II NÔI DUNG ĐỂ TÀI Tên đề tài: “ Rèn luyện kỹ năng vận dụng phép so sánh khi làm bài văn nghị luận” 1. Lý do , muc đích, yêu cầu của đề tài: Chúng ta đều biết ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu của loài người, là phương tiện phổ biến và thuận tiện nhất trong giao tiếp giúp chúng ta bày tỏ ý kiến, thái độ đánh giá riêng của mình. Nhưng không phải cứ có ngôn ngữ là chúng ta bày tỏ được ý kiến, thái độ, nhận xét cho người khác hiểu được một cách chính xác, sâu sắc và khoa học. Vì vậy chúng ta phải biết sử dụng ngôn ngữ như thế nào để đạt được mục đích giao tiếp bày tỏ thái độ, ý kiến của inình sao cho người .khác hiểu được. Mặt khác ngôn ngữ cũng là công cụ giúp tư duy phát triển nếu người giao tiếp sử dụng thành công nó. Hiểu được vai trò vô cùng quan trọng đó của ngôn ngữ, ngành giáo dục đào tạo nước ta đã đổi mới về chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh tiếp nhận sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả nhất, qua đó nhằm sáng tạo tư duy của các em theo trình độ phù hợp mọi cấp học. Cùng với các phân môn khác, phân môn ngữ văn trong trường THCS cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc hình thành tư duy cho học sinh, trang bị cho học sinh công cụ giao tiếp để tiếp nhận, diễn đạt những kiến thức khoa học nắm bắt được từ nhà trường, ngoài xã hội và cuộc sống. Do vậy khi dạy học môn ngữ vãn trong nhà trường cần coi trọng việc dạy học văn bản và tạo lập văn bản, bởi văn bản là sản phẩm tổng hợp nhất, là tấm gương phản ánh năng lực của học sinh và để phát triển tư duy, hình thành kỹ năng cơ bản để viết đoạn văn. Văn bản cần phải đi từ dễ đến khó: bắt đầu là loại văn sáng tác ( tự sự, miêu tả ), tiếp đến là biểu cảm, thuyết minh và cao hơn nữa là văn nghị luận. Có thể nói trong chương trình ngữ văn THCS kiểu bài giải thích, chứng minh( lóp 7, lớp 8) đều thuộc văn nghị luận, nhưng lên lớp 9 các em được học dạng văn nằy ở mức sâu hơn, phong phú hơn và đòi hỏi kỹ năng, tư duy của các em ở mứccao hơn. Văn nghị luận trong Ngữ văn 9 có 3 dạng : Nghị luận về một sự việc, hiện tượng đời sống, nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý, nghị luận về văn học ( nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ ). Nghị luận dù ở dạng nào cũng là phản ánh, đánh giá, nhận xét, bàn luận của người viết về một vấn đề, hiện tượng nào đó trong đời sống xã hội, đời sống văn học.
Trang 1ỦY BAN NHÂN DÂN HUYỆN HOÀI ĐỨC
- -SÁNG KIẾN KINH NGHIỆM
ĐỀ TÀI :
“ Rèn luyện cho học sinh kỹ năng vận dụng phép so sánh khi
làm bài văn nghị luận văn học ”
TÀI LIỆU KÈM THEO : ĐĨA CD MINH HỌA
Năm học 2014 - 2015
Mã SKKN
( Dùng cho hội đồng chấm của sở)
Trang 2II- NÔI DUNG ĐỂ TÀI Tên đề tài: “ Rèn luyện kỹ năng vận dụng phép so sánh khi làm bài văn nghị luận”
1 Lý do , muc đích, yêu cầu của đề tài:
Chúng ta đều biết ngôn ngữ là sự sáng tạo kỳ diệu của loài người, là phương tiện phổ biến và thuận tiện nhất trong giao tiếp giúp chúng ta bày tỏ ý kiến, thái độ đánh giá riêng của mình
Nhưng không phải cứ có ngôn ngữ là chúng ta bày tỏ được ý kiến, thái độ, nhận xét cho người khác hiểu được một cách chính xác, sâu sắc và khoa học Vì vậy chúng ta phải biết sử dụng ngôn ngữ như thế nào để đạt được mục đích giao tiếp bày tỏ thái độ, ý kiến của inình sao cho người khác hiểu được
Mặt khác ngôn ngữ cũng là công cụ giúp tư duy phát triển nếu người giao tiếp sử dụng thành công nó
Hiểu được vai trò vô cùng quan trọng đó của ngôn ngữ, ngành giáo dục đào tạo nước ta đã đổi mới về chương trình sách giáo khoa, đổi mới phương pháp dạy học giúp học sinh tiếp nhận sử dụng ngôn ngữ một cách hiệu quả nhất, qua đó nhằm sáng tạo tư duy của các em theo trình độ phù hợp mọi cấp học
Cùng với các phân môn khác, phân môn ngữ văn trong trường THCS cũng đóng góp một phần quan trọng trong việc hình thành tư duy cho học sinh, trang bị cho học sinh công cụ giao tiếp để tiếp nhận, diễn đạt những kiến thức khoa học nắm bắt được từ nhà trường, ngoài xã hội và cuộc sống Do vậy khi dạy học môn ngữ vãn trong nhà trường cần coi trọng việc dạy học văn bản và tạo lập văn bản, bởi văn bản là sản phẩm tổng hợp nhất, là tấm gương phản' ánh năng lực của học sinh và để phát triển tư duy, hình thành kỹ năng cơ bản để viết đoạn văn Văn bản cần phải đi từ dễ đến khó: bắt đầu là loại văn sáng tác ( tự sự, miêu tả ), tiếp đến là biểu cảm, thuyết minh và cao hơn nữa là văn nghị luận
Có thể nói trong chương trình ngữ văn THCS kiểu bài giải thích, chứng minh( lóp 7, lớp 8) đều thuộc văn nghị luận, nhưng lên lớp 9 các em được học dạng văn nằy ở mức sâu hơn, phong phú hơn và đòi hỏi kỹ năng, tư duy của các
em ở mứccao hơn Văn nghị luận trong Ngữ văn 9 có 3 dạng : Nghị luận về một
Trang 3sự việc, hiện tượng đời sống, nghị luận về một vấn đề tư tưởng đạo lý, nghị luận
về văn học ( nghị luận về tác phẩm truyện hoặc đoạn trích, nghị luận về một đoạn thơ, bài thơ ) Nghị luận dù ở dạng nào cũng là phản ánh, đánh giá, nhận xét, bàn luận của người viết về một vấn đề, hiện tượng nào đó trong đời sống xã hội, đời sống văn học
Là một giáo viên trực tiếp giảng dạy ngữ văn 9, tôi nhận thấy khi các em tiếp xúc với văn nghị luận còn nhiều bỡ ngỡ vì đối vói các em, các em mới được làm quen với loại văn này Mặt khác'những vấn đề yêu cầu cần có để-viết tốt bài văn nghị luận với học sinh THCS còn hạn chế vì vốn sống thực tế còn nghèo nàn, vốn hiểu biết văn hoá, phong tục, tập quán trong xã hội, vốn lập luận còn non nớt , các em ít quan tâm đến tính chặt chẽ, lôgic trong văn nghị luận Nhưng nói như thế cũng không có nghĩa là các em không thể tiếp xúc tạo lập được loại văn bản này nếu có sự hướng dẫn cụ thể, khoa học Yai trò của người giáo viên
là cần thiết phải dưa ra những định hướng để giúp các em hình thành kỹ năng và biết vận dụng những phương pháp vốn dĩ đã rất quen thuộc với các em trong văn nghị luận Một trong những phương pháp đó là phép so sánh
Trong văn nghị luận so sánh là một thao tác không thể thiếu Nghị luận dù
ở dạng nào cũng phải có thao tác này Từ kinh nghiệm thực tế giảng dạy của bản thân, không ngừng nghiên cứu tài liệu và học hỏi đồng nghiệp, toi đã rút ra một
số kinh mghiệm trong việc rèn luyện kỹ năng vận dụng phép so sánh cho học sinh khi làm bài văn nghị luận, ỏ' đây tôi chỉ xin đưa ra dạng làm bài nghị luận văn học
2 Pham vi và thời gian thưc hiên để tài:
* Phạm vi: Người viết chỉ đề cập vào một vấn đề nhỏ nhưng thiết thực trong quá trình giảng dạy tập làm văn phần “Nghị luận văn học”
* Thời gian thực hiện: Ra đời và thực hiện trong năm học 2014- 2015 quá trình tôi giảng dạy ngữ văn lớp 9
III - QUÁ TRÌNH THỰC HIỆN ĐỂ TÀI
1 Thưc trang khi chưa thưc hiên:
Học sinh viết bài sơ sài, không biết vận dụng so sánh khi làm bài văn
Trang 4nghị luận, không nắm được chính xác nội dung từng giai đoạn văn học nên không biết liên hệ giữa văn bản này với văn bản khác Bài viết thiếu sinh động, hấp dẫn, dẫn chứng hẹp trong phạm vi một tác phẩm Cá biệt có một số học sinh vận dụng so sánh khi viết văn nhưng rất khập khiễng, thiếu logic
2 Số liệu điều tra
Sĩ số HS không
vận dụng so sánh
HS có vận dụng so sánh nhưng chưa logic
HS vận dụng so sánh và diễn đạt đúng
HS vận dụng so sánh và diễn đạt hay
3, Biên pháp thưc hiên đề tài:
Trong nghị luận văn học, biện pháp so sánh có tác dụng làm nổi bật, khắc đậm cái hay, cái riêng, tính mói lạ chưa từng thấy của vấn đề, của đối tượng đang phân tích Mặt khác nhờ mở rộng so sánh câu văn sẽ bót đơn điệu, nặng nề, trở nên thoáng, sinh động hơn
Khi rèn cho các em kỹ năng vận dụng phương pháp so sánh khi làm bài nghị luận văn học, tôi đã chia ra một số kiểu so sánh sau:
a, So sánh bằng cách đặt đối tượng phân tích, bàn luận ( từ ngữ, hình ảnh, chi tiết ) trong tiến trình thòi gian, liên hệ so sánh cách thê hiện nó trong văn chương thời kỳ trước hoặc sau đó
Ví dụ:khi phân tích hình ảnh người chiến sĩ lái xe trên tuyến đường Trường Sơn qua văn bản :”Bài thơ về tiểu đội xe không kính”của Phạm Tiến Duật ta có thể so sánh với hình ảnh anh vệ quốc trong thơ ca kháng chiến chống Pháp qua văn bản Đồng chí ” của Chính Hữu:
“ Cái bắt tay của người lính lái xe Trường Sơn như truyền cho nhău sức mạnh, họ truyền cho nhău cả niềm tin và niềm hy vọng về chiến thắng ngày mai” Bắt tay nhau qua cửa kính vỡ rồi” Đó chính là sự đoàn kết, sẻ chia tình đồng chí, đồng đội gắn bó keo sơn của ngừơi lính trong hoàn cảnh ác liệt của chiến tranh Cái bắt tay ấy khiến người đọc nhớ đến hình ảnh những anh vệ quốc
Trang 5quân trong bài thơ “ Đồng Chí” của Chính Hữu: ‘ Thương nhau tay nắm lấv bàn tay” Từ thời kháng chiến chống Pháp, Chính Hữu đã cho ta hiểu phẩm chất đẹp
đẽ của người lính như thế Yà tình cảm cao đẹp ấy một lần nữa được Phạm Tiến Duật khẳng định, nó như một yếu tố giúp các anh làm lên chiến thắng vẻ vang
Với kiểu so sánh như trên, học sinh có cái nhìn xuyên suốt về hình ảnh người lính trong thơ ca kháng chiến với những phẩm chất cao đẹp
Hoặc với đề bài: Phân tích bút pháp xây dựng hình ảnh thơ trong bài thơ” ánh trăng ” của Nguyễn Duy
Chúng ta đều biết hình ảnh thơ tiêu biểu đặc sắc nhất của bài thơ là hình ảnh vầng trăng Để làm nổi bật mối quan hệ gắn bó thân thiết giữa người và trăng trong hoàn cảnh chiến tranh, có thể so sánh ánh trăng và người lính trong thơ Chính Hữu qua văn bản “ Đồng Chí”:
“ Anh trăng” của Nguyễn Duy gợi cho chúng ta nhớ về hình ảnh
Vầng trăng trong thơ Chính Hữu:
“ Đêm nay rừng hoang sương muối
Đứng cạnh bên nhau chờ giặc tới
Đầu súng trăng treo.”
Như vậy từ thời kháng chiến chống Pháp, vầng trăng thiên nhiên nhiên tròn đầy viên mãn ấy đã trở thành người bạn tâm tình của người lính, xua tan đi bầu không khí giá lạnh của” Rừng hoang sương muối.” Trăng và người là bạn của nhau từ rất lâu và trở thành tri kỷ của nhau Âý vậy mà người đến bây giờ trải qua chiến tranh sông ở chốn phồn hoa đô thị lại lỡ quên trănu? Lỡ quên những năm tháng cùng trăng nơi chiến trường đầy gian khổ?
Hay khi so sánh lòng yêu nước trong thơ ca giữa các thời đại khác nhau Nhân đây tôi xin trích lược một đoạn bĩnh giảng của Lê Chí Viễn khi bình giảng câu thơ trong bài”Ngóng gió đông” của Nguyễn Đình Chiểu có vận dụng phép
so sánh trên để các đồng nghiệp tham khảo:
“ Bờ cõi xưa đà chia đất khác
Nắng sương nay há đội tròi chung”
Cảm làm sao cho hết được cái xót đau trên đất nước và trong lòng người
Trang 6có câu thơ “ Bờ cõi xưa đà chia đất khác”,ở sự đối lập giữa “xưa” và “khấc”!Có phải trong ba chữ “bờ cõi xưa ”ấy đã hàm ngụ cả một pho truyền thống dựng nước và giữ nước đạm mồ hôi xương máu của cha ông , từ sự khẩng định dõng dạc chủ quyền thiêng liêng bất khả xâm phạm của đất nước ở Lý Thường Kiệt đến niềm tự hào về nền văn hiến rõ ràng của dân tộc ỏ' Nguyễn Trãi, cũng như ý chí sắt đá bảo vệ từng tấc đất ở Lê Thánh Tông, giữ gìn từ màu răng đến mái tóc
ở Quang Trung Ây vậy mà nay bờ cõi muôn xưa ấy đã bị chia cắt cho kẻ khác, thành đất khác ”
b, So sánh bằng cách liên hệ đối tượng đang phân tích ,vấn đề đang bàn luận trong tác phẩm ấy với những tác phẩm khác ra đòi cùng một thời kỳ Biện pháp so sánh này có tác dụng khẳng định vẻ đẹp độc đáo ,tính riêng của đối tưọng ,của vấn đề
Với đề bài ; Phân tích nhân vật ông Hai trong truyện ngắn Làng của Kim Lân , có thể so sánh với tình yêu qưê hương đất nước của con người trong thòi
kỳ kháng chiến chống Pháp :
Trong trái tim mỗi con người luôn có một khoảng dành riêng cho quê hương ,tình cảm dạt dào cháy bỏng với quê hương có sức sôhg mãnh liệt bền
bỉ Đặc biệt trong hoàn cảnh gian khó nguy hiểm,tình cảm ấy càng toả sáng rạng ngời Với ngòi bút sắc sảo chân thực ,tâm hồn đồng cảm sâu sắc nhiều nhà văn thời chống Pháp đã khắc hoạ thành công hình ảnh những con người có tinh cảm yêu làng quê da diết Chính Hữu đã khăc hoạ hình ảnh người nông dân dứt bỏ quê hương ra đi kháng chiến ,nhưng trong chiến trường họ vẫn luôn nhớ về
“giếng nước, gốc đa”.Họ là những người trực tiếp cầm súng bảo vệ tổ quốc Bên cạnh đó còn có những người nông dân tuy không trực tiếp tham gia kháng chiến nhưng ở họ tình yêu quê hương đất nước được thế hiện ở khía cạnh khác cũng
vô cùng mãnh liệt và sâu sắc Một trong những con người như thế phải kể đến ông Hai Thu-nhân vật trong truyện ngắn “ Làng” của Kim Lân - Một lão nông nghèo luôn nặng lòng mới quê hương đất nước
Hoặc với đề bài: suy nghĩ của anh ( chị) về hình ảnh người chiến sĩ lái xe Trường Sơn trong bài “ tiểu đội xe không kính” của Phạm Tiến Duật có thể so
Trang 7sánh với “ văn bản những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh khuê Cũng bộc lộ tình yêu đất nước hết mình về tổ quốc cửa thế hệ trẻ Việt Nam thời chống Mỹ cùng với vẻ đẹp tâm hồn như lãng mạn, lạc quan , hồn nhiên Mỗi nhà văn nhà thơ lại thiên về một sắc thái, cảm hứng và bút pháp thể hiện khác nhau
Hay trong chương trình ngữ văn 8 với đề bài : phân tích nhân vật Lão Hạc của nhà văn Nam Cao, có thể so sánh như sau:
Cùng viết về xã hội nông thôn, người nông dân trong chế độ thực dân nửa phong kiến, mỗi cây bút hiện thực lại có hướng khám phá miêu tả không hoàn toàn giống nhau Nếu như ở Nguyễn Công Hoan là phơi bày ra mặt trái của xã hội-đầy bất công thối nát, kẻ giàu sống phè phỡn vô nhân đạo còn ngưòi nghèo
bị ức hiếp và đói khổ Ngô Tất Tố chú ý nhiều đến những hủ tục, sự nhũng nhiễu, mâu thuẫn giai cấp căng thẳng, nỗi thống khổ của người dân nghèo trong
kỳ sưu thuế thì Nam Cao lại góp một tiếng nói riêng của mình khi ông luôn day dứt trước câu chuyện nhân phẩm bị chà đạp, trước chuyện vật vã chống trọi với
sự xô đẩy của hoàn cảnh đầy bi kịch của “Lão Hạc”
c, So sánh bằng cách tìm cái trái ngược, đối lập với đối tượng đang phân tích ,bàn lưận ,chỉ ra sự tương phản giữa hai phía để khẳng định cái hay, cái đẹp của đối tượng
Ví dụ : Khi phân tích hình ảnh những nữ thanh niên xung phong trên tuyến đường Trường Sơn trong văn bản : “Những ngôi sao xa xôi” của Lê Minh Khuê có thể so sánh sư đối lập giữa hoàn cảnh sống, chiến đấu của ba nhân vật : Nho ,Thao , Phương Định vói tâm hồn ,tinh thần của họ :
Hoàn cảnh sống chiến đấu nguy hiểm gian khổ ở đó dường như không có dấu hiệu của sự sống :đường lở loét ,cây cối xác xơ vậy mà vẫn vang lên tiếng hát ,tiếng cười của những nữ thanh niên xung phong
Phân tích có sư đối chiếu như thế ,ta hiểu thêm về vẻ đẹp trong tâm hồn của những nữ chiến sỹ
Khi tìm hiểu về vẻ đẹp của người chiến sỹ lái xe Trường Son trong thời
kv kháng chiến chống Mỹ qua văn bản : “Bài thơ tiểu đội xe không kính.”của Phạm Tiến Duật ở khổ thơ cuối phải so sánh sự đối lập giữa cái không và cái
Trang 8có : “Trong hoàn cảnh chiến tranh ,giữa bao nhiêu thiếu thốn Trang thiết bị phục vụ cho chiến trường cũng không đầy đủ ,phương tiện của người lính
là :những
chiếc xe không có kính ,không có đèn ,không có mui và có thể
còn nhiều cái không có nữa ,nhưng xe vẫn băng băng chạy nối tiếp hết đoàn này đến đoàn khác để chi viện cho Miền nam thân yêu ,bởi trong những chiếc xe không có nhiều thứ ấy là người chiến sỹ có một “trái tim”-trái tim ấy là sức mạnh chiến đấu ,là ý chí kiên cường -Tác giả xây dựng hình ảnh thơ trong thế., doi lập mói cái không có để khẳng định một cái có -khẳng định phẩm chất anh hùng của người lính lái xe
Hay để ca ngợi chủ nghĩa anh hùng ,tinh thần tự nguyện cống hiến cuộc đời mình cho kháng chiến ,TỔ quốc của anh bộ đội cụ Hồ trong bài “Đồng chí” của Chính Hữu ,có thể so sánh với người lính thời phong kiến trong ca dao viết
về lính thú thòi xưa :
“Thùng thùng trống đánh ngũ liên
Bước chân xuống thuyền nước mắt như mưa”,
d, So sánh bằng cách đối chiếu đối tượng phân tích ,bàn luận trong một tác phẩm với các tác phẩm khác viết về cùng một đề tài đê thấy nét riêng ,độc đáo của nó
Ví dụ :Khi phân tích bài thơ”Sang thu”của Hữu Thỉnh ,ta có thể so sánh :
Khônơ biết tự bao giờ ,mùa thu đã có mặt và chiếm một vị trí lớn trong số lượng tác phẩm văn học không nhỏ của văn học Việt Nam Mùa thu huyền diệu ,mùa thu chan chứa tình yêu đã được thể hiện bằng tất cả các góc cạnh qua ngòi bút của thi nhân Với Tam nguyên Yên Đổ Nguyễn Khuyên ,mùa thu là một cô thôn nữ dân dã mà làm đắm say lòng người qua chùm thơ thu nổi tiéng :Thu vịnh ,Thu ẩm ,Thu điếu Trong “Tiéng thu” của Lưu Trọng Lư, mùa thu lại như một sinh linh sống động ,nhu mì và rất đáng yêu :
“ Em nghe không mùa thu
Lá thu rơi xào xạc Con nai vàng ngơ ngác ,
Trang 9Đạp trên lá vàng khô ”
Còn “Đây mùa thu tới” của Xuân Diệu ,rộn rã ,vui sướng ,vồ vập vối hình ảnh về mùa thư “Với áo mơ phai dệt lá vàng”cũng góp một bức tranh mùa thu vào trời thu đất Việt,không ồn ào náo nhiệt Hữu Thỉnh -bằng tất cả những cảm nhận vô cùng mới mẻ ,tinh tế ,Ông đã cho ra mắt bạn đọc một “Sang thu”nhẹ nhàng nhưng đầy quyến rũ và ẩn chứa một ý vị sâu sa
Khi tìm hiểu bài thơ “Mùa xuân nho nhỏ”có thể so sánh như sau:
“Mùa xuân chính là sự chuyển giao của đất trời mỗi khi năm mới đến ,nhưng trong thơ Thanh Hải nó trở thành “mùa xuân nho nhỏ”như có hình
có khối Mùa xuân đã gợi cảm hứng cho không biết bao thi nhân,ta bắt gặp một đôi bướm trắng “phấp phới sấn hoa bay”trong thơ Lê Thánh Tông ,một màu xanh “rợn chân trời”của cỏ non trong thơ Nguyễn Du hay một “Mùa xuân chín”với những cô thôn nu trẻ trung ,xinh đẹp của Hàn Mặc Tử nhưng bằng hình tượng “Mùa xuân nho nhỏ”rất độc đáo /Thanh Hải đã tạo nên một dáu ấn cho riêng mình trước cảm hứng mùa xuân -Phải chăng đó là hình ảnh ẩn dụ của
sự cống hiến cuộc đời mình cho đất nước ,để cùng với mọi người làm nên “mùa xuân lớn”của dân tộc”
Hay khi tìm hiểu về đề tài tinh cảm gia đình :tình phụ tử ,tình mẫu tử có thể so sánh giữa các văn bản :Con cò ,Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng
mẹ ,Nói với con để thấy được những nét đặc sắc riêng về nghệ thuật cũng như
về nội dung của từng tác phẩm Qua đó ,học sinh biết đánh giá từ tổng quát đến
cụ thể vẻ đẹp chung và riêng của từng văn bẳn
e, So sánh bằng cách đối chiếu đối tượng bình luận ,phân tích ,không chỉ trong phạm vi văn học Việt Nam mà còn mở rộng ra văn học nước ngoài Cách
so sánh này giúp học sinh có cách đánh giá về vai trò nói chung của văn học là đều hướng đến vẻ đẹp tam hồn cọn người;đồng thời cũng giúp các em hiểu được giá trị chung của văn học
Ví dụ :Khi tìm hiểu bài thơ “Mây và sóng”của Ta go có thể đối chiếu với văn bản “Con cò”của Chế Lan Viên , “Khúc hát ru những em bé lớn trên lưng mẹ” của Nguyễn Khoa Điềm
Trang 10Hay khi phân tích văn bản “Bố của Xi mông”của Mô-pa-xăng có thể đối chiếu với văn bản “Nói với con”của Y Phương ,giúp học sinh hiểu được vai trò
ý nghĩa của tình phụ tử trong cuộc sống con người Với văn bản “ Con chó Bấc” của Giắc Lân – đơn có thể so sánh với văn bản “ Dế mèn phiêu lưu ký ” của Tô Hoài,
IV KẾT QUẢ ÁP DỤNG ĐỀ TÀI :
Trong quá trình dạy học, đối với mỗi tiết dạy học làm văn nghị luận về tác phẩm văn học, tôi luôn cố găng nghiên cứu, tìm tòi để đưa ra cho học sinh những kiểu so sánh, đối chiếu giữa nét giống và khác nhau ở mỗi văn bản ( trong chương trình hoặc ngoài chương trình ) sao cho phù hợp với trình độ của các
em Qua đó, các em không chỉ hiểu nội dung một văn bản đang học mà còn có cái nhìn tổng quát, biết đặt văn bản trong một giai đoạn, mỗi thời kì khi tìm hiểu Biết liên hệ giữa văn bản này với văn bản khác này, với tác giả khác, tìm
ra nét độc đáo riêng và biết vận dụng kỹ năng so sánh đó khi làm bài văn nghị luận văn học Đồng thời, tạo cho các em hứng thú say mê với môn ngữ văn, hình thành cho các em cách lập luận sâu, rộng, bồi đắp cho các em vốn tri thức văn học
Cụ thể :
- Học sinh đã biết vận dụng các kiểu so sánh khi làm bài văn nghị luận văn học, giúp bài văn sinh động, mạch văn sâu hơn
- Các em có cách đánh giá chính xác về nội dung của từng giai đoạn văn học, năm được đặc điểm của từng giai đoạn văn học, nắm được đặc điểm phong cách từng tác giả Qua đó biết liên hệ giữa văn bản này với văn bản khác để tìm
ra nét đặc sắc riêng biệt của mỗi văn bản
- Khi phân tích một văn bản ,các em đã biết lấy dẫn chứng ở văn bản khác
có cùng đề tài với văn bản đang phân tích để bài viết hấp dẫn hơn
- Thông qua cách so sánh ,các em tự rút ra bài học giáo dục có ý nghĩa nhân văn để các em tự hình thành nhân cách ,sống tốt hơn