Đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp vừa là khâu đột phá vừa là lĩnh vực đổi mới thành công nhất trong công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam. Hơn 20 năm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp là chặng đường Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những đổi mới rất quyết liệt về mặt nhận thức, để từ đó đề ra những quyết sách phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử. Thực tế cho thấy, những thành quả của đổi mới gắn liền với quá trình liên tục hoàn thiện chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng. Do đó, việc tổng kết từng chặng đường đổi mới trở nên cần thiết nhằm cung cấp thêm cơ sở khoa học để tiếp tục hoàn thiện đường lôi cách mạng của Đảng trong giai đoạn lịch sử mới. Tổng kết thực tiễn còn góp phần chỉ ra những thành công và cả những hạn chế của quá trình đổi mới để từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm về tổ chức chỉ đạo thực hiện, nắm bắt và xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh, nhằm đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước với những thành quả to lớn hơn, vững chắc lơn. Tổng kết chặng đường đổi mới cũng chính là nghiên cứu một giai đoạn phát triển của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng. Xuất phát từ những lý luận trên, tôi chọn nội dung: Sự đúng đắn sáng tạo của Đảng trong quá trình lãnh đạo đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (19792010) làm đề tài nghiên cứu.
Trang 1Tổng kết thực tiễn còn góp phần chỉ ra những thành công và cả những hạn chếcủa quá trình đổi mới để từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm về tổ chức chỉ đạothực hiện, nắm bắt và xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh, nhằm đẩy mạnh côngcuộc xây dựng đất nước với những thành quả to lớn hơn, vững chắc lơn.
Tổng kết chặng đường đổi mới cũng chính là nghiên cứu một giai đoạn pháttriển của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu
và giảng dạy lịch sử Đảng
Xuất phát từ những lý luận trên, tôi chọn nội dung: "Sự đúng đắn sáng tạo của Đảng trong quá trình lãnh đạo đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (1979- 2010)" làm đề tài nghiên cứu.
Trang 2B PHẦN NỘI DUNG
1 Yêu cầu khách quan đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp
Nhìn chung, nông nghiệp ở miền Bắc từ năm 1958 và cả nước từ sau năm 1975đến năm 1980 được quản lý theo cơ chế tập trung, quan liêu, bao cấp Nhà nước canthiệp sâu vào quá trình sản xuất, lưu thông, phân phối của hợp tác xã nông nghiệp, cácnông trường quốc doanh Vai trò tự quản, tự chủ của các đơn vi kinh tế cơ sở bị lu mờ
Ở cấp cơ sở, đơn vị kinh tế chủ yếu là các hợp tác xã nông nghiệp, thu hút đại
bộ phận nông dân tham gia Năm 1980, miền Bắc có 11.088 hợp tác xã nông nghiệp,thu hút 96,9% tổng số hộ nông dân Tính chung cả nước thì con số tương ứng là12.606 và 65,6%
Trong suốt thời kỳ tồn tại, các hợp tác xã nông nghiệp đã góp phần quan trọngtrong việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ỏ nông thôn, khai hoang phục hoá, xâydựng thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, phát triển giao thông nông thôn, áp đụng những tiến
bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Đặc biệt, các hợp tác xã nôngnghiệp đã góp phần ổn định đời sông kinh tế - chính trị - xã hội ở các vùng nông thôntrong những năm chiến tranh; góp phần xây dựng hậu phương vững mạnh, thực hiệnLốt chính sách hậu phương quân đội, góp sức ngưòi, sức của cho tiền tuyến, cùng vớitiền tuyến làm nôn thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tuynhiên, mô hình tổ chức và quản lý hợp tác xã nông nghiệp không đem lại hiệu quảkinh tế Các hợp tác xã quán lý và sử dựng 95% đất, canh tác ở địa phương nhưngngoài nghĩa vụ và đóng góp cho Nhà nước, các hợp tác xã chưa bảo đảm được 50%thu nhập cho xã viên mô hình tập thể hoá nông nghiệp ngày càng bộc lộ những bấthợp lý, nhất là về cơ chế quản lý Trong suốt một thời gian dài, chúng ta luôn đồngnhất hợp tác hoá với tập thể hoá, coi tập thể hoá là hình thức chung nhất và tiến bộnhất của quá trình hợp tác hoá nông nghiệp Phong trào hợp tác hoá với tất cả tínhchất sâu sắc, toàn diện và phong phú vể hình thức của nó, bị đơn giản hoá thành việclập ra các tổ chức sần xuất và kinh doanh tập thể, dựa trên sở hữu tập thể vể tư liệu
Trang 3sản xuất và hoạt động lao động tập thể; quản lý theo cơ chế tập trung thông nhất; phânphối theo chế độ công điểm
Với mô hình này, hợp tác xã quản lý toàn bộ tư liệu sản xuất, điều hành mọikhâu: sản xuất, lưu thông, phân phối (hợp tác xã chỉ đạo kế hoạch sản xuất đã đượccấp huyện duyệt; phân công, điều hành lực lượng lao động; lập và thực hiện phương
án ăn chia )
Cũng với mô hình này, địa vị của hộ nông dân hoàn toàn khác trước Sau cảicách ruộng đất, nông dân được chia ruộng đất, trở thành những người tiểu nông - chủnhân thực sự của nền kinh tế nông nghiệp Hộ làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ quátrình sản xuất và làm chủ sản phẩm do mình làm ra Hộ hợp tác với nhau thông quahình thức đổi công Bước sang thời kỳ cải tạo 1958-1960, khi thành lập các hợp tác xãbậc thấp, hộ nông dân còn được hưỏng hoa lợi từ ruộng đất của họ, nhưng sang thời
kỳ xây dựng hợp tác xã bậc cao quyền sở hữu đã thuộc vê tập thể hoàn toàn Đến đâytrừ phần đất 5%, hộ nông dân không còn vai trò gì dáng kể trong tổ chức sản xuất.Nông dân về thực chất trở thành người làm công cho hợp tác xã
Quản lý kinh tế nông nghiệp theo mô hình tập thể hoá có những hạn chế cănbản:
Sở hữu tập thể về ruộng đất và các tư liệu sản xuất làm cho người nông dânkhông gắn bó với ruộng đấl, không có ý thức cải tạo, chăm sóc đất Hơn thế, do không
có sự phân định rõ ràng giũa quyển sở hữu nhà nước và quyền sở hữu tập thể nên dẫnđến hiện tượng quản lý ruộng đất lỏng lẻo, sử dụng ruộng đất lãng phí, kém hiệu quả
Việc tập thể hoá quá trình sản xuất và quá trình lao dộng không phù hợp với đặcđiểm của sản xuất nông nghiệp, không phản ánh đòi hỏi khách quan của công nghệsản xuất và của công cụ lao động Sự hiệp tác và phân công lao động lại không dựatrên cơ sơ hạch toán kinh tế thực sự nên nó không có sức sống Sự thất bại của chế độkhoán việc, của hình thức đội chuyên, thù lao công điểm chúng minh điều đó
Chế độ phân phối theo công điểm làm cho ngưòi nông dân chỉ quan tâm đến sô
Trang 4lượng công điểm mà không quan tâm đến chất lượng công việc, không quan tâm đếnkết quả cuối cùng của quá trình sản xưất Chế độ phân phôi này còn làm nảy sinh hiệntượng “Rong công phóng điểm” phổ biến với mức độ cao ở khắp mọi nơi Giá trị ngàycông thấp, thậm chí có hợp tác xã đã có hiện lượng công âm Cơ chế quản lý hợp tác
xã sinh ra một bộ máy quản lý cổng kênh, quan liêu, không có hiệu quả đối với chỉđạo sản xuất nhưng lại là gánh nặng cho chi phí của hợp tác xã
Việc áp dụng cơ chê quản lý gẩn giống như của các xí nghiệp công nghiệp vàoviệc tổ chức và quản lý sản xuẩt kinh doanh trong các nông trường còn thể hiện rõ néthơn tính bất hợp lý, phi kinh tế của mô hình tổ chức và quản lý ở các đơn vị kinh tế cơsở
Những đơn vị kinh tế cơ sở này lại chịu sự chi phối của cơ chế tập trung quanliêu, bao cấp ở tầm vĩ mô
Với những hạn chế trên, cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp trước đổi mói đãtriệt tiêu tính tích cực, chủ động của người lao động, của hộ gia đình và của bản thâncác hợp tác xã, các nông trường quốc doanh, làm mất động lực của sự phát triển
Từ cuôi thập niên 70, sau nhiều lần củng cố - phát triển hợp tác xã, sau nhiềuvòng cải tiến quản lý, mô hình tập thể hoá nông nghiệp cùng với cơ chế quản lý - Tậptrung, quan liêu, bao cấp kiểu chủ nghĩa cộng sản thòi chiến bị đẩy tới mức quá bấthợp lý ở miền Bắc và nhân rộng ra ở miền Nam trong bối cảnh đất nước hoà bình Vìthế nó đã bộc lộ hết những yếu tố phi kinh tế và rơi vào tình trạng khủng hoảng
Nguồn gốc sâu xa của tình trạng này không phải chỉ ở chỗ chúng ta tiến hànhhợp tác hoá với tôc độ nhanh hay chậm, quy mô nhỏ hay lớn (mặc dù những điểm bấthợp lý này đã từng là những cản trở rất lớn đối với sản xuất nông nghiệp) Vấn đề cơbản là ở chỗ chúng ta đã thiết kế một mô hình hợp tác không phù hợp với tình hìnhkinh tế - xã hội ở nông thôn nước ta Chúng ta không thể tiếp tục cải tiến quản lý theohướng cũ mà phải tìm một hướng đi mới, khả dĩ đưa nông nghiệp thoát khỏi khủnghoảng
Trang 5Công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp được đặt ra không còngiới hạn trong việc cải tiến mô hình tổ chức sản xuất hiện có, mà phải tìm ra mô hìnhvới những hình thức tổ chửc sản xuất cùng vớí cơ chế quản lý mối phù hợp.
2 Quá trình đảng lãnh đạo đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp
2.1 Thời kỳ trước đổi mới (1979 – 1986)
Trước sự khủng hoảng của mô hình quán lý và sự giảm sút của tình hình sảnxuất nông nghiệp, một số tổ chức Đảng và quần chúng đã tự tìm kiếm cách làm mới
Từ đầu năm 1975 ở một số nơi đã xuất hiện hình thức khoán đến hộ gia đình, hoặccho xã viên mượn đất, khuyến khích xă viên khai hoang, phục hoá đất đai Hải Phòng
và Vĩnh Phúc là nơi xuất hiện hình thức khoán hộ từ thập niên 60 nhưng không đượcchấp nhận Thập niên 70, hai địa phương (Đồ Sơn - Hải Phòng, Vĩnh Lạc - VĩnhPhúc) lại là nơi xuất hiện trở lại hình Ihửc khoán hộ Sau đó, hình thức này lan dần racác địa phương với mức độ khác nhau
Tháng 8-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV đã họp Hội nghị lầnthứ sáu để nhận định tình hình và trước đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, Hội nghị đã để
ra Nghị quyết vể những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách Nội dung của nghị quyết thểhiện một số tư tưởng tuy chưa căn bản và toàn diện nhưng đánh đấu sự khỏi đầu củaquá trình đổi mới Trong đó tư tưởng nổi bật của Hội nghị là điều chỉnh một số chínhsách kinh tế, làm cho "sản xuất bung ra” Từ đó dẫn đến sự ra đời một loại những chủtrương chỉnh sách cụ thể nhằm khuvến khích phái triển sản xuất, trước hết là nôngnghiệp: chủ trương cho phép các hộ xã viên được mượn đất của hợp tác xã để sảnxuất; ổn định mức nghĩa vụ giao nộp lương thực: sửa mức thuế, điều chỉnh giá muanông sản; bãi bỏ chế độ phân phôi lương thực theo định mức; hạn chế mức trích lậpquỹ trong các hợp tác xã; thừa nhận sự tồn tại của kinh tế gia đình xã viên như là một
bộ phận hợp thành kinh tế xã hội chủ nghĩa
Những chủ trương, chính sách trên đã nới lỏng cơ chê quản lý trong các hợp tác
Trang 6xã, tạo điểu kiện cho khoán hộ ngày càng mở rộng Khoán hộ đối với rau màu đượcthực hiện tương đối phổ biến trong sản xuất vụ đông ở nhiều hợp tác xã của miền Bắc.
Do đó, những năm 1979-1980, diện tích, năng suất, sản lượng của vụ đông đều tăngnhanh, góp phần đáng kể vào việc tăng thêm rau, màu lương thực
Sự xuất hiện của cơ chế khoán hộ ở thời điểm cuôi thập niên 70 đầu thập niên
80 đã dẫn đến cuộc đấu tranh giữa hai khuynh hướng cũ và mới về cơ chế quản lýnông nghiệp trong các hợp tác xã, ở Trung ương, trong các cơ quan nghiên cứu lý luận
và chỉ đạo, có một bộ phận cán bộ, đảng viên ủng hộ cơ chế khoán hộ, coi đó là hiệntượng lành mạnh, phù hợp với chủ trương của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hànhTrung ương khoá IV góp phần tạo điều kiện cho sán xuất nông nghiệp phát triển cóhiệu quả Bộ phận khác phản ứng gay gắt, cho rằng khoán hộ sẽ làm xói mòn quan hộsản xuất xã hội chủ nghĩa được xây dựng ở miền Bác hơn 20 năm qua và gây trở ngạicho công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp trên địa bàn phía Nam Ởđịa phương cũng vậv, có nơi ủng hộ tạo điều kiện cho cơ chế khoán được mở rộng, cónơi vẫn kiên quyết ngăn chặn, không cho phép
Để chọn lựa một quyết định đúng đắn trước hiện tượng khoán hộ, ngày
21-10-1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số 22 ghi nhận và cho phép các địaphương làm thử hình thức khoán sản phẩm đối với cây lúa Sau khi có Thông báo số
22, cơ chế khoán hộ được triển khai rộng rãi ở nhiêu hợp tác xã trên các vùng đồngbằng, trung du, miền núi
Nói chung, năng suất lúa ỏ những hợp tác xã thực hiện chế độ khoán mới (HảiPhòng, Vĩnh Phúc, Nghệ - Tĩnh và các nơi khác) đểu tăng, nơi ít nhất cũng được 4 -5%, nơi trung bình 15 - 20%, nơi nhiêu tăng tới 50% trở lên Sản lượng lúa ở nhữnghợp tác xã đó đều tăng từ 10 đến 15% so với năm trước Trong khi đó, sản lượng lúacủa cả nước đến lúc đó bình quân hằng năm chỉ tăng khoảng 1%\ Qua thực tô, cáchkhoán mới tỏ ra có ưu thế hơn hẳn so với cách khoán cũ
Trên cơ sở tổng kết đánh giá tình hình thực tiễn, ngày 13-1-1981 Ban Bí thư
Trang 7Trung ương Đảng đã ban hành Chỉ thị 100-CT/TW chính thức quyêt định chủ trươngthực hiện cơ chế khoán sản phẩm cuối cùng đến nhóm và người lao động.
Chỉ thị 100-CT/TW nêu rõ: mục đích của việc thực hiện cơ chê khoán mớitrong nông nghiệp là nhằm bảo đảm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả kinh tếtrên cơ sở lôi cuốn được mọi người hăng hái lao động, kích thích tăng năng suất laođộng, sử dụng tốt đất đai tư liệu sản xuất hiện có, áp dụng tiến bộ kỹ thuật, tiết kiệmchi phí sản xuất, củng cố, tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn;không ngừng nâng cao thu nhập và đời sông của xã viên, tăng tích luỹ của hợp tác xã;
Nội dung chủ yếu của Chỉ thị 100-CT/TW là cải tiến công tác khoán, mỏ rộng
“khoán sản phẩm đến nhóm lao động và người lao động" trong các hợp tác xã Theochỉ đạo của Ban Bí thư Trung ương Đảng, các địa pbưưng miền Bắc, miền Trung đãtriển khai nhanh chóng việc thực hiện Chỉ thị 100-CT/TW Hầu hết các địa phươngđều thực hiện khoán đến hộ, thường là hộ nhận khoán trong ba khâu: cấy trồng, chămsóc., thu hoạch Riêng ở Nam Bộ, do công tác cải tạo nông nghiệp gặp nhiều khó khănnên Ban Bí thư nêu rõ phải làm thử từng bưóc đổ rút kinh nghiệm Thế nhưng, nôngdân Nam Bộ, nhất là trung nông lại rất hưởng ứng cách khoán này ở một số huyệnthuộc tỉnh Tiền Giang và tỉnh Đồng Nai, việc thực hiện khoán nguyên canh trên cácchân ruộng cũ của trung nông đã đem lại hiệu quả rõ rệt lôi cuốn được trung nông vàolàm ăn tập thể Một số hợp tác xã, tập đoàn sản xuất trước: đây thuộc loại yếu kém,sau khí áp dụng cơ chế khoán sản phẩm, sảri xuất và thu nhập đểu tăng
Chí thị 100-CT/TW được coi là bước đột phá đẩu tiên vào mô hình tập thể hoánông nghiệp cùng với cơ chế quàn lý của nó Sự đột phá nàv chấm dứt quá trình cảitiến quản lý nông nghiệp theo hướng mở rộng quy mô hợp tác xã tăng cường cơ chếquản lý tập trung thống nhất ở mức độ cao, mô phỏng cách quản lý trong các xínghiệp công nghiệp , mở ra một thời kỳ mà mọi sự cải tiến quản lý đều phải thực hiệntheo phương hướng chủ yếu như chỉ thị đã nêu: "khuyến khích hơn nữa lợi ích chínhđáng của ngưòi lao động và làm cho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản
Trang 8xuất và quản lý của hợp tác xã đều thực sự gắn bó với sản phẩm cuối cùng, do đó màđưa hết nhiệt tình và khả năng ra lao động sản xuất và xây dựng, củng cố hợp tác xã”.
Theo hướng đó, quan hệ giữa hợp tác xã và các hộ xã viên có nhiều biến đổi.Thay thế cho lao động tập thể theo tổ nhóm hoặc đội sản xuất là lao động của hộ giađình xã viên đảm nhận một số khâu canh tác nhất định, trên một diện tích canh tácnhất định, với định mức chi phí về giống, phân bón, công lao dộng và sản lượng tươngứng Hộ gia đình xã viên có thể tự đầu tư thêm công sức và chi phí để tăng sản lượngvượt khoán vì họ được hưởng hẳu hết phần sản lượng đó Lợi ích của ngưòi lao độngkhông còn phụ thuộc hoàn toàn vào sô lượng công điểm như trước, mà còn gắn vớikết quả cuối cùng của quá trình sản xuất, gắn với phần sản phẩm vượt khoán Vai tròtích cực của hộ gia đình xã viên bước đầu được xác lập lại Đó chính là động lực quantrọng thúc đẩy sản xuất phát triển
Chính vì vậy, khoán sản phẩm đến nhóm và ngưòi ìao động theo tinh thần Chỉthị 100-CT/TW của Ban Bí thư không đơn giản chỉ là sự cải tiến hình thức khoán nhưtrước đây Bước chuyên từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội đên khoán
hộ gia đình ở một sô khâu chính là bước quá độ từ kiêu quản lý và tổ chức sản xuấttập thể của các hợp tác xã sang phát huy quyền tự chủ của từng hộ xã viên Cơ chếkhoán mới là bước đột phá cho quá trình dổi mới quản lý ở cơ sở Nó sẽ có tác độngtích cực vào quá trình đoi mới cơ chê quản lý của Nhà nước
Chỉ thị 100-CT/TW và một loạt các chỉ thị tiếp theo của Ban Bí thư Trung ươngĐảng (khoá V) đã thổ hiện rõ hơn những chủ trương lớn của Đảng về nông nghiệptrong giai đoạn này Chỉ thị số 100-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương Đảng có ýnghĩa quan trọng trong việc mở đường thúc đẩy sản xuất nông nghiệp phát triển.Khoán 100 đã đưa lại tác dụng phân chia lại chức nǎng kinh tế giữa tập thể và hộ giađình cả về quan hệ sở hữu, quan hệ quản lý và phân phối, mở đầu cho quá trình dânchủ hoá về mặt kinh tế, bằng việc gắn bó trở lại lao động với ruộng đất, mang lại lợiích thiết thực cho nông dân, tạo ra động lực kích thích phát triển sản xuất
Trang 9Chỉ thị được đánh giá là cột mốc đầu tiên, bước đột phá táo bạo vào mô hìnhhợp tác hóa, tập thể hóa nông nghiệp của nước ta và mở ra khả năng, cho phép hộ giađình được làm chủ một số khâu sản xuất, sử dụng đất đai, tài nguyên; có quyền tiêuthụ sản phẩm làm ra khi hoàn thành nghĩa vụ với Nhà nước
Các hợp tác xã từ chỗ là tổ chức hành chính kinh tế chuyển mạnh sang hìnhthức kinh doanh tổng hợp, là cơ sở cho những bước đổi mới để thoát khỏi tình trạng
bế tắc và khủng hoảng quan hệ sản xuất ở nông thôn
Ổn định tình hình sản xuất của người dân, chỉ thị 100 đã đem lại hiệu quả năngsuất cao trong sản xuất, phù hợp với trình độ quản lý và canh tác của người dân
Xét về mặt cơ chế quản lý kinh tế, khoán 100 đã phá vỡ cơ chế tập trung quan liêu trong sản xuất nông nghiệp Trong thời gian đầu, khoán 100 đã làm đổi mới bộ mặt nông thôn và tạo ra đc lượng nông sản lớn hơn ở thời kỳ trước
Người dân tích cực mở rộng sản xuất, chi phí được tính toán cụ thể, rõ ràng, tiếtkiệm; ngăn chặn đáng kể tệ tham ô, lãng phí; kế hoạch sản xuất được bàn bạc dân chủ
từ cấp ủy đảng, chính quyền, hợp tác xã, đội sản xuất đến người lao động, sát thực tế
và tạo hiệu quả kinh tế ngày càng cao
Thắng lợi của “Khoán 100” thể hiện bằng kết quả sản xuất nông nghiệp trongnăm 1981, diện tích, năng suất và sản lượng cây trồng đều tăng khá Tổng diện tíchgieo trồng tăng 14,9%, năng suất tăng 5,6%, sản lượng lương thực quy thóc tăng 15%
so với năm 1980 Chăn nuôi tập thể và gia đình phát triển mạnh Tổng đàn gia súcnăm 1981 đạt số lượng cao nhất từ trước đến nay, trong đó trâu bò có 28.786 con, lợn
có 163.227 con đạt 110% kế hoạch, tăng 10,1% so với năm 1980 Những thắng lợitrên mặt trận sản xuất nông nghiệp năm 1981 đã tạo ra những thuận lợi mới, đời sốngnhân dân ổn định, tư tưởng phấn khởi, niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng được nângcao
Trang 10Trong hoàn cảnh nông dân hầu hết đều tham gia vào HTX hay TĐNG, nhưng
ko năng suất, hiệu quả, đến giờ làm thì đi, hết giờ làm thì về, sự ra đời của nghị quyết
100 đã phản ánh đc sự đổ vỡ ko thể tránh khỏi của mô hình tập thể hoá nông nghiệp,sức lao động, tư liệu lao động của người dân
Cùng với kinh tế tập thể, các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước cũng bướcđầu vận dụng các hình thức khoán sản phẩm Đất đai, lao động, máy móc được sửđụng tốt hơn, sản xuất ổn định hơn
Tuy nhiên, cơ chế khoán sản phẩm theo tinh thần của Chỉ thị 100-CT/TW vẫnthực hiện trên cơ sở duy trì chế độ sở hữu tập thể về tư liệu sản xuất và nhiều yếu tốcủa cơ chế quản lý cũ Hợp tác xã vẫn là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu Ngươinhận khoán phải tuân theo kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật và định mức chi phícủa hợp tác xã Một phần thu nhập quan trọng vẫn hưởng theo chế độ công điểm củahợp tác xã Vì thế, sau một thời gian phát huy tác dụng tích cực, cơ chế khoán mới đãbộc lộ những nhược điểm, hạn chế của nó
Mạng lưới hợp tác xã mua bán còn nhỏ bé và hoạt động kém hiệu quả, một sốhợp tác xã tiểu thủ công nghiệp chưa phát huy được thế mạnh trong khai thác tiềmnăng về sức lao động, nguyên, nhiên vật liệu tại chỗ để phát triển sản xuất hàng tiêudùng, phục vụ đời sống nhân dân
Mạng lưới hợp tác xã mua bán còn nhỏ bé và hoạt động kém hiệu quả Hoạtđộng tài chính, ngân hàng chưa trở thành đòn bẩy thúc đẩy sản xuất phát triển Giá cảthị trường có nhiều biến động, gây sự xáo trộn cho sản xuất và sinh hoạt của nhân dân,việc cải tạo và xây dựng thương nghiệp chưa kết hợp chặt chẽ, chưa đồng bộ, hiệu quảthấp
Việc thực hiện chỉ thị này chỉ có tác dụng trong một thời gian, sau đó giảm dần
vì cơ chế tập trung quan liêu vẫn còn được duy trì trong hợp tác xã, cũng như toàn bộ
hệ thống tái sản xuất xã hội trong nông nghiệp Hệ thống này cùng tính chất mệnhlệnh hành chính, mà hậu quả của nó đè lên vai người nông dân, trước hết là hộ nhận
Trang 11khoán Hộ nông dân không đủ khả nǎng bảo đảm tái sản xuất và nhu cầu đời sống nên
đã phải trả lại bớt ruộng đất
Chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô ở thời kỳ này chậm được đổi mớicũng làm trầm trọng thêm tình hình sản xuất nông nghiệp Đầu thập niên 80, cùng với
sự đột phá đầu tiên trong nông nghiệp, chúng ta có tiến hành một vài đổi mới cục bộIrong các lĩnh vực khác
Đổi mới diễn ra còn mang tính cục bộ, chậm chạp, không căn bản nên đã không
đủ khả năng để ngăn nển kinh tế ngày càng lún sâu vào khủng hoảng Và rồi chínhcuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhất là tình trạng lạm phát ngày càng nghiêmtrọng, đặc biệt là sau khi đổi tiền vào năm 1985, đặ tạo ra một sức ép thúc đẩy quátrình đổi mới ở Việt Nan
2.2 Thời kỳ đổi mới (1986 – 2010)
2.2.1 Tập trung đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (1986 – 1996)
Tháng 12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã vạch ranhững quan điểm đổi mới đồng bộ làm cơ sở lý luận để xúc tiến công cuộc đổi mớikinh tế Đại hội đã chủ trương thực hiện sự điều chỉnh lớn về cơ cấu kinh tế và cơ cấuđầu tư, tập trung cho ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩrn, hàng tiêudùng và hàng xuất khẩu; xây dựng củng cố quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa, sửdụng và cải tạo đúng đắn các thành phần kinh tế; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế,chuyến căn bản từ cơ chế tập trung, bao cấp, hiện vật hoá các mối liên hệ và quan hệkinh tế, sang cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủnghĩa
Thực hiện những tư tưỏng đổi mới của Đại hội Đảng toàn quổc lần thứ VI ngày5-4-1988 Bộ Chính trị đã ra Nghị quyết sô 10 “Về đổi mới quản lý kinh tế nôngnghiệp' (thường gọi tắt là Khoán 10) Nghị quyết 10 đã có những đánh giá khách quan
về cách thức tổ chức sản xuấl và quản lý nông nghiệp, chỉ ra những nguyên nhân dẫn
Trang 12đến tinh trạng trên và chủ trương phải tiến hành dối mới một cách căn bán.
Nội dung đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, chủ yếu bao gồm ba vấn đề: sắpxếp và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp: củng cố và mở rộng quan hệ sản xuất xã hộichủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế; đổi mới chính sách quản lý vĩ môcủa Nhà nước
Với ba nội dung trên, đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp theo tinh thần Nghịquyết 10 của Bộ Chính trị không dừng lại ở việc tổng kết sáng kiến của quần chúng vàđảng bộ cấp cơ sở nhằm tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm đến người laodộng như Chỉ thị 100- CT/TW mà đã tiến một bước xa hơn trong việc hoạch định chủtrương đổi mới một cách toàn diện:
Vấn đề thứ nhất, việc sắp xếp và tổ chức lại sản xuất nông nghiệp không phảitheo hướng mở rộng quy mô hợp tác xã và tổ chức lại lao động như trong các xínghiệp công nghiệp giống với cách làm trước đây mà theo một hướng mới mang tínhchiến lược nhằm phát triển một liền nông nghiệp sản xuất, hàng hoá một cách có hiệuquả
Vấn đề thứ hai, Nghị quyết chủ trương sử dụng đúng đắn các thành phần kinh
tế Đây cũng là nội dung quan trọng nhất Nội dung này được thể hiện ở các điểm: Đốivới các đơn vị kinh tế quốc doanh trong nông nghiệp, phải chuyền hoạt động của các
tổ chức này sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện chế độ tự chủ trongsản xuất kinh doanh Đến cuối năm 1989, cơ sơ nào không chuyển biến được thì giảithể hoặc chuyển sang hình thức sở hữu thích hợp Đổi với các hợp tác xã, tập đoàn sảnxuất nông nghiệp phải chấn chỉnh lại tổ chức, đổi mới cơ chế quản lý Đối với kinh tế
cá thể, kinh tế tư nhân trong nông, lâm, ngư nghiệp, Nhà nước công nhận sự tồn tạilâu dài và tác dụng tích cực của các thành phần kinh tế này nên chủ trương khuyếnkhích phát triển
Nghị quyết 10 tập trung vào nội dung chấn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lý hợptác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp
Trang 13Trong khi nhấn mạnh đến chủ trương, phương hướng và những giải pháp dể đổimới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp, Bộ Chính trị đã thảo luận và thông qua mộtnội dung khác, cũng rất quan trọng: xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa BộChính trị chủ trương: Gắn việc giải quyết đúng đắn các vấn đề xã hội và xây dựngnông thôn mới xã hội chủ nghĩa với việc phát triển sản xuất, đổi mới quản lý nôngnghiệp Cụ thể phải xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của từng huyện, xã;
tổ chức thực hiện tốt kế hoạch xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, no ấm, đoànkết, văn minh, tiến bộ, thực hiện dân chủ hoá, bảo đảm cho nhân dân lao động đượcthực sự làm chủ về kinh tế, chính trị và xã hội Mặt khác, đề cao kỷ luật và pháp luật,giáo dục vận động nhân dân sông và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của Nhànước Để xây dựng nông thôn mới, Nghị quyết chủ trương tăng cường tổ chức cơ sởđảng và phát huy vai trò của các đoàn thể quần chúng
Tháng 3-1989, Hội nghị lần thứ sáu Ban Châp hành Trung ương khoá VI tiếptục khẳng định những phương hướng lớn trong đổi mới quản lý nông nghiệp của Đảng
và Nhà nước Nghị quyết của Hội nghị đã xác định:
Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là những đơn vị kinh tế hợp tác vối nhiểu hìnhthức sở hữu về tư liệu sản xuất
Khái niệm hợp tác xã được mở rộng bao gồm mọi tổ chức kinh doanh do nhữngngười lao động tự nguyện góp vốn, góp sức và được quản lý theo nguyên tắc dân chủ,không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật, mức độ tập thể hoá tư liệu sản xuất
Hộ xã viên là đơn vị kinh tế tự chủ, như vậy, Nghị quyêt 10 của Bộ Chính trị,Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI là bước tiến xa
so với Chỉ thị 100 của Ban Bí thư trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nôngnghiệp Quan hệ sản xuẩt đã được điều chỉnh phù hợp với tính chất và trình độ pháttriển của lực lượng sản xuất Hộ xã viên trở thành đơn vị kinh tế tự chủ, cơ sở tồn tạicủa mô hình tập thể hoá nông nghiệp bị phá vỡ Nhận thức về mô hình hợp tác xãnông nghiệp có một bước chuyển căn bản Tập thể hoá vể tư liệu sản xuất không còn
Trang 14là tiêu chí hàng đầu của hợp tác xã Thậm chí, hợp tác xã còn có thể có nhiều hìnhthức sở hữu vể tư liệu sản xuất Nhiệm vụ của hợp tác xã cũng khác vể căn bản so vớitrước: chuyển sang làm dịch vụ cho kinh tế hộ Những thay đổi đó đã giải phóng lựclượng sản xuất khỏi cơ chế cũ và quan trọng hơn là những yếu tô cấu thành mô hìnhhợp tác mới có khả năng được thiết lập Sự đổi mới một cách căn bản này lại đượctiến hành đồng bộ với công cuộc đổi mới trong các lĩnh vực kinh tế khác Cơ chế quản
lý kinh mới bắt đầu được hình thành
Những thay đổi lớn về vị trí, vai trò của kinh tế hộ mà Nghị quyết 10 khẳngđịnh đã khơi dậy tiềm năng to lớn của từng hộ gia đình nông dân Từ'chỗ không thiếttha với ruộng đất, hộ nông dân đã có ý thức cải tạo và sử dụng đất đai một cách cóhiệu quả hơn Nhiều địa phương, nông dân đã bỏ công sức để khai hoang, phục hoá,tăng thêm quỹ đất trồng trọt Chỉ trong vòng ba năm (từ đầu năm 1988 đến đầu năm1990) tổng diện tích gieo trồng đã tăng 3.9% (Từ 8.641.700 ha lên 8.983.300 ha), khaihoang được 257.000 ha trồng rừng mới được 326.000 ha diện tích mặt nước được sửdụng vào nuôi trồng thuỷ sản tăng 27,5%
Được chủ động trong quá trình sản xuất, các hộ nông dân đã đầu tư công sức,vốn liếng, trí hợp lý lực lượng lao động để tàng năng suất, hưởng phần sản lượng vượtkhoán
Mốc đánh dấu quan trọng sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam là từmột nước phải thường xuyên nhập lương thực, năm 1989, Việt Nam không nhữngđảm bảo nhu cầu lương thực cho nhân dân trong nước mà còn vươn lên trở thành mộttrong những nước xuất khẩu gạo nhiêu nhất trên thế giới
Thực hiện Nghị quyết Ọại hội đại biểu toàn quốc lẩn thứ VII của Đảng và đểtiếp tục đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Hội nghị lần thứ năm Ban Chấphành Trang ương khóa VII (6-1993) đã ra Nghị quyết vể tiếp tục đổi mới và phát triểnkinh tế - xã hội nông thôn Nghị quyết đánh giá thực trạng nông nghiệp - nông thônnước ta qua những năm đổi mới; xác định mục tiêu quan điếm tiếp tục đổi mới và
Trang 15phát triển nông nghiệp, nông thôn và nêu phương hướng, giải pháp cụ thể để tổ chứcthực hiện.
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VII là sựtíêp tục hoàn thiện chủ trương đổi mới kinh tế nông nghiệp, nông thôn, thể hiện trên
ba nội dung chủ yếu:
Nội dung thứ nhất, về cơ chê quản lý kinh tế nông nghiệp, Nghị quyết tiếp tụcchủ trương kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách phát triển kinh tế nhiều thànhphẩn vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Theo tinh thần đó,Nghị quyết đã nêu phương hướng đổi mới các hợp tác xã: “theo hướng phát huy hơnnữa tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng lâu dài của kinh tế hộ xã viên, đồng thời làmtốt công tác quy hoạch, hướng dẫn sản xuất, phát triển kinh doanh công nghiệp, tiểuthủ công nghiệp, dịch vụ mà từng hộ xã viên không làm được hoặc làm không có hiệuqủa, cùng với chính quyền địa phương chăm lo sự nghiệp phúc lợi xã hội Thực hiệnđúng nguyên tắc “tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi” trong tố’ chức, quản lý và pháttriển kinh tế hợp tác xã”
Ngày 14-7-1993 Luật đất đai (sửa đối) được Quốc hội thông qua và bất đáu cóhiệu lực từ ngày 15-10-1993, thay thế cho Luật đất đai năm 1987 Nội dung của Luậtđất đai (sửa đổi) đã thể hiện được tinh thần đổi mới của Ban Chấp hành Trung ươngdối với vấn để ruộng đất
Đối với chính sách vĩ mô của Nhà nước, Nghị quyết tiếp tục chủ trương dổi mớinhư chính sách mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá; chính sách huy độngnhiêu nguồn đầu tư và đầu tư có trọng điểm; chính sách mở rộng tín dụng của Nhànước và của nhân dân; chính sách thay thuế nông nghiệp bằng thuế sử dụng đất; chínhsách khoa học và công nghệ
Nội dung thứ hai, quá trình đổi mói cơ chế quan lý kinh tế nông nghiệp đã dầndần tạo ra sự biến đổi trong cơ cấu kinh tế nông thôn Do đó vấn đề dặt ra là phải cóchủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông thôn
Trang 16Từ sự tổng kết Ihực uễn, Nghị quyết xác định rõ quan điểm: “Đặt sự phát triểnnông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sản xuất hàng hoá trong quá trình côngnghiệp hoá và hiện đại hoá đất nước, coi đó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọnghàng đầu” Cũng xuất phát từ nhu cầu thực tiễn, Nghị quyết không chỉ để cập mộtcách toàn diện đến những vấn đề về phái triển kinh tế nông nghiệp mà còn đề cập đếnnhững vấn để rộng hơn của kinh tế nông thôn Trong đó, vân đề đổi mới kinh tế nôngnghiệp, chuyển dịch cơ câu kinh tế nông thôn là vấn đề quan trọng nhất.
Cụ thể, Nghị quyết chủ trương phải xoá thế độc canh cây lúa, thay đổi cơ cấưcây trồng; tăng tỷ trọng chăn nuôi trong giá trị tổng sản lượng nông nghiệp; xây dựngthủy sản thành ngành kinh tế mũi nhọn; đổi mới cơ chế quan lý và phát triển ngànhlâm nghiệp
Đối với kinh tế nông thôn, Nghị quyết chủ trương: “Trên cơ sở xúc tiến côngcuộc công nghiệp hoá nói chung, công nghiệp hoá nông nghiệp và nông thôn nói riêng
mà thực hiện sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn theo hướng phát triển mạnh,vững chắc, có hiệu quả công nghiệp - dịch vụ ở nông thôn: tăng nhanh tỷ trọng nhữngngành này trong cơ cấu nông - công nghiệp - dịch vụ”
Tư tưởng công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn được tiếp tụckhẳng định trong Đại hội đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng(1994), trong Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương khoá VII (1994)
Nội dung thứ ba, Nghị quyết chủ trương đổi mới và nâng cao hiệu quả hoạtđộng của hệ thống chính trị Trong những năm đầu chuyển đổi cơ chế, mặc dù Nghịquyết 10 của Bộ Chính trị chủ trương tăng cưòng tổ chức cơ sở đảng và vai trò củacác đoàn thể quần chúng nhưng trong thực tế, do chưa thích ứng kịp với tình hình nênvai trò của hệ thống chính trị ở nông thôn có phần giảm sút Trước tình hình đó, Nghịquyết xác định chức năng nhiệm vụ của tổ chức đảng bộ cơ sở, tổ chức chính quyển
và các đoàn thể quần chúng và chủ trương các tổ chức này phải đổi mới nội dung,phương thức hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động, góp phần xây dựng nông