NBD là một trong những hệ quả của biến đổi khí hậu, là hiện tượng mực nước biển tăng lên do nhiều nguyên nhân khác nhau và gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế xã hội của một số vùng, lãnh thổ ven biển.
Trang 1PHẦN MỞ ĐẦU
Trong những năm gần đây, hiện tượng trái đất nóng lên kéo theo tốc độ tan băng ngày càng nhanh ở Nam cực và Bắc cực là một thực tế buộc cả nhân loại phải ứng phó Biến đổi khí hậu và nước biển dâng (NBD) đã ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống của hàng trăm triệu người, đặc biệt là ở các quốc gia, các vùng lãnh thổ ven biển Đặt cả thế giới đứng trước thảm họa mang tính toàn cầu
Việt Nam là một trong 5 nước được dự báo sẽ chịu nhiều ảnh hưởng lớn của biến đổi khí hậu (BĐKH) trên toàn cầu, trong đó Đồng bằng sông Cửu Long là một trong ba đồng bằng bị tổn
thương nghiêm trọng nhất do NBD.
Là một huyện có bờ biển dài 27km, chiếm 10,6% chiều dài
bờ biển toàn tỉnh Cà Mau, 45% dân số tập trung sống ở các vùng ven biển, huyện Phú Tân được đánh giá là một trong ba huyện của tỉnh chịu ảnh hưởng nặng nề nhất do nước biển dâng gây ra Đứng
trước tình hình đó, tại Đại hội Đảng bộ huyện Phú Tân nhiệm
kỳ 2015- 2020 xác định: “Ứng phó với nước biển dâng là một trong những nhiệm vụ và mục tiêu quan trọng và cấp bách hiện nay”
Nhận thức rõ và đánh giá những tác động của hiện tượng NBD đối với sự tồn tại và phát triển của huyện Phú Tân, trên cơ sở
đó có những hành động ứng phó phù hợp và kịp thời là công việc cấp bách cần được thực hiện một cách nghiêm túc, có hệ thống
Trang 2Với lí do đó, tác giả đã lựa chọn đề tài “Ảnh hưởng của hiện tượng nước biển dâng đối với huyện Phú Tân” làm tiểu luận
chuyên đề bắt buộc
Trong chuyên đề này tác giả tập trung vào nghiên cứu những ảnh hưởng của hiện tượng NBD đối với huyện Phú Tân, từ đó đề xuất giải pháp cho vấn đề trên
Trang 3PHẦN NỘI DUNG
I CƠ SỞ LÝ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ
1.1 Một số khái niệm cơ bản
BĐKH là sự biến đổi trạng thái của khí hậu so với trung bình và/hoặc dao động của khí hậu duy trì trong một khoảng thời gian dài, thường là vài thập kỹ hoặc dài hơn BĐKH có thể do quá trình
tự nhiên bên trong hoặc các tác động bên ngoài, hoặc do hoạt động của con người làm thay đổi thành phần của khí quyển hay khai thác, sử dụng đất
Ứng phó với BDKH là các hoạt động của con người nhằm thích ứng và giảm nhẹ BDKH
NBD là một trong những hệ quả của biến đổi khí hậu, là hiện
tượng mực nước biển tăng lên do nhiều nguyên nhân khác nhau và gây nhiều ảnh hưởng tiêu cực đến đời sống kinh tế - xã hội của một
số vùng, lãnh thổ ven biển
1.2 Nguyên nhân của hiện tượng nước biển dâng
Nhiều nghiên cứu cho thấy, mực nước biển dâng như hiện nay là do một số nguyên nhân cơ bản sau:
Nguyên nhân thứ nhất là do BĐKH làm tăng nhiệt độ nước tại các đại dương, nước sẽ giãn nở góp phần tăng mực nước biển
Độ giãn nở của nước do nhiệt độ có thể làm mực nước biển tăng lên khoảng 2,5cm
Trang 4Nguyên nhân thứ hai, là do sự tan chảy của các sông băng và chỏm băng Theo báo cáo của IPCC ước tính rằng, trong nữa thế
kỷ XX sự tan chảy này đã làm mực nước biển tăng lên 2,5cm Và ước tính đến thế kỷ XXI sự tan chảy này sẽ tăng lên 10 – 12cm mực nước biển
Nguyên nhân thứ ba là do băng tan ở Greeland và Nam Cực
Đây được xem là nguyên nhân lớn nhất, bởi vì các tảng băng ở Greeland và Nam Cực chứa đủ nước để làm tăng mực nước lên 70m Do đó sự thay đổi nhỏ của lượng băng này sẽ ảnh hưởng rất lớn đến mực nước biển
Về cơ bản NBD trong lịch sử là do kiến tạo bên trong trái đất gây ra, hay các biến động thời tiết Tuy nhiên nguyên nhân chính
và quan trọng nhất của mực nước biển tăng lên hiện nay là do hoạt động của con người
1.3 Tác động của hiện tượng Nước biển dâng
Dựa vào kịch bản NBD của huyện Phú Tân, có thể đánh giá mức độ dễ bị tổn thương của các đối tượng, các khu vực trên địa bàn huyện Phú Tân do NBD như sau:
- Vùng nhạy cảm, dễ bị tổn thương: Một số xã, thị trấn ven
biển: Phú Tân, Tân Hải, Rạch Chèo, Việt Khái, Việt Thắng, Tân Hưng Tây, đặc biệt là thị trấn Cái Đôi Vàm
- Ngành, đối tượng dễ bị tổn thương: Ngành nông nghiệp
và an ninh lương thực; Thủy sản; các hệ sinh thái biển và ven biển;
Trang 5Tài nguyên thiên nhiên; Năng lượng; Du lịch; Hạ tầng kỹ thuật, khu công nghiệp; Sức khỏe cộng đồng; Nơi cư trú…
- Cộng đồng dễ bị tổ thương: Ngư dân và một bộ phận
người dân sống ven biển; Người già, trẻ em
II THỰC TRẠNG NBD TRÊN ĐỊA BÀN HUYỆN PHÚ TÂN
2.1 Tổng quan về huyện Phú Tân
* Vị trí địa lý: Huyện Phú Tân được thành lập theo Nghị định của Chính phủ số 138/2003/NĐ-CP ngày 17/11/2003, do tách ra từ huyện Cái Nước Toàn huyện có tổng diện tích là 44.595 ha (446 km²), với dân số 109.642 người
* Địa hình, địa mạo: Phú Tân là huyện đồng bằng ven biển
có địa hình thấp trũng, độ dốc bề mặt tương đối nhỏ, có xu hướng thấp dần từ Bắc xuống phía Nam, cao trình trung bình 0,5 - 0,7m
so với mặt nước biển, trừ những liếp vườn có độ cao 1,2 -1,5m Địa hình bị chia cắt bởi các sông và kênh rạch lớn
* Tài nguyên thiên nhiên:
- Tài nguyên nước: Bao gồm nước mưa, nước mặt sông rạch,
nước ngầm là nguồn tài nguyên quan trọng Sự kết hợp hài hoà giữa sử dụng tài nguyên nước mặn và nước ngọt là giải pháp khai thác tài nguyên bền vững
- Tài nguyên đất đai: Đất đai của huyện hình thành từ trầm
tích đầm lầy ven biển, nhìn chung nền đất yếu Toàn bộ đất đai của
Trang 6huyện Phú Tân bị nhiễm mặn và mặn phèn với các mức độ khác nhau, bao gồm các nhóm đất khác nhau với thành phần cơ giới nặng, tỷ lệ sét trong đất cao
- Tài nguyên rừng: Rừng ở huyện Phú Tân là rừng ngập
mặn, được phân bố dọc theo ven biển, có 6.108 ha đất lâm nghiệp Rừng ngập mặn ven biển của huyện có vai trò phòng hộ và môi trường quan trọng, giúp cho nuôi thủy sản bền vững
- Tài nguyên biển: Huyện Phú Tân có bờ biển dài 27km,
chiếm 10,6% chiều dài bờ biển toàn tỉnh, chạy dài từ cửa Mỹ Bình đến cửa sông Bảy Háp Vùng biển của huyện Phú Tân (Vịnh Thái Lan) thuộc miền thềm lục địa nước nông, có độ sâu trung bình 46m, chỗ sâu nhất là 83m
Thủy hải sản là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng của biển, khai thác hải sản đang là một trong các ngành kinh tế chủ lực của huyện Khu vực cửa Cái Đôi Vàm của huyện Phú Tân là một trong số các cụm kinh tế thủy sản ven biển, có số lượng tàu cá neo đậu khá lớn
- Tài nguyên du lịch: Huyện Phú Tân có 2 dạng tiềm năng du
lịch đó là: Tài nguyên du lịch sinh thái Đầm Thị Tường và Tài nguyên du lịch nhân văn (gồm có: Khu chứng tích tội ác chiến tranh Bình Hưng - Hải Yến và Khu căn cứ Tỉnh ủy Xẻo Đước)
2.2 Thực trạng nước biển dâng tại huyện Phú Tân
Trang 7Mực nước biển trung bình các năm không giống nhau, tuy nhiên đều có xu hướng tăng, năm sau cao hơn năm trước Trung bình 0,15m đến 0,3m/năm
Theo báo cáo quan trắc của tỉnh, khảo sát mực nước biển tại huyện Phú Tân cho thấy đỉnh triều cường trong các năm từ 2012 đến 2015 là: +1,5m; +1,7m; +1,85m; +1,98m
Riêng tháng 1 năm 2016, tổng chiều dài bị tràn trên địa bàn huyện là 115.630 mét, bị ngập 40 căn nhà và 446,4 ha diện tích vuông nuôi tôm, rau màu ước thiệt hại khoảng 701,3 triệu đồng
2.2.1 Tác động đến tự nhiên
* Tác động đến tài nguyên và môi trường đất
Với địa hình tương đối bằng phẳng và thấp, cao trình phổ biến từ 0,5 – 0,7m so với mặt nước biển nên diện tích đất của huyện có nguy cơ ngập nước khá cao Nếu mực nước biển tiếp tục như hiện nay thì trong thời gian tới có khoảng 78% diện tích đất sản xuất nông nghiệp của huyện bị ngập mặn
Năm 2020 Năm 2050 Năm 2070 Năm 2100
S (ha) % S
(ha)
KB
phát
thải
thấp
39.337
,21
84,7 2
40.05 9,50
86,2 7
42.778, 55
92,1 3
43.139, 89
92,9 1
KB 40.628 87,5 41.40 89,1 42,873, 92,3 43.147, 92,9
Trang 8phát
thải
TB
KB
phát
thải
cao
41.004
,25
50,3 5
41.60 9,80
90,4 6
43.139, 44
92,9 1
44.220, 17
95,2 7
Thứ hai, gia tăng diện tích nhiễm mặn và độ mặn trong đất
Phú Tân chịu ảnh hưởng của triều biển Tây Mặc dù đã xây dựng tuyến đê biển Tây, song nhiều đoạn vẫn bị xâm nhập mặn sâu vào đất liền Tình trạng mặn hóa tài nguyên đất làm cho việc sản xuất các loại cây, con hệ nước ngọt như lúa, hoa màu, cây ăn trái,
cá nước ngọt… không phát triển được, đặc biệt là vùng đất trồng lúa
* Tác động đến tài nguyên môi trường nước: Nhiều vùng
ngọt hóa trong huyện trở thành môi trường nước lợ, nước mặn, làm thu hẹp diện tích đất ngọt hóa, làm thay đổi dòng chảy, nước mặn
từ biển, theo dòng chảy của các sông ngòi, kênh rạch lấn sâu vào nội đồng, làm giảm nguồn tài nguyên nước ngọt (cả nước mặt và nước ngầm)
Nguồn tài nguyên nước mặt càng trở nên khan hiếm, một số kênh rạch sâu trong nội đồng cũng bị nhiễm mặn ở mức độ cao như Tân Hưng Tây, Việt Thắng Những năm gần đây tình trạng nước ngầm bị nhiễm mặn trên địa bàn huyện, buộc người dân phải
Trang 9khoan giếng ở tầng nước sâu hơn, có nơi trên 100m để có nguồn nước sử dụng
Môi trường nước tại các sông, kênh, rạch trong huyện ngày càng nhiễm mặn và ô nhiễm gia tăng
* Tác động đến hệ sinh thái nước mặn và đa dạng sinh học:
Một số diện tích rừng ngập mặn hiện nay sẽ có khả năng mất dần
Sự tái sinh của các cánh rừng này có xu hướng di chuyển vào phía trong đất liền, nơi có dòng nước ngọt và chế độ triều phù hợp Việc suy giảm diện tích và chất lượng rừng ngập mặn gây suy giảm đa dạng sinh học; suy giảm khả năng chống xói mòn bờ biển, bờ sông, ngăn cản sóng, gió; giảm khả năng bồi lắng, mất nơi cư trú sinh trưởng của các loài thủy sản; gia tăng ô nhiễm môi trường biển ven bờ
* Tác động đến hệ sinh thái nông nghiệp: NBD đã đẩy nhanh
quá trình xâm nhập mặn sâu vào nội đồng, làm thay đổi cơ cấu sử dụng đất từ nông nghiệp sang nuôi trồng thủy sản Với mức độ xâm nhập mặn như hiện nay thì tương lai hệ sinh thái nông nghiệp với cây lúa là chủ đạo sẽ chuyển dần thành nuôi tôm Trước đây Phú Tân được mệnh danh là xứ dừa của Cà Mau, nhưng hiện nay diện tích trồng dừa chủ yếu chỉ còn trên địa bàn xã Phú Tân không đến 500ha
2.2.2 Tác động đến các lĩnh vực kinh tế
Trang 10* Ảnh hưởng đến ngành nông nghiệp: Với đặc thù là vùng đất
ngập trũng, hệ thống đê bao thấp, do đó Phú Tân chịu ảnh hưởng khá lớn bởi tình trạng NBD và xâm nhập mặn Hiện nay toàn huyện có 51,2% diện tích đất nông nghiệp bị ngập mặn
Tại các khu vực tôm lúa như Tân Hưng Tây, Việt Thắng, Phú
Mỹ, Phú Thuận, Tân Hải …độ mặn trong nước và đất tăng cao làm giảm quá trình sinh trưởng của cây lúa, dẫn đến năng suất thấp, có nơi độ mặn tăng ngay vào thời kỳ cây lúa trổ bông thì năng suất lúa gần như mất trắng
* Giảm giá trị sản xuất ngành chăn nuôi: NBD gây ngập làm
chết nhiều gia súc, gia cầm của các hộ dân, đồng thời gây ô nhiễm môi trường, lây lan bệnh dịch trong gia súc, gia cầm; cùng với biến động của các yếu tố thời tiết tác động làm giảm sức đề kháng, tốc
độ sinh trưởng và phát triển của vật nuôi, diện tích chăn nuôi bị thu hẹp, nguồn nước ngọt dành cho chăn nuôi giảm
* Ảnh hưởng đến ngành lâm nghiệp: Chế độ ngập triều, lực
tương tác sông biển, làm giảm lượng nước ngọt từ sông chảy ra Điều này làm cho điều kiện sống của cây rừng ngập mặn không còn phù hợp nữa Như vậy làm giảm năng suất sinh khối của cây rừng ngập mặn; giảm trữ lượng thảm mục rừng; giảm khả năng khai thác nguồn lợi từ rừng ngập mặn, gây ảnh hưởng đến đời sống của người dân sống tại khu vực ven rừng ngập mặn Gần đây có tình trạng rừng phòng hộ ở Lâm ngư trường Sào Lưới bị chết (23,7
Trang 11ha, mức độ cây rừng bị chết khoảng 45%), giảm tài nguyên động thực vật sống dưới tán rừng, làm giảm hiệu quả kinh tế từ khai thác tài nguyên rừng
* Ảnh hưởng đến ngành nuôi trồng và đánh bắt thủy sản:
Việc nuôi tôm bị ảnh hưởng nặng nề nhất do sự thay đổi đột ngột môi trường và chất lượng nguồn nước, đặc biệt khu vực sản xuất ven biển Hệ sinh thái ven biển bị xáo trộn do chế độ thủy lý, thủy triều thay đổi đã làm ảnh hưởng lớn đến môi trường sống của nhiều loài thủy sản
* Ảnh hưởng đến ngành công nghiệp: NBD gây ngập một số
khu công nghiệp (công ty chế biến,xuất khẩu thủy sản Cái Đôi Vàm) làm hư hỏng hạ tầng kỹ thuật
* Ảnh hưởng đến ngành giao thông vận tải, xây dựng và hạ tầng kỹ thuật: Nước biển dâng gây hư hỏng sạt lở các tuyến đường,
hệ thống hạ tầng giao thông, hệ thống thủy lợi bị ảnh hưởng do dòng chảy bị thay đổi và quá trình bồi lắng
2.2.3 Tác động đến con người và xã hội
* Tác động đến sức khỏe cộng đồng: Nước ngập làm lây lan
các bệnh truyền nhiễm như: tiêu chảy, thương hàn, suốt suất huyết, viêm da,….ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe người dân
* Tác động đến nơi cư trú và sinh kế: NBD làm ảnh hưởng
nặng nề đến cuộc sống và sinh kế của người dân Đường sá, nhà
Trang 12cửa bị ngập, gây khó khăn trong việc vận chuyển, buôn bán và đi lại của người dân cũng như trong quá trình sinh hoạt
* Tác động đến xã hội: Như phân tích ở trên, NBD làm ảnh
hưởng rất lớn đến sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp tại địa phương… dẫn đến tình trạng suy giảm diện tích sản xuất từ đó gây ra tình trạng thiếu lương thực Hạ tầng kỹ thuật dân dụng bị thiệt hại, người dân mất nơi ở, nguồn tài nguyên nước ngọt và một số tài nguyên khác bị cạn kiệt, ….đời sống người dân gặp nhiều khó khăn Gây nghèo đói, di dân ảnh hưởng đến các vấn đề an sinh xã hội
Ngành giáo dục là một trong những đối tượng chịu tác động của NBD NBD gây khó khăn cho GV và HS trong quá trình đến lớp Phòng học bị ngập nước gây trở ngại rất lớn cho quá trình học tập, cơ sở vật chất của nhà trường bị hư hại nhiều
Tác động đến văn hóa xã hội: một số cơ sở thờ tự tôn giáo bị ngập nước gây khó khăn trong quá trình sinh hoạt của các tôn giáo Các khu di tích lịch sử, địa điểm du lịch bị thiệt hại do NBD, giảm doanh thu do khách du lịch không thể tham quan trong điều kiện bị ngập nước
Như vậy, NBD đã gây ra những ảnh hưởng rất lớn đến môi trường tự nhiên và kinh tế xã hội của huyện nhà Trước tình hình
đó, nhiệm vụ quan trọng đặt ra cho chính quyền địa phương và nhân dân là phải có kế hoạch, giải pháp ứng phó với hiện tượng
Trang 13NBD, đảm bảo đời sống người dân, bảo vệ an ninh kinh tế và an ninh xã hội
III MỤC TIÊU VÀ GIẢI PHÁP ỨNG PHÓ VỚI NƯỚC BIỂN DÂNG
3.1 Mục tiêu
* Mục tiêu tổng quát:
- Đến năm 2020, cơ bản chủ động ứng phó với hiện tượng NBD
- Đến năm 2050, chủ động ứng phó với hiện tượng NBD
* Mục tiêu cụ thể đến năm 2020
- Nâng cao năng lực dự báo nhằm giảm nhẹ tác động của NBD
- Hình thành ý thức cho mọi thành viên trong xã hội về chủ động thích ứng và giảm nhẹ tác động của triều cường, ngập lụt, xâm nhập mặn do NBD Giảm thiểu sự thiệt hại về tính mạng và tài sản do các tác động NBD gây ra
- Duy trì và bảo vệ nguồn nước và các nguồn tài nguyên khác phục vụ sinh hoạt và sản xuất của người dân
- Cải thiện môi trường sống, xây dựng hoàn thiện mô hình
“đô thị xanh”, “đô thị nước” ven biển
3.2 Một số giải pháp Ứng phó với hiện tượng nước biển dâng
Trang 14Để thực hiện các mục tiêu trên, huyện Phú Tân cần tiến hành đồng bộ nhiều giải pháp với sự tham gia không chỉ bộ máy nhà nước mà toàn thể nhân dân, cụ thể như sau:
3.2.2.1 Các biện pháp bảo vệ ( Bao gồm giải pháp bảo vệ
“cứng” và bảo vệ “mềm”)
* Trong đó các giải pháp bảo vệ “cứng” chú trọng đến các can thiệp vật lý, giải pháp kĩ thuật công trình xây dựng cơ sở hạ tầng như:
- Tiếp tục xây dựng và phát huy hiệu quả các hệ thống và công trình thủy lợi đã có, làm tốt hơn nữa công tác quy hoạch thủy lợi, thực hiện các dự án trong thời gian tới Triển khai nhiều công trình, dự án phù hợp với thực tiễn
- Phát triển nhanh hệ thống trạm bơm điện phục vụ bơm tưới
và chống úng cho sản xuất nông nghiệp
- Hoàn thành và đưa vào sử dụng cống ngăn mặn giữ nước ngọt tại ấp Vàm Đình, xã Phú Thuận
- Kịp thời khắc phục, sửa chữa những đoạn bị hư hỏng của tuyến đê biển Tây Tập trung đầu tư xây dựng hoàn thiện “đê
cứng” ở một số nơi xung yếu nhất
* Trong khi đó các biện pháp bảo vệ “mềm” lại chú trọng các giải pháp thích ứng dựa vào hệ sinh thái như:
- Trồng cây chắn sóng như: mắm, đước, bần, sú, vẹt, ráng,… chống sạt lỡ ven các tuyến lộ giao thông, tuyến đê biển