Điện năng là một loại hàng hóa chiến lược có vai trò quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Trong những năm vừa qua thực hiện đường lối của Đảng: Phát triển năng lượng điện. Tập đoàn Điện lực Việt nam đã từng bước vươn lên và không ngừng phát triển, góp phần mạnh mẽ trong công cuộc công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Đến nay do nền kinh tế thị trường đã làm cho điện năng có một vị trí đặc biệt quan trọng trong nền kinh tế quốc dân. Song song với nhu cầu thiết yếu của nhân dân thì điện năng đã góp phần thúc đẩy nền kinh tế công nghiệp phát triển mạnh mẽ trong nhiều năm qua. Nắm bắt được điều đó Tập đoàn Điện lực Việt nam đã đẩy mạnh, phát triển nguồn năng lượng điện giúp cho việc kinh doanh phát triển hơn, đáp ứng được nguồn năng lượng cho nền công nghiệp hiện đại. Để đẩy mạnh việc kinh doanh, thu hút nhiều doanh nghiệp sử dụng hợp lý nguồn năng lượng điện, đáp ứng được phúc lợi cho xã hội thì giá điện phải phù hợp với từng thời kỳ. Trong các biện pháp giảm giá thành điện, giảm chi phí vận hành thì giảm tổn thất điện năng là một biện pháp quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao không chỉ với ngành điện mà còn mang lại lợi ích cho toàn xã hội.
Trang 11
LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan luận văn là công trình nghiên cứu của riêng tôi dưới
sự hướng dẫn của TS Bùi Anh Tuấn Tôi cũng xin cam đoan rằng mọi sự giúp
đỡ cho việc thực hiện luận văn này đã được cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã được chỉ rõ nguồn gốc
Tác giả
Võ Xuân Công
Trang 3đã đẩy mạnh, phát triển nguồn năng lượng điện giúp cho việc kinh doanh phát triển hơn, đáp ứng được nguồn năng lượng cho nền công nghiệp hiện đại Để đẩy mạnh việc kinh doanh, thu hút nhiều doanh nghiệp sử dụng hợp
lý nguồn năng lượng điện, đáp ứng được phúc lợi cho xã hội thì giá điện phải phù hợp với từng thời kỳ Trong các biện pháp giảm giá thành điện, giảm chi phí vận hành thì giảm tổn thất điện năng là một biện pháp quan trọng mang lại hiệu quả kinh tế cao không chỉ với ngành điện mà còn mang lại lợi ích cho toàn xã hội
Qua thực tế cho thấy, việc giảm tổn thất điện năng trong truyền tải và phân phối giúp cho ngành điện giảm được chi phí lớn, nhà nước giảm được chi phí bù lỗ cho việc vân hành nguồn năng lượng điện Các doanh nghiệp khai thác tối ưu hơn, đẩy mạnh quá trình sản xuất hàng hóa, mang lại hiệu quả cao cho doanh nghiệp người dân được sử dụng nguồn năng lượng ổn định, giá điện phù hợp với mức thu nhập của mình trong từng thời kỳ
Từ nhiều năm qua, ngành điện đã tích cực làm giảm tổn thất điện năng và đã đạt được kết quả tốt Đất nước đang tiến đến công nghiệp hóa,
Trang 42
hiện đại hóa Ngành điện là ngành công nghiệp chủ chốt, thúc đẩy quá trình phát triển chung của các ngành công nghiệp khác Đặc biệt hiện nay có những thời điểm điện năng không đủ đáp ứng cho nhu cầu tiêu dùng và sản suất nên việc giảm tổn thất điện năng trở thành nhu cầu cấp bách không chỉ của riêng ngành điện mà của cả toàn xã hội Trong quá trình sản xuất, truyền tải và phân phối điện năng sẽ xảy ra tổn thất kỹ thuật và tổn thất thương mại Làm thế nào để giảm tổn thất đến mức thấp nhất là vấn đề luôn luôn đặt ra cho ngành điện
2 Mục đích nghiên cứu
- Phân tích, đánh giá chính xác và đầy đủ về thực trạng quản lý điện năng, cơ sở hạ tầng, thiết bị và tình hình sử dụng năng lượng của các phụ tải khu vực thuộc huyện Từ Liêm
- Phân tích, đánh giá tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải phân phối điện và sử dụng điện năng ở khu vực huyện Từ Liêm
- Đưa ra một số giải pháp nhằm giảm tổn thất điện năng cho khu vực huyện Từ Liêm
- Phân tích, tính toán chi phí và hiệu quả kinh tế cho từng giải pháp
3 Nhiệm vụ nghiên cứu
- Tìm hiểu cơ cấu tổ chức, sơ đồ lưới hiện tại của Điện lực Từ Liêm
- Nghiên cứu tình hình quản lý điện năng ở Điện lực Từ liêm
- Nghiên cứu tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng
- Nghiên cứu xây dựng một số giải pháp giảm tổn thất điện năng áp dụng cho Điện lực Từ Liêm
4 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
- Đề tài được triển khai trong 10 tháng (06/2013 - 04/2014) Công ty điện lực Từ liêm
Trang 53
- Phân tích đánh giá tình hình tổn thất điện năng ở khu vực, đề xuất một
số giải pháp giảm tổn thất điện năng ở Công ty điện lực Từ liêm
5 Phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện các nội dung nghiên cứu – triển khai, đề tài sẽ sử dụng các phương pháp sau:
- Phương pháp tra cứu, hồi cứu tổng hợp tài liệu, số liệu, biên tập, lược dịch các tài liệu số liệu nhằm kế thừa các kết quả của các công trình nghiên cứu đã được triển khai, phục vụ việc nghiên cứu tổng quan, đánh giá tình hình tổn thất điện năng ở Công ty điện lực Từ liêm
- Điều tra xã hội học phỏng vấn trực tiếp kết hợp khảo sát, đánh giá nhằm lựa chọn đối tượng đưa vào nghiên cứu - triển khai thực hiện
- Phương pháp chuyên gia: nghiên cứu, phân tích, đánh giá để thực hiện việc xây dựng một số giải pháp giảm tổn thất điện năng nâng cao hiệu quả kinh tế
- Phương pháp nghiên cứu thực nghiệm: Phân tích đánh giá thực trạng
- Nghiên cứu đề xuất các giải pháp quản lý và kỹ thuật thông qua khảo sát, đo kiểm, ý kiến đóng góp của các chuyên gia, người hướng dẫn khoa học
6 Giả thuyết khoa học
- Nghiên cứu các giải pháp giảm tổn thất điện năng điển hình tại các công ty điện lực khác
- Thu thập và xử lý thông tin về thực trạng tổn thất điện năng tại đơn vị mình nghiên cứu
- Tổng hợp, phân tích, đánh giá thực trạng tổn thất điện năng tại đơn vị mình nghiên cứu
Trang 64
NỘI DUNG LUẬN VĂN
Trang 75
CHƯƠNG I
CƠ SỞ CỦA VẤN ĐỀ QUẢN LÝ TỔN THẤT ĐIỆN
NĂNG TRONG NGÀNH ĐIỆN I.1 Ngành điện và vị trí của ngành điện trong nền kinh tế quốc dân
I.1.1 - Đặc điểm chung của ngành điện
Điện là nguyên liệu đầu vào cho tất cả các ngành sản xuất và dịch vụ
trong nền kinh tế Vì vậy ngành điện luôn giữ một vai trò cực kỳ quan
trọng Trong bất cứ tình huống nào điện cũng phải bảo đảm cho yêu cầu
công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước và yêu cầu sinh hoạt của nhân
dân Tất cả các nước phát triển đều dựa trên cơ sở điện khí hoá Khi khoa
học càng phát triển thì vai trò của điện khí hoá càng rõ rệt
Ngành điện là một ngành có tính ổn định cao: Với vai trò là một
ngành cung cấp đầu vào thiết yếu cho hoạt động sản xuất và sinh hoạt Do
vậy, ngành ít chịu tác động từ các cú sốc kinh tế Hoạt động sản xuất mang
tính ổn định là một lợi thế rất lớn đối với ngành trong bối cảnh khủng
hoảng kinh tế hiện nay, tuy nhiên nó cũng là một nhược điểm làm giảm sức
hấp dẫn khi nền kinh tế phục hồi tăng trưởng và vượt qua khủng hoảng
Là ngành có tốc độ tăng trưởng khá cao: Tốc độ tăng trưởng của
ngành khá cao, trung bình thường gấp đôi so với tốc độ tăng trưởng GDP
Theo dự đoán của các chuyên gia, tốc độ tăng trưởng của ngành điện
trong những năm sắp tới có thể sẽ cao hơn gấp đôi so với GDP để đảm
bảo an ninh năng lượng và duy trì đà tăng trưởng kinh tế
Điện là một loại hàng hóa đặc biệt: Khác với những loại hàng hoá
thông thường, sản phẩm điện được khách hàng tiêu thụ trước sau một thời
gian mới ghi nhận và tính toán lượng điện năng khách hàng đã tiêu dùng
Quá trình ghi nhận số liệu điện năng tiêu dùng đó được chuyên biệt hoá
Trang 86
thành công tác ghi điện Vì vậy, trong kinh doanh bán điện xuất hiện nhu cầu cần phải có những biện pháp quản lý chặt chẽ quá trình ghi điện Thời điểm lập hoá đơn, thu tiền và tiêu thụ hàng hoá trong kinh doanh điện cũng mang tính chất đặc thù Đối với những hàng hoá thông thường, hầu như chỉ sau khi tập hợp hoá đơn, xuất kho và thu tiền, khách hàng mới được tiêu dùng hàng hoá Còn đối với sản phẩm điện, khách hàng tiêu dùng xong mới lập hoá đơn và thu tiền, trong khi đó phải bỏ ra chi phí lưu thông trước Nếu thu nhanh được tiền, tức là quay nhanh vòng vốn kinh doanh Chính vì vậy, trong kinh doanh điện xuất hiện nhu cầu quản lý chặt khâu thu tiền và rút ngắn thời gian khách hàng nợ
1[6]Giá cả trong kinh doanh điện năng cũng khác nhau Với hàng hoá thông thường, giá mua hàng và giá bán hàng do thị trường quyết định Còn trong kinh doanh điện, một mặt do điện năng là một loại vật tư kỹ thuật có tính chiến lược, mặt khác do nước ta đang trong thời kỳ quá độ lên XHCN, nền kinh tế thị trường có sự quản lý của Nhà nước đang trong giai đoạn hình thành và phát triển, nên Nhà nước còn phải có những điều tiết nhất định, trong đó có giá mua và giá bán điện Bên cạnh đó, bán điện cho khách hàng còn được điều chỉnh bởi mục đích sử dụng ( dùng cho sinh hoạt và hộ gia đình, dùng cho sản xuất và cơ quan hành chính sự nghiệp hay dùng để chạy bơm thuỷ lợi, tưới tiêu nước phục vụ sản xuất công nghiệp,…) và sản lượng điện mà khách hàng tiêu thụ
[6] Tổng công ty điện lực Miền Bắc (2013), Đặc điểm chung của ngành điện, Http://npc.com.vn
Trang 97
Bảng 1.1- Giá bán lẻ điện sinh hoạt
STT Mức sử dụng của một hộ trong tháng Giá bán điện (đồng/kWh)
1 Cho 50kWh (cho hộ nghèo và thu nhập
Nguồn: https://npc.com.vn – Tổng công ty điện lực Miền Bắc
Theo biểu giá trên, đối với điện bán lẻ sinh hoạt, khách hàng càng mua nhiều điện thì càng phải trả giá cao hơn, khác với các loại sản phẩm hàng hoá khác là càng mua nhiều càng được khuyến khích, giảm giá, có thưởng,… Nói cách khác, hiện nay khách hàng sử dụng điện sinh hoạt chưa được khuyến khích tiêu thụ điện năng
Đối với hàng hoá thông thường, hàng hoá lưu kho lâu ngày có thể bị
hư hỏng, biến chất nhưng thường vẫn tồn tại ở những dạng có thể quan sát được Ngược lại, trong kinh doanh bán điện, có một lượng điện tổn thất
mà chúng ta không thể thấy được, bao gồm tổn thất kỹ thuật và tổn thất phi kỹ thuật Nếu như tổn thất kỹ thuật là tất yếu, phụ thuộc và tình trạng lưới điện thì tổn thất phi kỹ thuật là hoàn toàn do chủ quan của những người làm công tác sản xuất kinh doanh: bị ăn cắp điện, tính toán điện năng trên hoá đơn sai,…tuy nhiên, điều khó khăn là phân biệt được chính xác hai loại tổn thất này vì hầu như không bao giờ biết được có tổn thất phi kỹ thuật hay không?
Trang 108
Điện năng vừa là tư liệu sản xuất vừa là tư liệu tiêu dùng Sản phẩm điện đặc biệt ở chỗ, nó ít có khả năng lựa chọn khách hàng Các hộ tiêu dùng rất đa dạng, từ những hộ tiêu thụ vài kWh/ tháng đến những hộ tiêu thụ vài triệu kWh/ tháng Điện luôn gắn bó với mọi hoạt động sản xuất kinh doanh và thân thiết trong sinh hoạt hàng ngày của toàn xã hội
Tính chất đặc biệt trong kinh doanh điện năng cho thấy quản lý kinh doanh điện năng thực sự là một ngành lớn và phức tạp Mọi chiến lược kinh doanh luôn phải xuất phát từ những đặc thù đó thì mới mang lại năng xuất và hiệu quả tối ưu cho ngành điện: tăng doanh thu để tăng lợi nhuận nhưng phải đảm bảo tiết kiệm điện đến mức tối đa
I.1.2- Vị trí của ngành điện trong nền kinh tế quốc dân
Năng lượng mà đặc biệt là điện năng đóng vai trò quan trọng trong
sự phát triển kinh tế xã hội Việc phát triển ngành điện luôn phải đi trước một bước và đã được Nhà nước ta nhiều năm nay rất quan tâm
2[5]Sản phẩm điện là giá trị đầu vào, nó tham gia, có mặt trong tất cả các hoạt động kinh tế – xã hội của cả nước; giá thành điện ảnh hưởng trực tiếp đến giá thành các loại sản phẩm của nền kinh tế; lượng điện năng có liên quan mật thiết đến chất lượng các loại sản phẩm có quy trình sản xuất
sử dụng điện
Thật vậy, ở lĩnh vực kinh tế, điện năng giúp cho sản xuất công nghiệp tăng năng suất, chất lượng và hiệu quả, giảm bớt sức lao động của con người Đặc trưng của nền sản xuất công nghiệp hiện đại hoá là tự động hoá Muốn tự động hoá, các nhà máy phải chạy bằng điện Điện năng giúp cho việc đảm bảo tưới tiêu, thuỷ lợi, phục vụ sản xuất nông
[5] Tập đoàn điện lực Việt Nam (2013), Vị trí ngành điện trong nền kinh tế quốc dân, Http://evn.com.vn
Trang 11bộ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới
Tóm lại, điện năng có vị trí quan trọng trong nền kinh tế quốc dân, góp phần tích cực vào sự nghiệp công nghiệp Công nghiệp hoá- Hiện đại hoá đất nước, nâng cao đời sống văn hoá, tinh thần của người dân cả nước nói chung và vùng sâu, vùng xa, miền núi nói riêng Do đó, ngành điện phải nâng cao hiệu quả kinh doanh bằng cách phải đầu tư nhiều thiết bị kỹ thuật thích hợp nhằm đáp ứng được nhu cầu dùng điện của các phụ tải
I.2 Yêu cầu cơ bản của việc quản lý kinh doanh điện năng
I.2.1- Nội dung công tác truyền tải và kinh doanh điện năng
Công tác kinh doanh trong ngành điện bao gồm các nội dung:
* Truyền tải điện từ Nhà máy sản xuất điện đến các trạm hạ áp, trạm biến áp rồi đến các hộ tiêu dùng
* Ký kết hợp đồng cung ứng sử dụng điện
* Tổ chức thực hiện và kiểm tra việc thực hiện hợp đồng
* Đặt và quản lý công tơ
* Ghi chỉ số điện năng tiêu thụ
* Làm hoá đơn
* Thu tiền điện
* Phân tích kết quả kinh doanh điện năng
Trang 1210
Hình 1.1 - Sơ đồ biểu diễn tiến trình công tác kinh doanh điện năng
I.2.2- Một số yêu cầu trong công tác quản lý truyền tải và kinh doanh điện năng
3[2]Việc quản lý quá trình truyền tải và phân phối điện năng phải đạt được một số yêu cầu cơ bản:
* Điện năng phải cung cấp liên tục Mất điện sản xuất sẽ bị đình trệ Mất điện đột ngột, thiết bị và sản phẩm có thể bị hư hỏng Điện cung cấp cho các hộ tiêu dùng với yêu cầu đủ số lượng, chất lượng và thời gian
* Bảo đảm tính an toàn cho sản xuất và tiêu thụ đối với thiết bị tiêu thụ điện: điện áp cung cấp phải ổn định, tần số dòng điện phải ổn
Hợp đồng cung ứng sử dụng điện
Bán điện
Ghi điện
Hoá đơn
Thu tiền
KW tự dùng và tổn
thất trong truyền tải
KW tổn thất trong phân phối và k doanh điện năng
Cáp
điện
mới
Ngân hàng
KW phân phối
KW thương phẩm
NGÂN HÀNG THANH TOÁN
(Đối với hộ sử dụng điện
cơ quan)
Trang 1311
định Vì hệ thống điện là một hệ thống khép kín và thống nhất, có tính đồng bộ cao từ khâu sản xuất đến khâu tiêu thụ, nếu chỉ cần một khâu nào
đó trong dây truyền sản xuất bị sự cố thì nó sẽ ảnh hưởng rất lớn đến toàn
bộ hệ thống
* Bảo đảm công tác quản lý trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng: giảm lượng tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phối kinh doanh điện năng
Nếu khâu quản lý tốt sẽ giảm được chi phí đầu vào của quá trình sản xuất kinh doanh, góp phần hạ giá thành của 1kWh điện, dẫn đến giảm giá bán điện, tạo điều kiện cho việc hạ chi phí đầu vào cho các ngành sản xuất và giảm chi phí cho các hộ tiêu dùng điện sinh hoạt, góp phần thúc đẩy nền sản xuất phát triển và nâng cao đời sống của nhân dân
I.3 Tổn thất điện năng và những yếu tố ảnh hưởng đến tổn thất điện năng
I.3.1- Khái niệm tổn thất điện năng
Hiệu số giữa tổng lượng điện năng do các nhà máy điện phát ra với tổng lượng điện năng các hộ tiêu thụ nhận được trong cùng một khoảng thời gian được xem là mất mát (tổn thất ) điện năng trong hệ thống truyền tải Lượng tổn thất được tính bằng công thức:
A =ASL - AHTD (1)[4]
Trong đó:
A : Lượng điện bị tổn thất trong quá trình truyền tải, tính từ
nguồn phát đến các hộ tiêu thụ (đơn vị: KWh)
A SL : Sản lượng điện đầu nguồn (đơn vị: KWh)
[4] Vũ Văn Tẩm, Ngô Hồng Quang (2009), Giáo trình Thiết kế cấp điện, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam
Trang 14I.3.2- Phân loại tổn thất điện năng
Tổn thất điện năng nói chung bao gồm:
* Tổn thất điện năng trong quá trình sản xuất (quá trình phát điện)
* Tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phôi điện năng
* Tổn thất điện năng trong quá trình tiêu thụ
I.3.2.1- Tổn thất trong quá trình sản xuất (quá trình phát điện)
Trong quá trình sản xuất điện, phải sử dụng các máy phát điện Do không sử dụng đồng bộ hệ thống máy phát điện nên không phát huy được hết công suất của máy móc và hiệu quả kinh tế không cao Do máy phát không phát huy được hết công suất nên một lượng điện cũng đã bị tổn thất
I.3.2.2- Tổn thất trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng
Trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng, người ta chia tổn thất thành 02 loại: Tổn thất kỹ thuật và tổn thất thương mại
Trang 1513
a/ Tổn thất kỹ thuật
Tổn thất kỹ thuật là số lượng điện năng bị mất mát, hao hụt dọc đường dây trong quá trình truyền tải điện từ nguồn điện đến hộ tiêu thụ, bao gồm tổn hao trên đường dây, tổn hao trong máy biến áp ( cả tăng và giảm áp ), tổn hao trong các đường cấp và tổn hao trong các cuộn của đồng hồ đo đếm
Tổn thất kỹ thuật cao hay thấp phụ thuộc vào công nghệ sản xuất truyền tải điện Thực tế trong lĩnh vực sản xuất kinh doanh, những cơ sở sản suất hay kinh doanh nếu có trình độ quản lý tốt thì có thể tránh được tình trạng hao phí thất thoát Nhưng đối với lĩnh vực sản xuất kinh doanh điện năng thì đây là một tổn thất tất yếu phải có, không thể tránh khỏi vì phải có một lượng điện năng phục vụ cho công nghệ truyền tải điện Chúng ta có thể giảm lượng tổn thất này bằng cách đầu tư công nghệ, kỹ thuật nhưng không thể giảm tới 0 Ở mỗi trình độ kỹ thuật nhất định, lượng tổn thất này có thể giảm tới một lượng tối thiểu để đảm bảo công nghệ truyền tải
Thông thường, trong tổng điện năng tiêu thụ để phục vụ công nghệ truyền tải gồm khoản 65% tiêu tốn trên đường dây, 30% trong máy biến
áp, còn trong các phần tử khác của mạng ( cuộn điện kháng, thiết bị bù, thiết bị đo lường,…) chiếm khoảng 5%
Bắt nguồn từ sai sót trong tổ chức quản lý kinh doanh điện, dẫn tới sai sót trong đầu tư xây dựng cải tạo lưới điện Tổn thất kỹ thuật xảy ra ở trên các đường dây, trong máy biến áp, phụ thuộc vào thông số kỹ thuật của đường dây và máy
b/ Tổn thất thương mại
Là lượng điện tổn thất trong quá trình phân phối điện đến người tiêu dùng do sự vi phạm quy chế sử dụng điện Đó là lượng điện bị tổn hao do
Trang 1614
tình trạng các tập thể, xí nghiệp, hộ tiêu thụ lấy cắp điện, khách hàng bị
bỏ sót, đội ngũ cán bộ quản lý yếu kém hoặc cố ý móc ngoặc thông đồng với khách hàng, việc ghi sai số công tơ, thu tiền điện không đúng kỳ hạn, giá điện không phù hợp với loại điện sử dụng
I.3.2.3- Tổn thất ở khâu tiêu thụ
Mức độ tổn thất ở khả năng này phụ thuộc vào khả năng sử dụng, điều kiện trang bị các thiết bị phụ tải ở các hộ dùng điện Nguyên nhân gây nên tổn thất ở khâu này là việc sử dụng điện không hợp lý của các đối tượng sử dụng điện
Ví dụ: Trong các hộ sử dụng điện, nếu sử dụng dây dẫn không đủ lớn so với phụ tải, cách điện không tốt trên các phần cách điện thì sẽ dẫn đến mất mát điện năng
Tất cả mọi tổn thất đều diễn ra phía sau đồng hồ đo đếm điện của
cơ sở kinh doanh điện, nên các thành phần, đối tượng sử dụng điện cần biết rõ nguyên nhân để giảm tổn thất cho chính mình bằng cách chọn phương thức sử dụng hợp lý, tiết kiệm nhưng lại có hiệu quả nhất Đối với ngành điện, để giảm tỷ lệ tổn thất, trước tiên phải phân tích được nguyên nhân gây nên tổn thất điện năng, xác định được nơi nào, khâu nào điện năng thất thoát nhiều nhất
I.3.3 - Các nhân tố ảnh hưởng đến tổn thất điện năng
Từ khâu sản xuất đến khâu cuối cùng là khâu tiêu thụ, điện năng bị tổn thất một lượng không nhỏ Điện năng bị hao tổn do ảnh hưởng của rất nhiều nhân tố Trong phạm vi bài viết này, tôi chỉ xin đề cập đến nguyên nhân dẫn đến tổn thất điện năng trong quá trình truyền tải và phân phối điện năng
Trang 1715
I.3.3.1- Các nhân tố khách quan
Để đảm bảo tính kinh tế và trong sạch về môi trường, các nhà máy điện thường được xây dựng tại nơi có nguồn năng lượng: cơ năng của dòng nước, nhiệt năng của than đá, dầu mỏ,…Do đó, phải truyền tải điện
từ nhà máy điện đến các nơi tiêu thụ Nhiệm vụ này được thực hiện nhờ
hệ thống điện Hệ thống điện là tập hợp các Nhà máy điện, đường dây truyền tải điện, mạng phân phối và các hộ dùng điện, nhằm thực hiện nhiệm vụ sản xuất, truyền tải, phân phối và sử dụng điện năng một cách tin cậy, kinh tế và chất lượng đảm bảo
MBA t¨ng ¸p Nguån
h¹ ¸p
Phô t¶i
Hình 1.2 - Sơ đồ hệ thống điện
Phần hệ thống điện bao gồm các trạm biến áp và các đường dây tải điện: gồm hàng chục các bộ phận rất đa dạng: máy biến áp, máy cắt, dao cách
ly, tụ bù, sứ xuyên thanh cái, cáp ngầm, cột, đường dây trên không; phụ kiện
đi nối dây dẫn và dây chống sét với cột, sứ cách điện,…Các bộ phận này đều phải chịu tác động của thiên nhiên (gió, mưa, ăn mòn, băng giá, sét, dao động, nhiệt độ, bão từ, rung động do gió, văng bật dây,…) Hệ thống điện của nước
ta phần lớn là nằm ở ngoài trời, do đó tất yếu sẽ chịu ảnh rất lớn của điều kiện
tự nhiên Sự thay đổi, biến động của môi trường tự nhiên có ảnh hưởng rất lớn tới sự tổn thất điện năng của ngành điện
Nước ta nằm ở vùng nhiệt đới gió mùa, nên độ ẩm tương đối cao, nắng lắm mưa nhiều đã gây không ít khó khăn cho việc bảo dưỡng thiết bị
và vận hành lưới điện Các đường dây tải điện và máy biến áp đều được
Trang 1816
cấu thành từ kim loại nên độ ẩm cao làm cho kim loại nhanh bị ô xi hoá
và như vậy dẫn đến hiện tượng máy biến áp và dây tải điện sử dụng không hiệu quả nữa, lượng điện bị hao tổn
Mạng lưới truyền tải điện phải đi qua nhiều khu vực, điạ hình phức tạp Đồi núi, rừng cây,…nên khi sự cố điện xảy ra, làm tổn thất điện do phóng điện thoáng qua cây cối trong hoặc gần hành lang điện, đốt rừng làm rẫy trong hành lang điện Địa hình phức tạp làm cho công tác quản lý
hệ thống điện, kiểm tra sửa chữa, xử lý sự cố gặp không ít khó khăn, nhất
là vào mùa mưa bão, gây ra một lượng tổn hao không nhỏ
Thiên tai do thiên nhiên gây ra: gió, bão, lụt, sét,…làm đổ cột điện, đứt dây truyền tải, các trạm biến áp và đường dây tải điện bị ngập lụt trong nước, làm cho nhiều phụ tải lưới điện phân phối bị sa thải do mạng điện hạ áp bị hư hỏng, ảnh hưởng đến sản lượng truyền tải điện Nhiệt độ môi trường cao làm cho dây tải điện nóng hơn so với bình thường nên sản lượng điện truyền tải không đạt chất lượng, bị hao hụt do toả điện ra bên ngoài
Thiên tai do thiên nhiên gây nên tổn thất lớn đối với nền kinh tế nói chung và ngành điện nói riêng Đơn cử như trận lụt thế kỷ xảy ra tại các tỉnh miền trung vào những tháng cuối năm 2008: một số trạm biến áp và đường dây 110 KV bị ngập trong nước nhiều ngày liền, không thể vận hành được, nhiều phụ tải trên lưới điện phân phối bị sa thải do mạng lưới điện áp bị hư hỏng, ảnh hưởng nhất định đến sản lượng truyền tải điện; sự
cố sạt lở móng trụ vị trí 371 đường dây 110 KV Huế - Đà Nẵng có nguy
cơ gây sự cố lớn cho hệ thống,… theo số liệu thống kê của cơ quan chức năng trong ngành thì những tổn thất của ngành do đợt thiên tai gây ra với
01 người chết, thiệt hại về tài sản khoảng gần 30 tỷ đồng trong tổng số thiệt hại 3.300 tỷ đồng; có 55 vị trí cột điện, đường dây tải điện 110- 220
Trang 1917
KV, 24 cột đường dây 500 KV Bắc Nam có nguy cơ bị đổ do xói lở trụ và
kè móng; 124,5 km đường dây cao, hạ thế và 61 trạm biến áp, dung lượng 22,380 KVA bị hư hỏng Đặc biệt là toàn bộ nhà máy thuỷ điện An Điểm trên địa bàn tỉnh Quảng Nam bị phá huỷ hoàn toàn
I.3.3.2- Các nhân tố chủ quan
truyền tải và phân phối điện năng
Trong quá trình phân phối và truyền tải điện năng thì tổn thất điện5[3] năng là không tránh khỏi Lượng tổn thất điện năng theo lý thuyết
là lượng tổn thất kỹ thuật - lượng điện năng tiêu tốn để phục vụ cho công nghệ truyền tải điện Lượng điện năng tiêu tốn cho công nghệ này lớn hay nhỏ đều phụ thuộc vào trình độ kỹ thuật truyền tải Do đó, nếu kỹ thuật công nghệ của thiết bị càng tiên tiến thì sự cố càng ít xảy ra, và có thể tự ngắt khi sự cố xảy ra,… dẫn đến lượng điện hao tổn càng ít Để vận hành máy truyền tải mất ít thời gian vận hành hơn, tốn ít năng lượng nên lượng điện mất mát giảm Ngược lại, thì lượng điện tổn thất sẽ rất lớn Chính điều này đã giải thích tại sao ở các nước kém phát triển tỷ lệ tổn thất điện lại cao hơn rất nhiều so với các nước phát triển
Sự lạc hậu về thiết bị, công nghệ: hệ thống điện chắp vá, tận dụng, chưa đồng bộ, chưa hoàn chỉnh, sự cọc cạch trong hệ thống như với đủ mọi dây dẫn tận dụng khác nhau,…Các bộ phận của hệ thống điện, với cùng thời gian sẽ bị lão hoá Thêm vào đó sự phát triển như vũ bão của khoa học- công nghệ kéo theo sự tiên tiến, hiện đại hoá các thiết bị, máy móc trong mọi lĩnh vực, kích thích tiêu dùng năng lượng nhiều hơn Vì
[3] Nguyễn Xuân Phú (2003), Sử dụng hợp lý tiết kiệm và hiệu quả điện năngtrong sản xuất & sinh hoạt,
Nhà xuất bản KHKT
Trang 2018
vậy, nếu không quản lý, bảo dưỡng, giám sát đổi mới công nghệ truyền tải
sẽ dẫn đến tổn thất lớn Những máy biến áp của thế hệ cũ không đáp ứng được nhu cầu tải điện trong giai đoạn hiện nay, xuất hiện tình trạng máy
bị quá tải hoặc non tải, dây dẫn không có tiết diện đủ lớn để truyền tải dẫn đến tình trạng quá tải đường dây, công tơ cũ, lạc hậu, không hiển thị rõ chỉ số, cấu tạo đơn giản làm cho người sử dụng dễ lấy cắp điện Trong ngành điện, sự đổi mới kỹ thuật không đồng bộ cũng sẽ dẫn đến tổn thất điện năng Ví dụ như hiện nay, ngành điện đang cải tạo, đổi mới lưới điện
để khắc phục tình trạng quá tải Ngành điện đã thay các trạm biến áp có cấp điện áp 35 KV, 15 KV bằng các máy biến áp có cấp điện áp 22 KV nhưng đường dây và các trạm phân phối không được cải tạo đồng bộ dẫn đến tình trạng không khai thác được cuộn 22 KV mà các cuộn 35, 15, 10,
6 KV vẫn bị quá tải Như vậy, lượng tổn thất vẫn bị tăng do chạy máy không tải và do một số trạm quá tải
Tất cả những nhân tố trên đều dẫn đến tổn thất điện năng Muốn giảm được lượng điện tổn thất này thì phải cải tiến kỹ thuật công nghệ truyền tải nhưng phải cải tiến đồng bộ
b/ Tổ chức sản xuất kinh doanh
Để quản lý tốt sản phẩm của mình, giảm lượng điện hao hụt trong quá trình phân phối và truyền tải điện năng, người lao động đóng vai trò không nhỏ, các công nhân, kỹ sư,…phải có trình độ chuyên môn nghiệp vụ nhất định Phải thông thạo về kỹ thuật, kinh tế, nghiệp vụ về điện để tuyên truyền, hướng dẫn cho khách hàng trong quá trình mua hàng và phương pháp sử dụng, nhất là an toàn điện, tránh xảy ra những tổn thất không đáng có Phải thông thạo trong việc sử dụng, kiểm tra các thiết bị điện thuộc phạm vi mình quản lý Khi có sự cố xảy ra: chập, cháy, nổ,…thì những cán bộ công nhân
Trang 2119
ngành điện phải được đào tạo chính quy và có trình độ kỹ thuật nghiệp vụ tối thiểu Trình độ cán bộ, công nhân ngày càng cao thì xử lý các tình huống càng kịp thời, chính xác Bên cạnh đó, việc bố trí đúng người, đúng việc trong ngành điện rất quan trọng, một mặt giúp họ phát huy hết khả năng của mình, mặt khác đảm bảo được an toàn, bởi ngành điện là ngành có yêu cầu cao về
kỹ thuật Được bố trí công việc phù hợp giúp cho cán bộ, công nhân say mê, sáng tạo, tránh được các hành vi tiêu cực do chán nản gây ra: làm việc thiếu nhiệt tình, không tận tuỵ hết lòng vì công việc, khi có sự cố xảy ra, xử lý chậm chạp, không đúng quy trình, quy phạm kỹ thuật, gây thiệt hại lớn; nhân viên ghi công tơ không đều đặn theo lịch hàng tháng, ghi sai chỉ số, ghi chỉ số khống,…; hiện tượng cán bộ công nhân viên ngành điện móc ngoặc với các
hộ sử dụng điện, ghi sai chỉ số công tơ, thu tiền không đúng kì hạn, tính sai giá điện, làm hợp đồng không đúng với thực tế sử dụng,…
c/ Quản lý khách hàng
Ngành điện là ngành cơ sở hạ tầng, tạo nên động lực của toàn bộ nền kinh tế xã hội Điện năng là một loại sản phẩm hàng hoá đặc biệt quan trọng, gắn với đời sống hàng ngày của con người Chính vì vậy, khách hàng tiêu thụ điện rất đa dạng, thuộc mọi tầng lớp, mọi lĩnh vực, mọi miền và mọi vùng của quốc gia, từ khách hàng chỉ tiêu thụ 2-3 KWh/tháng đến những khách hàng tiêu thụ hàng triệu KWh/ tháng
Khách hàng của ngành điện gồm sản xuất công nghiệp, sản xuất nông nghiệp, thuỷ lợi, dịch vụ thương mại và sinh hoạt tiêu dùng ở đô thị, nông thôn và miền núi Là doanh nghiệp sản xuất kinh doanh trong cơ chế mới, mục tiêu phát triển khách hàng của ngành là:
* Hướng phát triển khách hàng vào các thành phần công nghiệp, xây dựng và dịch vụ thương mại, nhất là các xí nghiệp liên doanh với nước ngoài,
Trang 22Do khách hàng của ngành điện rất đa dạng và phong phú như vậy nên việc quản ký khách hàng đối với ngành điện là tương đối khó khăn Quản lý khách hàng không tốt dẫn đến việc tổng điều tra và ký lại hợp đồng mua bán chưa đầy đủ, tên người sử dụng điện khác với tên người ký hợp đồng, địa chỉ không rõ ràng, gây nên hiện tượng thất thu tiền điện Quản lý khách hàng theo từng khu vực, phân loại khách hàng theo từng đặc điểm sẽ giúp cho việc ghi công tơ và thu ngân được đúng tiến độ, không quá hạn lịch ghi công tơ hàng tháng, công việc này góp phần giảm tổn thất điện năng một cách đáng kể
Khách hàng được quản lý sát sao, có hệ thống giúp cho ngành điện nắm vững được mục đích sử dụng điện của từng hộ để tính giá điện cho phù hợp, khi có sự cố xảy ra, biết rõ đang xảy ra ở khu vực nào, từ đó có biện pháp xử
lý hợp lý, kịp thời
Quản lý khách hàng thông qua quản lý công tơ các hộ sử dụng điện; các công tơ chết cháy không đạt chất lượng phải được thay kịp thời Các hình thức vi phạm hợp đồng sử dụng điện phải bị xử phạt nghiêm minh
Như vậy, công tác quản lý khách hàng tốt sẽ góp phần rất lớn vào việc giảm tổn thất điện năng của ngành điện
I.3.4 - Ý nghĩa của việc giảm tổn thất điện năng
Giảm tổn thất điện năng là một vấn đề cần thiết không chỉ đối với ngành điện, không chỉ đối với riêng Điện Việt Nam mà đối với ngành điện các nước trên thế giới Giảm tổn thất điện năng có một ý nghĩa to lớn đối với nền kinh tế quốc dân và ngành điện
Trang 2321
Ngành điện là một ngành sản xuất kinh doanh sản phẩm điện nên muốn tiếp tục duy trì và phát triển thì ngành điện phải có lợi nhuận để thực hiện tái đầu tư mở rộng để phát triển Nếu sản phẩm điện mua về từ các nhà máy phát điện, trong quá trình truyền tải và phân phối bị tổn thất 100% thì các Công ty kinh doanh điện sẽ không có lợi nhuận, thâm hụt ngân quỹ do chỉ có đầu ra
mà không có đầu vào và các Công ty kinh doanh thuộc ngành điện sẽ nhanh chóng bị phá sản, không tồn tại
Trong trường hợp lượng điện tổn thất với tỷ lệ cao Do đây chính là một bộ phận cấu thành nên chi phí sản phẩm, nên khi tỷ lệ tổn thất cao tất yếu
sẽ dẫn đến giá thành điện cao Công ty kinh doanh điện muốn có lợi nhuận để thực hiện tái đầu tư thì giá bán phải cao hơn giá thành sản phẩm, giữa giá bán
và giá thành là mối quan hệ tỷ lệ thuận Giá bán điện cao, theo quy luật cung- cầu, dẫn đến sản lượng điện tiêu thụ giảm Đối với ngành điện, đây là một thiệt hại lớn, ngành sẽ thu hồi vốn lâu, như vậy, việc sử dụng đồng vốn không hiệu quả, tất yếu dẫn đến phá sản Nền kinh tế quốc dân cũng bị thiệt hại rất lớn, bởi ngành điện có một vị trí rất quan trọng trong nền kinh tế quốc dân Vì vậy, khi ngành điện không tự mình phát triển đi lên thì Nhà nước phải bù lỗ bằng Ngân sách Chính phủ, mà nguồn ngân sách Chính phủ được thu từ các thành phần kinh tế Vậy, gánh nặng ngân sách buộc các thành phần kinh tế muốn tồn tại phải tăng giá bán sản phẩm của mình, dẫn đến tình trạng hạn chế tiêu dùng Đây không phải là điều mong muốn của thị trường, của các doanh nghiệp Điều này làm cho nền kinh tế bị đình trệ, sản phẩm hàng hoá không được lưu thông Vậy tổn thất điện năng vô hình chung đã kìm hãm sự phát triển kinh tế xã hội
Ngược lại, tỷ lệ tổn thất điện năng thấp sẽ mang lại lợi ích hết sức to lớn cho toàn bộ nền kinh tế quốc dân nói chung và ngành điện nói riêng Theo
số liệu tính toán và thống kê năm 2003, nếu giảm tổn thất điện năng xuống
Trang 2422
0,5% thì sẽ tiết kiệm được trên 100 triệu KWh, tương đương 5 vạn tấn nhiên liệu tiêu chuẩn không phải đốt và ít nhất tiết kiệm được hàng trăm triệu đồng cho Nhà nước Giảm được tổn thất điện năng tức là giảm được tỷ lệ thiết bị phát điện của nhà máy, đồng thời giảm được nhiên liệu tiêu hao,…Điều đó ảnh hưởng trực tiếp đến việc cải thiện đời sống nhân dân, góp phần vào việc giảm chi phí cho toàn bộ quá trình sản xuất, tạo điều kiện hạ giá thành bán điện cho các hộ dùng điện, kích thích tiêu dùng
Đối với các hộ sử dụng điện để sản suất, giá điện giảm sẽ góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất, tăng thêm thu nhập thực tế Các sản phẩm hàng hoá được kích thích tiêu dùng hơn do giá bán thấp, sức mua tăng lên
Đối với Nhà nước, tổn thất điện năng giảm, ngành điện tiêu thụ được nhiều điện, có lợi nhuận nên Nhà nước không phải bù lỗ, Ngân sách Nhà nước được sử dụng đầu tư vào các công việc có ích khác, tạo sự phát triển đồng đều cho xã hội
Người dân, hộ sử dụng điện được dùng điện với giá thấp, chất lượng cao: điện áp cố định, tần số ổn định do hệ thống điện được đầu tư mới, không còn hiện tượng câu móc điện làm cho điện sử dụng bị sụt tải,…nên độ bền của các máy móc, thiết bị cao hơn Không còn xảy ra các tình trạng tai nạn về điện đáng tiếc do vi phạm sử dụng điện, sự cố do điện gây ra: phóng điện, chập điện,…
Việc giảm tổn thất điện năng có ý nghĩa rất lớn đối với toàn xã hội từ Nhà nước đến ngành điện, các hộ tiêu dùng Chính vì lẽ đó nên tổn thất điện năng đã, đang và sẽ còn là vấn đề quan trọng, là mục tiêu số một của ngành điện cần được giải quyết
Trang 2523
I.4 Tiểu kết chương I
Trong chương 1, tác giả luận văn đã đề cập đến những cơ sở khoa học
về quản lý tổn thất trong ngàng điện làm cơ sở cho các nghiên cứu tiếp theo của Luận văn Tác giả đã khái quát hoá nội dung cơ bản của công tác quản lý tổn thất điện năng trong ngành điện
Luận văn cũng đã đề cập đến các chỉ tiêu đánh giá công tác quản lý tổn thất trong ngàng điện Từ đó, ta có thể xác định được mức độ tổn thất hiện tại và cần phải làm gì trong thời gian tiếp theo
Để giúp cho việc nghiên cứu có chiều sâu hơn, tác giả luận án đã có sự phân tích và tìm hiểu những nguyên nhân gây ra tổn thất điện năng Những nguyên nhân này được xem xét cả ở khía cạnh bên trong lẫn bên ngoài tổ chức, để từ đó rút ra những bài học cho việc giảm tổn thất một cách hiệu quả
Tất cả hệ thống lý thuyết ở trên là những căn cứ khoa học, là tiền đề cho việc phân tích thực trạng và đề xuất các giải pháp của tác giả sẽ được đề cập đến trong nội dung của các chương sau
Trang 2624
CHƯƠNG II ĐIỆN LỰC TỪ LIÊM VÀ TỔN THẤT ĐIỆN NĂNG
II.1 Quá trình hình thành, phát triển của Công ty Điện lực Từ liêm II.1.1 Lịch sử hình thành và phát triển
Công ty Điện lực Từ Liêm (Tên giao dịch bằng tiếng Anh: POWER COMPANY OF TỪ LIÊM, tên viết tắt là: PCTL) có trụ sở chính tạiThôn Mễ Trì Hạ, xã Mễ Trì - Từ Liêm - Hà Nội Đây là một doanh nghiệp quốc doanh Trung ương có cơ quan cấp trên trực tiếp là Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội (thuộc Tập đoàn điện lực Việt Nam)
Các mốc lịch sử quan trọng:
Công ty Điện lực Từ Liêm được thành lập dựa trên cơ sở Tổ chức lại Chi nhánh điện Từ Liêm theo Quyết định của Tổng Công ty Điện lực Việt
Nam năm 1995 có trụ sở tại TT Cầu Giấy- Từ Liêm - Hà Nội
Năm 2002 trên cơ sở Điện lực Từ Liêm tách thành Điện lực Từ Liêm
và Điện lực Cầu Giấy, Điện lực Từ Liêm chuyển trụ sở làm việc về Thị trấn Cầu Diễn - Từ Liêm - Hà Nội
Tháng 4/2010, Điện lực Từ Liêm đổi tên thành Công ty Điện lực Từ Liêm theo Quyết định số 237/QĐ-EVN ngày 14/4/2010 của Tập đoàn Điện lực Việt Nam
Tháng 01/2012 Công ty Điện lực Từ Liêm chuyển trụ sở làm việc về Thôn Mễ Trì hạ xã Mễ Trì – Từ Liêm Hà Nội
II.1.2 Một số đặc điểm sản xuất kinh doanh của Công ty Điện Lực
Từ Liêm
II.1.2.1 Lĩnh vực sản xuất kinh doanh
Các lĩnh vực hoạt động kinh doanh chính của Công ty là:
Trang 2725
Phát triển công nghiệp điện: Sản xuất và kinh doanh điện năng; đầu
tư xây dựng mới các dự án điện Phát điện, truyền tải điện, phân phối điện, bán buôn điện, bán lẻ điện Đầu tư, xây dựng và cải tạo lưới điện đến cấp điện
áp 35 kV
Cung cấp các dịch vụ kỹ thuật điện: Quản lý vận hành lưới điện đến
cấp điện áp 35 kV Lắp đặt các hệ thống điện Sửa chữa, thí nghiệm, hiệu chỉnh các thiết bị điện
Cung cấp dịch vụ tư vấn điện:Tư vấn, thiết kế đường dây và trạm
biến áp đến cấp điện áp 35 kV Tư vấn, giám sát thi công các công trình đường dây và trạm biến áp đến cấp điện áp 35 kV
Sản xuất và kinh doanh thiết bị điện: Gia công, chế tạo các phụ tùng,
phụ kiện cho lưới điện
- Bán buôn máy móc, thiết bị điện, vật liệu điện
- Bán lẻ đồ điện gia dụng, đèn và bộ đèn điện
Dịch vụ viễn thông: Làm đại lý các dịch vụ viễn thông cơ bản, dịch vụ GTGT
- Bán buôn thiết bị và linh kiện điện tử, viễn thông
- Bán lẻ máy vi tính, thiết bị ngoại vi, phần mềm và thiết bị viễn thông
- Xây dựng công trình bưu chính, viễn thông
Lĩnh vực khác: Lập và quản lý các dự án xây dựng công trình
II.1.2.2 Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Xem xét kết quả kinh doanh trong 4 năm gần đây, được sự quan tâm 6[1]chỉ đạo toàn diện của Chính phủ, Tập đoàn điện lực Việt Nam cũng như Tổng Công ty điện lực TP Hà Nội; cùng với sự nỗ lực, phấn đấu hết mình của tập thể CBCNV trong Công ty Điện lực Từ Liêm, đến nay Công ty đã trưởng
[1] Điện lực Từ Liêm (2012), Báo cáo tổng kết thực hiện SXKD năm 2010- 2012, Hà Nội
Trang 2826
thành và phát triển, góp phần vào sự phát triển của kinh tế - xã hội quốc gia Với sự tăng lên về sản lượng điện hàng năm, công ty đã đảm bảo được đủ điện cung cấp cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân địa bàn huyện Từ Liêm
Bảng 2.1 - Kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh
Nguồn: Báo cáo thành tích kinh doanh của Công ty điện lực Từ Liêm (2010 - 2012)
Hoạt động kinh doanh của Công ty điện lực Từ Liêm ngày càng có hiệu quả, doanh thu và lợi nhuận hàng năm đều tăng Nếu doanh thu năm 2009 đạt
623 tỷ đồng, thì đến năm 2012 đã đạt 1.173 tỷ tăng gần gấp đôi so với năm
2009 Sự tăng trưởng của doanh thu một phần cũng nhờ nỗ lực của công ty trong việc giảm tỷ lệ tổn thất điện năng Năm 2009, tổn thất điện năng ở mức
độ cao nhất chiếm đến 7,4% thì đến năm 2012 chỉ còn 6,47%
Sự phát triển của công ty chính là nền tảng vững chắc để tăng mức thu nhập và đảm bảo điều kiện sống cho cán bộ công nhân viên Điều này sẽ tạo ra sức mạnh cho Công ty tiếp tục ổn định sản xuất kinh doanh trong thời gian tới
II.1.2.3 Cơ cấu tổ chức
Là một doanh nghiệp trực thuộc quản lý của Tổng Công ty Điện lực Hà Nội
và Tập đoàn điện lực Việt Nam, Công ty Điện lực Từ Liêm có một cơ cấu tổ chức
Trang 2927
gọn nhẹ, phù hợp với nhiệm vụ được giao là cung cấp, xây dựng hệ thống lưới điện tại địa phương Cơ cấu tổ chức của Công ty bao gồm những bộ phận sau:
- Ban Giám đốc: Điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh, chịu trách
nhiệm trước Tổng Công ty Điện lực Hà Nộivà trước pháp luật về toàn bộ hoạt động của Công ty
Ban Giám đốc gồm 1 Giám đốc và 3 Phó Giám đốc phụ trách về Kỹ thuật, Kinh doanh và sản xuất
Các phòng ban chức năng bao gồm:
- Phòng Tổng hợp:Có chức năng tham mưu giúp việc cho Giám Đốc,
điều hành công tác hành chính, tổng hợp xử lý thông tin; điều hành hoạt động của đơn vị; đảm bảo trang thiết bị và thực hiện việc quản lý cơ sở vật chất của Công ty, phục vụ cho công tác làm việc của cán bộ, công nhân viên Giữ gìn trật tự trị an, bảo vệ cơ quan đơn vị an toàn
Bên trong Phòng Tổng hợp có bộ phận quản lý nhân sự có nhiệm vụ tham mưu, giúp việc cho Giám đốc công ty trong các lĩnh vực liên quan đến nhân sự
- Phòng Tài chính kế toán: Tham mưu cho lãnh đạo công ty trong lĩnh
vực quản lý các hoạt động tài chính - kế toán, trong đánh giá sử dụng tài sản, tiền vốn theo đúng chế độ quản lý tài chính của Nhà nước
- Phòng Kỹ thuật – an toàn: Quản lý, theo dõi về chuyên môn kỹ thuật
của công ty bao gồm các đường dây trung thế, đường trục hạ thế, trạm biến
áp, đảm bảo cung cấp điện ổn định, an toàn; Giải quyết các sự cố điện, kiểm soát và giảm thiểu các vi phạm hành lang điện lưới, giảm thất thoát điện năng; Kiểm tra, sửa chữa, vận hành lưới điện…
- Phòng điều độ: Có nhiệm vụ lập kế hoạch củng cố lưới điện và xây
dựng chương trình cho toàn Công ty Thực hiện các phương án chống quá tải vào giờ cao điểm và chống quá tải hè Phòng Kỹ thuật an toàn và phòng điều
độ thuộc quản lý trực tiếp của Phó Giám đốc Kỹ thuật
Trang 3028
- Phòng Kinh doanh: Chịu sự giám sát của Phó Giám đốc Kinh doanh,
có nhiệm vụ: Xây dựng kế hoạch, định hướng sản xuất kinh doanh hàng năm, hàng quý, hàng tháng cũng như theo dõi tình hình thực hiện kế hoạch để kịp thời đế xuất với Giám đốc Công ty điều chỉnh kế hoạch cho phù hợp với tình hình thực tế; Trực tiếp nghiên cứu thị trường, quản lý khách hàng, thực hiện
áp giá đối với từng nhóm khách hàng
Phó Giám đốc sản xuất trực tiếp quản lý 3 bộ phận là:
- Phòng Kế hoạch – Vật tư: Xây dựng kế hoạch sản xuất kinh doanh cho
Công ty, thực hiện công tác quản lý vật tư, thiết bị, tổ chức thực hiện mua sắm vật tư và việc nghiệm thu, tiếp nhận, bảo quản, sử dụng, quyết toán vật tư
- Phòng Quản lý đầu tư: Phòng có nhiệm vụ tập trung vào đầu tư cải tạo
chống quá tải lưới điện trên địa bàn toàn Huyện, xây dựng dự án đầu tư vào những khu vực điện áp thấp, tổn thất cao, các lộ cáp xuất tuyến, các tuyến cáp ngầm…; Quản lý các dự án đầu tư và quyết toán những hạng mục đã hoàn thiện
- Đội Kiểm tra Giám sát: có nhiệm vụ kiểm tra, giám sát tính hợp pháp,
hợp lý trong mọi hoạt động quản lý, điều hành sản xuất kinh doanh theo Điều
lệ công ty và pháp luật
Các đội sản xuất sẽ trực tiếp thực hiện những nhiệm vụ liên quan đến công việc sản xuất kinh doanh của công ty bao gồm: Đội quản lý khách hàng F9, Đội quản lý khách hàng khu vực, Đội quản lý vận hành, Đội quản lý đường dây trung thế, Đội quản lý lắp đặt công tơ, Đội treo tháo thiết bị đếm điện
Trang 3129
Hình 2.1 - Cơ cấu tổ chức Công ty Điện Lực Từ Liêm
II.2 Tình hình quản lý, kinh doanh điện năng trong giai đoạn 2010-2012 II.2.1 Khối lượng đường dây và trạm biến áp đang quản lý của Công ty Điện lực Từ Liêm
Tính đến ngày 01 tháng 10 năm 2012, lưới điện của Công ty quản lý bao gồm:
- Đường dây trung thế nổi
+ Tài sản của Điện lực: 152,569km
PHÒNG KHVT
LÝ ĐẦU
TƯ XDCB
PGĐ
KỸ THUẬT
PHÒNG ĐIỀU
ĐỘ
PHÒNG
KỸ THUẬT
AT
ĐỘI QUẢN
LÝ VẬN HÀNH
ĐỘI QUẢN LÝ ĐƯỜNG DÂY TRUNG THẾ
PGĐ KINH DOANH
ĐỘI QUẢN LÝ KHÁCH HÀNG KHU VỰC
PHÒNG KINH DOANH
ĐỘI LẮP ĐẶT CÔNG
TƠ
ĐỘI TREO THÁO THIẾT BỊ ĐẾM ĐIỆN
Trang 32- Trạm trung gian Điện lực quản lý: 1 trạm với 3 MBA, tổng dung
lượng 18.900 kVA
- Trạm trung gian KH: 2 trạm với 3 MBA, tổng dung lượng 5.900 kVA
- Số lượng khách hàng: (tổng số lượng khách hàng của Điện lực)
Trong đó: + Số KH tư gia: 112.139 khách hàng
+ Số KH cơ quan: 5.854 khách hàng
- Số lượng công tơ: 113.783 công tơ
Trong đó: + Số công tơ 1 pha: 112.360 công tơ
+ Số công tơ 3 pha hữu công: 4.325 công tơ
+ Số công tơ 3 pha điện tử: 1.415 công tơ
II.2.2 Tình hình cung cấp và tiêu thụ điện
II.2.2.1 Tình hình cung cấp điện
Trong những năm vừa qua, do nhu cầu phụ tải điện ngày càng phát triển mạnh, khối lượng đường dây và trạm biến áp của huyện cũng được tăng đáng kể để đáp ứng nhu cầu cung cấp điện cho các ngành sản xuất và sinh hoạt của huyện
a Lưới 35kV:
+ Sau trạm 110 kV Hà Đông (E1.4)
Trang 3331
- Lộ 373 – E1.4 (Hà Đông) : có tổng chiều dài 21,204 km, dây dẫn trục chính là AC-120 cấp điện cho các xã Đại Mỗ, Trung Văn, Tây Mỗ, Xuân Phương và Mễ Trì với tổng công suất đặt các máy biến áp là 31.740kVA Lộ 373-E1.4 này có liên lạc với lộ 371 & 372- E1.6 (Chèm) lần lượt qua Dao 1 Lai Xá và Dao V75 Ngoài ra, lộ 373-E1.4 còn cấp điện cho trạm TG Mễ Trì
35/6kV - công suất (1000+2500)kVA
+ Sau trạm 110 kV Chèm (E1.6)
- Lộ 371 – E1.6 (Chèm): có tổng chiều dài 1,85 km, dây dẫn trục chính
là AC - 50, 70 cấp điện cho phụ tải thuộc huyện Hoài Đức
- Lộ 372–E1.6: có tổng chiều dài 15,573 km, dây dẫn trục chính là AC-
120 cấp điện cho xã Tây Tựu, Xuân Phương với tổng công suất đặt các máy biến áp là 11.120kVA Lộ 372-E1.6 có liên lạc với lộ 371- E1.6 qua Dao 1 Lai Xá và liên lạc với lộ 373-E4 qua Dao 33 Nhổn Ngoài ra, lộ 372 này còn cấp điện cho trạm TG Cầu Diễn 35/6kV - công suất (3x6.300)kVA
- Lộ 373 –E1.6: có tổng chiều dài 9,921 km, dây dẫn trục chính là AC-
120 cấp điện cho các xã Liên Mạc, Thụy Phương và Đông Ngạc với tổng công suất đặt các máy biến áp là 21.180kVA Ngoài ra, lộ 373 này còn cấp cho trạm trung gian Cầu Thăng Long 35/6kV (2400kVA)
b Lưới 22kV:
+ Sau trạm 110 kV Chèm (E1.6)
- Lộ 471, 472 - E1.6: có tổng chiều dài 15,78km, dây dẫn trục chính là AAAC- 240 cấp điện cho khu vực xã Minh Khai với tổng công suất đặt các máy biến áp là 17.860kVA
Trang 3432
- Lộ 476- E1.6: có tổng chiều dài 22,228 km, dây dẫn trục chính là AAAC-
240 cấp điện cho khu vực các xã Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh, Minh Khai và Đông Ngạc với tổng công suất đặt các máy biến áp là 19.410kVA
- Lộ 478- E1.6: có tổng chiều dài 10,207km, dây dẫn trục chính là AC-
150 cấp điện cho khu vực các xã Cổ Nhuế, Phú Diễn và TT Cầu Diễn với tổng công suất đặt các máy biến áp là 10.790kVA Lộ còn có liên lạc với lộ
482 –E1.25 (Mỹ Đình)
+ Sau trạm 110 kV Thượng Đình (E1.5)
- Lộ 477 – E1.5 (Thượng Đình): cấp điện cho trạm biến áp Trung Văn
2, công suất 400kVA
- Lộ 478 - E1.5: liên lạc với 478 - E1.25 (Mỹ Đình)
+ Sau trạm 110 kV Nghĩa Đô (E1.9)
- Lộ 480 - E1.9: liên lạc với 474 - E1.21 (Nhật Tân)
- Lộ 483 – E1.9 (Nghĩa Đô): có tổng chiều dài 4,825 km cung cấp điện cho Khu nhà ở Cầu Diễn (khu D và khu E) với tổng công suất đặt 1.120 kVA, và cấp điện cho quận Cầu Giấy Lộ có liên lạc với lộ 484 –E1.9 tại trạm biến áp ĐH Thương Mại 1
+ Sau trạm 110 kV Thanh Xuân (E1.20)
- Lộ 478- E1.20 (Thanh Xuân): có tổng chiều dài 3,162 km, dây dẫn trục chính là AAAC-240, XLPE-240 cấp điện cho khu vực xã Trung Văn với tổng công suất đặt các máy biến áp là 7.740kVA
Trang 3533
- Lộ 483- E1.20 (Thanh Xuân): có tổng chiều dài 3,75 km, dây dẫn trục chính là AAAC-120 cấp điện cho khu vực xã Mễ Trì với tổng công suất đặt các máy biến áp là 5.250kVA
- Lộ 473 –E1.20: liên lạc với lộ 471 –E1.25 (Mỹ Đình)
- Lộ 479 –E1.20: liên lạc với lộ 475 –E1.25 (Mỹ Đình)
+ Sau trạm 110 kV Nhật Tân (E1.21)
- Lộ 472- 483 E1.21 (Nhật Tân): có tổng chiều dài 10,23 km, dây dẫn
sử dụng cáp ngầm XLPE-240 cấp điện cho xã Xuân Đỉnh với tổng công suất đặt các máy biến áp là 2.300kVA
- Lộ 474- 483 E1.21: có tổng chiều dài 4,825 km, dây dẫn trục chính AAAC-120 cấp điện cho các xã Cổ Nhuế, Xuân Đỉnh với tổng công suất đặt các máy biến áp là 17.620kVA
- Lộ 477 - E1.21: có tổng chiều dài 4,545 km, dây dẫn sử dụng cáp ngầm XLPE-240 cấp điện cho 3 trạm biến áp xã Đông Ngạc với tổng công suất đặt là 1.050kVA
- Lộ 480 - E1.21: có tổng chiều dài 13,10 km, dây dẫn sử dụng cáp ngầm XLPE-240 cấp điện cho xã Xuân Đỉnh, Cổ Nhuế với tổng công suất đặt là 11.640kVA
+ Sau trạm 110 kV Mỹ Đình (E1.25)
- Lộ 471, 472 - E1.25: có tổng chiều dài 16,153 km, dây dẫn sử dụng cáp ngầm XLPE-240 cấp điện cho xã Mỹ Đình và Mễ Trì với tổng công suất đặt các máy biến áp là 23.810kVA Lộ 471-E1.25 liên lạc mạch vòng với lộ 473-E1.20 (Thanh Xuân)
Trang 3634
- Lộ 473, 474 - E1.25: có tổng chiều dài 8,126 km, dây dẫn dẫn sử dụng cáp ngầm XLPE-400 cấp điện cho Trung tâm hội nghị quốc gia
Mỹ Đình với tổng công suất đặt các máy biến áp là 19.990kVA
- Lộ 475 - E1.25: liên lạc mạch vòng với lộ 479 – E1.20 (Thanh Xuân)
- Lộ 476 - E1.25: có tổng chiều dài 16,725 km, dây dẫn dẫn trục chính AAAC-120, cấp điện cho xã Mỹ Đình với tổng công suất đặt các máy biến áp là 18.220kVA
- Lộ 477 - E1.25: có tổng chiều dài 18,712 km, dây dẫn dẫn trục chính AAAC-120 + XLPE-240, cấp điện cho xã Mỹ Đình với tổng công suất đặt các máy biến áp là 9.200kVA
- Lộ 479, 480 - E1.25: có tổng chiều dài 7,70 km, dây dẫn sử dụng cáp ngầm XLPE-240, cấp điện cho Khu Liên hợp TTQG, xã Mỹ Đình với tổng công suất đặt các máy biến áp là 19.880kVA
c Lưới 10kV:
+ Sau trạm 110 kV Nghĩa Đô (E1.9)
- Lộ 973 –E1.9 (Nghĩa Đô): có tổng chiều dài 2,191 km, dây dẫn trục chính AC-120, cấp điện cho xã Cổ Nhuế và phường Nghĩa Đô quận Cầu Giấy với tổng công suất đặt các máy biến áp là 10.160kVA Lộ
973 – E1.9 có liên lạc với lộ 976 - E1.9
d Lưới 6kV:
+ Sau trạm 110 kV Thượng Đình (E1.5)
- Lộ 677 - E1.5: có tổng chiều dài 9,786 km, dây dẫn trục chính AAAC-120, cấp điện cho xã Trung Văn và một phần xã Đại Mỗ với
Trang 37- Lộ 672 – TG Cầu Diễn: có tổng chiều dài 6,957 km, dây dẫn trục chính AAAC-120, cấp điện cho TT Cầu Diễn với tổng công suất đặt các máy biến áp là 1.300kVA
- Lộ 677 – TG Cầu Diễn: có tổng chiều dài 8,641km, dây dẫn trục chính AAAC-120, cấp điện cho xã Xuân Phương và TT Cầu Diễn với tổng công suất đặt các máy biến áp là 9.305kVA
II.2.2.2 Tình hình sử dụng điện hiện tại
Huyện Từ Liêm là huyện có sản lượng điện lớn của TP Hà Nội Điện thương phẩm năm 2010 của huyện đạt 493,96 triệu kWh, chiếm tỷ lệ 6,27% điện thương phẩm toàn thành phố Hà Nội (7.879 triệu kWh) Diễn biến tiêu thụ điện năng của huyện Từ Liêm từ năm 2010 – 2012 cho ở bảng 2.2
Trang 381 Công nghiệp và xây dựng 111,021 129,122 138,37 12,13%
2 Nông - lâm - thủy sản 1,045 0,98 1,23 -45,85%
Nguồn: Phòng Tổng hợp – Công ty Điện lực Từ Liêm
Diễn biến tiêu thụ điện năng của huyện Từ Liêm qua các năm cho thấy điện năng năm sau đều cao hơn năm trước Tốc độ tăng trưởng điện thương phẩm trung bình của huyện giai đoạn từ năm 2010 – 2012 là 15,53%, trong đó tăng trưởng nhanh là nhóm ngành Thương mại dịch vụ (28,43%/năm), ngành Quản lý tiêu dùng dân cư (20,16%/năm), sau đó là ngành Công nghiệp và xây dựng (12,13%) và ngành Hoạt động khác (13,57%) Riêng điện năng tiêu thụ ngành Nông - lâm - thủy sản giảm dần qua các năm và chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ không đáng kể
Trang 3937
Cơ cấu phụ tải của các ngành phân bố không đồng đều Năm 2010 phụ tải quản lý và tiêu dùng dân cư chiếm tỉ trọng chủ yếu với 63,74%, tiếp đến là Công nghiệp, xây dựng 24,09%, Hoạt động khác 6,32%, Dịch vụ - Thương mại 5,64%, Nông - lâm - thủy sản 0,21% Bình quân điện thương phẩm trên một đầu người huyện Từ Liêm đạt 1.401kWh/người.năm
Cơ cấu tiêu thụ điện năm 2012
Nguồn: Phòng Tổng hợp – Công ty Điện lực Từ Liêm
II.2.3 Tình hình thực hiện các chỉ tiêu kinh doanh
Trong vài năm gần đây Công ty Điện lực Từ Liêm luôn là 1 trong những công ty có sản lượng điện đứng đầu trong Tổng Công ty Điện lực Thành phố
Hà Nội nên vấn đề giảm tốt thất điện năng luôn là nhiệm vụ quan trọng nhất của công ty
Năm 2012 Công ty đã áp dụng chặt chẽ quy trình quản lý và tích cực đầu
tư chống quá tải cho hệ thống lưới điện nhằm rút ngắn bán kính cấp điện, giảm thiểu tổn thất và nâng cao chất lượng phục vụ khách hàng
Trang 4038
Từ đầu năm 2012 đến nay Công ty đã xây dựng và đóng điện vận hành
04 TBA để san tải cho các TBA đang bị quá tải, đầy tải và có tổn thất cao: + Xây dựng TBA Phú Diễn 6 630KVA- 22/0.4KV- Đường trục hạ thế cáp ABC 4x95 cấp điện san tải Phú Diễn 1, Phú Diễn 3, Phú Diễn 5 Sau khi công trình được đưa vào vận hành đã giúp làm giảm được tổn thất của trạm Phú Diễn 1 từ 6,97% xuống còn 5,72%, trạm Phú Diễn 3 từ 6,25% xuống 4,18%, trạm Phú Diễn 5
từ 6,82% xuống còn 5,29% (Lũy kế đến hết tháng 8/2012)
+ Xây dựng TBA Nguyên Xá 3 630KVA- 22/0.4KV- Đường trục hạ thế cáp ABC 4x95 San tải cho TBA Nguyên Xá 1 và Nguyên xá 2 Sau khi công trình được đưa vào vận hành đã cải thiện được triệt để hiện tượng điện áp thấp vào giờ cao điểm cho phụ tải hạ thế phía cuối nguồn của 02 trạm Nguyên Xá
1, Nguyên Xá 2
+ Xây dựng TBA Xuân Phương 16 400KVA- 35/0.4KV- Đường trục hạ thế cáp ABC 4x95 san tải cho TBA Xuân Phương 1 và Xuân Phương 5 Sau khi công trình được đưa vào vận hành đã giúp làm giảm được tổn thất của trạm Xuân Phương 1 từ 6,88% xuống còn 6,13%, nâng điện áp cuối nguồn trạm Xuân Phương 5 từ ~ 170V lên trên 200V vào giờ cao điểm
+ Xây dựng TBA Ngọc Đại 3 400KVA- 35/0.4KV- Đường trục hạ thế cáp ABC 4x95 san tải cho TBA Ngọc Đại 1, cải thiện được triệt để hiện tượng điện
áp thấp vào giờ cao điểm cho phụ tải hạ thế phía cuối nguồn trạm Ngọc Đại 1 Đồng thời với việc xây dựng mới các TBA và đường trục hạ thế Công ty cũng đã thực hiện chương trình SCL đại tu đường trục hạ thế và hệ thống công tơ, rút ngắn bán kính cấp điện các trạm biến áp Bơm Phú Đô, Phú Đô 1,
2, 3, 4, Thụy Phương 1, 2, 3 nâng điện áp cuối nguồn của các trạm này trong giờ cao điểm lên trên 200V