BÀI TẬP LỚN MÔN TIỀN TỆ NGÂN HÀNG Chính sách lãi suất của Ngân Hàng Trung Ương Thái Lan từ năm 2011 đến nay
Trang 1BÀI TẬP LỚN MÔN HỌC: TIỀN TỆ -NGÂN HÀNG Học kì 1 năm học 2014-2015
Đề tài: Chính sách lãi suất của Ngân Hàng Trung Ương Thái Lan từ năm 2011 đến nay
Trang 2Danh mục tài liệu tham khảo
Học viện Ngân hàng, 2013 Giáo trình tiền tệ-ngân hàng Học viện Ngân hàng
Quốc Hội, 2010 Luật Ngân hàng nhà nước Việt Nam [văn bản trực tuyến] tại
<http://www.moj.gov.vn/vbpq/Lists/Vn%20bn%20php%20lut/View_Detail.aspx?
ItemID=25813> [truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014]
Phạm Thị Thu Hà, 2011 Cơ chế điều hành lãi suất của Ngân hàng Trung ương các nước đang phát triển và Việt Nam Tiểu luận Đại học kinh tế-Luật Đại học quốc gia tp Hồ Chí
Minh
TS Nguyễn Thị Kim Thanh, 2010 Chính sách lãi suất: Cơ sở và thực tiễn [doc] tại: <
http://www.sbv.gov.vn/portal/contentattachfile/idcplg;jsessionid=Q5rPThMFbyWFzgGxkwhw1vJLvRzPyR3yt2YQW19SLNhQvL1lvLQK!2010750869!-1194366112?
dID=500587&dDocName=CNTHWEBAP01162522458&Rendition=nguyen%20thi
%20kim%20thanh.doc&filename=1156_nguyen%20thi%20kim%20thanh.doc> [Truy cập ngày 30/9/2014]
Bank of ThaiLand, 2012 Monetary Policy Instruments (Dec 2012) [pdf] tại:
<http://www.bot.or.th/English/FinancialMarkets/operations/Relating
%20articles/Monetary%20Policy%20Instruments%20(Dec%202012).pdf> [truy cập ngày
26 tháng 9 năm 2014]
Trang 3Bank of ThaiLand, 2014 Monetary Policy report June 2014 [pdf] tại: <
http://www.bot.or.th/Thai/PressAndSpeeches/Press/News2557/n2457e.pdf > [truy cập ngày 26 tháng 9 năm 2014]
< http://vnba.org.vn> [Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014]
<45603/> [Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014]
http://doc.edu.vn/tai-lieu/de-tai-tim-hieu-cac-van-de-lien-quan-de-lai-suat-ngan-hang-<uong-cac-nuoc-phat-trien-va-viet-nam-63325/> [Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014]
http://luanvan.net.vn/luan-van/tieu-luan-co-che-dieu-hanh-lai-suat-cua-ngan-hang-trung-<tai-chiet-khau-tai-cua-nhtw-.aspx> [Truy cập ngày 6 tháng 10 năm 2014]
http://luatminhkhue.vn/tu-van-2/phan-biet-lai-suat-co-ban,-lai-suat-tai-cap-von,-lai-suat-<http://www2.bot.or.th/statistics/ReportPage.aspx?reportID=223&language=eng> [Truy cập ngày 12 tháng 10 năm 2014]
Nội dung
Trang 4I Cơ sở lý thuyết
2 Cơ sở lý luận của chính sách lãi suất 5
2.1 Tại sao NHTW phải điều chỉnh lãi suất? 5
2.2 Lý thuyết công cụ chính sách tiền tệ 6
II Chính sách lãi suất của NHTW Thái Lan
1 Lãi suất và chính sách lãi suất
Lãi suất là giá cả của quyền được sử dụng vốn vay trong một thời gian nhất định
mà người sử dụng trả cho người sở hữu nó Lãi suất đóng vai trò quan trọng trong nền kinh tế của mỗi quốc gia:
Là công cụ kích thích lợi ích vật chất để thu hút các khoản tiền tiết kiệm của các chủ thể kinh tế
Trang 5 Là công cụ điều tiết nền kinh tế vĩ mô
Là công cụ phân phối vốn và kích thích sử dụng vốn có hiệu quả
Là công cụ đo lường tình trạng sức khỏe của nền kinh tế
Là công cụ thực hiện chính sách tiền tệ quốc gia
Chính sách lãi suất là một trong những công cụ của chính sách tiền tệ nhằm kiểm soát và điều tiết lãi suất
2 Cơ sở lý luận của chính sách lãi suất
2.1 Tại sao NHTW phải điều chỉnh lãi suất?
Mục tiêu đầu tiên và quan trọng nhất của phần lớn NHTW các nước là ổn định giá trị đồng tiền của quốc gia – thông qua việc kiểm soát lạm phát Trong đó, lãi suất là một trong những công cụ của NHTW để đạt được mục tiêu đó
Để quyết định điều chỉnh lãi suất như thế nào, lãi suất cần được xem xét trong mối quan hệ cung – cầu của thị trường và tình trạng lạm phát Lãi suất thị được xác định dựa trên cung – cầu quỹ cho vay và cung – cầu tiền Trong điều kiện các yếu tố ngoại sinh không đổi, cầu quỹ cho vay của xã hội biến động ngược chiều với lãi suất còn cung quỹ cho vay phản ứng đồng biến với sự thay đổi của lãi suất Điểm cân bằng lãi suất được tạo nên tại điểm phản ánh sự phù hợp giữa cung và cầu quỹ cho vay Mặt khác, lượng cầu tiền biến động ngược chiều với sự biến động của lãi suất còn mức cung tiền do NHTW đưa ra
là mục tiêu cố định với mọi lãi suất Điểm cân bằng của đường cung tiền và cầu tiền làm hình thành nên mức lãi suất thị trường
Mối quan hệ giữa lãi suất và lạm phát được hình thành dựa trên sự ảnh hưởng của lãi suất lên tổng cầu, đó là điểm mấu chốt để sử dụng lãi suất trong việc quản lý kinh tế Trong cấu phần của tổng cầu có hai yếu tố chịu tác động trực tiếp của việc thay đổi lãi suất là tiêu dùng và đầu tư Trong đó, tiêu dùng sẽ giảm xuống khi lãi suất tăng lên do giá
cả của việc vay mượn cho nhu cầu tiêu dùng trở nên đắt đỏ hơn Đối với đầu tư, chi phí vay tăng làm cho khả năng sinh lời của các khoản đầu tư trở nên thấp hơn.Vì thế việc tăng lãi suất cũng sẽ làm giảm đầu tư, tuy nhiên, mức độ giảm còn phụ thuộc vào sự co dãn của cầu đầu tư so với lãi suất Ngược lại, khi lãi suất giảm xuống thì hành vi của người tiêu dùng và nhà đầu tư thay đổi theo hướng ngược lại
Chính vì những mối quan hệ trên nên lãi suất đã trở thành công cụ được lựa chọn
để kiểm soát lạm phát mục tiêu và kiểm soát các kỳ vọng lạm phát hữu hiệu
2.2 Lý thuyết công cụ chính sách tiền tệ
2.2.1) Công cụ trực tiếp
Loại công cụ này được NHTW sử dụng dưới các hình thức: quy định hạn mức tín dụng, khống chế trực tiếp lãi suất tiền gửi – lãi suất tiền vay, khống chế tỷ giá mua – bán ngoại tệ của các ngân hàng Bên cạnh mức tín dụng, NHTW có thể điều tiết trực tiếp các
Trang 6mục tiêu trung gian thông qua việc ấn định lãi suất hoặc tỷ giá Công cụ này thường được
sử dụng trong trường hợp lạm phát cao nhằm không chế trực tiếp và ngay lập tức lượng tín dụng cung ứng
2.2.1) Công cụ gián tiếp
Dự trữ bắt buộc (DTBB) ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng theo 3 cách:
-Thứ nhất, nếu NHTW tăng tỷ lệ dự trữ bắt buộc, bộ phận dự trữ dư thừa trước đây trở thành dự trữ bắt buộc, làm giảm khả năng cho vay của hệ thống NHTM
-Thứ hai, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng làm giảm mức cung vốn NHTW trên thị trường liên ngân hàng Trong điều kiện nhu cầu vốn khả dụng không đổi, sự giảm sút này làm tăng lãi suất liên ngân hàng, từ đó gây ảnh hưởng đến các mức lãi suất dài hạn và khối lượng tiền cung ứng
-Thứ ba, tỷ lệ dự trữ bắt buộc tăng làm tăng chi phí đầu vào cho NHTM, nếu chi phí này quá lớn buộc NHTM phải tăng lãi suất cho vay để bù đắp
Chính sách tái chiết khấu
Sự thay đổi lãi suất tái chiết khấu tác động vào giá đầu vào của các NHTM, vì thế các ngân hàng này dần dần tăng (giảm) lãi suất cho vay, do đó làm giảm (tăng) nhu cầu tín dụng Bên cạnh đó, khi lãi suất chiết khấu tăng lên (giảm), các NHTM không thể vay NHTW một cách dễ dàng (hoặc là mở rộng khả năng vay), buộc các NHTM phải giảm bớt khả năng cung ứng tín dụng để hồi phục dự trữ, hoặc mở rộng cho vay trong các trường hợp ngược lại
Nghiệp vụ thị trường mở:
-Thứ nhất, NHTW mua (bán) các chứng khoán sẽ làm tăng (giảm) ngay lập tức dự trữ của các NHTM, khả năng tạo tiền gửi của hệ thống ngân hàng giảm xuống, từ đó ảnh hưởng đến lượng tiền cung ứng
-Thứ hai, khi vốn khả dụng của từng ngân hàng giảm (tăng) do tác động của hoạt động thị trường mở, mức cung vốn trên thị trường tiền tệ liên ngân hàng giảm xuống ( tăng lên), trong điều kiện các yếu tố liên qua không đổi, lãi suất thị trường liên ngân hàng tăng lên (giảm xuống)
-Thứ ba, NHTW bán chứng khoán, lượng chứng khoán tăng lên còn nhu cầu chứng khoán không tăng, làm cho giá các chứng khoán giảm xuống, mức sinh lời của chúng tăng lên Điều này buộc các tổ chức nhận tiền gửi phải tăng lãi suất và lãi suất của các chứng khoán mới phát hành cũng tăng tương ứng
2.3 Cơ chế điều hành lãi suất:
2.3.1) Cơ chế điều hành gián tiếp
Trang 7NHTW thực hiện quản lý gián tiếp lãi suất cho vay của các NHTM thông qua cơ chế tái cấp vốn Cơ chế này được thực hiện theo 2 nguyên tắc: NHTW chỉ công bố các mức lãi suất áp dụng đối với các khoản cho vay tái chiết khấu hoặc cho vay cầm cố các chứng từ có giá của mình đối với các tổ chức tín dụng Các mức lãi suất tiền gửi và cho vay cụ thể theo từng kỳ hạn, từng đối tượng của các tổ chức tín dụng đối với nền kinh tế
sẽ do tổ chức tín dụng tự ấn định, dựa trên cơ sở cung - cầu về vốn và sự cạnh tranh trên thị trường, từ đó mà hình thành nên các mức lãi suất phản ánh đúng yêu cầu của thị trường
2.3.2) Cơ chế điều hành trực tiếp
NHTW quản lý thống nhất lãi suất đối với nền kinh tế, quy định mức lãi suất cho vay tối đa hoặc tiền gửi tối thiểu của các tổ chức tín dụng Trong phạm vi lãi suất được phép, các tổ chức tín dụng được quyền ấn định mức lãi suất kinh doanh phù hợp Khi có các thay đổi về kinh tế vĩ mô, NHTW sẽ xem xét điều chỉnh giới hạn lãi suất tối đa cho hợp lý Cơ chế điều hành trực tiếp gồm:
-Cơ chế ấn định lãi suất: NHTW công bố tất cả các loại lãi suất Các ngân hàng và các tổ chức tín dụng đều phải thực hiện một cách tuyệt đối
-Cơ chế khống chế lãi suất: NHTW không ấn định các mức lãi suất, mà chỉ quy định các mức lãi suất tối đa và mức lãi suất tối thiểu tạo thành khung giới hạn để trong đó các ngân hàng, các tổ chức tín dụng xác định lãi suất kinh doanh
2.4 Lãi suất của NHTW
2.4.1.Lãi suất cơ bản
Lãi suất cơ bản là một công cụ để thực hiện chính sách tiền tệ của NHTW trong ngắn hạn (chỉ áp dụng cho nội tệ), do NHTW công bố, làm cơ sở cho các tổ chức tín dụng
ấn định lãi suất kinh doanh Lãi suất cơ bản được xác định dựa trên cơ sở lãi suất thị trường liên ngân hàng, lãi suất nghiệp vụ thị trường mở của NHTW, lãi suất huy động đầu vào của tổ chức tín dụng và xu hướng biến động cung-cầu vốn Thực hiện cơ chế điều hành lãi suất cơ bản, mà theo đó, các NHTM ấn định lãi suất cho vay tối đa dựa theo lãi suất cơ bản do NHTW công bố trong từng thời kỳ theo quy định của pháp luật Đây là công cụ trực tiếp để kiểm soát lãi suất kinh doanh của NHTM Sự thay đổi mức lãi suất ngắn hạn được khống chế bởi NHTW có thể ảnh hưởng đến các mức lãi suất khác nhau của nền kinh tế theo nguyên lý cơ cấu dài hạn của lãi suất Cuối cùng, ảnh hưởng này lan truyền tới toàn bộ hệ thống lãi suất của nền kinh tế Hiệu quả của sự tác động này phụ thuộc vào đặc điểm tổ chức của thị trường tài chính và mức độ trông đợi của thị trường Cùng với đó, NHTW tiếp tục điều hành linh hoạt các mức lãi suất nghiệp vụ thị trường
mở, lãi suất tái cấp vốn và tái chiết khấu để điều tiết lãi suất thị trường tiền tệ Lãi suất cơ bản được xác định và công bố trên cơ sở xu hướng biến động cung – cầu vốn thị trường,
Trang 8mục tiêu của chính sách tiền tệ và các nhân tố tác động khác của thị trường tiền tệ, ngoại hối ở trong và ngoài nước.
2.4.2.Cặp lãi suất chỉ đạo (lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu)
NHTW có thể thiết lập một hành lang lãi suất thị trường liên ngân hàng cùng với biên độ chênh lệch để điều tiết lãi suất thị trường trong đó trần là lãi suất tái cấp vốn, sàn
là lãi suất tái chiết khấu; lãi suất cơ bản và lãi suất nghiệp vụ thị trường mở biến động trong phạm vi hành lang này Lãi suất nghiệp vụ thị trường mở đóng vai trò định hướng
và thực hiện việc bơm tiền ra hoặc hút tiền về, từ đó tác động đến cung – cầu vốn, lãi suất thị trường liên ngân hàng và lãi suất huy động, cho vay của NHTM Lãi suất tái chiết khấu là lãi suất thực hiện trên cơ sở đối tượng là các giấy tờ có giá, ví dụ: hối phiếu, lệnh phiếu, trái phiếu , Các ngân hàng sẽ chấp nhận trả tiền cho người sở hữu các giấy đó để đổi lại một khoản lời mà ta gọi là lãi suất chiết khấu và thu lại khoản tiền của họ đối với người thanh toán ghi trên đó khi đến hạn Các ngân hàng này lại cần tiền nhưng các giấy
tờ đó chưa đến hạn thanh toán họ bán lại các khoản sẽ thu này cho NHTW để đổi lấy tiền mặt và bớt lại cho NHTW một khoản, đó là lãi suất tái chiết khấu Nếu lãi suất chiết khấu bằng hoặc thấp hơn lãi suất thị trường thì NHTM sẽ cho vay đến khi tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm đến mức tối thiểu cho phép vì nếu thiếu tiền mặt họ có thể vay từ NHTW mà không phải chịu bất kỳ thiệt hại nào Nếu lãi suất chiết khấu cao hơn lãi suất thị trường, các NHTM không thể để cho tỷ lệ dự trữ tiền mặt giảm xuống đến mức tối thiểu cho phép, thậm chí phải dự trữ thêm tiền mặt để tránh phải vay tiền từ NHTW với lãi suất cao hơn lãi suất thị trường khi phát sinh nhu cầu tiền mặt bất thường từ phía khách hàng Theo điều 11 của Luật ngân hàng Nhà nước 2010 thì tái cấp vốn là hình thức ngân hàng Nhà nước cấp tín dụng có bảo đảm cho các ngân hàng nhằm cung ứng vốn ngắn hạn Đối tượng của lãi suất tái cấp vốn là các khoản cho vay của các ngân hàng thương mại, và sau
đó họ bán lại các khoản này cho NHNN để đổi lấy tiền mặt Lãi suất cơ bản sẽ nằm trong khoảng giữa lãi suất tái cấp vốn và lãi suất tái chiết khấu
2.4.3.Cặp lãi suất kiểm soát thường xuyên (lãi suất cho vay qua đêm của NHTW và lãi suất tiền gửi tại NHTW):
Lãi suất tiền gửi tại NHTW là lãi suất cho các khoản tiền gửi của các NHTM tại NHTW Lãi suất cho vay qua đêm của NHTW là lãi suất của NHTW khi cho NHTM vay trong 1 ngày để đáp ứng nhu cầu thanh khoản khi ls qua đêm quá cao các ngân khó có thể vay NHTW, và để bù đắp thiếu hụt vốn (phục vụ các nhu cầu vay, thanh khoản của khách hàng), các ngân hàng buộc phải tăng lãi suất huy động tiền đồng để thu hút thêm vốn nhàn rỗi từ dân, lãi suất huy động tăng, chi phí huy động vốn tăng dẫn đến ngân hàng phải tăng lãi suất cho vay, ảnh hưởng đến đầu tư , ảnh hưởng đến nền kinh tế
Trang 9II/ Chính sách lãi suất
1 Các công cụ chính sách tiền tệ của NHTW Thái Lan
Trong khuôn khổ lạm phát mục tiêu, Ngân hàng Trung ương Thái Lan (BOT) sử dụng tỷ
lệ mua lại song phương 1 ngày như tỷ lệ chính sách quan trọng Ủy ban Chính sách tiền tệ (MPC) báo hiệu sự thay đổi trong chính sách tiền tệ thông qua những thay đổi trong chính sách lãi suất BOT sử dụng một loạt các công cụ chính sách tiền tệ để thực hiện các quyết định lãi suất của MPC
Cơ cấu hoạt động của BOT bao gồm một bộ các công cụ được chia thành 3 loại:
Các cơ sở dự trữ bao gồm các khoản tiền gửi, các khoản vay thông qua phát hành tín phiếu, các khoản vay nước ngoài ngắn hạn đáo hạn trong vòng một năm và vay khác Hiện nay, tỷ lệ dự trữ bắt buộc là 6%, và dự trữ bao gồm các tài sản sau đây:
Trang 101) Dự trữ tối thiểu 1% trong khoản tiền gửi không dùng để trả lương công nhân viên (trong đó không hơn 0.2% tiền mặt tại trung tâm của ngân hàng thương mại có thể tính vào phần này)
2) Tối đa 2,5% trong số lượng tiền mặt dự trữ Tiền mặt tại các trung tâm tiền mặt của các ngân hàng thương mại mà vượt quá 0,2% có thể được tính là tiền mặt dự trữ
3) Phần còn lại trong chứng khoán đại chúng đủ điều kiện và có kỳ hạn tại BOTYêu cầu dự trữ được xác định trên cơ sở mức trung bình của số dư dự trữ tài sản cuối ngày của các ngân trong thời gian bảo trì Sắp xếp trung bình như thế giúp tạo thuận lợi cho quản lý thanh khoản của các ngân hàng cũng như để giảm biến động hàng ngày của lãi suất ngắn hạn Ví dụ, một ngân hàng có thể duy trì dự trữ dưới mức yêu cầu trên một ngày cụ thể, và chọn để tăng dự trữ của tổ chức vào các ngày khác trong cùng một thời gian bảo trì, mà không nhất thiết phải vay vốn từ thị trường liên ngân hàng vào ngày hôm đó có thể gây áp lực lên các lãi suất liên ngân hàng
Việc thực hiện dự phòng cũng giúp cho các ngân hàng thương mại linh hoạt hơn trong quản lý thanh khoản bằng cách cho phép các ngân hàng chuyển giao đến 5% khoản
dự trữ giữa các kỳ bảo dưỡng liên tục Việc thực hiện dự phòng chỉ áp dụng cho thành phần của tài khoản tiền gửi hiện tại và nó hoạt động theo cả hai cách Nó có nghĩa là ngân hàng có thể tính một phần dự trữ dư thừa giai đoạn này lên phần dự trữ của giai đoạn tiếp theo đến 5% của phần yêu cầu; và ngân hàng có thể bổ sung 5% của giai đoạn hiện tại cho
sự thâm hụt của giai đoạn tiếp theo Việc thực hiện dự phòng giúp giảm sự biến động của lãi suất trên ngày cuối cùng của quá trình bảo trì
1.2) Hoạt động thị trường mở (OMOs)
Trong việc thực hiện nghiệp vụ thị trường mở, BOT cam kết giao dịch trong thị trường tài chính để tác động đến mức độ tổng hợp của số dư dự trữ (tiền gửi các tổ chức tài chính tại BOT) có sẵn trong hệ thống ngân hàng, và do đó ảnh hưởng đến lãi suất ngắn hạn