1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030

298 357 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 298
Dung lượng 8,78 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và cuộc cách mạng CNTT sẽ thúc đẩy kinh tế thế giới chyển sang phát triển kinh tế tri thức; phân công lao động quốc tế theo “chuỗi giá trị” toàn cầu, tạo l

Trang 1

Mã số: KX 01.10/06-10

CHỦ NHIỆM ĐỀ TÀI: TS NGUYỄN BÁ ÂN

8853

Hà Nội, tháng 8 năm 2010

Trang 2

PHẦN THỨ NHẤT - XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA KINH TẾ

THẾ GIỚI VÀ TÁC ĐỘNG ĐẾN TRIỂN VỌNG KINH TẾ

CỦA VIỆT NAM

cả về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích

cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp

14

1.3 Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và cuộc cách mạng CNTT sẽ

thúc đẩy kinh tế thế giới chyển sang phát triển kinh tế tri thức; phân

công lao động quốc tế theo “chuỗi giá trị” toàn cầu, tạo lợi thế phát

triển mới và thời cơ "nhảy vọt" cho các nền kinh tế đi sau

18

1.4 Hệ thống phân công lao động quốc tế và khả năng đột phá phát

triển trong “mạng sản xuất toàn cầu”, phương thức phân bổ nguồn

lực theo “chuỗi giá trị” toàn cầu phù hợp với trình độ phát triển của

kinh tế thế giới hiện nay cũng như trong nhiều năm tới

20

1.5 Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển

kinh tế toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới, kinh tế

thế giới chuyển dần sang một hệ thống kinh tế đa cực hơn

21

1.6 Các nền kinh tế đang nổi đầu tư mạnh ra bên ngoài là xu hướng

1.7 Một số thách thức kinh tế lớn 25

2.1 Những xu thế chung của kinh tế thế giới trong 10 năm qua 302.2 Triển vọng kinh tế thế giới trong những năm tới 34III DỰ BÁO ẢNH HƯỞNG CỦA KINH TẾ THẾ GIỚI ĐẾN

TRIỂN VỌNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

43

PHẦN THỨ HAI - HIỆN TRẠNG PHÁT TRIỂN VÀ XUẤT

PHÁT ĐIỂM CỦA KINH TẾ VIỆT NAM QUA HƠN 20 NĂM

ĐỔI MỚI, NHỮNG THÀNH CÔNG, CHƯA THÀNH CÔNG

VÀ BÀI HỌC KINH NGHIỆM

54

Trang 3

I NHỮNG THÀNH CÔNG CỦA VIỆT NAM QUA HƠN 20 NĂM

1.2- Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa tiếp tục

1.3- Văn hóa, xã hội đạt được những thành tựu quan trọng; đời sống

vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên, có một số mặt đạt

trình độ của các nước phát triển trung bình

66

1.4- Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân được chú trọng và đạt

được nhiều kết quả

1.7- Hiệu lực hiệu quả quản lý của Nhà nước được nâng lên; cải cách

hành chính được đẩy mạnh; phòng chống tham nhũng, lãng phí có

kết quả bước đầu

76

1.8- Quốc phòng, an ninh được tăng cường; quan hệ đối ngoại được

mở rộng, vị thế nước ta trên trường quốc tế được nâng cao, tạo môi

trường thuận lợi để phát triển đất nước

81

2.1 Chất lượng tăng trưởng, năng suất, hiệu quả và sức cạnh tranh

của nền kinh tế còn thấp; kinh tế phát triển chưa bền vững, chậm

chuyển sang phát triển theo chiều sâu; các cân đối vĩ mô chưa thật

vững chắc

82

2.2 Kết cấu hạ tầng tuy có bước phát triển nhưng còn chậm, thiếu

đồng bộ, chưa đáp ứng được yêu cầu và đang cản trở sự phát triển 1012.3 Thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa còn thiếu

đồng bộ, các loại thị trường chậm hoàn thiện, quản lý và điều hành

kinh tế vĩ mô có mặt còn yếu kém, chưa theo kịp yêu cầu phát triển;

sức sản xuất chưa được giải phóng mạnh mẽ

106

2.4 Văn hóa, xã hội còn nhiều mặt bất cập, một số vấn đề bức xúc

chậm được giải quyết

107

2.5 Chất lượng nguồn nhân lực còn thấp; giáo dục và đào tạo, khoa

học và công nghệ chưa thật sự là quốc sách hàng đầu

1102.6 Bảo vệ môi trường còn nhiều yếu kém, là thách thức lớn trong 112

Trang 4

2.7 Quản lý điều hành của Nhà nước trên một số lĩnh vực còn yếu 1122.8 Quốc phòng, an ninh và đối ngoại còn một số mặt hạn chế 133III ĐÁNH GIÁ TỔNG QUÁT, NGUYÊN NHÂN VÀ BÀI HỌC

CHỦ YẾU

114

3.1 Việt Nam đang đứng ở đâu trên bản đồ kinh tế thế giới 1143.2 Những yếu kém chủ yếu của nền kinh tế 119

PHẦN THỨ BA - QUAN ĐIỂM, ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN

CỦA VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM

2030

127

I PHÂN TÍCH TIỀM NĂNG, LỢI THẾ SO SÁNH, NHỮNG KHÓ

KHĂN, THÁCH THỨC ĐỐI VỚI SỰ PHÁT TRIỂN CỦA VIỆT

NAM GIAI ĐOẠN ĐẾN NĂM 2020 VÀ CÁC NĂM TIẾP THEO

1.4 Tiềm năng, lợi thế và cơ hội phát triển của Việt Nam 1341.5 Những cản trở và thách thức chủ yếu trên con đường CNH, HĐH

của Việt Nam

142

1.6 Các nhiệm vụ chiến lược đặt ra cho thời kỳ đến năm 2020 và tầm

nhìn đến năm 2030

146

II ĐỀ XUẤT QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU PHÁT TRIỂN KINH

TẾ-XÃ HỘI VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2020 VÀ TẦM NHÌN ĐẾN NĂM

2030

149

2.2 Các quan điểm phát triển 1532.3 Các kịch bản phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn 2030 176III ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN VÀ CHUYỂN DỊCH CƠ CẤU

KINH TẾ

196

3.1 Về định hướng giải pháp phát triển để nâng cao chất lượng tăng

trưởng, hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế

196

3.2 Phát triển mạnh công nghiệp và xây dựng theo hướng nâng cao

chất lượng, sức cạnh tranh và hiện đại

199

3.3 Xây dựng nền nông nghiệp sản xuất hàng hóa lớn theo hướng

hiện đại, bền vững, có năng suất, chất lượng, hiệu quả và khả năng

cạnh tranh cao, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia

204

Trang 5

3.4 Tạo ra bước phát triển mới đối với các ngành dịch vụ, ưu tiên

phát triển các ngành dịch vụ có giá trị cao, tiềm năng lớn và có sức

cạnh tranh để thúc đẩy sự phát triển của cả nền kinh tế và hội nhập

3.7 Đẩy mạnh phát triển văn hóa, nâng cao chất lượng cuộc sống,

thực hiện tốt hơn tiến bộ và công bằng xã hội

219

3.8 Bảo vệ và cải thiện môi trường sinh thái, chủ động ứng phó có

hiệu quả với biến đổi khí hậu

220

PHẦN THỨ TƯ - GIẢI PHÁP THỰC HIỆN ĐỊNH HƯỚNG

PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM TRONG GIAI ĐOẠN

3 Nâng cao hiệu quả và đẩy nhanh chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo

hướng hiện đại có sức cạnh tranh cao trên cơ sở xây dựng nền kinh tế

tri thức

229

4 Phát triển doanh nghiệp có khả năng cạnh tranh quốc tế 233

5 Tập trung xây dựng được nguồn nhân lực chất lượng cao gắn với

6 Tập trung cao các nguồn lực để xây dựng hệ thống kết cấu hạ tầng

đồng bộ và hiện đại

242

7 Phát triển hài hòa các lãnh thổ 244

8 Đảm bảo nguồn lực chủ yếu 246

9 Mở cửa và hội nhập kinh tế quốc tế 247

Trang 6

DANH SÁCH CƠ QUAN VÀ CÁ NHÂN THAM GIA THỰC HIỆN ĐỀ TÀI

I CÁC CƠ QUAN THAM GIA NGHIÊN CỨU

1 Ban Tổng hợp; Viện Chiến lược phát triển;

2 Ban Phát triển vùng, Viện Chiến lược phát triển;

3 Ban Phát triển hạ tầng, Viện Chiến lược phát triển;

4 Ban Phát triển nguồn nhân lực và các vấn đề xã hội, Viện Chiến lược phát triển;

5 Ban Phát triển các ngành dịch vụ; Viện Chiến lược phát triển;

6 Ban Phát triển các ngành sản xuất; Viện Chiến lược phát triển;

7 Ban Các vấn đề quốc tế; Viện Chiến lược phát triển;

8 Vụ Kinh tế địa phương và lãnh thổ, Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

9 Vụ Tổng hợp Kinh tế quốc dân, Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

10 Viện Quy hoạch thiết kế nông nghiệp, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn;

11 Viện Địa lý, Viện Khoa học tự nhiên và công nghệ quốc gia;

12 Viện Nghiên cứu kinh tế, Bộ Thương mại

13 Viện nghiên cứu chiến lược và chính sách công nghiệp

14 Sở Kế hoạch và Đầu tư Bắc Ninh

II NHỮNG NGƯỜI THAM GIA NGHIÊN CỨU

1 PGS TS Bùi Tất Thắng, Phó Viện trưởng Viện CLPT

2 PGS.TS Nguyễn Văn Phú, Trưởng ban, Viện Chiến lược phát triển

3 TS Hoàng Ngọc Phong, Phó Viện trưởng Viện CLPT;

4 Ths Phan Ngọc Mai Phương, Phó Viện trưởng Viện CLPT

5 PGS TS Hoàng Sỹ Động, Trưởng ban, Viện Chiến lược phát triển

6 TS Lưu Đức Hải, Trưởng ban, Viện Chiến lược phát triển

7 TS Nguyễn Quang Vinh, Hội Khoa học Kinh tế Việt Nam

8 TS Nguyễn Văn Thành, Trưởng ban, Ban Nguồn nhân lực và Xã hội;

9 TS Lê Anh Sơn, Hội Khoa học kinh tế Việt Nam;

10 TS Nguyễn Công Mỹ, Trưởng ban, Viện Chiến lược phát triển

Trang 7

11 TS Đào Trọng Thanh, Cục trưởng, Cục Kế hoạch và Đầu tư Bộ Công An;

12 TS Lê Văn Nắp, Phó Chánh Văn phòng Điều phối các Vùng Kinh tế trọng điểm, Viện Chiến lược phát triển;

13 TS Cao Ngọc Lân, Phó Trưởng ban, Viện Chiến lược phát triển

14 KS Nguyễn Bá Khoáng, Phó Vụ trưởng, Vụ Tổng hợp TCTK;

15 ThS Nguyễn Việt Hồng, Chuyên viên Vụ ngành, Văn phòng Chính phủ

16 CN Trần Thị Nội, Nghiên cứu viên chính Viện CLPT;

17 TS Lê Thị Kim Dung, Phó Vụ trưởng, Vụ Quản lý Quy hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

18 TS Lê Thanh Bình, Vụ Quản lý Quy hoạch, Bộ Kế hoạch và Đầu tư;

19 CN Trần Đình Hàn; TCTK

20 TS Trần Hồng Quang, Trưởng ban,Viện CLPT;

21 ThS Nguyễn Văn Vịnh, Trưởng ban,Viện CLPT;

22 ThS Nguyễn Quỳnh Trang, Nghiên cứu viên,Viện CLPT;

23 KTS Lê Anh Đức, Nghiên cứu viên,Viện CLPT;

24 CN Hoàng Hải Yến, Nghiên cứu viên, Viện CLPT

Trang 8

LỜI MỞ ĐẦU

I THÔNG TIN CHUNG VỀ ĐỀ TÀI

1- Tên đề tài: " Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam đến

năm 2030” Mã số: KX 01.10/06-10 thuộc Chương trình KX.01/06-10: Những

vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020

2- Cơ quan chủ trì: Viện Chiến lược phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư 3- Chủ nhiệm đề tài: TS.Nguyễn Bá Ân, Phó Viện trưởng, Viện Chiến

cứ khoa học hơn mà ngay cả những giải pháp mang tính sách lược cũng không thể thiếu

Qua 2 kỳ chiến lược phát triển kinh tế- xã hội đất nước, qua 20 năm đổi mới Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu to lớn, vị thế Việt Nam trên bản đồ kinh tế, chính trị thế giới đã có nhứng bước phát triển khá Song thành tựu đó

Trang 9

vẫn còn thấp so với khả năng Việt Nam có thể đạt tới và thấp xa so với yêu cầu đặt ra của Dân tộc Viện Nam với dân số gần 100 triệu người Do đó, vấn đề đặt

ra là làm thế nào để phải phát huy hết được lợi thế so sánh và sức mạnh của dân tộc trong triển vọng để thu hẹp đáng kể khoảng cách về trình độ phát triển với các nước ASEAN và Đông Nam Á, để Việt Nam thật sự cất cánh trên con đường hội nhập kinh tế quốc tế

Để lựa chọn định hướng phát triển đất nước thời kỳ 2011 - 2020 và tầm nhìn đến năm 2030, trước hết ta phải trả lời câu hỏi:

- Một là, thế giới hiện tại và xu thế đến năm 2030 sẽ diễn ra như thế nào?

- Hai là, Việt Nam đang đứng ở đâu trong bản đồ kinh tế, xã hội của thế giới? Và chúng ta sẽ thế nào đến năm 2030 so với thế giới?

- Ba là, muốn vượt lên chúng ta phải làm gì? Mô hình phát triển của Việt Nam ra sao?

1 Tư duy phát triển của thế giới như thế nào? Thế giới hiện tại và xu thế đến năm 2020 sẽ diễn biến ra sao?

- Tư duy phát triển của thế giới sẽ có những thay đổi, xu hướng toàn cầu hoá tiếp tục diễn ra mạnh mẽ, không có một quốc gia nào có thể phát triển và tiến hành CNH, HĐH lại có thể đứng ngoài xu thế đó Đặc biệt là những quốc gia thành viên “trẻ” muốn trở thành một nước công nghiệp được thế giới công nhận cũng phải chịu sự cọ xát, cạnh tranh với cả thể giới Muốn thế bắt buộc phải hội nhập thành công và nâng cao vị thế của mình

- Hội nhập kinh tế thế giới là cơ hội cũng là thách thức lớn, là con đường tất yếu đất nước phải trải qua để tiến lên trở thành đất nước công nghiệp hiện đại, con đường mà nước ta phải chủ động bước vào với quyết tâm chính trị cao nhất để đưa đất nước tiến lên giàu có, văn minh

- Thế giới đang có nhiều thay đổi to lớn, sâu sắc sang một nền kinh tế trí thức

Dù muốn hay không, trước hết cần phải thừa nhận trên thế giới ngày nay

có nhiều biến động và tác động ngoài ý muốn chủ quan của chúng ta Việt Nam lựa chọn cách ứng xử nào trong tư duy phát triển mới của thế giới? Nước ta hình như chỉ có một sự lựa chọn đó là: có một tư duy phát triển mới theo hướng tiếp tục đổi mới mạnh mẽ hơn, hay nói cách khác là phải tiến hành cải cách toàn diện

để cất cánh, làm cho đất nước phải giầu nhanh, mạnh nhanh, nếu không sẽ bị tụt hậu ngày càng xa so vơí thế giới năng động hiện nay

Trang 10

2 Việt Nam đang đứng ở đâu trong bản đồ kinh tế, xã hội của thế giới?

Và chúng ta sẽ thế nào đến năm 2020 so với thế giới?

a- Việt Nam đang là nước kém phát triển theo các chỉ tiêu so sánh về GDP/người; HDI; trình độ phát triển KCHT; hầu hết mọi lĩnh vực chưa đạt trình

độ để hội nhập quốc tế như: trình độ đào tạo đại học; trình độ quản lý vĩ mô;

trình độ khoa học kỹ thuật; …

b- Sức cạnh tranh của nền kinh tế Việt Nam thấp, nền kinh tế hiệu quả chưa cao, biểu hiện: suất tiêu thụ điện còn rất lớn, năng suất lao động thấp, lao động nông nghiệp còn rất lớn, chưa có nhiều sản phẩm có thương hiệu toàn

cầu…

c- Sau 20 năm đổi mới Việt Nam đã gặt hái được nhiều thành công, từng

bước xây dựng nền kinh tế thị trường… song nền kinh tế cũng mới chỉ đạt tăng

trưởng ở mức 7 - 7,5% chưa phát huy hết tiềm năng và sức mạnh của cả Dân tộc Việt Nam Chất lượng tăng trưởng chưa cao, chưa bền vững, sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp, nhiều vấn đề xã hội nảy sinh chưa được giải quyết

d- Nền hành chính nhà nước kém hiệu quả; hiệu lực quản lý Nhà nước; hệ thống cơ chế chính sách, hệ thống pháp luật còn nhiều bất cập, cơ chế thị trường

chưa hình thành đầy đủ,…

3 Sự lựa chọn chiến lược phát triển của Việt Nam

a- Để lựa chọn chiến lược phát triển đất nước vừa mang tính kế thừa,

nhưng phải có bước đột phá về tư duy phát triển, chúng ta phải nhìn nhận một cách khách quan, toàn diện mọi góc độ để lựa chọn được một chiến lược phát triển hợp lý, phát huy được sức mạnh của toàn dân tộc trong một vận hội mới, đưa đất nước tiến lên

- Trước hết phải đổi mới tư duy phát triển của chúng ta trong xu thế hội nhập kinh tế thế giới

- Nhìn lại những bài học thành công của 20 năm đổi mới xây dựng đất nước, những thành tựu về mặt chính trị, kinh tế, xã hội, môi trường và ngoại giao

- Nhìn nhận những hạn chế, cản trở, vướng mắc đối với quá trình phát triển làm cho chưa phát huy hết tiềm năng và nội lực của toàn dân tộc để tháo giỡ

- Phải xây dựng được một hệ quan điểm phát triển của Việt Nam đến năm

2020 phù hợp với tư duy phát triển của thế giới

b- Phải có được một chiến lược phát triển cơ cấu kinh tế hợp lý Trong cải

Trang 11

cách kinh tế Việt Nam, chuyển dịch cơ cấu kinh tế là một trong những nhiệm vụ quan trọng của đường lối CNH, HĐH Thực tiễn cho thấy trình độ phát triển càng cao và quá trình hội nhập kinh tế càng sâu thì việc xây dựng cơ cấu kinh tế hợp lý, có hiệu quả càng có ý nghĩa quan trọng Vì vậy phương hướng và giải pháp thúc đẩy quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm 2030 là vấn đề có ý nghĩa to lớn

Theo ý nghĩa đó, đề tài "Tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2030” Mã số: KX 01.10/06-10 thuộc Chương trình KX.01/06-

10: "Những vấn đề cơ bản của phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020” có ý nghĩa rất quan trọng, mang tính bao quát chung, vừa kế thừa những kết quả nghiên cứu của các đề tài khác, vừa tạo ra cơ sở định hướng cho các giải pháp đối với từng lĩnh vực cụ thể; và trên cơ sở kết quả nghiên cứu này, đóng góp phần quan trọng cho những khuyến nghị khoa học của cả Chương trình

III TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU ĐỀ TÀI

Từ nhiều năm nay, giới nghiên cứu và các nhà làm chính sách trên thế giới cũng như Việt Nam rất quan tâm đến những vấn đề liên quan đến chiến lược phát triển quốc gia với tầm nhìn dài hạn Khó có thể kể hết những ấn phẩm,

từ các bài tạp chí đến các cuốn sách dày, đề cập đến những vấn đề ít nhiều liên quan đến các nội dung mà đề tài đặt ra Vì vậy, phần tổng quan này chỉ nêu một

số ấn phẩm tiêu biểu, quan trọng liên quan trực tiếp đến những nội dung chủ yếu của đề tài mới xuất bản gần đây như những ví dụ

- Đối với nội dung bối cảnh và các xu hướng phát triển chủ yếu của kinh tế thế giới và khu vực và những tác động của chúng đối với sự phát triển kinh tế thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, có:

1 Thomas l Friedman: Thế giới phẳng - Tóm lược lịch sử thế giới thế kỷ XXI NXB Trẻ 2006 Nếu bỏ qua cách nói mang đậm chất ngôn ngữ báo chí mà tác giả gọi là thế giới phẳng, cuốn sách tuyên ngôn về việc tóm lược lịch sử thế

kỷ 21 dưới hình thức dạng toàn cầu hóa 3.0, trong đó nêu ra nhiều dự báo táo bạo về một mô hình kinh tế, xã hội, chính trị, kinh doanh hoàn toàn mới, nơi thế giới trở thành một vật thể nhỏ bé, mọi vật kết nối chặt chẽ với nhau Cuốn sách tuy còn nhiều điều cần tranh luận, nhiều vấn đề còn để ngỏ, nhưng nhìn chung cũng gợi mở nhiều vấn đề về một cách nhìn mới về các xu hướng phát triển chủ yếu của kinh tế thế giới trong nhiều thập niên tới và những tác động của chúng đối với sự phát triển kinh tế thế giới, trong đó có Việt Nam

2 Kornai János: Hệ thống xã hội chủ nghĩa NXB Văn hoá - Thông tin – Hội khoa học kinh tế Việt Nam, Hà nội 2002 Cuốn sách phân tích sâu sắc cấu trúc, sự vận hành của hệ thống kinh tế xã hội chủ nghĩa (kiểu kế hoạch hóa tập

Trang 12

trung trước đây) và vạch ra nguyên nhân nội tại của yêu cầu phải thay thế nó bằng cơ chế kinh tế thị trường Quá trình chuyển đổi này sẽ vận động ra sao, tương lai của hệ thống này thế nào, tác giả đã trình bày trong cuốn sách này cũng như tác phẩm “Con đường dẫn tới tự do” sau đó, là những ý kiến tham khảo có tính gợi mở cho đề tài về tầm nhìn và định hướng phát triển kinh tế Việt Nam

3 Daniel Yergin và Joseph Stanislaw: Những đỉnh cao chỉ huy

Cuốn sách lý giải lý do của việc tất yếu phải chuyển sang cơ chế thị trường, mối quan hệ giữa chính phủ và thị trường trong điều kiện của quá trình chuyển đổi, sự trỗi dậy của châu Á, những nguyên nhân dẫn đến sự thất bại của Nga và các quốc gia Đông Âu trên con đường tiến tới kinh tế thị trường, những

nỗ lực của châu Âu trong việc tạo nên một thị trường chung và giảm dần vai trò của nhà nước để tiến tới thời kỳ nhà nước đảm bảo vai trò phúc lợi xã hội, vấn

đề toàn cầu hóa - những cơ hội và thách thức trong một nền kinh tế toàn cầu mới Đây thực sự là những vấn đề liên quan mật thiết đến tương lai của các nền kinh tế trên thế giới và khu vực, mà Việt Nam không thể không quan tâm

4 Ngân hàng thế giới: Suy ngẫm lại sự thần kỳ Đông Á (Joseph E Stiglitz và Shahid Yusuf biên tập NXB Chính trị Quốc gia, Hà nội 2002 Đông

Á đã từng sản sinh ra những “thần kỳ” kinh tế vào cuối thế kỷ trước, nhưng Đông Á cũng từng phải vất vả vật lộn để vượt qua cuộc khủng hoảng kinh tế tài chính ngay trước thềm thế kỷ XXI Mô hình Đông Á được suy ngẫm lại với rất nhiều luận chứng khi bàn về tương lai của một mô hình đã từng thành công nhưng những điều kiện khách quan thì nay đang thay đổi

- Đối với nội dung đánh giá hiện trạng phát triển của kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới, có:

5 Việt Nam 20 năm đổi mới NXB Chính trị quốc gia 2007 Cuốn sách tổng kết một cách toàn diện mọi mặt đời sống kinh tế - xã hội Việt Nam sau 20 đổi mới, trong đó các vấn đề kinh tế như chế độ sở hữu, công nghiệp hóa, tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, phát triển nông thôn, xóa đói giảm nghèo, v.v được đề cập khá đầy đủ với những nhận xét, đánh giá sâu sắc Đề tài có thể

kế thừa những nhận xét, đánh giá thực trạng phát triển kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đổi mới qua công trình này cũng như rất nhiều công trình đánh giá hiện trạng về từng lĩnh vực cụ thể khác

6 GS TS Lê Hữu Tầng – GS Lưu Hàm Nhạc (Đồng chủ biên): Nghiên cứu so sánh đổi mới kinh tế ở Việt Nam và cải cách kinh tế ở Trung Quốc NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2002 Ở góc độ có sự so sánh giữa hai nền kinh tế chuyển đổi nhiều điểm tương đồng cũng như không ít khác biệt Việt Nam –

Trang 13

Trung Quốc, cuốn sách vừa gợi nhiều suy nghĩ trong nhận xét, đánh giá cả quá trình chuyển đổi, vừa cung cấp nhiều thông tin mang tính so sánh cặp đôi, có giá trị tham khảo không chỉ ở nội dung phân tích, đánh giá hiện trạng; mà còn cả ở phương pháp nghiên cứu

- Đối với nội dung đề xuất ý tưởng và quan điểm phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, có:

7 “Về ý tưởng chiến lược phát triển đất nước thời kỳ đến 2020” (sắp xuất bản) là một trong số ít công trình được xuất bản thành sách về nội dung này hiện đang được Trung tâm Thông tin và Dự báo kinh tế - xã hội Quốc gia (Bộ Kế hoạch và Đầu tư) đang chuẩn bị cho ra mắt bạn đọc Cuốn sách tập hợp nhiều bài nghiên cứu và đề xuất ý tưởng về chiến lược phát triển của Việt Nam thời kỳ đến 2020 của một số học giả trong và ngoài nước Với nội dung đề xuất ý tưởng

và quan điểm phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030 mà đề tài đặt ra, cuốn sách sẽ có ý nghĩa tham khảo tốt

- Đối với nội dung xác định và luận giải những đặc điểm cơ bản của một nước công nghiệp vào năm 2020, có:

8 PGS TSKH Nguyễn Văn Đặng (Chủ biên): Phấn đấu đưa nước ta cơ bản thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020 NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2007 Trong khi có rất ít tài liệu trực tiếp đề cập đến nội dung này, cuốn sách tuy chưa thể nói là đầy đủ và mọi vấn đề đã được giải quyết thỏa đáng, nhưng đã tập trung được nhiều ý kiến bàn về những tiêu chí, những đặc điểm cơ bản của một nước công nghiệp vào năm 2020; và vì vậy có thể là một tài liệu tham khảo có giá trị

- Đối với nội dung định hướng những giải pháp cơ bản phát triển kinh

tế Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030, có:

Khác với các nội dung trên, có thể nói rằng, với nội dung định hướng những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn

2030, đến nay chưa có công trình chuyên khảo lớn nào dành riêng cho chủ đề này Tuy nhiên, một số ý kiến về những giải pháp cơ bản phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2010, 2020 cũng có thể tìm thấy rải rác trong nhiều tài liệu để tham khảo

Trên đây là tổng quan về một số công trình tiêu biểu mà đề tài có thể tham khảo, kế thừa và tiếp tục triển khai nghiên cứu

Trang 14

IV MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ PHẠM VI NGHIÊN CỨU

1 Mục tiêu, nhiệm vụ nghiên cứu

Đề tài nhằm thực hiện các mục tiêu chủ yếu sau:

- Phân tích tư duy phát triển của thế giới trên cơ sở phân tích, đánh giá và

dự báo bối cảnh, điều kiện và các xu hướng vận động của kinh tế, chính trị thế giới và khu vực tác động tới phát triển kinh tế Việt Nam trong thời kỳ đến 2030;

- Xác định xuất phát điểm của Việt Nam sau 20 năm đổi mới, tổng kết được những thành công, những hạn chế, những vấn đề bức xúc chưa được giải quyết; tìm ra nguyên nhân và bài học kinh nghiệm cho triển vọng phát triển kinh

tế Việt Nam thời kỳ đến 2030

- Đề xuất quan điểm và ý tưởng và phát triển của Việt Nam đến năm

2020, tầm nhìn 2030; định lượng những đặc điểm cơ bản của một nước công nghiệp vào năm 2020

- Định hướng những nhiệm vụ và giải pháp cơ bản phát triển kinh tế Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn 2030

2 Đối tượng nghiên cứu

Nghiên cứu về các vấn đề kinh tế, xã hội của Việt Nam và xu thế của kinh

tế thế giới có liên quan đến nền kinh tế Việt Nam

3 Phạm vi nghiên cứu của đề tài

a)- Phạm vi nghiên cứu về mặt không gian: Toàn bộ nền kinh tế quốc dân, các ngành kinh tế chủ yếu của Việt Nam và xu thế chung của thế giới

b)- Phạm vi về mặt thời gian: tư liệu số liệu hiện trạng chủ yếu cho thời

kỳ 2000-2010 và định hướng phát triển đến năm 2020 và tầm nhìn đến năm

2 Phương pháp nghiên cứu, kỹ thuật sử dụng:

Trang 15

Đề tài chủ yếu sử dụng các phương pháp nghiên cứu kinh tế truyền thống: Phân tích, tổng hợp, so sánh, thống kê Ngoài ra, áp dụng một số mô hình toán

để dự báo một số chỉ tiêu kinh tế Cụ thể:

a) Nghiên cứu tổng quan

- Sử dụng phương pháp thống kê, thu thập xử lý tài liệu, tư liệu để thu thập các tài liệu tại các cơ quan trung ương, các viện nghiên cứu kinh tế, các tổ chức tài chính trong và ngoài nước về kinh tế, xã hội Việt Nam và thế giới

Để nghiên cứu, đề tài đã dùng các phương pháp thống kê, thu thập xử lý tài liệu, tư liệu để thu thập các tài liệu và các chương trình, công trình đã công

bố về kinh tế Việt Nam, kinh tế các nước có liên quan và kinh tế thế giới; thu thập và phân tích các số liệu về các chỉ tiêu kinh tế vĩ mô, chỉ tiêu kinh tế ngành, các chỉ tiêu về xã hội, về môi trường để xác định những vấn đề cơ sở khoa học phân tích, đánh giá xuất phát điểm của nền kinh tế Việt Nam

- Sử dụng phương pháp phân tích hệ thống, so sánh và phân tích tổng hợp

để nghiên cứu tổng quan kết quả nghiên cứu của các tác giả có liên quan đến đề tài để rút ra bài học, có so sánh Việt Nam với quốc tế

b) Nghiên cứu thực địa, trong và ngoài nước

Sử dụng phương pháp phỏng vấn, khảo sát, thăm thực địa để học hỏi kinh nghiệm, đánh giá hiện trạng tự nhiên, kinh tế - xã hội và môi trường, hiệu quả

đầu tư và tác động của các chủ trương, chính sách… để thấy được thành tựu, yếu

kém và các nguyên nhân, bài học được rút ra qua quá trình tổng kết thực tiễn phát triển kinh tế-xã hội của Việt Nam

VI KẾT CẤU BÁO CÁO TỔNG HỢP ĐỀ TÀI

Nội dung báo cáo tổng hợp được chia thành 4 phần:

Phần thứ nhất: Xu hướng vận động của kinh tế thế giới và tác động của

nó đến triển vọng kinh tế của Việt Nam

Phần thứ hai: Hiện trạng phát triển và xuất phát điểm của kinh tế Việt

Nam qua hơn 20 năm đổi mới – Những thành công, chưa thành công và bài học kinh nghiệm

Phần thứ ba: Quan điểm, định hướng phát triển của Việt Nam đến năm

Trang 16

PHẦN THỨ NHẤT

XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA KINH TẾ THẾ GIỚI VÀ

TÁC ĐỘNG CỦA NÓ ĐẾN TRIỂN VỌNG KINH TẾ CỦA VIỆT NAM

I BỐI CẢNH QUỐC TẾ VÀ XU HƯỚNG VẬN ĐỘNG CỦA BỐI CẢNH QUỐC TẾ

1.1 Xu hướng tổng quát của bối cảnh quốc tế

Trong những năm gần đâu xu hướng phát triển của kinh tế thế giới và khu vực có nhiều chuyển biến tác động nhiều chiều đến phát triển kinh tế-xã hội và

an ninh chính trị cuả Việt Nam Trong những năm tới kinh tế thế giới tiếp tực chuyển biến nhanh với nhiều xu hướng mới Tình hình chính trị thế giới và khu vực sẽ tiếp tục diễn biến phức tạp, khó lường, những khó khăn lớn vẫn có thể kéo dài Quan hệ giữa các nước lớn đan xen cả hai mặt đấu tranh và thoả hiệp, song quyết định cuối cùng luôn xuất phát từ lợi ích quốc gia Hoà bình, hợp tác, hội nhập phát triển tiếp tục là xu thế chủ đạo, nhưng đồng thời vẫn tiềm ẩn các nhân tố mất ổn định do xung đột sắc tộc, tôn giáo, lãnh thổ, tranh giành tài nguyên và các hoạt động khủng bố ở một số nước Việc tranh chấp lợi ích giữa các nước lớn đối với khu vực và giữa một số nước trong khu vực có thể tăng lên, đặc biệt trên biển cùng với những vấn đề toàn cầu khác như đói nghèo, dịch bệnh, biến đổi khí hậu, các thảm họa thiên nhiên buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động

ASEAN vẫn là một nhân tố quan trọng đối với hoà bình, hợp tác, phát triển

ở khu vực Các nước ASEAN bước vào thời kỳ hợp tác mới theo Hiến chương ASEAN và xây dựng Cộng đồng dựa trên ba trụ cột: chính trị - an ninh, kinh tế, văn hóa - xã hội Hợp tác giữa ASEAN với các đối tác tiếp tục phát triển và đi vào chiều sâu Mặt khác, ASEAN cũng phải đối phó với những thách thức chung của khu vực

Việc mở rộng quan hệ giữa các nước trong khu vực với các nước Đông Bắc Á, hợp tác Á - Âu (ASEM) đang tạo ra cơ hội cho các nước trong khu vực trong đó có nước ta trong phát triển kinh tế, đồng thời cũng đặt ra những thách thức lớn do sự chênh lệch khoảng cách phát triển, trình độ sản xuất và công nghệ Việc hình thành những mối quan hệ hợp tác song phương, hợp tác tiểu khu vực đang là một xu thế khách quan đòi hỏi nước ta phải có những nỗ lực

Sự phát triển nhanh của khoa học công nghệ, xu thế toàn cầu hoá ngày càng mở rộng, tiếp tục chi phối đời sống kinh tế của các nước Châu Á- Thái Bình Dương vẫn là một khu vực phát triển năng động, trong đó Trung Quốc và

Ấn Độ có vai trò ngày càng lớn Sự phát triển của Trung quốc về khách quan, vừa tạo cơ hội, vừa đặt ra những thách thức to lớn cho tiến trình phát triển của

Trang 17

các quốc gia, nhất là những nước có nhiều mối liên hệ trực tiếp với Trung Quốc Tuy nhiên, trên bình diện chung, hình thái "cân bằng và hội nhập" giữa các trung tâm quyền lực, trong đó tam giác Trung-Nhật-Mỹ vẫn đóng vai trò chủ chốt ở khu vực này Các nhà phân tích chính trị nhận xét rằng, sức mạnh quân sự của Trung Quốc đã tăng lên, nhưng cách cư xử của Trung Quốc lại tỏ ra ôn hòa hơn trước đây Liên minh truyền thống Mỹ-Nhật vẫn hết sức quan trọng đối với sự

ổn định mang tính chiến lược ở khu vực Đông Á, nhưng giờ đây, phải có đủ ba cạnh mới tạo nên một tam giác

Kinh tế thế giới và khu vực có khả năng từng bước phục hồi phát triển song vẫn ẩn chứa các yếu tố bất ổn của khủng hoảng năng lượng do các nước sản xuất dầu mỏ chủ lực có thể vẫn tiếp tục ở trạng thái không ổn định, có nguy

cơ khủng bố cao, trong khi đó một số nền kinh tế có xu hướng phát triển quá

“nóng”, nhu cầu tiêu dùng về nhiên liệu quá cao Trong thời gian nước ta chưa đưa các cơ sở lọc - hoá dầu vào hoạt động, giá dầu lửa vẫn tiếp tục ảnh hưởng đến sản xuất, tiêu dùng trong nước

Trong giai đoạn 2011-2020, nguồn vốn FDI vào châu Á có thể tăng lên, tuy nhiên, dòng vốn chủ yếu vẫn tập trung vào Trung Quốc - đối thủ cạnh tranh của các nước Đông Nam Á Luồng vốn FDI vào nước ta có khả năng tăng do điều kiện thu hút các tập đoàn lớn vào đầu tư từng bước được cải thiện và cạnh tranh hơn

Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp với những biểu hiện tuy rất đa dạng, nhưng rất nhất quán về chiều

hướng: tòan cầu hóa và kinh tế tri thức Nhiều đặc điểm đặc trưng khác của thời

đại về cơ bản đều gắn liền với hai xu hướng lớn này Xu hướng toàn cầu hóa trên cơ sở của kinh tế thị trường chi phối chiều hướng vận động động chính của thể chế kinh tế toàn cầu Xu hướng toàn cầu hóa được sự hậu thuẫn bởi cuộc cách mạng khoa học – công nghệ hiện đại đã nhanh chóng thâm nhập vào mọi mặt hoạt động và đời sống ở mọi quốc gia

Sự phát triển mạnh mẽ của khoa học công nghệ và sự hình thành nền kinh

tế trí thức đang thúc đẩy quá trình cải cách và tái cấu trúc kinh tế ở từng nước và

sự ganh đua giữa các quốc gia trong quá trình phát triển Kinh tế tri thức với khoa học-công nghệ trở thành lực lượng sản xuất trực tiếp, có vai trò quyết định trong giá trị mới của sản phẩm hàng hóa và dịch vụ Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu càng đặt ra yêu cầu cải cách và tái cấu trúc kinh tế một cách cấp bách hơn Sau khủng hoảng kinh tế của nhiều nước và kinh tế toàn cầu sẽ có bước phát triển mới nhanh hơn

Quá trình toàn cầu gắn với sự dịch chuyển tự do các yếu tố của quá trình tái

Trang 18

sản xuất hàng hoá và dịch vụ từ nước này sang nước khác trên phạm vi toàn cầu làm thay đổi mô hình công nghiệp hoá Công nghiệp hoá thay thế nhập khẩu hay CNH hướng về xuất khẩu không còn nguyên nghĩa cổ điển của nó Muốn cạnh tranh được trên thị trường thế giới (xuất khẩu) trước hết phải cạnh tranh được trên thị trường trong nước (thay thế nhập khẩu) Vì vậy tiến trình công nghiệp hoá phải tạo ra các sản phẩm cạnh tranh dựa trên lợi thế so sánh dài hạn và quy

mô kinh tế trên tầm nhìn liên vùng, nhằm tham gia vào các công đoạn có giá trị gia tăng cao, có lợi nhuận lớn trong chuỗi giá trị toàn cầu

Cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu chưa từng có kể

từ sau chiến tranh thế giới lần thứ hai đến nay vừa xảy ra từ năm 2008 Cuộc suy thoái này tác động mạnh đến mọi nền kinh tế, trong đó có nước ta Tốc độ tăng trưởng vào những năm cuối thực hiện chiến lược 2001-2010 chậm lại, có thể làm chiến lược mới bị mất đà Kinh tế thế giới có thể khôi phục trong năm 2010

do quyết tâm của từng quốc gia cũng như cộng đồng thế giới Sau khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên Mặt khác, khủng hoảng làm giảm mạnh thương mại, đầu tư toàn cầu và trỗi dậy chủ nghĩa bảo hộ

Ô nhiễm môi trường và biến đổi khí hậu đang đe doạ cuộc sống nhân loại

Vì vậy, kế hoach phát triển kinh tế xã hội của bất cứ quốc gia nào cũng phải tính tới yếu tố này Trong tương lai xuất hiện khả năng mực nước biển dâng cao nếu quá trình hiệu ứng nhà kính vẫn sẽ tiếp tục và không được ngăn chặn thành công, khiến trái đất tiếp tục ấm lên làm tan băng ở hai cực của trái đất Cũng khó

dự báo mực nước biển sẽ tăng lên bao nhiêu và vào những thời điểm cụ thể nào, nhưng nếu mức nước biển dâng cao hơn hiện tại từ 1 mét trở lên, phần đất nổi sẽ

bị thu hẹp lại Nhiều quốc gia sẽ có mật độ dân số trên phần đất nổi đông đúc hơn Nhiều hệ lụy sẽ nảy sinh do hiện tượng này

Nhu cầu sử dụng năng lượng sẽ tăng rất nhanh ở các nền kinh tế chuyển đổi (Trung Quốc, Nga, các nước Đông Âu ), trong khi đó, nếu các nguồn năng lượng truyền thống (dầu mỏ, than đá ) không được phát hiện thêm, nếu các nguồn năng lượng mới thay thế hoặc bù đắp không được phát hiện ra, thì tương lai thị trường năng lượng sẽ khan hiếm Quan hệ kinh tế và chính trị thế giới sẽ phải tính tới yếu tố năng lượng buộc các nuớc phải tái cơ cấu nền kinh tế và thay đổi mô hình tăng trưởng theo hướng tiết kiệm nguyên liệu, năng lượng trên cả cấp độ quốc gia và doanh nghiệp

Trang 19

1.2 Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục phát triển mạnh với những nét mới

cả về quy mô, mức độ và hình thức biểu hiện với những tác động tích cực

và tiêu cực, cơ hội và thách thức đan xen rất phức tạp

Toàn cầu hóa kinh tế tiếp tục là xu thế lớn, phát triển mạnh cả chiều rộng lẫn chiều sâu và tác động đến mọi hoạt động kinh tế - xã hội của các quốc gia Quá trình toàn cầu hóa kinh tế gắn liền với sự bùng nổ của cuộc cách mạng khoa học công nghệ mới, nhất là sự phát triển mạnh mẽ của công nghệ thông tin, trong đó khoa học-công nghệ là động lực quan trọng nhất Toàn cầu hóa sắp tới là hệ quả của những biến đổi mang tính cách mạng trong các lĩnh vực công nghệ mới, nhất là thông tin và truyền thông Các nhân tố công nghệ - kỹ thuật, thông tin và tiền vốn lưu chuyển xuyên quốc gia trở thành động lực thúc đẩy quá trình toàn

cầu hóa Như vậy, cũng có thể nói xu thế toàn cầu hóa kinh tế bắt nguồn từ sự

phát triển của lực lượng sản xuất, từ tính chất xã hội hóa của lực lượng sản xuất

đã diễn ra quy mô toàn cầu Toàn cầu hóa ngày nay là sản phẩm của sự phát triển và văn minh nhân loại và do đó, nó là cơ hội để mọi quốc gia đón nhận, tự nguyện hội nhập và góp sức mình thúc đẩy sự phát triển toàn cầu Hiện nay hầu như không có quốc gia nào đứng ngoài làn sóng toàn cầu hóa mới Nhu cầu tăng cường phối hợp giữa các quốc gia để đối phó với các thách thức kinh tế toàn cầu (nguy cơ khủng hoảng, an ninh năng lượng, biến đổi khí hậu và nước biển dâng V.v ) cũng là động lực quan trọng thúc đẩy toàn cầu hóa kinh tế

Toàn cầu hóa kinh tế trong thập kỷ tới có thể có những đặc điểm sau:

Thứ nhất, toàn cầu hóa kinh tế được biểu hiện nổi bật ở sự gia tăng nhanh

chóng các luồng giao lưu quốc tế về thương mại, đầu tư, tài chính, công nghệ, dịch vụ, lao động trong đó, toàn cầu hóa về tài chính là đặc trưng nổi bật chi phối các tiến trình tự do hóa về thương mại, dịch vụ và đầu tư, tạo thành một mạng lưới rộng khắp trên quy mô toàn cầu Sự phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và mức độ gắn kết, tùy thuộc lẫn nhau của các nền kinh tế ngày càng chặt chẽ làm cho thế giới ngày càng “phẳng” hơn Kinh tế tri thức phát triển mạnh và do đó, con người và tri thức trở thành nhân tố quyết định sự phát triển của mỗi quốc gia Quá trình tái cấu trúc các nền kinh tế và điều chỉnh các thể chế tài chính toàn cầu sẽ diễn ra mạnh mẽ, gắn với những bước tiến mới về khoa học, công nghệ và sử dụng tiết kiệm năng lượng, tài nguyên Sự liên kết ngày càng chặt chẽ giữa các nền kinh tế một mặt tạo ra nhiều cơ hội hợp tác phát triển thương mại, đầu tư v.v Mặt khác tùy thuộc lẫn nhau khiến các biến động tiêu cực và khủng hoảng kinh tế dễ lan tỏa và tác động sâu rộng hơn Các thể chế tài chính quốc gia, khu vực và thế giới gắn kết với nhau trong một thể vừa thống nhất, vừa mâu thuẫn và chi phối lẫn nhau Cũng chưa bao giờ, yêu cầu về cấu trúc lại hệ thống thương mại và tài chính toàn cầu đặt ra bức bách như bây giờ

Trang 20

Thứ hai, cuộc cánh mạnh công nghệ thông tin (CNTT) đã đua thế giới

đang chuyển sang một kỷ nguyên số đặc trưng bởi sự hình thành xã hội thông tin với nền kinh tế tri thức cùng với xu thế toàn cầu hóa nhanh chóng Về kinh tế, công nghệ thông tin sẽ thúc đẩy sự gia tăng mạnh mẽ tính phụ thuộc lẫn nhau giữa các nền kinh tế và quản lý vĩ mô dưới sự hỗ trợ của công nghệ thông tin,

trở thành yếu tố có tính chất quyết định tương lai phát triển của nó Sự phát triển

của kỹ thuật viễn thông và công nghệ thông tin đã cung cấp những phương tiện hoàn hảo hơn để áp dụng phổ biến trong mọi lĩnh vực quản lý và theo đó, đã trở thành phương tiện lưu chuyển tiền vốn toàn cầu Như vậy, tính chất xã hội hóa sản xuất quy mô lớn trên phạm vi toàn cầu xác lập vai trò quyết định và tính năng động của công tác quản lý CNTT làm gia tăng mạnh mẽ năng xuất lao động trong mọi ngành kinh tế, mở ra những cơ hội phát triển về thgị trường lao động, thị trường vốn, thị trường sản phẩm toàn cầu Toàn cầu hóa bắt buộc mọi nền kinh tế đều tham gia vào một kiểu thị trường thế giới thống nhất - một “sân chơi chung” bình đẳng cho mọi nền kinh tế, bất kể đó là nền kinh tế thuộc trình

độ vào xuất phát điểm phát triển như thế nào

Thứ ba, sự phát triển kinh tế toàn cầu từng bước hình thành luật pháp, các

quy định, các tiêu chuẩn và chính sách xuyên quốc gia Chính phủ các nước khi chế định luật phát, chính sách, lộ trình thực hiện các cải cách kinh tế - xã hội đều phải tính đến tác động của bối cảnh quốc tế và khu vực Bởi lẽ trong nền kinh tế toàn cầu, quốc gia dân tộc có chủ quyền không còn là chủ thể duy nhất có vai trò chế định chính sách kinh tế mà là sự hiện diện đồng thời và ngày càng nổi bật của 5 chủ thể cùng đảm nhận vai trò này Đó là: quốc gia dân tộc có chủ quyền, các khối kinh tế khu vực (ví dụ ASEAN, EU ); các thể chế kinh tế quốc tế (IMF, WB, WTO ), các công ty xuyên quốc gia (TNCs) và các tổ chức phi chính phủ (NGOs)

+ Các công ty xuyên quốc gia với cấu trúc hoạt động theo mô hình mạng lưới, cắm nhánh, cắm văn phòng đại diện ở tất cả các quốc gia và khu vực, tự nó

đã là những tế bào kết nối nền kinh tế thế giới thành một hệ thống toàn cầu Ngày nay, với tính cách là các tập đoàn kinh tế - tài chính hùng mạnh, nhiều TNC đã có giá trị tài sản lớn hơn GDP của nhiều nước lớn

+ Nhà nước là chủ thể quan trọng nhất nắm quyền quyết định về quản lý kinh tế vĩ mô nhằm đảm bảo lợi ích và tính tự cường quốc gia trong toàn cầu hóa kinh tế Nhà nước với chức năng của mình thể hiện cách thức và bước đi của một quốc gia trong hội nhập vào làn sóng toàn cầu hóa kinh tế Chính toàn cầu hóa kinh tế thúc đẩy quá trình dân chủ hóa và pháp quyền hóa nhà nước bởi chỉ có như vậy, nhà nước mới thể hiện được vai trò, chức năng quản lý các lĩnh

Trang 21

vực của đời sống xã hội, phối hợp được với các chủ thể khác nhau và tạo ra được các điều kiện thực tế để thích ứng hiệu quả hơn với toàn cầu hóa kinh tế

+ Các thể chế kinh tế khu vực và quốc tế đang trở thành những chủ thể quan trọng trong các quan hệ kinh tế quốc tế và xử lý các vấn đề toàn cầu Hầu hết các tổ chức, thể chế liên kết khu vực và toàn cầu đều hướng tới mục tiêu thực hiện tự do hóa thương mại, đầu tư, dịch vụ ở những mức độ khác nhau

và đưa ra các chương trình cắt giảm, tiến tới xóa bỏ các rào cản thuế quan và phi thuế quan trong từng định chế WTO đang trở thành sân chơi mà mọi quốc gia “bắt buộc” phải tham gia để đảm bảo các điều kiện cho sự phát triển của mình

+ Các chủ thể phi Chính phủ (NGOs) tiếp tục phát triển mạnh mẽ và tham gia ngày càng tích cực, chủ động hơn trong hoạt động quốc tế Xu thế này tạo sức ép lên các nhà nước trong giải quyết các vấn đề toàn cầu, đặc biệt là các vấn đề liên quan đến kinh tế, xã hội và môi trường; đồng thời đóng vai trò tích cực thúc đẩy hợp tác, liên kết kinh tế quốc tế và giải quyết các vấn đề chung ở tầm quốc gia, khu vực và toàn cầu NGO ra đời như là sự bổ sung quan trọng cho sự phát triển kinh tế - xã hội của thế giới khi tầm với của các chủ thể quốc gia, khu vực và toàn cầu - vì những lý do khác nhau - đã không thể đến được với các mặt hoạt động như dự án giảm nghèo, phát triển giáo dục, nâng cao năng lực quản lý, sự phát triển ở các địa phương, các chương trình phát triển về giới Trong điều kiện toàn cầu hóa, đây là những điều kiện rất quan trọng để gia tăng sự tham gia của người dân vào các quá trình phát triển chung Do vậy, tuy hoạt động độc lập với các chính phủ, các NGO ngày nay đã có quan hệ mật thiết với hoạt động của các chính phủ, kể cả các hoạt động về tư vấn chính sách Năm chủ thể này trên thực tế luôn ảnh hưởng lẫn nhau, ràng buộc, hợp tác

và thậm chí có thể có những bất hòa và xung đột với nhau

Thứ tư, trong nền kinh tế toàn cầu hóa, xu hướng liên kết khu vực và quốc

tế được đẩy mạnh hơn bao giờ hết cả về tính đa dạng của cấp độ phát triển, cả về

sự khác biệt các đặc điểm địa chính trị, địa kinh tế cùng những ảnh hưởng của đặc tính văn hóa đang làm cho các hình thức hội nhập kinh tế trở nên nhiều vẻ

và rất phong phú về nội dung Sau khủng hoảng tài chính - kinh tế toàn cầu, thế giới sẽ bước vào một giai đoạn phát triển mới Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới Sự trỗi dậy của Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế đang nổi như Nga, Braxin, Mexico, Nam Phi, v.v làm cho toàn cầu hóa kinh tế thay đổi và giảm sự chi phối của các nước phương Tây hơn, vai trò của các nước đang phát triển tăng lên rõ rệt Vị thế của Châu Á trong nền kinh tế thế giới đang tăng lên Tương quan lực lượng kinh tế mới tạo sức ép các thể chế kinh tế toàn cầu (LHQ,

Trang 22

WTO, IMF, WB, G8.v.v ) phải cải cách, điều chỉnh “luật chơi” theo hướng cân bằng hơn quan hệ Bắc - Nam, thể hiện nhiều hơn tiếng nói của các nước đang phát triển mà đi đầu là nhóm BRIC (Braxin, Nga, Ấn Độ, Trung Quốc) và nhóm G-20 Nhiều tổ chức liên kết kinh tế khu vực (EU, MECOSUR, ASEAN, v.v ) cũng phải điều chỉnh mạnh để thích ứng với xu thế vận động của kinh tế thế giới

và khu vực Xuất hiện ngày càng nhiều công ty đa xuyên quốc gia (MNC/TNC), đặc biệt là các MNC/ TNC có xuất xứ từ các nền kinh tế đang nổi, thách thức và cạnh tranh quyết liệt với các MNC/ TNC của các nước phát triển Mặt khác, khủng hoảng còn để lại hậu quả nặng nề, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế Kinh tế thế giới tuy đã bắt đầu phục hồi nhưng

đà tăng trưởng trong những năm đầu còn yếu, độ rủi ro và tính bất định còn rất lớn

Thứ năm, các nền kinh tế mới nổi đang nỗ lực tranh thủ mọi cơ hội và

nhiều lợi ích của toàn cầu hóa kinh tế về khả năng tiếp cận và sử dụng hiệu quả nguồn vốn và công nghệ mới để thu hẹp khoảng cách với các nước phát triển Những nước không có chiến lược phát triển công nghệ phù hợp sẽ đối phó nguy

cơ tụt hậu ngày càng lớn Trong số các nước đang phát triển, nhóm BRIC có nhiều lợi thế và vị thế tốt để tham gia sáng tạo công nghệ mới như các nước phát triển, qua đó ngày càng nâng cao vị thế trong bản đồ kinh tế toàn cầu Châu Âu đứng trước nguy cơ bị Châu Á vượt qua trong một số lĩnh vực công nghệ Mỹ tuy vẫn dẫn đầu về công nghệ nhưng phải cạnh tranh gay gắt hơn với Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, Ấn Độ, Nhật Bản và Hàn Quốc

Thứ sáu, các vấn đề toàn cầu như an ninh năng lượng, môi trường, thay

đổi khí hậu, chống đói nghèo, v.v… ngày càng trở thành mối quan tâm lớn, tác động mạnh mẽ đến quan hệ giữa các quốc gia Các vấn đề toàn cầu làm xuất hiện ngày càng nhiều công cụ mặc cả mới trong quan hệ quốc tế (lương thực, năng lượng, khí thải carbon v.v.) và các hình thức chạy đua mới về an ninh năng lượng, an ninh lương thực v.v…, đồng thời cũng là động lực thúc đẩy hợp tác quốc tế nhằm đối phó hiệu quả với các thách thức này

1.3 Sự phát triển mạnh mẽ của KHCN và cuộc cánh mạng CNTT sẽ thúc đẩy nhanh kinh tế thế giới chuyển sang phát triển kinh tế tri thức, phân công lao động quốc tê theo “chuỗi giá trị” toàn cầu, tạo lợi thế phát triển mới và thời cơ "nhảy vọt" cho các nền kinh tế đi sau

Kinh tế thế giới đang phát triển trong những điều kiện và bối cảnh mới, với hai xu hướng lớn bao trùm là toàn cầu hóa và chuyển sang kinh tế tri thức Theo hai xu hướng đó, nền kinh tế thế giới đang chuyển đổi sâu sắc và toàn diện, cả về trình độ công nghệ, cơ cấu sản phẩm lẫn thể chế kinh tế Tính chất toàn diện và sâu sắc của quá trình này cho phép đề cập đến bước chuyển sang

Trang 23

một thời đại phát triển kinh tế mới của loài người, trên phạm vi toàn thế giới - thời đại kinh tế tri thức - toàn cầu hóa

Đối với bước chuyển từ thời đại công nghiệp cơ khí lên thời đại kinh tế tri thức, với lợi thế tri thức - trí tuệ con người (công nghệ cao là một dạng kết tinh vật chất của sức mạnh này) là sự hiện diện của một lực lượng sản xuất mới về chất, đóng vai trò quyết định quá trình phát triển của thế giới hiện đại Trong nền kinh tế tri thức, lợi thế phát triển cơ bản của bất cứ chủ thể kinh tế nào - nền kinh tế quốc gia, doanh nghiệp hay cá nhân - cũng đều là trí tuệ con người, người nào có lợi thế về tri thức và công nghệ cao, người đó sẽ thắng trong cuộc đua tranh phát triển Nói cách khác, nước nào chuyển nhanh và mạnh sang các ngành công nghệ cao, sang việc sản xuất tri thức - công nghệ cao, nước đó sẽ tạo

ra bước tiến thần kỳ

Cách mạng KHCN tiếp tục phát triển mạnh mẽ, nhất là trong lĩnh vực công nghệ mới: công nghệ nano, công nghệ vi sinh, công nghệ thông tin và truyền thông, tự động hóa, năng lượng mới và vật liệu mới v.v… Sự bùng nổ phát triển các ngành công nghệ cao, đặc biệt là các ngành công nghệ thông tin

và truyền thông Sự “lên ngôi” của nền kinh tế thông tin là dấu hiệu chỉ báo rõ nhất cho quá trình chuyển đổi thời đại công nghệ Công nghệ cao chẳng những đóng vai trò trụ cột và xương sống cho tiến bộ KHCN mà còn đảm bảo sức cạnh tranh và tăng trưởng dài hạn của nền kinh tế Nó tạo thành động lực mạnh cho

sự tăng trưởng kinh tế chung, đồng thời, kết nối tăng trưởng toàn cầu và tạo sự lan tỏa phát triển mạnh mẽ trên toàn thế giới Sự phát triển của KHCN hướng vào giải quyết các vấn đề năng lượng, nguyên liệu và môi trường, trong đó tập trung giải quyết mâu thuẫn giữa yêu cầu phát triển nhanh với sự khan hiếm và cạn kiệt các nguồn tài nguyên, năng lượng; mâu thuẫn giữa phát triển và bảo vệ môi trường sinh thái, ứng phó với biến đổi khí hậu Sự phát triển đột phá của KHCN có thể tác động lớn đến cán cân lực lượng kinh tế, chính trị, an ninh toàn cầu

Sự phát triển mạnh mẽ kinh tế tri thức trên nền tảng phát triển của KHCN

và tin học hóa tạo ra các cơ hội và thách thức mới đối với các nước Nguồn nhân lực chất lượng cao có năng lực sáng tạo là lợi thế cạnh tranh động mới sáng tạo

ra có vai trò quyết định trong cạnh tranh kinh tế Do đó, trong nền kinh tế tri thức, con người và trí tuệ của con người là nguồn lực phát triển quan trọng nhất giúp cho các nước đi sau có thể đi tắt đón đầu, tiến thẳng vào các lĩnh vực hiện đại, có hàm lượng công nghệ cao, rút ngắn thời gian công nghiệp hóa so với các nước đi trước nếu có được tư duy CNH dựa vào nguồn nhân lực có trình độ và chất lượng cao Do đó, chuyển sang mô hình kinh tế tri thức dựa vào công nghệ

Trang 24

cao, sử dụng hiệu quả tài nguyên và bảo vệ môi trường là xu thế tất yếu khách quan

Đặc trưng của LLSX hiện đại là sự khẳng định vai trò quyết định của tiến

bộ KHCN, là ở chỗ biến KHCN trở thành LLSX trực tiếp, sự phát triển được gắn bó hữu cơ với quá trình toàn cầu hoá, nhờ vậy, cuộc cách mạng KHCN mới

đã thúc đẩy sự hình thành không chỉ các LLSX hùng mạnh của từng quốc gia

mà còn mang tính chất toàn cầu Nếu như cuộc cách mạng công nghiệp trong các thế kỷ XVIII - XIX tạo ra nền đại công nghiệp cơ khí, thì cuộc cách mạng KHCN trong nửa sau thế kỷ XX tạo ra các ngành công nghiệp trí tuệ, toàn cầu hóa Nội dung của cuộc cách mạng KHCN mới là tập trung phát triển các ngành công nghệ cao, mà trọng tâm là ngành CNTT Điều này chẳng những làm thay đổi căn bản nền tảng cơ sở vật chất - kỹ thuật của sản xuất, mà còn làm cho nền kinh tế thế giới với cơ cấu kỹ thuật - công nghệ mới đang có sự tiến bộ vượt bậc trên rất nhiều lĩnh vực như: công nghệ sinh học, công nghệ vật liệu mới, phát triển các nguồn năng lượng mới và cuối cùng CNTT Ngành CNTT tuy ra đời không lâu chỉ vài ba thập kỷ trở lại đây, nhưng có tốc độ phát triển nhanh chóng vào bậc nhất, góp phần quyết định cho tăng trưởng và làm chuyển dịch mạnh mẽ

cơ cấu kinh tế - xã hội CNTT là ngành có vai trò tổng hợp trong sự tác động giữa con người với quá trình sản xuất và các hoạt động khác; nó hỗ trợ đắc lực cho công tác quản lý xã hội, điều khiển và ra quyết định kinh doanh; cho phép tích hợp và phát triển các nghiên cứu khoa học cũng như phổ cập, khuyếch trương các tri thức; cuối cùng, tạo ra lợi thế cho các quốc gia về tri thức, thông tin như là nguồn lực chủ yếu của phát triển kinh tế hiện đại

Cùng với CNTT, các ngành công nghệ cao phát triển làm chuyển biến về chất nền công nghiệp truyền thống thành “nền công nghiệp không khói” Tương ứng, nó còn làm thay đổi mô thức và bước đi của CNH: đó là CNH bắt buộc phải gắn với hiện đại hóa, nhưng lại không nhất thiết phải tuần tự trải qua các bước của con đường CNH cổ điển nặng nề và tốn kém, mà có thể rút ngắn và đi thẳng vào phát triển các ngành công nghệ cao, kỹ thuật hiện đại Do đó, cho phép các nước chậm phát triển có thể tăng tốc, bứt phá và thực hiện chiến lược CNH, HĐH rút ngắn

Trên cơ sở ứng dụng CNTT và công nghệ cao đã xuất hiện những ngành mới có nhiều giá trị gia tăng, chứa hàm lượng tri thức và tỷ lệ R&D lớn trong sản phẩm Tổng hợp nhiều ngành như vậy sẽ hình thành nền kinh tế tri thức: nền kinh tế lấy việc sản xuất và lưu thông nguồn lực tri thức làm chủ đạo Trong nền kinh tế tri thức, sáng tạo là tối cần thiết và trở nên sôi động như: sáng tạo công nghệ mới, sản phẩm mới, thị trường mới, dịch vụ mới, phương pháp quản lý mới, hình thức tổ chức mới Tri thức trở thành nguồn vốn quý nhất và quyền sở

Trang 25

hữu trí tuệ là quan trọng nhất, do đó, đầu tư vào phát triển nhân lực - tri thức đem lại nhiều lợi ích Trong sự đối lập với nền kinh tế thị trường và xã hội công nghiệp, nền kinh tế tri thức và xã hội hậu công nghiệp có đặc trưng là: vai trò quyết định thuộc về nhân tố “tri thức” thay cho nhân tố “tư bản” truyền thống, các quy luật phi kinh tế thị trường (KTTT) nảy sinh gắn với việc quản lý các nguồn lực dồi dào (thông tin và tri thức vô hạn) thay cho các quy luật KTTT gắn với việc quản lý các nguồn lực khan hiếm

Ngành dịch vụ là một ngành đầy triển vọng, đang vươn lên chiếm tỷ trọng ngày càng lớn trong GDP, làm biến đổi cơ cấu sản xuất - tiêu dùng, lối sống và điều kiện làm việc cũng như thay đổi hình ảnh về một xã hội dịch vụ gắn liền với sự tiện nghi, thoải mái, nhằm đáp ứng yêu cầu cao về đời sống vật chất - tinh thần phong phú và phát triển con người toàn diện, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo Dự báo, nếu như cuộc cách mạng công nghiệp hồi thế kỷ trước đã chuyển 70% dân cư từ nông nghiệp sang công nghiệp, thì cuộc cách mạng dịch

vụ lần này sẽ phải chuyển tỷ lệ tương tự dân cư từ các ngành sản xuất vật chất vào lĩnh vực dịch vụ Đặc trưng của khu vực dịch vụ là sử dụng lao động tri thức

và các nhà bác học, hình thành những thành phố khoa học - dịch vụ Các ngành dịch vụ - phi sản xuất vật chất bao gồm nghiên cứu khoa học, các dịch vụ du lịch, bảo hiểm, tài chính - ngân hàng, quảng cáo và thương mại - bán hàng, tư vấn và hỗ trợ pháp lý cũng phát triển mạnh, làm điều kiện và hỗ trợ tích cực cho khu vực sản xuất vật chất Nền kinh tế hiện đại không thể hoạt động, phát triển nếu thiếu các ngành dịch vụ

Xu thế này đặt các nước đang tiến hành CNH phải đổi mới tư duy CNH:

(i) nhanh chóng chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ mô hình phát triển truyền thống chủ yếu dựa vào tăng khối lượng đầu tư, khai thác tài nguyên là chủ yếu sang mô hình phát triển theo chiều sâu dựa chủ yếu vào tri thức, công nghệ, nguồn nhân lực chất lượng cao và bảo vệ môi trường (ii) Coi phát triển tri thức, công nghệ là then chốt để thoát khỏi tình trạng kém phát triển, thu hẹp khoảng

cách phát triển Muốn thu hẹp khoảng cách phát triển, trước hết phải rút ngắn khoảng cách về tri thức và công nghệ để năng cao chất lượng tăng trưởng; đẩy

nhanh tăng trưởng GDP để rút ngắn nhanh được khoảng cách (iii) Tích cực và chủ động mở cửa, hội nhập quốc tế song song với đẩy mạnh cải cách trong

nước, nâng cao sức cạnh tranh và chất lượng tăng trưởng là phương thức chủ yếu của chiến lược phát triển

1.4 Hệ thống phân công lao động quốc tế mới và khả năng đột phá phát triển trong "mạng sản xuất toàn cầu", phương thức phân bổ nguồn lực theo “chuỗi giá trị” toàn cầu phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế thế giới hiện nay cũng như trong nhiều năm tới

Trang 26

Toàn cầu hóa tạo ra một cấu trúc mới cho quá trình phát triển - cấu trúc mạng kinh tế toàn cầu Toàn cầu hóa đồng nghĩa với quá trình tự do hóa di chuyển các nguồn lực Nhờ các rào cản đối với sự vận động của các nguồn lực được dỡ bỏ bằng nhiều cách và với tốc độ ngày càng nhanh, các nguồn lực ngày càng vận động theo nguyên lý tự nhiên: “nước chảy chỗ trũng” Nước nào, doanh nghiệp nào càng chứng tỏ được lợi thế sử dụng nguồn lực hiệu quả hơn thì nguồn lực sẽ được đổ về đó càng nhanh và càng nhiều Nước nào có điều kiện kinh doanh tốt hơn - bao gồm các điều kiện tự nhiên - vật chất (nguồn nhân lực rẻ, nhân lực chất lượng cao, nguồn tài nguyên phong phú, giàu có và dễ khai thác,v.v.) sẵn có hơn và môi trường kinh doanh thuận lợi hơn (bình đẳng, minh bạch,v.v hơn), nước đó sẽ có ưu thế trội bật để thu hút các nguồn lực từ bên ngoài Tất nhiên, cơ hội đó cũng bao hàm mặt thách thức: nguồn lực đổ vào nhanh thì sinh ra càng nhiều hiệu ứng không trông đợi Đồng nội tệ được định giá quá cao hoặc sự tăng giá tài sản theo kiểu bong bóng Đó là chưa kể đến tình huống vốn vào nhanh thì cũng có thể “tháo chạy” nhanh, thậm chí còn nhanh hơn Khi đó, thay vì khả năng bùng nổ, nền kinh tế đối mặt với thảm họa sụp đổ Kết cấu mạng của nền kinh tế thế giới hiện đại không đơn thuần là một mạng

“phẳng” như trước đây Nhờ các công nghệ hiện đại, trước hết là công nghệ thông tin - viễn thông, mạng kinh tế hiện đại có cấu trúc của một “mạng không gian toàn cầu” Đây là một hình thái cấu trúc mới của nền kinh tế thế giới hiện đại Nó dựa vào bộ khung là hệ thống phân công lao động quốc tế mới: phân công trong mạng lưới toàn cầu và hình thành một mạng lưới toàn cầu Thế giới đang chuyển từ hình thái phân công lao động giữa các doanh nghiệp thuộc những quốc gia khác nhau, chủ yếu diễn ra trong phạm vi một quốc gia sang hình thái phân công lao động theo chuỗi, dựa trên lợi thế so sánh toàn cầu, được quá trình tự do hóa thương mại và đầu tư dẫn dắt thông qua hoạt động toàn cầu của các công ty, trong đó, nhân vật chính là các công ty xuyên quốc gia (TNCs) Nguyên lý chi phối hoạt động của hệ thống phân công lao động này là nguyên lý

"chuỗi cung ứng" hay "chuỗi giá trị gia tăng" toàn cầu Trong xu thế tự do hóa thương mại, đầu tư và di chuyển lao động, kinh tế thế giới vận hành hệ thống

phân công lao động quốc tế mới: kết nối mạng sản xuất - kinh doanh toàn cầu theo quy trình công nghệ Trong mạng sản xuất - kinh doanh này, nền kinh tế thế giới trở thành tổ hợp của vô số “chuỗi giá trị” toàn cầu, mỗi chuỗi là một hệ quy

trình sản xuất - kinh doanh ra một sản phẩm Quy trình này được vận hành theo nguyên tắc nước nào thực hiện tốt nhất một khâu nào đó của quy trình thì các nguồn lực (lao động, vốn, công nghệ) sẽ chuyển đến nước đó Tức là mỗi nền kinh tế đảm nhiệm một hay một số khâu trong quy trình mà nền kinh tế đó có lợi

thế nhất để thực hiện

Trang 27

Phương thức phân bổ nguồn lực theo “chuỗi giá trị” toàn cầu phù hợp với trình độ phát triển của kinh tế thế giới hiện nay cũng như trong nhiều năm tới Phương thức này quy định nguyên tắc cơ bản để mỗi nền kinh tế gia nhập

“mạng sản xuất” toàn cầu là nền kinh tế đó phải được tổ chức và phát triển thích ứng với các “chuỗi giá trị” toàn cầu, dựa vào lợi thế và định hướng tạo ra lợi thế

để hội nhập Điều này hàm chứa gợi ý thiết thực cho các nước đang tiến hành

CNH, HĐH: (i) Phải hội nhập quốc tế toàn diện và sâu rộng để tiếp cận thành quả phát triển của thế giới nhằm có thể "rút ngắn" quá trình CNH, HĐH (ii)

muồn tham gia "chuỗi giá trị" toàn cầu, phải tạo lập một cơ cấu ngành dựa trên lợi thế so sánh cả tĩnh và động của mình theo quy trình công nghệ, nỗ lực đưa quốc gia lên các thang bậc công nghệ trong “chuỗi giá trị" toàn cầu Trong mạng này, mỗi nền kinh tế quốc gia, mỗi chủ thể phát triển chỉ là một bộ phận hữu cơ, một “vùng lãnh thổ” hay một “nút” mạng Trong mạng toàn cầu, biên giới quốc gia không còn là giới hạn chủ yếu quy định không gian phát triển của các chủ thể kinh tế Điểm khác biệt là ở chỗ các quá trình đó diễn ra trên cơ sở kết nối mạng toàn cầu và bị chi phối ngày càng mạnh bởi các quy tắc, luật lệ toàn cầu Toàn cầu hóa là một cơ hội lớn để các nước đi sau nhanh chóng gia nhập vào quỹ đạo phát triển hiện đại, tiếp cận sớm đến các thành tựu phát triển cao của loài người để giải quyết các vấn đề phát triển của mình (tăng trưởng, việc làm, nâng cao trình độ công nghệ - kỹ thuật Nhưng toàn cầu hoá cũng đồng nghĩa với cạnh tranh quốc tế trong một môi trường bình đẳng Các nền kinh tế, không phân biệt trình độ và năng lực, đều cạnh tranh trên một mặt bằng và theo các quy tắc chung Trong bối cảnh đó, các nền kinh tế đi sau thường kém thế cạnh tranh hơn, do đó, chịu nhiều bất lợi và thách thức

1.5 Tương quan sức mạnh của các nền kinh tế và cục diện phát triển kinh tế toàn cầu thay đổi với sự xuất hiện những liên kết mới, kinh tế thế giới chuyển dần sang một hệ thống kinh tế đa cực hơn

Xu thế chuyển dịch cán cân kinh tế toàn cầu có tác động rất lớn đến chiều hướng phát triển của kinh tế thế giới.Mỹ tiếp tục thực hiện ý đồ chiến lược, đơn phương thiết lập thế giới một cực, song đang và sẽ vấp phải sự phản kháng ngày một mạnh mẽ hơn từ nhiều nước Quan hệ giữa các nước lớn đan xen cả hai mặt đấu tranh và thoả hiệp, song quyết định cuối cùng luôn xuất phát từ lợi ích quốc gia Khủng bố và chống khủng bố tiếp tục là vấn đề quốc tế lớn, mang dáng dấp

hệ thống và có xu thế lan toả ở một số quốc gia; đang và sẽ ảnh hưởng đến động thái đầu tư, tiêu dùng của nhiều nước trên thế giới Tình hình các điểm nóng trên thế giới chưa có dấu hiệu dịu đi, thậm chí còn có nguy cơ bùng nổ và lan rộng; chiến tranh cục bộ, xung đột, chạy đua vũ trang, khủng bố còn xảy ra nhiều nơi với qui mô, mức độ khác nhau

Trang 28

Các nước lớn với tư cách là những trung tâm kinh tế, khoa học công nghệ lớn mạnh sẽ thay đổi chiến lược liên kết và gây ảnh hưởng trên phạm vi rộng lớn Sự trỗi dậy mạnh mẽ của một số nền kinh tế đang phát triển như nhóm “tứ cường” BRIC (Trung Quốc, Ấn Độ, Nga, Braxin), nhóm N-11 (Bangladesh, Ai Cập, Indonesia, Iran, Hàn Quốc, Mêhicô, Nigeria, Pakistan, Philipin, Thổ Nhĩ

Kỳ, Việt Nam.), nhóm VISTA (Việt Nam, Indonesia, Nam Phi, Thổ Nhĩ Kỳ và Argentina.), v.v… đang phát triển mạnh sẽ tạo nên sự thay đổi sâu sắc trong tương quan sức mạnh và cục diện kinh tế toàn cầu Mỹ vẫn giữ vai trò số 1 thế giới về kinh tế và khoa học- công nghệ, nhưng tỷ trọng kinh tế Mỹ trong kinh tế thế giới giảm dần, một số nền kinh tế lớn khác đang trỗi dậy và thu hẹp khoảng cách với Mỹ Sự xuất hiện nhóm “tứ cường” này phản ánh sự thay đổi sâu sắc đang diễn ra trong tương quan sức mạnh và cục diện kinh tế toàn cầu: lần đầu tiên trong vòng hai thế kỷ trở lại đây, có những nền kinh tế đang phát triển trở thành “cường quốc kinh tế”; nhờ đó, xác lập vị thế mặc cả và khả năng can thiệp đáng kể của mình vào các quá trình kinh tế toàn cầu Sự thay đổi tương quan này còn bao hàm sự bùng nổ cơ hội do các nền kinh tế đang phát triển tạo ra trên cơ

sở dịch chuyển cơ cấu cơ hội phát triển trên phạm vi toàn cầu, cả về cơ hội cơ cấu ngành - sản phẩm (theo chuỗi giá trị gia tăng) lẫn cơ cấu cơ hội theo vùng địa lý

Trước hết, sự thịnh vượng và ổn định về lâu dài của thế giới ngày càng phụ thuộc vào vai trò của châu Á Điều này sẽ lại phụ thuộc vào bản chất của sự gắn kết của Trung Quốc vào Mỹ và các nước lớn có ảnh hưởng ở châu Á như Nhật Bản, Ấn Độ, Indonesia, Hàn Quốc và Australia Trung Quốc đã thay thế

Mỹ, trở thành đối tác thương mại lớn nhất của các nền kinh tế hàng đầu châu Á

Châu Á với các đầu tàu Trung Quốc, Nhật Bản, Ấn Độ đang nổi lên thành một trung tâm kinh tế lớn nhất thế giới Nga cũng đang trong thời kỳ phát triển nhanh với tăng trưởng hàng năm 7-8 %, tiềm lực và sức mạnh tổng hợp tăng mạnh, đặc biệt là “vũ khí chiến lược” dầu mỏ tạo cho Nga có sức “mặc cả” lớn trong kinh tế thế giới Xu thế chuyển dịch cán cân kinh tế toàn cầu có tác động rất lớn đến chiều hướng phát triển của kinh tế thế giới

Cuộc đua tranh giữa các cực/ trung tâm kinh tế thế giới khiến các quan hệ kinh tế quốc tế ngày càng phức tạp, đan xen lợi ích “chằng chịt”, thúc đẩy hình thành các tập hợp lực lượng mới theo từng nhóm lợi ích Mâu thuẫn giữa các nước/ lực lượng muốn duy trì tương quan kinh tế hiện tại (Mỹ, phương Tây) với các nước/ lực lượng muốn thúc đẩy kinh tế thế giới sang một hệ thống kinh tế đa cực hơn (Trung Quốc, Nga, Ấn Độ và các nền kinh tế đang nổi lớn khác) ngày càng lớn và trở thành một trong những mâu thuẫn cơ bản của thế giới trong nhiều năm tới

Trang 29

Thay đổi mạnh mẽ sự phân bổ các nguồn lực trên thế giới Nhóm BRIC,

đặc biệt là Trung Quốc, thu hút mạnh đầu tư quốc tế Hiện nay, mỗi năm khoảng 70- 80 tỷ USD vốn FDI đổ vào Trung Quốc; khoảng 8-10 tỷ USD đổ vào Ấn

Độ, chưa kể các dòng đầu tư gián tiếp cũng đang bị hút rất mạnh vào những nền kinh tế này Có thể nói Trung Quốc và Ấn Độ đang tái phân bố dòng FDI bằng cách "nắn" dòng chảy đầu tư quốc tế về phía mình, thu hẹp luồng vốn đổ vào các khu vực và nước khác Gần đây, do lo ngại Trung Quốc tăng trưởng quá nóng và một số rủi ro khác, xuất hiện xu hướng đầu tư "Trung Quốc + 1" để giảm thiểu rủi ro Bản chất của xu hướng đầu tư này là phân bổ lại đầu tư quốc

tế, trong đó lấy Trung Quốc làm trung tâm kết hợp với các nước “ngoại vi” để đạt hiệu quả đầu tư cao nhất, chứ không phải là "tháo chạy" hay "cạnh tranh loại trừ" trong thu hút FDI giữa Trung Quốc

1.6 Các nền kinh tế đang nổi đầu tư mạnh ra bên ngoài là xu hướng mới của đầu tư quốc tế

Các nền kinh tế đang nổi, đặc biệt là ở Châu Á vừa là nơi thu hút mạnh các nguồn vốn đầu tư, đồng thời cũng là các nền kinh tế đầu tư mạng ra bên ngoài, tốc độ đầu tư ra bên ngoài của các nước này có xu hướng tăng nhanh Động lực chính thúc đẩy các nền kinh tế đang nổi tăng cường đầu tư ra bên ngoài là: (i) Dự trữ ngoại hối từ thặng dư thương mại của các nước Châu Á lớn (chiếm 80% tổng dự trữ ngoại hối toàn cầu) là nguồn vốn nhàn rỗi để tìm kiếm

cơ hội đầu tư; (ii) Các tập đoàn xuyên quốc gia của các nền kinh tế mới nổi đang lớn mạnh có nhu cầu vươn ra bên ngoài để tìm kiếm nguồn cung nguyên liệu và thị trường mới Đầu tư của các nền kinh tế đang nổi được thực hiện chủ yếu thông qua các quỹ đầu tư nhà nước (SWF- Sovereign Wealth Fund) Vốn của các SWF trên thế giới hiện khoảng 4.000 tỷ USD, trong đó Châu Á và Trung Đông là 3.000 tỷ USD Hiện các SWF chiếm 10% đầu tư quốc tế và dự báo đến

2015 sẽ chiếm 50% đầu tư quốc tế1 Sự phát triển mạnh của các quỹ SWF một mặt tạo cơ hội cho các nước, nhất là các nước đang phát triển, có thêm nguồn đầu tư mới, nhưng mặt khác có thể gây ra bong bóng tài chính, bong bóng bất động sản, lạm phát, v.v nếu nước tiếp nhận chưa có sự chuẩn bị tốt Sự gia tăng mạnh dòng đầu tư nước ngoài vào các nền kinh tế Đông Á và vị thế trung tâm công nghiệp của thế giới của khu vực có mối quan hệ nhân qủa chặt chẽ Điều này không chỉ tạo động lực tăng trưởng mạnh, làm thay đổi diện mạo kinh

tế của Đông Á trong nền kinh tế toàn cầu mà còn làm thay đổi mô hình tăng trưởng (hay làn sóng công nghiệp) và tương quan cạnh tranh giữa các nền kinh

tế trong khu vực

Bước vào thế kỷ 21, dưới tác động của khủng hoảng và của sự chuyển hướng dòng đầu tư nước ngoài, sự trỗi dậy mạnh mẽ của nền kinh tế khổng lồ

Trang 30

Trung Quốc cả về quy mô lẫn tính đa dạng về cấp độ và tiềm lực phát triển - đã làm biến đổi làn sóng công nghiệp, tạo ra khuynh hướng mới trong tiến trình

phát triển kinh tế của Đông Á Thứ nhất, quá trình di chuyển cơ cấu công nghiệp

theo kiểu làn sóng giữa các nước trong khu vực vẫn tiếp tục được duy trì nhưng với một tốc độ cao hơn, nhờ đó, khoảng cách phát triển giữa các nền kinh tế

ngày càng được thu hẹp Thứ hai, phân công lao động theo “chuỗi giá trị gia

tăng” trong khu vực là xu hướng ngày càng trội bật, trở thành một mô hình phát

triển công nghiệp mới ở Đông Á Xu hướng này tạo cơ sở cho một sự liên kết phát triển giữa các nước có nhiều nội dung mới và chặt chẽ hơn Về nguyên tắc, tất cả các nền kinh tế, nếu tham gia được vào chuỗi liên kết này, sẽ có nhiều cơ

hội để nhận được lực kéo phát triển của cả khu vực Thứ ba, ngoài hai khả năng

trên, trong các điều kiện toàn cầu hóa và phát triển kinh tế tri thức, xuất hiện khả năng các nước đi sau tăng tốc rượt đuổi các nước đi trước bằng cách bỏ qua một

số giai đoạn phát triển để chuyển nhanh sang trình độ công nghệ cao hơn

Như vậy là với toàn cầu hóa, tất cả các nền kinh tế trên thế giới cùng đứng trước những cơ hội và thách thức mới mang tính toàn cầu và căn bản giống nhau Toàn cầu hoá và hội nhập quốc tế từng bước xoá bỏ sự khác biệt về thách thức và cơ hội giữa các quốc gia Nhưng trong một thế giới phát triển không đều, việc xóa bỏ sự cách biệt như vậy đồng nghĩa với sự gia tăng một khác biệt khác rất cơ bản: khác biệt về năng lực xử lý cơ hội và thách thức giữa các chủ thể Chính đây là lý do làm việc tồn tại và phát triển trong môi trường toàn cầu hóa là thách thức bao trùm và khó khăn bậc nhất đối với các nước nghèo đi sau

Kết luận rút ra là: nên chăng Việt Nam - quốc gia đi sau cần nghiên cứu, tham khảo kinh nghiệm quốc tế và biết tranh thủ tối đa các yếu tố phát triển phi

cổ điển mà thời đại đang tạo ra trên đây? Đặc biệt, chủ động xây dựng các cơ chế - chính sách phát triển thích hợp, có chính sách về KHCN, giáo dục, đào tạo

và trọng dụng nhân tài Vì nguồn lực chủ yếu, nguồn vốn của chúng ta hạn chế, nên biết đầu tư tập trung và thông minh, mà cách hiệu quả là đầu tư cho giáo dục, khoa học và chuyển giao công nghệ Hướng đi này sẽ tạo ra tiền đề cho sự phát triển nhảy vọt của lực lượng sản xuất và đó chính là đặc trưng của sự phát triển lực lượng sản xuất trong nền kinh tế thị trường định hướng XHCN

1.7 Một số thách thức kinh tế lớn đối với quá trình phát triển

1) Tự do hóa tài chính thúc đẩy liên kết và phụ thuộc lẫn nhau giữa các nước về tài chính- tiền tệ, do đó bất ổn tài chính ở một nước có thể lan truyền nhanh sang các nước khác Khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu

bắt đầu từ năm 2008 là khủng hoảng tài chính trầm trọng nhất kể từ Đại suy thoái 1929-1933, vừa mang tính thể chế vừa mang tính cơ cấu Cuộc khủng hoảng này bắt nguồn từ lĩnh vực tài chính - ngân hàng, nhiều dịch vụ và sản

Trang 31

phẩm tài chính-ngân hàng thực hiện thiếu cơ chế giám sát chặt chẽ; chính sách tiền tệ nới lỏng duy trì trong nhiều năm tạo nên tình trạng tín dụng dễ dãi, siêu bong bóng tài chính và bất động sản Kinh tế Mỹ là nền kinh tế tiêu dùng quá phụ thuộc vào chi tiêu (chi tiêu cá nhân và Chính phủ chiếm trên 80% GDP) khiến thâm hụt thương mại và ngân sách ngày càng lớn, tiết kiệm thấp và nợ nước ngoài lớn nhất thế giới đẩy kinh tế Mỹ và kinh tế thế giới vào vị thế rủi ro trì trệ và suy thoái

Khủng hoảng còn để lại hậu quả nặng nề, chủ nghĩa bảo hộ trỗi dậy trở thành rào cản lớn cho thương mại quốc tế Kinh tế thế giới tuy đã bắt đầu phục hồi nhưng đà tăng trưởng trong những năm đầu còn yếu, độ rủi ro và tính bất định còn rất lớn Cùng với khủng hoảng năng lượng, lương thực, cuộc khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu báo hiệu kinh tế thế giới có thể chấm dứt “chu kỳ phát triển” gắn với giá dầu, giá lương thực rẻ và tín dụng dễ dãi để chuyển sang “chu kỳ phát triển mới” gắn với giá dầu, giá lương thực cao

và kiểm soát tài chính- tiền tệ chặt chẽ hơn Sau khủng hoảng đặt ra yêu cầu định hình lại hệ thống tài chính thế giới, tăng sức ép cải cách các thể chế tài chính đa phương (IMF, WB, v.v ), thúc đẩy chuyển dịch hệ thống tiền tệ thế giới theo hướng “đa cực hơn” gồm đồng USD, Euro, NDT, Yên Nhật Tương quan giữa các đồng tiền chủ chốt diễn biến khó lường Mặc dù Trung Quốc cố gắng kìm giữ quá trình tăng giá đồng NDT, song về dài hạn đồng NDT sẽ lên giá mạnh trong những năm tới Vấn đề đồng NDT đặt kinh tế thế giới vào thế

“lưỡng nan”: nếu đồng NDT lên giá, Trung Quốc tăng đầu tư ra ngoài, nếu đồng NDT xuống giá, cạnh tranh xuất khẩu của Trung Quốc tăng lên Bản thân Trung Quốc đang chuẩn bị lộ trình để chuyển sang mô thức tăng trưởng dựa vào đầu tư

ra bên ngoài nhằm vào các mục tiêu chiến lược, trước hết là tối ưu hóa nguồn dự trữ ngoại tệ khổng lồ, mua và kiểm soát các nguồn cung nguyên liệu, năng lượng ở nước ngoài Khủng hoảng làm suy yếu vị thế kinh tế - tài chính Mỹ trong nhiều năm tới, có thể đẩy nhanh hơn chuyển dịch kinh tế thế giới sang một

hệ thống kinh tế đa cực hơn Khủng hoảng làm bộc lộ rõ hơn điểm yếu cố hữu của thị trường tự do không kiểm soát, có thể buộc các nước phải định hình lại và chú trọng hơn vai trò quản lý, điều tiết của nhà nước trong hệ thống kinh tế- tài chính tư bản chủ nghĩa

Tự do hóa tài chính quốc tế phát triển mạnh, nhưng lại thiếu cơ chế theo dõi, giám sát chặt chẽ ở từng nước cũng như ở cấp độ khu vực và toàn cầu để cảnh báo sớm rủi ro bất ổn tài chính Tự do hóa tài chính thúc đẩy liên kết và phụ thuộc giữa lẫn nhau giữa các nước về tài chính- tiền tệ, do đó bất ổn tài chính ở một nước có thể lan truyền nhanh sang các nước khác

Trang 32

2)- Sự bất ổn về an ninh năng lượng,thế giới đang bước vào thời kỳ khan

hiếm dầu- năng lượng gay gắt chưa từng có trong lịch sử, xu hướng dài hạn giá dầu tăng cao buộc các nước phải thích nghi với giá dầu cao Năng lượng từ nhiên liệu thương mại, chủ yếu là dầu, khí đốt tự nhiên, than đá, hạt nhân và thủy điện, có tầm quan trọng cơ bản đối với tất cả các nền kinh tế hiện đại Việc tiêu thụ năng lượng vẫn đang gia tăng và giá năng lượng cũng leo thang trong những năm gần đây Thông thường điều này có nghĩa là cung năng lượng tăng không đủ nhanh để đáp ứng cầu, do đó giá tăng Bên cạnh khủng hoảng tài chính

và suy thoái kinh tế toàn cầu, thế giới đang bước vào thời kỳ khan hiếm năng lượng gay gắt, đến năm 2020, thế giới vẫn phải phụ thuộc vào năng lượng hóa thạch (dầu, than, khí), trong khi các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới (gió, sinh học, hạt nhân, v.v ) tuy sử dụng ngày càng rộng rãi song chưa thể thay thế được năng lượng hóa thạch Việc sử dụng năng lượng có khuynh hướng tăng cùng với sự gia tăng sản lượng và thu nhập, nhưng không phải lúc nào cũng theo tỉ lệ Nhu cầu dầu thế giới hiện nay khoảng 88-90 triệu thùng/ngày, dự báo đến năm 2020 nhu cầu có thể lên tới 115-120 triệu thùng/ngày Để đối phó với rủi ro bất ổn an ninh năng lượng, các quốc gia phải có chiến lược sử dụng tiết kiệm, hiệu quả năng lượng; sử dụng các nguồn năng lượng tái tạo, năng lượng mới như thuỷ điện, điện hạt nhân, năng lượng sinh học, gió, v.v ; nhằm đa dạng hóa nguồn năng lượng, tránh phụ thuộc quá nhiều vào dầu lửa

Một khía cạnh khác của thực trạng năng lượng hiện nay là giá khí đốt tự nhiên và nhiều loại than đã tăng mạnh trong năm qua cùng với giá dầu lửa Mức

độ chuyển dịch đồng bộ này là bất thường Tiêu thụ khí đốt tự nhiên đã tăng nhanh hơn dầu, trong 10 năm tăng đến 31% Xét theo lượng dầu qui đổi, thì việc

sử dụng khí đốt trên thế giới bằng 2/3 sử dụng dầu Ở châu Á (trừ Nhật Bản), sử dụng khí đốt đã tăng gần gấp đôi (+90%) từ 1997, và khu vực này tiêu dùng 1/8 lượng khí tiêu thụ trên thế giới

Trữ lượng khí đốt tự nhiên đã có khuynh hướng ổn định ở mức sản lượng 60-70 năm và hiện được ước tính khoảng 60 năm Giá khí đốt tự nhiên rất khác nhau, trong đó khí đốt tự nhiên hóa lỏng LNG có khuynh hướng đắt nhất vì hai

lý do Thứ nhất qui trình làm sạch, làm lạnh và hóa lỏng khí, sau đó dẫn vào các tàu chứa chuyên dụng là rất tốn kém Thứ hai, một khi đã sản xuất ra, nó có thể được vận chuyển đi những khoảng cách xa đến nhiều thị trường, trong khi khí đốt theo ống dẫn thường có đối tượng khách hàng hạn chế hơn Khí đốt tự nhiên

là loại nhiên liệu có nhiều lợi điểm Nó đốt sạch hơn so với than hay dầu lửa, không có bụi nhỏ, và sản xuất ít khí CO2 với cùng một mức nhiệt lượng Nếu được sử dụng trong phát điện, nó thường được dùng trong các nhà máy chu trình

Trang 33

hỗn hợp hiệu quả cao, sản xuất ra nhiều điện hơn trên một đơn vị nhiên liệu so với các nhà máy phát điện truyền thống

Loại nhiên liệu hóa thạch quan trọng thứ 3 là than đá Trữ lượng than trên thế giới là rất lớn, khoảng 430 tỉ tấn than cứng và than lò hơi (than bitum), cộng với một trữ lượng tương tự than chất lượng thấp như than non (hay than nâu) Trữ lượng phân bố dàn trải ở Bắc Mỹ, châu Âu, châu Á và Úc Đã có 6,4 tỉ tấn được sử dụng năm 2007, tăng 36% từ 1997 Mức gia tăng ở châu Á – TBD kể từ

1997 là 80% lên 3,7 tỉ tấn, chiếm hơn phân nửa lượng tiêu dùng của thế giới Xét theo sản phẩm dầu qui đổi, than thế giới 2007 chiếm 3,2 tỉ tấn, so với 2,6 tỉ tấn dầu qui đổi cho khí đốt và 3,9 tỉ tấn dầu Mặc dù than đá đang trở thành loại nhiên liệu cũ và tương đối bẩn, tăng trưởng tiêu thụ của nó là nhanh nhất trong

ba loại nhiên liệu vì có sẵn và chi phí thấp Nó được sử dụng chủ yếu trong phát điện, sản xuất thép, xi măng và phân bón Tuy nhiên, giá than cũng nhảy vọt trong năm vừa qua Than nồi hơi, dùng trong phát điện thường có giá từ 30 USD đến 60 USD/tấn, nhưng trong năm 2007-2008 giá đã vọt lên 120 USD/tấn Các trận lụt xảy ra ở những vùng xuất khẩu than quan trọng của Úc, mùa đông khắc nghiệt ở Trung Quốc, và sự tăng trưởng cầu nhanh hơn dự kiến, tất cả cùng góp phần tạo ra diễn tiến bất ngờ này Đáng ngạc nhiên là các mức giá cao này theo

dự đoán sẽ duy trì ít nhất là vài năm nữa, vì phải mất thời gian để khai thác các khu mỏ mới Tuy nhiên, dựa vào trữ lượng than và sự phân bố rộng rãi, ít có khả năng giá than sẽ ở mức cao như vậy trong nhiều năm Trong quá khứ, khi giá cả tăng lên, các nguồn cung mới sẽ được đưa vào và giá sau cùng cũng giảm

Năng lượng hạt nhân chiếm khoảng 620 triệu tấn dầu qui đổi năm 2007, tăng 15% từ 1997 Châu Á trừ Nhật sử dụng 60 triệu tấn dầu qui đổi năm 2007, gấp đôi mức 1997 Năng lượng hạt nhân tương đối thâm dụng vốn nhưng có chi phí biến đổi thấp Mức thải CO2 thấp nhưng lại có những vấn đề liên quan đến

sự an toàn và lưu trữ chất thải làm hạn chế sức hấp dẫn của nó đối với một số nước Có khả năng nguồn năng lượng này sẽ phổ biến hơn và là chọn lựa hấp dẫn hơn vì những quan ngại về sự ấm dần lên của trái đất và giá nhiên liệu hóa thạch đắt đỏ Tuy nhiên, nó chỉ chiếm 6% tổng năng lượng được khảo sát ở đây

và ít có khả năng trở thành nguồn cung chính

Thủy điện cũng quan trọng như điện hạt nhân (3.000 tỉ kWh, hay xấp xỉ

700 triệu tấn dầu qui đổi), nhưng bị hạn chế về mặt địa lý và những quan ngại khác liên quan đến các con đập, kể cả vấn đề môi trường Nguồn nhiên liệu này tăng 20% trong 10 năm Năng lượng mặt trời, gió và sinh khối thương mại có khuynh hướng tăng nhanh nhưng với xuất phát điểm rất thấp, khó khăn chủ yếu

do chi phí cao (mặc dù đang giảm) và/hoặc sản lượng biến động cao Đối với trường hợp nhiên liệu biodiesel (dầu sinh học) và ethanol, thì quan ngại chính là

Trang 34

chúng cạnh tranh với nguyên liệu lương thực Còn địa nhiệt điện, về tầm quan trọng chỉ chiếm 12% so với thủy điện và cũng hạn chế về mặt địa lý ở những vùng có nguồn nhiệt gần mặt đất Khi dùng để đốt nóng ngoài trời, chi phí vốn cao sẽ làm giảm sự hấp dẫn của nó Tất cả những nguồn tái sinh được, bao gồm thủy điện, chiếm khoảng 8% tổng mức tiêu thụ năng lượng toàn cầu

Hòa bình, hợp tác và phát triển tiếp tục là xu thế lớn, nhưng xung đột sắc tộc, tôn giáo, tranh giành tài nguyên buộc các quốc gia phải có chính sách đối phó và phối hợp hành động, về chính trị- đối ngoại, cạnh tranh, tranh giành nguồn cung dầu và năng lượng giữa các nước ngày càng quyết liệt, nguy cơ bùng nổ xung đột ở nhiều điểm nóng (Trung Đông, Cápcadơ, châu Phi, biển Đông, v.v ) Để bảo đảm an ninh năng lượng, nhiều nước phải điều chỉnh chiến

lược, chính sách năng lượng, trong đó ngoại giao năng lượng trở thành một "cột

trụ" trong chính sách ngoại giao kinh tế của nhiều nước Các nước xuất khẩu năng lượng sử dụng năng lượng là vũ khí gây sức ép để đạt các mục tiêu chính trị, kinh tế ; các nước nhập khẩu năng lượng sử dụng ngoại giao kết hợp với các công cụ kinh tế để bảo đảm an ninh năng lượng Về kinh tế, sức ép an ninh năng lượng buộc các nước phải tìm kiếm và xây dựng mô thức tăng trưởng kinh tế sử dụng hiệu quả năng lượng, đầu tư nhiều hơn phát triển năng lượng thay thế, đẩy mạnh xu thế (làn sóng) di chuyển các ngành tiêu hao nhiều năng lượng (thép, luyện kim, đóng tàu, v.v ) từ các nước phát triển và các nước NIC sang các nước đang phát triển Do đó, nếu không có chiến lược phát triển cơ cấu ngành thích hợp, các nước đang phát triển có nguy cơ "sập bẫy" bất ổn an ninh năng

lượng Về khoa học- công nghệ, tìm kiếm năng lượng mới, năng lượng tái sinh,

năng lượng sạch và công nghệ sử dụng hiệu quả năng lượng là nhiệm vụ cấp thiết quyết định hướng phát triển của khoa học- công nghệ trong nhiều năm tới

Nhìn về tương lai, Cơ quan Năng lượng Quốc tế (IEA) dự báo tiêu thụ năng lượng đến năm 2030 và kỳ vọng mức tăng trưởng toàn cầu hàng năm là 1,8%, chậm hơn so với thập niên trước Dự đoán các nước giàu sẽ tiếp tục tăng tiêu thụ ở mức 0,8%/năm trong khi các nước đang phát triển sẽ tăng 2,6%/năm cũng lại thấp hơn thời gian gần đây Tiêu thụ than (2,2%) dự báo tăng nhanh hơn

so với toàn bộ năng lượng, khí đốt và các nguồn tái sinh (1,9%/năm) tăng tương

tự, tiêu thụ các nguyên liệu chất lỏng và hạt nhân dự kiến sẽ chậm lại, với tốc độ toàn cầu là 1,4% hàng năm

Có khả năng nỗ lực đồng bộ nhằm nâng cao hiệu quả năng lượng sẽ giúp cho tốc độ tăng trưởng năng lượng chậm hơn dự báo của IEA Các công trình xây dựng xanh đang sử dụng ánh sáng và làm mát tự nhiên; qui hoạch đô thị khéo léo hơn sẽ làm giảm khoảng cách đi lại; và những cải tiến công nghệ nhanh hơn trong phát sáng, vận tải, và máy móc có thể làm giảm lượng nhu cầu năng

Trang 35

lượng thương mại cao như dự đoán Giá năng lượng cao sẽ càng làm cho những tình huống này có khả năng xảy ra hơn

3) An ninh lương thực toàn cầu có nhiều rủi ro bất ổn, bởi hiện còn khoảng 1/5 dân số toàn cầu trong tình trạng thiếu đói Khủng hoảng lương thực

toàn cầu vừa qua cho thấy an ninh lương thực toàn cầu dễ tổn thương ở cả 3 góc độ: tính sẵn có (availability), tính ổn định (stability) và khả năng tiếp cận (accessability) lương thực Sau khủng hoảng lương thực toàn cầu, nhiều nước điều chỉnh chính sách an ninh lương thực: (i) Chú trọng đầu tư phát triển nông nghiệp để tiến tới có thể cơ bản tự túc lương thực; (ii) Giải quyết thận trọng mối quan hệ giữa phát triển "tam nông" với CNH và đô thị hóa, giữa sản xuất lương thực với phát triển nhiên liệu sinh học Biến đổi khí hậu đang trở thành nguy cơ ngày càng rõ nét, tác động rất tiêu cực đến phát triển kinh tế nói chung và an ninh lương thực nói riêng Rủi ro bất ổn an ninh lương thực tác động phức tạp đến vấn đề nông nghiệp trong đàm phán thương mại quốc tế Tự do hóa nông nghiệp tạo cơ hội cho các nước tiếp cận các nguồn cung lương thực thông qua xóa bỏ trợ cấp và rào cản làm "méo mó" thương mại quốc tế, song có thể thúc đẩy các nước nghèo có xu hướng phụ thuộc nhập khẩu lương thực thay vì đầu tư phát triển nông nghiệp, dẫn đến dễ bất ổn an ninh lương thực do “cú sốc” lương thực từ bên ngoài An ninh lương thực khiến nhiều nước thận trọng hơn đối với

tự do hóa nông nghiệp, thậm chí có thể quay lại tự cấp tự túc lương thực, bảo hộ mạnh nông nghiệp

II TÌNH HÌNH VÀ DỰ BÁO TRIỂN VỌNG KINH TẾ THẾ GIỚI

2.1 Những xu thế chung của kinh tế thế giới trong 10 năm qua

Trước khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ năm

2008, kinh tế thế giới tăng trưởng cao với tốc độ bình quân 4-5%/ năm và tương đối đồng đều ở các khu vực Kinh tế Mỹ tăng trưởng mạnh với tốc độ 3-4%/ năm nhờ chính sách tiền tệ nới lỏng tín dùng từ năm 2001 và bùng nổ tín dụng toàn cầu đổ vào Mỹ Kinh tế EU và Nhật Bản phục hồi Nhờ cải cách cơ cấu mạnh mẽ sau khủng hoảng tài chính-tiền tệ Châu Á, kinh tế Châu Á phát triển nhanh và năng động, đặc biệt là sự phát triển bùng nổ của Trung Quốc và Ấn

Độ Tuy nhiên, sau những năm tăng trưởng cao liên tục của đầu thế kỷ IXX, từ cuối năm 2007 đến nay, kinh tế thế giới trải qua nhiều biến động lớn

a)- Tốc độ tăng trưởng kinh tế chậm lại do tác động tiêu cực của khủng hoảng tài chính, năng lượng và lương thực “Khủng hoảng 3F: finance, fuel, food”

Khủng hoảng tài chính (Finance), toàn cầu bất ổn do tác động mạnh của

khủng hoảng tài chính xuất phát từ Mỹ, hiệu ứng lan truyền dẫn đến khủng

Trang 36

hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Sự đổ vỡ nhiều tổ chức tài chính

có uy tín và lịch sử lâu đời ở Mỹ và Châu Âu (như Lehman Brothers, Merill Lynch, Bear Stearns, Indy Mac, IKD, Northern Rocks, HBOS, Bradford & Bingley, v.v ) buộc Chính phủ Mỹ và nhiều nước phải can thiệp nhanh, phạm

vi rộng, quy mô lớn chưa từng có, thậm chí sử dụng nhiều biện pháp đi ngược lại chuẩn mực thị trường tự do mà Mỹ và phương Tây cổ vũ như quốc hữu hóa tập đoàn tài chính có nguy cơ đổ vỡ, “công hóa” nợ xấu tư nhân, v.v… Khủng hoảng tài chính có nguy cơ biến thành khủng hoảng kinh tế, vượt khỏi khả năng kiểm soát của Chính phủ Mỹ, lan rộng sang Châu Âu, Châu Á, trong đó có Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc, Australia, Singapore, v.v… do các mối liên

hệ tài chính “chằng chịt” trong hệ thống tài chính toàn cầu IMF ước tính khủng hoảng tài chính Mỹ gây thiệt hại cho kinh tế thế giới hang nghìn tỷ USD và cho rằng thiệt hại có thể tiếp tục tăng vì các khủng hoảng tài chính thường gây thiệt hại nhiều hơn các cuộc khủng hoảng thông thường từ 2- 3 lần10 Cuộc khủng hoảng không chỉ tổn hại nghiêm trọng tới uy tín của hệ thống tài chính Mỹ mà còn đẩy kinh tế thế giới và kinh tế Mỹ vốn đang khó khăn càng trở nên bấp bênh, khó lường hơn

Khủng hoảng về giá dầu (fuel) tăng nhanh từ năm 2005, đạt kỷ lục 147

USD/thùng đầu tháng 7/2008 và hiện giảm 50-60 USD/thùng (tháng 11/2008) Tuy giá dầu giảm mạnh, song vẫn ở mức cao so với nhiều năm trước Khác với các cuộc khủng hoảng dầu trước đây, đợt tăng giá dầu hiện nay chủ yếu do cầu tăng mạnh, trong khi nguồn cung tăng không đáng kể Tốc độ phát triển kinh tế cao khiến nhu cầu năng lượng của các nền kinh tế đang nổi tăng rất nhanh, đặc biệt là Trung Quốc tăng 4,2-6,9%/năm, Ấn Độ tăng 5-7%/năm Giá dầu tăng cao hiện chưa đẩy kinh tế thế giới vào suy thoái, song đang “bóp nghẹt” tăng trưởng kinh tế thế giới, khiến nhiều nước gặp khó khăn, đặc biệt là chống lạm phát do sốc giá dầu Giá dầu “hạ nhiệt” gần đây chủ yếu là do suy giảm mạnh tăng trưởng kinh tế thế giới, kinh tế Mỹ và các trung tâm kinh tế lớn khác dẫn đến nhu cầu sản xuất và tiêu dùng giảm mạnh

Khủng hoảng về giá lương thực (food) tăng đột biến chỉ trong vài tháng

đầu năm 2008 dẫn đến khủng hoảng lương thực tồi tệ nhất trong 30 năm qua, gây “sốc“ với nhiều nước và tổ chức quốc tế, tác động xấu đến ổn định và phát triển ở nhiều nước Giá lương thực tăng cao tác động tiêu cực đến thành quả thực hiện mục tiêu phát triển thiên niên kỷ, đào sâu hố ngăn cách giàu nghèo, đẩy các nước chậm phát triển lún sâu hơn vào vòng xoáy đói nghèo và bất ổn, tăng nguy cơ xung đột Theo WB, giá lương thực tăng trong 3 năm qua khiến thành tựu giảm đói nghèo bị đẩy lùi 7 năm, tỷ lệ đói nghèo thế giới tăng 3- 5%

Trang 37

Lạm phát hiện trở thành nỗi lo chung của kinh tế toàn cầu, thách thức ổn

định kinh tế vĩ mô của nhiều nước và khu vực Năm 2008, lạm phát ở các nước OECD tăng gần 5%, các nước đang phát triển tăng 8-9%, mức cao nhất trong hơn 1 thập kỷ qua Hiện có khoảng 50 nước với gần một nửa dân số thế giới đang phải “chống chịu” lạm phát 2 con số Lạm phát toàn cầu tăng cao do thị trường thế giới đang tạo “mặt bằng” giá mới sau nhiều năm kinh tế toàn cầu tăng trưởng cao, đặc biệt là các nền kinh tế đang nổi Nhóm BRIC không chỉ là những “cỗ máy lớn” tiêu thụ năng lượng, nguyên nhiên liệu, khiến giá dầu, khoáng sản và nguyên liệu tăng nhanh mà còn bùng nổ tiêu dùng, tạo áp lực rất lớn tăng giá hàng hóa thế giới

b) Kinh tế khu vực và các nước có liên quan đến Việt Nam

Nền kinh tế Mỹ, Sau năm một số năm tăng trưởng cao, kinh tế Mỹ gặp rất

nhiều khó khăn do khủng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu bắt đầu từ trung tuần tháng 9/2008 Tăng trưởng GDP năm 2008 và 2009 âm, tỷ lệ thất nghiệp tăng cao, lạm phát cao, chỉ số giá nhà đất và lòng tin tiêu dung ở mức rất thấp trong nhiều năm qua, v.v Khủng hoảng tài chính gây thiệt hại nặng nề, diễn biến thành khủng hoảng kinh tế, đẩy Mỹ lún sâu vào đình trệ và suy thoái, đối phó với tình trạng mất cân đối "kép" là thâm hụt thương mại, thâm hụt ngân sách lớn do chi khắc phục hậu quả khủng hoảng tài chính, nợ nước ngoài tăng cao Mỹ đã thực hiện nhiều biện pháp tài chính - tiền tệ mạnh để cứu kinh tế không suy thoái sâu như kích thích kinh tế cả gói, bơm tiền cứu các ngân hàng lớn có nguy cơ đổ vỡ (Bear Sterns, Indy Mac, Fanie Mae, Fredie Mac, AIG, Citỉgroup, v.v…), giảm lãi suất còn 1%, hoàn thuế thu nhập kích thích tiêu dùng…

Tốc độ tăng trưởng Việt Nam và một số nước trong khu vực

2002 2003 2004 2005 2006 2007 2008 2009

Việt Nam 7,08 7,34 7,79 8,44 8,23 8,5 6,3 5,7

Trung Quốc 9,1 10.00 10,10 10,4 10,7 11,9 10,0 9,5

Ấn Độ 3,73 8,39 8,33 9,23 9,20 9,0 7,4 7,0 Hàn Quốc 6,97 3,10 4,73 4,20 4,99 5,0 4,6 4,5 Indonesia 4,50 4,78 5,03 5,68 5,48 6,3 6,2 6,2 Malaysia 4,15 5,69 6,80 5,00 5,90 6,3 5,6 5,3 Philippines 4,45 4,93 6,38 4,87 5,45 7,2 4,5 4,7 Singapore 4,16 3,11 8,80 6,62 7,88 7,7 4,2 4,6 Thailand 5,32 7,14 6,28 4,49 5,02 4,8 5,0 5,0

Trang 38

Tốc độ tăng trưởng bình quân của kinh tế thế giới và các nước

Kinh tế EU chịu nhiều tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ và đã lâm

vào suy thoái với tăng trưởng âm, lạm phát tăng cao nhất kể từ khi thành lập khối EU năm 1992 Sản xuất công nghiệp, dịch vụ đạt thấp nhất kể từ tháng 7/2003, xuất khẩu khó khăn do đồng Euro tăng giá, thất nghiệp cao Đối phó với khủng hoảng tài chính, EU đã bơm hơn 2 nghìn tỷ USD để tránh đổ vỡ một số ngân hàng lớn (IKA, Hypo Real Estate của Đức, Northern Rocks, HBOS, Bradford&Bingley của Anh, Fortis của Bỉ và Hà Lan, v.v ), bảo lãnh tiền gửi

và sẵn sàng áp dụng mọi biện pháp để giữ vững hệ thống tài chính- ngân hàng Châu Âu Việc EU giảm lãi suất tiền gửi bất chấp lạm phát còn khá cao cho thấy suy thoái kinh tế buộc EU phải chuyển hướng ưu tiên từ chống lạm phát sang kích thích tăng trưởng, cứu kinh tế không rơi vào suy thoái sâu

Kinh tế Nhật Bản gặp nhiều khó khăn trước biến động kinh tế thế giới,

đặc biệt là tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ và giá dầu tăng cao Kinh tế Nhật Bản suy thoái, tăng trưởng âm, sản xuất công nghiệp giảm xuống mức thấp nhất trong 7 năm qua Xuất khẩu cũng giảm mạnh do đồng Yên lên giá, xuất khẩu sang Mỹ bị thu hẹp

Kinh tế Châu Á (không tính Nhật Bản) tăng trưởng chậm lại do tác động của khủng hoảng tài chính Mỹ, giá dầu và lương thực tăng cao Suy giảm mạnh kinh tế Mỹ và Châu Âu khiến xuất khẩu của nhiều nước Châu Á (Trung Quốc,

Ấn Độ, Hàn Quốc,.v.v ) gặp khó khăn, đầu tư nước ngoài chững lại, dự trữ ngoại hối giảm, thị trường chứng khoán giảm mạnh

Tăng trưởng của nền kinh tế Trung Quốc cũng giảm, mức tăng trưởng đạt

thấp nhất kể từ sau khi gia nhập WTO Công nghiệp và xuất khẩu tăng chậm lại

Trang 39

đáng kể, nhập khẩu tăng nhanh Thị trường chứng khoán sụt giảm mạnh; thị trường nhà đất đã “xì hơi“ khiến nhiều ngành công nghiệp gặp khó khăn (xi măng, thép, nhôm, kính ) Từ giữa năm 2008, Trung Quốc đã chuyển hướng ưu tiên cho tăng trưởng kinh tế, điều chỉnh chính sách kinh tế vĩ mô từ phòng ngừa tăng trưởng nóng và lạm phát cao sang duy trì tăng trưởng, phòng ngừa lạm phát, nới dần chính sách tiền tệ Để kích thích tăng trưởng, bên cạnh đẩy mạnh cải cách chính sách đất nông nghiệp

Kinh tế Ấn Độ cũng tăng trưởng chậm lại, chỉ đạt 7% năm 2008 sau khi tăng trưởng cao 9% năm 2007 Lạm phát tăng rất cao và các chỉ số kinh tế cơ bản đều giảm sút, nhất là lĩnh vực cơ sở hạ tầng và công nghiệp (than, điện, thép, dầu thô) Kinh tế Đông Nam Á cũng đang đối phó nhiều thách thức kinh

tế, giá nhiên liệu, giá gạo và lạm phát cao gây bất ổn ở một số nước Tăng trưởng của khu vực giảm mạnh từ 6,5% năm 2007 còn 5,4% năm 2008, đặc biệt

là Singapore đã rơi suy thoái do ảnh hưởng nặng của khủng hoảng tài chính Mỹ

c) Thương mại và đầu tư quốc tế

Thương mại quốc tế đã tăng trưởng nhanh trong giai đoạn kinh tế thế giới

tăng trưởng mạnh mẽ Tuy nhiên, suy giảm tăng trưởng kinh tế thế giới năm

2008 khiến thương mại quốc tế giảm tốc Theo IMF, thương mại quốc tế năm

2008 chỉ tăng trưởng 4,6%, thấp hơn 2,6 điểm phần trăm so với năm 2007, đồng thời là mức tăng trưởng thấp nhất kể từ 2004 và thấp hơn mức trung bình kể từ

1990 đến nay (khoảng 6,6%) Giá dầu, các nguyên liệu thô và thực phẩm biến động mạnh và khó dự đoán Sự bế tắc của vòng Đôha thể hiện rõ mâu thuẫn sâu sắc giữa các nước đang phát triển và các nước phát triển về mở cửa thị trường và

tự do hóa thương mại, đồng thời cũng minh chứng sự lớn mạnh và tập hợp lực lượng của các nước đang phát triển đi đầu là Ấn Độ, Trung Quốc, Braxin, v.v Các nước phương Tây không thể áp đạt luật chơi kinh tế- thương mại toàn cầu như trước đây

Dòng vốn FDI chịu tác động mạnh của suy giảm kinh tế thế giới và bất

ổn tài chính toàn cầu từ cuối năm 2007 Vốn FDI thế giới năm 2008 có xu hướng giảm, chỉ đạt khoảng 1.406 tỷ USD15, trong đó FDI vào các nền kinh tế phát triển là 879 tỷ USD, giảm 6,5% so với năm 2007, FDI vào các nền kinh tế đang nổi chỉ đạt 527 tỷ USD, giảm 1,3% so với năm 2007 Châu Á, đặc biệt là Trung Quốc, vẫn tiếp tục là địa chỉ hấp dẫn đối với FDI năm 2008 và những năm tiếp theo

2.2 Triển vọng kinh tế thế giới trong những năm tới

Các nhà kinh tế thế giới có nhiều các dự báo khác nhau để có thể đoán nhận tương lai của sự phát triển các lĩnh vực khác nhau Dưới đây đề tài giới

Trang 40

thiệu tổng quan một số dự báo dài hạn về kinh tế thế giới cho giai đoạn

2020-2050, như

1 Dân số : Đã có các phương pháp dự báo (tương đối tĩnh), nhưng sẽ

không dễ dàng nếu tính đến yếu tố di chuyển cơ học của dân cư Các dự báo còn tuỳ thuộc vào những giả thiết mà nhà dự báo đưa vào, làm thay đổi mít nhiều giá trị và cơ cấu của dự báo nói chung Với dự báo dân số Việt Nam, đến năm 2020

dự báo dân số Việt Nam có khoảng 92 triệu người, nhiều nhà dự báo đã cho rằng dân số có thể dừng ở 120-130 triệu người, nhưng cũng có dự báo dân số tăng nhiều hơn, vì quá trình dừng tăng sẽ kéo dài nhiều hơn Khi dân số dừng tăng, đôi khi cũng có những hệ lụy về cơ cấu độ tuổi sẽ bị thay đổi sau đó, làm cho tuổi trung bình của dân số từ “trẻ” thành “già” và làm ảnh hưởng đến các chính sách xã hội, như đã xẩy ra ở Nhật bản Đối với một nước, dân số đô thị đôi khi tăng chậm hơn, còn ở các vùng sâu vùng xã lại tăng nhanh, kết quả là có thể làm giảm chất lượng nguồn nhân lực Việc mong muốn sinh con trai ở Trung Quốc trong chính sách mọt con đã để lại di hại dài hạn về chênh lệch giới rất phức tạp Ngay ở Việt Nam cũng có độ chênh sinh nam nữ mới được nhận dạng mấy năm gần đây và có thể ảnh hưởng đến quy mô và chất lượng dân số Liên quan đến

dự báo dân số đôi khi cũng liên quan đến những thành tựu KHCN, làm ảnh hưởng đến các yếu tố giáo dục, y tế của con người trong tương lai

2 Kinh tế : Hàng loạt các nhà kinh tế đã đưa ra các dự báo dài hạn

2020-2050 Vè kinh tế thế giới, đã có các dự báo cuả EIU của tờ Economist cho 2020,

dự báo của Viện nghiên cứu CPII (Pháp) cho 2050 và hàng loạt dự báo khác Các dự báo này có thể khác nhau, nhưng chúng đều mô tả và phân tích theo các kịch bản khác nhau Khi tầm dự báo càng xa thì độ chi tiết càng giảm đi, đọ chính xác chỉ mang tính chiều hướng mà không quá chi tiết Dự báo 2020-20302

hiện nay đã khá phổ biến vì từ nay đến 2020 chỉ có 12 năm, thời gian không quá dài Vì vậy, các dự báo kinh tế thường khá chi tiết Dự báo kinh tế 2020 của EIU cho thấy một cách tiếp cận khá khiêm tốn về triển vọng phát triển Chẳng hạn, trong dự báo này, ngay Trung Quốc cũng tăng dưới 8-9%, sau đó tăng chỉ 6% các năm sau 2010; còn Việt Nam tăng chỉ 7% và sau 2010 chỉ tăng khoảng 5%

Đó là do các nhà dự báo cảnh báo cách tiếp cận tăng trưởng dựa vào tăng số lượng, mà chưa chú ý thích đáng đến các yếu tố chất lượng Ngay các cơ quan nghiên cứu quốc phòng của một số nước cũng có những nghiên cứu tổng hợp

2 EIU dự báo kinh tế 2020 (năm 2006, dài 98 trang) hoặc dự báo The World of 2020 and Alternative Futures, and Operational Analysis của Không lực Hoa Kỳ

Ngày đăng: 17/05/2016, 04:32

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
11. Angus Maddison: The World Economy: a millenial perspective, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: The World Economy: a millenial perspective
50. UNDP – MPI/DSI: “Việt Nam hướng tới 2010” (2 tập). NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Việt Nam hướng tới 2010
Nhà XB: NXB Chính trị quốc gia
52. Ngô Doãn Vịnh & Bùi Tất Thắng: Một số vấn đề về đổi mới tư duy đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020. Tạp chí Kinh tế và Dự báo. Số 1, tháng 1/2009 (441); tr. 17-20 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Một số vấn đề về đổi mới tư duy đối với chiến lược phát triển kinh tế - xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 – 2020
54. Bùi Tất Thắng: Kinh tế Việt Nam đến năm 2020: Tầm nhìn và triển vọng. Tạp chí Nghiên cứu Kinh tế, số 1/2008 (356); tr. 3-11 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kinh tế Việt Nam đến năm 2020: Tầm nhìn và triển vọng
55. Bùi Tất Thắng: Tương lai nào cho các nền kinh tế thị trường mới nổi? Tạp chí Những vấn đề kinh tế và Chính trị thế giới. Số 9 (149), tháng 9/2008;56. ADB. Outlook 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tương lai nào cho các nền kinh tế thị trường mới nổi
1. Chiến lược ổn định và phát triển kinh tế - xã hội đến năm 2000. (Văn kiện Đại hội lần thứ VII của Đảng) Khác
2. Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 – 2010 (Văn kiện Đại hội lần thứ IX của Đảng) Khác
3. Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ X. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2006 Khác
4. Đảng Cộng sản Việt Nam: Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội. NXB Sự thật, Hà nội 1991 Khác
5. Bàn về Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội của Việt Nam trong thời kỳ tới. Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Hà Nội 2007 Khác
6. Matsushita Konosuke: Nhân sự - Chìa khóa của thành công. NXB Giao Thông, Hà Nội 1999 Khác
8. Nguyễn Lân: Từ điển từ và ngữ Việt Nam. NXB TP Hồ Chí Minh 2000 Khác
9. Oxford Advanced Learner’s Dictionary (Encyclopedic Edition 1992). Oxford University Press 1992 Khác
10. Shu Yongqing: Xã hội loài người đi về đâu? Hồi cố và bình luận về thế kỷ XX. Viện Thông tin khoa học xã hội, (Tài liệu phục vụ nghiên cứu), Số TN 2002 – 76 & 77. Hà nội 2002 Khác
12. Alvin Toffler: Làn sóng thứ ba. NXB Thanh niên, 2002 Khác
13. TS Đinh Văn Ân – TS Võ Trí Thành (Chủ biên): Thể chế – Cải cách thể chế và phát triển. Lý luận và thực tiễn ở nước ngoài và Việt Nam. NXB Thống kê, Hà nội 2002 Khác
14. GS. TS Vũ Đình Bách: Giải pháp tạo động lực cho phát triển kinh tế. NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội 2000 Khác
15. GS Nguyễn Đức Bình (Chủ biên): Những đặc điểm lớn của thế giới đương đại. NXB Chính trị Quốc gia, Hà Nội 2007 Khác
16. Báo cáo phát triển con người Việt Nam 2001 - Đổi mới và sự nghiệp phát triển con người. Nhà xuất bản Chính trị quốc gia, Hà nội 2001 Khác
17. Báo cáo phát triển con người 2001: Công nghệ mới vì sự nghiệp phát triển con người. NXB Chính trị quốc gia, Hà nội 2001 Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 21: Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Bảng 21 Xếp hạng năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam (Trang 95)
Bảng 30: Tốc độ tăng trưởng cung tiền và cung tín dụng nước ta - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Bảng 30 Tốc độ tăng trưởng cung tiền và cung tín dụng nước ta (Trang 103)
Hình 1. So sánh tốc độ tăng trưởng GDP (bằng đồng nội tệ) của Việt Nam - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 1. So sánh tốc độ tăng trưởng GDP (bằng đồng nội tệ) của Việt Nam (Trang 264)
Hình 2. GDP bình quân đầu người thời kỳ 2001-2008 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 2. GDP bình quân đầu người thời kỳ 2001-2008 (Trang 264)
Hình 4. Khoảng cách chênh lệch giữa tỷ lệ  đầu tư và tiết kiệm nội  địa của  Việt Nam giai đoạn 1996-2008 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 4. Khoảng cách chênh lệch giữa tỷ lệ đầu tư và tiết kiệm nội địa của Việt Nam giai đoạn 1996-2008 (Trang 265)
Hình 3. Tăng trưởng và hệ số ICOR của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn  1990-2009 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 3. Tăng trưởng và hệ số ICOR của nền kinh tế Việt Nam giai đoạn 1990-2009 (Trang 265)
Hình 7. Tỷ lệ tiêu tốn năng lượng điện của Việt Nam - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 7. Tỷ lệ tiêu tốn năng lượng điện của Việt Nam (Trang 267)
Hình 8. Phân loại hàng xuất khẩu của Việt Nam theo công nghệ năm 2007 3 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 8. Phân loại hàng xuất khẩu của Việt Nam theo công nghệ năm 2007 3 (Trang 268)
Hình 9. So sánh cơ cấu xuất khẩu theo công nghệ năm 2000 và 2007 4 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 9. So sánh cơ cấu xuất khẩu theo công nghệ năm 2000 và 2007 4 (Trang 269)
Hình 13. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 1977-2008 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 13. Tăng trưởng kinh tế của Trung Quốc giai đoạn 1977-2008 (Trang 271)
Hình 12. Tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc giai đoạn 1963-1997 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 12. Tăng trưởng kinh tế của Hàn Quốc giai đoạn 1963-1997 (Trang 271)
Hình 14. Tăng trưởng kinh tế của Thái Lan giai đoạn 1963-2008 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 14. Tăng trưởng kinh tế của Thái Lan giai đoạn 1963-2008 (Trang 272)
Hình 15. Tăng trưởng kinh tế của Malajsia giai đoạn 1963-2008 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 15. Tăng trưởng kinh tế của Malajsia giai đoạn 1963-2008 (Trang 272)
Hình 16. Các chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam năm 2009 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 16. Các chỉ số năng lực cạnh tranh quốc gia của Việt Nam năm 2009 (Trang 273)
Hình 18. So sánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam với Trung Quốc và  Malaysia năm 2009 - TẦM NHÌN VÀ ĐỊNH HƯỚNG PHÁT TRIỂN KINH TẾ VIỆT NAM ĐẾN NĂM 2030
Hình 18. So sánh năng lực cạnh tranh của Việt Nam với Trung Quốc và Malaysia năm 2009 (Trang 274)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w