Nền kinh tế thị trường, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp trở nên đa dạng và phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro. Chính vì thế các doanh nghiệp nhà nước nói chung và ngành điện nói riêng đang đứng trước rất nhiều khó khăn và thách thức. Với môi trường kinh doanh đầy biến động như vậy, việc tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp sao cho hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là một vấn đề quan trọng đặt ra đối với các doanh nghiệp. Tìm ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là phương hướng giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển bền vững. Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Công ty Điện lực Thanh Xuân, Tổng Công ty Điện lực TP.Hà Nội và Tập đoàn Điện lực Việt Nam. Tuy nhiên, để có thể phát triển và phát triển bền vững trong môi trường kinh doanh hiện nay, các Công ty trong Tổng Công ty Điện lực TP.Hà Nội nói chung và Công ty Điện lực Thanh Xuân nói riêng cần đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại chính đơn vị mình. Xuất phát từ vấn đề bức thiết đó, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh điện năng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân” để nghiên cứu.
Trang 1TẬP ĐOÀN ĐIỆN LỰC VIỆT NAM TRƯỜNG ĐẠI HỌC ĐIỆN LỰC
-
ĐÀO VIỆT CƯỜNG
NÂNG CAO HIỆU QUẢ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐIỆN NĂNG TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC THANH XUÂN
Chuyên ngành: Quản lý năng lượng
Mã số: 6 0 3 4 0 4 1 6
LUẬN VĂN THẠC SĨ QUẢN LÝ NĂNG LƯỢNG
Người hướng dẫn khoa học: TS Phạm Văn Công
Hà Nội, 2014
Trang 2LỜI CẢM ƠN
Với tình cảm trân trọng nhất, tác giả xin bày tỏ lời cảm ơn chân thành sâu sắc tới các giáo sư, tiến sĩ, các thầy cô giáo đã tận tình truyền đạt kiến thức trong quá trình học tập, nghiên cứu tại Trường Đại học Điện lực Đặc biệt là các thầy giáo, cô giáo của Khoa Sau đại học, Khoa Quản lý Năng lượng đã tạo điều kiện thuận lợi học tập, nghiên cứu và hoàn thành chương trình cao học
Tôi xin được tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến TS Phạm Văn Công là người đã trực tiếp hướng dẫn để hoàn thành bản luận văn này
Xin chân thành cảm ơn các thầy phản biện đã có những góp ý quý báu giúp tác giả có điều kiện hoàn thiện tốt hơn những nội dung của luận văn và hoàn thiện hơn kỹ năng nghiên cứu khoa học trong thời gian tới
Tôi xin chân thành cảm ơn Ban Lãnh đạo cùng toàn thể cán bộ Công ty Điện lực Thanh Xuân - Tổng Công ty Điện lực TP.Hà Nội đã giúp đỡ trong quá trình khảo sát và thu thập số liệu
Trong quá trình thực hiện đề tài chắc chắn không tránh khỏi những thiếu sót, rất mong tiếp tục nhận được ý kiến của các thầy, cô giáo và các bạn đồng nghiệp
Tôi xin trân trọng cảm ơn!
Tác giả
Đào Việt Cường
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của TS Phạm Văn Công Tôi cũng xin cam đoan rằng các thông tin trích dẫn được chỉ rõ nguồn gốc
Hà Nội, ngày…….tháng 8 năm 2014
Tác giả
Đào Việt Cường
MỤC LỤC
Trang
Trang 4LỜI CẢM ƠN i
LỜI CAM ĐOAN ii
DANH MỤC VIẾT TẮT vii
DANH MỤC BẢNG BIỂU viii
DANH MỤC HÌNH VẼ ix
MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỆN 3
1.1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỆN 3
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp điện 3
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh 3
1.1.1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp điện năng 4
1.1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh doanh 5
1.1.2 Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh 6
1.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỆN 6
1.2.1 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh 6
1.2.1.1 Phương pháp phân tích so sánh 7
1.2.1.2 Phương pháp thay thế liên hoàn 7
1.2.1.3 Đánh giá ưu nhược điểm các phương pháp phân tích 7
1.2.2 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp điện 8
1.2.2.1 Chỉ tiêu doanh thu/vốn 8
1.2.2.2 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận 10
1.2.2.3 Tổn thất điện năng 12
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỆN 23
1.3.1 Môi trường bên ngoài 23
1.3.2 Môi trường bên trong doanh nghiệp 25
Trang 51.3.2.1 Bộ máy tổ chức, lực lượng lao động 25
1.3.2.2 Nguồn lực tài chính 26
1.3.2.3 Trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật phát triển cơ sở vật chất 27
1.3.2.4 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin 27
1.3.2.5 Tổn thất điện năng 28
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp điện 28
Kết luận Chương 1 30
CHƯƠNG 2: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH ĐIỆN NĂNG CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC THANH XUÂN 31
2.1 GIỚI THIỆU TỔNG QUAN VỀ CÔNG TY ĐIỆN LỰC THANH XUÂN 31
2.1.1 Giới thiệu chung 31
2.1.2 Một số đặc điểm chính của Công ty 31
2.1.2.1 Cơ cấu tổ chức và nhân sự 31
2.1.2.2 Đặc điểm về mặt hàng kinh doanh 37
2.1.2.3 Đặc điểm về thị trường 38
2.1.2.4 Đặc điểm về thiết bị điện, quy trình truyền tải điện năng 39
2.1.2.5 Đặc điểm về máy móc thiết bị 40
2.1.2.6 Đặc điểm hoạt động kinh doanh của PCTX 43
2.2 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC THANH XUÂN 44
2.2.1 Kết quả kinh doanh của Công ty 44
2.2.1.1 Tình hình cung cấp và tiêu thụ điện 44
2.2.1.2 Tình hình kinh doanh của Công ty Điện lực Thanh Xuân 48
2.2.2 Phân tích hiệu quả kinh doanh của Công ty 57
2.2.2.1 Doanh thu/vốn 57
2.2.2.2 Tỷ suất lợi nhuận 63
2.2.2.3 Tổn thất điện năng 66
2.2.3 Nhận xét hiệu quả kinh doanh của Công ty 69
2.2.3.1 Những ưu điểm 69
Trang 62.2.3.2 Những hạn chế 70
2.3 MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN CỦA CÔNG TY ĐIỆN LỰC THANH XUÂN GIAI ĐOẠN 2015 - 2020 73
2.3.1 Chiến lược phát triển của EVN và EVN Hà Nội 73
2.3.1.1 Mục tiêu 73
2.3.1.2 Nội dung chính 74
2.3.2 Mục tiêu phát triển kinh doanh của Công ty Điện lực Thanh Xuân 74
Kết luận Chương 2 76
CHƯƠNG 3: GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC THANH XUÂN 77
3.1 GIẢI PHÁP QUẢN LÝ 77
3.1.1 Giải pháp bộ máy tổ chức và lao động 77
3.1.2 Giải pháp nâng cao chất lượng dịch vụ 78
3.1.2.1 Giải pháp cải cách quy chế quản lý nội bộ 78
3.1.2.2 Hướng dẫn thực hiện quy trình kinh doanh 79
3.1.2.3 Quản lý đầu nguồn, dự báo phụ tải 79
3.1.2.4 Công tác ghi chỉ số công tơ và quản lý hệ thống đo đếm 79
3.1.2.5 Công tác lập hóa đơn, thu và theo dõi nợ tiền điện 80
3.1.2.6 Về chính sách giá điện và cách xác định và quản lý giá bán 80
3.1.2.7 Tăng cường quản lý khách hàng 81
3.1.3 Giải pháp vốn 82
3.1.3.1 Giải pháp hoàn thành kế hoạch tài chính Tổng Công ty giao 82
3.1.3.2 Giải pháp thực hiện tiết kiệm chi phí trong các lĩnh vực: sản xuất kinh doanh và đầu tư xây dựng 82
3.1.3.3 Giải pháp thực hiện thanh xử lý và thu hồi công nợ 83
3.1.3.4 Tăng cường kiểm soát và nâng cao hiệu quả sử dụng dòng tiền 83
3.1.3.5 Nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong công tác quản lý vật tư 84
3.1.3.6 Giải pháp tối ưu cho chi phí thuê cột 84
3.2 GIẢI PHÁP KỸ THUẬT 85
Trang 73.2.1 Giải pháp cải tạo hệ thống phân phối điện 85
3.2.1.1 Giải pháp tối ưu trong quản lý vận hành 85
3.2.1.2 Giải pháp tối ưu trong phân phối điện năng 87
3.2.2 Giải pháp áp dụng công nghệ giảm tổn thất điện năng 87
3.3 ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ CÁC GIẢI PHÁP NÂNG CAO HIỆU QUẢ KINH DOANH ĐIỆN TẠI CÔNG TY ĐIỆN LỰC THANH XUÂN 90
3.3.1 Cơ sở điều kiện thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 90
3.3.2 Rủi ro khi thực hiện các giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh 92
Kết luận Chương 3 94
ĐỀ XUẤT KIẾN NGHỊ 95
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 97
Trang 8DANH MỤC VIẾT TẮT
1 EVN Tập đoàn Điện lực Việt Nam
2 EVN HANOI Tổng Công ty Điện lực TP.Hà Nội
3 PCTX Công ty Điện lực Thanh Xuân
4 ATLĐ An toàn lao động
5 CNKT Công nhân kỹ thuật
6 HLAT Hành lang an toàn
7 HLBVATLĐCA Hành lang bảo vệ an toàn lưới điện cao áp
8 LNST Lợi nhuận sau thuế
9 LNTT Lợi nhuận trước thuế
10 NVL Nguyên vật liệu
11 NSLĐ Năng suất lao động
12 NSNN Ngân sách nhà nước
13 QL & PP Quản lý và phân phối
14 QL & VH Quản lý và vận hành
15 SCL Sửa chữa lớn
16 SCTX Sửa chữa thường xuyên
17 SXKD Sản xuất kinh doanh
Trang 9DANH MỤC BẢNG BIỂU
Bảng 1.1: So sánh tính ưu nhược của các phương pháp 7
Bảng 2.1: Tổng hợp lao động của PCTX 2011-2013 34
Bảng 2.2: Cơ cấu lao động của PCTX theo trình độ 2013 34
Bảng 2.3: Quy trình truyền tải điện năng 40
Bảng 2.4: Khối lượng trạm biến áp trên địa bàn quận 41
Bảng 2.5: Hệ thống vận hành lưới điện của Điện lực Thanh Xuân 42
Bảng 2.6: Khối lượng đường dây hiện có trên địa bàn quận Thanh Xuân 42
Bảng 2.7 : Số liệu sự cố năm 2013 (tính đến 22/12/2013) 45
Bảng 2.8: Số liệu độ tin cậy lưới điện năm 2013 46
Bảng 2.9: Điện năng tiêu thụ của Thanh Xuân giai đoạn 2005-2010 47
Bảng 2.10: Kết quả thực hiện sản xuất, kinh doanh, quản lý, vận hành điện, đầu tư xây dựng, sửa chữa lớn năm 2013 49
Bảng 2.11: Báo cáo kết quả kinh doanh bán điện của PCTX 2011 - 2013 50
Bảng 2.12: Bảng tính các chỉ tiêu Doanh thu 51
Bảng 2.13: Bảng tính các chỉ tiêu lợi nhuận 52
Bảng 2.14: Tình hình tổn thất điện năng ở PCTX 2009-2013 54
Bảng 2.15: Điện năng thương phẩm phân theo ngành giai đoạn 2006 - 2010 59
Bảng 2.16: Phân tích cơ cấu tiêu thụ điện năng giữa thực tế và báo cáo 60
Bảng 2.17: Dự báo điện năng thương phẩm 2015 62
Bảng 2.18: Đánh giá tăng trưởng điện năng đến năm 2020 62
Bảng 2.19: So sánh điện năng của PCTX với EVN HANOI 62
Bảng 2.20: So sánh tiết kiệm chi phí 2013 65
Bảng 2.21: Báo cáo TTĐN ảnh hưởng tới kết quả kinh doanh 2009 - 2013 66
Trang 10DANH MỤC HÌNH VẼ
Hình 1.1: Sơ đồ biểu diễn tiến trình công tác kinh doanh điện năng 4
Hình 1.2: Sơ đồ phân loại tổn thất điện năng 15
Hình 2.1: Sơ đồ cơ cấu tổ chức Công ty Điện lực Thanh Xuân 32
Hình 2.2: Biểu đồ cơ cấu lao động theo độ tuổi 35
Hình 2.3: Biểu đồ cơ cấu lao động theo trình độ 36
Hình 2.4 Tỷ lệ đường dây trung áp theo dung lượng 44
Hình 2.5 Tỷ lệ trạm biến áp theo dung lượng 44
Hình 2.6: Cơ cấu tiêu thụ điện theo ngành kinh doanh 2010 47
Hình 2.7 Sản lượng điện thương phẩm 2011-2013 48
Hình 2.8: Biếu đồ Lãi – Nộp ngân sách nhà nước 53
Hình 2.9: Đồ thị tỷ lệ tổn thất điện năng 55
Hình 2.10: Biểu đồ Doanh thu – Vốn chủ sở hữu 57
Hình 2.11: Biểu đồ Doanh thu - Giá điện bình quân 58
Hình 2.12: Cơ cấu tiêu thụ điện 2010 61
Hình 2.13: Cơ cấu tiêu thụ điện 2015 61
Hình 2.14: Đồ thị tỷ suất lợi nhuận – chi phí 63
Trang 11MỞ ĐẦU
1 Lý do chọn đề tài
Nền kinh tế thị trường, môi trường kinh doanh của các doanh nghiệp trở nên
đa dạng và phức tạp, chứa đựng nhiều rủi ro Chính vì thế các doanh nghiệp nhà nước nói chung và ngành điện nói riêng đang đứng trước rất nhiều khó khăn và thách thức Với môi trường kinh doanh đầy biến động như vậy, việc tổ chức quản lý hoạt động sản xuất kinh doanh ở các doanh nghiệp sao cho hiệu quả, đảm bảo sự phát triển bền vững là một vấn đề quan trọng đặt ra đối với các doanh nghiệp Tìm
ra các giải pháp để nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh là phương hướng giúp doanh nghiệp đứng vững và phát triển bền vững Đây là một vấn đề có ý nghĩa quan trọng, quyết định đến sự tồn tại và phát triển của Công ty Điện lực Thanh Xuân, Tổng Công ty Điện lực TP.Hà Nội và Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Tuy nhiên, để có thể phát triển và phát triển bền vững trong môi trường kinh doanh hiện nay, các Công ty trong Tổng Công ty Điện lực TP.Hà Nội nói chung và Công ty Điện lực Thanh Xuân nói riêng cần đưa ra các biện pháp cụ thể nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh tại chính đơn vị mình Xuất phát từ vấn đề bức
thiết đó, tác giả chọn đề tài: “Nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh điện năng
tại Công ty Điện lực Thanh Xuân” để nghiên cứu
ty Điện lực Thanh Xuân
- Đưa ra một số giải pháp cơ bản nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh điện năng của Công ty Điện lực Thanh Xuân hiện nay và trong tương lai
Trang 123 Đối tượng nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh điện năng tại Công ty Điện lực Thanh Xuân
4 Phạm vi nghiên cứu
Hoạt động kinh doanh của Công ty Điện lực Thanh Xuân từ năm 2009 –
2013, trong đó tập trung chủ yếu vào nghiên cứu cơ cấu tổ chức bộ máy kinh doanh,
áp dụng các qui trình nghiệp vụ kinh doanh điện của Tổng Công ty Qua đó có những đánh giá, kết luận và kiến nghị giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty
5 Phương pháp nghiên cứu
Sử dụng các phương pháp:
- Thu thập dữ liệu, thống kê, mô tả
- Phương pháp tổng hợp số liệu, phân tích, so sánh
6 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn
Nâng cao ý thức tiết kiệm trong việc sử dụng điện Đặc biệt đối với các nhà quản lý và cán bộ công nhân viên tham gia hệ thống quản lý kinh doanh điện năng
Bằng những tính toán khoa học, kiến nghị một số giải pháp giảm chi phí hoạt động, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh điện cho doanh nghiệp, đồng thời góp phần vào bảo vệ tài nguyên môi trường
Trang 13CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÝ THUYẾT VỀ HIỆU QUẢ KINH DOANH
CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỆN 1.1 KHÁI NIỆM VÀ BẢN CHẤT HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỆN
1.1.1 Khái niệm về hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp điện
1.1.1.1 Khái niệm hoạt động kinh doanh
“Nếu loại bỏ các phần khác nhau nói về phương tiện, phương thức, kết quả
cụ thể của hoạt động kinh doanh thì có thể hiểu kinh doanh là các hoạt động kinh tế nhằm mục tiêu sinh lời của chủ thể kinh doanh trên thị trường”
* Hoạt động kinh doanh có đặc điểm
+ Do một chủ thể thực hiện, có thể là cá nhân, hộ gia đình, DN;
+ Kinh doanh phải gắn với thị trường;
+ Có sự vận động của đồng vốn;
+ Mục đích chủ yếu của hoạt động kinh doanh là lợi nhuận
* Hoạt động kinh doanh điện năng
- Truyền tải điện từ Nhà máy sản xuất điện đến các trạm hạ áp, trạm biến áp
và các hộ tiêu dùng
- Ký kết hợp đồng cung ứng sử dụng điện
- Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện hợp đồng
- Lắp đặt và quản lý công tơ
- Ghi chỉ số điện năng tiêu thụ
- Xuất hoá đơn
- Thu tiền điện
- Đánh giá kết quả kinh doanh điện năng
Trang 14Hình 1.1: Sơ đồ biểu diễn tiến trình công tác kinh doanh điện năng
1.1.1.2 Khái niệm hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp điện năng
Mục tiêu lâu dài bao trùm của các DN là kinh doanh có hiệu quả và tối đa
hoá lợi nhuận Có nhiều khái niệm khác nhau về vấn đề này, như:
+ Nếu xét theo mục đích cuối cùng thì hiệu quả kinh doanh là các chỉ tiêu được xác định bằng tỷ lệ so sánh giữa kết quả với chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó
+ Còn nếu ở từng khía cạnh riêng thì hiệu quả kinh doanh là sự thể hiện trình
độ và khả năng sử dụng các yếu tố trong quá trình hoạt động kinh doanh
Có thể tổng quát lại như sau:
“Hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh là mối tương quan giữa kết quả thu được và hao phí bỏ cho quá trình hoạt động kinh doanh Chênh lệch giữa hai đại lượng này càng lớn thì hiệu quả càng cao”
Trong nền kinh tế thị trường, các doanh nghiệp cạnh tranh gay gắt trong việc
sử dụng các nguồn lực để thỏa mãn nhu cầu ngày càng tăng của xã hội Các doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, muốn dành chiến thắng trong cạnh tranh
Trang 15thì phải đặt hiệu quả kinh tế lên hàng đầu do đó, cần tận dụng khai thác và tiết kiệm tối đa các nguồn lực
Như vậy, hiệu quả kinh doanh của các doanh nghiệp là việc phản ánh mặt chất lượng các hoạt động kinh doanh, trình độ tận dụng các nguồn lực trong kinh doanh của doanh nghiệp
1.1.1.3 Phân loại hiệu quả kinh doanh
a) Căn cứ theo phạm vi tính toán
- Hiệu quả kinh tế: là 1 phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài liệu, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu đề ra
- Hiệu quả xã hội: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực nhằm đạt được các mục tiêu xã hội nhất định, đó là giải quyết công ăn việc làm trong phạm vi toàn
xã hội hoặc từng khu vực kinh tế, giảm số người thất nghiệp, nâng cao trình độ lành nghề, cải thiện đời sống văn hoá, tinh thần cho người lao động, đảm bảo mức sống tối thiểu cho người lao động, nâng cao mức sống cho các tầng lớp nhân dân
- Hiệu quả an ninh quốc phòng: Phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực vào sản xuất kinh doanh với mục tiêu lợi nhuận nhưng phải đảm bảo an ninh chính trị, trật tự xã hội trong và ngoài nước
- Hiệu quả đầu tư: phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực ở hiện tại để tiến hành các hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm đem lại cho nhà đầu tư các kết quả nhất định trong tương lai lớn hơn nguồn lực đã bỏ ra
- Hiệu quả môi trường: Phản ánh việc khai thác và sử dụng các nguồn lực trong sản xuất kinh doanh với mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận nhưng phải xem xét mức tương quan giữa kết quả đạt được về kinh tế với việc đảm bảo về vệ sinh, môi trường và điều kiện làm việc của người lao động và khu vực dân cư
Trong quá trình sản xuất kinh doanh, các doanh nghiệp phải phấn đấu đạt đồng thời các loại hiệu quả trên, song trong thực tế khó có thể đạt đồng thời các mục tiêu hiệu quả tổng hợp đó
b) Căn cứ theo nội dung tính toán
- Hiệu quả dưới dạng thuận: hiệu quả sản xuất kinh doanh được đo lường bằng chỉ tiêu tương đối, biểu hiện quan hệ so sánh giữa chi phí đầu vào với kết quả
Trang 16đầu ra Chỉ tiêu này cho biết cứ mỗi đơn vị đầu vào có khả năng tạo được bao nhiêu đơn vị đầu ra
- Hiệu quả dưới dạng nghịch: Là chỉ tiêu biểu hiện quan hệ so sánh nhưng chỉ tiêu này cho biết để có được một đơn vị đầu ra cần bao nhiêu đơn vị chi phí đầu vào
c) Căn cứ theo phạm vi tính toán
- Hiệu quả toàn phần: tính chung cho toàn bộ kết quả và toàn bộ chi phí của từng yếu tố hoặc tính chung cho tổng nguồn lực
- Hiệu quả đầu tư tăng thêm: chỉ tính cho phần đầu tư tăng thêm (mới) và kết quả tăng thêm của thời kỳ tính toán
1.1.2 Bản chất của hiệu quả hoạt động kinh doanh
Để hiểu rõ bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD có thể dựa vào việc phân biệt hai khái niệm kết quả và hiệu quả:
+ Kết quả của hoạt động SXKD là những gì mà doanh nghiệp đạt được sau một quá trình SXKD nhất định, kết quả là mục tiêu cần thiết của mỗi doanh nghiệp
+ Hiệu quả hoạt động SXKD là kết quả đạt được từ chi phí bỏ ra trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Trong thực tế người ta sử dụng hiệu quả hoạt động SXKD là mục tiêu cuối cùng
Để tiến hành hoạt động SXKD cần kết hợp yếu tố con người và yếu tố vật chất nhằm thực hiện công việc phù hợp với ý đồ trong chiến lược và kế hoạch SXKD trên cơ sở nguồn lực sẵn có
Bản chất của hiệu quả hoạt động SXKD là trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào, hiệu quả hoạt động SXKD đóng vai trò rất quan trọng trong việc đánh giá,
so sánh, phân tích kinh tế, từ đó tìm ra một giải pháp tối ưu nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận
1.2 CÁC CHỈ TIÊU ĐÁNH GIÁ HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỆN
1.2.1 Phương pháp phân tích hiệu quả kinh doanh
Khi phân tích một đối tượng cụ thể, cần nắm được đặc trưng chung nhất của đối tượng đó và nắm được những đặc điểm của ngành, cụ thể các phương pháp tính toán, kỹ thuật dùng trong phân tích hoạt động kinh doanh bao gồm:
Trang 171.2.1.1 Phương pháp phân tích so sánh
Phương pháp này chỉ được sử dụng ở các thời kỳ so sánh trong phân tích kinh tế là đối chiếu các chỉ tiêu, các hiện tượng kinh tế đã được lượng hóa cùng một nội dung, một tính chất tương tự như nhau Phương pháp này có nhiều dạng:
- So sánh số liệu thực hiện với với các số liệu định mức hay kế hoạch
- So sánh số liệu thực tế giữa các kỳ, các năm
- So sánh số liệu thực hiện với các thông số kỹ thuật – kinh tế trung bình tiên tiến
- So sánh số liệu của đơn vị mình với các đơn vị tương đương hoặc các đơn
vị của đối thủ cạnh tranh
- So sánh các thông số kỹ thuật – kinh tế của các phương án kinh tế
1.2.1.2 Phương pháp thay thế liên hoàn
Là phương pháp mà ở đó các nhân tố lần lượt được thay thế theo một trình tự nhất định để xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của chúng đến chỉ tiêu cần phân tích bằng cách cố định các nhân tố khác trong mỗi lần thay thế
Phương pháp này có thể áp dụng được khi mối quan hệ giữa các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích qua một công thức nhất định Công thức gồm tích số các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu phân tích Xác định các đối tượng phân tích cần thực hiện các bước so sánh số thực hiện với số liệu gốc, chênh lệch có được chính là đối tượng phân tích
1.2.1.3 Đánh giá ưu nhược điểm các phương pháp phân tích
So sánh ưu nhược điểm của các phương pháp
Bảng 1.1: So sánh tính ưu nhược của các phương pháp
-Đơn giản, phù hợp với quy
mô của nhiều bộ số liệu
-Không gặp khó khăn về mặt
-Cho thấy được rõ mức độ ảnh hưởng của các nhân tố tới chỉ tiêu phân tích, qua đó phản
Trang 18kỹ thuật vì không cần thiết phải xây dựng công thức hoặc
mô hình tính toán
-Kết quả phản ánh thực tế, khách quan của thị trường
ánh được nội dung bên trong của hiện tượng kinh tế
Nhược
điểm
-Không cho thấy được rõ tính
xu hướng của đối tượng phân tích
-Cần phải có thông tin rõ, chính xác
-Khi xác định ảnh hưởng của yếu tố nào đó, phải giả định các nhân tố khác không đổi, nhưng trong thực tế các nhân
tố đều thay đổi
1.2.2 Các chỉ tiêu phân tích hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp điện
1.2.2.1 Chỉ tiêu doanh thu/vốn
Doanh thu của doanh nghiệp điện: là toàn bộ số tiền thu được do cung ứng
điện thương phẩm và các hoạt động khác
Công thức tính doanh thu điện năng:
TR = (gi x Ai) Trong đó: TR: Doanh thu điện năng (giá trị điện thương phẩm)
gi: Mức giá bán điện thứ gi
Sử dụng phương pháp thay thế liên hoàn để xác định chính xác mức độ ảnh hưởng của các nhân tố điện thương phẩm và giá bán đến chỉ tiêu doanh thu
Xác định công thức:
Gọi A0, A1 là lượng điện thương phẩm kỳ thực tế năm
G0, G1 là giá bán điện của kỳ thực tế năm
T0, T1 là doanh thu của kỳ thực tế năm
T là đối tượng cần phân tích
Tính các mức ảnh hưởng của các nhân tố:
Thay thế bước 1 (cho nhân tố A): A1.G0
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố A: A1.G0 - A0.G0
Trang 19=> Để đánh giá sản lượng điện thương phẩm thực hiện năm sau tăng so với năm trước nên làm tăng doanh thu tiền điện
Thay thế bước 2 (cho nhân tố G): A1.G1
Mức độ ảnh hưởng của nhân tố G: A1.G1 - A1.G0
=> Để đánh giá mức giá bán điện thực hiện năm sau tăng so với năm trước nên làm tăng doanh thu tiền điện
Sản lượng điện thương phẩm
Yếu tố quyết định thành công của doanh nghiệp kinh doanh điện năng chính
là sản lượng điện thương phẩm Từ trước tới nay, chỉ tiêu này thường được đánh giá bằng cách so sánh sản lượng điện thương phẩm thực tế với kế hoạch được giao của đơn vị, vì chỉ tiêu này phản ánh gần như hoàn toàn kết quả kinh doanh của các Công ty Điện lực cũng như tình hình tiêu thụ điện năng của các Công ty Điện lực
Các yếu tố ảnh hưởng đến chỉ tiêu sản lượng điện thương phẩm như: Sự cố, tổn thất điện năng, cắt điện để thực hiện sửa chữa, cắt điện do quá tải… Do đó, nếu doanh nghiệp làm giảm được yếu tố này sẽ nâng cao lượng điện và sản lượng điện thương phẩm, phục vụ khách hàng được tốt hơn, nâng cao uy tín của doanh nghiệp
Tốc độ tăng trưởng điện năng = ĐTPt-ĐTPt-1
x 100% ĐTPt-1
Trong đó: ĐTPt: Là sản lượng điện thương phẩm năm sau
ĐTPt-1: Là sản lượng điện thương phẩm năm trước Chỉ tiêu sản lượng ĐTP có ảnh hưởng đến doanh thu của các Công ty Điện lực Trong những điều kiện không thay đổi nhiều về nguồn nhân lực, phương tiện, khả năng cung ứng của hệ thống điện, giá điện… việc tăng lượng điện thương phẩm góp phần tăng doanh thu và hiệu quả kinh doanh của đơn vị Điện thương phẩm bán cho khách hàng phụ thuộc vào các yếu tố khách quan và chủ quan như: Tăng trưởng kinh tế - Xã hội của địa phương, tính ổn định, an toàn trong cung ứng điện và quản lý vận hành, sửa chữa lưới điện (bao gồm cả khả năng cung ứng của toàn hệ thống điện nói chung và lưới điện Thanh Xuân nói riêng), sức mua của khách hàng, tác động của chính sách tiết kiệm điện, tình hình thời tiết
Trang 20Giá bán điện bình quân
Giá bán điện bình quân được dùng làm cơ sở để xây dựng biểu giá điện Nó
cũng là cơ sở làm thay đổi doanh thu của Công ty Điện lực
A
A x g
Trong đó: Ai: điện năng thương phẩm bán với mức giá gi (kWh)
Gi: mức giá bán điện thứ i (đồng/kWh)
Chỉ tiêu Doanh thu/ vốn
Vốn chủ sở hữu được hình thành từ khi thành lập doanh nghiệp và bổ sung trong quá trình hoạt động của doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu phản ánh sức mạnh về tài chính cũng như sức mạnh chung của doanh nghiệp Vốn chủ sở hữu của doanh nghiệp tăng chứng tỏ doanh nghiệp ngày càng mạnh, ngày càng có điều kiện mở rộng kinh doanh từ nguồn vốn của chính bản thân doanh nghiệp
Tỷ suất Doanh thu/ Vốn = Doanh thu
VCSH bình quân
Ý nghĩa chỉ tiêu: phản ánh khả năng hiệu quả của việc đầu tư từ mỗi đồng vốn chủ sở hữu thì doanh nghiệp sẽ thu được bao nhiêu đồng doanh thu
Chỉ tiêu năng suất lao động bình quân
Năng suất lao động = Doanh thu
Tổng số lao động
Ý nghĩa chỉ tiêu: cho biết trung bình mỗi lao động đem về bao nhiêu đồng doanh thu cho doanh nghiệp
1.2.2.2 Chỉ tiêu tỷ suất lợi nhuận
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp biểu hiện kết quả hoạt động SXKD, phản ánh đầy đủ mặt lượng và mặt chất hoạt động của DN trong việc sử dụng các yếu tố cơ bản như lao động, vật tư và TSCĐ Lợi nhuận là mục tiêu chủ yếu của mọi doanh nghiệp, là đòn bẩy kinh tế quan trọng khuyến khích nâng cao hiệu quả kinh tế của mọi đơn vị, là nguồn vốn để tái sản xuất và phát triển
Theo quy định của Nhà nước thì lợi nhuận là khoản chênh lệch giữa doanh thu của hoạt động SXKD (tiền bán SP – chiết khấu thanh toán – giảm giá và hàng
Trang 21bán bị trả lại) trừ đi giá thành toàn bộ sản phẩm (giá thành công xưởng + chi phí bán hàng + chi phí quản lí) và các khoản thuế (thuế VAT + thuế XNK) theo luật định
Trong phần này, chúng ta chỉ quan tâm đến khái niệm lợi nhuận kế toán của Công ty Lợi nhuận là kết quả tài chính cuối cùng của hoạt động SXKD của doanh nghiệp, là một trong những chỉ tiêu quan trọng nhất đánh giá hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong kì báo cáo
*) Tỷ suất lợi nhuận
Tổng chi phí
Ý nghĩa chỉ tiêu : Phản ánh 1 đồng chi phí doanh nghiệp đã bỏ vào sản xuất kinh doanh tạo ra mấy đồng lợi nhuận
* Tỷ suất lợi nhuận tổng tài sản (ROA):
Tỷ suất thu hồi tài sản = Lợi nhuận
Tổng tài sản bình quân trong kỳ
Chỉ tiêu này cho thấy một đồng tài sản bình quân trong kì tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận trong kì
Muốn tăng được chỉ tiêu này của các Công ty Điện lực cần tăng lợi nhuận cận biên ROS hoặc tăng được sức sản xuất của tài sản hoặc tăng cả hai Muốn tăng
cả hai yếu tố thì tốc độ tăng của doanh thu phải nhỏ hơn tốc độ tăng của lợi nhuận
và lớn hơn tốc độ tăng của tài sản
* Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định
Vốn cố định là bộ phận lớn nhất, chủ yếu nhất trong tư liệu lao động và quyết định năng lực sản xuất của doanh nghiệp, là một giá trị ứng ra để đầu tư vào các tài sản cố định nhằm phục vụ cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vốn cố định tham gia vào quá trình sản xuất và tiêu hao dần theo sự hao mòn của tài sản cố định
Hiệu quả sử dụng vốn cố định được xác định bằng cách so sánh kết quả kinh doanh với giá trị của tài sản cố định bình quân, tính theo nguyên giá hoặc giá trị khôi phục trong kỳ được xét, thường được gọi là hiệu suất vốn cố định Gọi tổng giá
Trang 22trị của vốn cố định bình quân trong kỳ là tài sản cố định (TSCĐ) và chỉ tiêu hiệu suất TSCĐ là HTSCĐ thì:
Tỷ suất lợi nhuận vốn cố định = Lợi nhuận
Tổng TSCĐ bình quân trong kỳ
* Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động
Vốn lưu động là các loại tài sản có thời hạn sử dụng ngắn hạn (< 1 năm) Nhóm này gồm có: tiền mặt, các khoản đầu tư ngắn hạn, các khoản phải thu, tồn kho…
Giá trị tài sản lưu động này chiếm một phần khá lớn trong tổng giá trị tài sản của doanh nghiệp (25% - 50%) Vì vậy, việc quản trị và sử dụng hợp lí các tài sản lưu động có ảnh hưởng rất quan trọng đến sự thành công của doanh nghiệp
Tỷ suất lợi nhuận vốn lưu động =
Lợi nhuận Tổng TSLĐ bình quân trong kỳ
1.2.2.3 Tổn thất điện năng
a) Khái niệm tổn thất điện năng
Điện năng sau khi được sản xuất ra tại các nhà máy điện được đưa đến các đối tượng sử dụng thông qua một hệ thống đường dây tải điện và các TBA Trong quá trình đó, có một lượng điện năng nhất định bị tiêu hao và thất thoát, đó là hiện
tượng tổn thất điện năng
Tổn thất điện năng là một bộ phận cấu thành chi phí SXKD của ngành điện Việc giảm TTĐN giúp cho các Công ty Điện lực giảm được giá thành sản phẩm, tăng lợi nhuận, nâng cao hiệu quả SXKD, và do đó nâng cao khả năng tái đầu tư,
mở rộng sản xuất PCTX trong những năm vừa qua đã nỗ lực nhằm giảm TTĐN và bước đầu thực hiện được những kết quả đáng khích lệ Tuy nhiên do ảnh hưởng của nhiều yếu tố chủ quan và khách quan môi trường nên TTĐN nói chung vẫn ở mức cao và không ổn định
*) Tiêu thức đánh giá mức tổn thất điện năng
Để xác định mức tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng, người ta sử dụng kết hợp một hệ thống các chỉ tiêu bao gồm:
Trang 23Lượng điện năng tổn thất
Lượng điện năng tổn thất là chỉ tiêu xác định mức độ tổn thất điện năng dưới dạng số tuyệt đối Nó được xác định bằng số kWh điện chênh lệch giữa tổng sản lượng điện nhận và tổng lượng điện thương phẩm, bán cho khách hàng dùng điện trong cùng một khoảng thời gian nhất định
A
kh BA
ttkt Tp
Lượng điện năng tổn thất cho chúng ta thấy quy mô của tổn thất điện năng và
cơ sở để xác định giá trị của tổn thất điện năng
Giá trị tổn thất điện năng
Giá trị của tổn thất điện năng được xác định bằng lượng điện năng tổn thất nhân với giá mua 1kWh điện đầu nguồn trong một khoảng thời gian tính tổn thất đó
Trang 24Công thức tính giá trị của tổn thất điện năng: L=∆Att.P (đồng)
Trong đó: L: Giá trị của tổn thất điện năng (đồng)
∆Att: Lượng điện năng tổn thất (kWh)
P: Giá mua 1kWh điện đầu nguồn (đồng/kWh)
Nhìn qua, giá trị của tổn thất điện năng chính là lượng điện năng tổn thất được giá trị hóa, nhưng thực chất, giá trị của tổn thất điện năng nếu đi sâu nghiên cứu, phân tích trong từng thời điểm (giờ thấp điểm, giờ cao điểm ) sẽ tìm ra được nguyên nhân cũng như biện pháp giảm tổn thất điện năng và đánh giá được kết quả kinh doanh và khả năng vận hành lưới điện Đồng thời, nó rất quan trọng trong việc đánh giá hiệu quả SXKD, hiệu quả trong công tác ĐTXD của Công ty trong từng thời kỳ, từng thời điểm nhất định để từ đó định ra kế hoạch và phương hướng phát triển của Công ty
Tỷ lệ tổn thất điện năng
Tỷ lệ tổn thất điện năng là chỉ tiêu xác định mức độ tổn thất điện năng ở dạng
số tương đối Nó được xác định bằng tỷ số % giữa lượng điện năng tổn thất và tổng sản lượng điện trong cùng một khoảng thời gian nhất định
A100
.A
%
dn dn
tp dn tt
tt
A A A
Trong đó: A tt%: Tỷ lệ tổn thất điện năng
A tt: Lượng điện năng tổn thất (kWh)
Ta cũng có thể tính tỷ lệ tổn thất điện năng kỹ thuật (A ttkt%) và tỷ lệ tổn thất điện năng thương mại (A tttm%) theo các công thức:
(%) Trong đó: A ttkt : Tổn thất điện năng kỹ thuật (kWh)
A tttm : Tổn thất điện năng thương mại (kWh)
Ađn : Tổng sản lượng điện nhận (kWh)
Trang 25Tỷ lệ tổn thất điện năng là một chỉ tiêu quan trọng, phản ánh mức độ tiêu hao, thất thoát điện năng trong quá trính truyền tải, phân phối so với sản lượng điện đầu nguồn nhận vào lưới điện Nó cho thấy với 1kWh điện đầu nguồn (mua vào) thì trong quá trình truyền tải, phân phối sẽ bị tổn thất bao nhiêu và bán ra cho khách hàng được bao nhiêu kWh
Tỷ lệ tổn thất điện năng đặc biệt quan trọng phản ánh hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh điện, các doanh nghiệp luôn phấn đấu, tìm mọi biện pháp và đặt mục tiêu giảm TTĐN là nhiệm vụ hàng đầu
b) Phân loại tổn thất điện năng
Tuỳ theo phương pháp và mục đích phân loại mà tổn thất điện năng được phân loại ra theo nhiều cách khác nhau, điều này được minh hoạ qua sơ đồ:
Hình 1.2: Sơ đồ phân loại tổn thất điện năng
*) Tổn thất điện năng trong quá trình sản xuất: Đây là lượng điện năng tiêu
hao ngay tại nhà máy điện, được xác định bởi lượng chệnh lệch điện năng phát ra tại đầu cực của máy phát điện với điện năng đưa lên lưới truyền tải và điện năng phục vụ cho quá trình sản xuất điện Lượng điện năng tổn thất này phát sinh là do quá trình truyền dẫn điện trong nhà máy phát điện và do việc điều độ hệ thống điện không đồng bộ, hợp lý
Tổn thất điện năng
Theo giai đoạn phát sinh tổn thất điện năng Theo tính chất của tổn thất điện năng
Tổn thất trong quá trình tiêu thụ
Tổn thất
kĩ thuật
Tổn thất thương mại
Trang 26*) Tổn thất trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng : Đây là lượng
điện năng tiêu hao và thất thoát trong quá trình đưa điện năng từ nhà máy điện đến các hộ dùng điện Tổn thất điện năng dạng này do các nguyên nhân khách quan (các yếu tố tự nhiên, môi trường, yêu cầu kỹ thuật, công nghệ) và chủ quan (trình độ quản lý) gây nên
Tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phối có thể chia làm hai loại sau:
Tổn thất kỹ thuật: là số lượng điện năng bị mất mát, hao hụt dọc đường
dây trong quá trình truyền tải điện từ nguồn điện đến hộ tiêu thụ, gồm tổn hao trên đường dây, tổn hao trong máy biến áp, tổn hao trong các đường cấp và tổn hao của đồng hồ đo đếm Tổn thất kỹ thuật cao hay thấp phụ thuộc vào công nghệ sản xuất truyền tải điện Thực tế trong lĩnh vực SXKD, những cơ sở sản suất hay kinh doanh nếu có trình độ quản lý tốt thì có thể tránh được tình trạng hao phí thất thoát Nhưng đối với lĩnh vực SXKD điện năng thì đây là một tổn thất tất yếu phải có, không thể tránh khỏi vì phải có một lượng điện năng phục
vụ cho công nghệ truyền tải điện Chúng ta có thể giảm lượng tổn thất này bằng cách đầu tư công nghệ, kỹ thuật nhưng không thể giảm tới 0 Ở mỗi trình độ kỹ thuật nhất định, lượng tổn thất này có thể giảm tới một lượng tối thiểu để đảm bảo công nghệ truyền tải
Thông thường, trong tổng điện năng tiêu thụ để phục vụ công nghệ truyền tải gồm khoản 65% tiêu tốn trên đường dây, 30% trong máy biến áp, còn trong các phần tử khác của mạng chiếm khoảng 5%
Bắt nguồn từ sai sót trong tổ chức quản lý kinh doanh điện, dẫn tới sai sót trong đầu tư xây dựng cải tạo lưới điện
Chúng ta có thể tham khảo về tỉ lệ tổn thất kỹ thuật ở các nước phát triển có trình
độ khoa học kỹ thuật tiên tiến: Mỹ, Singapoer,…thì tỷ lệ này là 4% Các nước trong khối ASEAN tỷ lệ tổn thất là 6,7%, các nước chậm phát triển thì tỷ lệ này là 20-30% (3)
Tổn thất thương mại : là tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải, phân
phối điện năng, do sự không hoàn thiện của hệ thống đo đếm điện năng Sai số của
Trang 27các thiết bị dùng để đo đếm điện năng, do công tác quản lý còn sơ hở dẫn đến thất thu tiền điện, do khách hàng còn gian lận, vi phạm quy chế sử dụng điện
Tổn thất thương mại phản ánh trình độ quản lý của doanh nghiệp sản xuất kinh doanh điện, trình độ quản lý càng cao thì tổn thất thương mại càng thấp Mục tiêu của các doanh nghiệp là phấn đấu đưa tổn thất thương mại về gần bằng không
*) Tổn thất ở khâu tiêu thụ : Đây là lượng điện năng tiêu hao và thất thoát
trong quá trình sử dụng các thiết bị điện của khách hàng Điều đó được quyết định bởi mức độ hiện đại, tiên tiến và công nghệ của các thiết bị điện cũng như trình độ vận hành, sử dụng các trang thiết bị điện đó của khách hàng
Ví dụ: Trong các hộ sử dụng điện, nếu sử dụng dây dẫn không đủ lớn so với phụ tải, cách điện không tốt thì sẽ dẫn đến mất mát điện năng
Tóm lại, tất cả mọi tổn thất đều diễn ra phía sau đồng hồ đo đếm điện, nên
các thành phần, đối tượng sử dụng điện cần biết rõ nguyên nhân để giảm TTĐN bằng cách chọn phương thức sử dụng hợp lý, tiết kiệm, có hiệu quả nhất
c) Các yếu tố ảnh hưởng đến tổn thất điện năng
Từ khâu sản xuất đến khâu cuối cùng là khâu tiêu thụ, điện năng bị tổn thất một lượng không nhỏ do ảnh hưởng của rất nhiều yếu tố
*) Yếu tố công nghệ:
Tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phối bao gồm hai loại
đó là tổn thất kỹ thuật và tổn thất thương mại Trong đó tổn thất kỹ thuật ảnh hưởng bởi các yếu tố về kỹ thuật công nghệ
Tổn thất kỹ thuật chính là lượng điện năng tiêu tốn để phục vụ cho quá trình truyền tải điện năng, do đó mức độ hiện đại, trình độ kỹ thuật, tính đồng bộ, hợp lý của hệ thống truyền tải, phân phối càng cao thì tổn thất kỹ thuật càng nhỏ và ngược lại Điều này giải thích tại sao ở các nước tư bản phát triển tỷ lệ tổn thất điện năng thấp hơn nhiều so với các nước đang phát triển Sự ảnh hưởng về các nhân tố kỹ thuật, công nghệ đối với tổn thất điện năng thể hiện ở những điểm sau:
- Trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng có một nguyên lý là tổn thất điện năng phụ thuộc vào điện áp truyền tải, chiều dài, tiết diện đường dây và vật liệu chế tạo dây dẫn
Trang 28+ Cấp điện áp truyền tải càng cao thì tổn thất điện năng càng nhỏ Hiện nay ngành điện nước ta đang có chủ trương chuyển dần từ cấp điện áp 110kV thành cấp điện áp 220kV và 500kV đối với lưới điện truyền tải và chuyển cấp điện áp 6kV, 10kV thành cấp điện áp 22kV đối với lưới điện phân phối nhằm mục tiêu giảm thiểu tối đa tổn thất điện năng Tuy nhiên trong quá trình này đòi hỏi thời gian và vồn đầu tư rất lớn, bởi vì đường dây truyền tải ở cấp điện áp càng cao thì việc xây dựng càng tốn kém và khó khăn hơn
+ Chiều dài đường dây tải điện cũng ảnh hưởng không nhỏ đến tổn thất điện năng Chiều dài đường dây tải điện càng dài thì tổn thất điện năng càng lớn và ngược lại Do đó việc bố trí, tính toán, xây dựng hợp lý các nguồn điện, các trạm biến áp sao cho đường dây tải điện đến vị trí của các phụ tải điện là ngắn nhất Sẽ góp phần quan trọng trong tổn thất điện năng
+ Tiết diện dây càng lớn, công nghệ chế tạo dây càng tốt thì tổn thất điện năng càng nhỏ Tuy nhiên điều này đòi hỏi vồn đầu tư ban đầu nhiều hơn
- Mức độ hiện đại, trình độ kỹ thuật, tính đồng bộ, hợp lý của hệ thống truyền tải, phân phối điện năng càng cao thì càng giảm thiểu được các sự cố xảy ra với lưới điện như: Đứt dây, đổ cột, ngắn mạch, chạm đất, cháy máy biến áp và các thiết bị điện khác, tránh được tình trạng vận hành non tải, hoặc quá tải của các máy biến áp và các thiết bị điện do đó giảm được tổn thất điện năng Hơn nữa, trình độ
kỹ thuật công nghệ càng cao thì các máy biến áp, các thiết bị điện được chế tạo có chất lượng và thông số kỹ thuật tốt hơn, từ đó giảm được tổn thất không tải và tổn thất có tải của máy biến áp và các thiết bị điện
- Các thiết bị đo đếm điện năng càng hiện đại, có độ chính xác càng cao, làm việc càng tin cậy thì việc xác định điện năng tiêu thụ của khách hàng càng chính xác, tránh được các sai sót, nhầm lẫm gây nên thất thoát điện năng
- Việc điều hoà đồ thị phụ tải (nhằm san phẳng đồ thị phụ tải) tức là đảm bảo cho việc sử dụng điện tương đối ổn định giữa các khoảng thời gian khác nhau trong ngày và các tháng trong năm cũng giảm tổn thất điện năng Bởi các thiết bị đo đếm điện năng chỉ hoạt động chính xác ở dòng điện định mức do nhà sản xuất thiết kế và chế tạo Tuy nhiên, trong thực tế việc sử dụng điện của khách hàng thường không giống nhau giữa các
Trang 29khoảng thời gian khác nhau trong ngày, có lúc sử dụng nhiều có lúc sử dụng ít từ đó xuất hiện khái niệm “giờ cao điểm” và “giờ thấp điểm” Tại giờ cao điểm (thường vào khoảng 18h00 đến 22h00) công suất sử dụng điện của các hộ là lớn nhất và vào giờ thấp điểm (thường vào khoảng 22h00 đến 4h00 sáng hôm sau công suất sử dụng điện của các hộ là nhỏ nhất Do đó các thiết bị đo đếm điện năng không phải lúc nào cũng hoạt động ở dòng điện định mức, làm cho các thiết bị này làm việc thiếu chính xác, không xác định được chính xác lượng điện năng tiêu thụ của khách hàng
*) Yếu tố con người:
Các nhân tố về trình độ quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh có ảnh hưởng hết sức quan trọng đối với tổn thất điện năng, đặc biệt là tổn thất thương mại đối với các doanh nghiệp kinh doanh điện năng Nếu như tổn thất kỹ thuật chủ yếu là do các yếu tố khách quan gây nên thì tổn thất thương mại phần lớn là do các yếu tố chủ quan gây ra, đó chính là trình độ quản lý, tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, điều này thể hiện ở chỗ:
+ Việc quản lý tổ chức hoạt động kinh doanh, quản lý khách hàng được thực hiện một cách khoa học và chặt chẽ sẽ đảm bảo cho doanh nghiệp xác định được một cách chính xác lượng điện năng tiêu thụ của khách hàng trong kỳ kinh doanh, tránh những sai lầm sai sót gây thất thoát điện năng Đồng thời góp phần phản ánh chính xác kết quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp làm cơ sở cho việc đề ra và thực hiện các biện pháp quản lý, kinh doanh có hiệu quả
- Trình độ nghề nghiệp năng lực, tinh thần trách nhiệm và phẩm chất đạo đức của đội ngũ cán bộ công nhân viên cũng có ảnh hưởng quan trọng đến tổn thất điện năng Ngành điện là một ngành đòi hỏi cao về kỹ thuật và an toàn cho nên cán bộ công nhân viên ngành điện cần phải được đào tạo tốt, giúp cho họ có thể đảm đương được và thực hiện được tốt công việc được giao Đồng thời họ cũng phải là người
có năng lực, tinh thần trách nhiệm, có phẩm chất đạo đức tốt để thực hiện đúng và đầy đủ các quy trình, quy phạm trong kinh doanh điện năng, tránh các tiêu cực thông đồng với khách hàng lấy cắp điện
Khi khách hàng có ý thức chấp hành các quy định, quy chế sử dụng điện và
có những hiểu biết tương đối về an toàn điện và tiết kiệm điện trong sử dụng thì sẽ
Trang 30giảm đuợc đáng kể tổn thất điện năng Chúng ta biết rằng vào giờ cao điểm (khoảng
từ 18h – 22h hằng ngày) lượng điện năng tiêu thụ tăng đột biến so với các khoảng thời gian khác trong ngày, nhiều khi gây ra tình trạng quá tải trong lưới điện, đồng thời làm cho ngành điện phải huy động thêm các nguồn điện có hiệu suất thấp, giá thành cao (thường là các tổ máy chạy bằng dầu Diezen, các nhà máy nhiệt điện chạy than) để có đủ điện năng phục vụ khách hàng Trong khi vào giờ thấp điểm (khoảng
từ 22h đến 4h ngày hôm sau) lượng điện năng tiêu thụ giảm xuống rất thấp, gây ra tình trạng vận hành non tải của các máy biến áp, và các thiết bị điện, đồng thời các nhà máy điện phải vận hành một cách lãng phí (do các nhà máy nhiệt điện không thể dừng máy ngay lập tức được, bởi quá trình khởi động và đốt là mất rất nhiều thời gian và tốn kém) Các hiện tượng trên làm tổn thất một lượng điện năng đáng
kể Như vậy, nếu như các hộ tiêu dùng điện tránh sử dụng các thiết bị điện không thật cần thiết vào giờ cao điểm góp phần điều hoà phụ tải của hệ thống điện, do đó góp phần giảm tổn thất điện năng
*) Yếu tố tự nhiên:
Ngành điện là một trong những ngành chịu ảnh hưởng tương đối rõ rệt về các yếu tố môi trường tự nhiên, địa lý, khí hậu Và cùng với đó thì tổn thất điện năng trong nghành điện cũng chịu ảnh hưởng khá rõ của các yếu tố này Do yêu cầu về
kỹ thuật để đảm bảo tính kinh tế các nhà máy điện thường được xây dựng ở những nới gần các nguồn năng lượng sơ cấp như: Nguồn nước, than đá, dầu mỏ, khí đốt…
Do đó muốn đưa nguồn điện từ nơi sản xuất đến các phụ tải phải thông qua hệ thống đường dây tải điện, các trạm biến áp trải dài trên toàn bộ đất nước, hơn nữa hầu hết các đường dây tải điện và các trạm biến áp đều được vận hành ở ngoài trời,
và chịu tác động rất lớn bởi các yếu tố tự nhiên Sự ảnh hưởng của môi trường đến tổn thất điện năng được thể hiện qua các yếu tố sau:
- Do điện trở của kim loại và rất nhiều hợp kim tăng theo nhiệt độ, nên khi nhiệt độ thay đổi sẽ làm cho điện trở của các dây dẫn bằng kim loại (đồng, nhôm) thay đổi theo, mức độ thay đổi nhiều hay ít tuỳ thuộc vào nhiệt độ môi trường so với nhiệt độ chuẩn (quy ước là 200C), mặt khác tổn thất điện năng (tổn thất kỹ thuật) trong quá trình truyền tải và phân phối phần lớn là do điện trở của dây dẫn
Trang 31điện gây ra và nó thay đổi tỷ lệ thuận với điện trở của dây dẫn điện Như vậy, khi nhiệt độ tăng lên thì tổn thất điện năng cũng tăng lên và ngược lại
- Nước ta ở vùng khí hậu nhiệt đới gió mùa, nóng ẩm mưa nhiều, hiện tượng giông sét suất hiện nhiều trong năm ảnh hưởng không nhỏ đến tổn thất điện năng, điều đó được thể hiện ở chỗ:
+ Mưa nhiều độ ẩm cao, bụi bẩn hơi nước biển làm tăng nhanh quá trình ôxi hoá của các dây dẫn điện bằng kim loại và làm tăng điện trở tiếp xúc ở các mối nối,
từ đó làm giảm tính dẫn điện, làm tăng điện trở của đường dây và do đó làm tổn thất điện năng tăng lên
+ Giông, sét, bão lũ, mưa gió,… gây ra các sự cố ở các mức độ khác nhau đối với lưới điện như: vỡ sứ, đổ cột, đứt dây, ngắn mạch, chạm đất Các sự cố này không những làm gián đoạn quá trình cung cấp điện mà còn làm tăng tổn thất điện năng do một phần điện năng đã bị truyền xuống đất hoặc đốt cháy dây dẫn điện một cách vô ích
- Do hiện tượng phân mùa khí hậu trong năm (Xuân, Hạ, Thu, Đông ở miền Bắc; mùa Mưa và mùa Khô ở miền Nam) và do các nhu cầu tự nhiên khác làm cho nhu cầu sử dụng điện giữa các tháng và các mùa trong năm là tương đối khác nhau, dẫn đến tình trạng các máy biến áp, công tơ và các thiết bị đo đếm điện năng nhiều khi phải hoạt động trong điều kiện không đúng với công suất và dòng điện định mức (theo thiết kết lắp đặt) và do đó làm tăng tổn thất điện năng
*) Yếu tố thương mại:
Thực chất của yếu tố thương mại chính là hành vi gian lận thương mại, vi phạm sử dụng điện (vô tình hoặc cố ý) của các bên mua bán điện Các hành vi như: Lấy cắp điện dưới nhiều hình thức (câu móc điện trực tiếp, tác động làm sai lệch mạch đo đếm điện năng, gây hư hỏng, chết cháy công tơ ); không thanh toán hoặc chậm thanh toán hóa đơn tiền điện; do chủ quan của người quản lý khi công tơ hỏng không thay thế kịp thời, bỏ sót hoặc ghi sai chỉ số; do không thực hiện đúng chu kỳ kiểm định và thay thế công tơ định kỳ theo quy định của Nhà nước Hiện nay, những hành vi này đang là một nguyên nhân gây ra tổn thất điện năng
Trình độ quản lý, tổ chức hoạt động kinh doanh, quản lý khách hàng càng cao, càng khoa học và chặt chẽ thì càng nâng cao được khả năng phát hiện đuợc
Trang 32những hiện tượng trục trặc và bất thường trong quá trình kinh doanh bán điện như: Công tơ hỏng, chết, cháy, công tơ chạy không chính xác, khách hàng gian lận, vi phạm quy chế sử dụng điện, cán bộ công nhân viên ngành điện thông đồng, tiếp tay cho khách hàng ăn cắp điện…Để từ đó có các biện pháp khắc phục, sử lý kịp thời góp phần giảm tổn thất điện năng
d) Ý nghĩa của việc giảm tổn thất điện năng
Giảm TTĐN là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với ngành điện, không chỉ đối với riêng điện Việt Nam mà với tất cả ngành điện các nước trên thế giới Giảm TTĐN có một ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc dân và ngành điện
Theo EVN, năm 2003 Việt Nam giảm được 1% điện năng tổn thất sẽ tiết kiệm được 237.400MW, tương ứng với gần 179 tỷ đồng
*) Đối với doanh nghiệp kinh doanh điện năng: Nếu sản phẩm điện mua về
từ các nhà máy phát điện, trong quá trình truyền tải và phân phối bị tổn thất 100% thì các công ty kinh doanh điện sẽ không có lợi nhuận, thâm hụt ngân quỹ, nhanh chóng bị phá sản
TTĐN với tỷ lệ cao, dẫn đến giá thành điện cao, sản lượng điện tiêu thụ giảm Đối với ngành điện, đây là một thiệt hại lớn, thu hồi vốn lâu, như vậy, sử dụng đồng vốn không hiệu quả, dẫn đến phá sản
*) Đối với nền kinh tế quốc dân: Điện năng có một vị trí rất quan trọng trong nền KTQD Khi ngành điện không tự mình phát triển thì Nhà nước phải bù lỗ bằng Ngân sách Chính phủ Gánh nặng NSNN đòi hỏi các thành phần kinh tế tăng giá bán sản phẩm, hạn chế tiêu dùng Điều này làm cho nền kinh tế bị đình trệ, sản phẩm hàng hoá không được lưu thông
=> Vậy TTĐN vô hình chung đã kìm hãm sự phát triển KT-XH
Ngược lại, tỷ lệ TTĐN thấp sẽ mang lại lợi ích hết sức to lớn cho toàn bộ nền KTQD nói chung và ngành điện nói riêng Năm 2003, nếu giảm TTĐN xuống 0,5% thì sẽ tiết kiệm được trên 100 triệu KWh, tiết kiệm được hàng trăm triệu đồng cho NSNN Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc cải thiện đời sống nhân dân, giảm chi phí cho toàn bộ quá trình sản xuất, hạ giá thành bán điện cho các hộ dùng điện, kích thích tiêu dùng
Trang 33TTĐN giảm, ngành điện tiêu thụ được nhiều điện, có lợi nhuận, Nhà nước không phải bù lỗ, NSNN được sử dụng đầu tư vào các công việc có ích khác, tạo sự phát triển đồng đều cho xã hội
*) Đối với các hộ sử dụng điện : giá điện giảm, nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thêm thu nhập Các sản phẩm được kích thích tiêu dùng hơn do giá bán thấp, sức mua tăng lên Điện giá thấp, chất lượng cao nên độ bền của các máy móc, thiết
bị cao hơn Không còn xảy ra các tình trạng tai nạn về điện đáng tiếc do vi phạm sử dụng điện, sự cố do điện gây ra
Tóm lại, việc giảm TTĐN có ý nghĩa rất lớn đối với toàn xã hội từ Nhà nước
đến ngành điện, các hộ tiêu dùng Chính vì lẽ đó nên tổn thất điện năng đã, đang và
sẽ còn là vấn đề quan trọng, là mục tiêu số một của ngành điện cần được giải quyết
1.3 CÁC YẾU TỐ ẢNH HƯỞNG TỚI HIỆU QUẢ KINH DOANH CỦA DOANH NGHIỆP ĐIỆN
Đối với doanh nghiệp kinh doanh điện năng, một ngành mà Nhà nước độc
quyền quản lý thì các yếu tố chủ yếu ảnh hưởng hoạt động kinh doanh bao gồm:
1.3.1 Môi trường bên ngoài
* Tăng trưởng kinh tế: Môi trường kinh tế là một yếu tố bên ngoài tác động rất
lớn đến hiệu quả SXKD của doanh nghiệp Tăng trưởng kinh tế quốc dân, chính sách kinh tế của Chính phủ, tốc độ tăng trưởng, chất lượng của sự tăng trưởng hàng năm của nền kinh tế, tỷ lệ lạm phát, thất nghiệp, cán cân thương mại luôn là các nhân tố tác động trực tiếp đến các quyết định cung cầu và từ đó tác động trực tiếp đến kết quả và hiệu quả hoạt động SXKD của từng doanh nghiệp Là tiền đề để Nhà nước xây dựng các chính sách kinh tế vĩ mô như chính sách tài chính, các chính sách ưu đãi”
* Chế độ chính sách của Nhà nước: Chế độ chính sách của Nhà nước tác động
không nhỏ đến hiệu quả kinh doanh Sự tác động này nhiều kênh: Chế độ thuế, lãi suất ngân hàng, chính sách đầu tư, tu bổ các công trình điện, chính sách thu hút đầu tư của nước ngoài đối với ngành điện, Ngoài ra, kinh doanh điện năng còn phụ thuộc rất nhiều vào chính sách xã hội khác như: Chính sách xoá đói giảm nghèo, phát triển kinh
tế vùng cao, biên giới hải đảo, chính sách điện phục vụ nông nghiệp, nông thôn,
Trang 34* Lạm phát: Đây là nhân tố khách quan làm ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả
kinh doanh của doanh nghiệp, nó tác động đến cả đầu ra là doanh thu hàng hoá, dịch
vụ và tác động đến đầu vào là giá trị vốn, nguyên liệu hàng hoá và chi phí để tạo ra kết quả đó
* Môi trường thông tin: Trong nền kinh tế thị trường cuộc cách mạng về
thông tin đang diễn ra mạnh mẽ bên cạnh cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật Để làm bất kỳ một khâu nào của quá trình SXKD cần phải có thông tin, thông tin để điều tra khai thác thị trường cho ra một sản phẩm mới, thông tin về kỹ thuật sản xuất, về thị trường tiêu thụ sản phẩm, về các đối thủ cạnh tranh, về kinh nghiệm thành công hay nguyên nhân thất bại của các doanh nghiệp đi trước Doanh nghiệp muốn hoạt động SXKD có hiệu quả thì phải có một hệ thống thông tin đấy đủ, kịp thời, chính xác Ngày nay thông tin được coi là đối tượng kinh doanh, nền kinh tế thị trường là nên kinh tế thông tin hóa
Biết khai thác và sử dụng thông tin một cách hợp lý thì thành công trong kinh doanh là rất cao, đem lại thắng lợi trong cạnh tranh, giúp doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, tận dụng thời cơ hợp lý, mang lại sự thành công mong đợi của doanh nghiệp
* Môi trường công nghệ: Ngày nay công nghệ thông tin đóng vai trò hết sức
quan trọng trong hoạt động SXKD của doanh nghiệp Khi có bất cứ quyết định đầu
tư nào về mặt cơ sở vật chất, nhất là các tài sản cố định hữu hình, các dây chuyền sản xuất, nhà máy, phân xưởng,… các chủ doanh nghiệp cần cân nhắc thật kỹ Bởi chỉ cần một quyết định sai sẽ làm doanh nghiệp lâm vào tình trạng nợ nần, phá sản Nhà nước ta có chủ trương “đi tắt đón đầu” công nghệ của các nước phát triển để ứng dụng vào trong sản xuất kinh doanh nhằm mục tiêu nâng cao năng suất lao động, cải thiện đời sống công nhân, nâng cao trình độ quản lý…
* Môi trường quốc tế: Trong xu thế toàn cầu hoá nền kinh tế như hiện nay thì
môi trường quốc tế có sức ảnh hưởng lớn đến kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp Các xu hướng, chính sách bảo hộ hay mở cửa, sự ổn định hay biến động về chính trị, những cuộc bạo động, khủng bố, những khủng hoảng về tài chính, tiền tệ,
Trang 35thái độ hợp tác của các quốc gia, nhu cầu và xu thế sử dụng hàng hoá có liên quan đến hoạt động của doanh nghiệp đều có ảnh hưởng đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Môi trường quốc tế ổn định là cơ sở để các doanh nghiệp
tiến hành nâng cao hiệu quả hoạt động SXKD của mình
1.3.2 Môi trường bên trong doanh nghiệp
1.3.2.1 Bộ máy tổ chức, lực lượng lao động
* Yếu tố quản lý: Ngành điện có số lượng khách hàng rất lớn, địa bàn kinh
doanh rộng trên khắp cả nước nên việc quản lý là khó khăn Do vậy, với một cơ cấu
tổ chức hợp lý sẽ giúp ngành điện có thể tiến hành SXKD và quản lý hoạt động SXKD điện năng một cách có hiệu quả
* Yếu tố tổ chức lao động: Việc bố trí lao động hợp lý, làm việc theo đúng
ngành nghề được đào tạo có thể phát huy hết năng lực, từ đó sẽ làm tăng năng suất lao động nâng cao hiệu quả SXKD
* Lực lượng lao động: Đối với bất kỳ doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh
vực nào của nền kinh tế, lực lượng lao động đóng vai trò then chốt trong hoạt động SXKD Trình độ, năng lực của người lao động là nhân tố tác động trực tiếp đến kết quả kinh doanh của doanh nghiệp Có thể coi việc bố trí lao động phù hợp trong kinh doanh là điều kiện cần để kinh doanh đạt hiệu quả Đây còn là điều kiện để doanh nghiệp cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ sản xuất hiện đại tạo ra khả năng cạnh tranh tốt cho doanh nghiệp
Người ta nhắc đến luận điểm: Khoa học kỹ thuật công nghệ đã trở thành lực lượng lao động trực tiếp, áp dụng kỹ thuật tiên tiến là điều kiện kiên quyết để tăng hiệu quả SXKD trong doanh nghiệp Tuy nhiên, cần thấy rằng:
- Thứ nhất, máy móc dù tối tân đến đâu cũng do con người chế tạo Nếu không
có sự lao động sáng tạo của con người sẽ không thể có các máy móc thiết bị đó
- Thứ hai, máy móc thiết bị có hiện đại đến đâu thì cũng phải phù hợp với trình độ tổ chức kỹ thuật, trình độ sử dụng của người lao động Thực tế do trình độ
sử dụng kém nên vừa không đem lại năng suất cao, vừa tốn kém tiền bạc cho hoạt động sửa chữa, kết cục là hiệu quả SXKD thấp
Trang 36Trong SXKD lực lượng lao động của doanh nghiệp có thể vừa sáng tạo trong việc sử dụng, tạo ra tiềm năng lớn cho việc nâng cao hiệu quả SXKD, tạo ra sản phẩm mới Với kiểu dáng phù hợp với người tiêu dùng làm cho sản phẩm của doanh nghiệp
có thể bán giá cao tạo ra hiệu quả kinh doanh cao Lực lượng lao động trực tiếp tác động đến năng suất lao động, trình độ sử dụng nguồn lực khác (máy móc thiết bị, nguyên vật liệu …) nên tác động trực tiếp đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp
Chăm lo việc đào tạo bồi dưỡng và nâng cao trình độ chuyên môn của đội ngũ lao động được coi là nhiệm vụ hàng đầu của doanh nghiệp hiện nay và thực tế cho thấy những doanh nghiệp mạnh trên thị trường thế giới là những doanh nghiệp
có đội ngũ lao động có trình độ chuyên môn cao, có tác phong làm việc khoa học và
có kỷ luật nghiêm minh
* Chiến lược phát triển: Chiến lược mang tính lâu dài, nó đưa ra mục tiêu
tổng quát, to lớn cho sự phát triển ngành điện Những vấn đề như đáp ứng 100% số
xã có điện, đưa mức tiêu thụ điện lên 1.000 kWh/người năm, đáp ứng nhu cầu sản xuất, tiêu dùng của nhân dân, đáp ứng yêu cầu của công nghiệp hoá,… không thể thực hiện trong thời gian ngắn Để làm được như vậy ngành điện cần phải có chiến lược, như thế mới đủ để huy động nguồn lực: vốn, lao động, công nghệ,… phục vụ cho sự phát triển ngành Một chiến lược phát triển đúng đắn sẽ là nhân tố đảm bảo
sự phát triển ổn định và bền vững cho ngành điện
1.3.2.2 Nguồn lực tài chính
Vốn vai trò quyết định đến kết quả hoạt động SXKD của doanh nghiệp Doanh nghiệp có khả năng tài chính không những chỉ đảm bảo cho doanh nghiệp duy trì hoạt động SXKD ổn định mà còn giúp cho doanh nghiệp đầu tư đổi mới trang thiết bị tiếp thu công nghệ sản xuất hiện đại hơn nhằm làm giảm chi phí, nâng cao những mặt có lợi, khả năng tài chính còn nâng cao uy tín của doanh nghiệp, nâng cao tính chủ động khai thác và sử dụng tối ưu đầu vào
Với khả năng tài chính mạnh, ngành điện mới có thể tự chủ trong hoạt động sản xuất kinh doanh, cải tiến kỹ thuật, đầu tư đổi mới công nghệ nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Tuy nhiên, trong điều kiện hiện nay, giải quyết nguồn vốn là
Trang 37một bài toán khó đối với ngành điện Hàng năm, vấn đề thiếu điện trầm trọng buộc ngành điện phải cắt giảm luân phiên, việc vay vốn nhiều hay kêu gọi đầu tư vào các nhà máy thủy điện, nhiệt điện và sắp tới đây là điện hạt nhân, điện năng được sản xuất từ năng lượng mặt trời, năng lượng gió,… sẽ chi phối không nhỏ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành điện, ảnh hưởng đến hiệu quả kinh doanh
1.3.2.3 Trình độ áp dụng khoa học kỹ thuật phát triển cơ sở vật chất
Điện năng là một loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt, muốn mua bán điện năng cần phải xây dựng đường dây tải điện từ nơi sản xuất đến tận hộ tiêu thụ Hệ thống lưới điện là phương tiện truyền tải đơn giản, hiệu quả, nhưng nó đặt ra vấn đề về mặt an toàn đến tính mạng con người khi tiếp xúc với điện Vì vậy, công nghệ sản xuất cũng như truyền tải điện năng đòi hỏi yêu cầu cao nhất về mặt chất lượng vật liệu dẫn, cách điện và hệ số an toàn cho toàn bộ hệ thống công trình theo nó
1.3.2.4 Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin
Thông tin được coi là một hàng hóa, là đối tượng kinh doanh và nền kinh tế thị trường hiện nay được coi là nền kinh tế thông tin hóa Để đạt được hiệu quả cao trong hoạt động SXKD các doanh nghiệp cần có nhiều thông tin chính xác về cung cầu thị trường, dịch vụ, hàng hóa, công nghệ, đối thủ cạnh tranh, thông tin về giá cả, tỷ giá …
Ngoài ra, doanh nghiệp còn rất cần đến các thông tin về kinh nghiệm thành công hay bài học về thất bại của các doanh nghiệp khác ở trong nước và quốc tế, cần biết các thông tin về thay đổi trong các chính sách kinh tế của Nhà nước và các nước khác có liên quan
Trong SXKD biết mình biết người và nhất là hiểu rõ được các đối thủ thì mới có đối sách giành thắng lợi trong cạnh tranh, có chính sách phát triển mối quan hệ hợp tác, hỗ trợ lẫn nhau kinh nghiệm thành công của nhiều doanh nghiệp nắm bắt được các thông tin cần thiết và xử lý, sử dụng các thông tin đó kịp thời
là một điều kiện quan trọng để ra các quyết định SXKD có hiệu quả cao Những thông tin chính xác được cung cấp kịp thời sẽ là cơ sở vững chắc để doanh nghiệp xác định phương hướng kinh doanh, xây dựng chiến lược SXKD dài hạn của doanh nghiệp
Trang 381.3.2.5 Tổn thất điện năng
Đối với một doanh nghiệp kinh doanh trong lĩnh vực điện năng thì một yếu
tố tác động rất lớn đến hiệu quả kinh doanh là tổn thất điện năng Tổn thất điện năng có 3 dạng:
- Tổn thất điện năng trong sử dụng: Đó là ý thức không tiết kiệm, do sử dụng máy móc công cụ ngốn điện nhiều vì ham rẻ hoặc thiết bị và công nghệ lạc hậu của khách hàng,…
- Tổn thất điện năng kỹ thuật: Do hệ thống đường dây, trạm biến áp lạc hậu, kết cấu lưới điện phân phối không phù hợp, phụ tải phân bố không đều theo mùa, thời điểm,…
- Tổn thất thương mại: Do người tiêu dùng nhận thức, ý thức kém, câu móc trộm bằng nhiều biện pháp khác nhau,…
Trên đây là một số yếu tố điển hình tác động đến hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp kinh doanh điện năng Trong điều kiện kinh doanh thực tế còn có sự tác động của nhiều yếu tố khác nữa, mà chưa có điều kiện đề cập đến ở đây Để đưa
ra được những phương án kinh doanh có hiệu quả cao, các doanh nghiệp này cần phải xác định đầy đủ các yếu tố tác động, tìm hiểu và đề ra những kế hoạch phát triển trong việc sử dụng các nguồn lực hợp lý trong môi trường kinh doanh
1.3.3 Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả kinh doanh của doanh nghiệp điện
Kinh doanh bán điện là hoạt động cuối cùng của quá trình SXKD điện năng, thực hiện mục đích của sản xuất là tiêu dùng, đưa điện đến nơi tiêu dùng cuối cùng,
là cầu nối trung gian giữa sản xuất và tiêu dùng, đóng vai trò quyết định sự sống còn của Công ty Điện lực, cụ thể là:
+ Kinh doanh bán điện gắn người sản xuất và người tiêu dùng, giúp Công ty Điện lực biết được kết quả SXKD của mình thông qua nhu cầu sử dụng điện của khách hàng Khi điện năng được tiêu thụ tức là nó đã được người tiêu dùng chấp nhận để thoả mãn một nhu cầu nào đó (mặc dù điện năng là một loại hàng hóa có tính đặc thù, không thể không sử dụng) Sức tiêu thụ sản phẩm thể hiện uy tín của Công ty Điện lực, chất lượng của sản phẩm điện và sự hoàn thiện của các hoạt động dịch vụ Nói cách khác nó phản ánh điểm mạnh và điểm yếu của Công ty Điện lực, giúp Công ty Điện
Trang 39lực hiểu thêm về quá trình sản xuất và rút ra được các bài học kinh nghiệm cho giai đoạn tiếp theo Mặt khác, thông qua cách thức kinh doanh bán điện khách hàng hiểu rõ
về năng lực SXKD của Công ty Điện lực
+ Kinh doanh bán điện giúp Điện lực xác định được phương hướng và bước
đi của kế hoạch SXKD cho giai đoạn khác nhau Thông qua hoạt động bán điện, Công ty Điện lực có thể dự đoán được các yếu tố sau:
Dự báo được nhu cầu của từng thành phần sử dụng điện nói riêng, sự thay đổi của thái độ tiêu dùng và động cơ của khách hàng,
Dự báo diễn biến của thị trường Từ đó nắm bắt được cơ hội và nguy cơ liên quan đến điều kiện môi trường kinh doanh, đánh giá những lợi ích và thiệt hại khi xâm nhập thị trường từ đó tìm ra thị trường trọng điểm của mình
Từ những vấn đề trên đòi hỏi Điện lực phải coi nâng cao hiệu quả kinh doanh bán điện là mục tiêu xuyên suốt trong toàn bộ quá trình phát triển Bởi vì xuất phát từ những lý do sau đây:
* Không ngừng nâng cao hiệu quả kinh doanh là điều kiện để quyết định sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp trong nền kinh tế nhiều thành phần Không những đối với PCTX mà đối với bất kỳ một doanh nghiệp nào muốn tồn tại và phát triển thì kinh doanh phải có lãi để đảm bảo nhu cầu tái sản xuất Doanh nghiệp phải biết tận dụng nguồn lực sẵn có, tận dụng những lợi thế nội tại để tạo ra lợi thế cạnh tranh Điều này đồng nghĩa với việc doanh nghiệp phải nâng cao hiệu quả kinh doanh một cách liên tục trong mọi khâu của quá trình SXKD, trong đó có kinh doanh bán điện
* Nâng cao hiệu quả kinh doanh điện là yếu tố thúc đẩy tiến bộ trong kinh doanh Mặc dù độc quyền trong lĩnh vực kinh doanh điện năng trên địa bàn nhưng Công ty Điện lực Thanh Xuân cũng không tránh khỏi tác động của quy luật thị trường
* Nâng cao hiệu quả kinh doanh điện góp phần giải quyết mối quan hệ giữa
ba lợi ích: Nhà nước, tập thể và người lao động Vì khi nâng cao hiệu quả kinh doanh thì lợi nhuận của doanh nghiệp sẽ tăng, góp phần cải thiện đời sống của CBCNV, kích thích họ làm việc tích cực hơn, đồng thời tăng thêm các khoản phải nộp cho Nhà nước
Trang 40Kết luận Chương 1
Hiệu quả kinh doanh của một doanh nghiệp chịu sự tác động của nhiều yếu
tố, doanh nghiệp muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh của mình thì cần phải đánh giá đúng thực trạng, phân tích những nguyên nhân và thực hiện đồng bộ nhiều giải pháp khắc phục
Nghiên cứu ở chương một, ta thấy rõ doanh nghiệp điện năng muốn nâng cao hiệu quả kinh doanh thì phải thực hiện đồng bộ các giải pháp, sử dụng có hiệu quả các nguồn lực đầu vào hay tăng chất lượng đầu ra
Từ lý luận có thể khẳng định ý nghĩa thiết thực và tầm quan trọng, tính cấp bách phải nâng cao hiệu quả chất lượng trong quản lý và phục vụ cung cấp điện năng của Công ty Điện lực Thanh Xuân Những nội dung lý luận ở chương này sẽ là
cơ sở cho việc phân tích và đề xuất các giải pháp ở chương sau