1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Ket hop PPTT va PP tro choi hoc tap trong day hoc mon GDCD tai truong THPT

122 350 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 1,15 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Luận văn đề cập đến vấn đề kết hợp PP thuyết trình và phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn GDCD tại các trường THPT. PPTCTC học tập là phương pháp dạy học mới và tạo hứng thú cho HS trong quá trình học tập môn GDCD

Trang 1

BỘ GIÁO DỤC & ĐÀO TẠO TRƯỜNG ĐẠI HỌC VINH

… 

TRẦN CẨM HƯỜNG

KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN (Qua khảo sát thực tế tại trường Trung học phổ thông Phú Tân,

huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau)

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN GIÁO DỤC CHÍNH TRỊ

MÃ SỐ: 60 14 10

LUẬN VĂN THẠC SĨ KHOA HỌC GIÁO DỤC

Người hướng dẫn khoa học: TS NGUYỄN THÁI SƠN

Đồng Tháp, 2013

Trang 2

BẢNG QUY ĐỊNH CHỮ VIẾT TẮT

GDCD : Giáo dục công dân

GD - ĐT : Giáo dục đào tạo

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới các thầy giáo, cô giáo Khoa Giáo dục chính trị, Phòng Sau Đại học - Trường Đại học Vinh và các thầy giáo, cô giáo đã tham gia giảng dạy tôi trong khoá học, đã dành nhiều tâm huyết truyền đạt những tri thức quý báu, giúp tôi hoàn thành khoá học và luận văn.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Nguyễn Thái Sơn - Người Thầy

đã tận tình giúp đỡ, hướng dẫn, đóng góp những ý kiến quý báu để tôi hoàn thành luận văn này.

Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến quý thầy cô trong hội đồng khoa học, những người đã góp ý xây dựng đề cương luận văn giúp tôi thực hiện thành công luận văn này

Tôi cũng xin gửi lời cảm ơn đến Ban giám hiệu, giáo viên môn GDCD trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau; gia đình và bạn bè đã động viên, tạo mọi điều kiện cho tôi trong quá trình học tập và hoàn thành luận văn tốt nghiệp.

Trang 4

MỤC LỤC Trang

Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP

PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI

HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG

DÂN

11

1.1 Cơ sở lí luận của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và

phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công

dân

11

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và

phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công

dân trong trường Trung học phổ thông Phú Tân

31

Chương 2: THỰC NGHIỆM KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH

VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO

HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN Ở TRƯỜNG TRUNG

HỌC PHỔ THÔNG PHÚ TÂN, HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

43

2.3 Phân tích, đánh giá kết quả thực nghiệm 68

Chương 3: QUY TRÌNH VÀ MỘT SỐ GIẢI PHÁP KẾT HỢP PHƯƠNG

PHÁP THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP

NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC GIÁO DỤC CÔNG DÂN TRONG

TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

75

3.1 Quy trình kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp tổ

chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung

học phổ thông

75

3.2 Một số giải pháp kết hợp phương pháp thuyết trình và phương

pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân trong

83

Trang 5

trường Trung học phổ thông

Trang 6

A MỞ ĐẦU

1 Tính cấp thiết của đề tài

Những năm gần đây cùng với sự phát triển chung của xã hội, ngành GD - ĐT

đã có những nỗ lực đáng kể trong việc nâng cao chất lượng dạy và học Trước tiên phải kể đến việc xây dựng chương trình đổi mới từ Tiểu học đến Đại học, chương trình đào tạo bồi dưỡng GV, đổi mới PPDH và đánh giá HS…

Trong xu hướng cải cách và phát triển ngành giáo dục Việt Nam hiện nay nói chung, bộ môn GDCD nói riêng đã và đang được Đảng, Nhà nước, Bộ GD - ĐT, các ngành … ngày càng quan tâm Đặc biệt, gần đây Thông tư 58/2011/PPTT - Bộ

GD - ĐT ngày 12 tháng 12 năm 2011 của Bộ GD - ĐT về ban hành Quy chế đánh giá, xếp loại HS trung học cơ sở và trung học phổ thông ra đời Tại điều 3 Quy chế

này nêu rõ: “Kết quả nhận xét các biểu hiện về thái độ, hành vi của HS đối với nội

dung dạy học môn GDCD quy định trong chương trình giáo dục phổ thông cấp trung học cơ sở, cấp trung học phổ thông do Bộ trưởng Bộ GD - ĐT ban hành” sẽ là

một trong những căn cứ để xếp loại hạnh kiểm HS Điều đó đã góp phần khẳng định

vị thế quan trọng của môn học này trong các trường phổ thông

Tuy nhiên, qua thực tế giảng dạy tại trường THPT môn GDCD chưa thật thu hút được sự quan tâm của các em HS Kết quả học tập môn GDCD của HS ở trường THPT còn thấp, các em chưa ý thức được tầm quan trọng của những phẩm chất đạo đức trong cuộc sống, cũng như những qui định của pháp luật đối với đời sống xã hội và sự phát triển của đất nước

Điểm mấu chốt để giải bài toán hiệu quả dạy học môn GDCD nằm ở chỗ vận dụng phương pháp phù hợp để truyền tải kiến thức đến người học một cách tối ưu

Và để thực hiện điều này không thể thiếu vai trò của người thầy Với đòi hỏi ấy, những người giảng dạy càng lúc càng thể hiện tính quyết định đối với chất lượng

Trang 7

dạy và học Đặc biệt hơn cả là phải biết làm chủ PPDH, bởi PPDH chính là lời giải cho bài toán nâng cao hiệu quả dạy học

Từ thực tế đó, đòi hỏi các thầy giáo, cô giáo cần phải không ngừng tìm tòi, tích lũy kinh nghiệm, sáng tạo ra những ý tưởng hay, để từ đó có thể tạo ra một giờ giảng sinh động, ấn tượng và chuyển tải kiến thức đến HS một cách hiệu quả nhất

Tổ chức trò chơi học tập là sự lựa chọn của rất nhiều thầy cô trước áp lực thay đổi PPDH để thu hút HS và đạt mục tiêu bài giảng Nó là chiếc cầu nối đắc lực, hữu hiệu và tự nhiên giữa GV và HS Thông qua trò chơi, ý nghĩa của nội dung bài học được truyền tải đến người nghe một cách nhẹ nhàng nhưng đầy sâu sắc, dễ hiểu Trò chơi cũng là loại hình hoạt động rất quen thuộc, gần gũi với mọi người

Với những kinh nghiệm trong quá trình giảng dạy cũng như tìm hiểu, nghiên cứu, thấy rằng có rất nhiều công trình nghiên cứu về PPDH, đặc biệt là kết hợp giữa nhiều phương pháp khác nhau trong quá trình dạy học Tuy nhiên, việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT hầu như còn rất ít Hơn nữa, là đi sâu vào bộ môn

GDCD lại càng ít hơn Vì lẽ đó, tác giả đã lựa chọn vấn đề: “Kết hợp phương pháp

thuyết trình với phương pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả trong dạy học môn Giáo dục công dân (qua khảo sát tại trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau).” làm đề tài luận văn khoa học Giáo dục, chuyên

ngành Lí luận và Phương pháp giảng dạy chính trị

2 Lịch sử nghiên cứu liên quan đến đề tài

Liên quan đến vấn đề sử dụng Phương pháp tổ chức trò chơi học tập có nhiều tác giả đã đề cập đến: Trò chơi học tập – Hình thức tích cực trong giảng dạy

hiện đại của Bùi Văn Thành đăng trên trang web www.pup.edu.vn ; Phương pháp

giảng dạy tích cực “Trò chơi học tập”, đăng ngày 14/6/2011 trên

www.donga.edu.vn; Một số phương pháp dạy học, http://hcm.edu.vn Ở ba bài viết

Trang 8

này, các tác giả đề cập đến việc tổ chức trò chơi trong một tiết dạy ở bậc tiểu học

và đưa ra một số kinh nghiệm khi tổ chức trò chơi học tập

Trong bài Tại sao phải lựa chọn phương pháp giáo dục “Trò chơi học tập”

đăng trên http://vitaminart.org và bài Phương pháp trò chơi trong đổi mới phương

pháp dạy học ở tiểu học, đăng ngày 12/12/2011 trên http://edu.go.vn trên cơ sở phân tích những ưu, nhược điểm của trò chơi học tập, tác giả đã luận giải sự cần thiết phải áp dụng phương pháp này vào giảng dạy nhằm giúp HS hứng thú hơn đối với môn học Đa số các tác giả chỉ mới dừng lại ở những kết luận chung chung, chưa đi sâu nghiên cứu phương pháp này

Xoay quanh vấn đề dạy học GDCD ở trường THPT có nhiều tác giả đề cập

như: Nguyễn Văn Cư – Nguyễn Duy Nhiên, Dạy và học môn GDCD ở các trường

THPT, Nhà xuất bản Đại học sư phạm - 2009; Nguyễn Văn Dũng - Phương pháp

dạy GDCD ở trường THPT, khoa Giáo dục chính trị, trường Đại học Sư phạm Huế

Trong hai tác phẩm này, các tác giả đều đã đề cập đến những phương pháp dạy học

cụ thể trong giảng dạy môn GDCD

Về đổi mới phương pháp dạy học có các tác giả Trần Bá Hoành, Đổi mới

PPDH, chương trình và sách giáo khoa, NXB đại học sư phạm -2007; Đổi mới PPDH môn đạo đức và GDCD tác giả Nguyễn Nghĩa Dân - 2009 Các tác giả đã đề

cập đến việc đổi mới nội dung và PPDH Trong đó có sử dụng một số PPDH tích cực trong dạy học GDCD

Liên quan đến vấn đề nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD có luận văn

thạc sĩ của tác giả Hoàng Thị Thu Hòa, Một số giải pháp nhằm nâng cao chất

lượng dạy học môn GDCD - 2010

Thực tế ở địa phương hiện nay vẫn chưa có bất cứ đề tài nào liên quan đến phương pháp trò chơi học tập

Trang 9

Sau một thời gian tìm hiểu, nghiên cứu tác giả thấy rằng đã có rất nhiều đề tài về phương pháp giảng dạy GDCD trong trường THPT Tuy nhiên vẫn chưa có một đề tài nào đề cập đến việc sử dụng phương pháp trò chơi học tập đối bộ môn GDCD ở trường phổ thông.

Từ đó, tác giả đã lựa chọn đề tài: “Kết hợp phương pháp thuyết trình và

phương pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học trong dạy học môn Giáo dục công dân (qua khảo sát tại trường Trung học phổ thông Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau)” làm đề tài cho Luận văn tốt nghiệp là hoàn

Muốn đạt được mục đích đó, cần phải nghiên cứu làm rõ một số vấn đề sau:

- Nghiên cứu cơ sở lí luận và thực tiễn của việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD trong THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

- Thực nghiệm kết hợp PPTT và PPTCTCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD trong trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

- Đề xuất quy trình và một số giải pháp kết hợp PPTT và PPTCTCHT nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD trong trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

Trang 10

4 Phương pháp nghiên cứu

Để thực hiện đề tài này, tôi sử dụng các phương pháp sau đây:

- Phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp khảo sát thực tiễn

- Phương pháp phân tích

- Phương pháp tổng hợp

- Phương pháp quan sát

- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

6 Giả thuyết khoa học

Nếu kết hợp tốt PPTT với PPTCTCHT trong dạy học bộ môn GDCD sẽ phát huy được tính tích cực, tính tự lực nhận thức, tính tự giác của HS góp phần nâng cao được hiệu quả dạy và học

7 Ý nghĩa của Luận văn

Luận văn này sẽ là tài liệu tham khảo cho các lớp cao học, sinh viên chuyên ngành, GV ở các trường THPT

Luận văn sẽ góp phần bổ sung thêm vào hệ thống các PPDH bộ môn GDCD

ở các trường THPT

Luận văn có thể được vận dụng trong thực tiễn công tác dạy học tại trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

Trang 11

Luận văn sẽ được ứng dụng vào thực tiễn dạy và học nhằm nâng cao năng lực tự học cho HS Qua đó, nâng cao chất lượng dạy học môn GDCD tại trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

Chương II: Thực nghiệm kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp

tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân trong trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau;

Chương III: Quy trình và một số giải pháp kết hợp phương pháp thuyết trình

và phương pháp tổ chức trò chơi học tập nhằm nâng cao hiệu quả dạy học môn Giáo dục công dân trong trường THPT

Trang 12

B NỘI DUNG Chương 1:

CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC KẾT HỢP PHƯƠNG PHÁP THUYẾT TRÌNH VÀ PHƯƠNG PHÁP TỔ CHỨC TRÒ CHƠI HỌC TẬP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC MÔN GIÁO DỤC CÔNG DÂN

1.1 Cơ sở lí luận của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân

1.1.1 Một số khái niệm cơ bản

1.1.1.1 Khái niệm phương pháp dạy học

PPDH không phải là một thực thể độc lập, vì mục đích tự thân, mà chỉ là hình thức vận động của một hoạt động đặc thù: hoạt động dạy học Vì vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về PPDH

Theo giáo trình Giáo dục học đại cương 2 của nhóm tác giả Bùi Thị Mùi,

Bùi Văn Ngà và Nguyễn Thị Bích Liên biên soạn thì khái niệm PPDH được trình bày như sau: “PPDH là tổng hợp các cách thức hoạt động phối hợp của GV và HS được thực hiện trong quá trình dạy học; trong đó cách thức dạy học của GV đóng vai trò chủ đạo, cách thức hoạt động của HS đóng vai trò chủ động nhằm thực hiện tốt mục đích và nhiệm vụ dạy học” [38, 23]

Trong giáo trình Lí luận dạy học do phó giáo sư Lê Phước Lộc biên soạn thì

“PPDH là tổng hợp các cách thức hoạt động, phối hợp thống nhất giữa GV và HS nhằm thực hiện nhiệm vụ giảng dạy ở nhà trường [35, 11]

Cũng có thể hiểu chung nhất về PPDH là những con đường, cách thức tiến hành hoạt động dạy học

Trang 13

1.1.1.2 Phương pháp thuyết trình

Thuyết trình có nguồn gốc từ tiếng Hy Lạp có nghĩa là một trong những PPDH xuất hiện sớm trong lịch sử dạy học Cho đến ngày nay, phương pháp này vẫn được sử dụng khá phổ biến đã đem lại nhiều thuận lợi trong quá trình dạy học, nhất là các môn khoa học xã hội và đặc biệt là các môn khoa học Mác – Lênin Với đặc thù tri thức bộ môn mang tính khái quát hóa cao thì PPTT là phương pháp chiếm ưu thế hơn hẳn các PPDH khác PPTT được gọi với nhiều tên khác nhau: Phương pháp diễn giảng, phương pháp dùng lời, phương pháp truyền thống…Một

số quan niệm khác cũng chia PPTT ra thành 3 loại: kể chuyện, giảng giải, diễn giảng

Có rất nhiều ý kiến khác nhau về khái niệm PPTT, trong đó có một số quan điểm đáng chú ý như sau:

Giáo dục học đại cương 2 của nhóm tác giả Bùi Thị Mùi, Bùi Văn Ngà và

Nguyễn Thị Bích Liên viết: “PPTT là phương pháp GV dùng lời nói sinh động để trình bày tài liệu mới hoặc để tổng kết tri thức mà HS thu được” [38, 25]

Còn Phương pháp dạy học Giáo dục Công dân, tác giả Phùng Văn Bộ lại

cho rằng “PPTT là PPDH trong đó GV dùng lời nói sinh động, gợi cảm thuyết phục

để truyền thụ hệ thống tri thức GDCD cho HS theo chủ đích nhất định, nhờ vậy người học sẽ tiếp thu bài giảng một cách có ý thức” [3, 58]

Viết trong giáo trình Dạy học và PPDH trong nhà trường, thì tác giả Phan

Trọng Ngọ cho rằng “PPTT là phương pháp GV sử dụng ngôn ngữ và phi ngôn ngữ

để cung cấp cho người học hệ thống thông tin về nội dung học tập Người học tiếp nhận hệ thống thông tin đó từ người dạy và xử lí chúng tùy theo tính chủ thể người học và yêu cầu của dạy học” [39, 187]

Trang 14

PPTT là PPDH bằng lời nói sinh động của GV để trình bày một tài liệu mới hoặc tổng kết những tri thức mà HS đã thu lượm được một cách có hệ thống, được thể hiện dưới hình thức giảng giải, giảng thuật và diễn giảng phổ thông.

Như vậy, thuyết trình trong dạy học là việc người dạy dùng lời nói, hành động, các phương tiện kĩ thuật dạy học trình bày, thuyết minh, giảng giải, phân tích truyền tải những tri thức khoa học một cách có hệ thống logic, theo mục đích nhất định Do đó, người học tiếp thu tri thức một cách có ý thức theo một hệ thống logic nhất định, nhằm thực hiện được mục đích và nhiệm vụ dạy học

* Ưu điểm và hạn chế:

- Ưu điểm:

Thứ nhất, với cách diễn đạt lưu loát, rõ ràng, dễ hiểu, phù hợp với logic nhận thức và trình độ người nghe, PPTT đã chuyển tải đến người học một lượng lớn thông tin cần thiết, phong phú, được cấu trúc theo một logic chặt chẽ, phản ánh nội dung môn học

Thứ hai, cho phép GV cung cấp cho người học những thông tin cập nhật đầy

đủ nhất so với SGK, giáo trình Thông thường các tri thức được cung cấp trong SGK, một số tài liệu trong nhà trường có được lạc hậu hơn so với sự phát triển hiện tại của lĩnh vực khoa học đó Ngày nay, với sự phát triển như vũ bão của khoa học -

kỹ thuật, các vấn đề kinh tế, chính trị, xã hội diễn ra hết sức sôi động trên phạm vi toàn cầu, thì bài thuyết trình của GV sẽ cung cấp những thông tin cập nhật từ nhiều nguồn tài liệu khác nhau mà HS phải mất nhiều thời gian mới có thể tìm hiểu và tổng hợp chúng Chính vì vậy bài thuyết trình tốt mang đến một ý nghĩa tích cực đối với người học

Thuyết trình không giống với đọc hiểu, nó là giao tiếp trực tiếp giữa người giảng và người nghe Vì vậy, khi thuyết trình, thái độ và sự nhiệt tình của GV có vai trò quan trọng trong việc tích cực hóa hoạt động học tập của người học, truyền

Trang 15

cảm hứng và sự sáng tạo Bằng PPTT, người dạy không chỉ sử dụng ngôn ngữ nói của mình tác động trực tiếp đến HS mà với tư cách mẫu mực, với những hành vi,

cử chỉ, thể hiện quan điểm, thái độ, niềm tin, phẩm chất nhân cách của người thuyết trình sẽ có tác động mạnh mẽ đến tâm tư, tình cảm, suy nghĩ và hành động đúng đắn của người học Đồng thời, cách thuyết trình có tính thuyết phục của GV là bài học quý báu cho HS về việc sử dụng ngôn ngữ để trình bày một vấn đề do cuộc sống yêu cầu, cách tư duy logic, cách đặt và giải quyết vấn đề;

Điểm đặc biệt là PPTT dễ thực hiện, không đòi hỏi phải sử dụng nhiều phương tiện, kỹ thuật dạy học nên dễ dàng ứng dụng ở những nơi không có đủ điều kiện vật chất, trang thiết bị phục vụ dạy học;

Hiện nay, chúng ta đang tiến hành đổi mới PPDH theo hướng hiện đại nhằm phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS; mặc dù PPTT là phương pháp tiêu biểu cho hệ thống PPDH truyền thống nhưng với những ưu điểm nổi bật vừa trình bày ở trên thì PPTT vẫn phát huy hiệu quả của nó, nhất là ở các môn khoa học xã hội

- Hạn chế:

Bên cạnh những ưu điểm nổi bật thì PPTT cũng có những hạn chế nhất định.Trước tiên, có thể thấy PPTT làm cho người học ít có cơ hội phát huy tính tích cực, chủ động của mình Vì khi sử dụng PPTT, người học thường chỉ thực hiện nhiệm vụ lắng nghe, ghi chép và tiếp thu một cách thụ động các kiến thức mà người dạy cung cấp, từ đó người học mau chóng mệt mỏi, chán nản, buồn ngủ;

Sử dụng PPTT khó làm bộc lộ năng lực của HS, khó đánh giá mức độ hiểu bài của HS trong thời gian học tập

GV ít thu được thông tin phản hồi từ phía HS nên khó biết được những nội dung kiến thức nào HS đã hiểu và những nội dung kiến thức nào HS chưa hiểu, cũng vì vậy đôi khi GV có thể trình bày lại những gì HS đã biết hoặc có sẵn trong tài liệu mà HS có thể tự học

Trang 16

Việc HS ít có cơ hội trình bày quan điểm của mình cũng là nguyên nhân làm hạn chế sự phát triển kĩ năng giao tiếp của các em;

Tính cá thể hóa trong dạy học thấp, do GV phải dùng một số biện pháp chung cho cả nhóm học viên;

Thời gian thu hút và duy trì sự chú ý của người học vào nội dung bài học thấp hơn các phương pháp khác (Chú ý là điều kiện tiên quyết của việc học) Thông thường vào khoảng 3 - 5 phút đầu người học chưa tập trung vào bài giảng Từ 5 -

15 phút tiếp theo thì sự chú ý của người học đạt đến cao độ Sau đó giảm dần từ phút thứ 30 (nếu không có sự thay đổi biện pháp để thức tỉnh họ)

Ngoài ra, việc sử dụng PPTT còn hạn chế ở chỗ: mức lưu trữ thông tin của người học rất ít Vì hầu hết mọi người có tốc độ nói khoảng 100 - 200 từ/ phút, với tốc độ đó thì 1 tiết học với PPTT có thể lên tới 8000 - 9000 từ Trong khi đó trí nhớ ngắn hạn của người học chỉ có thể tiếp nhận khoảng 800 - 1000 từ Do đó trí nhớ ngắn hạn thường xuyên bị quá tải Vì vậy cần thiết phải có phương tiện hỗ trợ ghi nhớ

Như vậy, với PPTT, nội dung của bài dạy sẽ có tính hệ thống, tính logic cao, người dạy chủ động được thời gian cũng như suốt quá trình dạy học Song do quá

đề cao người dạy nên khi sử dụng PPTT, người học thường ít tích cực, chủ động tiếp thu kiến thức môn học

1.1.1.3 Phương pháp tổ chức trò chơi học tập

Trong Giáo trình Giáo dục học, tác giả Trần Thị Tuyết Oanh đã đề cập

“Phương pháp trò chơi học tập là hình thức phản ánh hiện thực khách quan qua hoạt động của người học với sự đan xen của những yếu tố tưởng tượng” [43, 226]

Cũng nội dung này, trong cuốn Dạy học và PPDH trong nhà trường, tác giả

Phan Trọng Ngọ cho rằng “PPDH bằng trò chơi là GV cung cấp và tổ chức cho học

Trang 17

viên tiến hành các tri thức khoa học, thái độ và kĩ năng hành động (trí óc và chân tay) sau khi kết thúc trò chơi” [ 39, 289].

Theo http://edu.go.vn, Phương pháp trò chơi trong đổi mới PPDH ở cấp tiểu

học, ngày 12/12/2011 thì “Bản chất của phương pháp sử dụng trò chơi học tập là

dạy học thông qua việc tổ chức hoạt động cho HS Dưới sự hướng dẫn của GV, HS được hoạt động bằng cách tự chơi trò chơi trong đó mục đích của trò chơi chuyển tải mục tiêu của bài học Luật chơi (cách chơi) thể hiện nội dung và phương pháp học, đặc biệt là phương pháp học tập có sự hợp tác và sự tự đánh giá.” [ 29, 1]

Đề cập đến khái niệm PPTCTCHT trong Trò chơi học tập – Hình thức tích

cực trong giảng dạy hiện đại đăng trên www.pup.edu.vn tác giả Bùi Văn Thành cho rằng: “Phương pháp tổ chức trò chơi học tập có thể được hiểu là một trong những phương thức, cách thức truyền tải thông điệp, một nội dung cụ thể nào đó đến người nghe thông qua hình thức trò chơi – chơi mà học, từ đó ý nghĩa của nội dung bài học được truyền tải đến người nghe một cách nhẹ nhàng, nhưng sâu sắc

và dễ hiểu Hay nói cách khác, trò chơi học tập là chiếc cầu nối hữu hiệu và thân thiện nhất, tự nhiên nhất giữa người dạy và người học trong giải quyết nhiệm vụ chung và hướng tới đạt được mục tiêu của bài học.” [ 41, 2]

Qua cách trình bày trên, có thể thấy được một điểm chung là: khi sử dụng PPTCTCHT sẽ tạo nên một tác dụng hấp dẫn, cuốn hút sự tập trung cao độ của người học mà ít phương pháp nào có được Hơn nữa, thông qua trò chơi, tình cảm của người học đối với bạn và đối với GV được nảy nở và duy trì

* Ưu điểm và hạn chế:

- Ưu điểm:

Trò chơi học tập là một hình thức học tập bằng hoạt động, hấp dẫn HS nên duy trì tốt hơn sự chú ý của các em với bài học;

Trang 18

Trò chơi làm thay đổi hình thức học tập chỉ bằng hoạt động trí tuệ, do đó giảm tính chất căng thẳng của giờ học, nhất là các giờ học kiến thức lý thuyết mới;

Trò chơi có nhiều HS tham gia sẽ tạo cơ hội rèn luyện kỹ năng học tập hợp tác cho HS Bên cạnh đó, người học tham gia tích cực vào quá trình học Họ có quyền quyết định, tự giải quyết các vấn đề và phản ứng với kết quả của các quyết định do mình đưa ra từ đó rèn khả năng phản ứng nhanh và các giác quan;

Mặt khác, trong trò chơi, nhất là những trò chơi trí tuệ, thường hàm chứa yếu

tố kích thích, thi đua, sự thử thách và khả năng nâng cao hiểu biết, sự sáng tạo và tính kiềm chế của người chơi Thông qua trò chơi giáo dục phẩm chất đạo đức cho HS

- Hạn chế:

GV và HS thường mất nhiều thời gian cho việc chuẩn bị trò chơi;

Kết quả trò chơi có thể ảnh hưởng đến tâm lí HS (người thua buồn, giận hờn, ) không chú ý đến quá trình tiếp thu bài học;

Do hoạt động trò chơi mang tính vui tươi thường ồn ào nên dễ gây ảnh hưởng đến lớp khác;

PPTCTCHT có tính chất phi khuôn mẫu về nội dung dạy học, vì vậy không nên sử dụng một mình phương pháp này hoặc không nên lạm dụng chúng trong việc truyền thụ kiến thức có tính hệ thống

1.1.2 Cơ sở của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học nói chung và dạy học Giáo dục công dân nói riêng

1.1.2.1 Cơ sở triết học

Vấn đề PPDH được đề cập từ rất sớm và đã có khá nhiều nhà triết học quan tâm, trong đó hướng tiếp cận của G.Hêghen (1770 – 1831) và C.Mác (1818 – 1883)

Trang 19

là hai hướng rất cần thiết cho việc lựa chọn phương pháp và phương tiện trong dạy học.

Trong “Bút kí triết học” của V.I.Lênin có trích dẫn quan điểm của nhà triết

học G.Hêghen, “Phương pháp là hình thức vận động của nội dung sự vật” Mỗi sự vật đều có bản chất của nó và được thể hiện qua hình thức nhất định Hình thức không bao giờ tồn tại riêng, tách rời nội dung và ngược lại Mỗi sự vật đều có phương pháp vận động riêng của mình Vận động là cách tiếp cận về phương pháp của G.Hêghen vào dạy học, cho ta phương pháp luận cực kì quý báu Mỗi nội dung bài dạy có một PPDH đặc thù mang lại hiệu quả nhất định Vì vậy, không thể nhận định một cách chung chung phương pháp này tốt, phương pháp kia không tốt, mà cần phải xác định với nội dung này thì phương pháp phù hợp với nó là gì

Hệ quả từ cách tiếp cận của Hêghen: Muốn xác định và sử dụng được PPDH tối ưu, trước hết phải trả lời câu hỏi dạy cái gì? Sau đó mới đến câu hỏi dạy như thế nào? Cách dạy phải luôn phù hợp với nội dung dạy học Sự thay đổi nội dung dẫn đến sự thay đổi PPDH, hình thành phương thức dạy học mới Sự khác nhau giữa phương thức dạy học này với phương thức dạy học khác ở cả mục đích, nội dung, PPDH, chứ không đơn giản là chúng được dạy bằng phương pháp khác nhau

Theo cách tiếp cận của C.Mác về phương pháp và phương tiện giúp ta rút ra hai bài học quý báu về phương pháp luận trong dạy học:

Thứ nhất, có thể tách một cách tương đối giữa nội dung dạy học và PPDH, tức là giữa cái (đối tượng dạy học) với cách (phương pháp triển khai đến đối tượng – PPDH)

Thứ hai, trình độ và hiệu quả của hoạt động dạy học được quyết định bởi phương pháp và phương tiện dạy học Rõ ràng, cũng mục tiêu hình thành thao tác,

kĩ thuật cho người học, nếu chỉ bằng cách truyền kinh nghiệm của người thợ lành nghề cho người học việc theo phương thức cầm tay chỉ việc, thì hiệu quả thấp hơn

Trang 20

nhiều so với việc đào tạo theo phương pháp khoa học và có các phương tiện máy móc hiện đại hỗ trợ.

Hệ quả từ cách tiếp cận của C.Mác: Có nhiều phương pháp triển khai một nội dung dạy học, trong đó có một phương pháp tốt nhất Cho nên muốn đạt hiệu quả cao trong dạy học phải trả lời được câu hỏi: Phương pháp nào là tối ưu nhất để chuyển tải nội dung bài dạy đến người học? Phương tiện nào là tốt nhất?

1.1.2.2 Cơ sở tâm lí – giáo dục học

Quá trình học tập là quá trình tương tác trong môi trường học tập giữa HS với GV cũng như giữa HS với nhau Môi trường học tập cần khuyến khích tính tích cực, tự lực, sáng tạo, sự phân hoá cùng sự cộng tác trong học tập

Trong quá trình học tập, HS cần được tạo điều kiện tự kiến tạo tri thức trên

cơ sở tri thức, kỹ năng, thái độ và kinh nghiệm riêng của mình Quá trình học tập mang tính cá thể Mỗi HS cần ý thức được những con đường, cách thức học tập riêng của mình phù hợp với đặc điểm cá nhân

Quá trình học tập đòi hỏi tính tự điều khiển, tính trách nhiệm của HS HS cần

có trách nhiệm với quá trình và kết quả học tập trong giờ học cũng như trong việc

tự học, biết tự xác định mục đích, lập kế hoạch, đánh giá và điều khiển quá trình tự học một cách tích cực Bên cạnh việc học tập các tri thức mới, các giai đoạn ứng dụng, luyện tập, thực hành, hệ thống hoá cũng như đào sâu và củng cố tri thức đóng vai trò quan trọng trong học tập Những tri thức chuyên môn hệ thống, những chủ

đề tích hợp, “liên môn” gắn với thực tiễn cuộc sống và xã hội, định hướng hành động có vai trò quan trọng trong việc chuẩn bị cho HS giải quyết những tình huống của cuộc sống và tình huống nghề nghiệp sau này

Phương tiện dạy học không chỉ là phương tiện của việc dạy mà còn phải là phương tiện của việc học Các phương tiện hiện đại như đa phương tiện, Internet hỗ trợ quá trình học tập và chuẩn bị cho HS làm quen với các phương tiện trong môi

Trang 21

trường làm việc và cuộc sống hiện đại Vì vậy, cần tạo điều kiện cho HS sử dụng các phương tiện hiện đại theo hướng tích cực hoá và tăng cường tính tự lực trong học tập.

Việc chú ý vào các đặc điểm chuyên biệt về giới tính trong dạy học giúp phát huy những điểm mạnh riêng của HS, theo đó sẽ hỗ trợ việc thực hiện quan điểm bình đẳng giới trong dạy học

1.1.2.3 Đặc điểm nhận thức của học sinh

Lứa tuổi thanh niên, là giai đoạn phát triển bắt đầu từ lúc dậy thì và kết thúc khi bước vào tuổi người lớn Tuổi thanh niên tính từ 15 – 25 tuổi và được chia thành 2 thời kỳ:

Thời kỳ từ 15 – 18 tuổi: giai đoạn đầu của tuổi thanh niên

Thời kỳ từ 18 – 25 tuổi: giai đoạn sau của tuổi thanh niên

Lứa tuổi HS THPT thường rơi vào giai đoạn đầu của tuổi thanh niên Ở độ tuổi này, năng lực tư duy phát triển tương đối cao, khả năng nhận xét, so sánh và liên hệ những thông tin nhận được để hình thành thái độ và định hướng hành động tương đối rõ nét Sự phát triển tư duy khoa học ở lứa tuổi này biểu hiện: Tri giác có mục đích và ghi nhớ có chủ định; thái độ tình cảm đối với kiến thức môn học do tính logic của vấn đề chứ không phải thuần túy do mô tả; có các hành động muốn khẳng định nhận thức của mình thông qua việc nhận xét nội dung kiến thức; bước đầu hình thành khuynh hướng nghề nghiệp Xuất phát từ đặc điểm nhận thức đó, ngành giáo dục nước ta đã đề ra mục tiêu dạy học các môn học nói chung và môn GDCD nói riêng hiện nay là: Đào tạo ra những con người nhanh nhạy, sáng tạo, biết vận dụng những vấn đề lí luận vào thực tiễn, có những phẩm chất cần thiết, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của xã hội

Trang 22

Để thực hiện mục tiêu dạy học nói trên, tổ chức hoạt động nhận thức cho HS

là cách tốt nhất giúp cho người học có được những năng lực, phẩm chất cần đào tạo

Tóm lại, hoạt động nhận thức ở lứa tuổi này đã phát triển ở mức độ cao, có khả năng nhận thức vấn đề một cách đúng đắn và sâu sắc Khả năng tư duy và nhận thức cũng sẽ dần được hoàn thiện trong quá trình học tập và rèn luyện cá nhân

1.1.2.4 Khái quát nội dung môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông

Xuất phát từ mục tiêu môn học, nội dung môn GDCD ở THPT được xác định thành 5 phần chính với thời lượng phân phối như sau:

Phần thứ nhất: Công dân với việc hình thành thế giới quan, phương pháp

luận khoa học

Gồm một số nội dung chủ yếu của Triết học nhằm trang bị cho HS những cơ

sở ban đầu về thế giới quan và phương pháp luận trong cuộc sống và là căn cứ lí luận cho các phần sau

Phần thứ hai: Công dân với đạo đức.

Một số giá trị đạo đức con người Việt Nam trong giai đoạn hiện nay Đây là

sự phát triển tiếp nối của môn GDCD ở trung học cơ sở Những chuẩn mực đạo đức

mà các em được học ở các lớp dưới được nâng lên thành những giá trị đạo đức, tư tưởng, chính trị, lối sống của con người Việt Nam trong thời kì công nghiệp hóa, hiện đại hóa nhằm giúp HS giải quyết hợp lí, có hiệu quả các mối quan hệ xã hội

Phần thứ ba: Công dân với kinh tế.

Cung cấp cho HS những hiểu biết cơ bản về một số phạm trù, quy luật kinh

tế và phương hướng phát triển kinh tế ở nước ta Trên cơ sở đó, giúp HS có thể xác định được phương hướng học tập, lựa chọn ngành nghề hoặc các lĩnh vực hoạt động khác sau khi ra trường

Trang 23

Phần thứ tư: Công dân với các vấn đề chính trị - xã hội.

Giúp HS có những hiểu biết cơ bản về Chủ nghĩa xã hội và một số chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước để HS có thể xác định được trách nhiệm công dân đối với việc xây dựng và bảo vệ Tổ quốc

Phần thứ năm: Công dân với pháp luật.

Cung cấp những hiểu biết cơ bản về bản chất, vai trò và nội dung của pháp luật trong một số lĩnh vực của đời sống xã hội nhằm giúp HS có thể chủ động, tự giác điều chỉnh hành vi của cá nhân và đánh giá được hành vi của người khác theo quyền và nghĩa vụ của công dân trong giai đoạn xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Ngoài những bài học chính trong SGK, chương trình còn dành một số thời gian cho các hoạt động thực hành, ngoại khóa về các vấn đề gắn với tình hình địa phương Để thực hiện nội dung và hình thức của các hoạt động này, GV cần căn cứ vào các phong trào chính trị - xã hội lớn của Đảng và Nhà nước nhằm phục vụ mục tiêu của môn học

Năm phần trong chương trình trên đây có quan hệ chặt chẽ với nhau, đồng thời có quan hệ với chương trình môn GDCD theo nguyên tắc tích hợp, đồng tâm

1.1.3.1 Sự cần thiết của việc kết hợp

Trang 24

Sự cần thiết phải phối hợp các PPDH với nhau xuất phát từ những nguyên nhân sau:

Thứ nhất: Xuất phát từ thực trạng đổi mới PPDH của bộ môn GDCD hiện nay.

Định hướng đổi mới PPDH đã được xác định trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa VII (1/1993), Nghị quyết Trung ương 2 khóa VIII (12/1996), được thể chế hóa trong luật Giáo dục (2005), được cụ thể hóa trong các chỉ thị của Bộ GD - ĐT, đặc biệt chỉ thị số 14 (4/1999)

Tại khoản 2 điều 28 Luật giáo dục đã quy định rõ: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của HS; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện

kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho HS.”[ 36, 8]

Tại hội thảo “Đánh giá hiệu quả dạy học môn GDCD” tháng 4 năm 2009,

Bộ GD – ĐT nhận định: “Về PPDH: GV dạy GDCD đã có nhiều cố gắng trong việc đổi mới PPDH Tuy nhiên, hiện tượng dạy học lệ thuộc vào SGK và GV còn phổ biến Việc rèn luyện kĩ năng và giáo dục thái độ và hành vi của HS trong dạy học môn GDCD thực hiện chưa đạt yêu cầu đề ra của chương trình” [14, 5]

Trên thực tế hiện nay, việc đổi mới PPDH bộ môn đã được quan tâm thực hiện và bước đầu mang lại những hiệu quả nhất định nhưng vẫn còn tồn tại những hạn chế nêu trên là do nhiều nguyên nhân như: Nội dung của bộ môn GDCD ở cấp THPT mang nặng tính chính trị, nhiều bài tương đối dài và khó hiểu nhưng thời lượng thì ít nên GV khó có thể triển khai thực hiện các PPDH theo hướng đổi mới; Nhận thức của một bộ phận GV về đổi mới PPDH còn chưa đầy đủ như cho rằng đổi mới PPDH là loại bỏ hoàn toàn các PPDH truyền thống và chỉ sử dụng PPDH theo hướng hiện đại hoặc đồng nghĩa đổi mới phương pháp với đổi mới phương

Trang 25

tiện, thiết bị dạy học, nên cho rằng khi có đầy đủ phương tiện, thiết bị dạy học hiện đại thì đã đổi mới được phương pháp Xuất phát từ nguyên nhân trên, tác giả nhận thấy cần phải nhanh chóng đẩy mạnh quá trình đổi mới PPDH môn GDCD trong nhà trường THPT hiện nay.

Thứ 2: Xuất phát từ quan điểm: Dạy học tích cực và phương pháp dạy học truyền thống không đối lập nhau.

Một câu hỏi nữa lại được đặt ra “Dạy học tích cực” có đoạn tuyệt với PPDH truyền thống không? Phải chăng trong dạy học tích cực thầy giáo chỉ là người định hướng, đạo diễn cho HS tự khám phá tìm ra chân lí thì PPDH truyền thống không còn cần thiết?

Trước hết, chúng ta thừa nhận cần phải đổi mới PPDH theo hướng tích cực hóa hoạt động học tập của HS nhưng nếu loại bỏ tất cả mọi PPDH truyền thống là suy nghĩ chưa phù hợp

Chính nhà nghiên cứu thừa nhận vai trò định hướng đạo diễn của GV cũng đồng thời thừa nhận vai trò trọng tài không thể thay thế được của người thầy – thầy phải kết luận, phải khẳng định về mặt khoa học các cuộc tranh luận của HS Khi cuộc tranh luận của người học chưa đạt được ý kiến thống nhất về tính đúng đắn của tri thức đang tìm hiểu, hoặc quá trình tranh luận đi lệch hướng Trong lúc này không thể thiếu vai trò của người thầy là người trọng tài khoa học Thầy là người kết luận có tính khẳng định về mặt khoa học các cuộc tranh luận ở tập thể lớp, giúp người học xử lí đúng đắn các tình huống phức tạp nổi lên trong quá trình hoạt động học tập Người GV không thể hoàn thành vai trò trọng tài chỉ bằng một cách đơn giản khẳng định: đúng, sai, đồng ý, không đồng ý mà để kết luận được vấn đề một cách thuyết phục, GV phải giải thích, chứng minh, phân tích, tổng hợp, quy nạp, diễn dịch, nêu vấn đề, kết hợp với các phương tiện trực quan Đây chính là

Trang 26

những phương pháp mà GV sử dụng để giảng bài Như vậy, dạy học tích cực cũng không thể không sử dụng các PPDH truyền thống.

Thứ 3: Xuất phát từ mục tiêu dạy học môn GDCD.

Mục tiêu dạy học trên lớp, GV thường sử dụng loại bài hỗn hợp, đây là loại bài học nhằm đạt được nhiều mục tiêu khác nhau Và một điều đương nhiên là với mục đích dạy học khác nhau thì cũng phải sử dụng PPDH khác nhau

Mục tiêu môn GDCD ở trường THPT cung cấp cho HS những kiến thức, kỹ năng và hình thành thái độ về một số vấn đề cơ bản của đạo đức, pháp luật, lối sống,….“Môn GDCD trường THPT không những trang bị cho HS những kiến thức phổ thông, cơ bản, phù hợp với lứa tuổi HS (về các giá trị đạo đức, pháp luật, lối sống) mà còn hình thành và phát triển ở các em những tình cảm, niềm tin, những hành vi và thói quen phù hợp với những giá trị đã học; giúp HS có sự thống nhất cao giữa ý thức và hành vi” [14, 25]

Do vậy, yêu cầu đặt ra là phải làm như thế nào để khai thác tối đa năng lực của HS, vận dụng những kiến thức đã học vào thực tiễn, đồng thời áp dụng những kinh nghiệm, kiến thức mà các em đã có trong cuộc sống và được học từ các môn

học khác để hiểu bài dễ dàng hơn và khắc sâu kiến thức đã học

Hơn nữa, “Quá trình dạy học môn GDCD là quá trình khai thác tiềm năng và phát triển tâm lực của HS, phát triển tính tích cực hoạt động nhận thức và năng lực

tự hoàn thiện của HS” [10, 24] Muốn thực hiện được mục tiêu trên việc đổi mới PPDH theo hướng hiện đại là yêu cầu tất yếu vì với các PPDH truyền thống thì người dạy vẫn giữ vai trò chủ đạo, người học chỉ có thể tiếp thu kiến thức một chiều, thụ động nên không thể phát huy được tính tích cực, sáng tạo của mình do đó hạn chế trong việc phát triển hoàn thiện bản thân

Thứ 4: Xuất phát từ nội dung dạy học môn GDCD.

Trang 27

Nội dung dạy học là yếu tố trực tiếp quy định PPDH Hoạt động dạy và học diễn ra trên nền tảng của nội dung dạy học Mọi PPDH đều phụ thuộc vào nó Nguyên lí phổ biến nhất ở đây là: PPDH phải phù hợp với nội dung dạy học Với đặc thù kiến thức bộ môn GDCD là trừu tượng, khó tiếp thu; là kiến thức khá mới đối với HS để giúp HS hiểu được các nội dung đó rất cần phải có sự hướng dẫn của

GV, và PPTT là một trong những PPDH được xem là phù hợp và mang lại hiệu quả cao nhất trong việc giảng dạy hệ thống các khái niệm, phạm trù và các quy luật

Bên cạnh đó, nó cũng gắn liền với thực tiễn cuộc sống, phù hợp với trình độ nhận thức của HS THPT Cho nên trên cơ sở những kiến thức đã học ở lớp dưới và những kinh nghiệm trong cuộc sống của mình, HS hoàn toàn có thể hiểu được nội dung bài học và vận dụng vào thực tiễn dưới sự hướng dẫn, gợi ý của GV

Tuy nhiên, với những kiến thức mang tính hệ thống, nếu chỉ sử dụng PPTT

sẽ gây nhàm chán, thiếu sự thu hút đối với HS Theo các kết quả nghiên cứu gần đây cho thấy, thông thường con người chỉ nhớ: 10% những gì họ đọc, 20% những

gì họ nghe, 30% những gì họ thấy, 50% những gì họ nghe và thấy, 80% những gì

họ nói, 90% những gì họ nói và làm, tức là khi họ tự khám phá Vì vậy, nếu người thầy tạo được cảm xúc, sự tò mò, ham thích thì tính tích cực của HS sẽ được kích thích và thúc đẩy Trò chơi không những giúp HS gần gũi, cởi mở và tạo sự chú ý của HS đối với nội dung bài giảng, mà còn khuyến khích HS tiếp thu bài một cách

tự nhiên, không gượng ép và khô cứng Từ đó, nó thúc đẩy HS hành động, áp dụng bài học vào thực tiễn Chính vì vậy, việc vận dụng PPTCTCHT là rất cần thiết

Có thể thấy rằng, trong dạy học môn GDCD thì việc kết hợp các PPTT và PPTCTCHT là vô cùng cần thiết, vừa truyền đạt kiến thức bộ môn, vừa phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS góp phần nâng cao hiệu quả dạy học môn GDCD trong nhà trường phổ thông

Thứ 5: Xuất phát từ mối quan hệ biện chứng giữa PPTT và PPTCTCHT.

Trang 28

Mỗi PPDH đều có những ưu và nhược điểm khác nhau, không có phương pháp nào là vạn năng Cho nên, khi sử dụng phối hợp các phương pháp thì ưu điểm của phương pháp này sẽ bổ sung, hỗ trợ cho nhược điểm của phương pháp kia tạo nên sức mạnh tổng hợp về sử dụng phương pháp nhằm đạt hiệu quả cao nhất trong quá trình giảng dạy.

Xuất phát từ những ưu điểm, hạn chế của PPTT và PPTCTCHT cho thấy việc kết hợp hai phương pháp này với nhau là cần thiết để chúng có thể hỗ trợ lẫn nhau, giúp phát huy ưu điểm và khắc phục hạn chế ở mỗi phương pháp

Muốn thực hiện được một buổi học với PPTCTCHT có hiệu quả thì nhất thiết phải có sự hỗ trợ của PPTT để giới thiệu, tổ chức, hướng dẫn HS tham gia trò chơi, khái quát, kết luận những vấn đề đã nêu cũng như những vấn đề phát sinh Đồng thời PPTT cũng giúp truyền thụ kiến thức mang tính hệ thống, giúp bổ sung nhược điểm cho PPTCTCHT

Nếu PPTT dễ mang đến sự nhàm chán trong quá trình dạy học thì PPTCTCHT sẽ tạo nên không khí học tập thoải mái, vui tươi, giúp HS tự tin trình bày hiểu biết, suy nghĩ của mình về những vấn đề trong nội dung bài học PPTCTCHT hỗ trợ rất nhiều cho PPTT nhằm tích cực hóa hoạt động nhận thức của

HS Với PPTCTCHT, GV có thể khuyến khích HS tìm tòi, suy nghĩ, phát hiện vấn

đề mới, nhờ vậy HS hiểu và ghi nhớ bài sâu sắc hơn, PPTCTCHT giúp tiết học trở nên sinh động, thu hút được sự tham gia tích cực của HS Khắc phục được lối truyền đạt một chiều từ phía người dạy của PPTT;

Kết hợp PPTT và PPTCTCHT góp phần đổi mới PPTT Lúc này PPTT không chỉ đơn giản là sự truyền đạt tri thức mà còn được sử dụng để hướng dẫn HS cách thức làm việc, gợi ý một số tư liệu phục vụ cho quá trình học tập Đặc biệt là lời giảng của GV trở nên có hiệu quả, được HS chú ý tiếp thu khi làm nhiệm vụ lý giải, phân xử những tranh luận giữa các đội chơi và kết luận lại nội dung chính

Trang 29

Thứ 6: Xuất phát từ đặc điểm tâm lý HS THPT.

Ở mỗi độ tuổi khác nhau, sự tập trung chú ý của con người vào một hoạt động nào đó với thời gian ngắn dài cũng không giống nhau Đối với HS THPT, trung bình sức tập trung chú ý của các em vào một hoạt động học tập khoảng 15 phút Cho nên, nếu biết thay đổi PPDH kịp thời thì sự tập trung chú ý của HS mới được tiếp tục duy trì trong cả quá trình học

Cùng với sự phát triển về mặt thể lực, tâm sinh lý, ở HS THPT đã có sự thay đổi rất lớn về mặt tư duy Các em có khả năng phỏng đoán và giải quyết vấn đề một cách rất nhanh Các em có khả năng tư duy lý luận, tư duy trừu tượng một cách độc lập sáng tạo hơn Tư duy của các em mang tính logic chặt chẽ và tính nhất quán hơn, đồng thời tính phê phán của tư duy cũng phát triển mạnh mẽ Đây là điều kiện thuận lợi để chúng ta có thể phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo của các em trong học tập Tuy nhiên ở một số HS vẫn còn nhược điểm là chưa phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của bản thân, còn kết luận vội vàng theo cảm tính,… Vì vậy, GV cần hướng dẫn, giúp đỡ các em tư duy một cách tích cực độc lập để phân tích, đánh giá để tự rút ra kết luận đúng đắn

Trên cơ sở những vấn đề đã phân tích cho thấy, việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT một cách hợp lý sẽ giúp các em phát huy hết năng lực độc lập suy nghĩ của mình, nhìn nhận và đánh giá các vấn đề một cách khách quan Đồng thời,

GV có thể định hướng cho các em trong quá trình nhận thức

1.1.3.2 Các nguyên tắc chỉ đạo việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong giảng dạy môn Giáo dục công dân và các điều kiện để vận dụng

Trong bất kì hoạt động dạy học nào, người GV phải tuân thủ theo những nguyên tắc dạy học cơ bản Việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT trong giảng dạy bộ môn GDCD, theo tác giả cần tuân thủ theo các nguyên tắc cơ bản của nó

Trang 30

- Nguyên tắc 1: Đảm bảo sự thống nhất giữa tính khoa học và tính giáo dục

trong dạy học.

Trong quá trình kết hợp PPTT và PPTCTCHT GV cần chú ý đảm bảo phải trang bị cho HS những tri thức lí luận khoa học chân chính, phản ánh những thành tựu khoa học, công nghệ và văn hoá hiện đại Dần dần hình thành trong các em thói quen suy nghĩ, làm việc một cách khoa học Qua đó dần dần hình thành cơ sở thế giới quan khoa học, tình cảm và những phẩm chất đạo đức cao quý của con người hiện đại

- Nguyên tắc 2: Đảm bảo sự thống nhất giữa lý luận và thực tiễn, học đi đôi

với hành, nhà trường gắn liền với đời sống, với những nhiệm vụ phát triển của đất nước

Trên cơ sở cung cấp cho HS những tri thức khoa học một cách có hệ thống, thông qua đó giúp HS ý thức được giá trị thực tiễn của tri thức ấy Từ đó, đưa những tri thức ấy vận dụng vào đời sống, thực tiễn xây dựng và bảo vệ đất nước, hình thành cho họ kỹ năng vận dụng chúng ở các mức độ khác nhau

- Nguyên tắc 3: Đảm bảo tính hệ thống và tính tuần tự trong dạy học.

Trong quá trình kết hợp PPTT và PPTCTCHT vào giảng dạy bộ môn GDCD, phải làm cho người học lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo trong mối liên hệ logic và tính kế thừa, phải giới thiệu cho họ hệ thống những tri thức khoa học hiện đại, mà hệ thống đó được xác định không chỉ nhờ vào cấu trúc của logic khoa học mà cả tính tuần tự phát triển những khái niệm và định luật trong ý thức của HS

- Nguyên tắc 4: Đảm bảo sự thống nhất giữa tính tự giác, tính tích cực, tính

độc lập, sáng tạo của HS và vai trò chủ đạo của GV trong quá trình dạy học.

Trong QTDH phải phát huy cao độ tính tự giác, tính tích cực, tính độc lập, sáng tạo của người học và vai trò chủ đạo của GV, tạo nên sự cộng hưởng của hoạt

Trang 31

động dạy và học Tổ chức trò chơi phải kích thích được sự chủ động, tích cực của học sinh khi tham gia, đồng thời không thể tách rời vai trò chủ đạo của người thầy.

- Nguyên tắc 5: Đảm bảo sự thống nhất giữa tính trực quan với sự phát triển

tư duy lý thuyết.

Khi sử dụng PPTT và PPTCTCHT có thể cho HS tiếp xúc trực tiếp với sự vật, hiện tượng hay hình tượng của chúng, từ đó hình thành những khái niệm, quy luật, lý thuyết; hoặc ngược lại, có thể bắt đầu từ việc lĩnh hội những tri thức lý thuyết trước rồi xem xét những sự vật, hiện tượng cụ thể sau Khi vận dụng nguyên tắc này người GV phải chú ý luôn đảm bảo mối quan hệ qua lại giữa tư duy cụ thể

và tư duy trừu tượng Những trò chơi, những tranh ảnh, đồ dùng dạy học phải phù hợp với nội dung cần truyền tải để giúp HS hình thành tư duy lý thuyết một cách dễ dàng

- Nguyên tắc 6: Đảm bảo tính vững chắc của tri thức và sự phát triển năng

lực nhận thức của HS.

Trong QTDH phải làm cho HS nắm vững nội dung bài dạy với sự căng thẳng tối đa tất cả trí lực của họ, đặc biệt là sự tưởng tượng, trí nhớ, tư duy sáng tạo, năng lực huy động tri thức cần thiết để thực hiện hoạt động nhận thức - học tập đề ra

- Nguyên tắc 7: Đảm bảo tính vừa sức và chú ý tới những đặc điểm lứa tuổi,

đặc điểm cá biệt và tính tập thể của việc dạy học.

Trong QTDH, khi lựa chọn nội dung, phương pháp phải nâng dần độ khó trong từng đơn vị kiến thức, song không nên tạo sự căng thẳng về mặt trí lực, thể lực cho HS Cần đặc biệt chú ý đến đảm bảo phù hợp với đặc điểm lứa tuổi, giới tính và đặc điểm cá biệt của từng đối tượng HS

- Nguyên tắc 8: Đảm bảo tính cảm xúc tích cực của việc dạy học.

Quá trình dạy học theo cách kết hợp PPTT và PPTCTCHT, người GV phải tạo cho HS những cảm xúc tích cực, khơi gợi cho các em sự tò mò, cuốn hút, hứng

Trang 32

thú, lòng ham hiểu biết và có tác động mạnh mẽ đến tình cảm của họ Ví dụ như ở bài 12 chương trình GDCD 10: Công dân với sự nghiệp xây dựng tổ quốc GV sử dụng trò chơi vẽ tranh phối hợp với thuyết trình về bức tranh do các em vẽ, với chủ

đề “Tôi yêu quê tôi!” hay “Tình yêu quê hương qua nét vẽ học trò” Qua đó, giúp

các em hứng thú hơn đối với nội dung bài học

- Nguyên tắc 9: Chuyển quá trình học sang quá trình tự học.

Hình thành cho HS nhu cầu, năng lực, phẩm chất tự học để có thể chuyển dần quá trình dạy học sang quá trình tự học Có nghĩa là người học có thể tự mình tìm ra kiến thức, tự thể hiện mình và hợp tác với bạn, tự tổ chức hoạt động học tập, biết cách tự kiểm tra, tự đánh giá, tự điều chỉnh hoạt động học tập của chính bản thân mình Các nguyên tắc dạy học có mối liên quan mật thiết với nhau Nội dung của từng nguyên tắc đan kết với nhau, hỗ trợ nhau nhằm chỉ đạo quá trình dạy học đạt được hiệu quả

* Một số điều kiện để vận dụng việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT trong giảng dạy bộ môn GDCD trong trường THPT.

Để việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT có thể phát huy hiệu quả một cách tốt nhất thì đòi hỏi phải đảm bảo một số điều kiện cần thiết

- Sự quan tâm của lãnh đạo (LĐ) các cấp:

Phát biểu về điều này, Phó Thủ tướng, Bộ trưởng Bộ GD - ĐT Nguyễn Thiện Nhân đã nói: “Đã đến lúc chúng ta không thể để GV đơn độc và tự bơi trong quá trình đổi mới Phải cụ thể hoá khái niệm “dạy tốt” và xem lại việc công nhận GV dạy giỏi như hiện nay Không thể đạt danh hiệu “GV dạy giỏi” chỉ qua giờ lên lớp của một cuộc thi nào đó GV giỏi trong cách nhìn nhận mới chắc chắn phải là tấm gương về đổi mới PPDH” [40, 2]

Để có thể góp phần thực hiện việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT trong dạy học môn GDCD trong trường THPT đạt hiệu quả cao cần phải có sự quan tâm, chỉ

Trang 33

đạo của các cấp LĐ, đặc biệt là Ban giám hiệu (BGH) nhà trường Bởi vì các cấp

LĐ và BGH nhà trường có vai trò chỉ đạo, hướng dẫn, tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát việc đổi mới, đồng thời khuyến khích GV thực hiện đổi mới dưới nhiều hình thức khác nhau

1.2 Cơ sở thực tiễn của việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp tổ chức trò chơi học tập trong dạy học môn Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông Phú Tân

1.2.1 Vài nét về trường Trung học phổ thông Phú Tân

Huyện Phú Tân được tái lập vào đầu năm 2004 theo Nghị định số 138/2003/NĐ - CP ngày 17/11/2003 của Chính phủ (điều chỉnh địa giới huyện Cái Nước để thành lập huyện Phú Tân) Gồm các xã Phú Mỹ, Phú Tân, Phú Thuận, Tân Hải, Việt Thắng, Tân Hưng Tây, Nguyễn Việt Khái, Rạch Chèo và thị trấn Cái Đôi Vàm Theo địa giới hành chính: huyện Phú Tân nằm ở phía Tây Nam của tỉnh Cà Mau; Phía Đông giáp huyện Cái Nước; phía Tây giáp Vịnh Thái Lan, phía Nam giáp huyện Năm Căn, phía Bắc giáp huyện Trần Văn Thời Diện tích tự nhiên 46.433 ha với tổng số dân là 103.508 người Có bờ biển dài 27km, chiếm 10,6% chiều dài bờ biển toàn tỉnh, chạy dài từ cửa Mỹ Bình đến cửa sông Bảy Háp Vùng biển của huyện Phú Tân (Vịnh Thái Lan) thuộc miền thềm lục địa nước nông Thủy hải sản là một trong những nguồn tài nguyên quan trọng của biển, khai thác hải sản đang là một trong các ngành kinh tế chủ lực của huyện Trong quy hoạch phát triển kinh tế biển của tỉnh Cà Mau, khu vực cửa Cái Đôi Vàm của huyện Phú Tân là một trong số các cụm kinh tế thủy sản ven biển, có số lượng tàu

cá neo đậu khá lớn

Trang 34

Trường THPT Phú Tân được thành lập theo quyết định số 106/QĐ – UBND ngày 16/6/2006 của chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Cà Mau Nằm trên địa bàn thị trấn Cái Đôi Vàm là trung tâm kinh tế, chính trị, văn hóa của huyện Phú Tân.

Trên cơ sở nâng cấp Trường trung học cơ sở Cái Đôi Vàm, từ ngôi trường với các phòng học cấp 4 xuống cấp không đủ chỗ cho học, trang thiết bị dạy học thiếu thốn, phòng thí nghiệm - thực hành không có Trải qua 7 năm xây dựng và trưởng thành, hiện nay, nhà trường đã trang bị được hệ thống cơ sở vật chất tương đối đảm bảo với 15 phòng học, 3 phòng thí nghiệm, 1 phòng máy chiếu, 1 phòng y

tế, 1 phòng thư viện, 1 phòng thiết bị, có cổng, hàng rào, sân chơi,…cùng với một

số trang thiết bị phục vụ nhu cầu học tập và giảng dạy của GV, HS

Khi mới thành lập, trường chỉ mới có 1 khối 10 với 278 HS và 24 CB, GV,

NV Năm học 2012 - 2013, trường có 678 HS Trong đó: khối 10 (7 lớp) với 349

HS, khối 11 (4 lớp) với 158 HS, khối 12 (5 lớp) với 171 HS Đội ngũ CB, GV, NV được nâng lên 49 người Mặc dù điều kiện công tác cũng như điều kiện của nhà trường còn nhiều khó khăn Nhưng tập thể CB, GV, NV và HS nhà trường luôn không ngừng phấn đấu, bồi dưỡng nâng cao chuyên môn nghiệp vụ Chất lượng giáo dục của nhà trường luôn đạt kết quả cao Đặc biệt từ năm học 2009 – 2010 đến nay, tỷ lệ học sinh đậu tốt nghiệp THPT đạt 100% Tỷ lệ học sinh đậu các trường Đại học – Cao đẳng là 24.5% Từ khi thành lập đến nay, nhà trường luôn chú trọng công tác giáo dục toàn diện, tập trung phấn đấu nâng cao chất lượng giáo dục Vì vậy, trong năm học 2012 – 2013 chất lượng đại trà ổn định và không ngừng đi lên

Tỷ lệ học sinh khá giỏi đạt: 19%

Công tác mũi nhọn cũng được nhà trường chú trọng và quan tâm Trong các

kì thi học sinh giỏi cấp tỉnh có 17 HS của trường đạt giải thuộc các môn Ngữ văn, Lịch sử, Địa lý, Anh văn, Casio Đó là bước khởi sắc và cũng là động lực để nhà trường cố gắng phát huy và khẳng định vị thế của mình trong tương lai

Trang 35

Cùng với thành tích về học tập, thì công tác Giáo dục thể chất – Thẩm mỹ Những năm qua, được sự quan tâm của Sở GD - ĐT, Huyện ủy, UBND huyện Phú Tân tập thể sư phạm của trường đã nỗ lực không ngừng để đưa nhà trường vững bước đi lên Từng bước đáp ứng nhu cầu học tập của con em địa phương và góp phần không nhỏ vào sự nghiệp giáo dục huyện nhà.

1.2.2 Thực trạng việc kết hợp phương pháp thuyết trình và phương pháp

tổ chức trò chơi học tập trong dạy học Giáo dục công dân ở trường Trung học phổ thông Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau

Đi vào tìm hiểu tình hình của việc dạy học kết hợp PPTT và PPTCTCHT trong dạy học môn GDCD tại trường THPT Phú Tân, huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau, chúng tôi tiến hành làm một số điều tra, thăm dò ý kiến của HS, GV dạy học môn GDCD và LĐ ở các trường THPT Phú Tân Kết quả thu được như sau:

Bảng tổng hợp ý kiến của HS (phụ lục số 1)

(Nguồn: Do tác giả điều tra, năm học 2012 – 2013, trường THPT Phú Tân)

2 Môn Giáo dục công dân có vị trí

như thế nào trong các môn học

mà em được học?

Rất quan trọng. 17 2,5

Quan trọng. 276 40,7

Không quan trọng. 385 56,8

3 Theo em kiến thức môn Giáo dục

công dân trong chương trình phổ

Trang 36

Cả 2 ý kiến trên. 102 15,0

4 Em có chuẩn bị bài GDCD trước

Thỉnh thoảng 195 28,8

Chưa bao giờ 397 58,6

5 Theo em, việc kết hợp PPTT và

PPTCTCHT trong một tiết dạy

GDCD sẽ ảnh hưởng như thế nào

đến việc tiếp thu bài?

(Nguồn: Do tác giả điều tra, năm học 2012 – 2013, trường THPT Phú Tân)

1 Theo thầy (cô), việc đổi mới

phương pháp dạy học đối với môn

GDCD là:

Rất cần thiết. 1 20

Không cần thiết. 0 0

2 Thầy (cô) đã thực hiện việc đổi

mới PPDH theo hướng phát huy

tính tích cực của HS như thế nào?

Rất chủ động. 1 20

3 Theo thầy (cô) thì việc kết hợp

linh hoạt giữa các phương pháp

trong giảng dạy GDCD là vấn đề:

Rất cần thiết. 0 0

Không cần thiết. 0 0

4 Thầy (cô) có kết hợp PPTT với

PPTCTCHT trong dạy môn

Trang 37

5 Việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT

trong giảng dạy môn GDCD đã

mang lại kết quả như thế nào?

6 Theo thầy (cô), việc kết hợp PPTT

và PPTCTCHT trong dạy học môn

phục vụ như thế nào cho quá trình

dạy học của thầy (cô)?

Không hiệu quả. 4 80

8 Trước khi soạn giáo án, thầy (cô) có

tham khảo giáo án của đồng nghiệp,

tài liệu có liên quan không?

Thường xuyên. 1 20

Thỉnh thoảng. 4 80

9 Thầy (cô) có thường xuyên dự giờ

đồng nghiệp để học hỏi kinh

(Nguồn: Do tác giả điều tra, năm học 2012 – 2013, trường THPT Phú Tân)

lời

Đồng ý

1 Theo thầy (cô), việc đổi mới

phương pháp dạy học đối với môn

GDCD là:

Rất cần thiết. 1 33,3

Không cần thiết. 0 0

2 Theo thầy (cô) việc thực hiện đổi

mới PPDH môn GDCD tại trường

THPT Phú Tân đã diễn ra?

Trang 38

4 Thầy (cô) có tổ chức các lớp tập

huấn, tổ chức chuyên đề cho GV

để phục vụ đổi mới PPDH không?

Thỉnh thoảng 3 100

Chưa bao giờ. 0 0

5 Thầy (cô) có cho tổ chức lấy ý kiến

học sinh, GV về hiệu quả của việc

đổi mới PPDH không?

Thường xuyên. 0 0

Thỉnh thoảng. 3 100

Chưa bao giờ. 0 0

6 Thầy (cô) có thường xuyên dự giờ

GV GDCD để kiểm tra, đánh giá

việc thực hiện đổi mới PPDH

* Nhận thức của cán bộ lãnh đạo.

- Ưu điểm:

Môn GDCD cũng như nhiều môn học khác đã được quan tâm nhiều hơn

Cụ thể tại trường THPT Phú Tân có 100% cán bộ LĐ cho rằng việc kết hợp PPDH

là cần thiết

Thường xuyên tổ chức các lớp bồi dưỡng, tập huấn về đổi mới PPDH, các lớp phổ cập tin học và được hướng dẫn cách soạn một bài giảng điện tử, cách thức ứng dụng các thiết bị hiện đại, CNTT vào quá trình dạy học Kết quả, GV đã biết ứng dụng CNTT và các thiết bị hiện đại vào việc soạn giảng và bước đầu đã mang

Trang 39

lại hiệu quả cao trong việc nâng cao hiệu quả dạy học cũng như việc đổi mới PPDH.

Ngoài ra, các trường THPT trong tỉnh Cà Mau hiện nay đã được Sở GD - ĐT trang bị máy chiếu, phòng nghe nhìn,… phục vụ cho công tác giảng dạy

lệ, khen thưởng kịp thời cho GV trong hoạt động đổi mới PPDH

Cơ sở vật chất phục vụ cho việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT chưa được quan tâm

Việc đổi mới PPDH môn GDCD nói chung, việc kết hợp PPTT và PPTCTCHT trong dạy học môn GDCD còn tồn tại nhiều hạn chế do nhiều nguyên nhân

- Nguyên nhân:

Những năm gần đây, ngành giáo dục đã rất quan tâm đổi mới giáo dục, trong

đó có đổi mới PPDH theo hướng phát huy tính tích cực, sáng tạo của HS, nhưng việc chỉ đạo kết hợp PPTT và PPTCTCHT trong dạy học môn GDCD thì vẫn khá mới mẻ, được quan tâm đến

Trên cơ sở chỉ đạo của Bộ GD - ĐT về đổi mới PPDH, Sở GD - ĐT tỉnh Cà Mau đã tổ chức các lớp tập huấn về đổi mới PPDH, trong có bộ môn GDCD để triển khai những kiến thức cơ bản về đổi mới theo quan điểm của BGD&ĐT, giúp giáo viên thực hiện tốt việc đổi mới PPDH phù hợp với từng đơn vị mình công tác; Tuy nhiên, khi được hỏi về hiệu quả các lớp tập huấn chuyên đề thì đa số các GV trả lời là nhìn chung các đợt tập huấn về đổi mới PPDH chưa mang lại hiệu quả

Trang 40

cao Cụ thể có 80% GV cho rằng các lớp tập huấn chưa thật sự hiệu quả, còn mang tính chung chung, tập trung vào các vấn đề mang tính lý thuyết là chủ yếu chưa đi sâu hướng dẫn GV cách thức thực hiện đổi mới sao cho phù hợp với từng phần đặc biệt là những phần có kiến thức mới và khó Đây là một trong những nguyên nhân làm cho việc đổi mới PPDH bộ môn đi vào chiều sâu và chưa mang lại hiệu quả như mong muốn.

Có thể thấy, lâu nay môn GDCD trong nhà trường phổ thông vẫn chưa được nhìn nhận đúng với vị trí xứng đáng của nó Phần lớn người ta vẫn xem nhẹ và coi

nó là môn học phụ, không cần thiết, bắt buộc thì học sinh phải học Người học luôn coi đó là một môn lí thuyết khô khan, dài dòng, giáo điều, vô bổ, nhàm chán LĐ các nhà trường không thực sự quan tâm, coi trọng Hiện nay BGH một số trường chưa quan tâm đến chất lượng bộ môn vì phải dành nhiều thời gian tập trung đầu tư cho các môn thi tốt nghiệp và các môn nằm trong các khối thi Đại học, Cao đẳng

* Nhận thức của GV.

- Ưu điểm:

Nhiều GV tích cực, mạnh dạn đi đầu trong việc đổi mới PPDH, đặc biệt là áp dụng những PPDH mới trong đó có kết hợp PPTT và PPTCTCHT Theo số liệu điều tra thì có 20% GV thường xuyên và 60% GV thỉnh thoảng có đổi mới PPDH cũng như kết hợp PPTT và PPTCTCHT trong dạy học môn GDCD

Việc thực hiện đổi mới PPDH bộ môn GDCD trong trường THPT Phú Tân (Mức độ khá, tốt là 66,7%)

- Hạn chế:

Một bộ phận GV chưa thực sự quan quan tâm đầu tư nâng cao chất lượng bộ môn

Ngày đăng: 18/05/2016, 12:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Trần Thị Hoàng Anh, tháng 1/2010, Trò chơi học tập, violet.com.vn Sách, tạp chí
Tiêu đề: Trò chơi học tập
2. Nguyễn Văn Bính (Chủ biên), (2009), Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa môn Giáo dục công dân lớp 11, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Bồi dưỡng giáo viên thực hiện chương trình, sách giáo khoa môn Giáo dục công dân lớp 11
Tác giả: Nguyễn Văn Bính (Chủ biên)
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2009
3. Phùng Văn Bộ, Phương pháp dạy học GDCD, NXB Đại học Quốc gia Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phương pháp dạy học GDCD
Nhà XB: NXB Đại học Quốc gia
4. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2009), Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục công dân, NXB Giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Chương trình giáo dục phổ thông môn Giáo dục công dân
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục Việt Nam
Năm: 2009
5. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2006), Giáo dục công dân 10, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2006
6. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2007), Giáo dục công dân 11, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2007
7. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2008), Giáo dục công dân 12, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo dục công dân 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2008
8. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2000), Hướng dẫn giảng dạy môn GDCD trung học phổ thông, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn giảng dạy môn GDCD trung học phổ thông
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2000
9. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2009); Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân trung học phổ thông, NXB giáo dục Việt Nam Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hướng dẫn thực hiện chuẩn kiến thức, kĩ năng môn Giáo dục công dân trung học phổ thông
Nhà XB: NXB giáo dục Việt Nam
10. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2012 – 2013, số 5289/BGDĐT- GDTrH Sách, tạp chí
Tiêu đề: 0. Bộ Giáo dục và Đào tạo, Hướng dẫn thực hiện nhiệm vụ GDTrH năm học 2012 – 2013
11. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2006), SGV Giáo dục công dân 10, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Giáo dục công dân 10
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2006
12. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2007), SGV Giáo dục công dân 11, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Giáo dục công dân 11
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
13. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2008), SGV Giáo dục công dân 12, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: SGV Giáo dục công dân 12
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2008
14. Bộ Giáo dục và Đào tạo, (2009), Tài liệu Bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên cốt cán trường THPT – Bộ môn Giáo dục công dân, Cần Thơ Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tài liệu Bồi dưỡng nâng cao năng lực giáo viên cốt cán trường THPT – Bộ môn Giáo dục công dân
Tác giả: Bộ Giáo dục và Đào tạo
Năm: 2009
15. Trần Văn Chương, (2006), Thực hành Giáo dục công dân 10, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Giáo dục công dân 10
Tác giả: Trần Văn Chương
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2006
16. Trần Văn Chương, (2007), Thực hành Giáo dục công dân 11, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Giáo dục công dân 11
Tác giả: Trần Văn Chương
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2007
17. Trần Văn Chương, (2008), Thực hành Giáo dục công dân 12, NXB GD Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thực hành Giáo dục công dân 12
Tác giả: Trần Văn Chương
Nhà XB: NXB GD
Năm: 2008
18. Nguyễn Văn Cư – Nguyễn Duy Nhiên, (2009), Dạy và học môn GDCD ở trường THPT - Những vấn đề lí luận và thực tiễn, NXB Đại học sư phạm Sách, tạp chí
Tiêu đề: Dạy và học môn GDCD ở trường THPT - Những vấn đề lí luận và thực tiễn
Tác giả: Nguyễn Văn Cư – Nguyễn Duy Nhiên
Nhà XB: NXB Đại học sư phạm
Năm: 2009
19. Nguyễn Nghĩa Dân, (2009), Đổi mới PPDH môn đạo đức và GDCD, NXB Giáo dục Sách, tạp chí
Tiêu đề: Đổi mới PPDH môn đạo đức và GDCD
Tác giả: Nguyễn Nghĩa Dân
Nhà XB: NXB Giáo dục
Năm: 2009
20. Hồ Thanh Diện, (2006), Thiết kế bài giảng GDCD 10, NXB Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thiết kế bài giảng GDCD 10
Tác giả: Hồ Thanh Diện
Nhà XB: NXB Hà Nội
Năm: 2006

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng tổng hợp ý kiến của HS (phụ lục số 1) - Ket hop PPTT va PP tro choi hoc tap trong day hoc mon GDCD tai truong THPT
Bảng t ổng hợp ý kiến của HS (phụ lục số 1) (Trang 35)
Bảng tổng hợp ý kiến của GV (phụ lục số 2) - Ket hop PPTT va PP tro choi hoc tap trong day hoc mon GDCD tai truong THPT
Bảng t ổng hợp ý kiến của GV (phụ lục số 2) (Trang 36)
Bảng tổng hợp ý kiến của LĐ (phụ lục số 3) - Ket hop PPTT va PP tro choi hoc tap trong day hoc mon GDCD tai truong THPT
Bảng t ổng hợp ý kiến của LĐ (phụ lục số 3) (Trang 37)
3. Hình thức: Thảo luận. - Ket hop PPTT va PP tro choi hoc tap trong day hoc mon GDCD tai truong THPT
3. Hình thức: Thảo luận (Trang 58)
Bảng 2.2: Tổng hợp thăm dò ý kiến HS về thái độ học tập của HS (Phụ lục số 4) - Ket hop PPTT va PP tro choi hoc tap trong day hoc mon GDCD tai truong THPT
Bảng 2.2 Tổng hợp thăm dò ý kiến HS về thái độ học tập của HS (Phụ lục số 4) (Trang 72)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w