LỜI CẢM ƠN Được sự đồng ý của ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến hành thực tập tốt nghiệp với đề tà
Trang 1Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Kinh tế nông nghiệp
Khóa học : 2011-2015
THÁI NGUYÊN - 2015
Trang 2Hệ đào tạo : Chính quy
Chuyên nghành : Kinh tế nông nghiệp
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan rằng, số liệu và kết quả nghiên cứu trong khóa luận này là trung thực và chƣa hề đƣợc sử dụng để bảo vệ một học vị nào
Tôi xin cam đoan rằng mọi sự giúp đỡ cho sự hoàn thành khoá luận này
đã đƣợc cảm ơn và các thông tin trích dẫn trong luận văn này đã đƣợc chỉ rõ nguồn gốc
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Trần Thị Thảo
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Được sự đồng ý của ban Giám hiệu nhà trường, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển nông thôn trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, tôi tiến
hành thực tập tốt nghiệp với đề tài: “Những giải pháp chủ yếu huy động và sử
dụng vốn tín dụng để phát triển kinh tế nông thôn ở xã Mỹ Thanh, huyện Bạch Thông, tỉnh Bắc Kạn”
Tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Ban giám hiệu trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, Ban chủ nhiệm khoa Kinh tế & Phát triển Nông thôn, cùng tất cả các thầy - cô giáo đã tận tình dìu dắt tôi trong suốt thời gian học tập tại trường Đặc biệt, tôi xin cảm ơn sự quan tâm, giúp đỡ nhiệt tình của thầy giáo hướng dẫn TH.S Cù Ngọc Bắc đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn để tôi hoàn thành bản khóa luận tốt nghiệp Đồng thời, tôi xin gửi lời cảm ơn sâu sắc tới ban lãnh đạo, cán bộ UBND xã Mỹ Thanh, đã nhiệt tình và tạo mọi điều kiện giúp
đỡ tôi trong thời gian thực tập
Do trình độ, kinh nghiệm thực tế bản thân có hạn, thời gian thực tập không nhiều vì vậy bản khoá luận này không tránh khỏi những sai sót, vì vậy rất mong được sự chỉ bảo của các thầy cô giáo, sự đóng góp ý kiến của các bạn sinh viên để bản khoá luận được hoàn thiện hơn
Tôi xin chân thành cảm ơn !
Thái Nguyên, ngày 25 tháng 5 năm 2015
Sinh viên
Trần Thị Thảo
Trang 5DANH MỤC CÁC BẢNG
Trang
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất của xã Mỹ Thanh năm 2012-2014 34
Bảng 4.2 Diện tích, năng suất, sản lƣợng một số cây trồng chính của xã trong giai đoạn 2012-2014 35
Bảng 4.3: Tình hình chăn nuôi của xã trong giai đoạn 2012 – 2014 36
Bảng 4.4: Tình hình huy động vốn qua các ngân hàng của xã Mỹ Thanh để phát triển kinh tế nông thôn 46
Bảng 4.5: Tình hình quản lý vốn NHCSXH tại các tổ chức xã hội tại xã Mỹ Thanh giai đoạn 2012 – 2014 47
Bảng 4.6: Mục đích vay vốn của các hộ nông dân thông qua các tổ chức xã hội tại xã Mỹ Thanh năm 2014 47
Bảng 4.7a: Tình hình vay vốn theo thời hạn tín dụng NHCSXH tại xã Mỹ Thanh giai đoạn 2012- 2014 48
Bảng 4.7b: Tình hình vay vốn theo thời hạn tín dụng NHNo&PTNT tại xã Mỹ Thanh giai đoạn 2012- 2014 49
Bảng 4.8a: Tình hình dƣ nợ vốn vay NHCSXH trong 50
giai đoạn 2012 – 2014 50
Bảng 4.8b: Tình hình dƣ nợ vốn vay NHNo&PTNT trong 52
giai đoạn 2012 – 2014 52
Bảng 4.9: Bảng so sánh các hoạt động tín dụng tại xã Mỹ Thanh năm 2014 53
Tổ chức tín dụng 53
Bảng 4.10: Nhu cầu vay vốn của các hộ điều tra 55
với các mức cho vay khác nhau 55
Bảng 4.11 Nhu cầu vay vốn của các nhóm hộ điều tra về kỳ hạn cho vay 56
Trang 6Bảng 4.12 Mục đích vay vốn của các hộ điều tra để sản xuất kinh doanh 57
Bảng 4.13 Tình hình sử dụng vốn vay của hộ điều tra 58
Bảng 4.14 Tỷ lệ vốn vay và kết quả đầu tư vốn vay vào ngành sản xuất sử dụng vốn vay của hộ điều tra 59
Bảng 4.15 Kết quả sử dụng vốn vay của các hộ theo tổ chức quản lý nguồn vốn tại xã Mỹ Thanh 61
Bảng 4.16 Hiệu quả kinh tế tính theo ngành sử dụng vốn vay 62
Bảng 4.17 Hiệu quả kinh tế tính theo tổ chức quản lý nguồn vốn 63
Bảng 4.18 Thu nhập của hộ có sử dụng vốn vay vào các ngành sản xuất trước và sau khi vay vốn 64
Bảng 4.19 Phân loai hộ trước và sau khi vay vốn 67
Bảng 4.20 Tình hình trả nợ vốn vay NHCSXH của hộ nông dân 68
năm 2014 68
Trang 7DANH MỤC CÁC HÌNH
Trang
Hình 4.1: Cơ cấu các dân tộc xã Mỹ Thanh – huyện Bạch Thôngtỉnh Bắc Kạn
năm 2014. 37
Hình 4.2: Sơ đồ vay vốn 43
Hình 4.3: Phân loại hộ theo thu nhập trước và sau khi vay vốn 67
Hình 4.4: Các yếu tố ảnh hưởng đến thu nhập hộ nông dân 69
Trang 8DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT
NHCSXH : Ngân hàng Chính sách Xã hội
NHTM : Ngân hàng Thương mại
NHNo&PTNT : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn
CEP : Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm của Liên đoàn
lao động thành phố Hồ Chí Minh UBND : Ủy ban nhân dân
ĐVT : Đơn vị tính
IMF : Quỹ Tiền tệ Thế giới
NABARD : Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Ấn Độ NGO : Các tổ chức phi chính phủ
KCC : Chương trình Thẻ tín dụng Kisan của Chính phủ Ấn Độ
dành cho ngành nông nghiệp HSBC : Tập đoàn Tài chính HSBC
BAAC Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác nông thôn Thái Lan M7 : Tổ chức Tài chính Vi mô M7
QTDND : Hệ thống Quỹ tín dụng nhân dân
WB : Ngân hàng Thế giới
RBI : Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ
Trang 9MỤC LỤC
Trang
LỜI CAM ĐOAN 2
LỜI CẢM ƠN ii
DANH MỤC CÁC BẢNG iii
DANH MỤC CÁC HÌNH v
DANH MỤC CHỮ VIẾT TẮT vi
MỤC LỤC vii
PHẦN 1: MỞ ĐẦU 1
1.1 Đặt vấn đề 1
1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2
1.2.1 Mục tiêu tổng quát 2
1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2
1.3 Ý nghĩ của đề tài nghiên cứu 3
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học 3
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn 3
1.4 Những đóng góp mới của đề tài 3
1.5 Bố cục khoá luận 4
PHẦN 2: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 5
2.1 Cơ sở lý luận 5
2.1.1 Một số khái niệm 5
2.1.2 Bản chất tín dụng 6
2.1.3 Vai trò của tín dụng 6
2.1.4 Hình thức tín dụng trong hộ nông dân 9
2.1.5 Cơ cấu nguồn vốn và các phương thức huy động vốn trong nước 9
2.2 Cơ sở thực tiễn 16
2.2.1 Tín dụng nông nghiệp một số nước trên thế giới 16
Trang 102.2.2 Tín dụng nông nghiệp Việt Nam 19
PHẦN 3: ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP
NGHIÊN CỨU 25
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 25
3.1.1 Đối tượng 25
3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 25
3.2 Câu hỏi và nội dung nghiên cứu 25
3.2.1 Câu hỏi nghiên cứu 25
3.2.2 Nội dung nghiên cứu 26
3.3 Phương pháp nghiên cứu 26
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu 26
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin 26
3.3.3 Phương pháp phân tích 27
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá 28
PHẦN 4: KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 31
4.1 Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của đại phương 31
4.1.1 Điều kiện tự nhiên 31
4.1.2 Điều kiện kinh tế xã hội: 35
4.1.3 Đánh giá chung về ảnh hưởng của điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hôi đến phát triển kinh tế Nông nghiệp - Nông thôn xã Mỹ Thanh 39
4.2 Thực trạng cho vay và sử dụng vốn vay 40
4.2.1 Các tổ chức tín dụng trên địa bàn xã Mỹ Thanh – huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn 40
4.2.2 Thực trạng huy động vốn để phát triển kinh tế nông hộ ở xã Mỹ Thanh 45 4.2.3 Hoạt động tổ chức tín dụng trên địa bàn xã Mỹ Thanh 48
4.2.4 Nhu cầu vay vốn của nông hộ 54
4.2.5 Tình hình sử dụng vốn vay trong sản xuất kinh doanh của nông hộ 57
Trang 114.2.6 Kết quả sử dụng vốn vay của hộ nông dân 59
4.2.7 Hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nông dân 62
4.2.8 Tình hình trả nợ vốn vay của hộ 68
4.2.9 Các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả sử dụng vốn vay của hộ nông dân trên địa bàn xã 69
4.2.10 Đánh giá tình hình vay và sử dụng vốn vay 70
4.2.11 Đánh giá chung 72
4.3 Các giải pháp để huy động và sử dụng vốn vay hiệu quả 72
4.3.1 Khai thác triệt để mọi nguồn vốn đầu tư vào phát triển nông nghiệp 72
4.3.2 Giải pháp đối với nhà nước 73
4.3.3 Giải pháp đối với tổ chức tín dụng 74
4.3.4 Giải pháp đối với chính quyền địa phương 75
4.3.5 Giải pháp về phía hộ nông dân 75
PHẦN 5: KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 77
5.1 Đề xuất kiến nghị 77
5.1.1 Đối với các cấp chính quyền 77
5.1.2 Đối với ngân hàng 77
5.1.3 Đối với hộ nông dân 77
5.2 Kết luận 78
TÀI LIỆU THAM KHẢO 80
Trang 12vì vậy nên nông nghiệp, nông dân và nông thôn được sự quan tâm rất lớn của Đảng và Nhà nước Hiện có rất nhiều chính sách để phát triển đầu tư đến với người nông dân Hiện nay, phần lớn các hộ sản xuất nông nghiệp nông thôn nghèo, thiếu vốn trong sản xuất, chưa có biện pháp sử dụng vốn vay hợp lý Với tốc độ phát triển không ngừng của khoa học công nghệ, người nông dân chỉ có đất đai và lao động mà thiếu vốn thì không thể áp dụng khoa học kỹ thuật và mở rộng quy mô sản xuất được Từ đó, ảnh hưởng đến thu nhập của
họ và gia đình mình Trong bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào để tạo khả năng kinh doanh tốt cũng như tạo ra những ưu thế về quy mô thì nông hộ cần phải có đủ vốn sản xuất và biết các phân phối, sử dụng có hiệu quả
Vốn có vai trò rất quan trọng phát triển sản xuất, tạo thêm ngành nghề mới, khôi phục các làng nghề truyền thống, tạo công ăn việc làm cho nhiều lao động và tăng thu nhập cho hộ gia đình Đối với các hộ nông dân vốn vay
Trang 13đã giúp hộ đẩy mạnh sản xuất, chuyển đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo mùa
vụ, tiếp tục mở rộng ngành nghề góp phần tăng thêm thu nhập và cải thiện đời sống Sử dụng vốn vay tốt có hiệu quả thì kinh tế hộ sẽ phát triển ngược lại nếu sử dụng vốn vay không tốt không những làm cho hộ gặp khó khăn mà còn ảnh hưởng trực tiếp tới các tổ chức tín dụng cho vay vốn
Xã Mỹ Thanh – huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn là một xã nông nghiệp với điển hình kinh tế nông hộ là chủ yếu, nền sản xuất hàng hóa chưa phát triển Đồng thời là một xã nghèo, cuộc sống của người nông dân còn khó khăn, nhu cầu về vốn mở rộng sản xuất rất lớn
Xuất phát từ thực tế trên của địa phương, chúng tôi tiến hành nghiên cứu
đề tài: "Những giải pháp chủ yếu huy động và sử dụng vốn tín dụng để phát
triển kinh tế nông thôn ở xã Mỹ Thanh, Huyện Bạch Thông, Tỉnh Bắc Kạn”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
- Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương
- Phân tích đánh giá tình hình cho vay và sử dụng vốn vay từ các nguồn vốn tín dụng Tìm hiểu thuận lợi khó khăn của địa phương và nguyên nhân dẫn đến sử dụng vốn hiệu quả hay không hiệu quả
- Đề xuất giải pháp sử dụng hiệu quả vốn tín dụng góp phần phát triển kinh tế nông hộ và phát triển kinh tế nông thôn tại xã Mỹ Thanh – huyện Bạch Thông – tỉnh Bắc Kạn
Trang 141.3 Ý nghĩ của đề tài nghiên cứu
1.3.1 Ý nghĩa học tập và nghiên cứu khoa học
Đề tài được thực hiện là cơ sở giúp sinh viên củng cố kiến thức đã học, rèn luyện kỹ năng, phương pháp nghiên cứu khoa học, vận dụng các kiến thức
lý thuyết áp dụng vào thực tế Đây là bước đầu giúp sinh viên tiếp cận với thực tế sản xuất và giúp tích lũy kinh nghiệm phục vụ cho công việc sau này
Đề tài cũng được coi là tài liệu tham khảo cho Trường, Khoa và các sinh viên khóa sau
1.3.2 Ý nghĩa thực tiễn
Đề tài là cơ sở đánh giá công tác sử dụng vốn đầu tư của của các nguồn vốn tín dụng Đánh giá tầm quan trọng của vốn vay trong phát triển kinh tế nông hộ và phát triển nông thôn Đồng thời cũng giúp nắm bắt được những tồn tại, khó khăn, trở ngại trong việc đưa vốn vay đến tay người nông dân, sử dụng vốn có hiệu quả Từ đó có những biện pháp điều chỉnh trong khâu huy động vốn, tích lũy, cho vay và sử dụng có hiệu quả
Khi đề tài được hoàn thành nó sẽ là tài liệu tham khảo cho các cán bộ, các hộ và các cơ quan, tổ chức địa phương Nó là tài liệu quan trọng trong phát triển tín dụng nông thôn
1.4 Những đóng góp mới của đề tài
- Thấy được hiệu quả kinh tế của vốn vay của các nguồn tín dụng đến phát triển kinh tế nông hộ trước, sau vay vốn Đồng thời đánh giá hiệu quả giữa nhóm hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo
- Đánh giá được thuận lợi khó khăn của việc vay, huy động vốn và sử dụng vốn vay của các nguồn vốn tín dụng từ đó đề xuất giải pháp phù hợp, mang lại hiệu quả
- Xác định vấn đề còn tồn tại của hoạt động cho vay và huy động của các nguồn vốn tín dụng tại địa phương
Trang 151.5 Bố cục khoá luận
Ngoài phần mở đầu và kết luận, bố cục khoá luận gồm:
- Phần 1 Mở đầu
- Phần 2 Cơ sở lý luận và thực tiễn
- Phần 3 Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu
- Phần 4 Kết quả nghiên cứu
- Phần 5 Kết luận và kiến nghị
Trang 16Tín dụng là một phạm trù kinh tế và nó cũng là sản phẩm của nền kinh
tế hàng hóa Tín dụng ra đời, tồn tại qua nhiều hình thái kinh tế - xã hội Quan
hệ tín dụng được phát sinh ngay từ thời kỳ chế độ công xã nguyên thủy bắt đầu tan rã Khi chế độ tư hữu về tư liệu sản xuất xuất hiện, cũng là đồng thời xuất hiện quan hệ trao đổi hàng hóa Thời kỳ này, tín dụng được thực hiện dưới hình thức vay mượn bằng hiện vật - hàng hóa Về sau, tín dụng đã chuyển sang hình thức vay mượn bằng tiền tệ
Cho vay, còn gọi là tín dụng, là việc một bên (bên cho vay) cung cấp nguồn tài chính cho đối tượng khác (bên đi vay) trong đó bên đi vay sẽ hoàn trả tài chính cho bên cho vay trong một thời hạn thỏa thuận và thường kèm theo lãi suất Do hoạt động này làm phát sinh một khoản nợ nên bên cho vay còn gọi là chủ nợ, bên đi vay gọi là con nợ Do đó, Tín dụng phản ánh mối quan hệ giữa hai bên - Một bên là người cho vay, và một bên là người đi vay Quan hệ giữa hai bên ràng buộc bởi cơ chế tín dụng, thỏa thuận thời gian cho vay, lãi suất phải trả,
Thực chất, tín dụng là biểu hiện mối quan hệ kinh tế gắn liền với quá trình tạo lập và sử dụng quỹ tín dụng nhằm mục đích thỏa mãn nhu cầu vốn tạm thời cho quá trình tái sản xuất và đời sống, theo nguyên tắc hoàn trả
Vay vốn là một giao dịch về tài sản giữa bên cho vay (ngân hàng và các định chế tài chính khác) và bên đi vay (cá nhân, doanh nghiệp, các chủ thể khác), trong đó bên cho vay chuyển giao tài sản cho bên đi vay sử dụng trong một thời hạn nhất định theo thỏa thuận, bên đi vay có trách nhiệm hoàn trả vô điều kiện vốn gốc và lãi cho bên cho vay khi đến hạn thanh toán
Trang 172.1.1.2 Khái niệm nông hộ [12]
Hộ gia đình (nông hộ) là đơn vị xã hội làm cơ sở cho phân tích kinh tế; các nguồn lực (đất đai, tư liệu sản xuất, vốn sản xuất, sức lao động,…) được góp thành vốn chung, cùng một ngân sách; cùng chung một mái nhà, ăn chung, mọi người đều hưởng phần thu nhập và mọi quyết định đều dựa trên ý kiến chung của các thành viên người lớn trong hộ gia đình
2.1.3 Vai trò của tín dụng
2.1.3.1 Góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển [10]
- Nhờ nguồn vốn tín dụng, các doanh nghiệp, các hộ sản xuất kinh doanh không những đảm bảo quá trình sản xuất kinh doanh bình thường mà còn mở rộng sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đổi mới công nghệ, đảm bảo sự phát triển liên tục của sản xuất và lưu thông hàng hóa
- Trong quá trình hoạt động của các chủ thể kinh tế, tín dụng đã góp phần đẩy nhanh quá trình sản xuất và tiêu thụ hàng hóa, tạo điều kiện thuận
Trang 18lợi để duy trì mối quan hệ giữa sản xuất, lưu thông hàng hóa và tiêu dùng xã hội Chính vì vậy, tín dụng đã làm cho lưu thông hàng hóa không những được
mở rộng ở trong nước mà còn ra thị trường quốc tế
- Tín dụng góp phần điều chỉnh quy mô sản xuất kinh doanh, cơ cấu lại kinh tế của các doanh nghiệp, vùng và toàn bộ nền kinh tế quốc dân Từ đó sẽ phát huy được năng lực sản xuất kinh doanh một cách tốt nhất
- Tín dụng góp phần thúc đẩy quá trình tích tụ và tập trung vốn trong từng chủ thể sản xuất kinh doanh, trong từng ngành,… Từ đó tạo ra những doanh nghiệp, tập đoàn lớn, làm nòng cốt cho sự phát triển kinh tế của quốc gia
- Bên cạnh những tác động trên, tín dụng quốc tế còn làm cho quá trình chuyển giao công nghệ giữa các nước thực hiện nhanh hơn Nó góp phần làm cho các nước chậm phát triển và đang phát triển trong một thời gian ngắn có thể có được một nền sản xuất với công nghệ cao, mà các nước phát triển trước đây có được như thế đã phải mất tới hàng trăm năm
Như vậy, tín dụng đã góp phần thúc đẩy sản xuất và lưu thông hàng hóa phát triển nhanh chóng, đó là điều không thể phủ nhận
2.1.3.2 Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách kinh tế vĩ mô của nhà nước [10]
Vai trò này được thực hiện trên các phương diện:
- Nhà nước thường xuyên sử dụng tín dụng làm phương tiện cân đối thu chi ngân sách nhà nước, góp phần đảm bảo các nguồn lực tài chính để thực thi các chính sách kinh tế - xã hội
- Thông qua việc thay đổi và điều chỉnh các điều kiện và lãi suất tín dụng, Nhà nước có thể thay đổi được quy mô tín dụng hoặc chuyển hướng vận động của nguồn vốn tín dụng Nhờ đó mà có thể thúc đẩy hoặc hạn chế sự phát triển của một số ngành, phù hợp với định hướng phát triển kinh tế của nhà nước
Trang 19- Nhà nước sử dụng tín dụng để điều tiết lưu thông tiền tệ, đảm bảo sự cân đối tiền hàng, ổn định giá cả hàng hóa Như vậy, tín dụng vừa là nội dung, vừa là công cụ để thực thi chính sách tiền tệ quốc gia
- Nhà nước sử dụng tín dụng làm công cụ thực thi các quan hệ hợp tác quốc tế, tranh thủ các nguồn lực tài chính từ bên ngoài để đầu tư phát triển kinh tế trong nước
2.1.3.3 Tín dụng góp phần quan trọng vào việc làm giảm thấp chi phí sản xuất và lưu thông [10]
- Thông qua hoạt động tín dụng, vốn trong nền kinh tế được luân chuyển nhanh, tức là làm tăng nhanh tốc độ lưu thông tiền tệ Từ đó giảm khối lượng phát hành vào lưu thông, đồng nghĩa với việc giảm chi phí lưu thông tiền tệ
- Bản thân chủ thể các quan hệ tín dụng phải tính toán cụ thể để hoạt động tín dụng đem lại lợi ích cao nhất và an toàn nhất Động lực cạnh tranh trong nền kinh tế thị trường thúc đẩy họ giảm đến mức thấp nhất chi phí kinh doanh, kể cả chi phí xử lý rủi ro
2.1.3.4 Tín dụng là công cụ thực hiện chính sách xã hội và nâng cao đời sống dân cư [10]
Chính sách xã hội được thực hiện từ hai nguồn tài trợ không hoàn lại thường bị hạn chế về quy mô và thiếu hiệu quả Để khắc phục hạn chế này, Nhà nước đã sử dụng phương thức tài trợ có hoàn lại của tín dụng Phương thức tài trợ của tín dụng có vai trò sau:
- Thông qua việc cho vay ưu đãi đối với hộ nghèo, tổ chức kinh tế - xã hội, làm cho họ được đáp ứng đầy đủ và kịp thời nhu cầu vốn cho sản xuất hoặc tiêu dùng
- Các hộ nông dân, cá nhân sử dụng tín dụng như là một trong các phương tiện để cải thiện và nâng cao mức sống của mình Thông qua việc vay vốn để đầu tư phát triển sản xuất nâng cao lợi nhuận và phân chia tỷ lệ giữa tích lũy và tiêu dùng hợp lý nhất
Trang 202.1.4 Hình thức tín dụng trong hộ nông dân
Có rất nhiều các để phân loại hình thức tín dụng trong nền kinh tế hiện nay Tùy theo tiêu thức phân loại mà tín dụng được phân thành nhiều loại khác nhau
Căn cứ theo thời hạn tín dụng thì tín dụng được chia làm ba loại khác nhau: tín dụng ngắn hạn, tín dụng trung hạn và tín dụng dài hạn
+ Tín dụng ngắn hạn: là loại tín dụng có thời hạn dưới một năm và thường được sử dụng để cho vay bổ xung thiếu hụt tạm thời vốn lưu động và phục vụ cho nhu cầu sinh hoạt cá nhân
+ Tín dụng trung hạn: là tín dụng có thời hạn từ 1 đến 5 năm, được cung cấp để mua sắm tài sản và đổi mới kỹ thuật, mở rộng xây dựng các công trình nhỏ có thời gian thu hồi vốn nhanh
+ Tín dụng dài hạn: là loại có thơi hạn trên 5 năm, loại tín dụng này được sử dụng để cung cấp vốn xây dựng cơ bản, cải tiến và mở rộng sản xuất quy mô lớn
Tín dụng trung hạn và dài hạn được đầu tư hình thành vốn cố định và một phần tối thiểu hoạt động sản xuất
2.1.5 Cơ cấu nguồn vốn và các phương thức huy động vốn trong nước
2.1.5.1 Cơ cấu nguồn vốn
Hiện nay, nguồn vốn trong nước tồn tại dưới nhiều dạng khác nhau, nhưng tựu chung lại có các loại: vốn ngân sách nhà nước, vốn doanh nghiệp, vốn tín dụng ngân hàng và vốn tích lũy của dân cư
- Nguồn vốn ngân sách nhà nước: Nguồn này được hình thành thông qua việc tiết kiệm của chính phủ Nói cách khác, phần tiết kiệm của chính phủ là phần tiết kiệm của ngân sách nhà nước Tiết kiệm của chính phủ thể hiện ở số chênh lệch giữa tổng số thu so với tổng số chi thường xuyên của ngân sách nhà nước Về bản chất, đây là nguồn vốn của ngân sách nhà nước chỉ cho phát triển kinh tế
Trang 21- Nguồn vốn tự có của doanh nghiệp, bao gồm: doanh nghiệp nhà nước, doanh nghiệp ngoài quốc doanh Nguồn này được hình thành từ phần tiết kiệm của doanh nghiệp, thể hiện ở phần lãi thuần được để lại dùng làm tăng vốn chủ sở hữu Phần lãi thuần để lại thực chất là phần đầu tư ròng tăng thêm của các doanh nghiệp Ngoài ra, phần khấu hao cơ bản hàng năm cũng là nguồn để các doanh nghiệp đầu tư
- Nguồn vốn tín dụng: Nguồn này được hình thành từ vốn tự có của ngân hàng, vốn huy động tiền gửi trong dân cư và các nguồn khác Nền kinh tế thị trường càng phát triển, nguồn vốn tín dụng càng trở thành nguồn vốn chủ yếu trong tổng vốn kinh doanh của các chủ thể kinh tế, ở nước ta, nguồn vốn tín dụng được thực hiện thông qua hệ thống ngân hàng thương mại, ngân hàng cổ phần, quỹ tín dụng nhân dân Trong đó, hệ thống ngân hàng thương mại bao gồm: Ngân hàng Trung ương (Ngân hàng nhà nước), Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Công thương Việt Nam, Ngân hàng đầu tư và phát triển nông thôn Việt Nam, Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam Trong đó, Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn Việt Nam là ngân hàng chủ yếu cung ứng vốn tín dụng cho phát triển nông nghiệp, nông thôn
- Nguồn vốn của dân cư: Đây là nguồn được hình thành từ phần còn lại trong thu nhập của dân cư Thu nhập của dân cư được hình thành từ thu nhập trong kết quả lao động ở lĩnh vực sản xuất và dịch vụ của các gia đình,
cá nhân người lao động; thu nhập do thừa kể các loại thu nhập khác, như: trúng xổ số, thân nhân từ nước ngoài gửi về Nói cách khác, nguồn vốn của dân cư là khoản tiết kiệm của họ Thực chất đó là phần dôi ra sau khi đã trừ chi tiêu của các hộ gia đình
Tóm lại: Cơ cấu nguồn vốn trong nước bao gồm: vốn ngân sách, vốn
tín dụng, vốn của doanh nghiệp, vốn của dân cư Mỗi nguồn vốn đều có đặc điểm, tầm quan trọng riêng Song, bản thân chúng là những yếu tố hợp thành
Trang 22nên tổng nguồn vốn để đầu tư phát triển kinh tế Do đó, phải biết cách khai thác, huy động, quản lý và sử dụng các nguồn vốn một cách hiệu quả
2.1.5.2 Các phương thức huy động vốn
Trong nền kinh tế thị trường, để có đủ vốn đầu tư, chủ đầu tư có thể và cần phải huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau, bằng những phương thức khác nhau Trên thực tế, có hai phương thức cơ bản để huy động vốn:
Một là, phương thức huy động vốn gián tiếp: Đó là phương thức chuyển
vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn thông qua các trung gian tài chính, như: các ngân hàng thương mại, các tổ chức tín dụng, các công ty bảo hiểm, các công ty tài chính, các quỹ hỗ trợ đầu tư quốc gia Nội dung của phương thức này là thu hút các nguồn vốn nhàn rỗi vào các trung gian tài chính, từ đó, các trung gian tài chính cấp vốn cho những nơi cần vốn Việc đa dạng hóa các kênh huy động vốn
đã từng bước đáp ứng được các nhu cầu về vốn đầu tư Tuy nhiên, ở nước ta, việc huy động vốn cho phát triển kinh tế nói chung, kinh tế nông nghiệp nói riêng chủ yếu được thực hiện qua kênh ngân hàng và các tổ chức tín dụng
Các ngân hàng thương mại huy động vốn thông qua tiền gửi tiết kiệm của dân cư, tiền gửi của các tổ chức kinh tế, phát hành kỳ phiếu ngân hàng thương mại, hình thành các quỹ tín dụng nhân dân Bên cạnh đó, ngân hàng còn thực hiện các phương thức huy động vốn mới, như: huy động vốn cổ phần xác lập và
cổ phần thường xuyên từ các hộ sản xuất kinh doanh ở nông thôn Số dư tiền gửi loại hình này lên tới hàng trăm tỷ đồng Các ngân hàng đầu tư phát triển, ngân hàng công thương đã hình thành hình thức huy động tiết kiệm xây dựng nhà ở, với số vốn huy động hàng ngàn tỷ đồng Các loại trái phiếu vô danh, các trái phiếu ghi danh của các ngân hàng phát hành trên thị trường theo chủ trương của Nhà nước và các thời điểm khác nhau đã khai thác được lượng vốn khá lớn Ngoài ra, hình thức huy động vốn thông qua mở tài khoản tiền gửi cho khoảng 50.000 tài khoản tiền gửi, với số dư hàng chục tỷ đồng
Trang 23Tín phiếu Ngân hàng nhà nước là giấy nợ ngắn hạn có lãi do ngân hàng nhà nước phát hành nhằm tạo công cụ để điều hành thị trường tiền tệ theo mục tiêu của chính sách trong từng thời kỳ Đối tượng mua tín phiếu ngân hàng nhà nước là các ngân hàng thương mại, ngân hàng đầu tư và phát triển, ngân hàng cổ phần, ngân hàng liên doanh, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, công ty tài chính Việc mua tín phiếu ngân hàng nhà nước dựa trên cơ sở tự nguyện, nhưng trong trường hợp cần thiết để phục vụ mục tiêu ổn định tiền tệ, Thống đốc Ngân hàng nhà nước có thể qui định tỷ lệ mua tín phiếu ngân hàng nhà nước bắt buộc đối với các ngân hàng trên Tỷ lệ này được tính trên tổng vốn huy động của các ngân hàng [7] Về bản chất, huy động vốn bằng trái phiếu ngân hàng là nguồn vốn dài hạn của các tổ chức tín dụng, không phải dành để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước mà chủ yếu để đầu tư mua sắm máy móc thiết bị, nhà xưởng, nguyên vật liệu, lao động, cho các dự án kinh
tế Vì vậy, lãi suất của trái phiếu do các tổ chức tín dụng quy định phải dựa trên cơ sở quan hệ cung cầu đồng vốn trên thị trường Nghĩa là lãi suất của trái phiếu phải linh hoạt, mềm dẻo để vừa khuyến khích được người gửi tiền dài hạn, chủ đầu tư (người vay) có thể chấp nhận được; vừa đảm bảo hiệu quả kinh doanh của các ngân hàng thương mại
Hai là, phương thức huy động vốn trực tiếp: Đó là phương thức chuyển
vốn từ nơi thừa sang nơi thiếu vốn một cách trực tiếp, thông qua thị trường chứng khoán mà không qua các trung gian tài chính Các nhà đầu tư có thể phát hành các cổ phiếu, trái phiếu thu hút vốn Ngược lại, các nhà đầu tư tài chính mua cổ phiếu, trái phiếu do các công ty hay chính phủ phát hành có thể rút vốn thông qua mua đi bán lại trên thị trường chứng khoán Cụ thể là:
- Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước
Trang 24Trái phiếu doanh nghiệp nhà nước là chứng chỉ vay nợ có kỳ hạn, có mệnh giá và có lãi phát hành bao gồm các loại ký danh và vô danh, thời hạn
từ một năm trở lên tùy thuộc vào nhu cầu sử dụng và khả năng thu hồi vốn để trả nợ của doanh nghiệp nhà nước Lãi suất trái phiếu doanh nghiệp nhà nước được Bộ Tài chính qui định và do doanh nghiệp nhà nước công bố theo từng đợt phát hành đảm bảo cho người mua trái phiếu được hưởng lãi suất thực (+) với các chỉ số trượt giá và căn cứ vào hiệu quả sản xuất kinh doanh, thu hồi vốn của doanh nghiệp
Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước là chứng chỉ thừa nhận sự góp vốn
và quyền sở hữu về vốn của chủ sở hữu cổ phiếu do doanh nghiệp nhà nước phát hành nhằm góp vốn vào doanh nghiệp đang hoạt động hoặc góp vốn thành lập doanh nghiệp mới mà nhà nước là người sáng lập Cổ phiếu bao gồm các loại ký danh và vô danh, phát hành dưới dạng chứng chỉ do kho bạc nhà nước qui định theo mẫu Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước chỉ có một loại mệnh giá do doanh nghiệp nhà nước qui định sau khi đã được Bộ Tài chính chấp thuận Lợi tức cổ phần được thanh toán hàng năm vào cuối năm tài chính qui định, tùy thuộc vào kết quả sản xuất kinh doanh và theo Điều lệ hoạt động doanh nghiệp Cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước được tự do mua bán, chuyển nhượng, thừa kế Việc chuyển nhượng quyền sở hữu đối với các loại cổ phiếu, ký danh và vô danh được thực hiện tại doanh nghiệp nhà nước, nơi phát hành cổ phiếu và không phải chịu bất cứ khoản phí nào
Có thể nói rằng, mỗi thông tư, nghị định ra đời đều thể hiện sự tìm tòi, thử nghiệm và tiếp tục hoàn thiện dần hình thức huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước; phù hợp với từng bước đi của tiến trình cải cách doanh nghiệp nhà nước Hiện nay, Đảng và Nhà nước
ta chủ trương đẩy mạnh cổ phần hóa doanh nghiệp, đặc biệt là doanh nghiệp
Trang 25nhà nước Về thực chất, đó là nhằm mục tiêu huy động tối đa vốn nhàn rỗi của cán bộ công nhân viên chức trong doanh nghiệp, cá nhân, tổ chức kinh tế trong
và ngoài nước để đầu tư đổi mới công nghệ, phát triển doanh nghiệp, tạo điều kiện cho những người góp vốn, những người có cổ phần nâng cao vai trò làm chủ, tạo thêm động lực thúc đẩy doanh nghiệp kinh doanh có hiệu quả
- Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ Trái phiếu chính phủ là chứng chỉ vay nợ của Chính phủ do Bộ Tài chính phát hành (trái phiếu, cổ phiếu doanh nghiệp nhà nước không có ý nghĩa tác động trực tiếp đến việc giảm bội chi ngân sách nhà nước) Trái phiếu chính phủ được phát hành dưới các dạng: tín phiếu kho bạc nhà nước, trái phiếu kho bạc nhà nước
và trái phiếu công trình
+ Tín phiếu kho bạc nhà nước là loại trái phiếu ngắn hạn dưới một năm, huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách tạm thời trong năm tài chính Số dư nợ về trái phiếu kho bạc nhà nước đến cuối năm tài chính (31/12) chưa đến hạn thanh toán được tính là khoản vay bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước và được hoàn trả trong năm tài chính tiếp theo
+ Trái phiếu kho bạc là loại trái phiếu có thời hạn từ một năm trở lên, huy động vốn để bù đắp thiếu hụt ngân sách nhà nước, đáp ứng nhu cầu chi tiêu đầu tư phát triển trong kế hoạch ngân sách nhà nước được duyệt
+ Trái phiếu công trình có hai loại: trái phiếu chính phủ huy động vốn cho các công trình trung ương do Bộ Tài chính (Ngân sách trung ương) bảo lãnh thanh toán
Trái phiếu chính phủ bao gồm các loại ký danh và vô danh; phát hành dưới dạng chứng chỉ trái phiếu và có nhiều mệnh giá khác nhau, được ghi thu và thanh toán bằng đồng Việt Nam theo thời giá của cơ quan có thẩm quyền quy định
Trang 26Lãi suất trái phiếu chính phủ do Bộ Tài chính công bố theo từng đợt phát hành, sau khi đã thỏa thuận với Ngân hàng nhà nước Việt Nam, đảm bảo cho người mua trái phiếu được hưởng lãi suất thực (+) có tính đến chỉ số trượt giá Mức lãi suất trái phiếu được xác định trên cơ sở tỷ lệ lạm phát và biến động giá cả theo từng thời kỳ do Tổng cục Thống kê công bố; lãi suất trái phiếu có thời hạn dài được qui định cao hơn lãi suất trái phiếu có thời hạn ngắn; nhu cầu huy động vốn và khả năng huy động trái phiếu
Ngoài ra còn có trái phiếu với lãi suất chỉ đạo, tổ chức đấu thầu chọn lãi suất phát hành là mức lãi suất đặt thầu tối đa cho các trái phiếu mà đơn vị tham gia đấu thầu có thể đặt thầu Mức lãi suất chỉ đạo được Bộ Tài chính công bố trong thông báo đấu thầu
Trong những giai đoạn phát triển kinh tế - xã hội, "Chính phủ chủ trương phát hành trái phiếu là để thực hiện chức năng đi vay (thực hiện tín dụng nhà nước) của Chính phủ, nhằm huy động vốn nhàn rỗi trong dân cư, trong các tổ chức kinh tế để tạo vốn bù đắp thiếu hụt ngân sách, tăng cường vốn cho đầu tư phát triển Chính phủ cần phải huy động vốn qua phát hành trái phiếu chính phủ và giao cho Bộ Tài chính phát hành" [11]
Tóm lại: Trong nền kinh tế thị trường luôn tồn tại song hành hai phương
thức huy động vốn: trực tiếp và gián tiếp Hai phương thức huy động vốn này luôn hỗ trợ, bổ sung, tác động lẫn nhau nhằm thu hút tối đa và phân bổ có hiệu quả các nguồn vốn theo tiêu chuẩn thị trường, đáp ứng nhu cầu phát triển kinh
tế, đồng thời tạo ra những công cụ hữu hiệu trong quản lý vĩ mô nền kinh tế của Nhà nước Ở nước ta, 2 phương thức huy động vốn trên đã được áp dụng Song, trên thực tế, phương thức huy động vốn gián tiếp vẫn là phổ biến Phương thức huy động vốn trực tiếp còn mới mẻ, nhưng theo đà phát triển của nền kinh tế, nó
sẽ trở thành kênh huy động vốn quan trọng ở nước ta trong tương lai
Trang 272.2 Cơ sở thực tiễn
2.2.1 Tín dụng nông nghiệp một số nước trên thế giới
2.2.1.1 Tín dụng nông nghiệp Trung Quốc để thực hiện chính sách Tam Nông
về đa dạng hóa nguồn vốn đầu tư cho nông nghiệp và nông thôn
Để đảm bảo cam kết trong vòng 3 năm tới dịch vụ ngân hàng cơ bản sẽ có mặt tại khắp các làng mạc, thị trấn, cung cấp các khoản tín dụng lớn và dịch vụ bảo hiểm ở nông thôn, góp phần thu hẹp khoảng cách phát triển giữa nông thôn và thành thị, Chính phủ Trung Quốc chủ trương ban hành các biện pháp huy động vốn từ nhiều nguồn khác nhau để hỗ trợ khu vực vùng sâu, vùng xa Theo đó:
- Yêu cầu các ngân hàng gia tăng cho vay tín dụng nông nghiệp Trung Quốc có thị trường tài chính nông thôn rất lớn chưa được khai thác Ngân hàng Trung ương Trung Quốc dự tính, có khoảng 2/3 trong tổng số hơn 70 triệu nông dân bị thiếu dịch vụ ngân hàng, mặc dầu khoản tín dụng và khoản cho vay trong Quỹ tín dụng nông thôn Trung Quốc mỗi năm tăng 20%, cao hơn so với mức bình quân cả nước Để giải quyết sự thiếu hụt tài chính kinh niên tại các khu vực nông thôn, Chính phủ đã yêu cầu các thể chế tài chính như Ngân hàng Nông nghiệp Trung Quốc, Hợp tác xã tín dụng nông thôn, Tiết kiệm Bưu điện, Ngân hàng Trung Quốc tăng các khoản vay tín dụng có liên quan đến nông nghiệp Đặc biệt, Ngân hàng Phát triển Nông thôn được chỉ thị phải nới rộng lĩnh vực hỗ trợ nông nghiệp và tăng tín dụng dài hạn cho xây dựng cơ sở hạ tầng ở nông thôn Động thái này được xem là bước đột phá trong dịch vụ tài chính tại nông thôn Trung Quốc Thủ tướng Trung Quốc Ôn Gia Bảo coi việc cải thiện thu nhập người dân như một nhiệm vụ cần được ưu tiên hàng đầu, các ngân hàng cần tăng các khoản cho vay tại nông thôn nhằm nâng cao chi phí cho các công trình công cộng để thu nhập của người dân năm 2020 tăng lên gấp bội
- Khuyến khích phát triển các ngân hàng nhỏ, các công ty cho vay vốn nhằm dẫn nguồn vốn chảy về thị trường tài chính nông thôn
Trang 28- Dự kiến ban hành những quy tắc mới trong thu mua và sáp nhập những tổ chức tài chính nông thôn vừa và nhỏ, cụ thể, sẽ tiếp tục các cải cách nới lỏng quy định về giới hạn sở hữu không quá 10% tổng cổ phần của một
cơ quan ngân hàng nông thôn, điều này hy vọng giúp đa dạng hóa quyền sở hữu của các cơ quan tài chính nông thôn, cũng như giúp ngày càng nhiều nhà đầu tư tiếp cận được thị trường tài chính nông thôn
- Khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài tham gia thị trường tài chính nông thôn dưới dạng thích hợp, như mở chi nhánh hay lập các liên doanh ngân hàng Trên thực tế, tại Trung Quốc, HSBC đã mở chi nhánh đầu tiên ở Thành Đô năm 2009, trở thành ngân hàng nước ngoài đầu tiên xâm nhập vào thị trường tài chính nông thôn Trung Quốc Một số ngân hàng hàng đầu khác như Citibank và Standard Charter cũng thể hiện sự quan tâm đến thị trường này Ngân hàng xây dựng Trung Quốc có kế hoạch cùng với Ngân hàng Banco Santander SA Tây Ban Nha thành lập một ngân hàng liên doanh nhằm cung cấp các dịch vụ ngân hàng tại khu vực nông thôn Trung Quốc Theo kế hoạch ban đầu, sẽ có 100 điểm giao dịch góp phần cung cấp dịch vụ tài chính cho nông dân và các doanh nghiệp tại nông thôn Nhưng hiện nay, vẫn chưa
rõ mỗi ngân hàng đóng góp bao nhiêu cổ phần tại ngân hàng liên doanh này Ngân hàng Banco Santander SA là ngân hàng lớn nhất của Tây Ban Nha, cũng sẽ xâm nhập vào thị trường tài chính nông thôn của Trung Quốc
- Cấp ưu đãi thuế cho các doanh nghiệp đầu tư vào khu vực nông thôn Trong một nỗ lực lấp đầy khoảng cách phát triển giữa các khu vực thành thị
và nông thôn, Chính phủ sẽ ban hành thêm các chính sách hỗ trợ để khuyến khích đầu tư của các lực lượng xã hội vào khu vực nông thôn Các doanh nghiệp thành lập các quỹ phúc lợi nông thôn sẽ được giảm thuế, cao nhất là 12% lợi nhuận hàng năm.[2]
Trang 292.2.1.2 Tín dụng nông nghiệp Indonesia
Hơn 40 năm qua kể từ năm 1969, nhà nước Indonesia đã thực hiện chính sách tín dụng nông thôn tương đối có hiệu quả Ngành ngân hàng thông qua hơn các chi nhánh ở các tỉnh và hàng trăm ngân hàng tín dụng nông thôn cùng hàng chục ngàn hợp tác tín dụng cấp thôn đã cấp khoản vay trên 10 tỉ USD giúp hộ gia đình phát triển kinh tế nông nghiệp Mức cho vay thấp nhất là 1.000 USD thời hạn
6 tháng tới 3 năm Nhờ có số vốn này mà rất nhiều hộ kinh tế gia đình đã vượt qua thời kỳ khó khăn, đảm bảo sản xuất và chăn nuôi cho gia đình
Hệ thống ngân hàng làng xã của Bank Rakyat Indonesia: Năm 1984, Ngân hang quốc doanh chuyên về phát triển nông nghiệp Bank Rakyat Indonesia (BRI) thành lập hệ thống Unit Desa (UD), tức là ngân hàng làng xã Tuy trực thuộc BRI,
UD là đơn vị hạch toán độc lập có lãi, và toàn quyền quyết định chủ trương hoạt động kinh doanh Hệ thống UD dựa vào mạng lưới chân rết các đại lý tại các làng
xã, hiểu biết rõ về địa phương và nắm thông tin về các đối tượng đi vay Các đại lý này theo dõi hành động của người đi vay và thi hành các hợp đồng vay Ngoài ra,người đi vay phải được một nhân vật có uy tín tại địa phương (như cha đạo, thầy giáo, quan chức chính quyền) giới thiệu Phần lớn các khoản cho vay không cần thế chấp dựa trên giả định là uy tín tại địa phương đủ quan trọng để bảo đảm tránh vỡ nợ Hơn nữa, có nhiều chương trình khuyến khích người đi vay trả nợ đúng hạn, ví dụ ai trả nợ sớm thì sẽ được hoàn trả một phần lãi
2.2.1.3 Chính sách tín dụng nông nghiệp Thái Lan và Ấn Độ
Thái Lan đã đẩy mạnh cấp tín dụng nông nghiệp lãi suất thấp, như chương trình “mỗi làng một triệu bath”, “mỗi làng một sản phẩm” Theo đó, ngân hàng sẽ tài trợ vốn cho sản phẩm đặc trưng của mỗi làng
Tuy nhiên, có một chương trình tín dụng lớn đáng quan tâm hơn là chương trình thẻ tín dụng (credit card) cho nông dân mà Thái Lan vừa mới sử dụng trong năm 2011, áp dụng thí điểm tại 5 tỉnh, thành
Trang 30Dự kiến vào tháng 4/2012, Ngân hàng Nông nghiệp và Hợp tác nông thôn Thái Lan (BAAC) sẽ phát hành 1 triệu thẻ tín dụng cho nông dân trên toàn quốc Tuy nhiên, BAAC cũng lo lắng là nông dân sẽ sử dụng thẻ để rút tiền mặt thay vì mua các thiết bị nông nghiệp Do đó, BAAC sẽ theo dõi quá trình sử dụng tín dụng
Nếu nông dân sử dụng sai mục đích sẽ được liệt vào danh sách đen và cắt chương trình tín dụng này Hiện đã có hơn 2.000 đơn vị đăng ký với BAAC, chấp nhận thanh toán thẻ tín dụng trên Hạn mức tín dụng là tối đa là 70% thu nhập kỳ vọng từ mùa vụ mới và được miễn phí lãi suất trong 1 tháng
Tuy nhiên, chương trình thẻ tín dụng của Thái Lan được coi là bản sao của chương trình thẻ tín dụng Kisan (KCC) của Chính phủ Ấn Độ dành cho ngành nông nghiệp Đây là chương trình được sự hỗ trợ của hệ thống ngân hàng nhằm cung cấp tín dụng ngắn hạn cho người dân
KCC được tạo ra bởi sự phối hợp của Chính phủ Ấn Độ, Ngân hàng Dự trữ Ấn Độ (RBI) và Ngân hàng Nông nghiệp và phát triển Nông thôn Ấn Độ (NABARD)
Đến nay đã có trên 100 triệu thẻ KCC đã được phát hành cho nông dân bởi hệ thống các ngân hàng Ấn Độ Theo đó, một hợp đồng Bảo hiểm mùa vụ
và Bảo hiểm tai nạn cá nhân cũng được giới thiệu như là một lợi ích kèm theo cho các chủ thẻ ngoài lãi suất thấp Dự kiến năm nay Ấn Độ sẽ phát hành trên
10 triệu thẻ để kích thích nền kinh tế trong thời kỳ suy thoái.[4]
2.2.2 Tín dụng nông nghiệp Việt Nam
Mục tiêu của hoạt động tín dụng trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn
là đáp ứng đầy đủ, kịp thời, có hiệu quả nguồn vốn cho nhu cầu phát triển toàn diện lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn, góp phần xóa đói, giảm nghèo, nâng cao mức sống của người nông dân Để đạt được mục tiêu này, trong thời gian qua, hoạt động tín dụng nông nghiệp nông thôn đã có những bước phát
Trang 31triển nhất định, thể hiện ở việc: (i) mạng lưới cho vay nông nghiệp, nông thôn ngày càng gia tăng; (ii) doanh số cho vay và dư nợ tín dụng ngày càng tăng; (iii) đối tượng tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngày càng mở rộng
Các định chế tài chính tham gia cung cấp tín dụng phục vụ nông nghiệp, nông thôn ngày càng mở rộng
Hầu hết các NHTM đều mở rộng cho vay trong lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Tuy nhiên, tập trung chủ yếu vào các định chế sau:
+ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (NHNo&PTNT) được thành lập năm 1988 và chính thức đi vào hoạt động vào tháng 12/1990, sau khi hai Pháp lệnh Ngân hàng có hiệu lực Màng lưới hoạt động của NHNo&PTNT ngày càng tăng, năm 2003 có 1726 chi nhánh, phòng giao dịch, đến nay, NHNo&PTNT
có hơn 2000 chi nhánh nằm rải rác khắp cả nước
+ Năm 2008, NHCSXH là ngân hàng có mạng lưới lớn thứ hai trong
hệ thống ngân hàng Việt Nam với 65 chi nhánh cấp tỉnh và Sở giao dịch;
601 phòng giao dịch cấp huyện, 8.649 điểm giao dịch cấp xã và trên 180.000 tổ tiết kiệm và vay vốn Hoạt động của NHCSXH đang từng bước được xã hội hoá, ngân hàng luôn có sự phối hợp chặt chẽ với các hội, đoàn thể để thực hiện nghiệp vụ uỷ thác cho vay vốn ưu đãi để thực hiện mục tiêu xóa đói giảm nghèo của Chính phủ
+ Hệ thống quỹ tín dụng nhân dân (QTDND) bắt đầu từ một chương trình thí điểm chịu sự giám sát của NHNN vào tháng 7/1993, là hình thức hợp tác xã tiết kiệm và tín dụng cấp xã xây dựng theo mô hình Caisse Populaire ở Quebec, Canada Khi đó, một trong những mục tiêu quan trọng của NHNN là khôi phục lòng tin của người dân đối với hệ thống tín dụng nông thôn sau sự sụp đổ của hàng loạt hợp tác xã tín dụng (1) QTDND là loại hình tín dụng hợp tác hoạt động trong lĩnh vực tiền tệ – tín dụng, dịch vụ ngân hàng chủ yếu ở nông thôn Mục tiêu hoạt động là nhằm huy động nguồn vốn tại chỗ để cho vay tại chỗ,
Trang 32tương trợ cộng đồng, vì sự phát triển bền vững của các thành viên Theo thống
kê, hiện nay, cả nước có 989 QTDND hoạt động với tổng nguồn vốn gần 14.000
tỷ đồng (chưa tính QTDND Trung ương và 24 chi nhánh), tổng dư nợ hơn 12.000 tỷ đồng, thu hút gần 1,3 triệu thành viên là đại diện hộ gia đình
+ Các chương trình, dự án tài chính vi mô: Từ đầu thập niên 1990, các tổ chức phi chính phủ (NGO) nước ngoài đã bắt đầu tham gia hỗ trợ kỹ thuật cho các chương trình tín dụng cho người nghèo Trong đó đáng kể là các tổ chức Groupe
de Recherche et d’Echanges Technologiques (GRET), ActionAid, Développement International Des Jardins (CARE), Save The Children Fund (Anh), và OXFAM Các NGO đã tham gia tích cực vào việc huy động tiết kiệm, cũng như đào tạo năng lực cho các nhóm tiết kiệm tín dụng, và các tổ chức quần chúng Khách hàng của các NGO là phụ nữ nghèo, cộng đồng dân tộc thiểu số và người nghèo ở vùng sâu vùng xa; thường là những đối tượng mà khu vực tài chính chính thức chưa đủ khả năng tiếp cận để phục vụ
Bên cạnh sự tham gia của các tổ chức phi chính phủ nước ngoài vào thị trường tài chính nông thôn, các tổ chức đoàn thể, quần chúng trong nước cũng tích cực triển khai các chương trình, dự án tài chính vi mô lớn như chương trình Quỹ trợ vốn cho người nghèo tự tạo việc làm (CEP) của Liên đoàn lao động thành phố Hồ Chí Minh; Quỹ tình thương của Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam và mạng lưới tài chính vi mô M7 Những tổ chức quần chúng tham gia tích cực vào hoạt động tiết kiệm và tín dụng là Hội Liên hiệp Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Liên hiệp Thanh niên, Hội Cựu chiến binh và Hội Người làm vườn Trong đó, Hội Liên hiệp Phụ nữ được xem là thành công nhất trong việc đáp ứng nhu cầu về dịch vụ tài chính của các hội viên
- Đối tượng được tiếp cận nguồn vốn tín dụng ngày càng tăng đã thúc đẩy phát triển nông nghiệp, nông thôn và chuyển dịch cơ cấu
Trang 33Nhờ có mạng lưới kinh doanh trải rộng cùng với việc áp dụng hình thức cho vay theo nhóm, phối hợp với những tổ chức quần chúng để cung cấp các dịch vụ tài chính,… đối tượng khách hàng được phục vụ cũng như các kênh dẫn vốn tới hộ sản xuất, doanh nghiệp cũng được mở rộng, phát triển khắp các vùng kinh tế của đất nước Trong thời gian từ 1994 đến 2007, tỉ lệ
hộ gia đình nông thôn vay được tiền của các định chế tài chính đã tăng từ 9% lên đến 70% Hoạt động tín dụng đã thực sự gắn với làng, bản, xóm thôn, gần gũi với bà con nông dân Vốn cho vay đã tạo thêm nghề mới, khôi phục các làng nghề truyền thống, góp phần chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp, nông thôn theo hướng phát triển sản xuất hàng hoá, công nghiệp, dịch vụ
Với số vốn đầu tư hàng ngàn tỉ đồng, các ngân hàng thương mại và tổ chức tín dụng đã giúp hàng vạn hộ nông dân đẩy mạnh sản xuất, chuyển đổi
cơ cấu cây trồng vật nuôi theo mùa vụ và tiếp tục mở rộng ngành nghề góp phần làm tăng thu nhập và cải thiện đời sống Nhờ mở rộng đầu tư tín dụng cùng với vốn tự có và sức lao động đã giúp họ có điều kiện khai thác tiềm năng kinh tế tự nhiên của mỗi vùng, từng bước hình thành các vùng chuyên canh lúa, hoa màu và cây công nghiệp có tỷ suất hàng hóa cao, như ở các vùng lúa đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, vùng cây công nghiệp dài ngày (chè, cà phê) ở Tây Nguyên, vùng cây ăn quả lâu năm ở các tỉnh Trung du và miền núi phía Bắc,…
Đi đôi với việc đầu tư cho trồng trọt, chăn nuôi các ngân hàng đã mở rộng cho vay phát triển ngành nghề tạo bước chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng tăng tỷ trọng công nghiệp và dịch vụ, giảm tỷ trọng nông nghiệp Đối tượng cho vay không còn đơn lẻ như những năm trước, mà đã được mở rộng như: cho vay xây dựng kết cấu hạ tầng ở nông thôn (điện, đường giao thông), cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ vay để mở rộng quy mô sản xuất Đặc biệt là phát triển việc cho các làng nghề vay theo hướng sản
Trang 34xuất hàng hóa như chế biến nông lâm sản, chăn nuôi đại gia súc gia cầm, làm các nghề mộc, nghề rèn, thêu ren, đồ thủ công mỹ nghệ,… Hiện nay, cả nước
có khoảng trên 2.000 làng nghề với khoảng 1,4 triệu hộ, thu hút trên 10 triệu lao động Kim ngạch xuất khẩu đồ thủ công mỹ nghệ tăng từ 235 triệu USD (năm 2001) lên 450 triệu USD (năm 2004) và đến nay con số này đã tăng gấp nhiều lần Thị trường xuất khẩu được mở rộng, hàng hóa Việt Nam xuất khẩu
đã có ở trên 100 nước và vùng lãnh thổ trên thế giới như: Mỹ, Nhật Bản, Tây Ban Nha, Bỉ, Trung Quốc, Đài Loan,… Sản xuất tiểu thủ công nghiệp và ngành nghề dịch vụ nông thôn tiếp tục phát triển bình quân tăng 15%/ năm Nhờ đó, thu nhập của hộ nông dân cũng ngày càng được cải thiện
Nhằm thúc đẩy kinh tế hàng hóa phát triển, ngân hàng còn đầu tư vốn khuyến khích các trang trại mở rộng quy mô sản xuất, thu hút lao động có việc làm Trong những năm gần đây, thực tế cho thấy kinh tế trang trại đóng vai trò quan trọng trong sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản Ngày càng xuất hiện nhiều hộ nông dân sản xuất hàng hóa có quy mô lớn, tập trung Ngân hàng đã giúp cho các đối tượng vay để trang trải chi phí giống, cải tạo vườn,
ao, chuồng, thậm chí cả chi phí trả công lao động thời vụ Vốn bình quân cho vay một trang trại từ 200 triệu đến 300 triệu đồng, có trang trại vay đến 500 triệu đồng, Hiện nay cả nước có trên 113.730 trang trại (tăng gấp gần 2 lần so với năm 2001), với số diện tích đất sử dụng là 663,5 ngàn ha, đã tạo việc làm thường xuyên cho 395 ngàn lao động Đồng bằng sông Cửu Long, Đông Nam
Bộ và Tây Nguyên là những vùng có nhiều đất đai, mặt nước thuận lợi để mở rộng quy mô trồng trọt, chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, nên ba vùng này có
số lượng trang trại nhiều nhất (chiếm đến 70%)
- Nguồn vốn cho vay nông nghiệp, nông thôn ngày càng tăng
Trên địa bàn nông thôn hiện nay, ngoài các nguồn vốn cho vay từ các định chế tài chính vi mô, thì nguồn vốn tín dụng chủ lực phục vụ nông nghiệp
Trang 35nông thôn là nguồn vốn tín dụng từ hệ thống ngân hàng, mà chủ lực là NHNo&PTNT, QTDND, Ngân hàng Chính sách xã hội (NHCSXH) Nguồn vốn này thường hiện diện dưới hai hình thức là cho vay thông thường và vay
ưu đãi (theo chính sách của Nhà nước, hoặc theo các chương trình dự án của các tổ chức tài chính quốc tế như WB, IMF,…)
Trên cơ sở chỉ đạo của Chính phủ, hướng dẫn của NHNN, với hệ thống mạng lưới rộng khắp, các tổ chức tín dụng đã đẩy mạnh cho vay lĩnh vực nông nghiệp, nông thôn Nếu như 31/12/1998, dư nợ tín dụng đối với khu vực nông nghiệp, nông thôn mới đạt 34.000 tỷ đồng, chiếm 27,65% tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế thì đến 31/10/2008, con số này đã tăng hơn 8 lần, chiếm 23% tổng dư nợ cho vay đối với nền kinh tế
Ngoài ra, nhiều ngân hàng đã chủ động tìm dự án có hiệu quả, giúp các hộ
và các doanh nghiệp hoàn thành những thủ tục cần thiết để chủ động giải ngân cho vay sớm Thị trường tín dụng nông nghiệp, nông thôn được mở rộng, tăng được tỷ trọng số hộ vay và mức dư nợ bình quân/hộ Các hộ nông dân vay vốn được giải quyết nhanh chóng, những thủ tục phiền hà đã giảm bớt, không còn tình trạng phải chờ đợi như những năm trước đây Đặc biệt là mức cho hộ vay đã nâng lên đến 30 triệu đồng mà không phải thế chấp tài sản (đối với những vùng đặc biệt khó khăn, mức cho vay tối đa lên đến 100 triệu đồng), tạo cơ hội giúp hộ nông dân chủ động thực hiện phương án kinh doanh của mình
Như chính sách ưu đãi về lãi suất, ưu đãi về điều kiện vay vốn, nguồn vốn hỗ trợ cho những rủi ro do hạn hán, mất mùa, lũ lụt, thị trường tiêu thụ gặp khó khăn Gần đây nhất, khi lạm phát gia tăng, suy giảm kinh tế toàn cầu,… NHNN thực thi chính sách tiền tệ hướng tới mục tiêu kiềm chế lạm phát, hoặc chống suy giảm kinh tế đều cân nhắc đến việc hỗ trợ cho lĩnh vực đầu tư tín dụng này, sao cho ảnh hưởng của chính sách thắt chặt tiền tệ là thấp nhất Ngoài ra là sự quan tâm của các cấp chính quyền địa phương; sự nhận thức về tầm quan trọng trong đầu tư phát triển nông nghiệp, nông thôn của bản thân các định chế tài chính, của các tổ chức tài chính nước ngoài,…[5]
Trang 36PHẦN 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
+ Thu thập số liệu thứ cấp trong giai đoạn 2012 – 2014
3.2 Câu hỏi và nội dung nghiên cứu
3.2.1 Câu hỏi nghiên cứu
- Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của địa phương có ảnh hưởng như thế nào?
- Hoạt động của các tổ chức tín dụng tại địa phương ra sao?
- Hoạt động cung ứng vốn vay cho người dân như thế nào? Cung ứng vốn tốt cho người nông dân chưa?
- Hộ sử dụng vốn vay như thế nào, hiệu quả của việc sử dụng vốn vay
Trang 373.2.2 Nội dung nghiên cứu
+ Đánh giá điều kiện tự nhiên, kinh tế xã hội của địa phương
+ Tìm hiểu các tổ chức tín dụng đang hoạt động trên địa bàn
+ Điều tra phân tích tình hình hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng tại địa phương
+ Xác định nhu cầu vay vốn của nông hộ
+ Tìm hiểu tình hình sử dụng vốn vay của các hộ nông dân
+ Xác định các yếu tố ảnh hưởng đến hiệu quả vay và sử dụng vốn vay của hộ nông dân trên địa bàn xã
+ Đánh giá tình hình huy động và sử dụng vốn vay tại địa phương
3.3 Phương pháp nghiên cứu
3.3.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Trong xã Mỹ Thanh có 9 thôn tiến hành chọn mỗi thôn 5 hộ vay vốn của các tổ chức tín dụng ở địa phương để điều tra
3.3.2.1 Thu thập tài liệu thứ cấp
3.3.2 Phương pháp thu thập thông tin
Tài liệu thứ cấp được thu thập từ các nguồn thông tin đã công bố chính thức của các cơ quan Nhà nước, các công trình nghiên cứu của tập thể, cá nhân,
tổ chức về tác động của tín dụng đến sản xuất kinh doanh nông nghiệp, và các tài liệu liên quan khác, các báo cáo, tổng kết về thực hiện chủ chương và chính sách tài chính tín dụng của địa phương Những thông tin thống kê về phát triển kinh tế của địa phương, tình hình hoạt động của hệ thống tín dụng địa phương Những tài liệu này chủ yếu được lấy ở Ủy ban nhân dân Xã Mỹ Thanh, báo cáo của các
tổ chức tín dụng tại địa phương, các tài liệu nghiên cứu liên quan khác,…
3.3.2.2 Thu thập tài liệu sơ cấp
a Phương pháp đánh giá nhanh nông thôn
Từ nhìn nhận bằng trực quan ban đầu và quá trình tiếp xúc phỏng vấn trực tiếp nhà quản lý, người sản xuất nông nghiệp (những người chịu ảnh
Trang 38hưởng trực tiếp của chính sách tín dụng) về tác động của tín dụng đến phát triển kinh tế nông nghiệp của địa phương
b Phương pháp điều tra hộ
- Phiếu điều tra được xây dựng dựa trên những thông tin cần thu thập Nội dung của phiếu bao gồm những thông tin cơ bản khái quát về hộ điều tra; những thông tin về tình hình cho vay, lãi suất, mục đích sử dụng vốn vay,… Thông tin về nhu cầu vay vốn, kết quả sản xuất và sử dụng vốn vay,…
- Tiến hành điều tra thử nghiệm một số hộ để đánh giá tính logic của các thông tin, sau đó kiểm tra và hoàn chỉnh phiếu điều tra thực tế
- Chọn địa điểm nghiên cứu: để tiến hành điều tra chúng tôi lựa chọn
45 hộ dựa trên danh sách cung cấp của xã và cán bộ của tổ chức tín dụng nông thôn tại xã Xã có 9 thôn: Thôm Ưng, Nà Cà, Bản Châng, Phiêng Kham, Bản Luông 1, Bản Luông 2, Khau Ca, Khuổi Duộc và Cây Thị Mỗi thôn tiến hành điều tra 5 hộ Sau khi chọn mẫu tiến hành phỏng vấn trực tiếp các hộ thông qua phiếu điều tra đã được xây dựng sẵn
- Phương pháp điều tra: Phỏng vấn trực tiếp đại diện hộ nông dân với phiếu điều tra
3.3.3 Phương pháp phân tích
Các phương pháp được vận dụng trong phân tích nội dung nghiên cứu
đề tài được thực hiện như sau:
- Phương pháp thống kê mô tả: Là phương pháp nghiên cứu các hiện
tượng kinh tế - xã hội bằng việc mô tả số liệu thu thập được Phương pháp này được tôi sử dụng để phân tích tình hình các tổ chức tín dụng cho vay và các hộ vay vốn của các tổ chức tín dụng Trên cơ sở số liệu điều tra, tổng hợp phân tích theo từng thời gian và không gian, sau đó tổng hợp khái quát để
thấy được xu thế phát triển của hiện tượng, sự vật
- Phương pháp phân tổ thống kê: Phân tổ các mẫu điều tra, tổng hợp kết quả điều tra nhằm phản ánh các đặc điểm cơ bản về tình hình vay vốn, sử dụng vốn vay và HQKT của vốn vay trong từng nhóm hộ Phân tổ các nhóm
Trang 39hộ khá, hộ trung bình và hộ nghèo theo cơ sở đánh giá mức sống dân cư của
địa phương Từ đó là cơ sở để so sánh kết quả và HQKT vốn vay giữa các
nhóm hộ và giữa các ngành sử dụng vốn vay với nhau, đồng thời rút ra những
nhận xét và kết luận
- Phương pháp so sánh: Được áp dụng để so sánh lượng vốn vay, kết quả
và HQKT giữa các ngành, so sánh giữa các nhóm hộ khá, hộ trung bình và hộ
nghèo trong đầu tư sản xuất Từ kết quả so sánh chúng tôi rút ra nhận xét, kết luận và làm cơ sở để đưa ra các khuyến cáo cũng như các giải pháp phù hợp
- Phương pháp chuyên gia: Dựa vào thực tiễn, các chuyên gia như chủ
hộ gia đình, người lao động, cán bộ nông nghiệp, hội làm vườn, chủ mua thu gom…để tính toán các chỉ tiêu về các loại cây trồng thông qua hỏi phỏng vấn
- Phương pháp minh hoạ bằng biểu đồ, hình ảnh: Phương pháp biểu
đồ, đồ thị được ứng dụng để thể hiện mô tả một số số liệu hiện trạng và kết quả nghiên cứu
- Phương pháp SWOT: Thông qua phương pháp này để đánh giá về điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và thách thức đối với việc phát triển kinh tế của địa phương Thông qua đó để thấy rõ được đâu là mặt mạnh và các cơ hội của ngành đó để từ đó phát huy và tận dụng nó Đồng thời tìm ra được những mặt hạn chế, các thách thức trong tương lai để có thể có được hướng khắc phục và giải quyết các khó khăn này
3.4 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá
a Nhóm chỉ tiêu phản ánh hoạt động tín dụng:
- Số hộ được vay vốn
- Tổng lượng vốn đã cho vay, vốn vay trung hạn, vốn vay dài hạn
- Lãi suất và thời hạn cho vay
- Dư nợ trung hạn, dư nợ dài hạn
- Nợ quá hạn, khoanh nợ
b Nhóm chỉ tiêu phản ánh nhu cầu vay vốn:
- Mục đích muốn vay
Trang 40- Nhu cầu về mức vốn vay, thời hạn vay, lãi suất vay
- Tỷ lệ vốn vay/ nhu cầu
c Nhóm chỉ tiêu phản ánh kết quả sử dụng vốn vay:
Số lƣợng và tỷ lệ vốn vay cho từng ngành sản xuất nông nghiệp trên tổng số vốn vay của cả ngành
Tỷ lệ hoàn vốn trên tổng vốn đã cho vay Tỷ lệ hộ sử dụng vốn sai mục đích
d Chỉ tiêu kết quả sản xuất:
Tổng giá trị sản xuất thu đƣợc (GO): Là tổng thu nhập của một loại mô hình (gồm các loại sản phẩm) hoặc một đơn vị diện tích; công thức tính là:
Trong đó: VA: Giá trị gia tăng
GO: Tổng thu của ngành dùng vốn vay IC: Chi phí của ngành đó
-Thu nhập hỗn hợp (MI) là phần thu nhập thuần tuý của ngời sản xuất bao gồm cả phần công lao động và phần lợi nhuận
MI = VA - (A + T) - Giá trị lao động thuê ngoài (nếu có)