Phong trào hợp tác hoá với tất cả tính chất sâu sắc, toàn diện và phong phú vể hình thức của nó, bị đơn giản hoá thành việc lập ra các tổ chức sần xuất và kinh doanh tập thể, dựa trên sở
Trang 1ĐÁNG LÃNH ĐẠO ĐỔI MỚI CƠ CHẾ QUẢN LÝ KÍNH TẾ NÔNG NGHIỆP, XÂY DỰNG NÔNG THÔN THEO ĐỊNH HƯỚNG XĂ HỘI CHỦ
NGHĨA PGS, ts TRƯƠNG THỊ TIẾN'
Đôi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp vừa là khâu đột phá vừa là lĩnh vực đổi mới thành công nhất trong công cuộc đổi mới kinh tế ở Việt Nam
Hơn 20 năm đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp là chặng đường Đảng Cộng sản Việt Nam đã có những đổi mới rất quyết liệt về mặt nhận thức, để
từ đó đề ra những quyết sách phù hợp với quy luật khách quan của lịch sử Thực tế cho thấy, những thành quả của đổi mới gắn liền với quá trình liên tục hoàn thiện chủ trương, đường lối đổi mới của Đảng Do đó, việc tổng kết từng chặng đường đổi mới trở nên cần thiết nhằm cung cấp thêm cơ sỏ khoa học để tiếp tục hoàn thiện đường lôi cách mạng của Đảng trong giai đoạn lịch sử mới
Tổnq kết thực tiễn còn góp phần chỉ ra những thành công và cả những hạn chế của quá trình đổi mới để từ đó đúc rút những bài học kinh nghiệm về tổ chức chỉ đạo thực hiện, nắm bắt và xử lý kịp thời những vấn đề mới nảy sinh, nhằm đẩy mạnh công cuộc xây dựng đất nước với những thành quả to lớn hơn, vững chắc lơn
Tổng kết chặng đường đổi mới cũng chính là nghiên cứu một giai đoạn phát triển của lịch sử Đảng Cộng sản Việt Nam, phục vụ trực tiếp cho công tác nghiên cứu và giảng dạy lịch sử Đảng
1 Yêu cầu khách quan đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp 1.1 Thực trạng cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp trước năm 1979
Nhìn chung, nông nghiệp ỏ mi ổn Bắc từ năm 1958 và cả nước từ sau năm
1975 đến năm 1980 dược quản ]ý theo cơ che tập trung, quan liêu, bao cấp Nhà nước can thiệp sâu vào quá trình sản xuất, lưu thông, phân phôi của hợp tác xã nông nghiệp, các nông trường quôc doanh Vai trò tự quán, tự chủ của các đơn vi kinh tế cơ sở bị lu mờ
ở cấp cơ sở, đơn vị kinh tế chủ yếu là các hựp tác xâ nông nghiệp, thu hút đại bộ phận nông dân tham gia Năm 1980, miền Bắc có 11.088 hợp tác xã nông nghiệp, thu hút 96,9% tổng sô" hộ nông dân Tính chung cả nước thì con sô tương ứng là 12.606 và 65,6%\
Trong suốt thời kỹ tồn tại, các hợp tác xã nông nghiệp đã góp phần quan trọng trong việc xây dựng cơ sở vật chất - kỹ thuật ỏ nông thôn, khai hoang phục hoá, xây dựng thuỷ lợi, cải tạo đồng ruộng, phát triển giao thông nông thôn, áp đụng những tiến bộ khoa học - kỹ thuật vào sản xuất nông nghiệp Đặc biệt, các hợp tác xã nông nghiệp đã góp phần ổn định đời sông kinh tế - chính trị - xã hội ồ các vùng nông thôn trong những năm chiến tranh; góp ỊDhần xây dựng hộu
phương vững mạnh, thực hiện Lốt chính sách hậu phương quân đội, góp sức ngưòi,
Trang 2sức của cho tiền tuyến, cùng với tiền tuyến làm nôn thắng lợi của sự nghiệp kháng chiến chống Mỹ, cứu nước Tuy nhiên, mô hình tổ chức và quản lý hợp tác xà nôngnghiệp không đem lại hiệu quả kinh tế Các hợp tác xã quán lý và sử dựng 95% đất, canh tác ở địa phương nhưng ngoài nghĩa vụ và đóng góp cho Nhà nước, các hợp tác xã chưa báo đảm được 50% thu nhập cho xã viên Mô hình tập thể hoá nông nghiệp ngàv càng bộc lộ những bất hợp lý, nhất là về cd chế quản lý Trong suốt một thời gian dài, chúng &a luôn đồng nhất hợp tác hoá với tập thê hoá, coi tập thể hoá là hình thức chung nhất và tiến bộ nhất của quá trình hợp tác hoá nông nghiệp Phong trào hợp tác hoá với tất cả tính chất sâu sắc, toàn diện và phong phú
vể hình thức của nó, bị đơn giản hoá thành việc lập ra các tổ chức sần xuất và kinh doanh tập thể, dựa trên sở hữu tập thể vể tư liệu sản xuất và hoạt động lao động tậpthể; quản lý theo cơ chế tập trung thông nhất; phân phối theo chế độ công điểm
Với mô hình này, hợp tác xã quản lý toàn bộ tư liệu sản xuất, điều hành mọi khâu: sản xuất, lưu thông, phân phối (hợp tác Jíã chỉ đạo kế hoạch sản xuất đã được cấp huyện duyệt; phân công, điều hành lực lượng lao động; lập và thực hiộn phương án ăn chia )-
Cũng với mô hình này, địa vị của hộ nông dân hoàn toàn khác trưốc Sau cảicách ruộng đất, nông dân được chia ruộng đất, trở thành những người tiểu nông - chủ nhân thực sự của nền kinh tế nông nghiệp Hộ làm chủ tư liệu sản xuất, làm chủ quá trình sản xuất và làm chủ sản phẩm do mình làm ra Hộ hợp tác với nhau thông qua hình thức đổi công Bước sang thời kỳ cải tạo 1958' 1960, khi thành lập các hợp tác xã bậc thấp, hộ nông dân còn được hưỏng hoa lợi từ ruộng đất của họ, nhưng sang thời kỳ xây dựng hợp tác xã bậc cao quvtill sỏ huu dã thuộc vê tập thể hoàn toàn Đến dây trừ phẩn đất 5%, hộ nông dân không còn vai trò Ịỉì dáng kổ Irong tổ chức sản xuất Nông dãn về thực chất trơ thành ngùòi làm công cho hợp tác xã
Quàn lý kinh tế nông nghiệp theo mô hình tập thố hoá có những hạn chê căn bản:
Sở hữu tập thể vổ ruộng đất và các tư liệu san xuất làm cho người nông dân không gắn bó với ruộng đấl, không có ý thức cải tạo, chăm sóc đất Hơn the, do không có sự phân định rõ ràng giũa quyển sở hủu nhà nước và quyền sỏ hữu tập thể nẽn dẫn đến hiện tượng quản ỉý ruộng đất lỏng lẻo, sử dụng ruộng đất lãng phí, kém hiệu quả
Việc tập thể hoá quá trình sản xuất và quá trình lao dộng không phù hợp với dặc điổm của sản xuất nông nghiệp, không phản ánh đòi hỏi khách quan của công nghệ sản xuất và của công cụ lao động Sự hiệp tác và phân công lao động lại không dựn trôn C.Ơ sơ hạch toán kinh lế thực sự nôn nó không có sức sông Sự thất bại của chế độ khoán việc, của hình thức đội chuyên, llìù lao công điểm chúng minh điều đó
Chế độ phân phối theo công điểm làm cho ngưòi nông dân chỉ quan tâm đến
Trang 3sô lượng côrfe điểm mà không quan tâm den chất lượng công việc« không quan tâm đến kốl quả cuôi cùng của quá trình sản xưất Chế độ phán phôi này còn làm nảy sinh hiện tượng ‘Vong công phóng điểm” phổ biến với mức độ cao ở khắp mọinơi Giá trị ngày công lh;ẻíp thậm ('hí có hợp tác xà đã có hiộn lượng công âm Trong nhửníí nam chiến tranh, chế độ phân phối còn bị không chê theo định mức Nguyôn tắc phân phối theo lao động bị vi phạm nghiêm trọng
Cơ chê quản lý hợp tác xã sính ra một bộ máy quản lý cổng kênh, quan liêu, không có hiệu quả dôi với chỉ đạo sản xuất nhưng lại là gánh nặng cho chi phí của hợp tác xã
Việc áp dụng cò chê quản lý gẩn giông như của các xí nghiệp công nghiệp vào việc tổ chức và quản lý sản xuẩt kinh doanh trong các nông trường còn thể hiện rõ nét hơn tính bất hợp lý, phi kinh tế của mô hình tổ chức và quản ỉý ở các dơn vị kinh tế cơ sỏ
Những đơn vị kinh tô cơ sỏ này lại chịu sự chi phổi của cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp ở tầm vĩ mô
Với những hạn chế trcn, cơ chế quản lý kinh tê nông nghiệp trước đổi mói
đã triệt tiôu tính tích cực, chủ động của người lao động, của hộ gia đình và của bản thân các hợp tác xã, các nông trường quôc doanh, làm mất động lực của sự phát triển
Một mô hình sản xuất không có chủ thể kinh tế đích thực, không tạo ra độnglực thúc đẩy sản xuất phát triển như vậy nhưng lại tồn tại được ỏ miền Bắc đến mấy chục năm mà không bộc lộ hết cái hạn chê", cái phi kinh tế của nó Sở dĩ như vậy là vì mô hình tập thể hoá có những nét gần gũi với kiểu các công xã nông thôn
Nó có thê còn được dung nạp trong một thời gian nào đó, ở những nơi mà phướng thức sản xuất đang trong trình độ tự cấp, tự
Từ cuôi thập niên 70, sau nhiều lần củng cố - phát triển hợp tác xã, sau nhiềuvòng cải tiên quản lý mỏ hình tập Inể hoá nông nghiệp cùng với cơ chế quản lý - Lập trung, quan liêu, bao cấp kiêu chủ nghĩa cộng sản thòi chiến bị đẩy tới mức quá bất hợp lý ỏ miền Bắc và nhân rộng ra ở miền Nam trong bối cảnh dất nước hoà bình Vì thế nó đã bộc lộ hết những yếu tố phi kinh tế và rơi vào tình trạng khủng hoảng
Nguồn gốc sâu xa của tình trạng này không phải chỉ ở chỗ chúng ta tiến hành hợp tác hoá với tôc độ nhanh hay chậm, quy mô nhỏ hay lớn (mặc dù những điểm bất hợp ]ý này đã từng là những cản trở rất lốn đối với sản xuất nông nghiệp).Vấn đề cơ bản là ở chỗ chúng ta đã thiết kế một mô hình hợp tác không phù hợp với tình hình kinh tê - xã hội ở nông thôn nước ta Chúng ta không thể tiếp tục cải tiến quản lý theo hướng cũ mà phải tìm một hướng đi mới, khả dĩ đưa nông nghiệp thoát khỏi khủng hoảng
Công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp được đặt ra không còn giới hạn trong'việc cải tiến mô hình tổ chức sản xuất hiện có, mà phải tìm ra
Trang 4XÂY DỰNG NÔNG THÔN lvfớl XÃ HỘI CHỦ NGHĨA
1 Tập trung đổi mới cd chế quản lý kinh tế nông nghiệp (1981 - 1995)
Từ sáng kiến của quần chúng, tiến hành bưởc đột phá đầu tiên trong quá trình đổi mởi cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp (1981-1988)
Chỉ thị ĨOO-CT/ TW cùa Dan Bí thư Trunií ương Đảng uổ cải tien công tác khoán, mớ rộng “khoán sờn phãỉn đến nhóm ỉ ao động và người, lao động" trong hựp tác vá nông nghiệp
Trước sự khủng hoảng ('ủa mô hình quán ìý và sự giám sút của lình hình sảnxuất nông nghiệp, một số Lổ chuc dàng và quần chúng dã tự tìm kiêm cách làm mới Từ đầu năm 1975 ỏ một số nơi đã xuất hiện hình thức khoán đên hộ gí a đình, hoặc cho xã viên HìùỢn đất, khuyến khích xă viên khai hoang, phục hoá đất dai Hái Phòng và Vĩnh Phúc ]à nơi xuất hiện hình thức khoán Ì1Ộ từ thập niên 60 nhưng không được chấp nhận Thập niên 70, hai địa phương (Đồ Sơn - Hải
Phòng, Vĩnh Lạc - Vĩnh Phúc) lại là nơi xuất hiện trở lại hình Ihửc khoán hộ Sau
đó, hình thức này lan dần ra các địa phương với mức độ khác nhau
Tháng 8-1979, Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá IV đã họp Hội nghị lần Ihứ sáu dể nhận định tình hình và trước đòi hỏi bức xúc của thực tiễn, Hội nghị
dã để ra Nghị quyết vể những vấn đề kinh tế - xã hội cấp bách Nội dung của nghị quyết the hiện một số tư tương luy chưa căn bản và toàn diện nhưng^ đánh đấu sự khỏi đầu của quá trinh dôi mới Trong đó tư tùỏng noi bật của Hội nghị là điều chinh mộl số chính sách kinh tế, làm cho "tìán xuất bung ra” Từ đó dẫn đôn sự ra đời một loại những
chù trưưng chỉnh sách cụ thể nhàm khuvến khích phái triển sản xuất, trước hết là nông nghiệp Chăng hạn chủ trương cho phép các hộ xã viên được mượn đất của hợp tác xã để san xuất; ổn định mức nghĩa vụ giao nộp'lương thực: sửa mức thuê, điều chỉnh giá mua nông sán; bãi bỏ chế độ phân phôi lương thực theo định mức; hạn chê mức trích lập quỷ trong các hợp tác xã; thừa nhận sự tồn tại của kinh
tê gia đình xã viên như là một bộ phận hợp thành kinh tê xã hội chủ nghĩa, V.V
Những chủ trương, chính sách trôn dã nới lỏng cơ chê quản lý trong các hợp tác xã, tạo điểu kiện cho khoán hộ ngày càng 1TỈỞ rộng Khoán hộ đối với rau màu được thực hiện tương đối phổ biến trong sản xuất vụ đông ỏ nhiều hợp tốc xã của miền Bắc Do đó, những năm 1979-1980, diện tích, năng suất, sản lượng của
vụ đông đều tăng * nhanh, góp phần đáng kể vào việc tăng thêm rau, màu lương thực Cách khoán mới này cũng đã được áp dụng linh hoạt vào viộc sản xuắt các loại cây công nghiệp ngắn ngày (đay, lạc, mía, đậu tương ), một sô" cây công nghiệp dài ngày (chè, sơn, dâu tằmểể.) và đều cho kết quả tốt Khi khoán hộ đối
Trang 5tượng lành mạnh, phù lìỢp với Ui tương của Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ươns; khoá IV góp phần tạo điều kiện cho sán xuất nông nghiệp phát triển có hiệu quả Bộ phận khác phản ứng gay giu, cho rằng khoán hộ sẽ làm xói mòn quan hộ sản xuất xã hội chủ nghĩa được xây dựng ở miền Bác htfn 20 năm qua và gây trcl ngại cho công cuộc cai tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp trên địa bàn phía Nam ơ địa phương cũng vậv, có nơi ủng hộ tạo điều kiện cho cd chế khoán được mớ rộng, có nơi vẫn kìôn quyết ngăn chặn, không cho phcp.
Để chọn lựa một quyết định đúng đắn trước hiện tượng khoán hộ, ngày 10-1980, Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Thông báo số’ 22 ghi nhận và cho phép các địa phưdng làm thử hình thức khoán sản phẩm đối với cây lúa Sau khi có Thông báo số’ 22, cơ chế khoán hộ được triển khai rộng rãi ở nhiêu hợp tác xã trên‘các vùng đồng bằng, trung du, miền núi
21-Nói chung, năng suất lúa ỏ những hợp tác xã thực hiện chế độ khoán mới (Hải Phòng, Vĩnh Phúc, Nghệ - Tĩnh và các nơi khác) đểu tăng, nơi ít nhất cũng được 4 - 5%, nơi trung bình 15 - 20%, nơi nhiêu tăng tới 50% trỏ lên Sản lượng lúa ở những hợp tác xã đó đểu tăng từ 10 đôn 15% so với năm trước Trong khi đó,sản lượng lúa của cả nước đến lúc đó bình quân hằng năm chỉ tăng khoảng 1%\ Qua thực tô, cách khoán mới tỏ ra có ưu thế hơn hẳn so với cách khoán cũ
Hình thức khoán vi ộc có í hướng' phạt !>ần^ công điêm trước dây thực chất, là lôi khoán thòi gian cho n^ưòi sàn xuất Hình Ihức này cỏ hạn chc lớn nhất: chiìa gắn trách nhiệm với ]ọi ích của người )ao dộng VỚI kôt quá san xuất, tức là sản phâm cuối cùng, Trong khi dó đôi tượntĩ của sán xuất nông nghiệp là những sinh vật sông (cây trồng, vật nuôi ắ), các công đoạn sản xuất không tách rời nhau nên kết qua của từng cõng đoạn sán xuất, phụ tliuộc vào kốL qua sản phâm cuôi cùng Chính vì the vấn để phức tạp và khó khăn nhất trong việc tổ chức quán lý sản xuấí trong các họp tác xã là làm sao phải tạo ra được sự quan tâm của người lao động đôi vối sản phẩm cuối cùng của ca quá trình sán xuất Trong thực tế, hình thức khoán hộ có khả năng giai quyết dược vấn đế đó
Trên cơ sở tống kết đánh giá tình hình thực tiễn, ngày 13-1-1981 Ban Bí thưTrung ương Đảng đã ban hành Chỉ Lhị 100-CT7TW> chính thức quyêt định chủ trương thực hiện cơ chế khoán sản phẩm cuôi cùng đến nhóm và người lao động
Chỉ thị 100-CT/TW nêu rõ: mục đích của V1ỘC thực hiện cơ chê khoán mớitrong nông nghiệp là nhằm '*bảo đảm phát triển sản xuất và nâng cao hiệu quả
Trang 6kinh tếs trên cơ sở lôi cưôn được mọi người hăng hái lao động, kích
%
thích tăng năng suất lao động, sử dụng tốt đất đai tư liệu sản xuất hiện có,
áp dụng tiến bộ kỹ thuậl, tiết kiệm chi phí sản xuất, củng cố’, tăng cường quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa ở nông thôn; không ngừng nâng cao thu nhập và đời sông của xă vicn, tăng tích luỹ của hởp tác xã; làm tròn ni;hìa vụ và khỏn^ n^ừng; tăntí khôi lượng nông san cung ứng cho Nhà nước”1
Nội dung chủ yếu của Chì thị 100-CT/TW là cải tiến côn(Lĩ tác khoán, mỏ rộng “khoán sản phâm đốn nhóm lao động và ngũừi dộng" trong các hợp lác xã: hoàn chỉnh hơn nửa chê độ “lìa khoán” có thưởng phạt công minh của hợp tác xã đôi vỏi dội san xuất, đồng thòi cải tiến các hình thức khoán của dội sản xuất đôi với xã viên
Theo chií đạo của Ban Bí thư Trung ương Đang, các địa pbưưng miền Bắc, miền Trung đã triển khai nhanh chóng V1ỘC thực hiện Chì’ thị 1Ơ0-CT/TW Hầu hết các địa phương đều thực hiện khoán đến hộ, thường là hộ nhận khoán trong ba khâu: cấy trồng, chăm sóc., thu hoạch Riêng ở Nam Bộ, do công tác cải tạo nông nghiệp gặỊ3 nhiều khó khăn nên Ban Bí thư nôu rõ phẳi làm thử từng bưóc đổ rút kinh nghiệm Thế nhưng, nông dán Nam I3Ộ, nhất là trung nông lại rất hưởng ứng cách khoán này ở một số huyện thuộc tỉnh Tiổn Giang và tính Đồng Nai, viộc thựchiện khoán nguyên canh trên các chân ruộng cũ của trung nông đã dem ỉại hiệu quả
rõ rệL lôi cuôn được trung nông vào làm ăn tập thể Một sô hợp tác xã, tập đoàn sản xuấl trước: đây thuộc loại yếu kém, sau khí áp dụng cơ chế khoán sản phẩm, sảri xuất và thu nhập đểu tăng Từ thực tế đó, ngày 11' 11-1981, Ban Bí thư Trung ương Đảng đã ra Thông tư 138*TT/TW chủ trương mỏ rộng việc áp dụng hình thức khoán sán phẩm tronẹ các hợp Lác xã, tập đoàn sản xuất ở Nam Bộ
Chí thị 10Ü-CT/TW dược coi lả bước đột phá đẩu tiên vào mô hình tập thể hoá nông nghiệp cùng với cờ chế quàn lý của nó Sự đột phá nàv chấm díít quá trình cải tiến quản lý nông nghiệp theo hướng IĨ1Ở rộng quy mô hợp tác xã tảng cường cơ chế quản ]ý tập trung thông nhất ở mức độ cao, mô phỏng cách quản lý trong các xí nghiệp công nghiệp.ề., mở ra một thời kỳ mà mọi sự cải tiến quản lý dều phả) thực hiện theo phương hướng chủ yếu như chỉ IhỊ đã neu: "khuyên khích hơn nữa lợi ích chính đáng của ngưòi lao động và làm cho mọi người tham gia các khâu trong quá trình sản xuất và quản lý của hợp tác xã đều thực sự gắn bó VỚI sản phẩm cuôi cùng, do đó mà đưa hết nhiệt tình và khả năng ra lao động sản ximt
và xây dựng, củng cố hợp tác xã”2
Theo hướng đó, quan hệ giữa hợp tác xã và các hộ xã viên có nhiều biến đổi.Thay thế cho lao động tập thể theo tổ nhóm hoặc đội sản xuất là lao động của hộ
1 Một sò uãn kiện của Đàng về phát triển nông nghiệp, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1993, tr.10.
2 Một số văn kiện của Đảng về phát triển nông nghiệp, Sđd, ti-.ll.
Trang 7gia dinh xã viên đảm nhận một số khâu canh tác nhâ't định, trên một diện tích canh tác nhất định, với định mức chi phí về giống, phân bón, công lao dộng và sẳn lượng tương ứng Hộ gia đình xâ viên có thể tự đầu tư thêm công sức và chi phí để tăng sản lượng vượt khoán vì họ được hưởng hẳu hết phần sản lượng đó Lợi ích của ngưòi lao động không còn phụ thuộc hoàn toàn vào sô lượng công điôm như trước, mà còn gan với kết quả cuối cùng của quá trình sản xuất, gán vớĩ phần sản phẩm vượt khoán Vai trò tích cực của hộ gia đình xã viên bước đầu được xác lập lại Đó chính là động lực quan trọng thúc đẩy sản xuất phát triển *
Chính vì vậy, khoán sản phẩm đến nhóm và ngưòi ìao động theo tinh thần Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư không đơn giản chỉ là sự cải tiến hình thức khoán như trước đây Bước chuyên từ khoán việc sang khoán sản phẩm, từ khoán đội đên khoán hộ gia đình ở một sô khâu chính là bước quá độ từ kiêu quản lý và
tổ chức sản xuất tập thể của các hợp tác xã sang phát huy quyền tự chủ của từng hộ
xã viên Cơ chế khoán mới là bước đột phá cho quá trình dổi mới quản lý ở cơ sở
Nó sẽ có tác động tích cực vào quá trình đoi mới cơ chê quản lý của Nhà nước
Chỉ thị 100-CT/TW và một loạt các chỉ thị tiếp theo của Ban Bí thư Trung ương Đảng (khoá V) đã thổ hiện rõ hơn những chủ trương lớn của Đảng về nông nghiệp trong giai đoạn này Cụ thể:
Đây là bước đột phá đầu tiên thừa nhận vai trò của kinh tê hộ gia đình xã viên Từ chỗ không có vai trò gì đáng kể đôi vối kinh tê tập thể, đến nay hộ gia đình xã viên được quyển chủ động ỏ một sô" khâu sản xuất và được khuyến khích phát triển Chỉ thị 38-CT/TW của Ban Bí thư Trung ương đã cho phép các hộ gia đình xã viên tận dụng mọi nguồn đất đai mà hợp tác xã, nông lâm trường
I’.huẽ:i sứ' dụuịí hêì dế (lưa vào sân xuat Uất khai hoang, đất, phục hoá dược miền thuế Irong thời hạn 5 năm Nhà niíốc không đánh thuế" sán xuất kinh doanh dối với kinh tê gia dinh Hộ gia dinh xã viên dược quyền tiêu thụ các sản pham làm va
Các hợp Lác xã phải chuyển mạnh sang kinh doanh tổng hợp; xây dựng lại các định mức kinh tế kỹ thuật; xoá bỏ cơ chế quản lý tập trung quan liêu, bao câp, chuyển sang hạch toán kinh tế và kinh doanh xã hội chủ nghĩa; thực hiện hạch toántheo ngành và theo đội sản xuất
Với hai chủ trương cơ bản này, những yếu tô' cấu thành mô hình tập thể hoá nông nghiệp đã có sự thay đổi Ruộng đất vẫn thuộc sở hữu tập thể nhưng đã được giao khoán cho các hộ 0 một số khâu, lao động của hộ gia đình xã viên đã thay thếcho lao động tập thể Chế độ phân phôi theo kết quả lao động đã thay thế một phẩncho chế độ phân phôi theo công điểm Cơ chế quản lý kế hoạch hoá tập trung thôngnhất đã được nới lỏng Môi quan hệ giữa hợp tác xã với các hộ xã viên bắt đầu có chuyển biến
Về mặt lý luận, Chỉ thị 100-CT/ÏW và các chỉ thị khác cũng là bưóc đột phá đầu tiêmhết sức quan trọng để vượt lên những quan niệm cũ vế nội dung hợp tác
Trang 8hoá nông nghiệp Nó sẽ là cơ sở cho những bưốc đoi mới táo bạo, căn bán hơn để thoát khỏi tình trạng bc* tắc và khủng hoảng quan hệ sản xuất ở nông thôn ơ thời
kỳ này, chính sách của Nhà nước đối VỚI các họp tác xã, các hộ nông dân cùng có
sự đối mới nhất dinh: nghĩa vụ bán nông sản của nông dân cho Nhà nước được ôn định trong 5 năm; phần mua thêm ngoài nghĩa vụ được thực hiện theo giá thoả thuận; tàng lượng hàng hoá trao đổi theo hợp đồng hai chiều giữa Nhà nước với nông dân; chấp nhận việc nông dân được quyển tự do lưu thông nông sản còn lại theo giá thị trường tự do
Cơ chế khoán, mới đi vào cuộc sông
Cơ chế khoán sản phẩm đến nhóm vả người lao dộng đáp ứng được những yêu cầu của quần chúng nên nhanh chóng được thực hiện Trong những năm đầu,
cơ chê khoán mới có tác động khuyến khích người lao động đầu tư thêm công sức, vốn liếng, áp dụng khoa học kỹ thuật để thâm canh, tãng năng suất, tăng phần sản lượng vượt khoán3 Đó là yếu tô" mới mà cơ chế khoán cữ không thể có được Vì thc nông dân ỏ các địa phương đều hưởng ứng cơ chế này Một khí thế mới trong nông thôn, nông nghiộp được khơi dậy
Theo sô" liệu điểu tra của Tổng cục Thông kê thì sau Chỉ thị 100, mỗi vụ có trôn 80% sô hộ đạt và vượt khoán, riêng vụ đông xuân 1984-1985 có 92% sô hộ vượt khoán Năng suất thực tế đạt cao hơn từ 5 - 20%4 so với năng suất khoán của hợp tác xã
Cơ che khoán mới góp phẩn chặn đứng xu hướng giảm sút liên tục của sản xuất nông nghiệp thời kỳ 1976-1980 Từ 1981-1985, sản xuất nông nghiệp được khôi phục và phát triển ổn định So với thòi kỳ 1976-1980, sán lượng lương thực quy thóc tăng 27%, nãng suất lúa tăng 23,8%, diện tích cây công nghiệp hằng năm tăng 62,1% Đàn bò tăng 33,2%, đàn lợn tăng 22,1%, lương thực cung cấp cho Nhànước tăng 2 lần Tốc độ tăng sản lượng lương thực hằng năm là 5%, cao hơn tốc độtăng dân sô", nên lương thực bình quân đầu người năm sau cao hơn năm trước (nam 1981 bình quân là 273kg, năm 1982; 299kg, năm 1983: 296kg, năm 1984 tăng lên: 303kg và năm 1985 là 304kg5) Đòi sông của nông dân nói riêng và của
xã hội nói chung được cải thiện
Cùng với kinh tế tập thể, các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước cũng bướcđầu vận dụng các hình thức khoán sản phẩm Đất đai, lao động, máy móc được sử đụng tốt hơn, sản xuất ổn định hơn
Tuy nhiên, cơ chế khoán sản phẩm theo tinh thần của Chỉ thị 100-CT/TW
3 Trong kế hoạch 5 năm 1981-1985, các hộ nông (lán đã bỏ ra 4,9 tỷ đồng để đầu tư phát triển sản xuất nông nghiệp.
4 Nguyễn Sinh Cức: 30 năm hợp tác hoá nông nghiệp ở nước ta (qua sô" liệu thống kê), Tạp chí Thông tin iý luận, tháng
5 Nguyễn Sinh Cúc 30 năm hợp tác hoá nông nghiệp ở nước ta (qua sô" liệu thống kê), Tỉđd,
tr.68.
Trang 9vẫn thực hiện trên cơ sở duy trì chế độ sỏ hữu tập thể về tư liệu sản xuất và nhiều yếu tố của cơ chế quản lý cũ Hợp tác xã vẫn là đơn vị sản xuất kinh doanh chủ yếu Ngươi nhận khoán phải tuân theo kế hoạch sản xuất, quy trình kỹ thuật và định mức chi phí của hợp tác xã Một phần thu nhập quan trọng vẫn hưởng theo chê độ công điểm của hợp tác xã Vì thế, sau một thời gian phát huy tác dụng tích cực, cơ chế khoán mới đã bộc lộ những nhược điểm, hạn chế của nó
Với khoán sản phẩm đến nhóm và người lao động, ruộng khoán và mức khoán không ổn định, không đồng đểu Xã viên không ctoợc làm chủ ruộng đất
Họ kém phấn khỏi, không yên tâm đầu tư thâm canh vì lo hợp tác xã sẽ điểu chỉnh mức khoán khi năng suất cao và trong thực tế, sau một thòi gian khuyến khích hộ
xẵ viên, nhiều hợp tác xã đã tăng mức khoán Việc “chông khoán trắng” đã dẫn đến tình trạng các hợp tác xã muốn nắm lại nhiều khâu trong quá trình sản xuất nhưng trên thực tế thì lạì không bảo đảm được tôt những khâu đó Ớ nhiều nơi nông dân chỉ còn nhận được từ 15-20% phần sản lượng trong khoán Phần sản lượng vượt khoán nhiều khi không bù đắp được chi phí vật chất đã đầu tư thêm
Việc phân ehia quá trình sản xuất thành tám khâu, hợp tẩc xã thực hiện năm khâu, hộ xã viên thực hiện ba khâu cũng giông như phân chia lao động thành các đội chuyên, đội sản xuất cơ bản, không phản ánh đúng tính đặc thù của sản xuất nông nghiệp và không phát huy hết tính tích cực của người nông dân Trong năm khâu do hợp tác xã đảm nhận, cơ chế quản lý vẫn trên cơ sỏ lao động tập thể, phân phối theo công điểm, không ràng buộc chặt chẽ lợi ích và trách nhiộm, không đảm bảo gắn lao động vối tư liệu sản xuất, vối sản phẩm cuối cùng trong toàn bộ quy trình sản xuất
Tình trạng kho đọng san phẩm sau mộl sô nám thực hiện khoán sản phẩm
đã trở nên nghiêm trọng Chang hạn dốn năm 1986 sỏ' nợ của nông dân Tiến Hai (Thái Bình) tăng gấp 11 lần so với năm 1980 ơ Hà Nam Ninh, sau ba năm thực hiện khoán, nông dân 11Ợ Nhà nưốc lên tới 22.500 tấn thóc, đến cuôi vụ chiêm năm 1984 lên tới 33.811 tấn6 Tình trạng nỢ nần nhu' vậy cũng phổ biên ở các tỉnh phía Nam
Tình trạng “rong công phóng điểm'’ được khắc phục một phần trong nhũng năm đầu thực hiện cơ chê khoán mới, dần dần lại diễn ra phổ biến ở các hợp tác xã làm cho thư nhập của xã viên giảm đi ơ miền Bắc, giá trị ngày công trong nhiều hợp tác xã từ trên 2 kg/công giảm xuống còn 1 kg đến 0,7-0,8kg/công, thậm chí có nơi giảm xuông còn 0,3 - 0,4 kg/công7 Ngoài ra, hợp tác xã và xã viên còn phải gánh chịu quá nhiều khoản “bao cấp cho xâ hội”., “bao cấp qua giá” và nạn chuyênquyền, độc đoán, mất dân chủ, tham ô; lợi dụng của cán bộ quản lý ngày càng phổ biến
6 Dào Văn Tập (chủ biên): 45 năm hình tế Việt Nam (1945- 19901 Sđd, tr.101.
7 Nguyền Văn Bích (chủ biên): Đổi mới quẩn lý kinh tế nông nghiệp, thành tựu - vân đề *
triến vọng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994 ti\ 25.
Trang 101 0
Chính sách và cơ chế quản lý kinh tế vĩ mô ở thòi kỷ nàv chậm dược đổi mới cũng làm trầm trọng thêm tình hình sản xuất nông nghiệp Đầu thập niên 80, cùng vối sự dột phá dầu tiên í rong nông nghiệp, chúng ta có tiến hành một vài dôi mỏi cục bộ Irong các lĩnh vực khác
Nghị định 25/CP (ngày 21-1-1981) là sự thể chê' hoá ba phần kế^ hoạch trong sẩn xuất công nghiệp8 đem lại dộng lực mới cho các đơn vị sản xuất công nghiệp, đồng thời cũng có tác động dôi với tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp Lần đầu tiên, các xí nghiệp có phần kế’ hoạch tự cản dối ngoài phần kế hoạch pháplộnh Để thực hiện kế lioạch này, các xí nghiệp được trực tiếp mua bán vậl tu', nguyên liộu nông sản phẩm với cáo hợp tác xã tiểu thủ công nghiệp và nông dân
Từ dó, nông dân ngay cả ở những vùng chuyên canh nuôi trồng, khai thác nguyên ìiệu cho công nghiệp cũng dã được quyền bán sản phẩm của mình cho các xí
nghiệp theo giá thoả thuận
Cuộc tổng diều chỉnh giá 1981-1982 là cuộc cải cách giá lớn đầu tiên ỏ Việt Nam Cuộc tổng điểu chỉnh này đã tiến thêm một bước trong việc phá bỏ cơ chê kếhoạch hoá tập trung, đưa hệ thông giá cũ, quá thấp, nặng tính bao cấp, tồn tại suôi mấy chục năm, tiếp cận với giá thị trường vào thòi điểm đó Nhưng do nhiều
nguyên nhân, cuộc lổng điều chỉnh giá 1981-1982 không mấy thành công Tháng 10-1985, Nhà nước lại tiến hành một đợt tổng điểu chỉnh giá - lương - tiền, đưa giáNhà nước lên' ngang giá thị trường, đi đôi với xây dựng lại hệ thống lương theo giámới, đồng thời đổi tiền cũ lấy tiền mới (10 đồng cũ bằng một đồng mới) đế kiểm soát lưu thông tiền tệ, đẩy lùi lạm phát
Những đổi mới cục bộ (kể cả trong nông nghiệp) được tiến hành trong thời
kỳ này làm cho cơ chế tập trung quan liêu, bao cấp bộc lộ rõ hơn những yếu tố kìmhãm bấy lâu nay Thê nhưng, nó lại chưa đủ để tạo ra một cơ chê mới Các đơn vị kinh tế cơ sở trong công nghiệp nông nghiệp về cơ bản vẫn chịu sự quản lý của cơ chế cũ Chính sách giá - lương - tiền có sự cải tiến nhưng vẫn nằm trong khuôn khổNhà nước quy định giá, vẫn có sự ptìân biệt thị trựồng có tổ chức với thị trưòng tự
do, song lại thiếu biện pháp giải quyết nguồn gốc sinh ra lạm phát qua ngân sách tín dụng nên chỉ sau vài tháng, giá thị trường*lại tăng vọt Chỉ số’ giá bán lẻ hàng hoá tiêu dùng năm 1986 bằng 874,7% so với năm 1985 Từ thực tiễn đó» ở một số nơi như tỉnh Long An đã tiến hành thí điểm thực hiện cơ chế một giá
Đổi mới diễn ra còn mang tính cục bộ, chậm chạp, không căn bản nên đã không đủ khả năng để ngăn nển kinh tế ngày càng lún sâu vào khủng hoảng Và rồichính cuộc khủng hoảng kinh tế - xã hội, nhất là tình trạng lạm phát ngày càng nghiêm trọng, đặc biệt là sau khi đổi tiền vào năm 1985, đặ tạo ra một sức ép thúc đẩy quá trình đổi mỏi ở Việt Nani i -
8 Kế hoạch một là kế hoạch pháp lệnh giao từ trên xuống, kế hoạch hai là những hoạt động vượt,
kế hoạch pháp lệnh trong khuôn khổ dược Nhà nước cung cấp vật tư phụ Lùng Kế hoạch ba là kế
hoạcli do xí nghiệp tự xoay xỏ từ vốn đến vật tư và tiêu thụ.
Trang 111 1
Tháng 12-1986, Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng đã vạch ra những quan điểm đổi mới đồng bộ làm cơ sở lý luận để xúc tiến công cuộc đổi mớikinh tế Đại hội đã chủ trương thực hiện sự điều chỉnh lớn về cơ cấu kinh tế và cơ cấu đầu tư, tập trung cho ba chương trình mục tiêu về lương thực, thực phẩrn, hàngtiêu dùng và hàng xuất khẩu; xây dựng củng cô" quan hệ sản xuất xã hội chủ
nghĩa, sử dụng và cải tạo đúng đán các thành phần kinh tế; đổi mới cơ chế quản lý kinh tế, chuyến căn bản từ cơ chế tập trung, bao cấp, hiện vật hoá các mối liên hệ
và quan hệ kinh tế, sang cơ chế kế hoạch hoá theo phương thức hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa
Tuy nhiên, những tư tưởng đổi mới của Đại hội đại biểu toàn quổc lần thứ
VI của Đảng chậm đượe cụ thể hoá thành những thể chế, chính sách Cho đến trước năm 1988, về cơ bản nông nghiệp vẫn được quản lý theo cơ chế tập trung, bao cấp Nhà nước vẫn quản lý việc mua lương thực, thực phẩm và vật tư nông nghiệp Tuy có cải tiến về phương thức, giá cả, nhưng việc mua bán vẫn phải qua nhiểu khâu, nhiểu nấc trung gian, không đáp ứng kịp thời, gây nhiều phiền hà và thiệt hại cho nông dân Các hợp tác xã vẫn thực hiện cơ chế khoán sản phẩm theo tinh thần Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư, mặc dù cơ chế này có nhiều điểm không còn phù hợp nữa
Hai năm 1986-1987, sản xuất nông nghiệp giảm sút, có nguy cơ trì trệ trở lại, sản lượng lương thực nãm 1986 đạt 18,37 triệu tấn, đến năm 1987 chỉ còn 17,5triệu tấn
Tình hình lương thực trơ nên căng thắng Đầu năm 1988 đã xảy ra nạn đói giáp hạt trên diện rộng ở 21 tỉnh với 9.3 triệu dân thiếu ăn9 Việc cung cấp lương thực cho dân cư phi nông nghiệp của xã hội gặp rất nhiêu khó khăn, càng thẳng
Cơ chế khoán theo tinh thần Chỉ thị 100-CT/TW của Ban Bí thư không còn vai trò tích cực nữa Động lực vượt khoán vừa được tạo ra đã dần dần bị thui chột Không
ít nơi nông dân trả lại ruộng khoán, bỏ nông thôn đi tìm việc khác kiếm sổng
Từ vụ đông xuân 1987-1988, nhiều địa phương đã nghiên cứu cải tiến khoánsản phẩm đến nhóm và người lao động thành khoán gọn đến hộ xã viên và dạt kết quả tốt, được nông dân đồng tình Chang hạn như ở Thổ Tang (Vĩnh Tưòng, Vĩnh Phúc), hợp tác xã đã cắt 30% diện tích đất khoán trước đây giao cho các hộ sản xuất Các hộ chỉ phải đóng thuế 10% Ngoài ra không phải đóng bất cứ khoản đónggóp nào (70% diện tích đất còn lại vẫn giao khoán theo cách cũ)
Đó là hướng đi mói xuất hiện trong thực tiễn
Chủ trương đổi mòi căn bản và đồng bộ cơ chế quản iỷ kinh tế nông nghiệp (1988-1993)
Nghị quyết ĩ0 của Bộ Chính trị “Về đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp”
9 Nguyễn Sinh Cúc: 30 năm hợp tác hoá nông nghiệp ở nước ta (qua S(3 liệu thông kê), Tlđd,
tr.69.
Trang 121 2
Thực hiện những tư tưỏng đổi mới của Đại hội Đảng toàn quổc lần thứ VI ngày 5-4-1988 13Ộ Chính trị dã ra Nghị quyct sô 10 “Về đôi mới quan lý kinh tế nông nghiệp'1 (thường gọi tắt là Khoán 10) Nghị quyết 10 dã có nhumí đánh giá khách quan vc cách Ihức tô chức Síin xuấl và quản lý nông nghiộp, chi ra những nguyên nhân dẫn đến tinh trạng trên và chủ trương phải Liên hành dối mới một cách căn bán
Nội dung đổi mới quan lý kinh tó nông nghiệp, chủ yếu bao gồm ba vấn đc: sắp xếp và tố’ chức lại sán xuất nông nghiệp: củng cố và mỏ rộng quan hộ sản xuất
xã hội chủ nghĩa, sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế; đổi mới chính sách quản Ịý vĩ mô của Nhà nước
Với ba nội dung trên, đổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp theo tinh thần Nghị quyết 10 của J3ộ Chính trị không dừng lại ở việc tổng kết sáng kiến của quầnchúng và đảng bộ cấp cơ sỏ nhàm tiếp tục hoàn thiện cơ chế khoán sản phẩm đến ngưòi lao dộng như Chí thị 100- CT/TW mà đã tiên một bừớc xa hơn trong việc hoạch định chủ trương đổi mới một cách toàn diện:
Vấn đề thứ nhất, viộe sắp xếp và tổ chức ỉại sản xuất nông nghiệp không phải theo hướng mở rộng quy mô hdp tác xã và tô chức lại lao động như trong các
xí nghiệp công nghiệp giông với cách làm trước đây mà theo một hướng moi mangtính chiến lược nhằm phát triển một liền nông nghiộp sản xuất, hàng hoá một cách
có hiệu quả
Hướng tới mục liêu đó, chính sách kinh tô vĩ mô dôi với kinh tô nói chung, với nông nghiệp nói riêng đã có sự đổi mới so với giai đoạn trước Quan hệ giữa Nhà nước và các hợp tác xã có sự thay đôi căn bản Nghị quyết quy định, ngoài thuế là nghĩa vụ bắt buộc, quan hệ mua bán giữa hợp tác xã, tập đoàn sán xuất và các tổ chức kinh tế quốc doanh là quan hệ binh đang, thuận mưa vừa bán Nhà nước không can thiệp vào việc trao đổi giữa vật 'tư nông nghiệp và nông sản phẩm như trước nữa mà các tổ chức kinh tế quốc doanh và hợp tác xã, tập đoàn sản xuất
ký kết hợp đồng kinh tế cung ứng vật tư, mua sản phẩm
và cùng chịu trách nhiệm thực hiện nghiêm chỉnh các hợp đồng đã ký kết Ngoài ra, các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất được phép tự tìm kiêm thêm vật tư từ các nguồn khác Sản phẩm ngoài nghĩa vụ đóng thuế cho Nhà nướẹ và thực hiện các hợp đồng đã ký với các tổ chức kinh tế quốc doanh, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất được tự đo sử, dụng và tiêu thụ ở thị trường có lợi nhất Các tổ chức kinh tế quốc doanh muôn mua thêm, phải theo đúng nguyên tắc thuận mua vừa bán
Nội dung đổi mối này là một bộ phận gắn với công cuộc đổi mới kinh tế nói chung trong phạm vi cả nước
Vấn đề thứ hai, Nghị quyết chủ trương sử dụng đúng đắn các thành phần kinh tế Đây cũng là nội dung quan trọng nhất Nội dung này được thể hiện ở các điểm: Đôi với các đơn vị kinh tế quổc doanh trong nông nghiệp, phải chuyền hoạt động của các tổ chức này sang hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa, thực hiện
Trang 131 3
chế độ tự chủ trong sản xuất kinh doanh Đến cưôi năm 1989, cơ sơ nào không ' chuyển biến được thì giải thể hoặc chuyển sang hình thức
sở hữu thích hợp Đổi với các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp phải chấn chỉnh lại tô chức, đôi mới cơ chế i quản lý Đôi với kinh tế cá thể, kinh
tế tư nhân trong nông, lâm, ngư nghiệp, Nhà nước công nhận sự tồn tại lâu dài và tác dụng tích cực của các thành phần kinh tế này nên chủ trương khuyến khích pháttriển
Nghị quyết 10 tập trung vào nội dung chấn chỉnh tổ chức, đổi mới quản lý hợp tác xã, tập đoàn sản xuất nông nghiệp Nghị quyết xác định phương hướng đôi mói của các hợp tác xã:
+ Trước hết, Nghị quyết khẳng định hợp tác xã, tập đoàn sản xuất là tổ chức kính tế tự nguyện của nông dân, lập ra dưới sự lãnh đạo của Đảng, sự hướng dẫn, giúp đỡ của Nhà nước, hoạt động theo.nguyôn tắc tự quản lý, tự chịu trách nhiệm
về hiệu quả sản xuất kinh doanh; có tư cách pháp nhân, bình đẳngirước pháp luật với các đơn vị kinh tế khác; có trách nhiệm phát huy tính ưu việt của quan hệ sản xuất xã hội chủ nghĩa Với quan niệm về tổ chức hợp tác xã như vậy nên các hợp tác xã được chấn chỉnh tổ chức theo hướng tích cực chuyển sang sản xuất hàng hoá
và hạch toán kinh doanh xã hội chủ nghĩa
+ Cũng chính vì đã có sự nhìn nhận mới vể tổ chức hợp tác xã nên Nghị quyết chủ trương chấn chỉnh tổ chức hợp tác xã Những hợp tác xã quy mô toàn xã nếu sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì tiếp tục củng cô" Nếu các hợp tác xã ở cáctỉnh đồng bằng và trung du phía Bắc, duyên hải miền Trung, Tây Nguyên có quy
mô quá lớn mà sẩn
xuất tò trộ quản lý kém và xã viên yêu cẩu tlù dicu chỉnh ihành các hợp tác
xã có quy mô thích hợp Thậm chí ớ những vùng núi cao, Nghị quyết chủ Uxĩơng mạnh dạn chuyến các hdp tác xã chỉ tồn tại về mặt hình thức sang các tổ vần công, dôi công hoặc sản xuât cá thô khi có dù diều kiện mói đưa đồng bảo vào làm án tạp thê với hình thức thích hợp ơ Nam Bộ, Nghị quyôt chủ Irương trong những năm trước mãt duy trì hình thức tập đoàn sản xuất là chú ycu
+ Cùng với chấn chỉnh tô chức, các hợp tác xă tập đoàn sản xuất phải thực hiện chế độ Lự chủ về quản ]ý Cụ thổ, c.ơ chế quản lý của các hợp tác xã đôi mới trên cá ba nội dung chủ yêu:
Vê quan hệ sở hữu tư liệu sản xuất, Nghị quyết 10 đã thực hiện một bước điều chỉnh quan trọng: giao khoán ruộng đất ổn định dài hạn trong khoảng 15 năm cho các hộ xã viôn; chuyển nhượng, bán hoá giá trâu bò và những tài sản cô định
mà hợp tác xã quản lý, sử dụng kém hiệu quả cho xã vicn (trừ ruộng đất, đất rừng
Trang 141 4
sản xuất với kê hoạch phân phôi từ dầu
Trong ngành trồng trọt, về cơ bản thực hiện khoán đến hộ hoặc nhóm hộ xã viên Tuỳ tình hình cụ thể mà hợp tác xã và tập đoàn sản xuất quyết định những khâu do lẠp thế đàm nhiộm và những kliáu khoán cho xã viên, không nhất thiếl tập thê làm nãm khâu, xã viôn làm ba khâu Hợp tấc xã, tập đoàn sản xuất phải xâvđụng các định mức đơn giá làm căn cứ xây dựng kế hoạch và giao khoán cho xã viôn, mức khoán được ổn định Lrong 5 năm chỉ sửa dổi khi điều kiện vật chất, kỹ thuật đã thay đổi và phải đảm bảo cho các hộ xã viên nhận khoán thu được khoảng trèn dưới 40% sản lượng khoán trở lèn
Dựa trên cơ sở kinh doanh tổng hợp và không ngừng mỏ rộng tải sản xuất, hợp tác xã, tập đoàn sản xuất phân công lại lao động theo hướng chuyên môn hoá,
ai giỏi nghề gì làm nghề đó Ở những nơi có điều kiộn, khuyến khích lao dộng chuyển sang làm ngành nghề và trao lại ruộng đất cho hợp tác xã tập đoàn sản xuất dổ trao thêm cho người trồng trọt
vế quan hệ phân phôi, hợp tác xã thực hiện nguyôn tắc phân phối theo lao động và theo cổ phần đóng góp của xã viên; khắc phục chủ nghĩa bình quân và tìnhtrạng bao cấp tràn lan trong phân phôi; không lấy quỹ của hợp tác xã để trợ cấp cho các hoại động khác của chính quyển địa phương
Với cơ chê quản lý như vậy, các hợp tác xã phải xác định lại chức năng, nhiệm vụ Cụ thể, Nghị quyết chủ trương hợp tác xã vừa phải Lổ chức quản lý tôL các khâu do tập thổ đảm nhận vừa phải làm tốt các khâu dịch vụ cho người nhận khoán Đôi với những hợp tác xã, tập đoần sản xuất mà nội dung sản xuất kinh doanh còn
dơn giản và thực hiện phổ biến việc khoán sản phẩm cho xã viên thì ban quản lý phải đặc biệt chú trọng làm tốt khâu dịch vụ
Trong khi nhấn mạnh đến chủ trương, phương hướng và những giải pháp dể đổi mới cơ chế quản lý kinh tê nông nghiệp, Bộ Chính trị đã thảo luận và thông qua một nội dung khác, cũng rất quan trọng: xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa Bộ Chính trị chủ trương: Gắn việc giải quyết đúng đắn các vấn đê xã hội và xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa với viộc phát triển sản xuất, đoi mới quản lý nông nghiệp Cụ thể phải xây dựng quy hoạch tổng thể kinh tế - xã hội của từng huyện, xã; tô chức thực hiện tốt kế hoạch xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa, no ấm, đoàn kết, văn minh, tiến bộ;'thực hiện dân chủ hoá, bảo đảm cho nhân dân lao động được thực sự lấm chủ về kinh tế, chính trị và xã hội Mặt khác,
đề cao kỷ luật và pháp luật, giáo dục vận động nhân dân sông và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật của Nhà nước Để xây dựng nông thôn mới, Nghị quyết chủ trương tăng cường tổ chức cơ sở đảng và phát huy vai trò của các đoàn thể quần chúng
Tháng 3-1989, Hội nghị lần thứ sáu Ban Châp hành Trung ương khoá VI tiếp tục khẳng định những phương hướng lớn trong đổi mới quản lý nông nghiệp
Trang 151 5
của Đảng và Nhà nước Nghị quyết của Hội nghị đã xác định:
Hợp tác xã và tập đoàn sản xuất là những đơn vị kinh tế hợp tác vối nhiểu hình thức sở hữu về tư liệu sản xuất
Khái niệm hợp tác xã được mơ rộng bao gồm mọi tô chức kinh doanh do nhừng ngưòi lao động tự nguyện góp vốn, góp sữc và được quản lý theo nguyên tắc dân chủ, không phân biệt quy mô, trình độ kỹ thuật, mức độ tập thể hoá tư liệu sản xuất
Hộ xã viên là đơn VỊ kinh tế tự chủ Như vậy, Nghị quyêt 10 của Bộ Chính trị, Nghị quyết Hội nghị lần thứ sáu Ban Chấp hành Trung ương khoá VI là bước tiến xa so với Chỉ thị 100 của Ban Bí thư trong quá trình đổi mới cơ chế quản lý kinh tế nông nghiệp Quan hệ sản xuẩt đã được điều chỉnh phù hợp với tính chất vàtrình độ phát triển của lực lượng sản xuất Hộ xă viên trở thành đơn vị kinh tê tự chủ, cơ sở tồn tại của mô hình tập thể hoá nông nghiệp bị phá vỡ Nhận thức về môhình hợp tác xã nông nghiệp có một bước chuyển căn bản Tập thể hoá vể tư liệu sản xuất không còn là tiêu chí hàng đầu của hợp tác xã Thậm chí, hợp tác xã còn
có thể có nhiều hình thức sở hữu vể tư liệu sản ximt Nhiệm vụ của hợp tác xã cũng khác vể căn bản so với trước: chuyển sang làm dịch vụ cho kinh tế hộ Nhữngthay đổi đó đã giải phóng lực lượng sản xuất khỏi cơ chế cù và quan trọng hơn là những yếu tô" cấu thành mô hình hợp tác mới có khả năng được thiết lập Sự đổi mới một cách căn bản này lại được tiến hành đồng bộ với công cuộc đổi mới trong các lĩnh vực kinh tế khác Cơ chế quản lý kinh mới bắt đầu được hình thành
Sự hình íììờỉih cơ chế quản ỉý mới đối VỚI nông ngh iệp (ĩ988- ĩ993)
Chính sách kinh tế vĩ mô chuyên hướng theo cơ chế thị trường có sự quản lýcủa Nhà nước
Trong cơ chế thị trương, chính sách kinh tế vĩ mô ỉà một bộ phận hợp thành
cơ chế- quản lý kinh tế Từ sau Đại hội đại biểu loàn quốc lần thứ VI của Đầng, chính sách kinh tố vĩ mô đôi với nền kinh tế nói chung, đối với nông nghiệp nói riêng đểu nhằm từng bước xoá bỏ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp đồng thời với V1ỘC thiết lập cơ chê* quản ỉý mới Đề thực hiện dược mục tiêu dó, kế hoạch 5 năm 1986-1990, Nhà nước đã chủ trương chuyển từ cơ chế hai giá (giá Nhà nước quy định và giá thị trường tự do) sang cơ chế một giá, chủ yếu do thị trường quyết định; thực hiộn chính sách tự do hoá thương mạiđổi mới chính sách kc" hoạch hoá Những chính sách này được thực hiện cùng với những nỗ lực nhằm chống lạm phát
Đồng thời với chính sách nôi trên là sự tăng cưòng quyển tự chủ của các đơn
vị kinh tế cơ sở trong tất cả các thành phần kinh tế Đối với thành phần kinh tế quốc doanh, tháng 10-1987, Hội đồng Bộ trưởng dã ban hành Quyết định
217/HĐBT vể viặc mồ rộng quyền tự chả kinh doanh cho các xí nghiệp quốc doanh Đôi với Ihành phần kinh tố tập thể, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 10 vổđổi mới quản lý kinh tế nông nghiệp, thực chất cũng là thiết- lập và tăng cường
Trang 161 6
quyển tự chủ của kinh tế hộ trong nôiiK nghiệp đồng thời với vi ộc đổi mới chính sácl) quản lý của Nhà nước
Vai trò kinh tế và cơ chế hoạt động của các đơn vị kinh tế cơ sỏ có nhũng biến dổi sâu sắc
Đối với các hợp tác xã nông nghiộp, thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị và những chủ trương tiếp theo của Đảng và Nhà nước, mô hình hợp tác hoá nông nghiệp đã có những biến động, dẫn den sự thay đổi trong kết câu của mô hình Trước hết, các hợp tác xã nông nghiệp đổu phải tiến hành giao khoán ruộng đất và các tư liộu sản xuất khác cho các hộ xã viên và rút dần sự can thiệp vào quyền chủ động sản xuất kinh doanh của các hộ Và như vậy là hợp lác xã không CÒ11 quyền quản lý đất đai, định đoạt kế hoạch sản xuất, điều động iực lượng lao dộng và phân phối sản phẩm như trước Những yếu tô" cấu thành mô hình hợp tác
cũ bị phá vỡ Hợp tác xã muôn tồn tại phải chấn chỉnh lại bộ máy quản lý, chuyển sang làm chức năng dịch vụ cho kinh tô hộ Sự đổi mới ò đây không nằm trong khuôn khổ của sự cải tiên quản ]ý như trước dây vẫn làm mà là sự chuyển đổi sangmột mô hình hợp tác mới với những thành tô mới, cơ chế vận hành mới, trong đó chức năng, nhiộm vụ, phương thức hoạt động của hợp tác xã kiểu mói khác về căn bản so với hợp tác xã kiểu cũ
Đổi mới theo Yêu cầu trên là nhiệm vụ hết sức nặng nể đối với các hợp tác
xã Bởi vì, muôn chuyển sang làm dịch vụ, các hợp tác xã phải có von, trong khi hầu hết vôri của hợp tác xã không còn hoặc bị xã viên chiếm dụng: phái có dội ngũcán bộ nãng động, biết thích ứng với cơ chế thị Lrường, trong khi hầu hết cán bộ
đã quen với nỗp bao cấp tồn tai nhiều thập niên Hat ít hợp tác xã thực hiện thành công quá trình “lột xác” đó Vì vậy, hàng loạt các hợp tác xã, tập đoàn sản xuất đã
tự giải the hoặc chí tồn tại về hình thức
Trong khi đó, so với khoán theo tinh thẩn Chỉ thị 100- CT/TW của Ban Bí thư thì ở giai đoạn này, vai trò tự chủ của hộ xã viên được khẳng định về mặt lý luận và dược nâng cao hơn trong thực tế Cụ thể, hộ được nhận khoán ruộng đất ổnđịnh dài hạn, không bị hạn chế việc mua sắm tư liệu sản xuất khác Thậm chí, trâu
bò và nhiều công cụ sản xuất khác thuộc tài sản tập thể có thể được chuyển thành
sỏ hữu của xã viên, về tổ chức sản xuất, vái lực lượng lao động trong gia đình, hộ
có thể tự sắp xếp bố trí công việc, đảm nhận phần lớn các khâu trong quá trình sản xuất Về phân phối, sau khi đóng thuế, góp quỹ, trả công dịch vụ cho hợp tác xã,
hộ xã viên được quyền tự do tiêu thụ sô" sản phẩm còn lại
Đôi với các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, hoạt động theo cơ chế cũ, các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước đã thực hiện được nhiệm vụ của mình trênmột sô mặt như thu hút lực lượng lao động khai hoang, phục hoá, xây dựng các vùng chuyên canh sản xuất hàng hoá, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp và xuất khẩu, vế mặt xã hội, vì phần lớn được xây dựng ỏ địa bàn miền núi, biên giới, dọc theo các đuòng chiến lược nên các doanh nghiệp này không chĩ góp phẩn tạo
Trang 171 7
nên những trung tâm kinh tế - xã hội ỏ vùng sâu, vùng xa mà còn góp phần quan trọng bảo vộ an ninh quôc phòng Tuy nhiên trong cơ chế cũ, kêt quả sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp không tương xứng với đầu tư của Nhà nước, hiệuquả kirUi tế - xã hội rất thấp Đất đai, lao động, tiền vôn, cơ sỏ vật chất kỹ thuật sử dụng rất lãng phí Nếu hạch toán đầy đủ thì phần lớn các cơ sỏ kinh doanh thua lỗ triển miên Bước vào thời kỳ đổi mới, thực hiện Quyết định 217/HĐBT, Nhà nước
đã giảm dần bao cấp và thu hẹp chỉ tiêu pháp lệnh Cơ chế câp phát vật tư và giao nộp sản phẩm được thay thế bằng cơ chế hạch toán kinh doanh, tự chủ từ kế hoạch vốn, vật tư đến phân phôi tiêu thụ sản phẩm
Trong hoàn cảnh đó, để duy trì sản xuất, một sô" doanh nghiệp đã giao khoán đất đai, vườn cây, đàn gia súc và quỹ tiền lương đến người lao động, các hộ thành viên, còn doanh nghiệp chuyển sang hoạt động dịch vụ cho kinh tế hộ thành viên Theo định hướng trên, một sô" doanh nghiệp đổi mới có kết quả nhưng vì cơ chế quản lý tập trung, quan liêu, bao cấp vốn rất nặng nề trong các cơ sở này (nặng
nề hơn cả khu vực kinh tế tập thể) nôn kết quả đổi mối còn rất hạn chế
Cơ chê quản lỷ kinh tê mới, tác động tích cực và những vấn đề này sinh
Do đặc điểm của sản xuất nông nghiệp rất khác vối dặc diem (.’.ùa sàn xuấl công nghiệp non hình thức lô chức, san xuất có tính phô biên trong nông nghiộp không phải là các xí nghiệp quy mô lớn với đông dáo công nhân nhu' trong công nghiệp mà thường là các lìộ gia dính 0 Việt Nam, kinh tố hộ dã trái qua nhung bước thăng lrầniẾ Hộ dã từng có quyền lự chủ ỏ thòi kỳ khôi phục kinh tê (1955-1957) Nhưng sau (16, hộ đã nhanh chóng hoà tan vào kinh tê hựp tác xá Chì thị 100-CT/TW của Ban Bí Ihư Trung ương Đảng chủ trương khoán sản phẩm dến nhóm lao động và người lao động nhưng trong thực tế, các địa phương đều thực híộn khoán đến hộ xã viên và nhiều nơi không chia thành năm khâu, ba khâu mà khoán gọn cho hộ xã viên Tổng kết sáng kiến của quần chúng, Nghị quyết 10 của
Bộ Chính trị dã chủ trương: trong trồng trọt về cơ bản là khoán den hộ hoặc nhóm
hộ xã viên Khái niệm hộ bắt đầu được sử dụng trong văn kiộn Mặc dù, Nghị quyết 10 đề cập đến nhiêu vấn đề khác mang tính bao quát hơn nhưng nội dung khoán sản phẩm đến hộ xã viên lại là nội dung được vận dụng vào thực tiễn nhanh nhất, có kết quả nhất
Những thay đổi lớn về vị trí, vai trò của kinh tế hộ mà Nghị quyết 10 khẳng định đã khơi dậy tiềm năng to lớn của từng hộ gia đình nông dân Từ'chỗ không thiết tha với ruộng đất, hộ nông dân đã có ý thức cải tạo và sử dụng đất đai một cách cé hiệu quả hơn Nhiều địa phương, nông dân đã bỏ công sức để khai hoang, phục hoá, tăng them quỹ đất trồng trọt Chỉ trong vòng ba năm (từ đầu năm 1988
đôn đầu nãm 1990) lông điện tích gieo Irồng đã tăng 3.9% (Lu 8.641.700 halôn 8.983.300 ha), khai hoang dược 257.000 ha trồng rừng mới được 326.000 ha diện tích mặt nùổr du’dc sử dụng vào nuôi trồng thuỷ sán tăng 27,5%’
Các hộ nông dân I'ẽòn chủ dộng mua sắm thêm công cụ máy móc dế phát
Trang 181 8
Iricn sán xuất Trong những năm Irước, dại bộ phận máy kéo do các trạm quán lý nhưng từ năm 1990, sổ máy kéo của các hộ gia đình đã chiếm 35.9% số’ máy kóo lớn và gần 100% sô" máy kéo nhò Đàn Lráu bò cày kéo sau khi chuyến giao về cho các hộ xã viên quản lý đã đước chăm sóc, nuôi dưỡng và sử dụng tốt hơn Tổng đàn trâu bò cày kéo trong cá nước đă lăng từ 3.050.700 con (năm 1987) ìcn 3.201.700 con (năm 1990)"
Được chủ động trong quá Irình sản xuất, các hộ nông dân dã đầu tư công sức, vốn liếng, b<D trí hợp lý lực lượng lao động để tàng năng suất, hưởng phần sản lượng vượt khoán
Động lực vượt khoán đã từng bị triệt tiêu sau một thời gian thực hiện Khoán
100 nay được khôi phục lại và được nâng cao hơn do sự hoàn thiộn cơ chế khoán sản phẩm đến hộ xã viên theo tinh thần Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị Nông nghiệp Việt Nam lại tiếp tục phát triển chính là nhờ vào sự năng động của kinh tế hộ
Nếu so sánh những năm 1989-1992 với những năm 1981-1988 thì tổng sản lượng lưdng thực quy thóc tăng 4,6 triệu tấn (26,1%)« năng suất lúa tăng 4,5 tạ/ha (29,6%), ]ương thực bình quân đầu ngưòi tảng 36 kg (12,2%), đản trâu tăng 10,8%,đàn bò tăng 14,8% và đàn lợn tăng 19,8%\
Mốc đánh dấu quan trọng sự phát triển của kinh tế nông nghiệp Việt Nam là
từ một nước phải thường xuyên nhập lương thực, năm 1989, Việt Nam không những đảm bảo nhu cầu lương thực cho nhân dân trong nước mà còn vươn lên trở thành một trong những nước xuất khẩu gạo nhiêu nhất trên thế giới
Trở lại tình hình đất nước sau năm 1975, trên cơ sở tính toán tiềm năng vể đất đai, con người của một đất nước thống nhất với hai vựa lúa ở đồng bằng sông Hồng và đồng bằng sông Cửu Long, chúng ta đã xác định chỉ tiêu 21 triệu, tấn lương thực cho kế hoạch 5 năm 1976-1980 nhưng chỉ tiêu đó đã không thực hiện được Nảm 1989, cũng với đất đai và con ngươi như vậy, chúng ta đã tạo nên sự phát triển mang tính đột phá về lương thực Đó chính là kết quả của công cuộc đổi mới cơ chế quản lý kinh tế
Do sản xuất phát triển và do giải quyết tốt mốỉ quan hệ về lợi ích giữa Nhà nưỏc, hợp tác xã, hộ nông dân nên thu nhập và đời sống của các hộ nông dân được cải thiện Tỷ lệ phân phôi cho hộ nhận khoán tăng lên Năm 1990, tỷ lệ đó là
44,65%, tăng gấp hai lần so với thời gian thực hiện khoán theo tinh thần Chỉ thị 100' CT/TW10 Nêu loại trừ yếu tô" biến động giá cả thì thu nhập của nông dân thờigian trước nàm 1987 hằng nàm chỉ táng 1,18%, nhưng các năm 1988-1989 đều tảng 4,04%' Thu nhập thực tê tăng nên các hộ nông dân đã có điểu kiện đê cải thiện đời sông, xây dựng tu bổ nhà cửa, sắm các đồ dùng sinh hoạt
Tuy nhiên, kết quậ nêu trên mới chỉ là bước đẩu Từ thực tế lại nảy sinh
10Nxb Thông kê, Hà Nội, 1995, tr 34, 40.
Trang 191 9
nhửng vấn đề mới đòi hỏi phải tiếp tục giải quyêt
Trước hết, đó là mâu thuân trong quan hệ sở hữu - sử dụng ruộng đất ở nôngthôn Mặc dù, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã chủ trương phải khắc phục tình trạng manh mún về ruộng đất nhưng trong quá trình giao khoán ruộng đất cho các
hộ nông dân, các địa phương đểu phải tính đến mục tiêu đảm bảo công bằng về mặt xã hội Và vì mục tiêu này, các địa phương đều chia một cách công bằng tới mức hộ nào cũng có ruộng tốt, ruộng xấu, ruộng gần, ruộng xa Kết quả là trung bình một hộ có tới 7-8 mảnh ruộng trên những cánh đồng khác nhau Thực trạng ruộng đất như vậy đã cản trở việc áp dụng khoa học - kỹ thuật; gây khó khăn cho công tác chăm sóc, bảo vệ đồng ruộng, phòng trừ sâu bệnh; người nông dấn chỉ có thể sản xuất tự cung tự cấp, rất khó chuyển sang sản xuất hàng hoá nêu ruộng đất không được tích tụ Thực hiện Nghị quyết 10 sản xuất nông nghiệp nói chung và trồng trọi nói riêng phát triển nhưng công nghiệp chế biến nông sản thực phẩm lại giảm làm cho hầu hết sản phẩm nông nghiệp tiêu dùng ở dạng sơ chế Điểu đó làm giảm giá trị của sản phẩm, giám thu nhập của nông dân và không khuyên khích kính tế hàng hoá phát triển
Mặt khác, khu vực công nghiệp và dịch vụ nông thôn phát triển chậm nên không thư hút được số’ lao động dư thừa hằng năm chuyển sang phát triển các ngành nghề phi nông nghiệp Do vậy, ở nông thôn thật khó có thể tiến hành phân công ỉại lao dộng theo hướng chuyên môn hoá “ai giỏi nghề gì làm nghề đó” như Nghị quyết 10 đề ra
Cơ chê quản lý mối đang hình thành, có tác động tích cực đến sự phát triển của sản xuâ't nông nghiệp nhưng một sô' mặt được coi là thành tựu của 30 năm xâydựng hợp tác xã nông nghiệp lại không được quan tâm nên bị xuống cấp ở nhiều nơi Chẳng hạn như vấn để kết cấu hạ tầng kinh tế xã hội nông thôn, cơ sở vật chất
kỹ thuật phục vụ sản xuất nông nghiệp, tình hình văn hoá, giáo dục Sự phân hoá giàu nghèo cũng bắt dầu diễn ra trái vối mục tiêu xây dựng xã hội công bằng, dân chủ,
*
văn minh
Tóm lại Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã tiếp tục giải phóng sức sản xuất khỏi những trói buộc của mô hình tập thể hoá nông nghiệp cùng vói cơ chế tập trung quan ìiêu bao cấp Một sô” yếu tố của mô hình hợp tác mới dan^i hình thành
Đó ];i sự cliuycn hướng của chính sách kinh tẽ vĩ 1UỎ saníí quán lý nến kinh tỏ bằntí cờ chê thị trưring cỏ sự diều tiêt cúa Nhà nước Đó là sự khẳng định vai trò
Lự (’hủ của kinh tố hộ Mọi hình thức tổ chức Síin xuất và mô hình hợp lác kieu mới phải nhằm phát huy vai trò tự chủ của kinh Le hộ Đó là sự dối mới cơ che hoạt dộng củiA các doanh nghiệp nông nghiệp nhà nước, các hợp tác xã tập đưàn sản xuất Đó là nội dung hợp t.áe mới giủa các dơn vị quốc doanh, tập thể với kinh
tế hộ và giữa kinh tế hộ với nhau Thế nhưng nhừng yếu tổ’ mới này chưa thể đưa
Trang 202 0
nông nghiệp thoát khỏi Lình trạng tự cuiig tự cấp, càng chưa thổ đưa nông nghiộp phát trien nhanh theo hướng sản xuấi hàng hoá Công cuộc dôi mỏi cơ chế quán lý kinh t.ế nông nghiệp mới chỉ tập trung ỏ nội đung: giải phóng kinh tể hộ khỏi sự trói buộc của cơ chế củ Nhiều vấn dề được đặt ra và cần phải giải quvết mà một trong những vấn đề cơ bản là chuyên dịch cơ cấu kinh tế nông nghiộp và nông thôntheo hướng công nghiệp hoá, hiộn đại hoá
c) Tiếp tục đổi mói cơ chế quản Ịỷ kinh tế nông nghiệp, thực hiện chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, nông thôn, xây dựng nông thôn mới xã hội chủ nghĩa (1993-1995)
Nghị quyết hội nghị lần thử năm Ban Chấp hành Trung ương kỉioá Vỉ ỉ - Ti.ểp tục đổi mới và phát triển kinh tè - xã hội nông thôn
Thực hiện Nghị quyết Ọại hội đại biểu toàn quốc lẩn thứ VII của Đảng và đểtiếp tục đôi mói cơ chế quản lý kinh
tế nông nghiệp Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trang ương khoả VIĨ (6-1993) đã ra Nghị quyết vể tiếp tục đoi mới và phát triển kinh tế - xã hội nông thôn Nghị quyết đánh giá thực trạng nông nghiộp - nông thôn nước ta qua những năm đôi mới; xác định mục tiêu quan điếm tiếp tục đổi mới và phát triển nông nghiệp, nông thôn và nêu phương hướng, giải pháp cụ thể để tổ chức thực hiện
Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VII là sựtíêp tục hoàn thiện chủ trương đổi mới kmh tế nông nghiệp, nông thôn, thể hiện trên ba nội dung chủ yếu:
Nội dung thứ nhất, về cơ chê quản lý kinh tế nông nghiệp, Nghị quyết tiếp tục chủ trương kiên trì và nhất quán thực hiện chính sách phát triển kinh tê nhiều thành phẩn vận động theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước ‘ Theo tinh thần đó, Nghị quyết đã nêu phương hướng đổi mới các hợp tác xã: “theo hướng phát huy hơn nữa tiềm năng to lớn và vị trí quan trọng lâu dài của kinh tế hộ
xã viên, đồng thời làm tốt công tác quy hoạch, hướng dẫn sản xuất, phát triển kinh doanh công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ mà từng hộ xã viên không làm được hoặc làm không có hiệu quẳ, cùng với chính quyền địa phương chăm lo sự nghiệp phúc lợi xã hội Thực hiện đúng nguyên tắc “tự nguyện, dân chủ, cùng có lợi” trong tố’ chức, quản ]ý và phát triển kinh tế hợp tác xã”1
Thực hiện Nghị quyết 10 của Bộ Chính tri các hợp tác xã đểu có sự biến động (lừ dội Tổng kết tình hình biến dộng của các hợp tác xã, Nghị quyêt đã đề ra giải pháp xử lý phù hợp đôi với từng loại: loại đổi mới có hiệu quá, loại chỉ đổi mới được từng khâu, từng mặt và loại chỉ tồn tại trên hình thức Đối với những hạptác xã chỉ tồn tại trên hình thức, sau nhiều lần tiến hành đôi mới, nhưng không có khả năng chuyển đổi, Nghị quyết mạnh dạn chủ trương: cấp uỷ, chính quyền ở đó cần xem xét kỹ, làm rõ nguyên nhân, tìm giải pháp xử lý, để nông dân tô chức các hình thức hợp tác mới phù hợp với yêu cẩu của họ Còn ỏ nhừng nơi hợp tác xã và tập đoàn sản xuât tan rã, nông dân đang ỉàm ăn cá thể thì cần tạo điểu kiện đê các
Trang 212 1
hộ cá thể phát triển sản xuất, làm ăn có hiệu quả, dần dẩn đi vào con đường hợp tácmột cách tự nguyện Nghị quyết cũng chủ trương, đúc rút kinh nghiệm về các loại hình kinh tế hợp'tác mới xuất hiện để hưóng dẫn, giúp đỡ hoạt động có hiộu quả, thực sự vì lợi ích của nông dân, phát triển đúng hướng
về vấn đề ruộng đất, Nghị quyết 10 của Bộ Chính trị đã chủ trương giao khoán ruộng đất ổn định lâu dài cho các hộ xã viên, đây đã là một bước tiến so với chính sách ruộng đất theo tinh thần Chỉ thị 100 của Ban Bí thư nhưng lại chưa xác định được quyển hạn của người sử dụng và ruộng đất thì bị chia nhỏ, quá manh mún Trưốc thực tế đó, Nghị quyết Hội nghị lần thứ năm Ban Chấp hành Trung ương khoá VII tiếp tục hoàn thiện chủ trương của Đảng vê vấn đề ruộng dất Nghị quyết khắng định: “ đất đai thuộc sở hữu toàn dân Luật đất đai (sửa đổi)
quv định rõ nội đun tí CiU' quvèn và nghĩa vụ cứa U£U'(ỈÌ sử (lụng dất, báo dám chư ngiiời sông bằng nghề nônj4' nhãl là gia đình chinh sách phai ró ruộng đất (UíỢc quyiln su đụng lâu dài dùỢc chuyên tlôi c.huyổn nhưộng ihừa kô chothuê, thế chấp theo nhung điều kiện cụ Uiế do pháp luật 11 uy định, nhằm khuyên khích sử dụng và phát triển quỳ đất có hiệu quả làm cho đất dai ngày càng màu
mờ, bảo đảm giữ ôn định chính trị - xă hội trong nông thôn, thực hiện công bang
xã hội, thúc đây quá trình chuyển địch cơ cấu kinh tế theo hướng tiến bộ”1
Ngày 14-7-1993 Luật đất đai (sửa đối) được Quôc hội thông qua và bất đáu
có hiệu lực từ ngày 15-10-1993, thay thế cho Luật đất đai năm 1987 Nội dung của Luật đất dai (sửa đổi) đã thể hiện dược tinh thần đổi mới của Ban Chấp hành Trungương dối với vấn để ruộng đất
Đối với chính sách vĩ mô của Nhà nước, Nghị quyết tiếp tục chủ trương dổi mới như chính sách mở rộng thị trường tiêu thụ nông sản hàng hoá; chính sách huyđộng nhiêu nguồn dầu tư và đầu tư có trọng điểm; chính sách mở rộng tín dụng củaNhà nước và của nhân dân; chính sách thay thuế nông nghiệp bằng thuế sử dụng đất; chính sách khoa học và công nghệ
Nội dung thứ hai, quá trình đổi mói cơ chế quan lý kinh tê nông nghiệp đã clân dân tạo ra sự biên đôi trong cơ cấu kinh l;ế nông thôn Kinh tế nông thôn không còn
í.liuẩn nôiiíí nhu' Irùỏr mìa mà cỏ sụ' khỏi phục và hước dau phát tri 011 cúacác ngàn)] kinh tế phi nông nghiệp Do đá vấn đê dặt ra là phai có chủ trương, chính sách phát triển kinh tế nông thôn
Từ sự tồng kỏt Ihực uễn, Nghị quyết xác định ro quan điểm: “Đặl sự phát triển nông nghiệp và kinh tế nông thôn theo hướng sán xuất hàng hoá trong quá trình công nghiệp hoá và hiện đại hoá clất nước, coi dó là nhiệm vụ chiến lược có tầm quan trọng hàng đầu”1 Cũng xuâl phát từ nhu cầu thực tiễn, Nghị quyết
không chỉ để cậị) một cách toàn diộn dến những vân đổ về phái triển kinh lê nông nghiệp mà còn đề cập đến những vân để rộng hơn của kinh tế nông Uiồn Trong
đó, vân đề dổi mỏi kinh tê nông nghiệp, chuyển dịch cơ câu kinh tế nông thôn là