1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn

62 286 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 62
Dung lượng 690,29 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Ý nghĩa về mặt thực tiễn - Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để chính quyền địa phương các cấp đưa ra được các dự án, đề án cho phát triển kinh tế tại

Trang 1

TÕNG VĂN TOẢN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN SINH

KẾ CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN TẠI XÃ XUÂN SƠN – XÃ VÙNG ĐỆM

CỦA VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên nghành : Kinh tế nông nghiệp

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 2

TÕNG VĂN TOẢN

Tên đề tài:

NGHIÊN CỨU CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN SINH

KẾ CHO CÁC HỘ NÔNG DÂN TẠI XÃ XUÂN SƠN – XÃ VÙNG ĐỆM

CỦA VƯỜN QUỐC GIA XUÂN SƠN

KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC

Chuyên nghành : Kinh tế nông nghiệp

Giảng viên hướng dẫn : Th.S Đỗ Hoàng Sơn

Thái Nguyên, năm 2015

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thiện khóa luận này, ngoài sự cố gắng nỗ lực của bản thân, tôi luôn nhận được sự hướng dẫn, chỉ bảo tận tình, tạo điều kiện và đóng góp những ý kiến quý báu của các thầy cô giáo trong suốt thời gian thực hiện đề tài nghiên cứu

Nhân dịp này, cho phép tôi được bày tỏ lòng biết ơn tới:

Ban giám hiệu, toàn thể các thầy cô giáo khoa Kinh tế & PTNT - Trường Đại học Nông Lâm Thái Nguyên, đặc biệt thầy giáo Th.S Đỗ Hoàng Sơn đã luôn động viên giúp đỡ và chỉ bảo tận tình cho tôi trong suốt quá trình thực hiê ̣n và hoàn thành khoá luâ ̣n

Tôi xin trân tro ̣ng cảm ơn : Toàn thể các cô chú tại xã Xuân Sơn đã tiếp nhâ ̣n và tạo điều kiện giúp đỡ tôi hoàn thành đề tài trong quá trình thực tập tại

cơ sở

Để hoàn thành khóa luận này, tôi luôn nhận được sự động viên, giúp đỡ của gia đình và bạn bè

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Thái Nguyên, tháng 6 năm 2015

Sinh viên

Tòng Văn Toản

Trang 4

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 4.1.1.2 Tình hình sử dụng đất đai tại xã Xuân Sơn 25

Bảng: 4.1.2.1 Tình hình dân số và lao động xã Xuân Sơn 26

Bảng 4.2.1.1: Phân loại kinh tế hộ theo tự đánh giá của các hộ 30

Bảng 4.2.1.2: Phân loại hộ nghèo theo danh sách hộ nghèo tại địa phương 30

Bảng 4.2.1.3: Các tài sản chủ yếu của các hộ điều tra 31

Bảng 4.2.1.4: Hiện trạng nhà ở của các hộ điều tra 32

Bảng 4.2.2: Các chỉ tiêu thu nhập – chi phí của 3 nhóm kinh tế hộ 33

Bảng 4.2.3 Ma trận về tầm quan trọng và mức độ sử dụng các loại

lâm sản 34

Bảng 4.2.4: Thu nhập trung bình năm của các nhóm kinh tế hộ 37

Bảng 4.2.5: Thu nhập từ rừng và các hoạt động liên quan đến rừng của các

nhóm hộ 37

Bảng 4.3.1: Diện tích lúa nước theo nhóm hộ 38

Bảng 4.3.2 Nhân khẩu lao động của các hộ điều tra 39

Bảng 4.3.3: Thực trạng vay vốn của các hộ điều tra 40

Bảng 4.3.5: Các thông tin và khả năng tiếp cận thông tin 41

Bảng 5.1: Chiến lược sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 45

Trang 5

DANH MỤC VIẾT TẮT ĐỀ TÀI

Viết tắt Nguyên Ngữ

VQG Vườn quốc gia

TNTN Tài nguyên thiên nhiên

BTTN Bảo tồn thiên nhiên

KT – XH Kinh tế - xã hội

NN&PTNT Nông nghiệp và phát triển nông thôn

UBND Ủy ban nhân dân

Trang 6

MỤC LỤC

Phần 1 MỞ ĐẦU 1

1.1 Tính cấp thiết của đề tài 1

1.2 Mục tiêu nghiên cứu 2

1.2.1 Mục tiêu chung 2

1.2.2 Mục tiêu cụ thể 2

1.3 Ý nghĩa của đề tài 3

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học 3

1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn 3

1.4 Những đóng góp mới của đề tài 3

Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU 5

2.1 Cơ sở lý luận 5

2.1.1 Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG 5

2.1.2 Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững 6

2.1.3 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ 7

2.1.4 Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG 8

2.2 Cơ sở thực tiễn 9

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG 9

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG 10

2.2.3 Kết quả và những bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện và tạo sinh kế mới của các dự án trong và ngoài nước tại Việt Nam 12

2.2.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển sinh kế của người dân tại các xã vùng đệm nghiên cứu 17

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 19

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu 19

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu 19

Trang 7

3.1.2 Phạm vi nghiên cứu 19

3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu 19

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu 19

3.2.2 Thời gian nghiên cứu 19

3.3 Nội dung nghiên cứu 19

3.3.1 Đánh giá thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội tại xã nghiên cứu 19

3.3.2 Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu 20

3.3.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các tài sản sinh kế của hộ 20

3.4 Phương pháp nghiên cứu 20

3.4.1 Phương pháp chung 20

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể 20

Phần 4 KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN 24

4.1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG ĐIỀU KIỆN CƠ BẢN ĐỊA BÀN NGHIÊN CỨU 24

4.1.1 Thực trạng về điều kiện tự nhiên 24

4.1.1.1 Vị trí địa lý 24

4.1.2 Thực trạng về điều kiện kinh tế - xã hội 25

4.1.3 Điều kiện về hạ tầng cơ sở 27

4.1.4 Những vấn đề tồn tại chính trong phát triển kinh tế - xã hội 29

4.2 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÁC HOẠT ĐỘNG TẠO SINH KẾ CỦA CÁC HỘ NGHIÊN CỨU 30

4.2.1 Các thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu 30

4.2.2 Hiện trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu 32

4.2.3 Hiện trạng khai thác và sử dụng lâm sản ngoài gỗ 34

4.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các yếu tố nguồn lực của hộ 38

4.3.1 Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai 38

4.3.2 Đánh giá thực trạng sử dụng lao động của các hộ 39

4.3.3 Đánh giá thực trạng vay và sử dụng vốn sản xuất 39

4.3.4 Đánh giá thực trạng kinh nghiệm sản xuất 40

Trang 8

4.3.5 Đánh giá khả năng tiếp cận thông tin phục vụ sản xuất 41 4.3.6 Đánh giá điều kiện thị trường 42 4.3.8 Đánh giá các điều kiện vốn xã hội 42 4.4 Những vấn đề tồn tại trong phát triển kinh tế hộ ở vùng đệm –

Nguyên nhân của nó 42 Phần 5 CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU NHẰM CẢI THIỆN SINH KẾ CHO CÁC

HỘ NÔNG DÂN XÃ XUÂN SƠN THUỘC VÙNG ĐỆM VQG XUÂN SƠN 45 5.1 Xây dựng chiến lược cải thiện sinh kế cho các hộ dân vùng đệm 45 5.2 Các giải pháp chủ yếu cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm 48 5.3 Các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân

vùng đệm VQG 49 TÀI LIỆU THAM KHẢO 53

Trang 9

Phần 1

MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trải qua hơn 4 thập kỷ hình thành và phát triển, đến nay hệ thống khu bảo tồn thiên nhiên của Việt Nam gồm 164 khu rừng đặc dụng Đây là những tài sản thiên nhiên quý báu không chỉ có giá trị trước mắt cho thế hệ hôm nay mà còn là di sản cho thế hệ mai sau Tuy nhiên, nhưng giá trị này chịu ảnh hưởng rất lớn từ vùng nằm sát ranh giới (vùng đệm) với các khu rùng đặc quản lý tài nguyên rừng ở các VQG và các khu BTTN thực tế dang đối mặt với nhưng mâu thuẫn giưa nhu cầu sử dụng tài nguyên với quản lý bảo tồn nghiêm ngặt

Khi xây dựng VQG và các BTTN với nguyên tắc quản lý nguyên trạng tài nguyên rừng, cộng đồng dân tộc sống ở các vùng đệm vốn sống dựa vào rừng bị tác động ảnh hưởng lớn tới điều kiện sống, thu nhập, thậm trí cả các giá trị văn hóa truyền thống Hầu hết đời sống người dân vùng đệm còn nhiều khó khăn, do không còn đất để canh tác nương rẫy, nguồn thu từ rừng không còn, do không tìm được sinh kế mới thây thế việc khai thác nguồn lợi từ rừng trước đây Nhu cầu đất đai và thu nhập tức thời của những người dân vùng đệm trong cả quá khứ và thực tại đã và đang tạo ra tình trạng xâm lấn rùng và khai thác TNTN và các VQG Với các phương thức kiếm sống truyền thống là khai thác các sản phẩm từ rừng, canh tác nương rẫy, người dân vùng đệm VQG đã và đang trực tiếp hoặc gián tiếp tác động tiêu cực đến nguồn tài nguyên rừng của các VQG Ngược lại sự suy giảm diện tích

và chất lượng rừng dẫn đến sự thiếu hụt lương thực, giảm các nguồn thu nhập, tác động xấu đến điều kiện kinh tế của người dân và gia tăng độ rủi ro cho người dân có sinh kế phụ thuộc vào rừng Việc đẩy mạnh công tác quản lý nhằm bảo vệ TNTN trong các VQG và khu BTTN, đồng thời giúp cải thiện đời sống của người dân đang sinh sống ở đây là vấn đề khá bức xúc hiện nay

Giải quyết vấn đề mâu thuẫn giữa bảo tồn và phát triển kinh tế vùng đệm, cần thiết phải có những giải pháp hữu hiệu, đáp ứng những nhu cầu trước mắt của nhân dân địa phương, nhưng đồng thời cũng đạt được những yêu cầu của bảo tồn

Trang 10

Các giải pháp cho phát triển KT – XH các vùng đệm phải lấy người dân làm trung tâm quản lý và sử dụng các yếu tố nguồn lực có hiệu quả và phải dựa trên cơ sở hoàn thiện hệ thống chính sách, tăng cường đầu tư, cũng như nâng cao nhận thức của từng người dân, từng cấp chính quyền nơi có vùng đệm nếu các giải pháp của vùng đệm tạo thêm việc làm, nâng cao thu nhập cho người dân sẽ góp phần hạn chế

và tiến tới chấm dứt tình trạng khai thác tài nguyên rừng tại các VQG và các khu

BTTN Xuất phát từ yêu cầu cấp thiết trên tôi chọn nghiên cứu đề tài: “Nghiên cứu

các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại Xã Xuân Sơn – Xã vùng đệm của VQG Xuân Sơn”

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

- Nghiên cứu thực trạng sinh kế của các hộ dân tại xã Xuân Sơn, từ đó phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến sinh kế, đề xuất các giải pháp nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Xuân Sơn

- Đánh giá được những vấn đề tồn tại trong các hoạt động tạo sinh kế của các

hộ nông dân tại xã Xuân Sơn phân tích làm rõ nguyên nhân của nó

- Phân tích cụ thể được các tiềm năng cho việc cải thiện các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nông dân tại xã Xuân Sơn

- Đề xuất được các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã Xuân Sơn thuộc vùng đệm VQG Xuân Sơn

Trang 11

1.3 Ý nghĩa của đề tài

1.3.1 Ý nghĩa trong học tập và nghiên cứu khoa học

- Quá trình nghiên cứu thực hiện đề tài này đã giúp tác giả nâng cao kiến thức, kỹ năng và rút ra những bài học kinh nghiệm thực tế phục vụ cho công tác sau này Ngoài ra, đề tài cũng giúp tác giả nâng cao khả năng tiếp cận, thu thập và xử lý thông tin trong quá trình nghiên cứu và bước đầu biết vận dụng kiến thức đã học vào giải quyết các vấn đề cấp thiết ngoài thực tiễn

- Đề tài là nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho những người làm công tác nghiên cứu nông nghiệp, nông thôn tại các vùng miền núi, những người làm công tác phát triển và bảo tồn tại các khu bảo tồn thiên nhiên tại Việt Nam

1.3.2 Ý nghĩa về mặt thực tiễn

- Kết quả nghiên cứu của đề tài là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng để chính quyền địa phương các cấp đưa ra được các dự án, đề án cho phát triển kinh tế tại các xã vùng đệm VQG Xuân Sơn nói chung và cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm nói riêng

- Đối với Ban quản lý VQG Xuân Sơn, kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ gợi

mở ra hướng quản lý bảo vệ và phát triển rừng VQG theo hướng có sự tham gia của người dân, đảm bảo hài hòa được mối quan hệ giữa bảo tồn tài nguyên rừng VQG

và sinh kế của người dân vùng đệm

- Những giải pháp mà đề tài đề xuất là những gợi mở, những định hướng giúp các hộ nông dân vùng đệm VQG có thể cải thiện và phát triển những sinh kế mới nhằm đảm bảo về mặt thu nhập và việc làm trong tương lai

- Đối với tác giả của đề tài, thông qua nghiên cứu này đã nâng cao được những hiểu biết về thực tế phát triển kinh tế - xã hội nói chung và sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG nói riêng

1.4 Những đóng góp mới của đề tài

- Góp phần làm sáng tỏ thực tế những khác biệt trong hoạt động sinh kế của các

hộ nông dân tại vùng đệm VQG Xuân Sơn so với các vùng nông thôn miền núi khác

Trang 12

- Đề tài cũng làm rõ được mâu thuẫn giữa công tác bảo tồn tài nguyên rừng VQG Xuân Sơn với những hoạt động sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm

- Phát hiện và làm rõ những tiềm năng cho cải thiện sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm VQG Xuân Sơn làm cơ sở cho việc đưa ra những giải pháp cải thiện sinh kế bền vững tại địa bàn nghiên cứu

1.5 Cấu trúc của khóa luận

Ngoài phần danh mục các từ viết tắt, danh mục bảng biểu và sơ đồ, phần kết luận, phụ lục, tài liệu tham khảo, Khóa luận gồm có 5 phần chính sau:

Phần I: Mở đầu

Phần II: Cơ sở lý luận và thực tiễn

Phần III: Đối tượng, nội dung và phương pháp nghiên cứu

Phần IV: Kết quả nghiên cứu và thảo luận

Phần V: Các giải pháp, kiến nghị

Trang 13

Phần 2 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở lý luận

2.1.1 Khái niệm vùng đệm và vai trò của vùng đệm trong việc bảo tồn tài nguyên rừng tại các VQG

Theo công văn số 1568/LN – KL của bộ lâm nghiệp (nay là Bộ NN&PTNT)

Ngày 13/9/1993, vùng đệm là một vùng “nằm ở rìa khu bảo tồn, bao quanh toàn bộ

các phần khu bảo tồn Vùng đệm không thuộc khu bảo tồn và không chị sự quản lý của Ban quản lý khu bảo tồn”

Tại Hội thảo “Vùng đệm các khu bảo tồn thiên nhiên Việt Nam” tháng

5/2001 tại Vinh – Nghệ An có tác giả đã đưa ra định nghĩa vùng đệm của khu bảo

tồn Việt Nam như sau: “Vùng đệm là những vùng được xác định ranh giới rõ ràng,

có hoặc không có rừng nằm ngoài ranh giới của khu bảo tồn và được quản lý để nâng cao việc bảo tồn của khu bảo tồn và của chính vùng đệm đồng thời mang lại lợi ích cho nhân dân sống xung quanh khu bảo tồn Điều này có thể thực hiện được bằng cách áp dụng các hoạt động phát triển cụ thể, đặc biệt góp phần vào việc nâng cao đời sống KT – XH của các cư dân sống trong vùng đệm” [12]

Định nghĩa trên đã nói chức năng của vùng đệm là: Góp phần vào việc bảo

vệ khu bảo tồn mà nó bao quanh, nâng cao các giá trị bảo tồn của chính bản thân vùng đêm, và tạo điều kiện mang lại cho những người sinh sống trong vùng đệm những lợi ích từ vùng đệm và từ khu bảo tồn

Tại điều 8 – Quyết định số 08/2001/QĐ – TTg ngày 11/1/2001 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành quy chế quản lý rừng đặc dụng, rừng phòng hộ,

rừng sản xuất và rừng tự nhiên quy định ghi rõ: “Vùng đệm là vùng rừng, đất hoặc

vùng đất có mặt nước nằm sát ranh giới với các VQG và khu BTTN, có tác dụng ngăn chặn hoặc giảm nhẹ sự xâm phạm khu rừng đặc dụng Mọi hoạt động trong vùng đệm phải nhằm mục đích hỗ trợ cho công tác bảo tồn, quản lý và bảo vệ các khu rừng đặc dụng, hạn chế di dân từ ngoài vào vùng đệm, cấm săn bán, bẫy bắt các loài động vật và chặt phá các loài thực vật hoang dã là đối tượng bảo vệ Diện

Trang 14

tích của vùng đệm không tính vào diện tích của vùng đặc dụng, dự án đầu tư xây dựng và phát triển vùng đệm được phê duyệt cùng với dự án đầu tư của khu rừng đặc dụng Chủ đầu tư dự án vùng đệm có trắc nhiệm phối hợp với UBND các cấp

và các cơ quan đơn vị, các tổ chức KT – XH trên địa bàn của vùng đệm, đặc biệt Nông – Lâm – Ngư nghiệp, định canh định cư trên cơ sở có sự tham gia của cộng đồng dân cư địa phương, trình cấp có thẩm quyền phê duyệt và tổ chức thực hiện để

ổn định và nâng cao đời sống của người dân”

Như vậy, vùng đệm phải được xác định trên cơ sở theo ranh giới của các xã năm ngay bên ngoài khu bảo tồn, những lâm trường quốc doanh tiếp giáp với khu bảo tồn nên đưa vào trong vùng đệm vì những hoạt động của lâm trường này có ảnh hưởng đến công tác công tác bảo tồn của cả vùng đệm và khu bảo tồn Trong những trường hợp như thế, ranh giới vùng đệm không nhất thiết cách đều một khoảng và chạy song song với ranh giới các khu bảo tồn

Chúng ta thể dễ dàng nhận thấy rằng, việc thành lập các vùng đệm tại các VQG và khu bảo tồn ở Việt Nam không theo một khuôn khổ thống nhất Cho dù các vùng đệm được tạo ra theo hình thức nào, hay khi thành lập các VQG và các khu BTTN không nói đến vùng đệm thì những công việc hàng ngày xảy ra, do cư dân sinh sống xung quanh khu bảo tồn đã tạo ra sức ép nặng nề lên khi bảo tồn Để hạn chế những tác động từ cư dân vùng đệm, các VQG và khu BTTN đã có nhiều những hoạt động như tăng cường các biện pháp tuần tra bảo vệ, đẩy mạnh tuyên truyền giáo dục ý thức người dân bảo vệ rừng, khuyến khích người dân tham gia bảo vệ rừng, tổ chức thực hiện nhiều dự án với nguồn tài trợ trong và ngoài nước cait thiện thu nhập và tạo việc làm cho người dân

2.1.2 Khái niệm sinh kế, tài sản sinh kế và sinh kế bền vững

Sinh kế có thể được mô tả như tổng hợp của nguồn lực và năng lực liên quan đến việc quyết định và hoạt động của một người nhằm cố gắng kiếm sống, đặt được các mục tiêu và ước mơ của mình (DFID – 2001) Tiêu chí sinh kế bền vững gồm:

An toàn lương thực, cải thiện điều kiện môi trường tự nhiên, cải thiện điều kiện môi trường xã hội, cải thiện điều kiện vật chất, được bảo vệ, tránh rủi ro và các cú sốc

Trang 15

Sinh kế bền vững có thể được mô tả là (FAO, 2001):

- Chống đỡ được cú sốc và áp lực bên ngoài

- Không phụ thuộc các hỗ trợ từ bên ngoài (hoặc được hỗ trợ bằng các cách thức bền vững về kinh tế và thể chế)

- Được thích nghi hóa để duy trì sức sản xuất lâu dài của nguồn TNTN

- Bền vững mà không làm suy yếu và ảnh hưởng tới sinh kế của những người khác

Để đạt tới mức độ bền vững rõ ràng là một công đồng, một hộ gia đình hay một cá nhân cần có một số tài sản được khái niệm hóa là “Năm loại vốn cần có để

có được sinh kế bền vững” (FAO, 2001)

- Vốn thiên nhiên: TNTN như đất đai, rừng, nước và đồng cỏ

- Vốn nhân lực: sức khỏe, mức độ dinh dưỡng, kỹ năng và trình độ học vấn

- Vốn xã hội: quan hệ họ hàng, bạn bè, xã hội kể cả các mối quan hệ với các

cơ quan tổ chức chính thức mà một người có thể dựa vào đó để mở rộng các giải pháp sinh kế

- Vốn tài chính: Tiền mặt như thu nhập hay tiền tiết kiệm có thể sử dụng làm vốn luân chuyển

- Vốn cơ sở vật chất: Được xếp vào ba nhóm là tài sản tư nhân như gia súc

và công cụ canh tác, tài sản công cộng như đường xá, cơ sở hạ tầng như trường học, bệnh viện…[17]

2.1.3 Khái niệm hộ, hộ nông dân và kinh tế nông hộ

Khái niệm về hộ:

“Hộ là sự hoạt động sản xuất kinh doanh của các thành viên trong gia đình

cố gắng làm sao tạo ra nhiều của cải vật chất để nuôi sống và tang them tích lũy cho gia đình và xã hội”

Khái niệm về hộ nông dân: “hộ nông dân là các hộ gia đình làm nông nghiệp,

tự kiếm kế sinh nhai trên nhưng mảnh đất của mình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất, thường nằm trong hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ

Trang 16

yếu đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường và có xu hướng hoạt động với mức độ không hoàn hảo cao”

Khái niệm kinh tế nông hộ: là một cơ sở kinh tế có đất đai, các tư liệu sản xuất thuộc sở hữu của hộ gia đình, sử dụng chủ yếu sức lao động của gia đình để sản xuất và thường là nằm trong một hệ thống kinh tế lớn hơn, nhưng chủ yếu được đặc trưng bởi sự tham gia cục bộ vào các thị trường có xu hướng hoạt động với mức

độ không hoàn hảo cao

2.1.4 Những chủ chương, chính sách có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội các vùng đệm VQG

* Nghị định số 117/2010/NĐ-CP ngày 24 tháng 12 năm 2010 của Thủ tướng Chính phủ về tổ chức quản lý hệ thống rừng đặc dụng

Điều 34 Trách nhiệm quản lý vùng đệm

- Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương chỉ đạo Ủy ban nhân dân cấp huyện, cấp xã thực hiện trách nhiệm như sau:

+ Tuyên truyền, vận động nhân dân trong vùng đệm thực hiện các biện pháp ngăn chặn xâm hại vào khu rừng đặc dụng

+ Quản lý, sử dụng tài nguyên rừng đúng quy định hiện hành của Nhà nước

và quy hoạch bảo vệ và phát triển rừng được duyệt

+ Phối hợp với Ban quản lý khu rừng đặc dụng tổ chức triển khai thực hiện

dự án đầu tư vùng đệm

- Ban quản lý khu rừng đặc dụng có trách nhiệm

+ Tổ chức các biện pháp thu hút cộng đồng dân cư vùng đệm tham gia quản

lý khu rừng đặc dụng và thực hiện dự án đầu tư vùng đệm

+ Phối hợp với Ủy ban nhân dân cấp xã lập và tổ chức thực hiện dự án đầu

tư vùng đệm

- Tổ chức, hộ gia đình, cá nhân, cộng đồng dân cư cư trú hoặc có các hoạt động trong vùng đệm có trách nhiệm, quyền tham gia thực hiện, phối hợp quản lý

dự án đầu tư vùng đệm

Trang 17

* Quyết định số 24/2012/QĐ-TTg ngày 01 tháng 6 năm 2012 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách đầu tư phát triển rừng đặc dụng giai đoạn 2011 -

2020

Điều 8 Hỗ trợ phát triển cộng đồng vùng đệm các khu rừng đặc dụng

- Ngân sách nhà nước hỗ trợ đầu tư cho cộng đồng dân cư thôn bản vùng đệm để đồng quản lý rừng đặc dụng; mức hỗ trợ mỗi thôn bản là 40 triệu đồng/thôn, bản/năm

- Khoản kinh phí này được chi cho các nội dung: Đầu tư nâng cao năng lực phát triển sản xuất (khuyến nông, khuyến lâm, giống cây, giống con, thiết bị chế biến nông lâm sản quy mô nhỏ); hỗ trợ vật liệu xây dựng cho thôn bản (đối với các công trình công cộng của cộng đồng như nước sạch, điện chiếu sáng, thông tin liên lạc, đường giao thông thôn bản, nhà văn hoá…)

- Ban quản lý rừng đặc dụng được giao quản lý kinh phí này theo quy định của quản lý kinh phí sự nghiệp kinh tế hiện hành Dự toán chi tiết hỗ trợ đầu tư vùng đệm hàng năm phải do thôn bản lập kế hoạch đề xuất; Ban quản lý rừng đặc dụng chủ trì, phối hợp với Ủy ban nhân dân xã họp bàn với từng thôn bản để đồng phê duyệt (không phải lập dự án đầu tư) Kế hoạch chi tiêu này phải gắn với kế hoạch, cam kết bảo vệ rừng đặc dụng; thôn, bản nào thực hiện bảo vệ rừng không tốt, Ban quản lý rừng đặc dụng có quyền chuyển vốn hỗ trợ cho thôn bản khác Cộng đồng dân cư tổ chức giám sát thực hiện nội dung này theo quy định về chế độ dân chủ cơ sở

2.2 Cơ sở thực tiễn

2.2.1 Nghiên cứu trên thế giới về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG

- Trung Quốc là một nước đông dân cư nhất thế giới xấp xỉ 1,13 tỉ Theo thống kê diện tích rừng của Trung Quốc tổng cộng là 10.137 tỉ m2 với tỉ lệ đất phủ rừng là 13,29% chiếm 3% diện tích toàn thế giới Trong đại gia đình các dân tộc Trung Quốc, dân tộc Dai ở Vân Nam đã nổi tiếng là thông minh vận dụng thiên nhiên một cách tinh vi và kinh tế

Trang 18

Trong thời gian dài thực hành các loại cây, người Dai đã tìm ra phương pháp nhận diện “ tìm ra cái khác trong giống, tìm ra cái giống trong cái khác nhau”, xây dựng “ hệ thống hai chỉ định để phân loại cây” Họ giáo dục con cháu họ cách sử dụng các loại cây từ đời này sang đời khác dưới dạng các bài thơ trào phúng và các câu tục ngữ do tổ tiên để lại Ví dụ khi thu hoạch tre, độ dài ngắn nhất có thể cắt đốn đi nên ngắn hơn 25% tổng độ dài, những câu tục ngữ “ đốn tre chừa lại búp non” Sử dụng tài nguyên thực vật một cách thích hợp, bền vững trong thời gian dài, dân tộc Dai đã hình thành nền văn minh canh tác riêng của họ người Dai đã hiểu ra

ý nghĩa của việc bảo vệ rừng “ không có rừng thì không có nước, không có nước thì

không có đất, không có đất thì không có thức ăn và không có thức ăn thì không có

sự sống” Và “đốn cây làm bạn giàu lên trong thời gian ngắn, nhưng những quả đồi

trọc làm thế hệ sau nghèo khổ bần cùng”

Như vậy đa dạng sinh thái có ảnh hưởng đến đa dạng văn hóa và đa dạng văn hóa bảo tồn và thúc đẩy đa dạng sinh học

Nhiều nước trên thế giới như Australia, New Zealand, Canada, Indonesia,…

Có những kinh nghiệm trong việc phối hợp giữa nhà nước với người dân địa phương trong quản lý các vườn quốc gia và khu bảo tồn thiên nhiên ở Indonesia vẫn có 13 bản làng người dân địa phương sinh sống ở đó và việc săn bắn cổ truyền của họ vẫn tồn tại ở khu bảo tồn Nerfu ở Zambia Luangua, các cộng đồng địa phương vẫn được quyền thực hiện việc săn bắn truyền thống ở vườn quốc gia Sagarmatha tại vùng núi Everest , người ta đã đem lại quyền lợi cho người dân tộc Sherpa và thu hút họ vào làm cho Vườn Quốc Gia theo chế độ người gác rừng

Các dẫn chứng trên cho thấy rằng vai trò to lớn của cộng đồng dân địa phương trong việc bảo vệ rừng và bảo vệ vườn quốc gia,khu bảo tồn họ gìn giữ những tri thức bản địa vô cùng phong phú và đa dạng tự nguyện bảo vệ nơi sinh sống một cách bền vững

2.2.2 Nghiên cứu ở Việt Nam về sinh kế cho người dân vùng đệm tại các VQG

Một số các hoạt động phát triển cộng đồng và thông qua đó để giáo dục bảo tồn như : trồng rừng phục hồi hệ sinh thái bằng nhiều loài cây bản địa nhiều mục

Trang 19

đích, chuyển giao kỹ thuật nuôi ong, trồng nấm, gieo ươm cây có nguồn gốc tại chổ

để phục vụ công tác trồng rừng và khai thác tiềm năng sẳn có của địa phương phục

vụ cuộc sống con người Một số mô hình vườn cây kinh tế, cải tạo vườn tạp,… đang được triển khai ở nhiều nơi trong vùng đệm

Cũng nhờ sự trợ giúp về kỹ thuật và kinh phí của chương trình tài trợ các dự

án nhỏ của Quỹ Môi trường toàn cầu (GEF/SGP) và Tổ chức Hỗ trợ Phát triển Đức (DED) thông qua sự điều phối với các tổ chức quần chúng trên địa bàn, một số mô hình sản xuất tăng thu nhập cho cộng đồng được áp dụng cho các điểm nóng trong vùng Đó là các mô hình chuyển đổi cơ cấu cây trồng, tận dụng tối đa tiềm năng hạn hẹp của đất đai để sản xuất nông nghiệp, mô hình sử dụng bếp tiết kiệm củi trong cộng đồng

Cũng trong phạm vi của sự trợ giúp từ các tổ chức quốc tế, Vườn đã tổ chức nhiều khóa tập huấn về bảo tồn đa dạng sinh học cho địa phương, tổ chức định kỳ hàng tháng các cuộc tiếp xúc, giao lưu và tọa đàm với cộng đồng từng thôn bản trong vùng đệm về các chủ để có liên quan đến bảo vệ rừng và đa dạng sinh học, xây dựng mô hình khoán bảo vệ rừng dựa vào cộng đồng ở thôn

Hiện nay, các Vườn Quốc Gia đang phối hợp chặt chẽ với chính quyền địa phương khảo sát các điểm du lịch sinh thái trong vùng đệm để có thể giúp cộng đồng khai thác, quản lý và thu hồi nguồn lợi từ các điểm du lịch này Đây có thể nói

là một hoạt động rất mới và rất quan trọng đang được cộng đồng và chính quyền địa phương ủng hộ tích cực

Ngoài các hoạt động giáo dục bảo tồn và trợ giúp phát triển kinh tế-xã hội vùng đệm, cũng cần có một sự quan tâm đặc biệt hơn nữa để có thể khuyến khích cộng đồng cùng tham gia với Vườn trong công tác bảo tồn Vườn Đó chính là mô

hình bảo vệ rừng có sự tham gia của cộng đồng ở các địa bàn khác nhau trong vùng đệm

Trang 20

2.2.3 Kết quả và những bài học kinh nghiệm trong việc cải thiện và tạo sinh kế mới của các dự án trong và ngoài nước tại Việt Nam

Tuy có những khó khăn nói trên, nhưng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên và VQG trong những năm qua đã có những dự án riêng lẻ về nâng cao nhận thức môi trường hay các dự án phát triển kinh tế, nâng cao cuộc sống cho người dân nhằm giảm nhẹ sức ép của họ lên các khu bảo tồn đã thu được một số kết quả Các “giải pháp lớn” tầm quốc gia, quốc tế để giải quyết những nguyên nhân từ xa rất quan trọng, nhưng không biết bao giờ mới đạt được, trong lúc đó nhiều dự án và hoạt động nhỏ có thể tạo nên những biến đổi lớn nếu như mọi người tham gia các hoạt động hiểu rõ vai trò của mình Các dự án về bảo vệ thiên nhiên thực hiện tại các địa phương không làm thay đổi được các chính sách ở mức quốc gia hay quốc tế nhưng lại có thể: làm giảm bớt ảnh hưởng của các chính sách chưa phù hợp với địa phương; giải quyết được những vấn đề suy thoái môi trường có nguyên nhân trực tiếp từ các hoạt động của địa phương

Để động viên được các cộng đồng địa phương tại các vùng đệm giải quyết được những khó khăn trước mắt, khi xây dựng dự án ở đây cần phải chú ý khởi đầu bằng những hành động nhỏ, giải quyết những vấn đề cấp bách nhất mà người dân đang mong đợi

- Đầu tiên nên chọn các hoạt động trực tiếp và nhanh chóng cải thiện được cuộc sống thường ngày của người dân (lương thực, nước, sức khỏe, nhà ở, tăng thu nhập) Hơn ai hết, người dân hiểu rất rõ họ đang làm cái gì

- Tạo mọi điều kiện nâng cao nhận thức về thiên nhiên và môi trường Đây là khâu then chốt để làm cho mọi người hiểu được vấn đề và nguyên nhân gây ra suy thoái môi trường tạo cho họ lòng tin là họ có thể cải thiện được cuộc sống của họ bằng cách sử dụng một cách hợp lý và lâu dài tài nguyên thiên nhiên( rừng, đất, nước mà họ có)

- Tạo niềm tự hào về những đặc trưng tự nhiên có một không hai của địa phương( như các loài đẹp và quý hiếm, các loài đặc hữu, các hình thái cây cỏ, các cảnh quan đặc trưng của địa phương)

Trang 21

- Lập kế hoạch thực hiện, với mục tiêu ngắn hạn “thấy được và vươn tới được” Những kỳ vọng xa xôi, không luận giải được và không hoàn thành được sẽ tạo ra những thất vọng và những cản trở dẫn đến tình trạng trì trệ và mất lòng tin

- Tham khảo ý kiến và tôn trọng ý kiến của nhân dân nhất là những người hưởng lợi, tránh áp đặt một kế hoạch cứng nhắc đưa từ trên xuống, nhát định kông

để dân hiểu nhầm là dự án đến thuê họ làm công việc của họ, mà dự án đến hỗ trọ

họ giải quyết những khó khăn mà họ đang phải đối đầu

- Tạo được mô hình tốt cho mọi người noi theo, mô hình đó nên chọn người thực hiện phù hợp (nên lấy ý kiến của người dân)

- Xây dựng, tổ chức và phân phối công bằng lợi nhuận trong cộng đồng

- Lôi kéo sự tham gia và sự ủng hộ của những nhân vật chủ yếu như các nhà lãnh đạo chính trị, tôn giáo các trưởng bản, các nhân vật cao cấp ở địa phương và sự

độ quản lý Có như thế kết quả của dự án mới được bền vững

- Các vấn đề vùng đệm thường khó giải quyết một cách trọn vẹn trong thời gian 2-3 năm như thường lệ của các dự án hỗ trợ phát triển mà nên tìm cách kéo dài

dự án10 -15 năm, bằng những hành động thiết thực cho đến khi người dân có sự hiểu biết đúng đắn về khu bảo tồn, về vai trò vùng đệm, về trách nhiệm và quyền lợi của người dân vùng đệm và cuộc sống tương đối ổn định

- Chủ đề về phát triển kinh tế xã hội vùng đệm gắn với bảo tồn TNR tại các khu bảo tồn thiên nhiên đã được nhiều tác giả trong và ngoài nước quan tâm trong thời gian qua :

Đề tài tiến sỹ nghiên cứu sinh của Cao Thị Lý (2008) với đề tài: “Nghiên

cứu về bảo tồn đa dạng sinh học: Những vấn đề liên quan đến quản lý tổng hợp tài

Trang 22

nguyên rừng ở một số khu bảo tồn thiên nhiên vùng Tây Nguyên” Đề tài đã tập

trung vào việc luận giải những vấn đề tồn tại trong công tác quản lý bảo tồn tài nguyên rừng tại các khu BTTN và nguyên nhân của những tồn tại đó Đề tài chỉ ra rằng các cộng đồng dân cư vùng đệm chủ yếu sản xuất cây nông nghiệp ngắn ngày phục vụ cho lương thực với cơ cấu đất đai của hộ tập trung ở các loại đất màu, rẫy

và ruộng; tiềm năng đất đai để phát triển cây trồng hàng hóa, chăn nuôi chưa được

sử dụng Tuy vậy đất đai không phải là nhân tố chủ yếu tác động đến việc phụ thuộc vào rừng của cộng đồng Thu nhập bình quân của cư dân vùng đệm hiện rất thấp, bình quân thu nhập/khẩu/tháng của hộ nghèo là 150.000đ và hộ thoát nghèo là 250.000đ Đời sống còn rất khó khăn, mới chỉ đảm bảo an toàn lương thực, cơ cấu sản xuất hàng hóa, chăn nuôi chưa được chú trọng phát triển Khuyến nông chỉ tập trung cho lúa nước, cây ngắn ngày chưa thể đáp ứng được mục tiêu giảm nghèo, nâng cao đời sống và giảm áp lực vào rừng Thu từ rừng so với tổng thu nhập biến động từ 3% ở cộng đồng có mức tác động thấp đến 11% ở cộng đồng có mức tác động cao Việc phân loại các cộng đồng thôn buôn có mức tác động vào rừng khác nhau là cần thiết, làm cơ sở để cân đối trong phát triển kinh tế hộ gắn với quản lý tài nguyên rừng bảo tồn Khoán quản lý bảo vệ rừng (QLBVR) ở các địa phương chưa chú ý đến phân loại kinh tế hộ, để có ưu tiên về thu nhập cho nhóm hộ nghèo, nguồn thu này chưa thể làm giảm hoặc thay thế các khoản thu từ rừng của cộng đồng Trên cơ sở kết quả nghiên cứu những vấn đề liên quan dến quản lý tổng hợp TNR ở một số khu BTTN vùng Tây Nguyên, đề tài bước đầu đề xuất các giải pháp định hướng quản lý tổng hợp TNR ở một số VQG tại Tây Nguyên Tuy nhiên, đề tài chưa đi sâu nghiên cứu các giải pháp cụ thể cho việc giải quyết các vấn đề KT – XH cho cộng đồng dân cư vùng đệm, các giải pháp cho phát triển kinh tế hộ nông dân [11]

- Theo Trần Đức Thanh (2006) trong bài: “Một vài biến đổi ở vùng đệm

VQG Chư Mon Rây”, tác giả cho thấy để phát triển KT – XH cho các cọng đồng

dân tộc ở VQG Chư Mon Rây cần thiết phải quy hoạch nơi ở ổn định tại vùng đệm cho đồng bào các dân tộc ít người, mở rộng diện tích đất canh tác Nông nghiệp, thay đổi cơ cấu cây trồng vật nuôi theo hướng hàng hóa Đối với người dân vùng

Trang 23

đệm, nâng cao các kiến thức Nông nghiệp có ý nghĩa quan trọng đối với việc gia tăng thu nhập cho người dân Nghiên cứu cũng như kiến nghị: Việc đầu tư cho vùng đệm phải đi đôi với việc nâng cao nhận thức về bảo tồn, kiến thức trong nông lâm nghiệp cho người dân, nhất là đồng bào dân tộc ít người [15]

- Theo tác giả Võ Quý (1997) trong bài viết: “Vấn đề quản lý vùng đệm ở

Việt Nam – những kinh nghiệm bước đầu” đã chỉ ra các vấn đề khó khăn chính

trong quản lý vùng đệm, các khu BTTN ở Việt Nam như:

+ Vùng đệm thuộc quản lý của chính quyền địa phương (xã, huyện, tỉnh) nhưng thường địa phương ít quan tâm đến khu bảo tồn; họ không được lợi gì mà còn mất đi một số quyền lợi so với trước; không hiểu ý nghĩa của vùng đệm đối với khu bảo tồn; không được cấp trên giao nhiệm vụ và cũng không có hướng dẫn cụ thể về cách quản lý Chính quyền địa phương coi việc bảo vệ các khu rừng đặc dụng

là việc của ban quản lý các khu rừng đó

+ Nhân dân địa phương đa số là nghèo, dân số tăng nhanh, dân trí thấp, họ cho rằng việc thành lập khu bảo tồn không đem lại lợi ích gì cho họ, mà chỉ bị thiệt

vì họ không được tự do khai thác một phần TNTN như trước; trong lúc đó có một

số khu bảo tồn làm ăn khấm khá, do tổ chức du lịch, có dự án, lấy thêm nhân viên cho khu bảo tồn mà họ không được tham gia mà cũng không được chia sẻ mối lợi

có được từ khu bảo tồn

+ Chính quyền tỉnh, trung ương và các bộ ngành có liên quan chưa có quan niệm đúng mức về vùng đệm của các khu bảo tồn, chưa chỉ đạo, hướng dẫn, chính quyền địa phương cách quản lý vùng đệm

+ Tập quán của người dân sống trong vùng đệm ở một số nơi quá lạc hậu, vẫn tồn tại phương thức đót nương làm rẫy, chọc lỗ tra hạt vì vậy năng suất mùa màng rất thấp, tỷ lệ hộ đói nghèo còn cao

+ Các chương trình nhà nước như chương trình 327, 556, 134, 135, chương trình 30A, chương trình tín dụng và nhiều chương trình phi chính phủ thực hiện ở các xã vùng đệm chưa chú ý nhiều đến vai trò của vùng đệm đối với khu bảo tồn và mục tiêu của bảo tồn [12]

Trang 24

- Theo tác giả Nguyễn Bá Thụ (2001) đánh giá “Về chính sách cho vùng

đệm” các khu BTTN – Kỷ yếu hội thảo quốc tế “ Vùng đệm các khu BTTN Việt Nam” cũng đưa ra những kết luận: Đời sống của dân cư sống quanh khu bảo tồn

còn nhiều khó khăn, cuộc sống của họ còn gắn liền với khu BTTN; 90% các hoạt động thu hái, săn bắt và khai thác các giá trị về ĐDSH được thực hiện bởi người sống ở vùng đệm Bài viết cũng chỉ ra rằng: Đầu tư vào vùng đệm để nâng cao nhận thức bảo tồn nâng cao đời sông của người dân vùng đệm sẽ làm giảm áp lực về nhu cầu khai thác tài nguyên của khu bảo tồn, làm cho hoạt động bảo tồn có hiệu quả hơn Các chương trình đầu tư cho vùng đệm: Chương trình 327 là một chương trình lớn nhằm hỗ trợ cho phát triển rừng được triển khai từ 1992, chương trình trồng mới

5 triệu ha theo quyết định số 661/QĐ – TTg ngày 29/6/1998 của Thủ tướng Chính phủ và Thông tư liên bộ (1999/TT – LT) với mục tiêu và hướng dẫn những hoạt động đầy triển vọng tiếp nối chương trình 327, các dự án đầu tư bằng nguồn vốn viện trợ (kể cả vốn vay và vốn viện trợ không hoàn lại) cũng được tác giả đề cập, Tuy nhiên, tác giả Nguyễn Bá Thụ cho thấy, chúng ta chưa có một chính sách cụ thể

riêng biệt nào chuyên đầu tư cho vùng đệm của các khu BTTN [16]

Các chính sách vĩ mô, các “giải pháp lớn” tấm quốc gia, quốc tế để giải quyết mâu thuẫn giữa nhu cầu sử dụng tài nguyên với quản lú bảo tồn nghiêm ngặt tại các khu BTTN thực sự trở nên rất quan trọng, nhưng không biết bao giờ mới đạt được, trong lúc đó nhiều dự án và các hoạt động nhỏ có thể tạo nên những biến đổi lớn nếu như mọi người tham gia hoạt động hiểu rõ vai trò của mình các dự án nhỏ

về bảo vệ thiên nhiên thực hiện tại các địa phương không làm thay đổi được chính sách ở mức quốc gia hay quốc tế nhưng lại có thể: làm giảm bớt ảnh hưởng của các chính sách chưa phù hợp với địa phương; và giải quyết được những vấn đề suy thoái môi trường có nguyên nhân trực tiếp từ các hoạt động của địa phương Ở một

số khu BTTN và VQG trong những năm qua đã có những dự án riêng rẽ về nâng cao nhận thức môi trường hay dự án phát triển kinh tế, nâng cao cuộc sống cho người dân nhằm giảm nhẹ sức ép của họ lên khu bảo tồn đã thu được một số kết quả

Trang 25

- VQG Cát Tiên được UNESCO công nhận là khu dự trữ simh quyển quốc tế Cát Tiên vào ngày 10/11/2011 Đây là khu dự trữ sinh quyển thứ 411 của thế giới rộng 726.798 ha, trong đó vùng lõi là 71.920 ha, vùng đệm 251.445 ha và vùng chuyển tiếp 403.443 ha Cát Tiên bao gồm 86 xã nằm trên địa bàn của 11 huyện thuộc 4 tỉnh: Đồng Nai, Lâm Đồng, Bình Phước và Đăk Nông Vùng đệm VQG Cát Tiên có khoảng 17 vạn người đang sinh sống, với hơn 13 dân tộc Trong đó, dân tộc Kinh chiếm đa số (67%), dân tộc bản địa là Châu Mạ (6.2%) và Stiêng (2.3%) Đồng bào dân tộc Tày, Nùng, Dao từ các tỉnh Cao Bằng, Lạng Sơn di cư đến VQG Cát Tiên từ những năm 1990 Hầu hết đời sống người dân vùng đệm còn nhiều khó khăn, với tỷ lệ hộ đói nghèo khoảng 30%, trong đó còn nhiều hộ có tập quán dựa vào tài nguyên rừng Vào lúc nông nhàn hoặc mất mùa, người dân thường vào rừng

để kiếm sống Việc đẩy mạnh công tác quản lý nhằm bảo vệ TNTN trong VQG, đồng thời giúp cải thiện đời sống của những người dân đang sinh sống ở đây là vấn

đề khá bức xúc Trong những năm qua, VQG Cát Tiên đã vận dụng nhiều dự án trong nước và quốc tế nhằm góp phần giúp người dân vùng đệm nâng cao đời sống trên cơ sở kết hợp hài hòa giữa các phương thức bảo tồn ĐDSH và phát triển cộng đồng Thông qua các dự án trong nước và quốc tế, hạ tầng cơ sở các xã vùng đệm

đã được cải thiện rõ rệt nhiều công trình được đầu tư xây dựng và phát huy có hiệu quả như: hệ thống đường giao thông nông thôn, hệ thống thủy lợi các công trình nước sạch, công tác khuyến nông được dự án triển khai đến từng hộ dân cũng như

đã giúp người dân tiếp cận và áp dụng những tiến bộ khoa học kỹ thuật nhằm nâng cao năng suất và chất lượng sản phẩm Đến nay hầu hết mọi người dân đã bỏ hết truyền thống canh tác cũ; thường xuyên sử dụng các giống năng suất cao chất lượng

Trang 26

- Năng suất cây trồng thấp: Có nhiều nguyên nhân dẫn đến năng suất các loại cây trồng còn thấp nhƣ giống cũ, trình độ canh tác hạn chế, đất đai không đƣợc đầu

tƣ tham canh, thuỷ lợi kém,…

- Hoạt động chăn nuôi đƣợc nhiều hộ lựa chọn để thay thế cho các hoạt động sinh kế bị mất đi từ khi VQG đƣợc thành lập Nhƣng chăn nuôi của các hộ gia đình vùng đệm vẫn chủ yếu là chăn nuôi nhỏ lẻ, tận dụng ngồn thức ăn từ thu hoạch cây nông nghiệp

- Khả năng tích luỹ để mở rộng đầu tƣ của các hộ vùng đệm là hạn chế, kể cả các hộ khá tại xã nghiên cứu

Trang 27

Phần 3 ĐỐI TƯỢNG, NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

3.1 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

3.1.1 Đối tượng nghiên cứu

- Đối tượng nghiên cứu chính của đề tài là các hộ nông dân vùng đệm Vườn Quốc gia Xuân Sơn và các hoạt động tạo sinh kế của họ

- Ngoài ra, đề tài cũng đề cập đến môi trường sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm và các nguồn lực sinh kế của các hộ

3.2 Địa điểm nghiên cứu và thời gian nghiên cứu

3.2.1 Địa điểm nghiên cứu

- Địa điểm nghiên cứu tại xã Xuân Sơn thuộc vùng đệm của VQG Xuân Sơn

- Địa điểm điều tra cụ thể các hộ tại các thôn/bản Xóm Lạng, Xóm Lấp, Xóm Cỏi, Xóm Dù

3.2.2 Thời gian nghiên cứu

Thời gian nghiên cứu: Từ 23/02 /2014 đến 25/05/2015

3.3 Nội dung nghiên cứu

3.3.1 Đánh giá thực trạng điều kiện kinh tế - xã hội tại xã nghiên cứu

+ Thực trạng về điều kiện tự nhiên xã nghiên cứu

Trang 28

+ Thực trạng về điều kiện kinh tế - xã hội xã nghiên cứu

3.3.2 Đánh giá thực trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu

+ Các thông tin cơ bản về các hộ nghiên cứu

+ Hiện trạng các hoạt động tạo sinh kế của các hộ nghiên cứu

3.3.3 Thực trạng quản lý, sử dụng các tài sản sinh kế của hộ

+ Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng đất đai

+ Đánh giá thực trạng quản lý, sử dụng lao động

+ Đánh giá thực trạng sử dụng vốn sản xuất

+ Đánh giá thực trạng kinh nghiệm, kỹ thuật sản xuất

+ Đánh giá thực trạng đầu tư và sử dụng tư liệu sản xuất

+ Đánh giá khả năng tiếp cận thông tin phục vụ sản xuất

+ Đánh giá điều kiện thị trường

+ Đánh giá các điều kiện vốn xã hội

3.4 Phương pháp nghiên cứu

3.4.1 Phương pháp chung

Tiếp cận tổng hợp các yếu tố để phát hiện mối quan hệ, làm cơ sở đưa ra giải pháp nhằm giải quyết hài hòa các mối quan hệ trong phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm Trong đó chú trọng mối quan hệ giữa phát triển sinh kế của các hộ nông dân vùng đệm với quản lý tài nguyên rừng tại VQG

3.4.2 Phương pháp nghiên cứu cụ thể

Để thu thập các thông tin, số liệu cho đề tài nghiên cứu, tác giả đã sử dụng các phương pháp chủ yếu sau:

- Đề tài sử dụng phương pháp kế thừa số liệu; phương pháp quan sát; phương pháp chuyên gia, chuyên khảo

Trang 29

- Phương pháp nghiên cứu có sự tham gia đã được áp dụng với các công cụ

đa dạng như bảng hỏi, phỏng vấn bán cấu trúc, các thông tin được phân tích và kiểm tra chéo với các đối tượng khác nhau như cán bộ thôn, xã, VQG và người dân

* Phỏng vấn hộ gia đình

Qua tham khảo những thông tin từ cán bộ xã, cán bộ thôn và 60 hộ nông dân, tác giả đề tài thấy rằng các hộ nông dân tại các thôn trong vùng đệm VQG tương đối đồng nhất Vì vậy, việc lựa chọn hộ điều tra tại các thôn được thực hiện một cách ngẫu nhiên Trong mỗi thôn có 15 hộ gia đình được chọn để điều tra Việc lựa chọn mẫu cho phỏng vấn hộ sẽ được bàn bạc cùng các trưởng thôn/bản dựa trên danh sách hộ

Bộ câu hỏi phỏng vấn hộ nông dân được thiết kế trước, sau khi điều tra thử tại thực địa đã được chỉnh sửa và bổ xung hoàn thiện Bảng câu hỏi phỏng vấn hộ gia đình chủ yếu là các câu hỏi đóng, kết hợp với một số ít các câu hỏi mở nhằm làm rõ thêm hoặc chuyển tiếp chủ đề trong thu thập dữ liệu sơ cấp Bảng câu hỏi được trình bày đầy đủ trong Phụ lục

* Phỏng vấn cán bộ địa phương

Để hỗ trợ cho cơ sở dữ liệu của hộ gia đình, đề tài đã tiến hành phỏng vấn nhanh đối với 4 cán bộ xã, 4 trưởng thôn Bản hướng dẫn phỏng vấn cán bộ địa phương được thiết kế là những câu hỏi mở nhằm thu được một bức tranh tổng thể

về khu vực điều tra Hướng dẫn phỏng vấn cố gắng thu thập thông tin liên quan đến tình hình kinh tế xã hội của địa điểm điều tra, tầm quan trọng của VQG đối với cộng đồng địa phương, nhận thức của họ về VQG, các chính sách và định hướng có liên quan đến phát triển kinh tế - xã hội vùng đệm, tạo sinh kế cho các hộ nông dân, thực trạng và những quan điểm/giải pháp để giải quyết hài hoà mối quan hệ giữa sinh kế của người dân và bảo tồn tài nguyên rừng VQG

Trang 30

Để phân tích số liệu đề tài sử dụng một số phương pháp nghiên cứu:

- Phương pháp thống kê mô tả: nhằm đánh giá thực trạng sinh kế, tài sản sinh

kế của các hộ nông dân, cộng đồng vùng đệm VQG

- Phương pháp lịch sử: Nhằm so sánh, đối chiếu với thông tin đã có trong quá khứ để tìm hiểu nguyên nhân và có kết luận phù hợp

- Phương pháp tương quan được áp dụng để xem xét mối quan hệ về lượng giữa các yếu tố, nhất là giữa các yếu tố giải thích với yếu tố được giải thích

- Phương pháp phân tích định tính SWOT được áp dụng để làm rõ những điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội và những thách thức trong phát triển sinh kế vùng đệm

Kết hợp phân tích định tính và định lượng các số liệu, thông tin Sử dụng các phần mềm Excel để phân tích các nhân tố ảnh hưởng đến sinh kế hộ nông dân vùng đệm

3.4.3 Hệ thống các chỉ tiêu chính sử dụng trong nghiên cứu

Các chỉ tiêu đánh giá kết quả, hiệu quả kinh tế

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả: GO, IC, VA, Pr

- Các tiêu chí đánh giá hiệu quả: GO/IC, VA/IC, Pr/IC, Pr/LĐ, Pr/DT,…

Để xác định mức độ ảnh hưởng của các yếu tố kinh tế xã hội đến hiệu quả các mô hình, khóa luận đã sử dụng phương pháp SWOT

Các chỉ tiêu đánh giá sử dụng lao động

- Cơ cấu lao động tại địa phương

- Tỷ suất sử dụng sức lao động và tỷ lệ lao động được thuê mướn, đổi công trong tổng lao động sử dụng

- Giá tiền công và chi phí thuê lao động

- Mức trang bị máy móc, thiết bị cho lao động

- Năng suất lao động

Trang 31

- Giá trị sản xuất do một lao động sáng tạo ra

Các chỉ tiêu đánh giá về sử dụng đất đai

- Diện tích và tỷ lệ đất đai đã sử dụng cho nông lâm nghiệp trên quỹ đất

- Diện tích và cơ cấu diện tích đất đai trong nông nghiệp chƣa đƣợc sử dụng

Ngày đăng: 17/05/2016, 10:14

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 4.1: Tình hình sử dụng đất đai tại xã Xuân Sơn - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.1 Tình hình sử dụng đất đai tại xã Xuân Sơn (Trang 33)
Bảng 4.4: Phân loại hộ nghèo theo danh sách hộ nghèo tại địa phương - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.4 Phân loại hộ nghèo theo danh sách hộ nghèo tại địa phương (Trang 38)
Bảng 4.5: Các tài sản chủ yếu của các hộ điều tra - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.5 Các tài sản chủ yếu của các hộ điều tra (Trang 39)
Bảng 4.6: Hiện trạng nhà ở của các hộ điều tra - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.6 Hiện trạng nhà ở của các hộ điều tra (Trang 40)
Bảng 4.7: Các chỉ tiêu thu nhập – chi phí của 3 nhóm kinh tế hộ - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.7 Các chỉ tiêu thu nhập – chi phí của 3 nhóm kinh tế hộ (Trang 41)
Bảng 4.8: Ma trận về tầm quan trọng và mức độ sử dụng các loại lâm sản - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.8 Ma trận về tầm quan trọng và mức độ sử dụng các loại lâm sản (Trang 42)
Bảng 4.9: Thu nhập trung bình năm của các nhóm kinh tế hộ - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.9 Thu nhập trung bình năm của các nhóm kinh tế hộ (Trang 45)
Bảng 4.10: Thu nhập từ rừng và các hoạt động liên quan đến rừng của các nhóm hộ - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.10 Thu nhập từ rừng và các hoạt động liên quan đến rừng của các nhóm hộ (Trang 45)
Bảng 4.13: Thực trạng vay vốn của các hộ điều tra - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.13 Thực trạng vay vốn của các hộ điều tra (Trang 48)
Bảng 4.14: Các thông tin và khả năng tiếp cận thông tin - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 4.14 Các thông tin và khả năng tiếp cận thông tin (Trang 49)
Bảng 5.1: Chiến lƣợc sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm - Nghiên cứu các giải pháp chủ yếu nhằm cải thiện sinh kế cho các hộ nông dân tại xã xuân sơn – xã vùng đệm của vườn quốc gia xuân sơn
Bảng 5.1 Chiến lƣợc sinh kế cho các hộ nông dân vùng đệm (Trang 53)

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w