1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò của lễ hội trong tuyên truyền đường lối, chính sách của đảng và nhà nước ở tỉnh bắc ninh hiện nay

91 748 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 91
Dung lượng 912,5 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

LỄ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI TRONG TUYÊN TRUYỀN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC 1.1. Lễ hội và vai trò của lễ hội trong đời sống tinh thần của nhân dân 1.1.1. Khái niệm lễ hội, đặc điểm của lễ hội Khái niệm lễ hội Thuật ngữ lễ hội là từ ghép giữa “lễ” và “hội” Lễ có nhiều quan niệm khác nhau, theo từ điển Tiếng Việt xuất bản năm 2002, “Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệm một sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó; lễ còn có nghĩa là vái, lạy để tỏ lòng cung kính, theo phong tục cũ, lễ còn được hiểu là khuôn phép, là phép bày ra nhằm tỏ ý kính trọng, lịch sự” 50, tr 561. Lễ còn được xem là linh hồn cốt lõi của một lễ hội và là phần quan trọng nhất được đầu tư công phu nhất cả về thời gian, tiền bạc và công sức. Lễ là đạo, khác với hội là đời. Trong lễ bao giờ cũng phải có tế: Tế bao gồm những nghi thức đúng quy định như y phục, phẩm phục, hia hài, mũ... và các nghi thức tổ chức tế lễ. Những nghi thức này thường do những cụ cao niên, phúc đức được dân làng chọn ra thực hiện, trong đó có một số người làm chủ tế. Hội có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng theo từ điển Tiếng Việt thì “hội là cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự theo phong tục hoặc nhân dịp đặc biệt” 50, tr 561. Hội thường được tổ chức vào các dịp kỷ niệm một sự kiện trọng đại nào đó có liên quan đến nhiều người, hội mang tính cộng đồng, trong đó bao gồm các trò diễn, các cuộc đua tài, các trò chơi, văn nghệ giải trí. Phần hội có thể thể thêm bớt, thay đổi, tùy theo cấu trúc lễ hội. Theo từ điển Tiếng Việt, lễ hội được hiểu là “cuộc vui tổ chức chung, có các hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc” 50, tr 561. Những người tham gia vào phần lễ chỉ do một số người có vai vế, có vị trí nhất định ở địa phương, phần lễ trong một số lễ hội mang tính thiêng liêng, bất biến, là những nghi thức thờ thần thánh, được quy định chặt chẽ về không gian và thời gian tổ chức, tham gia vào phần hội thì bao gồm đông đảo quần chúng nhân dân. Như vậy, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến ở khắp các làng, quê, nó được ra đời từ rất sớm và đã tồn tại, phát triển qua nhiều thời đại. Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở về trước thuật ngữ lễ hội đã được các nhà nghiên cứu sử dụng, “Điều này phù hợp với cách gọi của dân gian, người dân ở các làng quê xưa thường gọi đi hội, chơi hội, làng có hội thì thường gọi là mở hội, vào đám”43,tr 16. Tác giả Toan Ánh là người sử dụng thuật ngữ: “Hội hè đình đám” khá triệt để. Trong hai cuốn sách do ông xuất bản năm 1960 và 1974 ở Sài Gòn trong bộ “Nếp cũ” của mình ông đều dùng thuật ngữ này, nhưng khi gọi vắn tắt thì ông chỉ gọi là hội. Theo ông: “trong hội thường có trò vui gọi là “bách hí” để dân chúng mua vui, nhưng mục đích của hội hè đình đám không phải chỉ có thế, mà mua vui cho dân chúng cũng không phải là mục đích đầu tiên của hội hè. Có thể nói được rằng mục đích đầu tiên của hội hè đình đám là để dân làng bày tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với Đức Thành Hoàng, Thần Linh coi sóc, che chở cho dân làng”2,tr 11. Trung thành với quan điểm văn hóa dân gian, GS.Đinh Gia Khánh cho rằng: “danh từ hội lễ nên được dùng như một thuật ngữ văn hóa. Có thể xác định ý nghĩa thuật ngữ này theo hai thành tố (hội và lễ). Hội là tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộng đồng. Lễ là các nghi thức đặc thù, gắn với các loại hình sinh hoạt cộng đồng ấy”37, tr 172.

Trang 1

MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Lễ hội, một loại hình hoạt động văn hóa tinh thần và tín ngưỡng củacác cộng đồng dân tộc trong xã hội truyền thống và hiện đại là sinh hoạt vănhóa tinh thần đặc biệt mang tính tập thể, nhằm thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tínngưỡng, củng cố ý thức cộng đồng Lễ hội chứa đựng và phản ánh nhiều mặtcủa đời sống kinh tế, văn hóa, xã hội, tâm lý, tính cách tín ngưỡng, tôn giáocủa từng tộc người, của các dân tộc trên khắp hành tinh của chúng ta Lễ hộigiúp con người thỏa mãn nhu cầu tâm linh, tinh thần, tư tưởng và phục vụ xâydựng đời sống văn hóa ở các bản làng, các địa phương

Ý nghĩa của lễ hội được nhân lên, một khi các chủ thể cầm quyền nhậnthức đúng và sử dụng có hiệu quả trong việc lồng ghép với việc giáo dục tưtưởng, phục vụ cho công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước của Đảng và Nhà nước phù hợp với xu thế phát triển và nguyệnvọng, tình cảm của cộng đồng dân cư

Ở Việt Nam, bất cứ thời kỳ nào lễ hội cũng được chú trọng sử dụng và

có vai trò quan trọng và góp phần quan trọng xứng đáng vào việc tuyêntruyền, giáo dục truyền thống, đoàn kết cộng đồng, đoàn kết dân tộc, tuyêntruyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước …, góp phần tạo độnglực tinh thần cho quá trình phát triển, trước hết là phát triển kinh tế

Bắc Ninh - một vùng đồng quê “đậm đà” truyền thống văn hóa, từngđược ca ngợi là “xứ sở” của đình chùa và lễ hội có nhiều lễ hội nổi tiếng như:

lễ hội chùa Lim, chùa Dâu, chùa Bút Tháp, đền Đô, chùa Phật Tích, đền Vua

Bà, hội Đồng Kỵ…và nhiều lễ hội gắn với di sản lịch sử nổi tiếng được nhiềungười dân khắp mọi miền biết đến Mỗi lễ hội đều có nội dung, chủ đề và cógiá trị khác nhau, tùy thuộc vào lịch sử hình thành và phát triển của nó, song

Trang 2

một cách chung nhất đều phản ánh khát vọng vươn tới giá trị chân, thiện, mỹcủa nhân dân Kinh Bắc.

Ngày nay, lễ hội văn hoá truyền thống đóng vai trò rất quan trọng trongcông cuộc công nghiệp hoá, hiện đại hoá và hội nhập quốc tế ở nước ta Hoạtđộng văn hoá này tạo sự cân bằng trong đời sống tinh thần của cộng đồngtrước xã hội hiện đại, thúc đẩy kinh tế phát triển bền vững, lành mạnh Chính vì thế, đổi mới cách tổ chức và quản lý lễ hội, là nhằm bảo tồn và pháthuy bản sắc văn hóa dân tộc phù hợp với nhu cầu phát triển của đất nướctrong thời kỳ mới là vấn đề ngày càng trở nên cấp thiết và quan trọng

Nhận thức được vai trò, tầm quan trọng của các hoạt động lễ hội đốivới đời sống xã hội, nhiều lễ hội diễn ra phong phú và đa dạng ở các địaphương, trong đó có vùng đất Kinh Bắc Điều đó đòi hỏi các cấp chính quyềnphải có biện pháp tổ chức và chỉ đạo kịp thời các hoạt động lễ hội để thôngqua đó tìm ra các phương hướng, giải pháp nhằm phát huy hiệu quả của việc

sử dụng lễ hội trong tuyên truyền – giáo dục

Nhằm nghiên cứu sâu sắc, có hệ thống lễ hội góp phần phác hoạ nênnhững nét chung về lễ hội và vai trò của việc sử dụng lễ hội để tuyên truyềnđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước trên địa bàn tỉnh Bắc Ninh, tác

giả đã mạnh dạn lựa chọn và thực hiện đề tài “Vai trò của lễ hội trong tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Bắc Ninh hiện nay” làm đề tài luận văn tốt nghiệp Thạc sỹ Khoa học chính trị, chuyên ngành

Công tác tư tưởng Với mong muốn có được những đánh giá xác thực về thựctrạng hoạt động lễ hội và vai trò của lễ hội trong công tác tuyên truyền đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Bắc Ninh trong giai đoạn hiệnnay, từ đó nhằm tìm ra phương hướng và giải pháp nhằm phát huy tốt vai tròcủa lễ hội trong tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ởtỉnh Bắc Ninh hiện nay

Trang 3

2 Lịch sử nghiên cứu của đề tài

2.1 Các công trình nghiên cứu về lễ hội và lễ hội vùng Kinh Bắc

Nghiên cứu lễ hội có rất nhiều sách, các công trình khoa học đã đề cập

đến như “Lễ hội truyền thống và hiện đại” (1984) của Thu Linh, Đặng Văn Lung; “Hội hè Việt Nam” (1990) của Trương Thìn; “Bảo tàng di tích lễ hội” (1992) của Phan Khanh; “Lễ hội cổ truyền của người Việt ở Bắc bộ Việt Nam

” (1992) của Phan Đăng Nhật; “Việt nam phong tục” (1992) của Phan Kế Bính; “Lễ hội cổ truyền” (1992) do Lưu Trung Vũ chủ biên và nhiều tác giả;

“Lễ hội cổ truyền của người Việt ở Bắc bộ Việt nam” (1992) của Phan Đăng Nhật; “Lễ hội truyền thống trong xã hội hiện đại” (1993) của Đinh Gia Khánh, Đinh Hữu Tầng; “Lễ hội một nét đẹp trong sinh hoạt văn hoá cộng đồng” (1998) của Hồ Hoàng Hoa; “Hội Lim đến hẹn lại lên” (2000) của Trần Thị Hường; “Những tương đồng giữa các lễ hội cổ truyền Đông Nam Á” (2000) của Trần Bình Minh; “Lễ hội của người Việt ở Hà Bắc” (2000) của Bùi Văn Thành; “Từ điển lễ hội Việt Nam ” (2000) của Bùi Thiết; “Lễ hội Đền Đô xưa và nay” (2001) của Nguyễn Anh Bắc; “Về biểu tượng trong lễ hội dân gian truyền thống” (2001) của Nguyễn Văn Hậu LATS Lịch sử: 5.03.13; “Khảo sát thực trạng văn hóa lễ hội truyền thống của người Việt ở Đồng bằng bắc bộ” (2001) của TS Nguyễn Quang Lê; “Lễ hội Bắc Ninh” (2003) của Trần Đình Luyện; “Cấu trúc của lễ hội đương đại” (2004) của Đoàn Minh Châu, LATS Lịch sử: 5.03.13; “Hội hè đình đám” (2005) của Toan Ánh; “Một số giải pháp quản lý lễ hội dân gian” (2005) của Hoàng Nam; “Thống kê lễ hội, đình đám truyền thống tỉnh Bắc Ninh” (2005) của Đinh Thị Lập; “Các lễ hội truyền thống Việt Nam” (2006) của Đỗ Hạ, Quang Vinh; “Di tích lịch sử văn hóa đền Đô” (2006) của Nguyễn Đức Thìn “Lễ hội

là nguồn nước trong lành” (2007) của Lê Tiến Dũng, Ngô Quang Hưng; “Sự tác động của kinh tế thị trường vào lễ hội tín ngưỡng” (2008) của PGS Lê

Trang 4

Hồng Lý; “Quản lý lễ hội cổ truyền” (2009) của Thạc sỹ Phạm Thanh Quy;

“Lễ hội và du lịch văn hoá Việt Nam” (2009) của Đoàn Huyền Trang; “Lễ hội dân gian ở Thừa Thiên Huế” (2010) của Tôn Thất Bình; … đều nói về các lễ

hội, phong tục Việt Nam Nhìn chung các công trình nghiên cứu này đã nêukhá đầy đủ về nội dung và hình thức thể hiện của lễ hội dân gian, đồng thờicũng mô tả diễn biến của các lễ hội trong mối quan hệ trực tiếp với phong tụctín ngưỡng dân gian

2.2 Các công trình nghiên cứu về việc lồng ghép hoạt động lễ hội với tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước

Trong những năm gần đây để đáp ứng yêu cầu chấn hưng các hình thứcsinh hoạt văn hóa dân gian truyền thống, nhất là việc phục hồi và phát triểncác lễ hội dân gian, nhiều cuộc hội thảo khoa học về lễ hội đã được tổ chức

như: “Hội thảo công tác quản lý lễ hội dân gian” tháng 6 năm 2010 với mục

đích đánh giá thực trạng công tác tổ chức và quản lý lễ hội ở nước ta hiệnnay; Nguyên nhân của những mặt làm được và những mặt hạn chế, tồn tạitrong tổ chức và quản lý lễ hội ở nước ta trong thời gian qua; đề xuất, kiếnnghị những giải pháp nhằm góp phần làm tốt hơn nữa công tác tổ chức vàquản lý lễ hội trong thời gian tới; Góp phần vào việc chuẩn bị Hội nghị toànquốc tổng kết công tác lễ hội, do Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch tổ

chức;“Bảo tồn và phát huy lễ hội cổ truyền trong đời sống xã hội đương đại, trường hợp Hội Gióng” tháng 4/2010; Kỷ yếu“Hội Xứ Bắc” (1988) nói về lễ

hội truyền thống, kịch bản lễ hội, kinh nghiệm lịch sử về chỉ đạo tổ chức lễhội của Sở Văn hoá thông tin Hà Bắc; Hội thảo “Lễ hội Quảng Nam trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất n ước” (2009)…

Trên lĩnh vực nghiên cứu về văn hóa dân gian và văn hóa dân tộc nóichung, lễ hội truyền thống nói riêng, các nhà nghiên cứu chuyên môn cũng đãđạt được nhiều thành tựu đáng kể

Trang 5

Sử dụng lễ hội phục vụ cho công tác tuyên truyền cũng có một số côngtrình, một số bài đề cập đến ở các góc độ khác nhau như: vấn đề hướng dẫn,quản lý lễ hội, vấn đề tổ chức lễ hội, thông qua lễ hội để giáo dục lối sống,đạo đức…., được đăng tải ở các báo, tạp chí dân tộc học, tạp chí văn hóanghệ thuật, văn hóa dân gian, tạp chí thông tin…, đánh giá của Ban Tuyêngiáo Tỉnh ủy, Sở Văn hóa thông tin tỉnh Bắc Ninh, các phòng văn hóa – thôngtin các huyện ở tỉnh Bắc Ninh về hoạt động lễ hội…

Tuy nhiên, cho đến nay còn thiếu vắng những đề tài nghiên cứu sâu về

cơ sở lý luận của lễ hội và tình hình hoạt động lễ hội ở tỉnh Bắc Ninh; đánhgiá khách quan thực trạng về vai trò của lễ hội trong tuyên truyền đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Bắc Ninh; đặc biệt chưa có những đềxuất phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của lễ hội trong công táctuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước, ở tỉnh Bắc Ninhhiện nay

Do vậy, nghiên cứu về vai trò của lễ hội trong công tác tuyên truyềnđường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Bắc Ninh đòi hỏi cần phảiđược nghiên cứu một cách sâu sắc, toàn diện

3 Mục đích và nhiệm vụ nghiên cứu

3.1 Mục đích

Trên cơ sở làm rõ những vấn đề lý luận, phân tích, đánh giá hoạt động

lễ hội và thực trạng vai trò lễ hội trong tuyên truyền đường lối, chính sách củaĐảng và Nhà nước, luận văn đề xuất phương hướng, giải pháp phát huy vaitrò của lễ hội trong tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

ở tỉnh Bắc Ninh

3.2 Nhiệm vụ

- Phân tích một số vấn đề lý luận về lễ hội và tình hình hoạt động của lễhội ở tỉnh Bắc Ninh

Trang 6

- Phân tích thực trạng về vai trò của lễ hội trong tuyên truyền đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước ở tỉnh Bắc Ninh.

- Đề xuất một số phương hướng, giải pháp nhằm phát huy vai trò của lễhội trong công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước,

4.2 Phương pháp nghiên cứu

Luận văn sử dụng phương pháp luận của chủ nghĩa duy vật biện chứng

và chủ nghĩa duy vật lịch sử; các phương pháp lôgic - lịch sử; phân tích, tổnghợp; phương pháp điều tra xã hội học và phương pháp so sánh

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Luận văn xác định vai trò của lễ hội trong tuyên truyền đường lối,chính sách làm đối tượng nghiên cứu

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Luận văn xác định phạm vi nghiên cứu của đề tài chỉ là công táctuyên truyền đường lối, chính sách thông qua các lễ hội được tổ chức ở tỉnhBắc Ninh

Thời gian nghiên cứu được xác định từ Đại hội X đến nay

6 Ý nghĩa của đề tài

Luận văn góp phần làm sáng tỏ vấn đề lý luận về vai trò lễ hội trongviệc phát huy hiệu quả tuyên truyền đường lối, chính sách Những kết quả

Trang 7

nghiên cứu của luận văn có thể dùng làm tài liệu tham khảo cho lãnh đạo,nhất là lãnh đạo ngành tư tưởng - văn hóa Bắc Ninh và cán bộ tuyên giáo tỉnhBắc Ninh trong việc xây dựng kế hoạch sử dụng lễ hội để tuyên truyền đườnglối, chính sách.

7 Kết cấu của luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận, danh mục tài liệu tham khảo, phần nộidung luận văn gồm 3 chương và 07 tiết

Trang 8

Chương 1

LỄ HỘI VÀ VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI TRONG TUYÊN TRUYỀN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC

1.1 Lễ hội và vai trò của lễ hội trong đời sống tinh thần của nhân dân

1.1.1 Khái niệm lễ hội, đặc điểm của lễ hội

* Khái niệm lễ hội

Thuật ngữ lễ hội là từ ghép giữa “lễ” và “hội”

Lễ có nhiều quan niệm khác nhau, theo từ điển Tiếng Việt xuất bản

năm 2002, “Lễ là những nghi thức tiến hành nhằm đánh dấu hoặc kỷ niệmmột sự việc, sự kiện có ý nghĩa nào đó; lễ còn có nghĩa là vái, lạy để tỏ lòngcung kính, theo phong tục cũ, lễ còn được hiểu là khuôn phép, là phép bày ranhằm tỏ ý kính trọng, lịch sự” [50, tr 561] Lễ còn được xem là linh hồn cốtlõi của một lễ hội và là phần quan trọng nhất được đầu tư công phu nhất cả vềthời gian, tiền bạc và công sức

Lễ là đạo, khác với hội là đời Trong lễ bao giờ cũng phải có tế: Tế baogồm những nghi thức đúng quy định như y phục, phẩm phục, hia hài, mũ vàcác nghi thức tổ chức tế lễ Những nghi thức này thường do những cụ caoniên, phúc đức được dân làng chọn ra thực hiện, trong đó có một số ngườilàm chủ tế

Hội có nhiều quan điểm khác nhau, nhưng theo từ điển Tiếng Việt thì

“hội là cuộc vui tổ chức chung cho đông đảo người dự theo phong tục hoặcnhân dịp đặc biệt” [50, tr 561] Hội thường được tổ chức vào các dịp kỷ niệmmột sự kiện trọng đại nào đó có liên quan đến nhiều người, hội mang tínhcộng đồng, trong đó bao gồm các trò diễn, các cuộc đua tài, các trò chơi, vănnghệ giải trí Phần hội có thể thể thêm bớt, thay đổi, tùy theo cấu trúc lễ hội

Theo từ điển Tiếng Việt, lễ hội được hiểu là “cuộc vui tổ chức chung, cócác hoạt động lễ nghi mang tính văn hóa truyền thống của dân tộc” [50, tr 561]

Trang 9

Những người tham gia vào phần lễ chỉ do một số người có vai vế, có vị trí nhấtđịnh ở địa phương, phần lễ trong một số lễ hội mang tính thiêng liêng, bất biến,

là những nghi thức thờ thần thánh, được quy định chặt chẽ về không gian vàthời gian tổ chức, tham gia vào phần hội thì bao gồm đông đảo quần chúngnhân dân

Như vậy, lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian phổ biến ởkhắp các làng, quê, nó được ra đời từ rất sớm và đã tồn tại, phát triển quanhiều thời đại

Từ những năm 90 của thế kỷ XX trở về trước thuật ngữ lễ hội đã đượccác nhà nghiên cứu sử dụng, “Điều này phù hợp với cách gọi của dân gian,

người dân ở các làng quê xưa thường gọi đi hội, chơi hội, làng có hội thì

thường gọi là mở hội, vào đám”[43,tr 16]

Tác giả Toan Ánh là người sử dụng thuật ngữ: “Hội hè đình đám” khá

triệt để Trong hai cuốn sách do ông xuất bản năm 1960 và 1974 ở Sài Gòn

trong bộ “Nếp cũ” của mình ông đều dùng thuật ngữ này, nhưng khi gọi vắn

tắt thì ông chỉ gọi là hội Theo ông: “trong hội thường có trò vui gọi là “báchhí” để dân chúng mua vui, nhưng mục đích của hội hè đình đám không phảichỉ có thế, mà mua vui cho dân chúng cũng không phải là mục đích đầu tiêncủa hội hè Có thể nói được rằng mục đích đầu tiên của hội hè đình đám là đểdân làng bày tỏ lòng thành kính và biết ơn đối với Đức Thành Hoàng, ThầnLinh coi sóc, che chở cho dân làng”[2,tr 11] Trung thành với quan điểm vănhóa dân gian, GS.Đinh Gia Khánh cho rằng: “danh từ hội lễ nên được dùngnhư một thuật ngữ văn hóa Có thể xác định ý nghĩa thuật ngữ này theo hai

thành tố (hội và lễ) Hội là tập hợp đông người trong một sinh hoạt cộng đồng Lễ là các nghi thức đặc thù, gắn với các loại hình sinh hoạt cộng đồng

ấy”[37, tr 172]

Từ những năm 90 của thế kỷ XX đến nay, xu thế sử dụng thuật ngữ “lễ hội” được phổ biến hơn Do người thời nay mong muốn gắn hình thức hình

Trang 10

thức sinh hoạt văn hóa cộng đồng này có ít nhất hai yếu tố cũng là hai đặctrưng đi liền với nhau Trước hết: là lễ bái, tế lễ, cầu phúc Sau đó: là thăm thúvui chơi nơi đông đúc Vì vậy đã có ý kiến cho rằng: phải thêm chữ “lễ” cho

“hội” Do gắn thêm chữ lễ vào hội mà từ đó đến nay các nhà nghiên cứu ViệtNam đã đưa ra những định nghĩa khác nhau về lễ hội

Có thể nói, thuật ngữ lễ hội chính thức được bắt đầu bằng công trình

“Lễ hội cổ truyền Việt Nam” của Viện nghiên cứu văn hóa dân gian do tác giả

Lê Trung Vũ chủ biên, cùng các tác giả khác là Phan Đăng Nhật, Ngô ĐứcThịnh, Nguyễn Xuân Kính, Lê Văn Kỳ và các cộng tác viên

Trong cuốn “Lễ hội cổ truyền”, tác giả Phan Đăng Nhật cho rằng: “Lễ

hội là một pho lịch sử khổng lồ ở đó tích tụ vô số những lớp phong tục, tínngưỡng, văn hóa nghệ thuật và cả các sự kiện xã hội lịch sử quan trọng củadân tộc Lễ hội còn là bảo tàng sống về mặt sinh hoạt văn hóa tinh thần củangười Việt, chúng đã sống, đang sống với những đặc trưng của mình, chúngtạo nên sức cuốn hút, thuyết phục mạnh mẽ nhất” [72, tr 131]

Trong cuốn “Hội Hè Việt Nam” có viết: “Hội và lễ hội là một sinh hoạtvăn hóa lâu đời của dân tộc Việt Nam chúng ta, hội và lễ hội có sức hấp dẫn,lôi cuốn các tầng lớp trong xã hội để trở thành một nhu cầu, một khát vọngcủa nhân dân trong nhiều thập kỷ”[56, tr 24]

GS.Trần Quốc Vượng viết: “Lễ hội gồm hai phần vừa tách rời nhau,vừa không tách rời nhau: Lễ (nghi lễ cúng Thần, Thánh, Phật, Mẫu …) và Hội(tụ hội của dân làng hay liên làng)” [73, tr 9] Hay: “Trên thực tế và về lýthuyết lễ - hội xoắn xuýt hữu cơ vào nhau, không thể tách rời”[73, tr 9]

Dù tiếp cận khác nhau, nhưng về cơ bản nội dung gần như thống nhấtvới nhau và đều có quan điểm chung khi nghiên cứu lễ hội đó là có hoạt độngtín ngưỡng, hoạt động văn hóa, hoạt động đó phản ánh đời sống tâm linh, tưtưởng, tình cảm của cộng đồng

Trang 11

Suy cho cùng thì lễ hội gồm hai phần “lễ” và “hội” được gắn quyệnchặt chẽ với nhau trong một chỉnh thể thống nhất, trong đó, phần lễ có baogồm các nghi lễ tín ngưỡng dân gian và các tôn giáo du nhập cùng với những

đồ vật được sử dụng làm đồ tế lễ mang tính thiêng liêng được chuẩn bị rất chuđáo và nghiêm túc, thông qua các lễ hội, con người dường như được giao hoàvới thế giới siêu nhiên Do vậy, phần lễ là hạt nhân của mọi lễ hội dân gian vàphần lễ giữ vai trò quyết định cho sự tồn tại phát triển của lễ hội Còn phầntiếp sau của phần lễ đó là phần vui chơi giải trí mang tính vui nhộn, hài hước

và rất sống động, tuy có sự phân chia thành hai phần như vậy, song thực chấtkhó có sự tách biệt giữa lễ và hội, ở mỗi lễ hội cụ thể thì mức độ giữa lễ vàhội cũng có sự khác nhau

Tuy còn có nhiều ý kiến khác nhau, song cơ bản các nhà nghiên cứu

đều nhất trí với quan niệm: Lễ hội là một hình thức sinh hoạt văn hóa tổng hợp bao gồm các mặt tinh thần và vật chất, tôn giáo tín ngưỡng và văn hóa nghệ thuật linh thiêng và đời thường…, là một sinh hoạt có sức thu hút một

số lượng các tầng lớp nhân dân trong xã hội, phản ánh những hiện tượng của đời sống xã hội

Lễ hội được cấu thành bởi hai yếu tố: lễ (mặt thứ nhất- tinh thần, tôngiáo, tín ngưỡng, linh thiêng) và hội (mặt thứ hai – vật chất, văn hóa nghệthuật, đời thường) và chúng được gắn bó chặt chẽ, hòa quện với nhau khôngthể bỏ đi một yếu tố nào mà không làm mất đi bản thân nó

* Đặc điểm của lễ hội

Thứ nhất, lễ hội mang tính chất tôn giáo - tín ngưỡng

Lễ hội nào cũng mang tính chất tôn giáo - tín ngưỡng Tín ngưỡng củangười Việt không xác lập ở một hệ tối cao duy nhất, không nhất thể hóa nhưChúa trời, Phật, Ala và tạo ra một hệ giáo lý sâu sắc, mà người Việt xác lập chomình một hệ thống tín ngưỡng đa dạng: tín ngưỡng vạn vật hữu linh, tín

Trang 12

ngưỡng thờ cúng tổ tiên, tín ngưỡng phồn thực, tín ngưỡng thờ thần ThànhHoàng làng, tín ngưỡng thờ Mẫu.

Các yếu tố bản địa và tôn giáo ngoại nhập đều tồn tại trong một hệ tínngưỡng: không có sự bài xích, phủ định nào gay gắt cơ bản, nét bao dungđược thể hiện hầu hết trong các lễ hội, những hội đình, hội chùa, những nghi

lễ về các nhân vật được tôn thờ… đều làm toát lên niềm tin vào cái chân,thiện, mỹ trong cuộc sống Đến với lễ hội con người không chỉ với ước vọngđược giao thoa, giao hòa với thiên nhiên mà còn trực tiếp tham gia vào quátrình tái sáng tạo văn hóa Đến lễ hội, người thì cầu các bậc thần thánh phù hộcho sức khỏe, người thì cầu mong được nhiều của cải, người thì cầu có concháu, con cháu hiếu thảo, có địa phương thì cầu làm ăn thuận lợi

Thứ hai, lễ hội phản ánh đời sống tâm linh, tinh thần phong phú, đa dạng gắn liền với mỗi cộng đồng người, từ cộng đồng tộc người đến cộng đồng dân tộc.

Mỗi dân tộc đều có lễ hội riêng của mình và thường phản ánh đời sốngtâm linh, điều kiện lịch sử, đời sống tinh thần và vật chất của dân tộc đó

Nước ta là một quốc gia đa dân tộc nên cũng rất đa dạng về tín ngưỡng,phản ánh điều kiện sống, tâm linh và đời sống tinh thần phong phú của các dântộc trong cộng đồng dân tộc Việt Nam, có lễ hội kéo dài từ 1- 3 ngày, có lễ hộikéo dài suốt 3 tháng mùa Xuân như lễ hội Chùa Hương gắn với Nam thiên Đẹnhất động Lễ hội nào cũng đều gắn với tộc người hay với một làng quê nhấtđịnh, mang dấu ấn đậm nét làng quê, qua đó lễ hội ở Việt Nam thể hiện sắc tháidân tộc đậm nét hơn so với các nước khác Điều này một phần do đặc điểm lịch

sử dân tộc Việt Nam Đó là lịch sử hào hùng chống giặc ngoại xâm và sự nỗlực trong khắc phục thiên tai, nên đã tạo ra tính đa dạng về tín ngưỡng với mộtđời sống tinh thần phong phú như: thờ những người khai dân lập ấp, những vị

tổ sư của các làng nghề Có khi không tìm được con người cụ thể, người dân

Trang 13

dành những công lao ấy cho những lực lượng siêu nhiên được nhân dân thầnthánh hóa …

Có cả những lễ hội vốn có nguồn gốc khác cũng được đắp thêm mộtlớp lịch sử hoặc được lồng vào nội dung lễ và hội, lễ hội phản ánh trình độcủa thời đại, tư tưởng, nét văn hóa, đời thường của thời đại Ví dụ: lễ hội Lim,

lễ hội Đồng Kỵ… Ở đây người ta vẫn giữ nét đặc sắc truyền thống, đồng thờingười ta đưa những yếu tố mới của đời sống hiện nay như nội dung phù hợpvới tư tưởng, tình cảm của nhân dân ngày nay Phần hội: từ hoạt động văn hóavăn nghệ, trang phục tổ chức các trò diễn mang nét mới kết hợp với yếu tốtruyền thống Các lễ hội coi nội dung tế lễ là nghi thức rất quan trọng, hìnhthức hoạt động lễ hội cũng phụ thuộc vào tín ngưỡng, thói quen của từng dântộc, điều kiện kinh tế xã hội của từng nước, từng địa phương

Thứ ba, lễ hội gắn với hoạt động văn hóa, vui chơi, giải trí

Các lễ hội, sau phần lễ đều có phần hội: Phần hội làm cho lễ hội thêmsinh động, sôi nổi, hấp dẫn du khách thập phương Kết quả của phần hội là docác hoạt động văn hóa văn nghệ và các trò chơi giải trí tạo nên Hoạt độngvăn hóa văn nghệ diễn ra trong lễ hội rất phong phú, đa dạng, nó phụ thuộcvào truyền thống văn hóa của từng địa phương, khả năng và sự tích cực thamgia của các tầng lớp nhân dân

Ở nhiều hoạt động của lễ hội: có các đoàn nghệ thuật chuyên nghiệp,đoàn văn công địa phương, đội văn nghệ của thôn, xóm thực hiện các hoạtđộng văn hóa văn nghệ (nếu không có hoạt động văn hóa văn nghệ thì khôngtrở thành lễ hội)

Ví dụ: lễ hội có các trò chơi dân gian như nấu cơm, đua thuyền, thi vật,thi hát đối, chọi gà, chọi trâu, cờ người, diễn văn nghệ … các trò diễn truyềnthống vẫn được duy trì không thể thiếu ở các lễ hội

Các trò chơi trong phần hội phản ánh đời sống tinh thần của nhân dân,phản ánh truyền thống văn hóa địa phương, thể hiện phong tục, tập quán của

Trang 14

làng, của một vùng quê Ngày nay, các lễ hội ngoài các trò chơi dân gian, cáchoạt động tổ chức thi văn nghệ quần chúng, ban tổ chức mời đội văn nghệchuyên nghiệp về biểu diễn như hội Gióng, hội Láng, hội Lim … Các hoạtđộng vui chơi ngày càng phát triển phù hợp với điều kiện hiện nay.

Thứ tư, lễ hội mang tính nhân dân, tính xã hội sâu sắc

Lễ hội do nhân dân quy định và do nhân dân sáng tạo ra (nhân dân vừa

là khách thể sáng tạo văn hóa, vừa là chủ thể hưởng thụ văn hóa), lễ hội đápứng nhu cầu của nhân dân Chính vì vậy, ở địa phương nào cũng có lễ hội, aicũng có thể tham gia vào lễ hội và lễ hội đáp ứng nhu cầu văn hóa của nhândân, nhân dân tự tổ chức và tự sáng tạo hoạt động vui chơi, tham gia và quản

lý hoạt động lễ hội

Chính những người dân đã tìm ra hình thức tổ chức: tế, lễ, hình thứcvui chơi giải trí để đáp ứng nhu cầu tinh thần, vui chơi giải trí của chính mình,đến lễ hội, không phân biệt thành phần xã hội, giai cấp, dân tộc, chế độ nào

Có lễ hội tồn tại hàng trăm năm và ngày càng được nhân dân chú ý giữ gìn

Bên cạnh tính nhân dân lễ hội còn mang tính xã hội rộng rãi lễ hội làhoạt động xã hội, lễ hội gắn với xã hội nhất định, tồn tại trong các chế độ xãhội, bị chi phối bởi điều kiện, hoàn cảnh xã hội Các lễ hội phản ánh đời sốngtinh thần, vật chất của xã hội đó, xã hội dân chủ, kinh tế phát triển, nhân dânđược bình đẳng thì lễ hội tưng bừng và đông đúc, ngược lại kinh tế kém pháttriển không đảm bảo dân chủ, công bằng xã hội bị vi phạm thì hoạt động lễhội hạn chế, ít người đến lễ hội để vui chơi mà chủ yếu để đi tế lễ

1.1.2 Khái quát lịch sử hình thành và phát triển lễ hội

Để xác định nguồn gốc, bản chất của lễ hội, người ta dựa vào nhiềunguồn sử liệu khác nhau như nguồn sử liệu văn tự (chữ viết), dân tộc học,khảo cổ học, văn hóa dân gian… Thông qua các nguồn sử liệu này có thểđoán định được rằng: lễ hội đã xuất hiện từ rất lâu đời và nguồn gốc của nó có

Trang 15

lẽ xuất phát từ trước thời kỳ văn hóa Đông Sơn, gần như cùng với việc hìnhthành những cộng đồng trên dải đất Việt Nam

Xét về nguồn gốc lịch sử thì ở thời kỳ nguyên thủy đã có những lễ hộimang tính sơ khai nhưng lễ hội ở thời kỳ này vẫn tách riêng khỏi các hoạtđộng khác của con người Lao động và các hoạt động tế lễ nguyên thủy đã tạo

ra các lễ thức của các lễ hội sơ khai Những lễ hội này chính là các lễ hộinguyên hợp, được hình thành trong thiên nhiên và tách khỏi thế giới tự nhiên,bởi khả năng tư duy của con người về sự tách biệt của họ với môi trườngxung quanh Nhưng để tồn tại và phát triển, con người luôn tìm cách tiếp cậnvới môi trường tự nhiên Chính vì vậy các lễ hội hóa trang được hình thành,duy trì và bảo lưu trong xã hội có giai cấp nhằm mục đích khôi phục sự bìnhđẳng giữa con người với nhau, giữa con người với môi trường của buổi banđầu sơ khai như vậy

Song cùng với lịch sử phát triển của nhân loại, các nghi lễ cúng tế cũngphát triển và dần trở thành nghi thức phức tạp, phong phú và đa dạng, cácnghi thức thờ cúng ban đầu chỉ mang tính chất ích dụng, dần được hoàn thiện

và nhiều yếu tố mang tính văn hóa, qua đó đã phần nào phản ánh nhu cầu đờisống tinh thần của con người trong cộng đồng xã hội

Trải qua quá trình hình thành và phát triển của lễ hội: từ khi còn là sơ khaiđến nay lễ hội đã phát triển thành hệ thống và có nhiều loại hình rất đa dạng vàphong phú Hệ thống lễ hội ngày nay là kết quả của mối quan hệ giữa tín ngưỡngdân gian và hệ thống tôn giáo du nhập vào nước ta, chủ yếu là đạo Phật

Trong tiến trình phát triển của mình, lễ hội luôn chịu ảnh hưởng và chịu

sự tác động qua lại của phong tục tập quán của truyền thống văn hóa, chínhphong tục tập quán làm cơ sở, nền tảng cho lễ hội tồn tại và phát triển, hay cóthể nói rằng phong tục tập quán là môi trường nuôi dưỡng lễ hội

Có thể khái quát lịch sử hình thành và phát triển lễ hội qua các giai đoạn:

Trang 16

- Giai đoạn trước 1945: Giai đoạn này được chia thành 4 thời kỳ

+ Lễ hội thời kỳ Hùng Vương: Từ xã hội săn bắn, hái lượm, nay đâymai đó, loài người chuyển sang cuộc sống định cư Khi con người bước sang

xã hội nông nghiệp thì lễ hội cũng có bước chuyển mạnh mẽ Ở thời kỳ nàycon người vừa tiếp cận, vừa khám phá thiên nhiên, lại vừa hòa nhập với thiênnhiên trong cuộc đấu tranh chinh phục thiên nhiên

Vì vậy, lễ hội thời kỳ này không chỉ phản ánh nền văn minh nôngnghiệp lúa nước mà còn mang nội dung mới nhằm suy tôn, kính trọng tổ tiên,giống nòi và ca ngợi các anh hùng văn hóa của dân tộc như Âu Cơ – LạcLong Quân, các Vua Hùng đã có công dựng nước Thời kỳ này lễ hội phảnánh khá rõ nét đời sống tâm linh của cư dân nông nghiệp, có lễ hội phản ánh

sự sống trồng cây, thể hiện sự liên kết cộng đồng, đời sống để chống chọi vớithiên nhiên là chủ yếu

Tuy nhiên, do trình độ phát triển của lực lượng sản xuất còn thấp kém,trình độ nhận thức của con người còn hạn chế, xã hội còn sơ khai, khép kínnên con người hướng tới đấng siêu nhiên (sức mạnh thần bí…), điều này đượcphản ánh trong các lễ hội, trong các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, và

là hạt nhân tín ngưỡng của các lễ hội, khi ấy các lễ nghi phồn thực của hệ tínngưỡng nông nghiệp sẽ là hình thức chủ đạo của lễ hội (lễ hội của các cư dânnông nghiệp thường được tổ chức vào mùa Thu)

+ Lễ hội thời kỳ Bắc thuộc

Ngàn năm Bắc thuộc là thời kỳ văn hóa dân tộc trải qua nhiều thử tháchlớn Song nhờ bản lĩnh kiên định vững vàng của nền văn hóa dân tộc thời kỳHùng Vương mà đỉnh cao là Văn minh Đông Sơn, văn hóa của người Việt cổvẫn tồn tại và tiếp biến những yếu tố hợp lý của hai nền văn hóa lớn (Hoa -Ấn) thành văn hoá Việt Sự giao lưu tiếp biến đó thể hiện qua hệ thống lễ hộiphong phú với các loại hình lễ hội được diễn ra vào mùa Xuân và mùa Thu,

Trang 17

trong đó lễ hội mùa Xuân có xu hướng nổi trội hơn lễ hội mùa Thu Khi đạoPhật được chú trọng phát triển, lễ hội chùa đã xuất hiện bên cạnh lễ hội nôngnghiệp cổ truyền, trong lễ hội chùa không chỉ tôn thờ Đức Phật mà còn thờ cảcác bậc Thiền Sư Tổ (hậu phật) đã tu thành đắc đạo và đã có nhiều công đứcvới dân với nước.

Như vậy lễ hội thời kỳ này không những phản ánh tín ngưỡng phồnthực của cư dân nông nghiệp mà còn thể hiện giá trị văn hóa Phật giáo đãđược Việt hóa Mỗi lần mở hội là một lần dân cư Việt biểu hiện sự sùng bái

và diễn lại sự tích các anh hùng của dân tộc (người đã trở thành vị Thần Linhđất Việt in đậm nét trong tâm thức và tâm linh dân tộc được dân gian suy tôn,thờ phụng trong các lễ hội)

+ Lễ hội thời kỳ quốc gia Đại Việt (từ thế kỷ X đến thế kỷ XIX)

Đây là thời kỳ dân tộc bước sang kỷ nguyên độc lập tự do, xây dựngnước Việt Nam phong kiến độc lập tự chủ, tự cường dân tộc (Quốc gia ĐạiViệt) Có thể chia lễ hội thời kỳ này thành hai tiểu thời kỳ:

Lễ hội thời kỳ từ thế kỷ X đến thế kỷ XIV: Lễ hội thời kỳ này đã hội tụđược nhiều yếu tố cơ bản cho lễ hội dân gian truyền thống phát triển mạnh mẽ

và đa dạng về hình thức, phong phú về nội dung

Lễ hội thời kỳ này vẫn được người Việt tổ chức vào hai mùa chính(Xuân và Thu), trong đó lễ hội chùa phát triển nhanh, tập trung nhất là ở vùngchâu thổ Bắc Bộ Trong lễ hội không những chỉ có niềm tin Phật giáo mà còn

có cả niềm tin Đạo giáo, cả tín ngưỡng Thành Hoàng và các tín ngưỡng dângian khác

Lễ hội thời kỳ nửa đầu thế kỷ XV đến nửa đầu thế kỷ XIX: Thời kỳ này lễhội dân gian truyền thống phát triển tương đối ổn định với ba loại hình cơ bảngắn với các cơ sở thờ tự như (đền, đình, chùa) Trong thần điện của lễ hội truyền

Trang 18

thống được bổ sung thêm nhiều vị thần linh mới Họ là các vị anh hùng dân tộc ởcác thời đại lịch sử kế tiếp nhau (Lê Lợi, Nguyễn Trãi, Nguyễn Huệ…)

+ Lễ hội thời kỳ Pháp thuộc (1858 - 1945)

Năm 1858 Thực dân Pháp nổ súng xâm lược nước ta, đến năm 1885 đặtách đô hộ trên toàn cõi Việt Nam Ngay sau đó chúng tổ chức bộ máy cai trị

và biến nước ta thành thuộc địa của Pháp Trong bối cảnh đời sống của nôngdân gặp khó khăn, dân chúng bi quan, chán nản, nhưng do cấu trúc làng xãvẫn được duy trì như cũ nên các hình thức sinh hoạt văn hóa dân gian, lễ hộivẫn được duy trì như trước Về thời gian tổ chức, các lễ hội dân gian vẫn tiếnhành vào mùa Xuân và mùa Thu, nhưng các lễ hội vào mùa Xuân chiếm ưuthế hơn cả về số lượng và quy mô Về không gian tổ chức, lễ hội vẫn lấy cácngôi đình, đền, chùa làm trung tâm và diễn ra tại khắp các làng, xã vùng châuthổ sông Hồng Thực ra, từ đầu thế kỷ XIX, các mô hình của lễ hội truyềnthống đã khá ổn định gồm hai phần chính: phần lễ và phần hội Tuy phân định

ra như vậy, song trên thực tế khó có thể tách biệt riêng rẽ giữa lễ và hội, màchúng luôn gắn quện đan xen vào nhau trong một chỉnh thể của một loại hìnhvăn hóa dân gian mang tên ghép “lễ và hội”

Trong nội dung và hình thức của lễ hội truyền thống có hàm chứa tinhhoa văn hóa và nét đẹp truyền thống về bản lĩnh, bản sắc dân tộc, tinh thầnđoàn kết cộng đồng

- Lễ hội truyền thống từ 1945 đến nay (chia thành hai tiểu thời kỳ)

+ Thời kỳ từ 1945 đến1985 (thời kỳ trước đổi mới)

Trong chiến tranh (1945 - 1975): Thời kỳ này, lễ hội hầu như bị đìnhtrệ và lãng quên do điều kiện phải tập trung sức người, sức của cho chiếntrường và chống trả với sự phá hoại của địch đánh phá miền Bắc

Sau chiến tranh (1975 - 1985): Sau ngày giải phóng miền Nam, thốngnhất nước nhà, do thực hiện nhiệm vụ trọng tâm là khắc phục hậu quả chiếntranh, khôi phục, phát triển kinh tế, nên các hoạt động văn hóa dân gian, trong

Trang 19

đó có lễ hội không được quan tâm đúng mức Chính vì vậy, lễ hội hầu nhưthiếu vắng trong đời sống văn hóa dân tộc, trừ một vài lễ hội lớn: lễ hội đềnHùng, hội chùa Keo, hội Lim…

Trước nhu cầu tinh thần của nhân dân, tháng 4 năm 1984 Nhà nước đã

ban hành Pháp lệnh: “Bảo vệ và sử dụng di tích lịch sử văn hóa dân tộc và danh lam thắng cảnh”, từ đó lễ hội truyền thống lại được phục sinh, sống lại

một cách nhanh chóng tại các làng, xã, dân chúng nô nức rủ nhau đi trẩy hộihoặc hành hương về các ngôi chùa, mái đình như về với niềm tin đã trở thànhnguồn cội linh thiêng

+Thời kỳ đổi mới (1986 đến nay)

Thực hiện Nghị quyết TW5 khóa VIII về phát triển văn hóa và thựchiện chủ trương của Đảng về xây dựng đời sống văn hóa cơ sở, hoạt động lễhội trên cả nước cũng có bước đổi mới căn bản

Lễ hội truyền thống được phục hồi và phát triển tương đối rộng khắp,dần dần đã lấy được dáng vẻ cổ truyền xưa với ba loại hình chính: làng, vùng,nước Việc phục hồi lại có nghi thức, nghi lễ và phong tục truyền thống trong

lễ hội như: tế lễ, rước xách, tục, trò diễn tái hiện sự tích với các trò chơi, diễnxướng dân gian

1.1.3 Vai trò của lễ hội đối với đời sống tinh thần của nhân dân

Lễ hội truyền thống Việt Nam - một loại hình sinh hoạt văn hóa dângian tổng hợp, độc đáo, phong phú, đa dạng của dân tộc Việt Nam, có lịch sửhình thành, tồn tại và phát triển lâu dài

Lễ hội là một nhu cầu tinh thần, tình cảm chính đáng của nhân dântrong nhiều thế kỷ, có sức hấp dẫn, lôi cuốn to lớn đối với các tầng lớp nhândân trong xã hội ở mọi thời đại

Sức hấp dẫn, sự hiện diện và trường tồn của các lễ hội cổ truyền phầnnào đã nói nên vai trò quan trọng của chúng đối với việc chấn hưng, lưu giữ

Trang 20

và trao truyền những tinh hóa văn hóa giàu bản sắc truyền thống, đậm chấtdân tộc Lễ hội đã đáp ứng được những nhu cầu căn bản của nhân dân nhưnhu cầu giáo dục, nhu cầu niềm tin, nhu cầu giải trí và nhu cầu chính trị Nóthực sự trở thành biểu tượng các giá trị đặc thù của vùng, miền, địa phương vàtái xác lập các mối quan hệ thôn xóm; giải phóng những xung cảm bị kìmhãm trong đời sống hàng ngày, tạo điều kiện cho sự sáng tạo của mỗi cá nhântrong lĩnh vực hoạt động của mình.

Ở mọi quốc gia, dân tộc trong mọi xã hội, đặc biệt là dân tộc Việt Nam,liên kết cộng đồng bao giờ cũng được coi là giá trị thiêng liêng để hình thànhvăn hoá “đồng bào” Trước sự tàn phá của thiên tai và địch hoạ, hơn bao giờhết, người dân Việt Nam luôn nhận thức sâu sắc được giá trị của sự cố kếtcộng đồng (cộng đồng còn thì mình mới còn, cộng đồng mất thì tất cả đềumất, kể cả cái linh thiêng nhất), ý thức cộng đồng, được sinh hoạt lễ hội vunđắp bảo tồn và phát huy Cùng với tác dụng củng cố mối quan hệ liên kếtcộng đồng, các lễ hội truyền thống còn có tác dụng giáo dục, nhất là đối vớithế hệ trẻ hướng về nguồn cội, tăng thêm lòng yêu quê hương đất nước

Trong tính muôn vẻ của lễ hội, lễ hội Bắc Ninh luôn đề cao các giá trị,sức mạnh của cộng đồng thông qua các nhân vật trung tâm của lễ hội (nhânvật được cử lễ) các nhân vật có thể là có thật trong lịch sử của cộng đồng,cũng có khi họ là những nhân vật được hư cấu theo mong ước của cộng đồng

Đại đa số các nhân vật trung tâm của lễ hội vùng thường là những anhhùng hoặc có công xây dựng, tạo lập cộng đồng hoặc có công lớn trong cáccuộc chiến chống giặc ngoại xâm, chống thiên tai, dịch bệnh hoặc có côngtrong việc truyền nghề cho cộng đồng… đều tập trung ở mọi đức tính, phẩmchất cao đẹp mà các thành viên trong các cộng đồng mơ ước Để trở thànhnhân vật trung tâm của lễ hội, những nhân vật được cả cộng đồng phụng thờ,

họ không chỉ được người dân linh thiêng hóa những phẩm chất, tính cách, đặc

Trang 21

điểm vốn có trong cuộc sống đời thường mà họ còn được cả cộng đồng tô vẽthêm những phẩm chất, đức tính theo mong muốn của họ Ngược lại, dù cácnhân vật trung tâm của lễ hội là sản phẩm của sự mong ước của cộng đồng,tức chỉ là nhân vật huyền thoại nhưng thông qua lễ hội đã giáo dục đạo đứccon người, nhắc nhở mọi người sống tốt, lành mạnh hướng tới điều thiện, xacách những cái xấu, trái với luân thường đạo lý Trên cơ sở những nguyệnvọng, mong ước hội tụ ở nhân vật trung tâm của lễ hội, biểu tượng của lễ hội,

mà thành viên trong cộng đồng đã dễ dàng thông cảm, đoàn kết, gắn bó, liênkết với nhau, thông qua đó nhớ về cội nguồn lịch sử của dân tộc, tổ tiên và nòigiống, tăng thêm lòng yêu quê hương đất nước

Mặt khác, lễ hội truyền thống giữ vai trò làm nhịp cầu nối từ quá khứqua hiện tại và hướng tới tương lai, giữa cái linh thiêng cao cả với cái đờithường dân dã Lễ hội làm cân bằng về tâm lý, tâm linh cho mọi tầng lớpnhân dân mà cuộc đời còn nhiều khó khăn và phức tạp, còn nhiều thiên tai,địch họa Lễ hội góp phần không nhỏ vào việc giáo dục lối sống, phong tụctốt đẹp, theo lịch sử truyền thống văn hóa của dân tộc và hướng con người tớicái chân – thiện – mỹ, truyền thống uống nước nhớ nguồn Góp phần làm cânbằng môi trường sinh thái và môi trường văn hóa xã hội cho các cộng đồngngười từ dòng họ, làng xã, vùng miền đến dân tộc Tạo điều kiện cho conngười phát triển toàn diện về cả thể chất lẫn trí tuệ và tinh thần, hội đủ cácđiều kiện cần thiết để kế tục xứng đáng truyền thống cha ông để lại, các nhânvật trung tâm của lễ hội tập trung những mong muốn và nguyện vọng của mọithành viên trong cộng đồng, nên mỗi cá nhân đến với lễ hội đều có thể bồiđắp cho mình niềm tin nào đó vào cuộc sống

Như đã biết, người xưa luôn tin vào sự tồn tại của một thế giới songsong với sự tồn tại của con người (các nhân vật trung tâm của lễ hội đều làbiểu tượng thần linh), con người luôn tôn vinh thần linh bằng hành động dâng

Trang 22

các lễ vật thích hợp và đều đặn, đáp lại họ sẽ được thần linh giúp đỡ, phù hộ,

để đạt được điều đó, chỉ có thể thông qua lễ hội và chính lễ hội là nơi chínhyếu để con người thỏa mãn và bồi đắp nhu cầu niềm tin Có thể nói, lễ hộiđóng vai trò rất quan trọng trong sự tồn tại và phát triển của cộng đồng, bằngcác giá trị huyền thoại và biểu tượng của mình, lễ hội đã cho phép cộng đồng

có nội lực văn hóa, chống lại áp lực của môi trường tự nhiên cũng như áp lựcđồng hóa của các cộng đồng xã hội khác

Con người với tư cách là một sản phẩm của tự nhiên, sau những hoạtđộng sản xuất vất vả họ cũng cần có sự nghỉ ngơi bằng các hoạt động giải trí.Song, “sự giải trí của con người mang bản chất sáng tạo, sự sáng tạo tiếp tục

và mở rộng gọi là tái sáng tạo” [17, tr 56]

Trong các xã hội cổ truyền, lễ hội là dịp đem lại cho mỗi người, mỗicộng đồng một khoảng thời gian nghỉ ngơi phong phú và thoải mái, lễ hội đãchiếm một vị trí rất quan trọng trong đời sống tinh thần của họ, đồng thời làdịp để họ thỏa mãn được những nhu cầu giao tiếp với những người khác ở cácvùng khác không chỉ về mặt tinh thần mà còn cả về mặt vật chất

Trong xã hội ngày nay, mặc dù với sự bùng nổ của công nghệ thôngtin, nhưng ở Việt Nam vẫn còn khá nhiều nơi, nhất là vùng núi cao, cuộc sốngcủa cư dân vẫn còn bị cách biệt bởi phương thức sản xuất còn lạc hậu, phongtục tập quán còn nặng nề Lễ hội đối với cư dân vẫn được coi như là phươngthức chính yếu để thỏa mãn nhu cầu thông tin, giao lưu, nhu cầu tình cảm vàtâm linh của cư dân ở đây Ngay cả đối với cư dân chốn “phố phường” vốnbộn bề sự toan tính, lễ hội có khả năng giải tỏa căng thẳng, những bức xúc,mang lại niềm vui cho mỗi người, kích thích tính sáng tạo, giúp họ hoàn thiệnnhân cách của chính mình, lễ hội còn được coi là một bảo tàng văn hóa hóasống động của mỗi cộng đồng dân tộc, mỗi quốc gia Bởi vì lễ hội được tạodựng bởi một chuỗi các cảnh diễn ra liên tiếp, chúng tập trung và tập hợp

Trang 23

nhiều loại hình nghệ thuật văn hóa dân gian đặc sắc của mỗi cộng đồng,chúng là nơi diễn trình mọi sinh hoạt văn hóa của cộng đồng.

Trong các cộng đồng dân tộc ngày nay, lễ hội cổ truyền vẫn còn bắtmạch vào đời sống xã hội, vì thế ngoài vai trò là phương tiện để hội tụ cácthành viên trong cộng đồng, các lễ hội còn là nơi hội tụ để phát triển văn hóa,thúc đẩy sự phát triển kinh tế và du lịch

Lễ hội là một sinh hoạt văn hóa của người Việt, là nhu cầu tinh thần, làsinh hoạt văn hóa cộng đồng lâu đời, thể hiện nhu cầu tâm linh không thểthiếu được trong tư duy và nhu cầu tinh thần của nhân dân, chủ yếu là ở nôngthôn Lễ hội đáp ứng được nhu cầu thưởng thức các giá trị văn hóa tinh thầncho người nông dân, phản ánh đặc điểm tín ngưỡng, phong tục tập quán, sựphân tầng xã hội, vai vế trong làng xã qua tế lễ, rước xách, chia phần, lễ hộithể hiện mong muốn của người nông dân (mong cho mưa thuận gió hòa, mùamàng tươi tốt, con cháu đầy nhà, nhân khang vật thịnh), lễ hội thể hiện sựkhát khao vươn tới cái đẹp của người nông dân, lễ hội là sự giao hoà của cáctầng văn hóa trong tiến trình lịch sử Lễ hội của mỗi cộng đồng dân cư là biểuhiện cao nhất, tập trung nhất văn hóa của mỗi cộng đồng về ăn, mặc, tínngưỡng, phong tục tập quán, tâm linh, các hình thức nghệ thuật, ca múa, rướcxách – tức là không gian lành mạnh, thời gian lành mạnh, là những rung cảmtinh tế trong tâm hồn mỗi người dự hội; là kết quả của tinh thần cộng độnglàng xã; là yếu tố cao nhất trong văn hóa phi vật thể của làng xã Vì vậy qua

lễ hội có thể phát huy cao độ bản sắc văn hóa dân tộc, khơi dậy niềm tự hào

về truyền thống, quê hương, tinh thần đoàn kết cộng đồng, tạo niềm phấnkhởi trong nhân dân, khiến họ yêu làng xóm, quê hương, đất nước

1.2 Vai trò của lễ hội trong tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

1.2.1 Quan niệm về tuyên truyền đường lối, chính sách

Theo từ điển Hán Việt: Đường lối, nghĩa là phương hướng chính trị củamột Đảng lãnh đạo xã hội (đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, quan điểm, giải pháp…)

Trang 24

Theo từ điển Tiếng Việt: Đường lối, nghĩa là phương hướng cơ bản có

ý nghĩa chỉ đạo lâu dài các hoạt động của Nhà nước hoặc của một tổ chứcchính trị (đường lối đối nội và đường lối đối ngoại” [50, tr 358]

Đường lối của Đảng Cộng sản Việt Nam: là hệ thống quan điểm, chủtrương, chính sách về mục tiêu, phương hướng, nhiệm vụ và giải pháp củacách mạng Việt Nam, đường lối cách mạng thể hiện qua cương lĩnh, nghịquyết của Đảng

Chính sách: là thuật ngữ được sử dụng rộng rãi trong đời sống kinh tế

-xã hội Tuy nhiên, qua tìm hiểu các tài liệu, các nghiên cứu cho thấy kháiniệm chính sách được thể hiện khác nhau, ví dụ: "Chính sách là những sáchlược và kế hoạch cụ thể nhằm đạt một mục đích nhất định, dựa vào đường lốichính trị chung và tình hình thực tế mà đề ra; hoặc chính sách là các chủtrương và các biện pháp của một đảng phái, một chính phủ trong các lĩnh vựcchính trị - xã hội" [50, tr 163]

Trong tiếng La tinh: Tuyên truyền (Prapaganda) là truyền bá, truyền đạtmột quan điểm nào đó Trong tác phẩm: “Người tuyên truyền và cách tuyêntruyền” Hồ Chí Minh cho rằng “Tuyên truyền là đem một việc gì đó nói cho

dân hiểu, dân nhớ, dân tin, dân làm” [44, tr 162] Theo giáo trình “Nguyên lý công tác tư tưởng” của Học viện Báo chí và Tuyên truyền “Thuật ngữ tuyên

truyền xuật hiện khoảng bốn trăm năm trước đây, được nhà thờ La Mã sửdụng để chỉ hoạt động của các nhà truyền giáo nhằm thuyết phục, lôi kéonhững người khác phấn đấu theo đức tin của đạo Kitô Sau này, thuật ngữtuyên truyền được dùng để biểu đạt các hoạt động nhằm tác động đến suynghĩ, tư tưởng của người khác và định hướng hoạt động của họ theo mộtkhuynh hướng nhất định” [33, tr 87]

Theo Đại từ điển Bách khoa Liên Xô, thuật ngữ tuyên truyền có 2 nghĩa.Nghĩa rộng: Tuyên truyền là sự truyền bá những quan điểm, tư tưởng vềchính trị, triết học, khoa học nghệ thuật… nhằm biến quan điểm, tư tưởng ấythành ý thức xã hội, thành hành động cụ thể của quần chúng Nghĩa hẹp:

Trang 25

Tuyên truyền là truyền bá những quan điểm lý luận nhằm xây dựng cho quầnchúng một thế giới quan nhất định phù hợp với lợi ích của chủ thể tuyêntruyền và kích thích những hoạt động thực tế phù hợp với thế giới quan ấy

Như vậy, “Công tác tuyên truyền là một hình thái, một bộ phận cấuthành của công tác tư tưởng nhằm truyền bá hệ tư tưởng và đường lối, chiếnlược trong quần chúng, xây dựng cho quần chúng thế giới quan phù hợp vớilợi ích của chủ thể hệ tư tưởng, hình thành và củng cố niềm tin, tập hợp và cổ

vũ quần chúng hành động theo thế giới quan và niềm tin đó” [33,tr 31]

Tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là một nộidung và nhiệm vụ của công tác tư tưởng nhằm truyền bá, phổ biến đường lối,chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm phát huynhận thức, hình thành niềm tin, cổ vũ tính tích cực hành động của quần chúngnhân dân trong việc vận dụng và thực hiện đường lối, chủ trương, chính sách

Tuyên truyền đường lối, chủ trương, chính sách là quá trình tác độngcủa các cấp chính quyền, cơ quan tuyên truyền đối với đông đảo quần chúngnhân dân nhằm phát huy nhận thức, củng cố niềm tin và thái độ đúng đắn, cổ

vũ và hướng dẫn quần chúng nhân dân trong việc vận dụng, chấp hành vàthức hiện đầy đủ, đúng, đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đề ra

1.2.2 Lễ hội với việc tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Cùng với quá trình dựng nước và giữ nước nền văn hóa Việt Nam,trong đó có nền văn hóa truyền thống đã hình thành và phát triển Bằng laođộng sáng tạo, ý chí đấu trang bền bỉ, kiên cường Nhân dân ta đã xây dựngmột nền văn hóa kết tinh trí tuệ, sức mạnh và in đậm dấu ấn bản sắc của dântộc, chứng minh sức sống mãnh liệt và sự trường tồn của dân tộc ta

Nền văn hóa Việt Nam, trong đó có lễ hội truyền thống lấy đời sốngsinh hoạt của các công đồng cư dân làm đối tượng phản ánh, lấy sự bình yên,phấn khởi, hạnh phúc của cư dân làm mục đích phục vụ

Trang 26

Thực tế hoạt động của lễ hội, do điều kiện và lý do khác nhau, nêntrong một thời gian dài tạm lắng xuống Cùng với những thành công của sựnghiệp đổi mới, lễ hội đã được phục hồi và có những khởi sắc, nhất là từ khi

có Nghị Quyết TW5 khóa VIII “Về xây dựng và phát triển nền văn hóa tiêntiến đậm đà bản sắc dân tộc”, chỉ thị 27CT/TW của Bộ chính trị, Quy chế số636/QC-VH của Bộ trưởng Bộ văn hóa thông tin nay là Bộ thông tin vàtruyền thông về quản lý xã hội

Sự phát triển cả về số lượng, qui mô và chất lượng của các lễ hội đã tạođiều kiện cho sinh hoạt lễ hội góp phần to lớn trong việc tạo động lực, trựctiếp là động lực tinh thần cho công cuộc đổi mới theo định hướng xã hội chủnghĩa, vì mục tiêu “Dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”

Nhận thức được vị trí, vai trò và tầm quan trọng của hoạt động lễ hộitrong công cuộc đổi mới, đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, mở cửahội nhập vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh,Đảng và Nhà nước ta đã chủ trương mở hội để chấn hưng tinh thần và tạo

“sân chơi” cho hoạt động vui chơi giải trí, và qua đó nhằm lồng ghép hoạtđộng tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Chính vì vậy những năm gần đây nhiều lễ hội truyền thống của các dântộc ở khắp nơi, đặc biệt là ở tỉnh Bắc Ninh đã được phục dựng, một số lễ hộitrước đây chỉ trong phạm vi làng xã, nay được mở rộng có quy mô vùngmiền, một số lễ hội vùng miền được mở rộng có quy mô quốc gia Số lượng lễhội do Nhà nước tổ chức cũng gia tăng, trong đó nhiều lễ hội (festival) có tínhquốc tế

Bắc Ninh, là tỉnh có truyền thống văn hóa, có nhiều lễ hội Phát huy vaitrò của lễ hội trong công tác tuyên truyền đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước là vấn đề có ý nghĩa quan trọng, cấp bách; có tác dụng duy trì và

Trang 27

phát triển bản sắc dân tộc; thúc đẩy quần chúng nhân dân hăng hái, hưởngứng thực hiện đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước đề ra Qua đógiáo dục được lòng yêu nước, truyền thống lịch sử của dân tộc; bồi dưỡng vàphát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng; góp phần củng cố và tăng cườngniềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước, đẩy mạnh sựnghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập quốc tế.

Kết hợp hoạt động tuyên truyền, đường lối, chính sách của Đảng vàNhà nước với những việc làm thiết thực như: chăm lo, phát huy đời sống vậtchất, đời sống tinh thần của nhân dân Vai trò này được thể hiện:

Thứ nhất, hoạt động lễ hội góp phần nâng cao nhận thức của nhân dân

về đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước

Được đánh giá là một trong những loại hình sinh hoạt văn hóa tinh thầnkhông thể thiếu của quần chúng nhân dân, lễ hội đã và đang là công cụ truyền

bá thông tin cơ bản và hiệu quả những đường lối, chủ trương, chính sách củaĐảng và Nhà nước Lễ hội, bằng hình thức tái hiện lại các hoạt động sinh hoạthàng ngày của người dân đã cổ vũ, biểu dương các điển hình tiên tiến trongcác phong trào thi đua yêu nước, góp phần động viên các tầng lớp nhân dântích cực lao động sản xuất, xoá đói giảm nghèo, hăng hái tham gia các phongtrào hành động cách mạng, thi đua yêu nước, tổ chức các hoạt động đền ơnđáp nghĩa, uống nước nhớ nguồn , giúp cho các tầng lớp nhân dân nắmvững Thông qua lễ hội lồng ghép các hoạt động tuyên truyền chủ trương,đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, qua đó nâng caonhận thức và quyết tâm thực hiện thắng lợi đường lối, chủ trương, chính sáchcủa Đảng và Nhà nước đề ra

Có thể nói, hoạt động lễ hội đã và đang đảm trách ngày càng tốt hơnvai trò là cầu nối quan trọng giữa Đảng, chính quyền với nhân dân và đang làmột kênh tuyên truyền hết sức hữu hiệu nhằm đưa đường lối, chính sách đếnvới nhân dân

Trang 28

Thứ hai, thông qua các hoạt động lồng ghép tuyên truyền đường lối,

chính sách của Đảng và Nhà nước với sinh hoạt lễ hội, làm cho niềm tin củanhân dân đối với Đảng và Nhà nước ngày càng được củng cố Bởi lẽ, niềm tinkhoa học dựa trên nhận thức đúng đắn Tuy nhiên, một thực tế là để nhận thứcđúng, đâu chỉ có thông qua các lớp học trong những giảng đường, mà đặc biệtđối với người dân vốn lam lũ trên những cánh đồng và với những lo toantrước cuộc sống quá nhiều vất vả, họ không có điều kiện và có khả năng tiếpthu qua các lớp học Sau thời kỳ lao động vất vả, là lúc nông nhàn, khôngnhiều thời gian và chẳng quen với cách học “chính thống”- trường, lớp Bởivậy, thông qua lễ hội, thông qua những sinh hoạt văn hoá nghệ thuật, việclồng ghép tuyên truyền về Đảng, Nhà nước chính là kênh thông tin hiệu quả

để dân gần với Đảng, hiểu Đảng và tin yêu Đảng hơn Thông qua lễ hội thựchiện tuyên truyền, giáo dục đường lối, chính sách, để công chúng nhận thứcđúng, thực hành sáng tạo, có hiệu quả, từ đó tạo dựng niềm tin, cổ vũ quầnchúng nhân thực hiện thành công những đường lối, chính sách đề ra, thựchiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội mà Đảng vàNhà nước đề ra

Thứ ba, lễ hội là phương thức thực hiện hiệu quả phong trào “Học tập

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, chủ trương lớn của Đảng

Ai cũng cảm nhận được ý nghĩa và sự lan toả của phong trào “Học tập

và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, song đã có nhiều nơi khôngthành công trao việc thực hiện phong trào này, bởi cách làm khô cứng, máymóc Thông qua lễ hội, qua những sinh hoạt văn nghệ, người dân có cơ hộihiểu sâu hơn về Bác, để rồi “Yêu Bác lòng ta trong sáng hơn” Nhiều nơi,những thành công của việc hưởng ứng và thực hiện phong trào “Học tập vàlàm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” trở nên thật bất ngờ qua sinh hoạt

lễ hội

Trang 29

Đúng thực, hoạt động lễ hội là kênh tuyên truyền, tạo lập dư luận, địnhhướng và hướng dẫn dư luận không thể thiếu trong tuyên truyền đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước, hơn thế nữa lễ hội còn là công cụ hữu hiệu

để cổ vũ, động viên quần chúng nhân dân tin tưởng và làm theo đường lối,chính sách của Đảng và Nhà nước

Trong giai đoạn hiện nay, nhận thức được vai trò của lễ hội đối với đờisống xã hội cũng như đối với việc tuyên truyền, cổ vũ quần chúng thực hiệnthắng lợi đường lối, chính sách của Đảng và Nhà nước là yêu cầu của côngtác tư tưởng của Đảng Bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế tạo ra nhiềuthuận lợi cho sự phát triển của văn hóa xã hội Việt Nam, đồng thời cũng tạo

ra nhiều thách thức đối với việc bảo tồn giá trị truyền thống và bản sắc vănhóa của dân tộc Đó chính là lý do để lễ hội của thời đổi mới phải chú ý tớichức năng, nhiệm vụ mới vô cùng quan trọng: tuyên truyền, giáo dục đườnglối, chính sách của Đảng và Nhà nước trong thời kỳ hiện nay

Trang 30

Chương 2 VAI TRÒ CỦA LỄ HỘI TRONG TUYÊN TRUYỀN ĐƯỜNG LỐI, CHÍNH SÁCH CỦA ĐẢNG VÀ NHÀ NƯỚC Ở TỈNH BẮC NINH-

THỰC TRẠNG VÀ NHỮNG VẤN ĐỀ ĐẶT RA

2.1 Văn hoá và lễ hội ở tỉnh Bắc Ninh

2.1.1 Điều kiện tự nhiên và xã hội của Bắc Ninh

* Đặc điểm môi trường tự nhiên

Bắc Ninh là một tỉnh thuộc Đồng bằng sông Hồng Bắc Ninh là cửangõ phía đông bắc của Thủ đô, cách trung tâm Hà Nội 31 km về phía ĐôngBắc; phía Bắc giáp tỉnh Bắc Giang, phía Đông và Đông Nam giáp tỉnh HảiDương, phía Nam giáp tỉnh Hưng Yên

Bắc Ninh có diện tích 822.71 km² (là tỉnh có diện tích nhỏ nhất cảnước) Hiện nay, Bắc Ninh bao gồm 01 thành phố, 1 thị xã và 06 huyện1; dân

số 1.024.151 người là tỉnh có mật độ dân số cao, mật độ 1.268 người/km²đứng thứ 6 trong cả nước, nông thôn 76.5%, thành thị 23.5%

Về mặt địa hình, Địa hình của tỉnh này tương đối phẳng, có hướng dốcchủ yếu từ Bắc xuống Nam và từ Tây sang Đông, được thể hiện qua các dòngchảy bề mặt đổ về sông Đuống và sông Thái Bình Vùng đồng bằng thường

có độ cao phổ biến từ 3 - 7 m, địa hình trung du (hai huyện Quế Võ và TiênDu) có một số dải núi độ cao phổ biến 300- 400 m Diện tích đồi núi chiếm tỷ

lệ nhỏ (0,53%) so với tổng diện tích, chủ yếu ở hai huyện Quế Võ và TiênDu

Ở Bắc Ninh có nhiều tuyến đường giao thông quan trọng chạy qua:Đường bộ có các quốc lộ 1A, cao tốc 1B (Hà Nội - Lạng Sơn), cao tốc Nội

1Thành phố Bắc Ninh: 13 phường và 6 xã; Thị xã Từ Sơn: 7 phường và 5 xã; Huyện Gia Bình: 1 thị trấn và 13 xã; Huyện Lương Tài: 1 thị trấn và 13 xã; Huyện Quế Võ: 1 thị trấn và 20 xã; Huyện Thuận Thành: 1 thị trấn và 17 xã; Huyện Tiên Du: 1 thị trấn và 13 xã; Huyện Yên Phong: 1 thị trấn và 13 xã; Tổng cộng Bắc Ninh có 126 xã, phường và thị xã

Trang 31

Bài - Bắc Ninh nằm trên đường quốc lộ 18 nối sân bay quốc tế Nội Bài vớiThành phố Hạ Long và cảng Cái Lân, Quảng Ninh và đường 38 nối Bắc Ninhvới tỉnh Hải Dương, đường sắt có tuyến đường sắt quốc tế Hà Nội - Hữu NghịQuan Đường thủy có sông Cầu và sông Đuống; các sông nhỏ như sông Ngũhuyện Khê, sông Dân, sông Đông Côi, sông Bùi, sông Đồng Khởi, sông ĐạiQuảng Bình.

* Đặc điểm kinh tế xã hội

Bắc Ninh là một trong những tỉnh có tốc độ tăng trưởng nhanh nhấtmiền Bắc, nhất là tốc độ tăng trưởng công nghiệp Năm 2010 tăng trưởng đạt17.86%, cao nhất từ trước đến nay Tính chung trong giai đoạn 2006 - 2010thì tốc độ tăng trưởng là 15.3% Đến năm 2010, giá trị sản xuất công nghiệptrên địa bàn đạt trên 32 ngàn tỷ, tăng 57.3% so với năm 2009 và trở thành tỉnh

có qui mô công nghiệp đứng thứ 9 cả nước Năm 2010 thu ngân sách đạt mốc

5000 tỷ, Tổng sản phẩm quốc nội (GDP) bình quân đạt 1800USD/1 năm,ngang với Hải Phòng và chỉ kém Hà Nội Năm 2010, Bắc Ninh cũng đạt kimngạch xuất khẩu là 3 tỷ USD

Năm 2010, Bắc Ninh là tỉnh có chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnhđứng thứ 6 ở Việt Nam, là một tỉnh thuộc vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ

Có nhiều làng nghề thủ công truyền thống phát triển và được ví là "vùng đấttrăm nghề"

Hiện tại, Bắc Ninh đã và đang xây dựng 15 khu công nghiệp tập trungqui mô lớn và hàng chục khu - cụm công nghiệp vừa và nhỏ, số vốn đầu tưtrực tiếp từ nước ngoài (FDI) của Bắc Ninh đứng thứ 7 cả nước và thứ 2 vùngkinh tế trọng điểm phía bắc Bắc Ninh có tiếng với việc thu hút các nhà đầu tưlớn như Canon, SamSung, Nokia

Từ xa xưa cùng với truyền thống sản xuất nông nghiệp nhân dân BắcNinh đã sớm chú ý đến những hoạt động sản xuất công nghiệp và dịch vụ,

Trang 32

nhất là nhân dân ở những vùng như: Phù Lưu, Đình Bảng của Từ Sơn; XuânCầu, Đa Ngưu của Văn Giang có tới 70% - 80% chuyên làm nghề buôn bán,mặc dù vậy cư dân Bắc Ninh vẫn luôn sống gắn bó với nhau trong mô hìnhcộng đồng làng xã Sự gắn bó giữa con người với con người trong cộng đồnglàng quê không chỉ là quan hệ sở hữu trên đất làng, trên những di sản hữu thểchung như đình làng, chùa làng … mà còn là sự gắn bó về tâm linh, về chuẩnmực xã hội, đạo đức “mái đình, giếng nước, cây đa” đã gắn bó dân làng vớinhau hết sức keo sơn, tràn đầy tình nghĩa tạo nên nhiều truyền thống tốt đẹp.

* Đặc điểm văn hóa

Bắc Ninh xưa là xứ Kinh Bắc nằm ở phía Bắc sông Hồng, có thế đấtnúi sông hùng vĩ linh thiêng, hội tụ tinh hoa của đất trời nên sớm là địa bàndân cư sinh cơ lập nghiệp và sinh ra nhiều nhân tài cho quê hương, đất nước

Là "Vùng đất văn hiến" nơi có thành Luy Lâu cổ, nơi Sỹ Nhiếp lần đầu dạyngười Việt học chữ như: Chùa Dâu, chùa Phật Tích là những nơi phát tích củaPhật giáo Việt Nam, nơi phát tích vương triều Lý (đền Đô, chùa Dận ); ĐềnPhụ Quốc - Làng Tam Tảo Bắc Ninh nổi tiếng với các làn điệu quan họ vàcác làng nghề truyền thống như làng tranh Đông Hồ, làng gốm Phù Lãng, gỗ

mỹ nghệ Đồng Kỵ, rèn sắt Đa Hội, đúc đồng Đại Bái, dệt Hồi Quan Nhưngcác di tích lịch sử đáng phải kể đến bao gồm: đền Đô, chùa Phúc Nghiêm Tự(chùa Tổ), đền Phụ Quốc, đình làng Đình Bảng, đình làng Tam Tảo v.v

Bắc Ninh là một trong những cái nôi văn hóa của dân tộc Việt, cótruyền thống ngàn năm văn hiến và cách mạng; là vùng đất địa linh sinh nhânkiệt - quê hương của vương triều Lý đã tạo nên đất nước Đại Việt, thời nàocũng có các bậc anh hùng hào kiệt cùng nhân dân đánh giặc giữ nước Sửsách và dân gian còn mãi truyền tụng về Thánh Gióng người xứ Kinh Bắc,anh hùng đánh giặc cứu nước

Nhân dân Bắc Ninh sớm có truyền thống yêu nước, thương nòi Minhchứng cho điều này, vào những năm 40 của thời kỳ đầu Công nguyên, khi thế

Trang 33

lực phong kiến phương Bắc xâm lược nước ta, chúng áp bức bóc lột nhân dân

ta vô cùng tàn bạo Không chịu nổi sự ách áp bức bóc lột tàn bạo của Thái thú

Tô Định, từ vùng núi Mê Linh, Hai Bà Trưng cùng với các tướng sĩ đã kéoquân đánh vào thủ phủ Luy Lâu phất cờ khởi nghĩa, dấu ấn về cuộc khởinghĩa này đến nay vẫn còn để lại nhiều di tích quanh thành Luy Lâu ở huyệnThuận Thành, thờ các danh tướng của Hai Bà Trưng

Cùng với văn hóa Châu Thổ Bắc Bộ, Bắc Ninh đã góp phần không nhỏvào việc hình thành lên các nền văn hóa lớn, phát triển nối tiếp lẫn nhau: vănhóa Đông Sơn – văn hóa Đại Việt – văn hóa Việt Nam Từ đây văn hóa đã lantruyền đi khắp các vùng miền Sự lan truyền ấy đã chứng tỏ sức sống mãnhliệt của văn hóa Việt nói chung và văn hóa Bắc Ninh nói riêng, đồng thờicũng chứng tỏ sức sáng tạo của người dân nơi đây Trong tư cách ấy, văn hóaBắc Ninh có những nét đẹp đặc trưng của nền văn hóa Việt, văn hóa Châu thổBắc Bộ nhưng lại có những nét đẹp riêng của vùng địa linh nhân kiệt hào hoa

Mặt khác, khi nói tới văn hóa của tỉnh Bắc Ninh là nói tới một vùngvăn hóa có bề dày lịch sử cũng như mật độ dày đặc của các di tích văn hóa.Các di sản văn hóa hữu thể tồn tại ở khắp các địa phương trong tỉnh: đền,chùa, miếu… có mặt ở hầu khắp các địa bàn trong tỉnh Nhiều di tích nổitiếng không chỉ trong nước mà cả nước ngoài cũng biết đến như: đền Đô (đền

Lý Bát Đế), chùa Dâu, chùa Lim, … Cùng với các di sản văn hóa hữu thể, cácvăn hóa phi vật thể ở tỉnh Bắc Ninh cũng khá phong phú và đa dạng Khotàng văn học dân gian ở đây rất phong phú từ thần thoại, truyền thuyết đến cadao, tục ngữ, câu đối, câu đố… Bên cạnh đó còn có các loại hình nghệ thuậtbiểu diễn dân gian khá đa dạng và mang sắc thái đậm nét vùng Kinh Bắc như:hát quan họ, hát chèo, múa rối…

Bản sắc văn hoá của vùng đất Bắc Ninh còn được thể hiện đậm nét ởtruyền thống hiếu học khoa bảng, sự phát triển của giáo dục truyền thống

Trang 34

trong người có chữ trở thành nhân tố tích cực tác động tạo ra tầng lớp tri thứcvới nhiều danh nhân, thi sĩ nổi tiếng Đúng là mảnh đất: “một giỏ ông Đồ,một bồ ông Cống, một đống Trạng nguyên, một thuyền Bảng nhãn” Ở thời

kỳ nào mảnh đất này cũng đóng góp cho đất nước những người con ưu túnhất, gần nghìn năm khoa bảng phong kiến (1075-1919), Bắc Ninh có gần

700 vị đỗ đại khoa, chiếm 2/3 cả nước, trong đó 43 vị đỗ Tam khôi (Trạngnguyên, Bảng nhãn, Thám hoa) Truyền thống khoa bảng của Kinh Bắc vớinhiều đặc điểm tiêu biểu như: Người đỗ thủ khoa kỳ thi đầu tiên (Lê VănThịnh), vị Trạng Nguyên đầu tiên (Nguyễn Quán Quang), đoạt hết thứ hạngTam khôi (làng Tam Sơn), người đậu Tiến sĩ trẻ nhất nước 15 tuổi (NguyễnNhân Thiếp), 2 cha con cùng đỗ một khoa, 2 anh em ruột cùng đỗ một khoa, 5anh em ruột cùng đỗ Tiến sĩ, 13 đời liền đỗ Tiến sĩ, 9 Tiến sĩ trong một họlàm quan cùng triều Các làng và dòng họ khoa bảng như: họ Nguyễn, họPhạm làng Kim Đôi (Kim Chân), họ Đàm (Hương Mạc), họ Ngô và Nguyễn(Tam Sơn), họ Ngô (Tam Giang) Các vị sứ thần tài hoa lỗi lạc: Thám hoaNguyễn Đăng Cảo, Lưỡng quốc Trạng nguyên Nguyễn Đăng Đạo, Tiến sĩNguyễn Đăng; các vị Thượng thư chính trực như Đàm Văn Lễ, NguyễnQuang Bật… Các nhà khoa bảng Kinh Bắc đã là rường cột của nước nhà trênmọi lĩnh vực như: kinh tế, chính trị, quân sự, văn hoá, giáo dục, ngoại giao…

Họ đã làm rạng rỡ những trang sử hào hùng của dân tộc bằng tài năng, đức độ

và lòng yêu nước, góp phần vào sự phát triển của nền văn hóa dân tộc

Bắc Ninh còn là “cái nôi” của văn hoá, văn nghệ dân gian - vùng đấtnày đầy ắp những huyền thoại, truyền thuyết, giai thoại, thơ ca, hò vè… phảnánh quan niệm về thiên nhiên, xã hội con người ở mọi góc độ như lao động,đấu tranh, chinh phục thiên nhiên và tình yêu đôi lứa Đây còn là cái nôi củanhững loại hình nghệ thuật như: hát đúm, hát ghẹo, hát ví, hát tuồng, chèo,trống quân, hát ả đào, ca trù, múa rối và đặc biệt là dân ca quan họ với cáclàng quan họ gốc hình thành bên đôi bờ sông Cầu Dân ca quan họ Bắc Ninh,

Trang 35

là một loại hình nghệ thuật độc đáo, có hàng trăm làn điệu, hàng ngàn lời cangọt ngào đằm thắm Quan họ không những là một loại hình văn hoá nghệthuật đặc sắc, mà còn mang những giá trị thẩm mỹ cao, thể hiện ở nhiều mặt

từ sinh hoạt hàng ngày cho đến lời ca tiếng hát Song, đất quan họ từng là cáinôi của Nho học nên trong văn hoá quan họ còn “thẩm thấu” cả những giá trịcủa Nho giáo, đặc biệt là ứng xử lễ nghĩa

Cùng với văn hóa dân gian, các tín ngưỡng dân gian cũng góp phần làmgiàu thêm bản sắc văn hóa vùng Kinh Bắc Các tín ngưỡng như: tín ngưỡngthờ Thành hoàng, thờ Mẫu, thờ các ông tổ nghề… có mặt hầu hết trên cácthôn, xóm, tạo nên những lễ hội đa dạng phong phú ở vùng đất này (một loạihình sinh hoạt văn hóa tổng hợp) Bắc Ninh còn được ca ngợi là “xứ sở” củađình chùa lễ hội, mật độ sinh hoạt lễ hội ở đây khá dày đặc, rải đều ở khắp cáclàng nghề theo vòng quay của thiên nhiên và mùa vụ Theo quy mô có thểchia các loại lễ hội ra thành lễ hội làng và lễ hội vùng, theo thời gian thì có lễhội mùa xuân, lễ hội mùa thu

2.1.2 Lễ hội ở Bắc Ninh

* Khái quát quá trình hình thành và phát triển lễ hội ở tỉnh Bắc Ninh.

Bắc Ninh, có số lượng lớn các di tích lịch sử cách mạng và các côngtrình kiến trúc nghệ thuật có từ rất lâu đời Ở đây có tới 1029 di tích các loại,mỗi di tích thường được nhân dân gắn vào đó để tổ chức lễ hội với nhiều nộidung khác nhau, trong đó có gần 200 di tích được nhà nước công nhận và cấpbằng di tích lịch sử văn hóa, nhiều di tích lịch sử được Nhà nước cấp bằngquốc gia như chùa Dâu, đền Đô, chùa Đạm, chùa Phật tích, chùa Bút tháp,đình Diềm, đình Đình Bảng Được xem là “vương quốc” của lễ hội, quêhương của những sinh hoạt văn hoá dân gian đặc sắc và những làn điệu dân caquan họ mượt mà, hàng năm, Bắc Ninh có hơn 574 lễ hội lớn, nhỏ khắp cácđịa phương, là nguồn tài sản văn hoá tinh thần vô giá, có ý nghĩa sâu sắc trongđời sống cộng đồng dân cư

Trang 36

Lễ hội ở Bắc Ninh đã có từ rất lâu đời, được lưu truyền qua nhiều thế

hệ và trở thành di sản văn hóa, nhưng do những thăng trầm biến đổi của lịch

sử, chiến tranh tàn phá đời sống của nhân dân gặp nhiều khó khăn như nạnđói, nạn dốt, giặc ngoại xâm nên lễ hội với những nghi thức tế lễ, rước sáchtốn kém, đương nhiên không có điều kiện tổ chức, một thời gian dài các lễ hội

ở đây không được tổ chức hoặc nếu có thì cũng chỉ rải rác, với quy mô nhỏ,thậm chí bị mai một Thời kỳ trước năm 1954, một số lễ hội đã được phục hồinhưng sự phục hồi diễn ra trong tình trạng không ổn định, do vẫn còn ảnhhưởng của chiến tranh Hoạt động lễ hội thời kỳ này còn nhiều hạn chế như:quy mô lễ hội bị thu nhỏ cả về không gian và thời gian, nghi lễ bị cắt xén,người đi dự hội và tổ chức hội luôn trạng thái bất an Hòa bình lặp lại, trongbối cảnh cải cách ruộng đất, cùng với lễ hội cả nước, các lễ hội ở Bắc Ninh bịcoi là di sản phong kiến, là lạc hậu, hủ tục không được phép hoạt động Tiếp

đó là phong trào hợp tác xã hóa đã biến những cơ sở này thành nhà kho, sânphơi, ủy ban, trường học … Lễ hội không những không được mở mà còn mất

cơ sở vật chất, chỉ có một số lễ hội vốn có như hội chùa Dâu, hội Bà Chúakho là được phép mở lễ hội nhưng đã bị biến dạng phần lớn

Tuy nhiên trong bối cảnh đó văn hóa nói chung và văn hóa lễ hội nóiriêng ở tỉnh Bắc Ninh vẫn còn những nhân tố để tồn tại Bởi lẽ, trong xã hộicon người luôn có khuynh hướng trở về cội nguồn, mong muốn phát huy bảnsắc văn hóa của dân tộc và một số yếu tố của thôn làng cổ truyền không bịbiến mất, nhờ vậy, mà ở nhiều làng có đình, đền, chùa … vẫn được bảo tồn vàgiữ gìn, một số nghi thức lễ bái vẫn được duy trì Từ đầu năm 1982 trở đi,mặc dù điều kiện kinh tế vẫn còn khó khăn, song một số làng đã tổ chức cácbuổi tế lễ vào dịp hội làng truyền thống, hay nhân dịp đình làng được côngnhận di tích lịch sử (làng Đình Bảng, làng Liên Bão, làng Đồng Kỵ…)

Trong trào lưu đổi mới, lễ hội ở Bắc Ninh cũng đã có điều kiện để khởisắc trở lại, trước hết là việc tôn tạo, tu bổ lại đền chùa, cũng từ đây nhiều ditích của Bắc Ninh đã được công nhận di tích lịch sử văn hóa

Trang 37

* Đặc điểm lễ hội ở tỉnh Bắc Ninh

Lễ hội Bắc Ninh nằm trong tổng thể thống nhất của hệ thống lễ hội: vôcùng phong phú, đa dạng của dân tộc Cho nên, lễ hội ở đây có những néttương đồng với các lễ hội truyền thống khác trên dải đất Việt Nam, tuy nhiên

lễ hội ở Bắc Ninh cũng có những nét riêng rất độc đáo

Một là, sinh hoạt lễ hội ở Bắc Ninh vô cùng phong phú và đa dạng

Có thể nói Bắc Ninh là “Xứ sở của hội hè đình đám” [43, tr 9], làvương quốc lễ hội của người Việt ở vùng đồng bằng trung du Bắc Bộ Theo

số liệu thống kê mới nhất của sở Văn hóa thể thao và du lịch, hiện nay tỉnhBắc Ninh có tới 574 lễ hội truyền thống diễn ra trong năm, phần lớn các làng

xã đều có lễ hội, và nếu kể cả sự lệ, đình đám thì hầu như làng nào cũng có, lễhội ở Bắc Ninh diễn ra suốt bốn mùa trong năm

Mùa xuân là hội Phật Tích, hội làng Đồng Kỵ, hội Lim, hội Đền Đô,hội làng Diềm, hội chùa Bút Tháp, hội chùa Hàm Long, hội đền Đậu… Mùa

hè có hội Dâu, hội đền Vân Mẫu, hội các làng thờ thánh Tam Giang dọc đôi

bờ sông Cầu… Mùa thu có hội đền Phả Lại, hội các đền thờ Đức thánh Trần,hội hát trống quân ở các làng vùng Thuận Thành… Mùa đông có các ngày sự

lệ đình đám, tết cơm mới, xôi mới ở nhiều làng…

Trong số các lễ hội truyền thống ở tỉnh Bắc Ninh có 5 lễ hội do cấp tỉnhquản lý: lễ hội đền Đô (đền thờ 8 vị vua triều Lý – Đình Bảng – Từ Sơn), hộiđền Bà Chúa kho (thành phố Bắc Ninh), hội chùa Lim (huyện Tiên Du), hộichùa Phật Tích (huyện Thuận Thành), hội làng Diềm (hội thi hát quan họhuyện Yên Phong), ngoài ra còn lại là các hội do cấp huyện, xã quản lý

Lễ hội ở Bắc Ninh diễn ra ở cả bốn mùa, nhưng phần lớn là được mởvào mùa xuân để đón chào năm mới và khởi đầu cho một mùa vụ mới, trong

số 574 lễ hội thì có tới 400 lễ hội được dân làng tổ chức vào mùa xuân Các lễhội được phân bổ ở hầu khắp các vùng trong tỉnh với nội dung và sắc thái rấtriêng biệt, biểu trưng cho phong tục, tập quán của từng vùng quê Có thể kể

Trang 38

một số lễ hội lớn như: lễ hội xem hoa mẫu đơn chùa Phật tích, hội rước Pháolàng Đồng Kỵ, lễ hội đền Bà Chúa Kho, hội Lim, hội làng Diềm, hội chùaHàm Long, hội đền Đô, hội làng Á Lữ, hội đền Than, hội Thập đình… đậmnét nhất vẫn là lễ hội ở các làng hát quan họ

Đến với lễ hội Bắc Ninh là đến với các sinh hoạt lễ hội phong phú và

đa dạng, tùy từng loại hình lễ hội mà phần lễ có rước lớn, có rước kiệu, tế lễ,nghi lễ tôn giáo, thờ Phật… Phần hội thường bao gồm nhiều hoạt động vuichơi giải trí như: các chương trình văn nghệ quần chúng, chương trình giaolưu quan họ giữa các làng trong vùng, các trò chơi (vật, kéo co, đánh đu, chọi

gà, cờ tướng, cờ người, bịt mắt bắt dê), các trò thi (thi làm cỗ, thi dệt vải, thingười đẹp vùng quan họ…) Qua việc tham gia lễ hội mỗi thành viên đượcđáp ứng nhu cầu tâm linh, nhu cầu tình cảm, nhu cầu vui chơi giải trí, thắtchặt tình đoàn kết giữa con người với con người và hướng con người tớinhững giá trị cao cả nhất, tốt đẹp nhất

Hai là, lễ hội Bắc Ninh mang giá trị truyền thống lịch sử cao

Giá trị truyền thống của lễ hội Bắc Ninh, trước hết thể hiện ở mục đíchcủa việc tổ chức lễ hội, đa số lễ hội Bắc Ninh được tổ chức nhằm tưởng nhớcác danh nhân lịch sử, văn hóa – những người đã có công lao với quê hươngđất nước, được lịch sử nghi nhận, các triều đại tôn phong là các vị thần tốilinh và được nhân dân các làng xóm nhớ ơn, tôn thờ Nhiều nhất vẫn là các vịtướng lĩnh có công đánh giặc cứu nước như: Thánh Gióng, Cao Sơn, QuýMinh – những tướng lĩnh của Hùng Vương; các vị nữ tướng của Hai BàTrưng như Ả Tắc, Ả Dị, Đào Nương, Côn Nương, Diệu Tiên… đã có côngđánh đuổi giặc Tô Định và anh dũng hy sinh; thánh Tam Giang (tức TrươngHống, Trương Hát) có công giúp Triệu Quang Phục đánh đuổi Giặc Lương,sau vì trung nghĩa mà tuẫn tiết, được nhân dân các làng dọc đôi bờ Sông Cầutôn thờ và hàng năm mở hội để tưởng nhớ công ơn… Lễ hội ở Bắc Ninh cũng

Trang 39

là những ngày hội kỷ niệm các danh nhân đã có công với cộng đồng, với làng

xã, quê hương trên các lĩnh vực: chiêu dân, lập ấp, dạy dân làm ăn, xây dựnglàng xóm, tổ chức cuộc sống cộng đồng, mở mang nghề nghiệp… Đó là lễ hộicủa các làng Á Lữ, An Bình của huyện Thuận Thành, làng Đại Bái của huyệnGia Bình… nhằm tưởng nhớ Kinh Dương Vương – thủy tổ của dân tộc ViệtNam; lễ hội đền Đô của Đình Bảng – Từ Sơn được tổ chức vào ngày 15 tháng

3 âm lịch hàng năm để tưởng nhớ 8 vị vua nhà Lý – những người đã có công

mở ra một triều đại vàng son và hiển hách trong lịch sử dựng nước và giữnước của dân tộc; hội đền Vua Bà ( Viêm Xá – Hòa Long – Yên Phong) làngày hội nhớ ơn thủy tổ quan họ - theo truyền tích bà là người có công sángtạo sinh hoạt văn hóa quan họ để ngày nay trở thành một di sản văn hóa tiêubiểu của quê hương Kinh Bắc và của cả dân tộc

Lễ hội Bắc Ninh có giá trị lịch sử và ý nghĩa giáo dục truyền thống sâusắc, thông qua hoạt động lễ hội đã giúp cho mọi người trong cộng đồng hồinhớ những sự kiện lịch sử đã qua, qua đó bồi dưỡng truyền thống “uống nướcnhớ nguồn”, bồi dưỡng lòng tự hào dân tộc, tăng cường ý thức trách nhiệmbảo tồn và phát huy giá trị truyền thống cho mọi người, mọi thế hệ trong cộngđồng, hoạt động lễ hội được coi là một phương thức giáo dục lịch sử, truyền

bá lịch sử, bảo tồn và phát huy truyền thống lịch sử hết sức đặc biệt, độc đáo

Ba là, lễ hội ở Bắc Ninh chủ yếu là hội làng

Hầu hết các làng trong xã và tại các địa phương đều có hội riêng, vì vậy

lễ hội mang tên làng hay tên của di tích làng, như hội làng Diềm, hội đền BàChúa Kho (làng Cổ Mễ), hội đền Đô (Đình Bảng), hội chùa Phật tích (làngPhật Tích)… Trong tổng số 574 lễ hội, thì có gần 400 lễ hội được các làng, xã

tổ chức trong năm Lễ hội do từng làng xã tổ chức, trước hết nhằm đáp ứngnhu cầu tâm linh, tín ngưỡng và sinh hoạt văn hóa của người dân trong làng,trong xã, bên cạnh đó cũng có nhiều lễ hội có quy mô lớn, vượt ra khỏi phạm

Trang 40

vi của một làng như là chùa Đại Bi (tức chùa Tổ) thuộc xã Thái Bảo huyệnGia Bình do các làng trong xã Vạn Tư xưa phối hợp tổ chức; hội Lim là hộicủa các làng thuộc tổng Nội Duệ tổ chức thi hát quan họ và các trò chơi dângian; hội Dâu là hội của các làng thuộc tổng Khương Tự (hay còn gọi là tổngDâu) … Các lễ hội trên do các làng cùng phối hợp tổ chức một số hoạt độngchung như rước sách, tế lễ Nhưng ở từng làng, xã vẫn còn những sinh hoạtvăn hóa tâm linh, tín ngưỡng theo truyền thống, phong tục tập quán của từnglàng, cho nên tính chất hội làng vẫn được thể hiện rất rõ

Quy mô và tính chất hội làng của Bắc Ninh đã chứng tỏ mối quan hệnguồn gốc và truyền thống gắn bó, liên kết chặt chẽ, giao lưu văn hóa và sinhhoạt tâm linh giữa các làng xã ở Bắc Ninh, phản ánh những nét chung trongphong tục, truyền thống sinh hoạt văn hóa và đời sống tâm linh, tín ngưỡng,tôn giáo của người dân trong vùng

Để tưởng nhớ công lao của vị tướng Thiên Cương, dân làng Đồng Kỵ(Đồng Quang – Từ Sơn) đã tôn thờ ông làm Thành Hoàng làng và hàng năm

mở hội thi đốt pháo vào ngày mồng 4 tháng giêng để tái hiện lại ngày ThiênCương ra lệnh xuất quân đánh giặc Ngày xưa khi chưa có lệnh cấm đốt pháocủa Nhà nước thì hàng tháng trước khi mở hội, nhân dân trong làng thi đualàm pháo, pháo được làm để thờ thần và đốt trong ngày hội, gia đình nào cũngmong muốn pháo nhà mình được giải để làng chọn rước và đốt nên quá trìnhlàm pháo được giữ bí mật và trong làng rộn lên không khí khẩn trương, vui vẻlàm lễ vật; Khi pháo được đốt xong thì tất cả các trai đinh trong làng với trangphục đóng khố sẽ khiêng, tung và hô quan đám ở trước cửa Đình, toàn dân hòreo chúc mừng quan đám, đó là tục “Xô quan đám” của làng Đồng kỵ, tục lệnày đến nay vẫn còn được lưu giữ và thực hiện cho dù pháo đã có lệnh cấm

Tuy nhiên, ngày nay về với lễ hội Đồng Kỵ đầu năm, quý khách sẽđược tham gia vào lễ rước Pháo tượng trưng và được xem quả pháo thờ uynghiêm, hoành tráng trong đình làng

Ngày đăng: 18/05/2016, 13:21

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Đào Duy Anh (1992), Việt nam văn hóa sử cương, Nxb Thanh niên Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt nam văn hóa sử cương
Tác giả: Đào Duy Anh
Nhà XB: Nxb Thanh niên
Năm: 1992
2. Toan Ánh (1999), Làng xóm Việt Nam, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Làng xóm Việt Nam
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1999
3. Toan Ánh (2005), Nếp cũ - Hội hè đình đám, Nxb Trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nếp cũ - Hội hè đình đám
Tác giả: Toan Ánh
Nhà XB: Nxb Trẻ
Năm: 2005
6. Ban Chấp hành Trung ương (2007), Chỉ thị của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và phát huy chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới, Số 17 – CT/TW Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chỉ thị của Ban Bí thư về tiếp tục đổi mới và phát huy chất lượng, hiệu quả của công tác tuyên truyền miệng trong tình hình mới
Tác giả: Ban Chấp hành Trung ương
Năm: 2007
8. Ban Tư tưởng Văn hóa, Trung ương (2004), Xây dựng môi trường văn hóa- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xây dựng môi trường văn hóa- Một số vấn đề lý luận và thực tiễn
Tác giả: Ban Tư tưởng Văn hóa, Trung ương
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2004
9. Ban Tuyên giáo Trung ương, Trung tâm công tác tuyên giáo (2011), Sổ tay báo cáo viên Đại hội XI Đảng cộng sản Việt Nam , Xí nghiệp bản đồ 1 BQP Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sổ tay báo cáo viên Đại hội XI Đảng cộng sản Việt Nam
Tác giả: Ban Tuyên giáo Trung ương, Trung tâm công tác tuyên giáo
Năm: 2011
10. Bộ Văn hóa – Thông tin (1998), Hỏi đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hỏi đáp về xây dựng làng văn hóa, gia đình văn hóa, nếp sống văn hóa, tổ chức và quản lý lễ hội truyền thống
Tác giả: Bộ Văn hóa – Thông tin
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1998
11. Nguyễn Anh Bắc (2001), Lễ hội đền Đô xưa và nay, Công ty in Bắc Ninh Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội đền Đô xưa và nay
Tác giả: Nguyễn Anh Bắc
Năm: 2001
12. Nguyễn Chí Bền (1999), Văn hoá dân gian Việt Nam, những suy nghĩ..., Nxb Văn hoá Dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn hoá dân gian Việt Nam, những suy nghĩ
Tác giả: Nguyễn Chí Bền
Nhà XB: Nxb Văn hoá Dân tộc
Năm: 1999
13. Trần Văn Bính (chủ biên) (2000), Lý luận văn hóa đường lối văn hóa Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lý luận văn hóa đường lối văn hóa Đảng
Tác giả: Trần Văn Bính (chủ biên)
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 2000
14. Phan Kế Bính (1992), Việt Nam phong tục, Nxb Thành phố Hồ Chí Minh, tái bản Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam phong tục
Tác giả: Phan Kế Bính
Nhà XB: Nxb Thành phố Hồ Chí Minh
Năm: 1992
15. Đoàn Minh Châu (2004), Cấu trúc của lễ hội đương đại (Trong mối liên hệ với cấu trúc của lễ hội truyền thống của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ): LATS Lịch sử: 5.03.13. Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cấu trúc của lễ hội đương đại
Tác giả: Đoàn Minh Châu
Năm: 2004
16. Phan Huy Chú (1992), Phần lễ nghi trí trong Lịch triều hiến chương loại chí, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phần lễ nghi trí trong Lịch triều hiến chương loại chí
Tác giả: Phan Huy Chú
Nhà XB: Nxb Khoa học xã hội
Năm: 1992
17. Đoàn Văn Chúc (1997), Xã hội học văn hóa, Nxb Văn hóa thông tin, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Xã hội học văn hóa
Tác giả: Đoàn Văn Chúc
Nhà XB: Nxb Văn hóa thông tin
Năm: 1997
18. Lê Tiến Dũng, Ngô Quang Hưng (2007), Lễ hội là nguồn nước trong lành - In lần thứ 2. – Nxb Văn hoá dân tộc, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Lễ hội là nguồn nước trong lành
Tác giả: Lê Tiến Dũng, Ngô Quang Hưng
Nhà XB: Nxb Văn hoá dân tộc
Năm: 2007
19. Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh, Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh lần thứ XVII Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Ninh
20. Đảng Cộng sản Việt Nam (1987), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI, Nxb Sự thật, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Sự thật
Năm: 1987
21. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên Chủ nghĩa xã hội
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
22. Đảng Cộng sản Việt Nam (1991), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1991
23. Đảng Cộng sản Việt Nam (1996), Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VIII, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc
Tác giả: Đảng Cộng sản Việt Nam
Nhà XB: Nxb Chính trị quốc gia
Năm: 1996

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TRÍCH ĐOẠN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w