Sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng ta trong bối cảnh mở cửa, hội nhập kinh kế quốc tế, giao lưu với thế giới hiện đại,tình hình thế giới có nh
Trang 1A- MỞ ĐẦU
Đoàn kết dân tộc là truyền thống quý báu của dân tộc ta suốt trong quá trìnhđấu tranh dựng nước và giữ nước Tinh thần yêu nước gắn liền với ý thức cộngđồng, ý thức cố kết dân tộc trải qua hành ngàn năm lịch sử trở thành truyền thốngbền vững, thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm, tâm hồn con người Việt Nam Từ ngànđời nay, đối với người Việt Nam, tinh thần yêu nước- nhân nghĩa- đoàn kết trởthành đức tính, lẽ sống, tình cảm tự nhiên của mỗi người
Kế thừa và phát huy trường thống đó, Chủ tịch Hồ Chí Minh luôn coi trọngcủng cố và không ngừng mở rộng khối đại đoàn kết toàn dân tộc, phát huy sứcmạnh tổng hợp lãnh đạo nhân dân ta giành hết thắng lợi này đến thắng lợi khác
Lịch sử lãnh đạo, đấu tranh vẻ vang của Đảng, như Chủ tịch Hồ Chí Minh đãkhẳng định là một pho lịch sử bằng vàng Đảng cộng sản Việt Nam đã có đượcnhững truyền thống cực kỳ quý báu Đó là truyền thống chiến đấu kiên cường, bấtkhuất, hết lòng phụng sự Tổ quốc, phục vụ nhân dân; truyền thống độc lập tự chủ,
tự lực, tự cường và không ngừng sáng tạo; truyền thống đoàn kết thống nhất trongĐảng; truyền thống gắn bó mật thiết với nhân dân, trưởng thành trong phong tràocách mạng của quần chúng và truyền thống luôn nêu cao chủ nghĩa quốc tế trongsáng
Chủ tịch Hồ Chí Minh đã tổng kết kinh nghiệm lớn của cách mạng ViệtNam: “ Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết Thành công, thành công, đại thành công”
Sự nghiệp đổi mới xây dựng đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa của chúng
ta trong bối cảnh mở cửa, hội nhập kinh kế quốc tế, giao lưu với thế giới hiện đại,tình hình thế giới có nhiều biến động không lường, việc kết hợp sức mạnh dân tộcvới sức mạnh thời đại, tạo nên tổng hợp lực để thực hiện công nghiệp hóa, hiện đạihóa nhằm đạt mục tiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh,cần có sự đoàn kết thống nhất cao độ theo tư tưởng Hồ Chí Minh
Những thắng lợi vẻ vang của cách mạng Việt Nam suốt hơn 80 năm qua bắtnguồn từ nhiều nhân tố Trước hết là nhờ Cương lĩnh, đường lối và sự lãnh đạođúng đắn của Đảng, dựa trên sự vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác- Lênin và tưtưởng Hồ Chí Minh vào thực tiễn Việt Nam, kế thừa và phát huy các giá trị truyềnthống tốt đẹp của dân tộc, tiếp thu tinh hoa văn hóa của nhân loại; là do sự hi sinh,chiến đấu, lao động sáng tạo của toàn dân dưới ngọn cờ lãnh đạo của Đảng Trongquá trình lãnh đạo cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trước đây và xây dựng chủnghĩa xã nhội, thực hiện công cuộc đổi mới hiện nay, những bài học có giá trị lýluận và thực tiễn Đó là bài học phải kiên định mục tiêu độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội; bài học về phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc và
Trang 2xây dựng Mặt trận dân tộc thống nhất; bài học về xây dựng khối liên minh vữngchắc giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức; bài học về tăngcường xây dựng nhà nước thực sự của dân, do nhân dân và vì nhân dân…
Trong thời kỳ đổi mới, vấn đề đại đoàn kết dân tộc đang đặt ra không ít tháchthức với đường lối chỉ đạo của Đảng Việc nêu cao cảnh giác, kiên quyết đấu tranhchống âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch “ diễn biến hòa bình”, đòi đanguyên, đa đảng, lợi dụng vấn đề dân chủ, nhân quyền, tôn giáo hòng phá hoại chế
độ xã hội chủ nghĩa là việc làm cần thiết đối với mọi người dân Việt Nam
Xuất phát từ những lý luận trên, tôi chọn nội dung: "Những vấn đề lý luận và thực tiễn về xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân đặt ra hiện nay" làm đề tài nghiên
cứu
Trang 3B PHẦN NỘI DUNG
I QUAN ĐIỂM CỦA CHỦ NGHĨA MÁC - LÊNIN VÀ TƯ TƯỞNG HỒ CHÍ MINH VỀ ĐOÀN KẾT DÂN TỘC
1 Quan điểm của Mác-Lênin về đại đoàn kết
Chủ nghĩa Mác-Lênin dạy rằng: Giai cấp vô sản là giai cấp cách mạng nhất
có sứ mệnh lịch sử giải phóng xã hội, giải phóng con người Đây là nhiệm vụ nặng
nề, lâu dài, đòi hỏi phải có chiến lược, sách lược cách mạng đúng đắn Giai cấpcông nhân chỉ có thể giải phóng mình nếu giải phóng toàn bộ xã hội chính vì vậygiai cấp công nhân tất yếu phải đoàn kết tất cả các lực lượng, các giai cấp phát huyđược sức mạnh dân tộc, sức mạnh quốc tế để làm tròn sứ mệnh lịch sử của mình
Mác- ĂngGhen chỉ rõ: “lịch sử của những cuộc đấu tranh giai cấp đó hiệnnay đã phát triển tới giai đoạn trong đó giai cấp bị bóc lột, bị áp bức là giai cấp vôsản không còn có thể tự giải phóng khỏi ách áp bức của giai cấp bóc lột và thống trịmình tức là giai cấp tư sản nếu không đồng thời và không vĩnh viễn giải phóng toàn
xã hội khỏi mọi ách bọc lột, áp bức khỏi sự phân chia giai cấp và đấu tranh giaicấp” Khi sáng lập Đồng minh những người cộng sản và soạn thảo bản "Tuyênngôn của Đảng Cộng sản" Mác - ĂngGhen kêu gọi "Vô sản tất cả các nước đoànkết lại"
Giai cấp vô sản là giai cấp đại diện cho một phương thức sản xuất mới, là lựclượng tiến bộ và cách mạng nhất Sứ mệnh của giai cấp vô sản không chỉ đoàn kếtgiai cấp mình, nhân dân mình mà còn có nhiệm vụ đoàn kết giai cấp vô sản cácnước Sự đoàn kết đó xuất phát từ chỗ, họ cùng có sứ mệnh cao cả, có mục đíchchung và kẻ thù chung Vì vậy sự đoàn kết gia cấp vô sản là một tất yếu kháchquan trên con đường xoá bỏ chủ nghĩa tư bản, xây dựng chủ nghĩa xã hội mới,trong thời đại mới - thời đại cách mạng vô sản "Trong các cuộc đấu tranh củanhững người vô sản thuộc các giai cấp thuộc các dân tộc khác nhau, họ đặt lênhàng đầu và bảo vệ những lợi ích không phụ thuộc vào dân tộc, họ luôn luôn đạidiện cho lợi ích toàn bộ phong trào"
Khẳng định ý nghĩa to lớn của chiến lược đoàn kết trong sự nghiệp cáchmạng vô sản, trong phần cuối tác phẩm Tuyên ngôn Đảng Cộng sản, Mác -ĂngGhen viết "ở tất cả mọi nơi những người cộng sản đều ủng hộ mọi phong tràocách mạng chống lại trật tự xã hội và chính trị hiện hành Những người cộng sảnphấn đấu cho sự đoàn kết và liên hiệp các đảng dân chủ ở tất tả các nước"
Chủ nghĩa Mác-Lênin coi đoàn kết là một nguyên tắc trong cách mạng vôsản, các ông chỉ rõ: Một nguyên tắc cơ bản của quốc tế đó là sự đoàn kết, cách
Trang 4mạng là phải đoàn kết bởi Công xã Paris thất bại đã để lại bài học kinh nghiệm về
sự đoàn kết trong cách mạng vô sản
Nói về vai trò đoàn kết dân tộc trong công cuộc xây dựng chủ nghĩa xã hộiLênin khẳng định “Nhiệm vụ chủ yếu mà giai cấp vô sản và nông dân nghèo dogiai cấp vô sản lãnh đạo phải hoàn thành trong bất cứ cuộc cách mạng xã hội chủnghĩa nào và do đó phải hoàn thành trong cuộc cách mạng xã hội chủ nghĩa màchúng ta đã bắt đầu tiến hành ở Nga ngày 25/10/1917 nhiệm vụ chủ yếu đó là mộtcông tác tích cực hay là sáng tạo nhằm thiết lập một mạng lưới các quan hệ của tổchức sản xuất mới, một mạng lưới cực kỳ quan trọng và tinh tế bao trùm sự sảnxuất và phân phối một cách có kế hoạch các sản phẩm cần thiết cho đời sống củahàng chục triệu người, một cuộc cách mạng như thế chỉ có thể hoàn thành thắng lợinếu đa số nhân dân và trước hết là đa số các người lao động chủ động tiến hànhmột hoạt động sáng tạo có ý nghĩa lịch sử”
Đối với vấn đề tôn giáo, chủ nghĩa Mác - Lênin chỉ rõ phải quan tâm đặcbiệt đến quyền bình đẳng thực sự của các dân tộc, hết sức tránh không xúc phạm gìđến tổ chức các tín đồ trong quần chúng, đồng thời nhấn mạnh việc đoàn kết thốngnhất trong đảng, kiên quyết đấu tranh với những luận điệu xuyên tạc chia rẽ nội bộđảng
Những luận điểm trên của chủ nghĩa Mác-Lênin đã chỉ ra cho các dân tộc bị
áp bức con đường tự giải phóng, đã chỉ ra sự cần thiết và con đường tập hợp đoànkết các lực lượng cách mạng trong phạm vi từng nước và trên toàn thế giới để dànhthắng lợi hoàn toàn cho cuộc đấu tranh chống chủ nghĩa đế quốc thực dân
2 Tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết
Nguyễn Ái Quốc - Hồ Chí Minh là người Việt Nam yêu nước đầu tiên tiếpthu và vận dụng sáng tạo chủ nghĩa Mác-Lênin về đoàn kết Hồ Chí Minh đã kếthợp nhuần nhuyễn luận điểm "cách mạng là sự nghiệp quần chúng" với tư tưởngđại đoàn kết nhằm tập hợp phát huy sức mạnh lực lượng cách mạng trong nướcquốc tế phấn đấu cho cuộc đấu tranh vì độc lập dân chủ và CNXH Hồ Chí Minh
đã trở thành linh hồn của khối đại đoàn kết dân tộc và Người đã để lại cho Đảng vàdân tộc ta di sản tư tưởng đại đoàn kết dân tộc
- Đại đoàn kết dân tộc là vấn đề chiến lược của cách mạng
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc của Hồ Chí Minh nhất quán và xuyên suốttrong tiến trình cách mạng Việt Nam
Trong từng thời kỳ, từng giai đoạn cách mạng, có thể và cần thiết phải điềuchỉnh chính sách và phương pháp tập hợp cho phù hợp với những đối tượng khác
Trang 5nhau, nhưng đại đoàn kết dân tộc phải luôn luôn được nhận thức là vấn đề sốngcòn của cách mạng Hồ Chí Minh đã nêu ra những luận điểm có tính chân lý:
Đoàn kết làm ra sức mạnh; "Đoàn kết là sức mạnh của chúng ta"
"Đoàn kết là sức mạnh, đoàn kết là thắng lợi"; "Đoàn kết là sức mạnh, làthen chốt của thành công"
Đoàn kết là điểm mẹ "Điểm này là thực hiện tốt thì đẻ ra con cháu đều tốt"
"Đoàn kết, đoàn kết, đại đoàn kết,
Thành công, thành công, đại thành công"
Tư tưởng đại đoàn kết dân tộc phải được quán triệt trong mọi đường lối, chủtrương, chính sách của Đảng, lực lượng lãnh đạo duy nhất đối với cách mạng ViệtNam Trong Lời kết thúc buổi ra mặt của Đảng Lao động Việt Nam ngày 3 - 3 -
1951, Hồ Chí Minh đã thay mặt Đảng tuyên bố trước toàn thể dân tộc: "Mục đíchcủa Đảng Lao động Việt Nam gồm 8 chữ là: ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN, PHỤNG
SỰ TỔ QUỐC" Nói chuyện với cán bộ tuyên huấn miền núi về cách mạng xã hộichủ nghĩa người chỉ rõ: "Trước cách mạng Tháng Tám và trong kháng chiến, thìnhiệm vụ tuyên huấn là làm sao cho đồng bào các dân tộc hiểu được mấy việc Một
là đoàn kết hai là làm cách mạng hay kháng chiến để đòi độc lập Chỉ đơn giản thếthôi Bây giờ mục đích tuyên truyền huấn luyện là: "Một là đoàn kết Hai là xâydựng chủ nghĩa xã hội Bác là đấu tranh thống nhất Nhà nước"
Đại đoàn kết dân tộc không phải chỉ là mục tiêu, mục đích, nhiệm vụ hàngđầu của Đảng mà còn là mục tiêu, mục đích, nhiệm hàng đầu của cả dân tộc Nhưvậy đại đoàn kết dân tộc chính là đòi hỏi khách quan của bản thân quần chúng nhândân trong cuộc đấu tranh để giải phóng, là sự nghiệp của quần chúng, do quầnchúng, vì quần chúng Đảng có sứ mệnh thức tỉnh tập hợp, hướng dẫn, chuyểnnhững đòi hỏi khách quan, tự phát của quàn chúng thành những đòi hỏi tự giác,thành hiện thức có tổ chức, thành sức mạnh vô địch trong cuộc đấu tranh vì độc lậpcho dân tộc, tự do cho nhân dân, hạnh phục cho con người
- Nội dung đại đoàn kết dân tộc
Nói đến đại đoàn kết dân tộc cũng có nghĩa phải tập hợp được mọi ngườidân và một khối trong cuộc đấu tranh chung người đã nhiều lần nêu rõ: "Ta đoànkết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải đoàn kết đểxây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phục sự tổ quốc và phục vụnhân dân thì ta đoàn kết với họ" Ta ở đây vừa là Đảng vừa là mọi người dân của
Tổ quốc Việt Nam Với tinh thần đoàn kết rộng rãi, Người đã dùng khái niệm đạiđoàn kết dân tộc để định hướng cho việc xây dựng khối đoàn kết toàn dân trongsuốt quá trình của cách mạng Việt Nam
Trang 6Muốn thực hiện được việc đại đoàn kết toàn dân thì phải kế thừa truyềnthống yêu nước - nhân nghĩa - đoàn kết của dân tộc, phải có tấm lòng khoan dung,nội lượng với con người Hồ Chí Minh cho rằng ngay đối với những người lầmđường lạc lối những đã biết hối cải, chúng ta vẫn kéo họ về phía dân tộc, vẫn đoànkết với họ, mà hoàn toàn không định kiến, khoét sâu cách biệt Người đã lấy hìnhtượng năm ngón tay có ngón dài ngón ngắn, những cả năm ngón đều thuộc về mộtbàn tay, để nói lên sự cần thiết phải thực hiện đại đoàn kết rộng rãi.
Dân tộc, toàn dân là khối rất đông bao gồm nhiều chục triệu con người.Muốn xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc rộng lớn như vậy, thì phải xác định rõđâu là nền tảng của khối đại đoàn kết dân tộc và những lực lượng nào tạo nên cáinền tảng đó Về điều này, Người đã chỉ rõ: "Đại đoàn kết tức là trước hết phải đoànkết đại đa số nhân dân, mà đại đa số nhân dân là công nhân, công dân và các tầnglớp nhân dân ta là công nhân, nông dân và các tầng lớp nhân dân lao động khác Đó
là nền gốc của đại đoàn kết Nó cũng như cái nền của nhà, gốc của cây Nhưng đã
có nền vững, gốc tốt, còn phải đoàn kết các tầng lớp nhân dân khác" Người cònphân tích sâu hơn, đâu là những lực lượng nòng cốt tạo nên cai nền tảng ấy, haycũng có thể nói đâu là nền tảng của cái nền tảng ấy: " Lực lượng chủ yếu trong khốiđại kết dân tộc là công nông, cho nên liên minh công nông là nền tảng của Mặt trậndân tộc thống nhất" Về sau Người nêu thêm: lấy liên minh - công nông - lao độngtrí óc làm nền tảng cho khối đại đoàn kết toàn dân nền tảng càng được củng cốvững chắc thì khối đại đoàn kết dân tộc càng có thể mở rộng, không e ngại bất cứthế lực nào có thể làm suy yếu khối đại đoàn kết dân tộc
- Nguyên tắc và phương pháp đại đoàn kết của Hồ Chí Minh
Đại đoàn kết phải được xây dựng, củng cố trên nền tảng thống nhất chủnghĩa yêu nước với chủ nghĩa quốc tế vô sản, lợi ích tối cao của dân tộc với quyềnlợi của nhân dân lao động và quyền thiêng liêng của con người
Cách biểu đạt của Hồ Chí Minh có thể khác nhau, nhưng tư tưởng của Người
về nhận thức, giải quyết mối quan hệ nhân dân - giai cấp - nhân loại là nhất quán,đúng đắn Lợi ích tối của dân tộc là độc lập - chủ quyền - thống nhất - toàn vẹnlãnh thổ Đó vừa là truyền thống dân tộc, là chân lý, là ngọn cờ đoàn kết và nguyêntắc đại đoàn kết Hồ Chí Minh Người chỉ rõ lý tưởng: độc lập - tự do - chủ nghĩa xãhội và phương châm: dân tộc trên hết, Tổ quốc trên hết; tất cả do con người, vì conngười, là mẫu số chung, là điểm quy tụ khối đoàn kết Hồ Chí Minh thường nhắcnhở: "Bất kỳ ai mà tán thành hoà bình, thống nhất, độc lập, dân chủ thì dùg nhữngngười đó trước đây chống chúng ta, bây giờ chúng ta cũng thật thà đoàn kết vớihọ" "Ta đoàn kết để đấu tranh cho thống nhất và độc lập của Tổ quốc; ta còn phải
Trang 7đoàn kết để xây dựng nước nhà Ai có tài, có đức, có sức, có lòng phụng sự Tổquốc và phục vụ nhân dân thì ta đoàn kết với họ"
Tin dân, dựa vào dân, phấn đấu vì quyền lợi của nhân dân là nguyên tắc cơbản trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh, dân là nhân vật trung tâm: dân làgốc dễ, là nền tảng của đại đoàn kết; dân là chủ thể của đại đoàn kết; dân là nguồngốc sức mạnh vô tận và vô địch của đại đoàn kết, quyết định thắng lợi của cáchmạng; dân là chỗ dựa vững chắc của Đảng Cộng sản, của hệ thống chính trị cáchmạng
Đại đoàn kết một cách tự giác, có tổ chức, có lãnh đạo; đại đoàn kết rộng rãi,lâu dài, chặt chẽ là nguyên tắc trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh Nguyêntắc này được hình thành trên cơ sở nhận thức khoa học: đại đoàn kết không phải làmột tập hợp ngẫu nhiên, tự phát, nhất thời mà phải là một tập hợp lâu dài, bền vữngcủa các lực lượng xã hội có định hướng, có tổ chức, có lãnh đạo
Đại đoàn kết Hồ Chí Minh không phải là một tập hợp tuỳ tiện, lỏng lẻo mà làmột khối đoàn kết rộng rãi chặt chẽ Tính chất rộng rãi của khối đoàn kết thể hiện ởviệc mở rộng biên độ tập hợp mọi tầng tầng lớp xã hội mọi ngành, giới, lứa tuổi,tôn giáo, dân tộc, cá nhân trong một tổ chức thống nhất Tính chặt chẽ, bền vữnglâu dài của đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh biểu hiện qua việc Người đòihỏi phải củng cố, tăng cường khối liên minh công nhân, nông dân, trí thức làm nềntảng cho khối đại đoàn kết - Đây là mối quan hệ biện chứng giữa dân tộc và giaicấp trong tư tưởng đại đoàn kết Hồ Chí Minh Người thường căn dặn: "Chúng taphải đoàn kết chặt chẽ các tầng lớp nhân dân…, phải đoàn kết tốt các đảng phái,các đoàn thể, các nhân sĩ trong Mặt trận Tổ quốc Việt Nam thực hiện hợp tác lâudài, giúp đỡ lẫn nhau cùng tiến bộ…, phải đoàn kết các dân tộc anh em, cùng nhauxây dựng Tổ quốc…, phải đoàn kết chặt chẽ giữa đồng bào lương và đồng báo cáctôn giáo, cùng nhau xây dựng đời sống hà thuận ấm no, xây dựng Tổ quốc"
Trong khối đại đoàn kết theo tư tưởng Hồ Chí Minh, Đảng Cộng sản là mộtthành viên đồng thời lại là lực lượng lãnh đạo Hồ Chí Minh đòi hỏi, Đảng phảituyên truyền, giáo dục để quần chúng giác ngộ sự cần thiết phải tập hợp, đoàn kết
và Đảng phải chỉ đạo cho quần chúng những hình thức, phương pháp tổ chức thíchhợp nhất, tốt nhất, phát huy hiệu quả nhất sức mạnh của khối đại đoàn kết trongcuộc đấu tranh cho những quyền lợi thiêng liêng của Tổ quốc và những quyền lợichính đáng của nhân dân lao động Đồng thời trong cuộc đấu tranh đó, Đảng phảiluôn luôn là người đi đầu Hồ Chí Minh căn dặn: "Để làm tròn trách nhiệm lãnhđạo cách mạng, Đảng ta phải dựa vào giai cấp công nhân, lấy liên minh công nônglàm nền tảng vững chắc để đoàn kết các tầng lớp nhân dân Có như thế mới phát
Trang 8triển và củng cố được lực lượng cách mạng và đưa cách mạng đến thắng lợi cuốicùng"; "Mỗi chi bộ của Đảng phải là hạt nhân lãnh đạo quần chúng ở cơ sở, đoànkhoa họcết chặt chẽ, liên hệ mật thiết với quần chúng, phát huy được trí tuệ và lựclượng vĩ đại của quần chúng".
Tuyên truyền, giáo dục vận động quần chúng một cách khoa học, nghệ thuậtcách mạng Do vậy, vấn đề có ý nghĩa quan trọng hàng đầu là việc tìm tòi, lựa chọncác nội dung tuyên truyền, giáo dục, vận động phải phù hợp với nguyện vọng,quyền lợi của quần chúng
Đồng thời với việc xác định những nội dung tuyên truyền, giáo dục hết sứcđộc đáo và sáng tạo, phù hợp với tâm lý, nguyện vọng chung nhất của cả dân tộc,
Hồ Chí Minh còn rất nhạy cảm, sáng suốt trong việc chỉ ra những nội dung tuyêntruyền, vận động sát hợp với từng giai cấp, từng cộng đồng xã hội Hồ Chí Minhthấu hiểu tất cả, cảm thông tất cả, phấn đấu và hy sinh vì tất cả những khát vọng,ước mơ sâu lắng của dân tộc và của mỗi con người Do vậy tư tưởng đại đoàn kếtcủa Người có sức mạnh vô địch, sức sống bất diệt
Xây dựng hệ thống chính trị cách mạng hoàn chỉnh là vấn đề quan trọng bậcnhất trong phương pháp đại đoàn kết Hồ Chí Minh
Đảng Cộng sản là người khởi xướng, vun đắp, lãnh đạo khối đại đoàn kết
Để hoàn thành sứ mệnh đó, Đảng Cộng sản phải được xây dựng trong sạch, vữngmạnh Đảng Cộng sản phải là một đảng trí tuệ, cách mạng và thống nhất - Chỉ cómột đảng như vậy mới đủ sức tập hợp, xây dựng, lãnh dạo khối đại đoàn kết Trong
Di chúc, Hồ Chí Minh đã viết: "Nhờ đoàn kết nhân dân, phục vụ Tổ quốc, cho nên
từ ngày thành lập đến nay, Đảng ta đã đoàn kết, tổ chức và lãnh đạo nhân dân tahăng hái đấu tranh tiến từ thắng lợi này đến thắng lợi khác Đoàn kết là một truyềnthống cực kỳ quý báu của Đảng và của nhân dân ta Các đồng chí từ Trung ươngđến các chi bộ cần phải giữ gìn sự đoàn kết nhất trí của Đảng như giữ gìn conngười của mắt mình"
Chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh về đại đoàn kết dân tộc đãtrở thành sợi chỉ đổ xuyên suốt đường lối chiến lược của Đảng Cộng sản Việt Namtrong cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân và cách mạng xã hội chủ nghĩa Tưtưởng đó đã thấm sâu vào tư tưởng, tình cảm của tất cả những người Việt Nam yêunước và biến thành hành động cách mạng của hàng triệu, hàng triệu con người, tạothành sức mạnh vô địch trong sự nghiệp giải phóng dân tộc, xây dựng và bảo vệ Tổquốc
Trang 9II ĐẢNG LÃNH ĐẠO XÂY DỰNG KHỐI ĐẠI ĐOÀN KẾT TOÀN DÂN TRONG GIAI ĐOẠN ĐỔI MỚI
1 Đường lối đổi mới và những chính sách mới trong chiến lược xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc của Đảng
Trong khoảng 10 năm đầu 1975 - 1985 dưới sự lãnh đạo của Đảng, nhân dân
đã giành được một số thắng lợi quan trọng, đồng thời cũng vấp phải không ít sailầm Chúng ta lại phải đánh bại cuộc chiến tranh biên giới Tây Nam và biên giớiPhía Bắc của Tổ quốc, giúp đỡ nhân dân Campuchia thoát khỏi bọn diệt chủng PônPốt, xây dựng và giữ vững chính quyền cách mạng, Chủ nghĩa đế quốc và nhữngnước tư bản chủ nghĩa thực hiện chính sách bao vây cấm vận đối với nước ta làmcho nền kinh tế nước ta càng gặp nhiều khó khăn Bên cạnh đó, Liên Xô và cácnước xã hội chủ nghĩa Đông Âu lâm vào khủng hoảng, viện trợ kinh tế của cácnước xã hội chủ nghĩa anh em đối với nước ta hầu như không còn nữa Chúng ta lạimang tư tưởng nóng vội muốn đẩy nhanh quá trình khôi phục, phát triển đất nước
để mau chóng bù đắp những hy sinh tổn thất trước đây Cùng với tâm lý chủ quancho rằng chúng ta đủ sức làm được tất cả Vì vậy, chúng ta không lường hết nhữngkhó khăn và phức tạp sau thời chiến
Tất cả những nguyên nhân nói trên đã đẩy chúng ta vào các kế hoạch cải tạo
xã hội chủ nghĩa, phát triển kinh tế với quy mô lớn được triển khai ồ ạt trên phạm
vi cả nước, lợi ích của các giai cấp, tầng lớp không được tính toán đầy đủ và kếthợp hợp lý Những việc làm ấy, trên thực tế, đã vi phạm những nguyên tắc củachiến lược đại đoàn kết Hồ Chí Minh, dẫn đến đất nước lâm vào tình trạng khủnghoảng kinh tế - xã hội; khối đại đoàn kết dân tộc, khối liên minh công nông có nguy
cơ rạn nứt; quần chúng giảm sút lòng tin đối với Đảng và Nhà nước
Trước tình hình đó, Đảng ta đã tiến hành nhiều bước tìm tòi thử nghiệm Sựtìm tòi của Đảng bắt gặp sự sáng tạo của dân đã hình thành đường lối đổi mới toàndiện mà Đại hội VI (12 - 1986) của Đảng là một bước ngoặt quan trọng trong xâydựng chủ nghĩa xã hội ở nước ta
Đường lối đại đoàn kết dân tộc là một bộ phận rất quan trọng trong toàn bộđường lối đổi mới của Đảng Đại đoàn kết toàn dân vốn là bài học lớn trong lịch sửdân tộc cũng như trong lịch sử cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng Cộngsản Việt Nam, thấm nhuần sâu sắc tư tưởng Hồ Chí Minh Cái mới ở đây là việcxác định lại vị trí của nhân dân trong toàn bộ sự nghiệp của cách mạng, từ đó màxác định rõ hơn vị trí của đại đoàn kết dân tộc trong thời kỳ mới; xác định các yếu
tố cơ bản để thực hiện đại đoàn kết, chỉ rõ trách nhiệm và các hình thức, biện pháp
để xây dựng đại đoàn kết toàn dân
Trang 10Một trong những quyết định có ý nghĩa quan trọng của Đại hội VI là việc rút
ra 4 bài học kinh nghiệm, trong đó có hai bài học lớn của cách mạng Việt Nam là “lấy dân làm gốc” (lực lượng nhân dân là nền tảng xã hội; sức mạnh nhân dân làđộng lực phát triển đất nước; quyền lợi nhân dân là mục tiêu phấn đấu của Đảng).Đồng thời trong bối cảnh quốc tế hiện nay, yếu tố dân tộc trở thành một đặc điểmcực kỳ quan trọng Từ đó, Đảng ta xác định: Đại đoàn kết toàn dân là nguồn sứcmạnh và động lực chủ yếu, là đường lối chiến lược của cách mạng Việt Nam Từ sựtổng kết các bài học lịch sử, Đại hội đã xác định phương hướng cơ bản của chínhsách xã hội của Đảng ta trong những năm tới trong đó thể hiện đậm nét tư tưởngđoàn kết Không những thế tư tưởng ấy còn được phản ánh trong các chính sách,biện pháp kinh tế - xã hội
Về kinh tế, Đại hội chủ trương phát triển nền kinh tế nhiều thành phần, trong
đó kinh tế quốc doanh giữ vai trò chủ đạo; coi trọng lợi ích của người lao độngnhằm liên kết và phát huy sức mạnh của tất cả các giai tầng xã hội trong suốt thời
kỳ quá độ
Về chính trị, Đại hội nhấn mạnh việc phát huy quyền làm chủ của nhân dân
Về chính sách xã hội, Đại hội quan tâm đến “chính sách giai cấp (bao gồmchính sách đối với mỗi giai cấp và chính sách xử lý mối quan hệ giữa các lợi íchcủa giai cấp) và chính sách dân tộc”, coi đó “là bộ phận trọng yếu của xã hội”
Có thể nói Đại hội VI đã hoàn thành sứ mệnh lịch sử: đề ra đường lối đổimới toàn diện, tìm ra lối thoát khắc phục khủng hoảng kinh tế - xã hội, đặt ra nềntảng cho việc hình thành con đường đi lên chủ nghĩa xã hội phù hợp với hoàn cảnhViệt Nam, mở đường cho việc thực hiện chiến lược đại đoàn kết phù hợp
Công cuộc đổi mới càng đi vào chiều sâu, những quan điểm chủ trương vềđại đoàn kết dân tộc càng được phát triển Đại hội đại biểu lần thứ VIII của Đảng (6
- 1996) đã đánh giá những thành tựu và hạn chế qua 10 năm đổi mới (1986 - 1996)
“ Nhìn tổng quát, công cuộc đổi mới 10 năm qua đã thu được nhiều thành tựu tolớn, có ý nghĩa rất quan trọng.Tình trạng đình đốn trong sản xuất, rối ren trong lưuthông được khắc phục Kinh tế tăng trưởng nhanh, nhịp độ tăng tổng sản phẩmtrong nước(GDP) bình quân hàng năm 1991-1995 đạt 8,2% Lạm phát bị đẩy lùi từ744,7% năm 1986 xuống còn 67,1% năm 1991 và 12,7% năm 1995 Đầu tư toàn xãhội bằng nguồn vốn trong và ngoài nước so với GDP năm 1990 là 15,8% năm 1995
là 27,4% Lương thực không những đủ ăn mà còn xuất khẩu được mỗi năm khoảng
2 triệu tấn gạo Nhiều công trình thuộc kết cấu hạ tầng và cơ sở công nghiệp trọngyếu được xây dựng, tạo thêm sức mạnh vật chất và thế cân đối mới cho bước pháttriển tiếp theo
Trang 11Quan hệ sản xuất được điều chỉnh phù hợp hơn với tính chất, trình độ và yêucầu của sức sản xuất, giải phóng và phát huy tiềm năng to lớn trong nước, tạo thuậnlợi khai thác nguồn lực bên ngoài Nền kinh tế hàng hóa nhiều thành phần, vậnhành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước theo định hướng xã hộichủ nghĩa được xây dựng một cách đồng bộ hơn và có hiệu quả hơn.
Số việc làm tạo thêm hàng năm gần đây đã xấp xỉ số người mới bổ sung vàolực lượng lao động Đời sống vật chất của đại bộ phận nhân dân được cải thiện.Trình độ dân trí và mức hưởng thụ văn hóa của nhân dân khá hơn trước Các phongtrào đền ơn đáp nghĩa, xóa đói giảm nghèo được toàn dân hưởng ứng Dân chủđược phát huy Lòng tin của nhân dân đối với chế độ và tiền đồ đất nước, với Đảng
và Nhà nước được khẳng định
Ổn định chính trị- xã hội được giữ vững Quốc phòng, an ninh được củng cố.Quan hệ đối ngoại phát triển mạnh mẽ; phá được thế bị bao vây, cô lập; mở rộnghợp tác và tham gia tích cực đời sống cộng đồng quốc tế
Công tác xây dựng Đảng, xây dựng Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩatăng cường đại đoàn kết toàn dân có nhiều chuyển biến tích cực
Trong khi đánh giá đúng thành tựu, chúng ta cần thấy rõ những tồn tại và yếukém: nước ta còn nghèo và kém phát triển; chúng ta lại chưa thực hiện tốt cần kiệmtrong sản xuất, tiết kiệm trong tiêu dùng, dành vốn cho đầu tư, phát triển Tình hình
xã hội còn nhiều tiêu cực và nhiều vấn đề phải giải quyết Việc lãnh đạo xây dựngquan hệ sản xuát mới có phần vừa lúng túng, vừa buông lỏng Quản lý nhà nước vềkinh tế, xã hội còn nhiều thiếu sót Hệ thống chính trị còn nhiều nhược điểm
Tuy vậy, đến nay, thế và lực cửa nước ta có sự biến đổi rõ rệt về chất Nước
ta đã ra khỏi cuộc khủng hoảng kinh tế- xã hội nghiêm trọng và kéo dài hơn 15năm, tuy còn một số mặt chưa vững chắc, song đã tạo được tiền đề cần thiết đểchuyển sang thời kỳ phát triển mới: đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đấtnước” Có được những thành công ấy là nhờ “Đảng và nhân dân ta đã thể hiện trítuệ và bản lĩnh cách mạng của mình, phát huy truyền thống đoàn kết, đấu tranhkiên cường, lao động sáng tạo, đẩy lùi nguy cơ, vượt qua thử thách, đưa sự nghiệpđổi mới tiếp tục tiến lên” Đại hội đã tiếp tục khẳng định những quan điểm trên,đồng thời đề ra 6 bài học kinh nghiệm cần tiếp tục quán triệt, trong đó có bài học
“Mở rộng và tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân, phát huy tinh thần yêu nước, ýchí tự lực tự cường, động viên sức mạnh của cả dân tộc, nỗ lực phấn đấu vì mụctiêu dân giàu, nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh” Đại hội nêu bật nhữngchính sách lớn của Đảng trong sự nghiệp đổi mới và quá trình công nghiệp hoá,hiện đại hoá trong đó có chính sách: “Thực hiện đoàn kết toàn dân, phát huy vai tròlàm chủ của nhân dân”, thực hiện đoàn kết toàn dân tộc cùng nhau xoá bỏ định
Trang 12kiến, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinh thần đoàn kết, cởi mở, tin cậylẫn nhau ” Đến đây, vấn đề đại đoàn kết đã được đặt ra ở một tầm cao mới, nhằmphát huy sức mạnh của toàn dân trong thời kỳ công nghiệp hoá, hiện đại hoá đấtnước Đại hội chủ trương: “Mở rộng khối đại đoàn kết dân tộc, lấy liên minh giaicấp công nhân với giai cấp nông dân và tầng lớp trí thức làm nền tảng Đoàn kếtcác giai cấp, các tầng lớp, các dân tộc, các tôn giáo, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọingười trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay định cư ở nướcngoài, phát huy sức mạnh của cả cộng đồng dân tộc, truyền thống yêu nước và lòng
tự hào dân tộc vì mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, tiến lên dân giàu, nướcmạnh, xã hội công bằng, văn minh, lấy mục tiêu đó làm điểm tương đồng, đồngthời chấp nhận những điểm yếu kém, mặc cảm, hướng tới tương lai, xây dựng tinhthần đại đoàn kết, cởi mở, tin cậy lẫn nhau”
Ngày 26 - 6 - 1999, lần đầu tiên luật về Mặt trận Tổ quốc Việt Nam đã đượcban hành, trong đó khẳng định: Mặt trận Tổ quốc Việt Nam là một bộ phận của hệthống chính trị nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa chủ nghĩa do Đảng Cộng sản ViệtNam lãnh đạo, là cơ sở chính trị của chính quyền nhân dân, nơi thể hiện ý chí,nguyện vọng, tập hợp khối đại đoàn kết dân tộc, phát huy quyền làm chủ của nhândân, nơi hiệp thương phối hợp và thống nhất hành động của các thành viên, gópphần giữ vững độc lập dân tộc, chủ quyền quốc gia, toàn vẹn lãnh thổ, thực hiệnthắng lợi sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước vì mục tiêu dân giàu,nước mạnh, xã hội công bằng, văn minh Đây là một bước phát triển mới của mặttrận dân tộc thống nhất, của khối đại đoàn kết toàn dân để chuẩn bị đưa đất nướctiến vào thế kỷ XXI
Phát huy sức mạnh toàn dân tộc, được xác định “là đường lối chiến lược, lànguồn sức mạnh và là động lực chủ yếu để phát triển đại đoàn kết toàn dân” - quanđiểm cơ bản quán triệt trong toàn bộ các văn kiện của Đại hội IX Đại hội chủtrương đẩy mạnh hơn nữa việc xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc, xem “Xây dựngkhối đại đoàn kết toàn dân là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội”Đại hội khẳng định: “Thực hiện đại đoàn kết dân tộc, tôn giáo, giai cấp, tầng lớp,thành phần kinh tế, mọi giới, mọi lứa tuổi, mọi vùng của đất nước, người trongĐảng và người ngoài Đảng, người đang công tác và người nghỉ hưu, mọi thànhviên trong đại gia đình dân tộc Việt Nam dù sống trong nước hay ở nước ngoài.Lấy mục tiêu giữ vững độc lập, thống nhất, vì dân giàu, nước mạnh, xã hội côngbằng, dân chủ, văn minh làm điểm tương đồng, tôn trọng những ý kiến khác nhaukhông trái với lợi ích chung của dân tộc, xoá bỏ mặc cảm, định kiến, phân biệt đối
xử về quá khứ, giai cấp, thành phần, xây dựng tinh thần cởi mở, tin cậy lẫn nhau,
Trang 13hướng tới tương lai” Điểm mới của đại hội IX là đã đưa vấn đề dân chủ làm mụctiêu phấn đấu của toàn đảng, toàn dân ta.
Cụ thể hoá nội dung cơ bản của Đại hội IX về chiến lược đại đoàn kết dântộc trong thời kỳ mới, từ ngày 13 đến ngày 21 - 1 - 2003, Ban Chấp hành Trungương Đảng đã tiến hành Hội nghị lần thứ 7 Đây là Hội nghị chuyên đề đầu tiên củaĐảng ta với vấn đề xây dựng khối đại đoàn kết dân tộc Hội nghị thông qua 4 Nghịquyết quan trọng: Về phát huy sức mạnh đoàn kết toàn dân vì “dân giàu nướcmạnh, xã hội công bằng, dân chủ, văn minh”; về công tác dân tộc; công tác tôngiáo; về tiếp tục đổi mới, chính sách, pháp luật về đất đai trong thời kỳ đẩy mạnhcông nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước
Nhằm tăng cường khối đại đoàn kết dân tộc, vấn đề quan trọng là Hội nghị
đã xây dựng những chính sách đúng đắn, đảm bảo lợi ích của các giai tầng Trongđiều kiện kinh tế thị trường, lợi ích cơ bản của các giai cấp và các tầng lớp nhândân trong xã hội có điểm chung, thống nhất, nhưng cũng có những điểm khác biệt
Vì vậy, việc tăng cường sự đoàn kết nhất trí trước hết phải xuất phát từ việc xâydựng cơ chế chính sách đúng đắn, bảo đảm lợi ích chính đáng của các giai cấp vàtầng lớp trong xã hội
2 Thực trạng của khối đại đoàn kết dân tộc
Đối với giai cấp công nhân:
Đẩy mạnh sự nghiệp đổi mới, đồng thời, Đảng và Nhà nước cũng chú trọngđến chính sách đối với giai cấp xã hội khác nhau nói chung và lợi ích của giai cấpcông nhân nói riêng để giai cấp công nhân hoàn thành nhiệm vụ lịch sử của mình
Đại hội VIII (6 - 1996) của Đảng khẳng định: Phải “tạo thêm việc làm, cảithiện điều kiện lao động, thực hiện an toàn lao động và vệ sinh công nghiệp, hạnchế đến mức thấp nhất tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp Tổ chức tốt việc đàotạo lại nghề nghiệp Tiếp tục nghiên cứu bổ sung, hoàn chỉnh chính sách tiền cônglao động và các chính sách bảo đảm về mặt xã hội Tạo điều kiện cho công nhân có
cổ phần trong các doanh nghiệp Đẩy mạnh việc phát triển Đảng trong công nhân;quan tâm bồi dưỡng, đào tạo cán bộ xuất thân từ công nhân”
Đại hội IX của Đảng xác định: Đối với giai cấp công nhân, coi trọng pháttriển về số lượng và chất lượng, nâng cao giác ngộ và bản lĩnh chính trị, trình độhọc vấn và nghề nghiệp, thực hiện “trí thức hoá công nhân”, nâng cao năng lực ứngdụng và sáng tạo công nghệ mới, lao động đạt năng suất, chất lượng và hiệu quảngày càng cao, xứng đáng là một lực lượng đi đầu trong sự nghiệp công nghiệphoá, hiện đại hoá đất nước và vai trò lãnh đạo cách mạng trong thời kỳ mới Bảo vệquyền lợi, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của giai cấp công nhân trongđiều kiện thực hiện cơ chế thị trường Tăng cường đào tạo cán bộ lãnh đạo, quản lý
Trang 14và kết nạp Đảng viên từ những công nhân ưu tú; tăng thành phần công nhân trongđội ngũ cán bộ lãnh đạo các cấp, các ngành” Tiếp theo, Hội nghị lần thứ 7 (khoáIX) đã bổ sung những chính sách như: “Giải quyết việc làm, giảm tối đa tỷ lệ côngnhân thiếu việc làm và thất nghiệp Thực hiện tốt pháp luật lao động, bảo hộ laođộng, và việc chăm sóc, phục hồi sức khoẻ cho công nhân Sớm tổ chức thực hiệnquỹ trợ cấp thất nghiệp Xây dựng, hoàn thiện và tổ chức thực hiện tốt các chínhsách, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với công nhân Chính sách ưu đãi nhà ởđối với công nhân bậc cao”.
Chủ trương chính sách đúng đắn phù hợp của Đảng và Nhà nước đã độngviên được giai cấp công nhân tham gia phát triển sản xuất, đi đầu trong công cuộcđổi mới, xứng đáng là hạt nhân của khối đại đoàn kết dân tộc, giai cấp công nhânngày càng có trình độ tổ chức, kiến thức và kỹ năng nghề nghiệp Đội ngũ côngnhân trẻ còn vượt mọi khó khăn để học tập, rèn luyện, nâng cao kiến thức, nắmvững công nghệ mới, thi đua làm giàu cho đất nước, cải thiện đời sống của mình
Cụ thể, giai cấp công nhân có những biến đổi cả về số lượng ,chất lượng cũng như
về cơ cấu Đến năm 2001, công nhân trực tiếp làm việc trong các doanh nghiệp, các
cơ sở sản xuất kinh doanh là 4,53 triệu người Đầu năm 2004, công nhân trực tiếplàm việc trong các cơ sở sản xuất kinh doanh thuộc mọi thành phần kinh tế là 7,39triệu người, chiếm 17,49% lao động xã hội Trình độ học vấn và kỹ năng hành nghềnhìn chung đã được nâng lên thể hiện rõ nhất là ở một số ngành như bưu chính viễnthông , dầu khí, xây dựng cơ bản, cơ khí đóng tàu…Trong giai cấp công nhân đãxuất hiện công nhân “cổ trắng” bên cạnh những công nhân “ cổ xanh” truyềnthống; công nhân làm việc trong các doanh nghiệp tư nhân ngày càng tăng
Tuy nhiên, đời sống và điều kiện lao động của đa số công nhân còn gặpnhiều khó khăn; tâm trạng phổ biến là muốn có việc làm ổn định, tiền lương và thunhập đủ sống và ngày càng được nâng cao; muốn được đào tạo, nâng cao tay nghề,
có định chế đảm bảo quyền lợi cho công nhân Bộ luật lao động cần được thực hiệntốt Trong công nhân vẫn còn chênh lệnh về thu nhập và phân hoá giàu nghèo Vìthế, Đảng và Nhà nước cần quan tâm, giáo dục bồi dưỡng và có đường lối chínhsách phù hợp nhằm phát huy tinh thần chủ động sáng tạo, ý thức tự lực tự cườngcho công nhân Chăm lo nâng cao tay nghề cho công nhân đáp ứng các yêu cầu cácngành nghề mũi nhọn và công nghệ mới Hoàn chỉnh các chính sách nhằm giảiquyết những vấn đề bức xúc về đời sống của công nhân
Đối với giai cấp nông dân:
Đại hội VIII của Đảng (6 - 1996) khẳng định: “Thực hiện tốt chính sách giaođất, giao rừng; ngăn chặn và khắc phục tình trạng nông dân không có ruộng đất sảnxuất; giúp đỡ về vốn, kỹ thuật, các dịch vụ cung ứng vật tư; tiêu thụ sản phẩm, phát