2001
Theo đó, dịch vụ công có thể được hiểu là những hoạt động dịch vụ của các tổ chức nhà nước hoặc của các doanh nghiệp, tổ chức xã hội, tư nhân được Nhà nước uỷ quyền thực hiện nhiệm vụ do pháp luật quy định, phục vụ những nhu cầu thiết yếu chung của cộng đồng, công dân; theo nguyên tắc không vụ lợi, đảm bảo sự công bằng và ổn định xã hội 1
Điều 22 của Luật này quy định: "Bộ, cơ quan ngang Bộ là cơ quan của
Chính phủ thực hiện chức năng quản lý nhà nước đối với ngành hoặc lĩnh vực công tác trong phạm vi cả nước; quản lý nhà nước các dịch vụ công thuộc ngành, lĩnh vực;"
Dịch vụ công bao gồm nhiều loại dịch vụ khác nhau, thậm chí rất khác nhau về tính chất Tuy nhiên, các dịch vụ này có các đặc điểm chung như sau:
- Thứ nhất, đây là những hoạt động phục vụ nhu cầu và lợi ích chung thiết
yếu, các quyền và nghĩa vụ cơ bản của các tổ chức và công dân, Nhà nước có trách nhiệm bảo đảm các dịch vụ này cho xã hội Trách nhiệm bảo đảm ở đây hàm ý rằng, hoặc Nhà nước tổ chức các đơn vị công lập đảm nhiệm cung cấp hoặc Nhà nước không trực tiếp tổ chức cung ứng thì ủy nhiệm cho một chủ thể khác thực hiện Tuy nhiên, trong trường hợp Nhà nước ủy nhiệm việc cung ứng các dịch vụ này cho khu vực tư nhân thì Nhà nước vẫn có vai trò điều tiết đặc biệt nhằm bảo đảm sự công bằng trong phân phối, bảo đảm khả năng tiếp cận bình đẳng cho mọi công dân, nhất là với các dịch vụ cơ bản, khắc phục các khiếm khuyết của thị trường
- Thứ hai, việc Nhà nước cung ứng dịch vụ công thường không thông qua
quan hệ thị trường đầy đủ Người sử dụng có thể phải thanh toán một phần hoặc toàn bộ chi phí; tuy nhiên, trong mọi trường hợp, Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo đảm các dịch vụ này không nhằm mục tiêu tìm kiếm lợi nhuận
1.4.2 Khái niệm dịch vụ công điện tử
Dịch vụ công điện tử hay còn được gọi là dịch vụ công trực tuyến là dịch
vụ công được sử dụng một cách có hệ thống công nghệ thông tin và viễn thông để thực hiện các hoạt động của các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện chức năng quản lý hành chính nhà nước, cung cấp và đáp ứng các nhu cầu chung thiết yếu của công dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội
Với việc sử dụng công nghệ thông tin và viễn thông, dịch vụ công điện tử đáp ứng nhu cầu của công dân và tổ chức 24/24h, ở bất cứ đâu có kết nối mạng internet, vượt qua mọi rào cản về địa lý, không gian và thời gian
1 Phạm Kim Toàn - Tổng thư ký Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật Thái Nguyên
Trang 55
Tuy nhiên, khái niệm dịch vụ công trực tuyến (hay dịch vụ công điện tử) được hiểu ngắn gọn và rõ ràng như sau:
Dịch vụ công trực tuyến là dịch vụ hành chính công và các dịch vụ khác của cơ quan nhà nước được cung cấp cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng2 (Trong đó: Dịch vụ hành chính công là những dịch vụ liên quan đến hoạt động thực thi pháp luật, không nhằm mục tiêu lợi nhuận, do cơ quan nhà nước hoặc tổ chức, doanh nghiệp được ủy quyền, có thẩm quyền cấp cho tổ chức, cá nhân dưới hình thức các loại giấy tờ có giá trị pháp lý trong các lĩnh vực mà cơ quan nhà nước đó quản lý.)
Đồng thời quy định các mức độ dịch vụ công trực tuyến của cơ quan hành chính nhà nước cung cấp cho tổ chức, cá nhân trên môi trường mạng, gồm bốn mức: từ mức độ 1 đến mức độ 4
II PHÁT TRIỂN CPĐT VÀ CÁC DVCĐT CỦA CP Ở VIỆT NAM
2.1 Sự phát triển chính phủ điện tử ở Việt Nam
Trong một hội nghị cấp cao ASEAN tại Hà Nội năm 1998, nguyên Thủ tướng Phan Văn Khải đã khẳng định mong muốn xây dựng chính phủ điện tử Tuy nhiên, chính thức bằng văn bản, theo Điều 3 và Điều 9 quyết định của Chính phủ
về ký kết Hiệp định Khung E-ASEAN tại hội nghị cấp cao không chính thức lần thứ 4 tại Singapore ngày 24/04/2000, Việt Nam cam kết xây dựng CPĐT
Việt Nam là quốc gia có nền hành chính công còn non trẻ và lại kế thừa
mô hình Liên-Xô cũ Điều đó khiến khối lượng công việc hành chính của Nhà nước rất lớn Những điểm ưu việt của chính phủ điện tử so với nền hành chính truyền thống trước đây là khá rõ ràng Tuy nhiên, xuất phát từ một nước nông nghiệp lạc hậu, nền kinh tế nhiều năm theo mô hình kế hoạch hóa tập trung, trình
độ khoa học - công nghệ có khoảng cách xa với các quốc gia phát triển trên thế giới nên xây dựng chính phủ điện tử ở Việt Nam là một nhiệm vụ hết sức khó khăn và phức tạp.Trước những năm 2001 - 2002, sự thiếu vắng khung pháp lý về định hướng chung trong phát triển chính phủ điện tử đã tạo không ít khó khăn cho các tỉnh, thành phố trong đầu tư, ứng dụng công nghệ thông tin – truyền thông
Năm 2006, việc triển khai mô hình chính phủ điện tử phù hợp cho Việt Nam đã được quan tâm thảo luận trong kỳ họp của Hội nghị thường niên lần thứ
IV về Chính phủ điện tử Những bước chúng ta cần chú trọng trong quá trình xây dựng Chính phủ điện tử đó là: Đầu tiên phải định nghĩa rõ tầm nhìn về chiến lược, sau đó phải đưa ra thiết kế Kế tiếp là phải xây dựng hình mẫu triển khai và sau đó phải tiếp tục củng cố, cập nhật Bởi tất cả các công nghệ đều thay đổi theo thời gian nên sau khi kiểm tra phải tiếp tục duy trì nó nhưng bên cạnh đó cũng phải củng cố và có những thay đổi cần thiết trong quá trình áp dụng Theo ông David
2 Điều 3, Thông tư số 26/2009/TT-BTTTT ngày 31/7/2009 của Bộ Thông tin và Truyền thông
Trang 66
Blumanis - Cố vấn trung tâm dữ liệu APC khu vực Châu Á Thái Bình Dương,
“Chính phủ điện tử của Việt Nam đang ở giai đoạn đầu tiên và việc triển khai một
mô hình chính phủ điện tử ít nhất phải kéo dài trong thời gian năm năm và Việt Nam nên bắt tay vào tìm câu trả lời cho những câu hỏi đầu tiên về tầm nhìn, chiến lược triển khai như thế nào”
Năm 2009, theo Đề án "Tăng tốc" và Tổng thể Chiến lược quốc gia về phát triển công nghệ thông tin của Chính phủ, chính phủ điện tử được xác định là một trong những mục tiêu quan trọng nhất cần đạt được Trong khi GDP của Việt Nam còn tương đối thấp, bản thân các nhà lãnh đạo đều chưa có kinh nghiệm về
triển khai chính phủ điện tử, vì vậy “việc triển khai chính phủ điện tử phải được
thực hiện trên quy mô nhỏ, phù hợp với từng địa phương, sau đó rút kinh nghiệm
Về tổng quan hiện trạng CNTT-TT Việt Nam năm 2013, theo Sách Trắng
2014 vừa được Bộ TT&TT chính thức công bố phát hành, trong báo cáo đánh giá
về xã hội thông tin của Liên minh Viễn thông Quốc tế (ITU), chỉ số phát triển CNTT-TT của Việt Nam tụt 2 bậc, từ 86/155 năm 2012 xuống 88/157 năm 2013, vẫn xếp thứ 4 khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 14/28 nước châu Á-Thái Bình Dương Việt Nam tiếp tục được ITU đánh giá cao về ứng dụng CNTT với thứ hạng 83/155 năm 2013
Còn theo xếp hạng được công bố trong Báo cáo CNTT toàn cầu của Diễn đàn Kinh tế Thế giới (WEF), thứ hạng chỉ số sẵn sàng kết nối NRI của Việt Nam năm 2013 đạt 84/148 nước, giữ nguyên so với 2012 Trong đánh giá này, mức độ sẵn sàng trong Chính phủ Việt Nam được xếp hạng 58/148 và đặc biệt giá cước dịch vụ viễn thông, Internet của Việt Nam gần như thấp nhất trên thế giới, xếp hạng 8/148
Với lĩnh vực công nghiệp CNTT, Việt Nam vẫn nằm trong Top 10 khu vực châu Á-Thái Bình Dương và Top 30 thế giới về gia công phần mềm theo báo cáo của Tập đoàn Gartner năm 2014 Hà Nội và TP.HCM tiếp tục có tên trong Top 100 thành phố hấp dẫn nhất thế giới về gia công phần mềm, trong đó TP.HCM xếp thứ
17 và Hà Nội xếp thứ 22
Đáng chú ý, về xếp hạng Chính phủ Điện tử, Việt Nam xếp thứ 4 khu vực Đông Nam Á và đứng thứ 99/193 nước được xếp hạng Trong đó yếu tố nhân lực của Việt Nam được đánh giá cao, với xếp hạng về nguồn nhân lực tiếp tục giữ vị trí 101/155 quốc gia và chủ yếu được đánh giá cao về chất lượng đào tạo các môn khoa học cơ bản như Toán
Về xếp hạng phát triển Internet, Việt Nam nằm trong Top 10 các nước châu
Á có tốc độ tăng trưởng người dùng Internet nhanh nhất, xếp thứ 3 Đông Nam Á, thứ 7 châu Á và thứ 18 trên thế giới về số lượng người dùng Internet
3 Theo Phó Thủ tướng Nguyễn Thiện Nhân
Trang 77
Cũng theo Sách Trắng 2014, đối với hoạt động ứng dụng CNTT trong các
cơ quan Nhà nước, tính đến cuối năm 2013, tỷ lệ máy vi tính trên tổng số cán bộ công chức tại các cơ quan cấp Bộ đạt hơn 86,7% và tại các cơ quan cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương là 89,7%; tỷ lệ máy vi tính có kết nối Internet của các
cơ quan cấp Bộ đạt 93,3% và đạt 97,2% với các cơ quan cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương; 100% các Bộ ngành, tỉnh thành đã có trang/ cổng thông tin điện tử; 100% cơ quan nhà nước có mạng nội bộ và đơn vị chuyên trách về CNTT
Năm 2013, dịch vụ công trực tuyến tăng trưởng cả về số lượng cũng như các địa phương triển khai cung cấp dịch vụ công, với số dịch vụ công mức 1 và 2 chiếm đa số Số liệu thống kê trong Sách Trắng 2014 cho thấy, tổng số dịch vụ công trực tuyến là 104.306 dịch vụ, tăng 640 dịch vụ so với năm 2012 Trong đó, dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và 2 đạt 101.829 dịch vụ, giảm 166 dịch vụ; dịch
vụ vụ công trực tuyến mức độ 3 đạt 2.366 dịch vụ, tăng 704 dịch vụ; và dịch vụ công trực tuyến mức độ 4 đạt 111 dịch vụ, tăng 102 dịch vụ so với năm 2012
Trong số 111 dịch vụ công trực tuyến mức 4, số dịch vụ công trực tuyến mức 4 tại các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ là 55 dịch vụ và 56 dịch vụ công trực tuyến mức 4 được cung cấp tại các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương
Và tầm nhìn đến năm 2020, Việt Nam sẽ xây dựng và phát triển cơ sở hạ tầng thông tin, tạo nền tảng phát triển Chính phủ điện tử; tích hợp các hệ thống thông tin, tạo lập được môi trường mạng rộng khắp phục vụ đa số các hoạt động của các cơ quan nhà nước; cung cấp các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau
Bên cạnh việc tiếp tục phát huy hiệu quả các hệ thống đã được triển khai thời gian qua như hệ thống một cửa điện tử, cổng thông tin điện tử, phần mềm quản lý văn bản và chỉ đạo điều hành, trong thời gian tới, Việt Nam dự kiến triển khai các hệ thống lớn trên phạm vi toàn quốc như các cơ sở dữ liệu quốc gia, hệ thống thư điện tử quốc gia, hệ thống trao đổi văn bản điện tử tích hợp toàn quốc,
2.2 Vai trò của dịch vụ công điện tử
Xây dựng và phát triển chính phủ điện tử là xu hướng tất yếu của các quốc gia trên thế giới, với việc cung cấp ngày càng nhiều hơn các dịch vụ công điện tử (dịch vụ công trực tuyến) cho mọi người dân Tuy nhiên, chính phủ điện tử sẽ chỉ thành công nếu có sự ủng hộ lớn từ phía đa số người dân Các dịch vụ công điện tử
dễ sử dụng, nhanh chóng và hiệu quả là những yếu tố quan trọng tác động đến nhân dân, cộng đồng doanh nghiệp hướng tới sử dụng ngày càng nhiều những dịch
vụ này
Ngược lại, khi các công dân, doanh nghiệp và tổ chức xã hội tham gia dịch
vụ công điện tử càng nhiều hơn, họ cũng có thể tham gia đóng góp cải thiện các dịch vụ công thông qua việc cung cấp thông tin phản hồi về các dịch vụ này Từ
Trang 88
đó, các dịch vụ công trực tuyến sẽ có thể được cải thiện sao cho đáp ứng ngày càng tốt hơn mong muốn của cộng đồng xã hội thông qua việc nâng cao chất lượng, giảm chi phí, tăng sự minh bạch và tiện lợi khi tham gia giao dịch
Cung cấp các dịch vụ công điện tử là một nội dung quan trọng trong tiến trình cải cách hành chính, triển khai Chính phủ điện tử Điều đó không những tạo điều kiện thuận lợi cho người dân, doanh nghiệp và các tổ chức xã hội, mà còn góp phần làm giảm áp lực công việc giấy tờ lên chính các cơ quan quản lý nhà nước, ảnh hưởng tích cực đến những thay đổi trong cách thức làm việc của chính phủ
Các tiêu chí đánh giá dịch vụ công điện tử
Liên hiệp quốc chia dịch vụ công điện tử theo bốn cấp độ tăng dần là Emerging, Enhanced, Transactional và Connected Vì chọn các từ tương đương trong tiếng Việt tương đối khó nên ở Việt Nam, tương tự như bốn giai đoạn ở trên, chúng ta gọi là dịch vụ công điện tử mức độ 1 (Emerging), mức độ 2 (Enhanced), mức độ 3 (Transactional) và mức độ 4 (Connected) là đích đến cuối cùng của việc cung cấp dịch vụ công trực tuyến Đây là mức cao nhất, ở mức này gần như mọi hoạt động đã được thực hiện qua môi trường điện tử
Các mức độ của dịch vụ công điện tử
MỨC ĐỘ YÊU CẦU VỀ DỊCH VỤ CÔNG ĐIỆN TỬ
Mức độ 1
(Emerging)
Là dịch vụ công trực tuyến đảm bảo cung cấp đầy đủ các thông tin về quy trình, thủ tục; hồ sơ; thời hạn; phí
và lệ phí thực hiện dịch vụ trên trang web
Mức độ
(Enhanced)
Là dịch vụ công trực tuyến mức 1 và cho phép người
sử dụng tải về các mẫu văn bản và khai báo để hoàn thiện hồ sơ theo yêu cầu Hồ sơ sau khi hoàn thiện được gửi trực tiếp hoặc qua đường bưu điện đến cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
Mức độ
(Transactional)
Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 2 và cho phép người sử dụng điền và gửi trực tuyến các mẫu văn bản đến các cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ Các giao dịch trong quá trình xử lý hồ sơ và cung cấp dịch vụ được thực hiện trên môi trường mạng Việc thanh toán
lệ phí (nếu có) và nhận kết quả được thực hiện trực
tiếp tại cơ quan, tổ chức cung cấp dịch vụ
Mức độ
(Connected)
Là dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và cho phép người sử dụng thanh toán lệ phí (nếu có) được thực hiện trực tuyến Việc trả kết quả có thể thực hiện trực tuyến, gửi trực tiếp hoặc gửi qua đường bưu điện cho
người sử dụng
Việc cung cấp dịch vụ công điện tử của một quốc gia được quan tâm, đánh giá dựa trên bốn tiêu chí sau:
Trang 99
• Chính phủ cung cấp các dịch vụ thông tin trực tuyến cơ bản
• Chính phủ sử dụng công nghệ đa phương tiện và thúc đẩy tương tác hai chiều với người dân, doanh nghiệp và các tổ chức
• Chính phủ sử dụng Internet để cung cấp dịch vụ công và tiếp nhận ý kiến phản hồi về các vấn đề công chúng quan tâm
• Chính phủ kết nối các chức năng của dịch vụ công và thường xuyên tham khảo ý kiến người dân về những vấn đề của chính sách công
Nếu một quốc gia đạt tất cả bốn tiêu chí trên tốt, như vậy quốc gia này đã thiết lập một nền tảng số cho việc nâng cao tính dân chủ và quyền công dân
2.4 Điều kiện thực hiện dịch vụ công điện tử ở Việt Nam
Các dịch vụ công điện tử ra đời, tồn tại và phát triển không thể tách rời với
hệ thống mạng và các phần mềm được thiết kế cho các quy trình hoạt động của các dịch vụ công này Một quốc gia có nền tảng hạ tầng công nghệ thông tin và viễn thông đảm bảo, cùng với hành lang pháp lý đầy đủ là những điều kiện tiên quyết
để dịch vụ công trực tuyến được xây dựng và mở rộng, phục vụ người dân, doanh nghiệp và cộng đồng xã hội Tuy nhiên, công chức chính phủ và cộng đồng dân chúng cũng cần có các kỹ năng về công nghệ thông tin để có thể tham gia thực hiện các giao dịch trực tuyến của các dịch vụ này
2.4.1 Điều kiện pháp lý cho dịch vụ công điện tử
Sự ra đời và phát triển các dịch vụ công điện tử đã đặt ra một yêu cầu cấp thiết phải có một khuôn khổ pháp lý liên quan đến các giao dịch điện tử nói chung
và dịch vụ công trực tuyến nói riêng Sự phát triển nhanh chóng của các dịch vụ công trực tuyến có tác động ảnh hưởng sâu rộng đến kinh tế - xã hội Việc xây dựng một khuôn khổ pháp lý cho các giao dịch điện tử phát triển thuận lợi, nhất quán trên phạm vi rộng trong xã hội được sự quan tâm, chú ý của cả cộng đồng quốc tế, như Hội đồng châu Âu (EC), Tổ chức Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), Chương trình phát triển Liên hiệp quốc (UNDP)… Sự phát triển của giao dịch điện tử làm nảy sinh một số vấn đề khác liên quan đến chứng thực thông điệp điện tử, thông tin cá nhân và bảo vệ dữ liệu, bảo mật và xác thực điện tử, thanh toán điện tử lệ phí dịch vụ, các vi phạm và luật áp dụng xử lý các vi phạm trong giao dịch điện tử…
Hiện nay, hầu hết các nước đã từng bước xây dựng khung pháp luật điều chỉnh các giao dịch điện tử cho riêng mình Nhìn chung, luật của các quốc gia khác nhau thì có những điểm khác nhau phụ thuộc vào hệ thống pháp luật của từng nước nhưng các nước khá thống nhất với nhau về mặt nguyên tắc Để hỗ trợ các quốc gia trong việc xây dựng luật, đồng thời để có tiếng nói chung trong cộng đồng quốc tế hướng tới một khung pháp lý toàn cầu về giao dịch điện tử, một số đạo luật mẫu và các quy tắc, quy định đã được soạn thảo cho các hoạt động này
2.4.2 Trang Web và cơ sở dữ liệu của dịch vụ công điện tử
Trang 1010
Để cung cấp dịch vụ công điện tử không chỉ đơn thuần là việc xây dựng các trang web mà còn bao gồm xây dựng hệ thống thông tin hỗ trợ và cơ sở hạ tầng cung cấp cho các hoạt động này Để có thể thực hiện các giao dịch điện tử trên các trang thông tin điện tử hay cổng thông tin điện tử, cần có hạ tầng mạng hỗ trợ (đường truyền bằng cáp hay wi-fi) và các trình duyệt web như Internet Explore, Mozilla FireFox, Opera, Google Chrome… trên máy tính kết nối với internet/Intranet/Extranet hay điện thoại di động sử dụng công nghệ 3G/4G
- Trang web là một tài liệu siêu văn bản được truy cập trực tiếp qua
internet bởi một địa chỉ duy nhất URL Các trang web khác nhau sẽ có các địa chỉ khác nhau Trình duyệt web là phần mềm cho phép người sử dụng thiết lập giao dịch với máy chủ (server) chứa trang web để tải thông tin về và truyền thông tin từ máy tính của người sử dụng
Các trang web có thể cung cấp thông tin và truyền tải thông tin dưới dạng
âm thanh, chữ (text), hình ảnh với nhiều màu sắc phong phú, đa dạng và luôn sẵn sàng phục vụ vào bất cứ thời điểm nào, bất cứ nơi nào có kết nối mạng Do đó, các thông tin về dịch vụ công và quy trình thực hiện các dịch vụ này trên trang web sẽ
hỗ trợ trực quan hơn cho người sử dụng dịch vụ hơn hẳn việc dùng dịch vụ điện thoại hay đọc các văn bản bằng giấy
- Trang thông tin điện tử là trang thông tin hoặc một tập hợp trang thông
tin trên môi trường mạng phục vụ cho việc cung cấp, trao đổi thông tin
- Cổng thông tin điện tử là điểm truy cập duy nhất của cơ quan trên môi
trường mạng, liên kết, tích hợp các kênh thông tin, các dịch vụ và các ứng dụng
mà qua đó người dùng có thể khai thác, sử dụng và cá nhân hóa việc hiển thị thông tin
Cổng thông tin điện tử cung cấp khả năng tương tác với người sử dụng dịch
vụ, cho phép khai báo trực tuyến, nộp phí dịch vụ qua mạng và đưa ý kiến phản hồi về dịch vụ được cung cấp Đây là điều kiện để đảm bảo tính dân chủ và cho người dân cảm giác thoải mái trong giao dịch với các dịch vụ công điện tử của chính phủ
- Cơ sở dữ liệu của trang web cung cấp dịch vụ công điện tử
Dữ liệu điện tử là tất cả các văn bản (chữ), hình ảnh, âm thanh hoặc sự kết
hợp giữa chúng được lưu trữ bằng các phương tiện điện tử
Dữ liệu đặc tả (Metadata) là những thông tin mô tả các đặc tính của dữ liệu
như nội dung, định dạng, chất lượng, điều kiện và các đặc tính khác nhằm tạo thuận lợi cho quá trình tìm kiếm, truy cập, quản lý và lưu trữ dữ liệu
Cơ sở dữ liệu của trang web là một tập hợp dữ liệu điện tử có cấu trúc để
lưu trữ và đáp ứng theo một cơ chế nhất định các yêu cầu của chương trình ứng dụng của trang mạng
2.4.3 Điều kiện về con người tham gia dịch vụ công điện tử