Phương pháp quản lý nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng công lập chưa tạo đủ điều kiện để các cơ sở đào tạo thực hiện quyền và trách nhiệm tự chủ, mặt khác không đủ khả năng đá
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan bản luận văn là công trình nghiên cứu khoa học độc lập của tôi Các số liệu, kết quả nghiên cứu trong luận văn là trung thực và có nguồn gốc rõ ràng
Học viên
Lê Thị Thanh Hà
Trang 4LỜI CẢM ƠN
Trong suốt quá trình học tập tại Trường Đại học Kinh tế - Đại học Quốc gia
Hà Nội, tôi xin cảm ơn các thầy giáo, cô giáo đã giảng dạy, truyền đạt kiến thức, kinh nghiệm quản lý rất thiết thực, bổ ích cho hoạt động nghiên cứu và công tác thực tiễn của bản thân cũng như đúc kết vào bản luận văn này
Tôi xin tỏ lòng cám ơn sâu sắc TS Trần Thế Nữ – Trường Đại học Kinh tế
- Đại học Quốc gia Hà Nội, người đã tận tình hướng dẫn, tạo điều kiện giúp tôi thực hiện và hoàn thành luận văn tốt nghiệp này
Xin được trân thành cảm ơn Ban Giám hiệu tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội đã tạo điều kiện, giúp đỡ tôi hoàn thành khoá học cũng trong quá trình hoàn thành bản luận văn này
Xin trân trọng cảm ơn!
Trang 5MỤC LỤC
DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT i
DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU ii
DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ iii
LỜI MỞ ĐẦU 1
CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO ĐẲNG CÔNG LẬP 4
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu: 4
1.2 Cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng cộng lập 7
1.2 1 Khái quát về đào tạo dại học, cao đẳng: 7
1.2.2 Cơ chế tự chủ tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập 11
CHƯƠNG 2: PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 34
2.1 Phương pháp thu thập thông tin, số liệu: 34
2.2 Phương pháp phân tích số liệu: 34
2.3 Phương pháp so sánh: 35
2.4 Phương pháp phân tích, tổng hợp: 36
CHƯƠNG 3: THỰC TRẠNG CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI 37
3.1 Khái quát chung về trường Cao đẳng Du lịch 37
3.1.1 Chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của trường 37
3.1.2 Tổ chức bộ máy quản lý 40
3.2 Tình hình thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 43
Trang 63.2.1 Tình hình thực hiện tự chủ quản lý tạo lập các nguồn tài chính 43
3.2.2 Tình hình thực hiện tự chủ quản lý sử dụng các nguồn tài chính 53
3.2.3 Cơ cấu nguồn thu cấp cho chi thường xuyên: 57
3.2.4 Cơ chế phân phối chênh lệch thu chi 58
3.2.5 Cơ chế quản lý tài sản của nhà nước 63
3.2.6 Xây dựng, thực hiện và giám sát thực hiện quy chế chi tiêu nội bộ 65
3.3 Đánh giá chung về thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 67
3.3.1 Những kết quả đạt được 67
3.3.2 Những hạn chế và nguyên nhân: 69
CHƯƠNG 4: GIẢI PHÁP HOÀN THIỆN CƠ CHẾ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH TẠI TRƯỜNG CAO ĐẲNG DU LỊCH HÀ NỘI 75
4.1 Định hướng của nhà nước về phát triển đào tạo đại học và thay đổi cơ chế quản lý tài chính về đại học 75
4.2 Mục tiêu, định hướng phát triển của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 78
4.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 80
4.3.1 Mục tiêu thực hiện quản lý tài chính theo hướng tực chủ, tự chịu trách nhiệm tại trường cao đẳng du lịch Hà Nội 80
4.3.2 Các giải pháp chủ yếu nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 81
KẾT LUẬN 96
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 98
PHỤ LỤC 100
Trang 7DANH MỤC CÁC KÝ HIỆU VIẾT TẮT
Trang 8DANH MỤC CÁC BẢNG BIỂU
1 Bảng 3.1 Tổng hợp các nguồn kinh phí của trường Cao đẳng Du
lịch Hà Nội trong giai đoạn từ năm 2011-2013 45
2 Bảng 3.2 Cơ cấu nguồn kinh phí NSNN cấp của trường Cao
Tổng hợp số học sinh, sinh viên bình quân trong năm của các ngành đào tạo có ngân sách của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội
49
Tổng hợp nhu cầu của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội và phê duyệt về nguồn kinh phí NSNN cấp chi cho ngoài định mức
50
5 Bảng 3.5 Tổng hợp tạo lập nguồn kinh phí thu từ hoạt động sự
6 Bảng 3.6 Cơ cấu chi thường xuyên của trường Cao đẳng Du
Cơ cấu nguồn thu cấp cho chi thường xuyên của trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội giai đoạn 2011-2013
57
8 Bảng 3.8 Xác định chênh lệch thu – chi của trường Cao đẳng
9 Bảng 3.9 Sử dụng kết quả chênh lệch thu chi của trường Cao
10 Bảng 3.10 Tình hình chi trả thu nhập tăng thêm của trường Cao
11 Bảng 3.11 Tình hình trích lập và sử dụng các quỹ tại trường
Cao đẳng Du lịch Hà Nội giai đoạn 2011-2013 62
Trang 9DANH MỤC SƠ ĐỒ, ĐỒ THỊ
1 Sơ đồ 3.1 Cơ cấu tổ chức trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội 42
Trang 10LỜI MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
Giáo dục, đào tạo và khoa học công nghệ là quốc sách hàng đầu đối với mỗi quốc gia nói chung và Việt Nam nói riêng Nâng cao chất lượng giáo dục cũng là mục tiêu cao nhất mà Việt Nam đang đặt ra trong thời gian tới
Trong thời kỳ hội nhập kinh tế, dưới sự lãnh đạo của Đảng và quản lý của Nhà nước, đất nước ta đang từng bước đổi mới Nền giáo dục nói chung và giáo dục đại học Việt Nam nói riêng đã đạt được những thành tựu to lớn, góp phần vào sự nghiệp xây dựng và phát triển kinh tế, văn hóa của toàn xã hội Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, giáo dục đại học Việt Nam vẫn còn một số vấn đề bất cập Công tác quản lý của Bộ GD & ĐT đối với các trường đại học, cao đẳng chưa thực sự đổi mới để phù hợp với các quy luật chi phối hoạt động của hệ thống giáo dục đại học và đòi hỏi của phát triển xã hội Phương pháp quản lý nhà nước đối với các trường đại học, cao đẳng công lập chưa tạo đủ điều kiện để các cơ sở đào tạo thực hiện quyền và trách nhiệm tự chủ, mặt khác không đủ khả năng đánh giá thực chất hoạt động và sự chấp hành luật pháp của tất cả các trường đại học, cao đẳng Qua hai lần cải cách cơ chế tài chính (Nghị định 10/2002/NĐ-CP; Nghị định 43/2006/NĐ-CP) đã giảm bớt một số rào cản nhưng tính hiệu lực, hiệu quả, tính linh hoạt, công bằng, tính ràng buộc tổ chức, sự chấp thuận của cộng đồng đối với
cơ chế tự chủ tài chính chưa cao
Những bất cập trong cơ chế quản lý được coi là một nguyên nhân hạn chế tính tự chủ, kéo theo hạn chế về chất lượng đào tạo, khiến các trường khó có điều kiện phát huy tính năng động, tự chủ, tự chịu trách nhiệm Cơ chế quản lý hành chính Nhà nước đã không còn phù hợp với một nền kinh tế - xã hội phát triển nhanh, phức tạp và đa dạng Muốn các trường đại học, cao đẳng công lập thật sự đạt hiệu quả đào tạo cao thì cơ chế tự chủ tài chính cần thay đổi để tạo ra những giải pháp đột phá về cơ chế tài chính, cơ chế quản trị điều hành Để góp phần trong việc đưa ra một cái nhìn tổng quan về tình hình tự chủ trong các trường đại học, cao
Trang 11đẳng công lập, tôi đã nghiên cứu chọn đề tài “Tự chủ tài chính trong các trường đại học,cao đẳng công lập: Nghiên cứu tại trường cao đẳng du lịch Hà Nội “ làm luận văn thạc sỹ tài chính - ngân hàng
Câu hỏi đặt ra cần tìm lời giải đáp đối với đề tài này là: Những hạn chế, khó khăn, vướng mắc trong thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đằng Du lịch
Hà Nội và nguyên nhân của những hạn chế, khó khăn, vướng mắc ấy? Các giải pháp nhằm hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội?
2 Mục tiêu nghiên cứu đề tài
- Một số vấn đề về tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công lập Hệ thống hóa cơ sở dữ liệu, phân tích thực trạng, từ đó đề xuất giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học, cao đẳng công lập Việt Nam Vấn đề cốt lõi của tự chủ tài chính trong trường đại học là gì? Nên trao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục như nào và cần thực hiện quyền tự chủ như thế nào để đảm bảo mục đích cuối cùng là nâng cao chất lượng đào tạo giáo dục đại học đồng thời vẫn đảm bảo được công bằng xã hội?
- Phân tích cơ chế tự chủ tài chính từ góc độ các trường đại học, cao đẳng công lập Những thuận lợi, khó khăn của cơ chế tới tạo và sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính trước xã hội, khả năng tự chủ tài chính của nhà trường
- Một số gợi ý tăng cường công tác tự chủ tài chính tại trường cao đẳng du lịch Hà Nội
3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu của đề tài
* Đối tượng nghiên cứu: Luận văn tập trung làm rõ những nhân tố tạo nên cơ chế tự chủ tài chính; các tiêu chí đánh giá, ảnh hưởng của cơ chế tới tạo và sử dụng nguồn thu; các vấn đề liên quan tới chế độ, chính sách, cơ chế tài chính của Nhà nước , của trường cao đẳng du lịch Hà Nội nhằm thúc đẩy Nhà trường nhanh chóng
có đủ điệu kiện hội nhập quốc tế
* Phạm vi nghiên cứu:
- Về không gian: Nghiên cứu tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng du lịch Hà Nội
Trang 12- Về thời gian: Nghiên cứu thực trạng tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng
du lịch Hà Nội giai đoạn 2011-2013
4 Kết cấu của luận văn
Ngoài phần Mở đầu, Kết luận và Danh mục tài liệu tham khảo, luận văn gồm 4 chương:
Chương 1: Tổng quan tình hình nghiên cứu và cơ sở lý luận về cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công lập
Chương 2: Phương pháp nghiên cứu
Chương 3: Thực trạng tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng du lịch Hà Nội Chương 4: Giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng
du lịch Hà Nội
Trang 13CHƯƠNG 1: TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU VÀ CƠ SỞ LÝ LUẬN VỀ TỰ CHỦ TÀI CHÍNH ĐỐI VỚI CÁC TRƯỜNG ĐẠI HỌC, CAO
ĐẲNG CÔNG LẬP
1.1 Tổng quan tình hình nghiên cứu:
Quản lý tài chính đối với giáo dục Đại học, cao đẳng là một bộ phận của nền tài chính công, chịu sự điều tiết, chi phối bởi những cơ chế, quy định chung của quản lý nhà nước nhưng cũng có những đặc trưng riêng biệt xuất phát từ vai trò và
vị trí quan trọng của các trường Đại học, Cao đẳng Các vấn đề về chính sách giáo dục và đào tạo, trong đó có chính sách huy động và sử dụng các nguồn tài chính, cơ chế tự chủ quản lý tài chính ở các trường đại học, cao đẳng đã được nghiên cứu trong nhiều công trình khoa học của nhiều tác giả
Tác giả Đặng Văn Du với luận án: “ Các giải pháp nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho đào tạo đại học ở Việt Nam”, đã phân tích sâu sắc về đầu tư tài chính cho đào tạo đại học Luận án đã xây dựng các tiêu chí đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục đại học ở Việt Nam, phân tích thực trạng và đánh giá hiệu quả đầu tư tài chính qua các tiêu chí được xây dựng, từ đó đề xuất hệ thống giải pháp có tính khả thi nhằm nâng cao hiệu quả đầu tư tài chính cho giáo dục đại học ở nước ta
Tác giả Nguyễn Anh Thái (2008) với đề tài luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính đối với các trường Đại học của Việt Nam.” đã đề cập đến những ảnh hưởng của cơ chế tài chính đối với kết quả hoạt động của các trường đại học của Việt Nam đồng thời đưa ra các giải pháp nhằm hoàn thiện hơn cơ chế quản
lý tài chính đối với các trường đại học của Việt Nam, như:
Thứ nhất: tạo dựng khung pháp lý về quản lý giáo dục đại học một cách đồng bộ;
Thứ hai: Cải tiến việc phân bổ và cấp phát NSNN;
Thứ ba: Hoàn thiện cơ chế quản lý nguồn thu đối với các trường đại học công lập
Trang 14Thứ tư: Xã hội hóa giáo dục đại học, khuyến khích đa dạng hóa nguồn tài chính cho phát triển giáo dục đại học công lập;
Thứ năm: Tăng cường phân cấp quản lý tài chính theo hướng tăng tính tự chủ, tự chịu trách nhiệm xã hội đối với các cơ sở giáo dục đại học công lập;
Thứ sáu: Xây dựng chính sách công về tài chính giáo dục đại học công lập;
Tác giả Nguyễn Thu Hương (2011) với nghiên cứu “Tự chủ học phí gắn với đào tạo chất lượng cao và trách nhiệm xã hội của các trường Đại học công lập.” đã chỉ ra những bất cập trong việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong khi cơ chế thu học phí vẫn chưa đồng bộ, các trường đại học vẫn chưa được tự chủ mức thu học phí đối với các chương trình đào tạo phổ thông (vẫn phải thực hiện mức thu trần đối với học phí)…;
Tác giả Trần Đức Cân (2012) trong luận án tiến sỹ “Hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính các trường đại học công lập ở Việt Nam” đã phân tích cơ chế tự chủ tài chính theo góc độ từ các trường đại học công lập, đồng thời nêu ra những thuận lợi, khó khăn và đánh giá hiệu quả ban đầu của cơ chế tới tạo và sử dụng nguồn thu, trách nhiệm giải trình tài chính trước xã hội, khả năng tự chủ tài chính của các trường Qua kinh nghiệm của một số nước trên thế giớ về tự chủ tài chính trường đại học, tác giả rút ra một số kết luận và bài học kinh nghiệm cho Việt Nam, cụ thể:
Một là, giao quyền tự chủ tài chính ở mức độ cao và đi kèm với giao quyền
tự chủ đại học
Hai là, Nhà nước vần đổi mới cách phân bổ ngân sách theo kết quả đầu ra
và đảm bảo tính công khai, minh bạch, có các tiêu chí định lượng rõ ràng Ngân sách cấp theo cơ chế khoán không phải lập theo các tiểu mục để các trường được toàn quyền chi cho tiền lương, chi đầu tư phát triển…và áo dụng chế độ hậu kiểm cho đối với các trường
Ba là, Nhà nước cần cáo những cơ chế chính sách khác đi kèm để hỗ trợ cho
cơ chế tự chủ tài chính như tăng cường chính sách cho vay đối với người học; trợ cấp cho sinh viên nghèo, sinh viên thuộc đối tượng chính sách…; ban hành cơ chế
Trang 15góp vốn chung về đầu tư cơ sở vật chất, thư viện dùng chung giữa các trường nhằm giảm bớt chi phí đầu tư nhưng lại nâng cao hiệu quả khai thác, sử dụng…
Bốn là, Nhà nước cần định hình rõ về mô hình tài chính cho giáo dục đại học theo hướng tăng cường chia sẻ học phí từ người phù hợp với chất lượng đào tạo được cung cấp Cho phép các trường được quyền tự xây dựng các mức học phí đối với những chương trình đào tạo theo nhu cầu của người học, nhu cầu của xã hội để tăng cường tính xã hội hóa, giảm gánh nặng về chi NSNN cho giáo dục đại học công lập
Năm là, cần thành lập một cơ quan kiểm định độc lập nằm ngoài sự quản lý của Bộ GD& ĐT để kiểm tra, đánh giá chất lượng của các trường được giao quyền
tự chủ tài chính
Tác giả Bùi Tiến Hanh (2006) với đề tài “Hoàn thiện c ơ chế tài chính nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục Việt Nam.” đã hệ thống hóa, phân tích làm rõ cơ sở lý luận và thực tiễn về vai trò của giáo dục, xã hội hóa giáo dục, cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục Phân tích rõ thực trạng xã hội hóa giáo dục và những tác động tích cực, hạn chế của cơ chế quản lý tài chính xã hội hóa giáo dục ở nước ta những năm qua Đồng thời tổng kết một số kinh nghiệm về cơ chế quản lý tài chính phát triển giáo dục của một số nước trên thế giới Đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế quản lý tài chính có tính khả thi nhằm thúc đẩy xã hội hóa giáo dục ở nước ta phát triển nhanh và bền vững, thực hiện tốt hơn công bằng và hiệu quả trong phát triển giáo dục, cụ thể:
Thứ nhất: bỏ quy định giới hạn trần về tổng thu nhập hàng năm trả cho người lao động trong các cơ sở giáo dục công lập thực hiện cơ chế tự chủ;
Thứ hai: cụ thể hóa quy định trách nhiệm các cơ sở giáo dục công lập tự đảm bảo nguồn để thực hiện khoản tiền lương cấp bậc, chức vụ tăng thêm theo chế
độ nhà nước khi nhà nước điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu;
Trang 16Thứ ba: cụ thể hóa các khoản chi quản lý và hoạt động nghiệp vụ mà thủ trưởng cơ sở giáo dục công lập do NSNN bảo đảm toàn bộ chi phí được quyết định mức chi để không gây ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục;
Thứ tư: xây dựng và thực hiện thí điểm cơ chế cổ phần hóa, chuyển các cơ
sở giáo dục công lập sang hoạt động theo mô hình doanh nghiệp và trước hết nên
áp dụng đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng và dạy nghề có các ngành nghề đào tạo đang có nhiều lợi thế thu hút người học
Tác giả Vũ Thị Thanh Thủy (2012) với đề tài luận án tiến sỹ “Quản lý tài chính các trường Đại học công lập ở Việt Nam.” đã hệ thống hóa về cơ sở lý luận
về quản lý tài chính tại các trường đại học công lập, các nhân tố quản lý tài chính, đồng thời cũng chỉ ra tác động của quản lý tài chính đến chất lượng đầu ra của học sinh, sinh viên, các thang đo quản lý tài chính và điều kiện để các trường tự chủ tài chính
Ở các góc độ khác nhau, các công trình khoa học nói trên đều có đề cập đến việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công lập Tuy nhiên, cho đến nay chưa có công trình nào nghiên cứu về cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội Với những đặc điểm riêng về cơ cấu tổ chức và hoạt động, nên việc phân tích, đánh giá đúng thực trạng cơ chế tự chủ tài chính tại trường Cao đẳng Du lịch Hà Nội, từ đó đề xuất một số giải pháp hoàn thiện cơ chế tự chủ tài chính tại trường là hết sức cần thiết
1.2 Cơ sở lý luận về tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng cộng lập
1.2 1 Khái quát về trường dại học, cao đẳng:
1.2.1.1Quan niệm về đào tạo đại học
Có nhiều quan niệm khác nhau về đào tạo đại học Quan điểm về đào tạo đại học không phải là bất biến mà nó cũng cũng luôn thay đổi để phù hợp với từng hoàn cảnh kinh tế - xã hội cụ thể
Năm 1968, Tổ chức Văn hoá - Giáo dục - Xã hội của Liên Hợp quốc (UNESCO) đưa ra quan niệm về đào tạo đại học như là "Giáo dục bậc ba" trong hệ
Trang 17thống giáo dục quốc dân của mỗi nước Quan niệm đó của UNESCO đã được nhiều nước thừa nhận và đã chi phối mạnh mẽ đến hoạt động đào tạo đại học; đặc biệt là việc hình thành và xây dựng phương pháp giảng dạy trong các trường đại học Theo
đó, trong giai đoạn này, phương pháp giáo dục đại học cũng chỉ là bước tiếp theo của giáo dục phổ thông, dạy học theo kiểu độc thoại, "thầy đọc, trò chép" từ đó đã trở nên phổ biến
Vào những năm 90 của thế kỷ 20, cùng với sự xuất hiện của nền kinh tế tri thức; quan niệm về đào tạo đại học có những thay đổi để phù hợp với tình hình thực tiễn - khi mà mọi cá nhân đều phải nỗ lực học tập, phấn đấu để đáp ứng đòi hỏi cao của nền kinh tế Tại hội nghị quốc tế về đào tạo đại học ở thế kỷ XXI tổ chức tại Pari (Pháp) tháng 10 năm 1998 đã đưa ra quan niệm mới về đào tạo đại học và đã đạt được sự nhất trí cao; theo đó đào tạo đại học được coi là "Tất cả các loại hình học tập, đào tạo hoặc đào tạo cho nghiên cứu được đảm bảo ở trình độ sau trung học bởi một cơ sở đại học hoặc được nhà chức trách có thẩm quyên công nhận như một
cơ sở đại học"
Sự thừa nhận quan niệm về Đào tạo Đại học bao gồm tất cả các hoạt động học tập, đào tạo hoặc đào tạo cho nghiên cứu do các cơ sở đại học cung cấp như là hoạt động giáo dục sau trung học; thực chất như là không gian mở cho đào tạo đại học và học tập suốt đời với một sự đa dạng về trình độ cần đạt được, cùng với hệ thống mềm dẻo về đầu vào và đầu ra đối với đào tạo đại học tại những thời điểm khác nhau trong suốt cuộc đời người học Tuy nhiên, điều đó không đồng nghĩa với việc mọi hoạt động học tập, đào tạo sau trung học đều thuộc phạm vi của đào tạo đại học mà chỉ có những hoạt động đào tạo do một cơ sở đại học hoặc coi như cơ sở đại học thực hiện thì mới được coi là đào tạo đại học
Trên cơ sở những quan niệm về đào tạo đại học đã được quốc tế thừa nhận, phù hợp với điều kiện thực tiễn ở Việt Nam, quan niệm về đào tạo đại học có thể
khái quát như sau: "ĐTĐH là các hoạt động học tập, đào tạo hoặc đào tạo cho
nghiên cứu do các cơ sở đại học tổ chức và thực hiện nhằm đảm bảo cung cấp cho người học một số tri thức, kỹ năng nghề nghiệp tương ứng với trình độ theo đúng
Trang 18chương trình, thời gian do cơ quan Nhà nước có thẩm quyền đã quy định cho đào tạo ở bậc Đại học"
1.2.1.2 Mục tiêu và phân loại
Với mục tiêu đào tạo ở trình độ đại học là giúp người học nắm vững kiến thức chuyên môn và kỹ năng thực hành về một ngành nghề, có khả năng phát hiện
và giải quyết được những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo Theo mỗi tiêu chí khác nhau có một cách phân loại đào tạo đại học khác nhau Có thể phân loại đào tạo đại học theo các tiêu chí sau:
- Theo trình độ được đào tạo, đào tạo đại học bao gồm:
+ Đào tạo trình độ cao đẳng là đào tạo được thực hiện trong 3 năm học với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp chuyên nghiệp giúp sinh viên có kiến thức chuyên môn cần thiết và kỹ năng thực hành cơ bản về một ngành nghề, có khả năng giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành được đào tạo
+ Đào tạo trình độ đại học là đào tạo được thực hiện từ 4 đến 6 năm học tuỳ theo ngành nghề đào tạo đối với người có bằng tốt nghiệp trung học phổ thông hoặc trung cấp chuyên nghiệp; từ 1 đến 2 năm với người có bằng tốt nghiệp cao đẳng cùng ngành, giúp sinh viên nắm vững kiến thức chuyên môn tương đối hoàn chỉnh,
có phương pháp làm việc khoa học và kỹ thuật thực hành về một ngành nghề, có khả năng phát hiện, giải quyết những vấn đề thông thường thuộc chuyên ngành đào tạo
- Theo phương thức đào tạo:
+ Phương thức đào tạo chính quy là phương thức đào tạo gồm các hoạt động được thực hiện tại các nhà trường chính thức được giao nhiệm vụ tổ chức quá trình đào tạo, tuân theo một quy chế và quy trình đào tạo mang tính khoa học đã được các
cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt Đối tượng người học tham gia vào phương thức đào tạo chính quy là những người có tuổi đời phù hợp với quy trình giáo dục chuẩn từ phổ thông lên cao đẳng hoặc đại học Họ phải có năng lực học tập
và năng lực đó phải được trường tổ chức đào tạo tuyển chọn theo các phương pháp khoa học, khách quan
Trang 19+ Phương thức đào tạo không chính quy là phương thức đào tạo bao gồm các hoạt động đào tạo có tổ chức được tiến hành bên ngoài các trường chính thức được giao nhiệm vụ tổ chức đào tạo Các chương trình đào tạo thường ngắn gọn và tập trung trong diện hẹp hơn so với phương thức đào tạo chính quy Đối tượng người học thường là những người lớn tuổi hơn so với độ tuổi được tính theo quy định chuẩn từ phổ thông lên cao đẳng hoặc đại học Phương thức đào tạo có thể được tổ chức theo nhiều hình thức như đào tạo tại chức (nay là đào tạo vừa làm - vừa học), đào tạo từ xa Những người tham gia đào tạo theo hình thức này phải vượt qua kỳ tuyển chọn đầu vào cho khoá học và hoàn thành khoá luận tốt nghiệp hoặc bảo vệ luận văn tốt nghiệp hoặc thi tốt nghiệp đạt yêu cầu trở lên sẽ nhận được bằng tốt nghiệp thuộc hệ thống văn bằng giáo dục quốc dân do Hiệu trưởng (hay Giám đốc)
cơ sở đại học đó cấp
- Theo hình thức sở hữu:
+ Cơ sở đại học công lập là cơ sở thuộc sở hữu nhà nước, nhà nước đầu tư vốn để xây dựng phòng học, nhà làm việc, thư viện và các công trình phụ trợ khác thuộc phạm vi xây dựng cơ bản của mỗi cơ sở đại học công lập Mọi khoản chi phí cho quá trình hoạt động chủ yếu lấy từ nguồn vốn cấp phát của ngân sách nhà nước
Vì vậy, cơ cấu tổ chức bộ máy và các định mức khác của cơ sở đại học công lập đều phải tuân theo các quy định của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền
+ Cơ sở đại học ngoài công lập gồm:
Cơ sở đại học bán công là cơ sở đại học được thành lập dựa trên sự liên kết giữa tổ chức nhà nước với các tổ chức không phải tổ chức nhà nước, thuộc mọi thành phần kinh tế hoặc là các tổ chức và cá nhân trong và ngoài nước theo phương thức: thành lập mới, chuyển toàn bộ hoặc một phần từ đơn
vị công lập để cùng đầu tư xây dựng cơ sở vật chất, quản lý, điều hành mọi hoạt động theo quy định của pháp luật
Cơ sở đại học dân lập là cơ sở đại học do tổ chức xã hội, tổ chức xã hội - nghề nghiệp, tổ chức kinh tế (dưới đây gọi chung là tổ chức) xin thành lập và huy động các nhà giáo, nhà khoa học, nhà đầu tư cùng đóng góp công
Trang 20sức, kinh phí và cơ sở vật chất ban đầu từ nguồn ngoài ngân sách nhà nước Trường đại học dân lập là pháp nhân được tự chủ về tổ chức bộ máy, tuyển dụng và chủ động về tài chính Tài sản của trường thuộc quyền sở hữu của tập thể, của những người góp vốn đầu tư, các giảng viên, các cán bộ và nhân viên nhà trường
Cơ sở đại học tư thục là cơ sở do các cá nhân, hộ gia đình đứng ra thành lập và quản lý, điều hành theo quy định của pháp luật Cơ sở này có quyền tự chủ về mọi mặt hoạt động của mình trong khuôn khổ pháp luật cho phép
Thực tế rất khó phân biệt cơ sở giữa dân lập và tư thục vì chúng có một sự chuyển hoá rất nhanh nhạy để đảm bảo lợi ích cao nhất cho nhà đầu tư tư nhân Vì vậy, không ít trường hợp vốn đầu tư thực chất là của một cá nhân nhưng lại mang danh một tập thể, cho nên người ta nói đến các trường đại học dân lập nhiều hơn là trường tư thục
1.2.2 Tự chủ tài chính đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập
1.2.2.1 Khái niệm, đối tượng, mục tiêu và nguyên tắc cơ chế tự chủ tài chính
* Khái niệm:
Cơ chế là một thuật ngữ thường để chỉ một kết cấu chặt chẽ về mặt tổ chức của nhiều bộ phận khác nhau, có quan hệ tương hỗ chặt chẽ với nhau và những quy trình, quy tắc để vận hành toàn bộ kết cấu ấy nhằm đạt tới một mục tiêu nhất định Nói cách khác, cơ chế dùng để chỉ hình thái tồn tại của sự vật đang vận động thành một hệ thống và nhờ đó hệ thống có thể hoạt động Cơ chế là tổng thể các yếu tố có mối quan hệ tác động qua lại lẫn nhau, làm mắt xích trong quá trình vận động của
sự vật tạo thành động lực dẫn dắt một nền kinh tế hay sự hoạt động về một lĩnh vực nào đó
Theo từ điển Bách khoa Việt Nam, cơ chế quản lý là cách thức tổ chức, vận hành cụ thể các biện pháp để đạt được những yêu cầu và mục tiêu quản lý đã đề ra
Cơ chế quản lý thường được biểu hiện thông qua hệ thống các văn bản pháp luật do các cơ quan lập pháp hoặc hành pháp ban hành như Luật, Nghị định, Thông tư
Trang 21Tự chủ là các chủ thể có quyền tự quyết, hành động trong khuân khổ pháp luật, có tính chủ động và năng động trong việc điều hành các hoạt động của mình
Xét trên góc độ quản lý tài chính, cơ chế tự chủ tài chính là việc cơ quan quản lý cấp trên (chủ thể quản lý) cho phép đơn vị cấp dưới (chủ thể bị quản lý) được phép chủ động điều hành, tự quyết các hoạt động tài chính trong khuân khổ pháp luật về quản lý tài chính với mục đích nâng cao hiệu quả hoạt động của đơn vị
Cùng với việc trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị, cơ quan cấp trên cũng yêu cầu đơn vị được trao quyền tự chủ phải chịu trách nhiệm về quyền tự quyết của mình Đơn vị phải thực hiện tự đánh giá và tự giám sát việc thực hiện các quy định theo đúng quy định của pháp luật về quản lý tài chính và lĩnh vực khác được giao quyền tự chủ, sẵn sàng giải trình và công khai hóa các hoạt động của đơn
vị mình đồng thời phải chịu trách nhiệm về kết quả hoạt động của mình Tự chủ tài chính và tự chịu trách nhiệm luôn gắn liền với nhau để nâng cao hiệu quả hoạt động của các đơn vị và đảm bảo hoạt động đó luôn đúng theo quy định của pháp luật
* Đối tượng:
Đối tượng thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về tài chính là các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập (đơn vị dự toán độc lập, có con dấu và tài khoản riêng, tổ chức bộ máy kế toán theo quy định của Luật kế toán), hoạt động trong lĩnh vực sự nghiệp Giáo dục - Đào tạo và Dạy nghề
* Mục tiêu:
- Tăng cường trách nhiệm và nâng cao tính chủ động, sáng tạo của trường đại học, cao đẳng và thủ trưởng trường đại học, cao đẳng Trao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập nhằm tạo điều kiện cho đơn vị trong việc tổ chức công việc, sắp xếp lại bộ máy, sử dụng lao động và nguồn lực tài chính để hoàn thành nhiệm vụ được giao; phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội; tăng nguồn thu nhằm từng bước giải quyết thu nhập cho người lao động Trong đó, tự chủ tài chính về bản chất đó là
sự chủ động về đảm bảo các nguồn lực bên trong phục vụ cho hoạt động đào tạo và
Trang 22nghiên cứu khoa học Các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập cần được quyết định
và chủ động khai thác, tìm kiếm nguồn tài chính; cách thức sử dụng các nguồn tài chính và tài sản hiện có, đầu tư cho các tài sản tương lai và cân đối các nguồn tài chính, hoạt động thu và chi nhằm đảm bảo hoạt động hiệu quả, tuân thủ pháp luật
- Nâng cao hiệu quả hoạt động, thúc đẩy sử dụng kinh phí sự nghiệp một cách tiết kiệm, hiệu quả, phát huy mọi khả năng của đơn vị để cung cấp dịch vụ với chất lượng cao cho xã hội
- Thực hiện chủ trương xã hội hóa trong giáo dục đại học, cao đẳng, huy động sự đóng góp của cộng đồng xã hội để phát triển các hoạt động giáo dục, từng bước giảm dần bao cấp từ NSNN
- Tinh giảm bộ máy quản lý, sắp xếp lao động hợp lý
- Tạo điều kiện tăng thu nhập, phúc lợi, khen thưởng cho người lao động
- Thực hiện quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm đối với trường đại học, cao đẳng, Nhà nước vẫn quan tâm đầu tư để hoạt động sự nghiệp ngày càng phát triển; bảo đảm cho các đối tượng chính sách xã hội, đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn được cung cấp dịch vụ ngày càng tốt hơn
- Phân biệt rõ cơ chế quản lý nhà nước đối với đơn vị sự nghiệp với cơ chế quản lý nhà nước đối với cơ quan hành chính nhà nước
* Nguyên tắc:
- Các trường đại học, cao đẳng công lập phải hoàn thành nhiệm vụ được giao Mỗi trường đại học, cao đẳng công lập thực hiện nhiệm vụ đào tạo phù hợp với nhiệm vụ được giao, trong khả năng chuyên môn và tài chính của đơn vị Nguồn tài chính chủ yếu ở các trường đại học, cao đẳng công lập vẫn là nguồn NSNN, để thực hiện nhiệm vụ cung cấp hàng hóa đặc biệt mang tính chất xã hội – giáo dục nên trước hết các đơn vị này phải hoàn thành nhiệm vụ đào tạo được giao
- Thực hiện công khai, dân chủ theo quy định của pháp luật Công khai dân chủ các hoạt động kinh tế xã hội có vị trí đặc biệt quan trọng trong công cuộc đổi mới hiện nay Thực hiện tốt quy chế công khai, dân chủ nhằm phát huy vai trò làm chủ và giám sát của người lao động trong từng trường đại học, cao đẳng công lập và
Trang 23của xã hội đối với hoạt động của đơn vị, bảo đảm cho các trường thực hiện tốt nhất quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của mình Thực hiện tốt cơ chế công khai dân chủ trong các trường để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của người lao động, ngăn chặn tình trạng lạm quyền, vi phạm quy định pháp luật về tổ chức bộ máy, tuyển dụng và sử dụng lao động, phân phối thu nhập, quản lý tài chính và tài sản công… trong đơn vị
- Thực hiện quyền tự chủ phải gắn với tự chịu trách nhiệm trước cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp và trước pháp luật về những quyết định của mình; đồng thời chịu sự kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền Trong phân cấp quản lý kinh tế - xã hội nói chung, quyền hạn bao giờ cũng gắn với trách nhiệm, hai mặt này không thể tách rời nhau Cơ chế ràng buộc này nhằm đảm bảo trường đại học, cao đẳng công lập thực hiện quyền tự chủ trong phạm vi cho phép, theo đúng quy định của pháp luật Mặc dù giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm cho các trường nhưng Nhà nước vẫn thực hiện vai trò kiểm tra, giám sát quá trình thực hiện cơ chế tự chủ tại các đơn vị nhằm hướng dẫn và tháo gỡ những khó khăn trong triển khai thực hiện cơ chế, đánh giá tình hình triển khai thực hiện cơ chế để
có hướng khắc phục, hoàn thiện cơ chế mới
Bảo đảm lợi ích của Nhà nước, quyền, nghĩa vụ của tổ chức, cá nhân theo quy định của pháp luật
1.2.2.2 Nội dung của cơ chế tự chủ tài chính
Theo quy định tại Nghị định số 43/2006/NĐ-CP thì các trường Đại học, cao đẳng công lập được quyền tự chủ về tài chính với các nội dung sau:
Thứ nhất, tự chủ nguồn tài chính, bao gồm:
* NSNN cấp:
Đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập, NSNN không phải là nguồn vốn duy nhất đầu tư cho giáo dục, nhưng là nguồn lực giữ vai trò chủ đạo, thường chiếm tỷ trọng lớn, quyết định việc hình thành, mở rộng và phát triển hệ thống giáo dục của một quốc gia Các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập đảm nhiệm chức năng kinh tế - xã hội là cung cấp dịch vụ giáo dục đào tạo nên
Trang 24nguồn tài chính cơ bản là nguồn từ NSNN Nguồn NSNN được cấp hàng năm cho giáo dục đại học, cao đẳng công lập và phân bổ theo nguyên tắc công khai, tập trung dân chủ, căn cứ vào quy mô và điều kiện phát triển của từng đơn vị
NSNN cấp gồm:
- Kinh phí bảo đảm hoạt động thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao, được cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp giao trong phạm vi dự toán được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ khoa học và công nghệ (đối với các đơn vị không phải là tổ chức khoa học và công nghệ);
- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có)
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
- Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Kinh phí khác (nếu có)
* Nguồn thu từ hoạt động sự nghiệp:
Đây là nguồn thu do các cơ sở được phép tiến hành và tự khai thác từ khả năng của đơn vị mình, không phải nộp vào NSNN mà được sử dụng để thực hiện nhiệm vụ của mình nhưng phải tuân theo các quy định thống nhất của Nhà nước về quản lý tài chính Thông qua nguồn thu này sẽ làm giảm gánh nặng NSNN Nó bao gồm các khoản thu sau:
- Phần được để lại từ số thu phí, lệ phí thuộc NSNN theo quy định của pháp luật, đây là khoản thu có ý nghĩa quan trọng và là một khoản thu lớn trong nguồn thu sự nghiệp của các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập
Trang 25- Thu từ hoạt động dịch vụ: Do hoạt động giáo dục đào tạo rất đa dạng về hình thức nên Nhà nước cho phép các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập khai thác mọi nguồn thu để thực hiện quyền tự chủ trong hoạt động chi tiêu Các hoạt động dịch vụ của các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập thường là liên kết đào tạo, các hoạt động sản xuất, thực hành, thực nghiệm…
- Thu từ hoạt động sự nghiệp khác (nếu có), bao gồm: các khoản thu ngoài chuyên môn nghiệp vụ, như cho thuê nhà xưởng, đất đai…
- Lãi được chia từ các hoạt động liên doanh, liên kết, lãi tiền gửi ngân hàng
* Nguồn viện trợ, tài trợ, quà biếu, tặng, cho theo quy định của pháp luật: Đây chính là nguồn lực do các tổ chức, cá nhân tài trợ theo các chương trình,
dự án phát triển giáo dục Thực tiễn cho thấy, một lượng lớn vốn hỗ trợ chính thức (ODA) tài trợ cho các trường đại học, cao đẳng công lập được sử dụng để xây dựng
cơ sở vật chất như trường học, phòng học, các thiết bị phục vụ học tập… tạo điều kiện thuận lợi để người học đến trường Ngoài ra các hoạt động cung cấp đầu vào cho giáo dục như biên soạn giáo trình đào tạo, sách giáo khoa, đào tạo giáo viên, đào tạo bồi dưỡng đội ngũ quản lý giáo dục… cũng nhận được sự hỗ trợ mạnh mẽ của các nhà tài trợ quốc tế
Trang 26hội, hoạt động sản xuất kinh doanh, cung ứng dịch vụ, liên doanh liên kết thì các trường tự quyết định mức thu theo nguyên tắc bù đắp đủ chi phí và có tích luỹ
Thứ hai, tự chủ về nội dung chi:
* Nội dung chi thường xuyên
Chi thường xuyên tại các trường đại học, cao đẳng công lập là các khoản chi nhằm đáp ứng cho các nhu cầu chi hoạt động thường xuyên gắn liền với việc thực hiện các nhiệm vụ của Nhà nước để cung cấp dịch vụ giáo dục đại học, cao đẳng
Các trường đại học, cao đẳng công lập được sử dụng nguồn NSNN cấp và nguồn thu sự nghiệp của đơn vị để chi cho các hoạt động thường xuyên, bao gồm:
- Chi thanh toán cá nhân: Chi thanh toán cá nhân là những khoản chi nhằm đảm bảo đời sống cho cán bộ, giảng viên tại các trường đại học, cao đẳng công lập;
là nguồn động viên giảng viên nâng cao chất lượng giảng dạy; khuyến khích sinh viên phấn đấu học tập Chi thanh toán cá nhân bao gồm:
+ Chi cho cán bộ, giảng viên và lao động hợp đồng như chi tiền lương, tiền công, tiền thưởng, phụ cấp lương, phúc lợi tập thể, các khoản đóng góp trích nộp bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, kinh phí công đoàn theo chế
độ hiện hành, các khoản thanh toán khác cho cá nhân
+ Chi cho học sinh, sinh viên như chi học bổng, trợ cấp xã hội, tiền thưởng; chi cho các hoạt động văn hóa, thể dục, thể thao của học sinh, sinh viên
- Chi nghiệp vụ chuyên môn: là khoản chi thường xuyên phục vụ cho công tác quản lý và nghiệp vụ chuyên môn về đào tạo, học tập, nghiên cứu khoa học ở các cơ sở đào tạo đại học, cao đẳng công lập Chi nghiệp vụ chuyên môn bao gồm:
+ Chi thanh toán dịch vụ công cộng (chi điện nước, xăng dầu, vệ sinh môi trường), mua vật tư văn phòng, công tác phí, hội nghị phí, chi phí thuê mướn, thông tin liên lạc, tuyên truyền, cước phí điện thoại, fax… phục vụ công tác quản lý và chuyên môn
+ Chi mua sách báo, tạp chí, tài liệu giáo khoa, giáo trình, sách tham khảo, thiết bị, vật tư thí nghiệm, thực hành, chi phí cho giáo viên trong và ngoài nước (chi tiền biên soạn và giảng bài), chi trả tiền dạy vượt giờ cho giảng viên của cơ sở…
Trang 27+ Chi đào tạo bồi dưỡng giảng viên
+ Chi cho công tác tổ chức tuyển sinh, thi tốt nghiệp và thi học sinh, sinh viên giỏi các cấp
+ Chi nghiên cứu các đề tài khoa học, công nghệ cấp cơ sở của cán bộ, giảng viên và sinh viên
- Chi mua sắm sửa chữa thường xuyên như chi phí mua sắm dụng cụ thay thế, sửa chữa thường xuyên tài sản cố định phục vụ công tác chuyên môn và duy trì bảo dưỡng các công trình cơ sở hạ tầng như mua sắm các phương tiện phục vụ giảng dạy và nghiên cứu khoa học, sửa chữa phòng học và các phương tiện phục vụ giảng dạy, nghiên cứu…
- Chi thường xuyên khác như trả gốc và lãi vay các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước (nếu có); sử dụng nguồn thu sự nghiệp đóng góp từ thiện xã hội, chi trợ giúp học sinh nghèo vượt khó học giỏi, trật tự an ninh…
* Nội dung chi không thường xuyên:
Bên cạnh các khoản chi đáp ứng chi thường xuyên, các trường đại học, cao đẳng công lập còn có các khoản chi để thực hiện các hoạt động không thường xuyên, bao gồm:
- Chi thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ;
- Chi thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Chi thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia;
- Chi thực hiện các nhiệm vụ do Nhà nước đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác) theo giá hoặc khung giá do Nhà nước quy định;
- Chi vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài theo quy định;
- Chi thực hiện tinh giảm biên chế theo chế độ do Nhà nước quy định (nếu có);
- Chi đầu tư xây dựng cơ bản, mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định thực hiện theo dự án được cấp thẩm quyền phê duyệt;
- Chi thực hiện dự án từ nguồn vốn viện trợ nước ngoài;
- Chi cho hoạt động liên doanh, liên kết;
- Các khoản chi khác theo quy định (nếu có)
Trang 28Thứ ba, tự chủ về xây dựng định mức chi thường xuyên
Căn cứ vào định mức kinh tế kỹ thuật, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành của Nhà nước Các trường đại học, cao đẳng công lập được chủ động xây dựng tiêu chuẩn, định mức và chế độ chi tiêu nội bộ cho các khoản chi hoạt động thường xuyên cao hơn hoặc thấp hơn quy định, trong phạm vi nguồn tài chính được sử dụng; đảm bảo hoạt động thường xuyên, thực hiện nhiệm vụ được giao, phù hợp với đặc điểm của đơn vị, tăng cường công tác quản lý và sử dụng kinh phí tiết kiệm, có hiệu quả Riêng đối với một số tiêu chuẩn, định mức các trường phải thực hiện đúng các quy định của nhà nước, bao gồm:
- Tiêu chuẩn, định mức sử dụng xe ô tô;
- Tiêu chuẩn, định mức về nhà làm việc;
- Tiêu chuẩn, định mức trang bị điện thoại công vụ tại nhà riêng và điện thoại
di động;
- Chế độ công tác phí nước ngoài;
- Chế độ tiếp khách nước ngoài và hội thảo quốc tế ở Việt Nam;
- Chế độ quản lý, sử dụng kinh phí các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Chế độ sử dụng kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Chế độ chính sách thực hiện tinh giản biên chế (nếu có);
- Chế độ quản lý, sử dụng vốn đối ứng dự án, vốn viện trợ thuộc nguồn vốn NSNN;
- Chế độ quản lý, sử dụng vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
Các tiêu chuẩn, định mức chi tiêu nêu trên được thảo luận công khai trong đơn vị, chế độ chi tiêu nội bộ là căn cứ để thủ trưởng đơn vị điều hành nguồn tài chính của đơn vị, là cơ sở pháp lý để Kho bạc Nhà nước thực hiện kiểm soát chi
Thứ tư, tự chủ quyết định kế hoạch sử dụng lao động và xây dựng quỹ tiền lương
Trang 29Trong quá trình hoạt động Hiệu trưởng trường đại học, cao đẳng công lập được quyết định kế hoạch lao động:
- Sắp xếp lại cán bộ, công chức, viên chức trong chỉ tiêu biên chế, nhân lực được giao để nâng cao hiệu quả, chất lượng hoạt động của đơn vị
- Ký hợp đồng lao động theo quy định của pháp luật lao động, phù hợp với định mức biên chế do cơ quan có thẩm quyền ban hành
Căn cứ vào kết quả tài chính trong năm, đơn vị tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động được xác định tổng quỹ tiền lương trên cơ sở tiền lương tối thiểu không quá 3 lần tiền lương tối thiểu chung của Nhà nước (một lần lương hiện hưởng và tăng thêm không quá 2 lần so với mức tiền lương tối thiểu chung do Nhà nước quy định); đơn vị tự bảo đảm chi phí hoạt động được xác định tổng quỹ tiền lương sau khi thực hiện trích lập quỹ phát triển sự nghiệp theo quy định
Trong trường hợp nguồn thu không bảo đảm như dự kiến, thủ trưởng đơn vị phải xem xét, xác định lại quỹ lương cho phù hợp
Cơ chế tự chủ tài chính đã tạo ra cơ sở pháp lý để các trường đại học, cao đẳng được phép tăng thu nhập cho người lao động, hợp pháp hóa các khoản thu nhập ngoài lương của cán bộ, viên chức Từ đó tạo động lực khuyến khích người lao động tăng năng suất lao động, nâng cao chất lượng và hiệu quả công việc
Các đơn vị sự nghiệp không được sử dụng các nguồn kinh phí sau đây để chi trả tiền lương tăng thêm cho người lao động
- Kinh phí nghiên cứu khoa học đề tài cấp Nhà nước, cấp Bộ, ngành;
- Chương trình mục tiêu quốc gia;
- Tiền mua sắm, sửa chữa tài sản được xác định trong phần thu phí, lệ phí được để lại đơn vị theo quy định;
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản; mua sắm trang thiết bị; sửa chữa lớn tài sản;
- Vốn đối ứng các dự án, vốn viện trợ, vốn vay;
- Kinh phí NSNN cấp để thực hiện tinh giảm biên chế;
- Kinh phí NSNN cấp để thực hiện các nhiệm vụ đột xuất;
- Kinh phí của các nhiệm vụ phải chuyển tiếp sang năm sau thực hiện
Trang 30Trong phạm vi quỹ tiền lương đã được xác định như trên, thủ trưởng đơn vị quyết định phương án chi trả tiền lương cho người lao động theo kết quả công việc đảm bảo mức thu nhập tối thiểu cho người lao động không thấp hơn tiền lương theo khung, thang bảng lương ngạch bậc chuyên môn hiện hành do Nhà nước quy định
Trường hợp nguồn thu bị giảm sút, không đảm bảo mức tiền lương tối thiểu cho người lao động Thủ trưởng đơn vị thống nhất với tổ chức Công đoàn sử dụng quỹ dự phòng ổn định thu nhập để đảm bảo mức tiền lương tối thiểu cho người lao động trong đơn vị
Khi Nhà nước thay đổi hoặc điều chỉnh các quy định về tiền lương, nâng mức lương tối thiểu hoặc thay đổi định mức, chế độ, tiêu chuẩn chi NSNN, thì các đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm trang trải các khoản chi tăng thêm, từ các nguồn sau:
- Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động: sử dụng các nguồn thu sự nghiệp, các khoản tiết kiệm chi, các quỹ của đơn vị và kinh phí NSNN cấp tăng thêm hàng năm theo tỷ lệ do Thủ tướng Chính phủ quyết định
- Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động: sử dụng các nguồn thu sự nghiệp, các khoản tiết kiệm chi và các quỹ của đơn vị
Thứ năm, tự chủ trích lập và sử dụng các quỹ
Hàng năm sau khi trang trải các khoản chi phí, nộp thuế và các khoản nộp khác theo quy định, phần chênh lệch thu lớn hơn chi (nếu có), đơn vị được sử dụng theo trình tự như sau:
* Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm chi phí hoạt động:
- Trích lập tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động (không bị khống chế);
- Trích lập Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi, mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm
Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
* Đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động:
- Trích lập tối thiểu 25% để lập Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp;
Trang 31- Trả thu nhập tăng thêm cho người lao động theo quy định (tối đa không quá
02 lần quỹ tiền lương);
- Trích lập Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ dự phòng ổn định thu nhập Đối với 2 Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi mức trích tối đa không quá 3 tháng tiền lương, tiền công và thu nhập tăng thêm bình quân thực hiện trong năm;
Trường hợp chênh lệch thu lớn hơn chi trong năm bằng hoặc nhỏ hơn một lần quỹ tiền lương cấp bậc, chức vụ trong năm, đơn vị được sử dụng để trả thu nhập tăng thêm cho người lao động, trích lập bốn quỹ: Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi, Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp Mức trả thu nhập tăng thêm, trích lập các quỹ do thủ trưởng đơn vị sự nghiệp quyết định theo quy chế chi tiêu nội bộ của đơn vị
Đơn vị sự nghiệp không được chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ
từ các nguồn kinh phí (chi tiết phần dưới) và kinh phí của nhiệm vụ phải chuyển tiếp sang năm sau thực hiện
Các nguồn kinh phí không được chi trả thu nhập tăng thêm và trích lập các quỹ:
- Kinh phí thực hiện chương trình đào tạo bồi dưỡng cán bộ, viên chức;
- Kinh phí thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia;
- Kinh phí thực hiện các nhiệm vụ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đặt hàng (điều tra, quy hoạch, khảo sát, nhiệm vụ khác);
- Kinh phí thực hiện nhiệm vụ đột xuất được cấp có thẩm quyền giao;
- Kinh phí thực hiện chính sách tinh giản biên chế theo chế độ do nhà nước quy định (nếu có);
- Vốn đầu tư xây dựng cơ bản, kinh phí mua sắm trang thiết bị, sửa chữa lớn tài sản cố định phục vụ hoạt động sự nghiệp theo dự án được cấp có thẩm quyền phê duyệt trong phạm vi dự toán được giao hàng năm;
- Vốn đối ứng thực hiện các dự án có nguồn vốn nước ngoài được cấp có thẩm quyền phê duyệt;
- Kinh phí khác (nếu có)
Trang 32Việc sử dụng các quỹ do Thủ trưởng đơn vị quyết định dựa trên việc tuân thủ các quy định sau:
Quỹ dự phòng ổn định thu nhập, mức trích lập vào quỹ này do thủ trưởng đơn vị quyết định, nhằm mục đích bảo đảm thu nhập tương đối ổn định cho người lao động trong trường hợp nguồn thu bị giảm sút, không đảm bảo kế hoạch đề ra
Quỹ khen thưởng và Quỹ phúc lợi: Quỹ này dùng để chi khen thưởng cho các tập thể và cá nhân người lao động, chi các hoạt động phúc lợi tập thể Thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng và mức chi Quỹ khen thưởng, Quỹ phúc lợi sau khi đã thống nhất với tổ chức công đoàn
Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp: Quỹ này được sử dụng nhằm tái đầu tư
cơ sở vật chất, đổi mới trang thiết bị: hỗ trợ đào tạo, bỗi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn Trong phạm vi nguồn của quỹ, thủ trưởng đơn vị quyết định việc sử dụng vào các mục đích trên theo quy định
Đây là điểm đổi mới căn bản so với cơ chế cũ khi các trường đại học, cao đẳng được trích lập quỹ từ nguồn thu phí, lệ phí (nếu có), theo cơ chế cũ đơn vị sự nghiệp chỉ được trích lập các quỹ từ kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh dịch vụ, lao vụ Quy định mới có tác dụng khuyến khích các trường đại học, cao đẳng đa dạng hóa các hoạt động nghiệp vụ để tăng cường nguồn thu đó có nguồn tài chính trích lập các quỹ
Thứ sáu, tự chủ quản lý và sử dụng vốn, tài sản
- Đối với tài sản cố định sử dụng vào hoạt động sản xuất kinh doanh, dịch vụ đơn vị phải trích khấu hao theo chế độ áp dụng cho doanh nghiệp nhà nước Số tiền khấu hao của tài sản cố định được đơn vị để lại đầu tư, tăng cường cơ sở vật chất, đối mới trang thiết bị, trả nợ vốn vay (nếu là tài sản được đầu tư từ nguồn vốn vay)
- Đối với tài sản được thanh lý theo quy định, tiền thu từ thanh lý sau khi trừ
đi chi phí thanh lý, được để lại đơn vị
- Toàn bộ tiền khấu hao tài sản cố định, tiền thu từ thanh lý để lại đơn vị nói trên được hạch toán vào Quỹ phát triển hoạt động sự nghiệp để đầu tư tăng cường
cơ sở vật chất
Trang 33Một điểm mới nữa của cơ chế tự chủ tài chính đó là việc các trường đại học, cao đẳng được trích khấu hao tài sản cố định, được để lại tiền thanh lý tài sản cố định Cơ chế này đã tạo điều kiện cho đơn vị có nguồn tài chính để chủ động tái đầu
tư, nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ hoạt động
1.2.2.3 Tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập
Tổ chức thực hiện cơ chế tự chủ tài chính trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập bao gồm các bước sau:
* Lập dự toán
Việc lập dự toán, chấp hành dự toán thu, chi ngân sách nhà nước đối với các đơn vị sự nghiệp giáo dục công lập được thực hiện như sau:
Lập dự toán của đơn vị sự nghiệp
Lập dự toán năm đầu thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp công lập Căn cứ vào chức năng, nhiệm vụ được cấp có thẩm quyền giao, nhiệm vụ của năm kế hoạch, chế độ chi tiêu tài chính hiện hành, kết quả hoạt động sự nghiệp, tình hình thu chi tài chính của năm trước liền kề (có loại trừ các yếu tố đột xuất, không thường xuyên), đơn vị lập dự toán thu, chi năm kế hoạch cụ thể như sau:
+ Dự toán thu, chi thường xuyên:
Dự toán thu đối với các khoản thu phí, lệ phí: Căn cứ vào đối tượng thu, mức thu và tỷ lệ được để lại chi theo quy định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền
Đối với các khoản thu sự nghiệp: Căn cứ vào kế hoạch hoạt động dịch vụ và mức thu do đơn vị quyết định hoặc theo hợp đồng kinh tế đơn vị đã ký kết
Dự toán chi: Đơn vị lập dự toán chi tiết cho từng loại nhiệm vụ như chi thường xuyên thực hiện chức năng, nhiệm vụ nhà nước giao; chi phục vụ cho công tác thu phí và lệ phí; chi hoạt động dịch vụ theo các quy định hiện hành
+ Dự toán chi không thường xuyên đơn vị lập dự toán của từng nhiệm vụ chi theo quy định hiện hành của Nhà nước
Dự toán thu, chi của đơn vị phải có thuyết minh cơ sở tính toán, chi tiết theo từng nội dung thu, chi gửi cơ quan quản lý cấp trên trực tiếp để xem xét tổng hợp
Trang 34gửi Bộ, ngành chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trung ương), gửi cơ quan chủ quản địa phương (đối với các đơn vị sự nghiệp địa phương) theo quy định hiện hành
- Lập dự toán 2 năm tiếp theo trong thời kỳ ổn định
+ Đối với dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên: Căn cứ quy định của nhà nước đơn vị sự nghiệp lập dự toán thu, chi hoạt động thường xuyên của năm kế hoạch Trong đó, kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên (đối với đơn vị sự nghiệp tự bảo đảm một phần chi phí hoạt động, đơn vị sự nghiệp
do ngân sách nhà nước bảo đảm toàn bộ chi phí hoạt động) theo mức kinh phí ngân sách nhà nước bảo đảm hoạt động thường xuyên của năm trước liên kề, cộng (+) hoặc trừ (-) kinh phí của nhiệm vụ tăng hoặc giảm của năm kế hoạch do cơ quan có thẩm quyền quyết định
+ Dự toán chi không thường xuyên, đơn vị lập dự toán của từng nhiệm vụ chi theo quy định hiện hành của Nhà nước
Dự toán kinh phí hoạt động của đơn vị sự nghiệp, gửi cơ quan quản lý cấp trên theo quy định hiện hành
Lập dự toán của cơ quan quản lý cấp trên
Lập dự toán năm đầu thời kỳ ổn định: Căn cứ vào dự toán thu, chi năm đầu thời kỳ ổn định do đơn vị lập, cơ quan quản lý cấp trên dự kiến phân loại đơn vị sự nghiệp trực thuộc và tổng hợp dự toán thu, dự toán ngân sách bảo đảm chi hoạt động thường xuyên, không thường xuyên (nếu có) cho đơn vị gửi cơ quan tài chính cùng cấp và các cơ quan liên quan theo quy định hiện hành
Lập dự toán 2 năm tiếp theo thời kỳ ổn định: Hàng năm, trong thời kỳ ổn định phân loại đơn vị sự nghiệp, cơ quan chủ quản căn cứ vào dự toán thu, chi của đơn vị sự nghiệp lập, xem xét tổng hợp dự toán ngân sách nhà nước, gửi cơ quan tài chính cùng cấp
* Giao dự toán và thực hiện dự toán
- Giao dự toán thu, chi: Bộ chủ quản (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc Trung ương); cơ quan chủ quản địa phương (đối với đơn vị sự nghiệp trực thuộc địa
Trang 35phương) quyết định giao dự toán thu, chi ngân sách năm đầu thời kỳ ổn định phân loại cho đơn vị sự nghiệp, trong phạm vi dự toán thu, chi ngân sách được cấp có thẩm quyền giao, sau khi có ý kiến thống nhất bằng văn bản của cơ quan tài chính cùng cấp
- Thực hiện dự toán thu, chi
+ Đối với kinh phí chi hoạt động thường xuyên: trong quá trình thực hiện, đơn vị được điều chỉnh các nội dung chi, các nhóm mục chi trong dự toán chi được cấp có thẩm quyền giao cho phù hợp với tình hình thực tế của đơn vị, đồng thời gửi
cơ quan quản lý cấp trên và Kho bạc Nhà nước nơi đơn vị mở tài khoản để theo dõi, quản lý, thanh toán và quyết toán
+ Đối với kinh phí chi cho hoạt động không thường xuyên: khi điều chỉnh các nhóm mục chi, nhiệm vụ chi, kinh phí cuối năm chưa sử dụng hoặc chưa sử dụng hết, thực hiện theo quy định của Luật Ngân sách nhà nước và các văn bản hướng dẫn hiện hành
* Quyết toán
Cuối quý, cuối năm, đơn vị sự nghiệp lập báo cáo kế toán, báo cáo quyết toán thu, chi ngân sách nhà nước gửi cơ quan quản lý cấp trên xét duyệt theo quy định hiện hành
1.2.2.4 Tiêu chí đánh giá việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính:
Giao quyền tự chủ tài chính cho các trường Đại học, cao đẳng công lập nhằm phát huy mọi khả năng của các trường để nâng cao chất lượng đào tạo, đáp ứng được nhu cầu phát triển, hội nhập của xã hội, trong đó có hội nhập giáo dục Để cơ chế tự chủ tài chính phát huy được vai trò của mình thì đánh giá việc thực hiện cơ chế tự chủ tài chính tại các trường đại học, cao đẳng công lập cần dựa vào các tiêu chí sau:
- Tăng nguồn tài chính của trường từ các nguồn thu sự nghiệp Cơ chế tự chủ tài chính cho phép các trường chủ động tạo lập nguồn thu sự nghiệp một cách đa dạng hóa, do đó một trong những tiêu chí cụ thể để đánh giá sự thành công của cơ
Trang 36chế tự chủ là số thu sự nghiệp phải tăng, phản ánh mức độ nhanh nhạy, vận dụng phù hợp với cơ chế tự chủ tài chính
- Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài chính Bên cạnh việc tăng cường nguồn thu thì việc sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài chính có vai trò quyết định đến hiệu quả của thực hiện cơ chế tự chủ tài chính Sử dụng tiết kiệm, hiệu quả các nguồn tài chính sẽ có tác dụng tăng cường tích lũy để đầu tư cơ sở vật chất, tăng thu nhập, cải thiện đời sống vật chất, tinh thần của cán bộ, viên chức, nâng cao chất lượng đào tạo và nghiên cứu khoa học…, giúp cho việc thực hiện cơ chế tự chủ thành công hơn
- Tính dân chủ, công khai minh bạch trong thực hiện cơ chế tự chủ Tiêu chí này thể hiện công tác quản lý tài chính một cách có hiệu quả, chống thất thoát tài chính
1.2.2.5 Sự cần thiết của cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công lập
Nhà nước Việt Nam coi giáo dục đào tạo, khoa học và công nghệ là quốc sách hàng đầu, là nền tảng và động lực thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước Trong đó, đào tạo đại học, cao đẳng đóng một vai trò vô cùng quan trọng đối với sự phát triển của đời sống xã hội
Trong nền kinh tế kế hoạch hóa tập trung bao cấp trước đây, giáo dục đào tạo trở thành độc quyền của Nhà nước, học sinh, sinh viên trong các trường đại học, cao đẳng không phải đóng học phí và được bao cấp một phần chi phí đủ sống ở mức độ thấp Các cơ sở giáo dục đào tạo đại học, cao đẳng công lập trước đây hoạt động không khác bao nhiêu so với các đơn vị hành chính Biểu hiện:
- Về tài chính: Cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng là đơn vị dự toán như cơ quan hành chính, chỉ dựa vào một nguồn đầu tư từ NSNN cấp theo dự toán được duyệt; khi chi cũng tương tự
- Kế hoạch và chương trình hoạt động thường được cấp trên giao cụ thể: chương trình, sách giáo khoa, chỉ tiêu tuyển sinh… đều do cấp trên quyết định, ngoài danh mục không có kinh phí bổ sung khác để thực hiện
Trang 37- Về tổ chức cán bộ: Đối với các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập thì cấp trên quyết định biên chế không chỉ cho đơn vị mà cả đến cấp dưới trực thuộc như khoa, phòng, ban Còn đối với các cơ sở giáo dục thì cấp trên trực tiếp sẽ quyết định toàn bộ biên chế của nhà trường
Với cơ chế quản lý như trên, các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập
có rất ít quyền chủ động trong các loại hoạt động chủ yếu của mình, trong khi đó đây là một loại hình hoạt động có tính chuyên môn sâu, cán bộ quản lý cấp trên không thể nhanh chóng hiểu rõ được nên việc đưa ra quyết định quản lý đúng đắn kịp thời là rất khó
Khi chuyển sang nền kinh tế thị trường, các trường phải đối diện với nhiều thách thức trước yêu cầu của xã hội về số lượng và chất lượng dịch vụ cung ứng Đặc biệt là đối với các đơn vị đào tạo công lập như các trường đại học, cao đẳng, các đơn vị này rất lúng túng do nhu cầu về đào tạo tăng lên đột biến trong khi khả năng cung cấp của ngân sách là có hạn, đồng thời bó buộc về mặt cơ chế tài chính không tạo ra động lực bứt phá trong hoạt động quản lý tài chính tại các đơn vị Cơ chế “xin – cho” đã được thực hiện trong một thời gian dài, sự bao cấp quá nhiều từ phía nhà nước đã làm cho các đơn vị sự nghiệp hoạt động cứng nhắc và không có hiệu quả Do vậy, để nâng cao hiệu quả hoạt động của khu vực công trong đó có các trường đại học, cao đẳng công lập cần thiết phải thay đổi cơ chế quản lý của Nhà nước, từ quản lý theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang quản lý theo cơ chế tự chủ, tự chịu trách nhiệm
Với quan điểm mới về hoạt động của đơn vị sự nghiệp công lập thuộc lĩnh vực giáo dục đào tạo là đơn vị cung ứng dịch vụ công đáp ứng trực tiếp nhu cầu về dịch vụ giáo dục đào tạo cho con người Dịch vụ này có thể thu tiền thông qua học phí bởi đây là dịch vụ công cộng không thuần tùy có thể xã hội hóa được Chính vì vậy, có thể thực hiện cơ chế quản lý đối với các đơn vị sự nghiệp này theo hướng tăng quyền tự chủ của các đơn vị để thu hút sự tham gia của xã hội và mở rộng cung ứng dịch vụ Từ nhận thức mới này, Nhà nước đã có những cởi mở về mặt cơ chế, đánh dấu sự thay đổi cơ chế quản lý là sự ra đời của Nghị định số 10/2002/NĐ-CP
Trang 38ngày 16/01/2002 của Chính phủ về việc trao quyền tự chủ tài chính cho các đơn vị
sự nghiệp có thu Tuy nhiên, “tự chủ” theo Nghị định số 10/2002/NĐ-CP còn ở phạm vi hẹp, Nhà nước mới chỉ trao quyền tự chủ về tài chính là chủ yếu mà các quyền khác vẫn bị hạn chế nên các đơn vị còn gặp khó khăn trong quá trình hoạt động Nghị định số 43/2006/NĐ-CP ngày 25/4/2006 của Chính phủ ban hành thay thế Nghị định số 10/2002/NĐ-CP theo Nghị định này các đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập được mở rộng quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm về thực hiện nhiệm vụ, tổ chức bộ máy, biên chế và tài chính Việc trao quyền tự chủ cho các đơn vị không phải là “tự chủ tuyệt đối” mà tự chủ gắn liền với trách nhiệm Cơ chế quản lý mới tạo điều kiện phát huy quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các cơ sở giáo dục đại học, cao đẳng công lập nhằm khai thác tối đa các tiềm năng, đồng thời thúc đẩy việc quản lý và sử dụng các nguồn tài chính một cách tiết kiệm và có hiệu quả Cụ thể trên các mặt như sau:
- Đơn vị sự nghiệp giáo dục đào tạo công lập được quyền tự chủ lớn hơn trong việc xác định tổ chức bộ máy và nhân sự phù hợp với chức năng, nhiệm vụ được giao Trên cơ sở đó xác định số biên chế hợp lý, tinh giảm những lao động dư thừa hoặc làm việc không hiệu quả
- Đơn vị cũng được chủ động hơn trong quản lý và tổ chức thực hiện nhiệm
vụ được giao, được liên doanh liên kết, hợp đồng cung ứng dịch vụ… Nhờ đó góp phần đa dạng hóa các hoạt động cung ứng dịch vụ
- Đơn vị được trao quyền lớn hơn trong quản lý tài chính, thủ trưởng đơn vị được quyền quyết định các khoản thu và nhiệm vụ chi đối với phần kinh phí được giao tự chủ
- Với phần kinh phí dôi ra sau khi trang trải các chi phí hoạt động và trích lập các quỹ theo quy định, các đơn vị được sử dụng để tăng thu nhập cho người lao động Mức tăng thu nhập này không giới hạn đối với các đơn vị tự đảm bảo toàn bộ kinh phí chi thường xuyên
- Việc chi trả thu nhập cho người lao động được thực hiện dựa vào mức độ đóng góp của mỗi người
Trang 39Những đổi mới nói trên đã tạo một sức sống mới cho các trường đại học, cao đẳng công lập, giúp cho các trường chủ động tăng cường các khoản đầu tư nâng cao
cơ sở vật chất giảng dạy đảm bảo tăng về số lượng và chất lượng đào tào, tăng thu nhập góp phần cải thiện đời sống cán bộ, viên chức Nâng cao năng lực cạnh tranh của các trường đại học, công lập và phù hợp với xu thế đổi mới, phát triển và hội nhập của đất nước
1.2.2.6 Các nhân tố ảnh hưởng đến cơ chế tự chủ tài chính đối với các trường đại học, cao đẳng công lập
* Chính sách của Nhà nước:
Mỗi chính sách được xây dựng nhằm vào một mục tiêu cụ thể Thông qua công cụ này Nhà nước định hướng hành vi của các chủ thể kinh tế xã hội để cùng hướng tới mục tiêu chung, xác định những chỉ dẫn chung, vạch ra phạm vi hoặc giới hạn cho quá trình ra quyết định của các chủ thể kinh tế xã hội Qua đó hướng suy nghĩ và hành động của mọi thành viên vào thực hiện mục tiêu chung Đồng thời định hướng việc huy động, phân bổ và sử dụng các nguồn lực để giải quyết các vấn
đề một cách kịp thời và có hiệu quả
Hoạt động tài chính ở các trường đại học, cao đẳng công lập không chỉ chịu
sự chi phối bởi bản thân hoạt động của con người chịu trách nhiệm tổ chức các hoạt động tài chính mà còn chịu sự chi phối bởi môi trường kinh tế xã hội khách quan
Cụ thể hàng năm, Bộ Giáo dục và đào tạo giao chỉ tiêu tuyển sinh cho mỗi trường, quy định trên của Bộ là yếu tố quan trọng nhất tác động đến nguồn thu, nhiệm vụ chi của mỗi trường do số lượng tuyển sinh mỗi trường không thể tự quyết định được nhưng nó lại tác động đến mọi mặt trong hoạt động giáo dục đào tạo của họ như thu
từ học phí, thu từ hoạt động dịch vụ trong ký túc xá, giữ xe…, chi cho đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị, chi cho nâng cao chất lượng giảng dạy của mình
Bộ Giáo dục và đào tạo cũng chưa có sự hướng dẫn cụ thể cho các đơn vị dự toán về tiêu chuẩn, định mức chi tiêu trong ngành dẫn đến sự thiếu đồng bộ trong việc áp dụng Nghị định số 43 tại các trường
Trang 40Ngoài chỉ tiêu giao tuyển sinh thì còn có một loạt các quy định khác của các
Bộ, của Chính phủ ảnh hưởng đến cơ chế quản lý của mỗi trường như quy định về mức học phí tối đa; quy đinh về đánh giá kết quả học tập và rèn luyện; mức học bổng được cấp hàng năm cho mỗi trường , chính sách ưu đãi trong đầu tư, chính sách thuế, chính sách đất đai …
* Chức năng nhiệm vụ, quy mô đào tạo của từng trường:
Tuỳ thuộc vào mỗi giai đoạn phát triển cụ thể và căn cứ vào chức năng đào tạo của từng trường và khả năng thu hút các đối tượng học sinh vào học tại trường được nhiều hay ít Quy mô học sinh có mặt tại trường sẽ tác động trực tiếp đến quy
mô nguồn lực tài chính, quy mô ngân sách nhà nước hỗ trợ cho trường Khoảng 10 năm về trước thì khối trường đào tạo kỹ thuật rất được học sinh ưa thích Ở những thời điểm đó, điểm đầu vào của những trường như trường đại học Bách khoa rất cao, khoảng 23 điểm, cao hơn nhiều một số trường khối kinh tế, nhưng ở thời điểm hiện tại thì học sinh phổ thông khi tốt nghiệp lại đua nhau thi vào các trường khối kinh tế như đại học Kinh tế quốc dân, Học viện Ngân hàng, Học viện Tài chính làm cho điểm đầu vào của các trường này lên đến 25, 26 điểm Nếu không đủ điểm, học sinh có thể vào trường cao đẳng, trung cấp Mặc khác, ở các trường hiện nay ngoài loại hình đào tạo chính quy còn đào tạo liên thông, liên kết, tại chức … Việc thu hút được ít hay nhiều học sinh rõ ràng chịu sự chi phối của ngành nghề đào tạo, chỉ tiêu được giao của Bộ và sở Giáo dục đào tạo cho mỗi trường, nói cách khác là phụ thuộc vào chức năng, nhiệm vụ và quy mô đào tạo của từng trường và chính những yếu tố chức năng, nhiệm vụ và quy mô đào tạo có ảnh hưởng rất lớn đến quy mô các nguồn thu, nhiệm vụ chi, đến khả năng tài chính của mỗi trường
* Loại hình đào tạo
Chức năng nhiệm vụ đào tạo của mỗi trường quyết định các ngành đạo tạo hay lĩnh vực đào tạo của trường Ví dụ như một trường có chức năng đào tạo cử nhân kinh tế thì không thể có ngành đào tạo về kỹ thuật cơ khí được Tuy nhiên, số lượng ngành đào tạo của mỗi trường không chỉ phụ thuộc vào chức năng đào tạo của trường mà còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như trình độ, năng lực và uy tín