1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020

112 178 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 112
Dung lượng 3,31 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Đóng góp của Đề tài - Đề tài tập trung phân tích thực trạng hoạt động của NHPT trong giai đoạn 2006-2009 trên phương diện định tính và định lượng ở cả tầm vi mô và vĩ mô; phân tích và l

Trang 1

NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

-o0o -

BÁO CÁO TỔNG KẾT

HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020

Báo cáo nghiên cứu tổng hợp

Trang 2

MỤC LỤC

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT 6

DANH MỤC BẢNG, MÔ HÌNH, HỘP VÀ ĐỒ THỊ 7

MỞ ĐẦU 9

CHƯƠNG I: BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 11

1.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2006-2009 11

1.1.1 Tình hình phát triển của nền kinh tế 11

1.1.2.1 Chính sách và điều hành của NHNN 14

1.1.2.2 Đối với hệ thống các NHTM 15

1.1.3 Tình hình thị trường chứng khoán 19

1.2 Sự hình thành và phát triển của NHPT 20

1.2.1 Sự hình thành 20

1.2.2 Mô hình tổ chức của NHPT 21

1.2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của NHPT: 21

1.2.2.2 Trách nhiệm của NHPT: 21

1.2.2.3 Tổ chức bộ máy của NHPT 22

1.3 Chính sách TDĐT, TDXK và các hoạt động nghiệp vụ chính của NHPT 22

1.3.1 Tín dụng đầu tư 23

1.3.2 Tín dụng xuất khẩu: 23

1.3.2.1 Cho vay xuất khẩu: 23

1.3.2.2 Bảo lãnh TDXK 24

1.3.2.3 Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng 24

1.3.3 Quản lý vốn ODA cho vay lại và quản lý các Quỹ quay vòng 24

1.3.4 Hỗ trợ sau đầu tư và quản lý vốn ủy thác 25

1.3.5 Bảo lãnh tín dụng 25

1.3.5.1 Bảo lãnh TDĐT: 25

1.3.5.2 Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM: 26

1.3.6 Nguồn vốn của NHPT 26

1.3.6.1 Lãi suất huy động vốn : 27

1.3.6.2 Hình thức huy động vốn: 27

1.3.6.3 Thời hạn huy động: 27

1.3.6.4 Đồng tiền huy động: 27

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM GIAI ĐOẠN 2006-2009 28

2.1 Kết quả hoạt động của NHPT giai đoạn 2006-2009 28

2.1.1 Huy động vốn: 28

2.1.2 Cho vay đầu tư: 29

2.1.3 Vốn ODA cho vay lại và Quỹ quay vòng: 31

2.1.4 Tín dụng xuất khẩu: 33

2.1.5 Bảo lãnh tín dụng đầu tư 34

2.1.6 Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn các NHTM theo Quyết định 14 34

2.1.7 Tình hình thực hiện hỗ trợ sau đầu tư 34

2.1.8 Tình hình tài chính của NHPT 35

2.1.9 Tình hình cán bộ của NHPT 35

2.1.9.1 Về cán bộ và đào tạo cán bộ 35

2.1.9.2 Về cán bộ lãnh đạo: 36

Trang 3

2.1.9.3 Về công tác quy hoạch cán bộ Lãnh đạo 36

2.1.9.4 Về công tác luân chuyển cán bộ Lãnh đạo các cấp 37

2.1.9.5 Về thực hiện quy định về chuyển đổi vị trí công tác: 37

2.2 Đánh giá hoạt động của NHPT giai đoạn 2006-2009 37

2.2.1 Các mặt được 37

2.2.1.1 Đối với nền kinh tế 37

2.2.1.2 Đối với NHPT 42

2.2.2 Tồn tại, hạn chế 46

2.2.2.1 Đối với nền kinh tế 46

2.2.2.2 Hạn chế đối với NHPT 47

2.3 Nguyên nhân của các tồn tại, hạn chế 49

2.3.1 Mô hình NHPT hiện tại chưa hợp lý 49

2.3.1.1 Định hướng của Chính phủ đối với hoạt động NHPT chưa ổn định, rõ ràng 50

2.3.1.2 NHPT chưa được trao quyền chủ động phù hợp 50

2.3.1.3 Mô hình Hội đồng quản lý chưa phù hợp 50

2.3.2 Chính sách TDĐT&TDXK của Nhà nước chưa được ban hành, hướng dẫn kịp thời và còn nhiều điểm chưa phù hợp 51

2.3.2.1 Đối với hoạt động cho vay đầu tư và TDXK: 51

2.3.2.2 Đối với hoạt động HTSĐT 52

2.3.2.4 Đối với hoạt động quản lý vốn ủy thác 53

2.3.2.5 Đối với hoạt động quản lý vốn ODA cho vay lại 54

2.3.3 Cơ chế nguồn vốn và tài chính không phù hợp, sự hỗ trợ của Nhà nước không kịp thời và đầy đủ: 54

2.3.3.1 Về cơ chế nguồn vốn 54

2.3.3.2 Cơ chế tài chính chưa phù hợp 56

2.3.4 Môi trường triển khai còn chứa đựng nhiều nhân tố bất lợi 57

2.3.4.1 Các quy định pháp lý có liên quan chưa thật phù hợp 57

2.3.4.2 Thị trường tiềm ẩn nhiều nhân tố không ổn định: 57

2.3.4.3 Năng lực về tài chính và kỹ thuật của các nhà thầu/đơn vị thi công trong nước còn hạn chế 57

2.3.4.4 Công tác đền bù, giải phóng mặt bằng, phê duyệt thiết kế kỹ thuật, tổng dự toán, tổ chức và phê duyệt kết quả đấu thầu kéo dài 58

2.3.4.5 Thiếu sự phối hợp chặt chẽ giữa các bộ, ngành quản lý lĩnh vực đầu tư và xây dựng; năng lực của chủ đầu tư và đơn vị thi công hạn chế 58

2.3.4.6 Kiểm tra, thanh tra, giám sát đầu tư và xử lý vi phạm chưa thường xuyên và chưa nghiêm 58

2.3.5 Các nguyên nhân về phía NHPT: 58

2.3.5.1 Chính sách quản trị rủi ro tín dụng còn nhiều điểm không hợp lý 58

2.3.5.2 Hệ thống thông tin yếu kém: 59

2.3.5.3 Tổ chức bộ máy quản trị nội bộ không hợp lý: 60

2.3.5.4 Chất lượng nguồn nhân lực chưa đáp ứng yêu cầu: 60

2.3.6 Nguyên nhân về phía các doanh nghiệp 61

CHƯƠNG III: GIẢI PHÁP PHÁT TRIỂN HOẠT ĐỘNG CỦA NHPT ĐẾN NĂM 2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020 62

3.1 Định hướng phát triển của nền kinh tế 62

3.1.1 Định hướng phát triển của nền kinh tế đến năm 2020 62

3.1.2 Định hướng phát triển của ngành ngân hàng 62

3.1.2.1 Đối với NHNN 62

3.1.2.2 Đối với các tổ chức tín dụng 63

Trang 4

3.2 Định hướng và Mục tiêu phát triển hoạt động của NHPT đến năm 2010, năm 2015, tầm nhìn đến năm

2020 63

3.2.1 Định hướng phát triển hoạt động của NHPT 63

3.2.2 Dự kiến nhu cầu vốn đầu tư từ nay đến năm 2015 64

3.2.3 Mục tiêu chung: 65

3.2.4 Mục tiêu cụ thể 65

3.3 Giải pháp phát triển hoạt động của NHPT 65

3.3.1 Hoàn thiện chính sách của Nhà nước về tín dụng và mô hình NHPT 65

3.3.1.1 Hoàn thiện chính sách TDĐT&TDXK của Nhà nước 65

3.2.2.2 Luật hóa chính sách và Công khai hóa thông tin 67

3.2.3.2 Hoàn thiện mô hình NHPT 68

3.3.2 Tăng cường huy động vốn, nâng cao hiệu quả quản lý vốn 70

3.3.2.1 Đẩy mạnh huy động vốn qua hoạt động phát hành trái phiếu 70

3.3.2.2 Huy động vốn gắn với việc cung cấp dịch vụ thanh toán 71

3.3.2.3 Về việc tham gia thị trường mở : 71

3.3.2.4 Đa dạng hoá các phương thức huy động vốn 71

3.3.2.5 Quản lý tập trung và nâng cao hiệu quả quản lý vốn 71

3.3.2.6 Gắn huy động vốn với hiệu quả hoạt động của NHPT 73

3.3.3 Đa dạng hóa hoạt động nghiệp vụ 73

3.3.4 Nâng cao chất lượng thẩm định, quản lý tín dụng và phòng ngừa, XLRR tín dụng 73

3.3.4.1 Xác định hạn mức vốn vay để bảo đảm khả năng thanh toán của NHPT 73

3.3.4.2 Thông tin phòng ngừa rủi ro tín dụng: 74

3.3.4.3 Nâng cao năng lực công tác thẩm định 75

3.3.4.4 Quản lý sát sao các khoản nợ vay 76

3.3.4.5 Nâng cao chất lượng công tác quản lý và xử lý rủi ro tín dụng đối với các khoản nợ có vấn đề 76

3.3.4.6 Tổ chức bộ máy và nhân sự trong quản trị rủi ro tín dụng 77

3.3.5 Đẩy mạnh tín dụng xuất khẩu 81

3.3.5.2 Hoàn thiện hệ thống quy chế, quy trình TDXK của NHPT 81

3.3.5.3 Từng bước chuẩn hoá công tác TDXK cho NHPT 81

3.3.5.4 Triển khai các hình thức TDXK mới 81

3.3.6 Nâng cao chất lượng quản lý các nguồn vốn ODA 82

3.3.6.1 Về quản lý vốn ODA 82

3.3.6.2 Nghiệp vụ quản lý Quỹ quay vòng 83

3.3.7 Đối với HTSĐT và quản lý vốn ủy thác 84

3.3.7.1 Đối với nghiệp vụ HTSĐT 84

3.3.7.2 Đối với nghiệp vụ nhận uỷ thác 84

3.3.8 Hoàn thiện chế độ kế toán phù hợp với thông lệ 85

3.3.8.1 Hoàn thiện tổ chức bộ máy kế toán 85

3.3.8.2 Xây dựng chế độ kế toán mới hoàn chỉnh, thống nhất 85

3.3.8.3 Nâng cao chất lượng công tác quản lý tài chính 86

3.3.8.4 Hoàn thiện và nâng cấp hệ thống thanh toán 87

3.3.8 Hiện đại hóa hoạt động 88

3.3.8.1 Mô hình công nghệ: 88

3.3.8.2 Mô hình phát triển ứng dụng 88

3.3.8.3 Phần cứng và mạng truyền thông 89

3.3.8.4 Tổ chức hệ thống công nghệ thông tin: 90

3.3.9 Hoàn thiện tổ chức bộ máy quản trị nội bộ và công tác quản lý cán bộ 90

3.3.9.1 Về tổ chức bộ máy 90

3.3.9.2 Giải pháp nâng cao chất lượng công tác quản lý cán bộ 91

3.3.9.3 Công tác Lao động tiền lương: 92

3.3.10 Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng cán bộ 93

3.3.10.1 Về nhận thức đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng: 93

Trang 5

3.3.10.2 Về phân cấp trong công tác quản lý đào tạo, bồi dưỡng: 93

3.3.10.3 Về xây dựng chính sách đối với công tác đào tạo, bồi dưỡng: 93

3.3.10.4 Về hợp tác trong công tác đào tạo, bồi dưỡng: 94

3.3.10.5 Về cơ sở vật chất, kinh phí cho công tác đào tạo, bồi dưỡng: 94

3.3.10.6 Đào tạo tiểu giáo viên 94

3.3.11 Tăng cường quảng bá, giới thiệu về hoạt động của NHPT 94

3.4 Kiến nghị 94

3.4.1 Đối với Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ và các Bộ, ngành 94

3.4.2 Đối với NHPT: 95

3.4.2.1 Về quyết tâm của Ban lãnh đạo và cán bộ: 95

3.4.2.2 Về chính sách 95

3.4.2.3 Về cơ sở vật chất 95

3.4.2.4 Bộ máy tổ chức và bồi dưỡng nâng cao chất lượng nguồn nhân lực 96

KẾT LUẬN 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 98

PHỤ LỤC 101

Trang 6

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT Chữ viết tắt Chữ đầy đủ tiếng Việt - tiếng Anh

CLLS Chênh lệch lãi suất (dùng trong cụm từ: cấp bù CLLS)

CNH-HĐH Công nghiệp hóa – hiện đại hóa

DNNN Doanh nghiệp nhà nước

DFI Development financial institution - Tổ chức tài trợ phát triển ĐTPT Đầu tư phát triển

GDP Tổng sản phẩm quốc nội - Gross Domestic Product

LSSĐT Lãi suất sau đầu tư (dùng trong cụm từ : Hỗ trợ LSSĐT)

NHPT Ngân hàng phát triển Việt Nam

NHTM Ngân hàng thương mại

Trang 7

DANH MỤC BẢNG, MÔ HÌNH, HỘP VÀ ĐỒ THỊ

Bảng 1.1: Tình hình phát triển kinh tế giai đoạn 2006-2008 11

Bảng 2.3: Tình hình cho vay đầu tư tại Quỹ HTPT/NHPT 29 Bảng 2.4a: Cơ cấu số dư nợ theo kỳ hạn còn lại tại thời điểm cuối các năm 30

Bảng 2.5: Tình hình vốn ODA cho vay lại tại Quỹ HTPT/NHPT 31

Bảng 2.10: Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực kinh tế 40

Bảng 2.14: Một số chỉ tiêu xem xét rủi ro thanh khoản 48

Bảng 3.1: Dự kiến nhu cầu vốn giai đoạn 2009-2015 64 Bảng 3.2: Mục tiêu cụ thể của NHPT giai đoạn 2009-2015, tầm nhìn 2020 65

DANH MỤC ĐỒ THỊ

Đồ thị 1.4: Lãi suất điều hành thị trường tiền tệ của NHNN 15

Đồ thị 1.5: Dư nợ và tăng trưởng tín dụng nền kinh tế 16

Đồ thị 2.1: Cơ cấu số dư vốn huy động theo kỳ hạn 29

Đồ thị 2.2: Cơ cấu dư nợ cho vay đầu tư theo phân ngành kinh tế 30

Đồ thị 2.9: Lãi suất hòa đồng và cấp bù CLLS, phí quản lý 46

Đồ thị 2.10: Một số chỉ tiêu xem xét rủi ro tín dụng 47

Trang 8

DANH MỤC HÌNH VÀ HỘP

Hình 3.2: Vai trò của Ngân hàng phát triển hiện đại 69

Hình 3.5: Mô hình công nghệ của hệ thống thông tin Ngân hàng PTVN 88 Hình 3.6: Kiến trúc tổng thể hệ thống lớp ứng dụng 89

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Sự cần thiết của Đề tài

Lịch sử phát triển kinh tế thế giới hiện đại đã chứng minh vai trò quan trọng của các tổ chức tài trợ phát triển đối với sự phát triển của nền kinh tế thông qua việc đẩy mạnh huy động các nguồn vốn và tập trung tài trợ có hiệu quả cho các dự án phát triển, đóng góp tích cực vào

sự tăng trưởng vượt bậc của các quốc gia, điển hình là các nước khu vực Đông Á

Tại Việt Nam, cùng với sự đổi mới của nền kinh tế theo định hướng kinh tế thị trường XHCN, TDĐT&TDXK của Nhà nước đã trải qua những giai đoạn phát triển nhất định Khi Việt Nam chuyển đổi nền kinh tế kế hoach hoá tập trung sang kinh tế thị trường có sự điều tiết của Nhà nước, các hoạt động chính sách về tín dụng đã dần tách ra khỏi tín dụng thương mại, một bộ phận nguồn vốn cấp phát từ ngân sách nhà nước được chuyển thành vốn tín dụng ưu đãi Sự ra đời của Quỹ HTPT với mô hình tổ chức tài chính nhà nước nhằm đảm nhận nhiệm

vụ tín dụng ưu đãi Trong điều kiện nền kinh tế thị trường của Việt Nam đang dần được hoàn thiện và chuẩn bị gia nhập WTO, mô hình Quỹ HTPT bộc lộ những bất cập trong hoạt động cũng như chưa thích ứng với yêu cầu hội nhập quốc tế

Ngày 19 tháng 5 năm 2006, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg về việc thành lập NHPT trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ Hỗ trợ phát triển; qua 3 năm hoạt động, NHPT đã từng bước phát huy vai trò của mình, góp phần quan trọng huy động thêm các nguồn lực trong và ngoài nước, hỗ trợ trong việc thúc đẩy đầu tư phát triển kinh tế và xuất khẩu Tuy nhiên thực tiễn triển khai 3 năm qua cũng đã bộc lộ những tồn tại nhiều mặt do cả nguyên nhân chủ quan, khách quan, từ đó hạn chế hiệu quả hỗ trợ sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt trong giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế hiện nay Thực tế đó đòi hỏi phải triển khai những giải pháp đồng bộ để phát triển hoạt động của NHPT trong giai đoạn

hiện nay Xuất phát từ yêu cầu đó, Đề án "Tổng kết hoạt động của Ngân hàng phát triển Việt

Nam 3 năm (05/2006-05/2009), định hướng giai đoạn 2009-2015, tầm nhìn đến năm 2020 "

được lựa chọn nghiên cứu

2 Mục đích nghiên cứu

- Nghiên cứu những vấn đề cơ bản về hoạt động của NHPT

- Phân tích, đánh giá thực trạng hiệu quả hoạt động của NHPT ở Việt Nam và làm rõ các nguyên nhân hạn chế hiệu quả hoạt động của NHPT

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị nhằm hoàn thiện mô hình và phát triển hoạt động của NHPT ở Việt Nam

3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu của Đề tài

Đối tượng và phạm vi nghiên cứu là hoạt động của NHPT và các chính sách của Nhà nước

có liên quan trong giai đoạn 2006-2009

4 Đóng góp của Đề tài

- Đề tài tập trung phân tích thực trạng hoạt động của NHPT trong giai đoạn 2006-2009 trên phương diện định tính và định lượng ở cả tầm vi mô và vĩ mô; phân tích và làm rõ các nguyên nhân hạn chế hiệu quả hoạt động của NHPT một cách toàn diện trên các khía cạnh: chính sách và môi trường triển khai, mô hình tổ chức triển khai, quản lý và sử dụng vốn TDĐT&TDXK của Nhà nước

- Đề xuất các giải pháp và kiến nghị cụ thể mang tính dài hạn phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế, nhằm nâng cao hiệu quả hoạt động TDĐT&TDXK của Nhà nước trên các

Trang 10

phương diện: môi trường kinh tế vĩ mô, chính sách của Nhà nước, mô hình tổ chức triển khai, quản trị nội bộ của NHPT Đặc biệt trong đó Đề tài cũng đề xuất hệ thống gồm 10 nhóm giải pháp chiến lược nhằm nâng cao hiệu quả và phát triển hoạt động của NHPT một tổ chức đặc biệt và có quy mô thuộc hàng đầu hệ thống các tổ chức tài chính-tín dụng, lần đầu tiên xuất hiện tại Việt Nam từ tháng 07/2006

5 Kết cấu của Đề tài

Ngoài các phần Mở đầu, Kết luận, Mục lục, Danh mục các chữ viết tắt, Danh mục tài liệu tham khảo và các Phụ lục, Báo cáo Đề tài được kết cấu thành 3 chương:

- Chương 1: Hoạt động Ngân hàng phát triển Việt Nam

- Chương 2: Thực trạng hoạt động Ngân hàng phát triển Việt Nam giai đoạn

2006-2009

- Chương 3: Giải pháp phát triển hoạt động Ngân hàng phát triển Việt Nam

Đây là những kết quả nghiên cứu ban đầu trong điều kiện hạn hẹp về nguồn lực (thời gian nghiên cứu, số cán bộ tham gia nghiên cứu ), vì vậy chắc chắn không thể bao quát tất cả mặt hoạt động của Ngân hàng Phát triển Các kiến nghị, giải pháp đề xuất tại các chuyên đề và được đưa vào Báo cáo Tổng thể là những giải pháp thực tiễn có cơ sở khoa học để báo cáo Lãnh đạo NHPT nghiên cứu tham khảo trong quá trình đề xuất với cấp có thẩm quyền hoàn thiện mô hình NHPT và chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước theo hướng ổn định và bền vững

Trang 11

CHƯƠNG I: BỐI CẢNH RA ĐỜI VÀ HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM

1.1 Tình hình phát triển kinh tế xã hội Việt Nam giai đoạn 2006-2009

1.1.1 Tình hình phát triển của nền kinh tế

Bước vào kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm lần thứ 2 (giai đoạn 2006-2010) của thế kỷ 21, nền kinh tế nước ta tiếp tục đạt được những thành tựu nổi bật trên nhiều mặt Sự kiện Việt Nam gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO) năm 2007 là kết quả minh chứng cho những nỗ lực cải cách không ngừng trong lĩnh vực kinh tế của Việt Nam trong nhiều năm qua theo hướng mở cửa thị trường

- Tăng trưởng kinh tế trong 03 năm (2006-2008) luôn ở mức cao so với khu vực và thế giới, bình quân tăng trưởng GDP giai đoạn 2006-2008 đạt 7,5%/năm

- Huy động vốn toàn xã hội cho ĐTPT duy trì ở mức cao; tăng từ 32,9% GDP năm

2000 lên 38,9% năm 2005 và 41% năm 2006 và 43,5% năm 2008; bình quân đạt 41% GDP hàng năm (Hình 1) Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) liên tục đạt những kỷ lục mới với mức tăng trưởng rất nhanh; số dự án, số vốn đăng ký và giải ngân vốn FDI năm sau cao hơn năm trước; riêng năm

đầu tư lớn được thực

hiện có ý nghĩa thiết

thực đối với tăng

trưởng kinh tế và

xóa đói, giảm nghèo

Bảng 1.1: Tình hình phát triển kinh tế giai đoạn 2006-2008

Khu vực công nghiệp và xây dựng % 10,37 10,60 6,33 1,5

(2) Tốc độ tăng giá trị sản xuất công nghiệp % 17 17,1 14,6 2,4 (3) Tốc độ tăng giá trị sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp % 4,4 4,6 5,6 0,9

(7) Vốn FDI cấp mới và tăng thêm Tỷ USD 9,9 17,86 60,3 6,01 (8) Tốc độ tăng chỉ số giá tiêu dùng và dịch vụ % 8,2 12,63 22,97 14,47 Ghi chú: Các tốc độ tăng so với cùng kỳ năm trước Nguồn: Tổng cục Thống kê [1]

Đồ thị 1.1: GDP và vốn đầu tư

0 200 400 600 800 1000 1200 1400 1600

GDP (trái) Vốn đầu tư NSNN (trái)

T ổng vốn ĐTPT (trái) %vốn ĐTPT/GDP (phải)

Trang 12

- Xuất khẩu liên tục tăng trưởng ở mức cao với mức tăng trưởng bình quân giai đoạn 2006-2008 là 23,5%, bình quân bằng gần 70% GDP hàng năm; Tổng giá trị kim ngạch xuất nhập khẩu liên tục tăng cao, bình quân giai đoạn này bằng 148% GDP, phản ánh độ mở cao, thể hiện sự hội nhập ngày càng sâu hơn vào nền kinh tế khu vực và thế giới

- Thu nhập bình quân đầu người tăng từ 722 USD năm 2006 lên khoảng 1.024 USD năm 2008 [2][36]

- Các lĩnh vực khoa học và công nghệ, bảo vệ môi trường, giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, thông tin, thể dục thể thao, dạy nghề, giải quyết việc làm, xóa đói, giảm nghèo và các lĩnh vực xã hội khác đều có chuyển biến theo chiều hướng tích cực; đời sống nhân dân được cải thiện Cải cách hành chính được đẩy mạnh theo hướng công khai, minh bạch và đơn giản hóa thủ tục Phòng, chống tham nhũng có chuyển biến tích cực, đạt được kết quả quan trọng bước đầu, được nhân dân đồng tình Công tác đối ngoại và kinh tế đối ngoại phục vụ phát triển kinh tế-xã hội được triển khai đồng bộ, thực hiện tốt các cam kết theo lộ trình gia nhập WTO [3]

Bên cạnh những thành tựu quan trọng đã đạt được trong những năm qua, nước ta cũng gặp phải nhiều khó khăn thách thức; sự phát triển của nền kinh tế cũng bộc lộ nhiều yếu kém

- Việt Nam gia nhập WTO năm 2007 cũng chính là năm kinh tế vĩ mô chịu tác động mạnh bởi những biến động phức tạp của kinh tế thế giới, đặc biệt là tình trạng lạm phát tăng trở lại mức hai con số (năm 2007: 12,63%; năm 2008: 22,97%); Nhập siêu năm 2008 tăng cao kỷ lục, lên đến gần 18 tỷ USD, bằng 12,2% tổng kim ngạch xuất nhập khẩu và bằng gần 20% GDP, tăng 41,1% so với năm 2007 (nhập siêu năm 2006 ở mức 12,7% tổng kim ngạch xuất khẩu) Trước tình hình lạm phát và nhập siêu tăng mạnh đe dọa đến sự ổn định kinh tế vĩ mô, trong 9 tháng đầu năm 2008, Chính phủ đã xác định kiềm chế lạm phát là mục tiêu ưu tiên hàng đầu và tập trung chỉ đạo thực hiện với 8 nhóm giải pháp chủ yếu theo hướng thắt chặt

- Khủng hoảng kinh tế toàn cầu lan rộng tác động tới nhiều mặt của nền kinh tế Do độ

mở của nền kinh tế khá cao nên Việt Nam sẽ tiếp tục chịu nhiều ảnh hưởng nặng nề tác động tới luồng vốn đầu tư nước ngoài, xuất nhập khẩu; ảnh hưởng tiêu cực tới sản xuất trong nước

- Cơ cấu kinh tế chuyển dịch chậm lại Tỷ trọng khu vực công nghiệp và xây dựng từ 40,97% năm 2005 lên 41,52% trong năm 2006; khu vực dịch vụ tăng từ 38,01% GDP năm

2005 lên 38,08% năm 2006; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản giảm từ 21,02% năm 2005 xuống còn 20,40% năm 2006 Tuy nhiên đến năm 2008, khu vực công nghiệp và xây dựng giảm xuống còn chiếm 39,91% GDP; khu vực dịch vụ chiếm 38,1%; khu vực nông, lâm nghiệp và thuỷ sản chiếm 21,99% GDP [4]

- Thâm hụt ngân sách ngày càng tăng và trở nên trầm trọng Mức thâm hụt đã lên lớn nhất trong vòng nhiều năm qua, năm 2005: 40,7 ngàn tỉ đồng; năm 2006: 48,5 ngàn tỉ đồng; năm 2007: 56,5 ngàn tỉ đồng; năm 2008: 66,2 ngàn tỉ đồng Năm 2009, Chính phủ đã trình Quốc hội mức bội chi là 8%GDP Mức bội chi lên đến 8% GDP đang mang lại những quan ngại sâu sắc về ổn định kinh tế vĩ mô trong trung hạn Mức bội chi này sẽ tương đương với 144,8 ngàn tỉ đồng (khoảng 8,5

tỉ USD, với tỷ giá là 17.000 VND/USD), căn cứ trên mức bội chi đã được Quốc hội thông qua là 87,3 ngàn tỉ đồng (khoảng 5,1 tỉ USD) tương ứng với 4,82% GDP [5]

- Sự phát triển kinh tế, xã hội vẫn chưa tương xứng với tiềm năng, cơ hội có được; nền kinh tế còn nhỏ bé, trình độ, năng suất lao động thấp, khả năng cạnh tranh còn hạn chế trong điều kiện toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng [3]

- Chất lượng, hiệu quả tăng trưởng kinh tế còn thấp, kém bền vững (hệ số ICOR ngày càng tăng, hệ số ICOR năm 2008 ước tính khoảng 5,3); chỉ số tăng giá cao, nhập siêu cao;

Trang 13

Đồ thị 1.3: Lạm phát, tăng trưởng GDP và ICOR

- Khả năng kiểm soát dịch bệnh ở người, cây trồng, vật nuôi và phòng, chống thiên tai chưa cao; khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế còn thấp

- Kết cấu hạ tầng và nguồn nhân lực phục vụ phát triển kinh tế-xã hội và quản lý nhà nước chưa đáp ứng được đòi hái của thực tiễn phát triển đất nước Cơ chế chính sách, thủ tục hành chính còn nhiều bất cập, chưa đáp ứng yêu cầu thông thoáng cho doanh nghiệp và nhà đầu tư Sự phối hợp giữa các bộ, ngành, địa phương chưa thực sự thông suốt và còn kém hiệu quả [6]

- Chất lượng xây dựng thể chế còn thấp, chưa phù hợp hoặc chưa đủ rõ, gây khó khăn cho quá trình thực hiện Chất lượng quy hoạch, kế hoạch và dự báo không theo kịp với yêu cầu

và tốc độ phát triển của nền kinh tế

Năm 2008, nền kinh tế bị lạm phát cao, một số cán cân vĩ mô có chiều hướng xấu Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã có nhiều chỉ đạo thực hiện 8 nhóm giải pháp quan trọng nhằm kiềm chế lạm phát và ổn định kinh tế vĩ mô Cuối năm 2009, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 30/2008/NQ-CP nhằm ngăn chặn suy giảm kinh tế, duy trì tăng trưởng kinh tế, đảm bảo an sinh xã hội gồm 5 giải pháp trọng tâm cấp bách và yêu cầu các bộ, ngành, địa phương cần khẩn trương triển khai ngay thành các chương trình hành động cụ thể, thiết thực để chủ động ứng phó trước ảnh hưởng của khủng hoảng tài chính và suy thoái kinh tế toàn cầu Ngày 06/04/2009,

suy giảm kinh tế, phấn

đấu duy trì và khôi phục

lại đà tăng trưởng, giữ ổn

định kinh tế vĩ mô, chủ

động ngăn ngừa lạm phát,

bảo đảm an sinh xã hội,

giữ vững an ninh chính trị

và trật tự an toàn xã hội Đối với nhóm giải pháp thúc đẩy sản xuất kinh doanh, xuất khẩu, các

bộ, ngành, địa phương cần tập trung chỉ đạo quyết liệt các giải pháp đẩy mạnh sản xuất, không

Trang 14

để xảy ra dịch bệnh tràn lan, đặc biệt chú ý giải quyết tốt khâu tiêu thụ sản phẩm cho nông dân, không để diễn ra tình trạng được mùa lại mất giá Để đẩy mạnh triển khai giải pháp quan trọng

là kích cầu đầu tư và tiêu dùng, bên cạnh việc tiếp tục rà soát, tháo gỡ các vướng mắc về thủ tục hành chính, nhất là thủ tục đấu thầu, thuế, giải phóng mặt bằng, Chính phủ yêu cầu tập trung giải ngân nhanh các công trình, dự án đầu tư từ các nguồn vốn ngân sách Nhà nước, vốn ODA, FDI và các nguồn vốn dân doanh, đặc biệt chú trọng giải ngân đối với các công trình, dự

án đầu tư từ nguồn vốn NSNN

1.1.2.1 Chính sách và điều hành của NHNN

- Hệ thống hành lang pháp lý cho hoạt động ngân hàng đã có những bước cải thiện mạnh mẽ theo hướng phù hợp với các cam kết quốc tế, đảm bảo vừa tuân thủ các chuẩn mực quốc tế, vừa phù hợp với điều kiện của Việt Nam Nhiều văn bản pháp lý cần thiết cho hoạt động ngân hàng trong quá trình hội nhập như các văn bản về quản lý ngoại hối, các quy định

về tỷ lệ đảm bảo an toàn, phân loại nợ, trích lập và sử dụng dự phòng rủi ro trong hoạt động của tổ chức tín dụng (TCTD), cấp phép thành lập và hoạt động của ngân hàng thương mại (NHTM) cổ phần… đã được ban hành Các quy định đều bám sát các cam kết WTO và theo hướng ngày một thông thoáng, minh bạch hơn, những phân biệt đối xử giữa các loại hình TCTD, TCTD trong nước và nước ngoài từng bước được loại bỏ, chức năng tín dụng chính sách và tín dụng thương mại đã được tách bạch, cho phép các NHTM được tự chủ và tự chịu trách nhiệm đối với hoạt động kinh doanh của mình

- NHNN đã ban hành mới cơ chế cho vay bằng ngoại tệ của TCTD theo hướng chặt chẽ hơn nhằm hạn chế cho vay đối với nhu cầu không nhất thiết phải sử dụng vốn ngoại tệ; ban hành mới quy chế thu đổi ngoại tệ nhằm từng bước khắc phục tình trạng đô la hóa, tình trạng 2

tỷ giá trên thị trường trong nước

- Về việc điều hành chính sách tiền tệ: Nếu như trong năm 2006 và 2007 hầu như không có sự biến động nào trong việc điều hành chính sách tiền tệ thông qua các công cụ lãi suất thì năm 2008 chứng kiến sự đổi thay “chóng mặt” Chính sách tiền tệ từ định hướng thắt chặt và linh hoạt nửa đầu năm 2008 chuyển dần sang nới lỏng một cách thận trọng những tháng cuối năm

- Siết chặt lại các điều kiện được cho vay và khống chế tổng dư nợ cho vay năm 2008 không vượt quá 30% (năm 2007 tăng trưởng dư nợ là 53%), chiết khấu giấy tờ có giá để đầu tư kinh doanh chứng khoán không được vượt quá 20% vốn điều lệ của TCTD

- Sử dụng lãi suất cơ bản như 1 công cụ điều tiết quan trọng đối với lãi suất tín dụng của thị trường, theo đã trong năm 2008 lãi suất cơ bản đã được điều chỉnh 3 lần tăng trong 9 tháng đầu năm (tằng từ 8,25% lên đỉnh cao là 14%) và 5 lần giảm trong 3 tháng cuối năm 2008; cuối tháng 1 năm 2009, lãi suất cơ bản tiếp tục được điều chỉnh giảm (còn 7%) và áp dụng từ ngày 01/02/2009 đến nay; khác biệt hoàn toàn so với mức lãi suất “đứng yên” trong suốt 2 năm 2006

và 2007 Cùng với sự điều chỉnh trên, NHNN chính thức áp cơ chế lãi suất trần trong hoạt động cho vay của các tổ chức tín dụng (không quá 150% lãi suất cơ bản theo quy định của Bộ luật Dân sự) Lãi suất tái cấp vốn, lãi suất tái chiết khấu cũng có tần suất điều chỉnh tương ứng Tỷ lệ dự trữ bắt buộc có 1 lần tăng trong tháng 2, 4 lần giảm trong 3 tháng cuối năm (2 lần giảm đối với

dự trữ bằng ngoại tệ) Lãi suất tiền gửi dự trữ bắt buộc có 5 lần điều chỉnh (3 lần tăng, 2 lần giảm) Việc lãi suất cơ bản liên tục được điều chỉnh một mặt phản ánh sự điều hành linh hoạt của NHNN song mặt khác nó cũng phần nào phản ánh sự bất ổn định của thị trường tiền tệ trong nước

Trang 15

Đồ thị: 1.4: Lãi suất điều hành thị trường tiền tệ của NHNN

- Biên độ tỷ giá đã 3 lần nới rộng, từ +/-0,75% lên +/-3%; tỷ giá bình quân liên ngân hàng có

2 lần điều chỉnh mạnh, vào tháng 6 và cuối tháng 12/2008; tháng 3/2009 tiếp tục nới biên độ này lên +/-5% Cùng với sự điều chỉnh biên độ và các diễn biến không tốt của nền kinh tế, VND liên tiếp mất giá so với USD; tính chung từ cuối năm 2007 đến 03/2009, VND đã mất giá khoảng 13%

- Trong năm 2008, NHNN đã tăng khối lượng bán tín phiếu trên nghiệp vụ thị trường

mở và phát hành 20.300 tỷ đồng tín phiếu bắt buộc (17/3/2008) đối với các TCTD có quy mô vốn huy động bằng VND trên 1.000 tỷ đồng (trừ Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn, Quỹ tín dụng nhân dân Trung ương) Đi cùng với kế hoạch này, NHNN đã 2 lần điều chỉnh lãi suất cho tín phiếu, 1 lần tăng từ 7,8% lên 13%, tháng 12/2008 giảm xuống còn 4,5% Tuy nhiên trong một số thời điểm, NHNN cũng tăng cường hỗ trợ vốn ngắn hạn nhằm tăng tính thanh khoản cho các TCTD thông qua nghiệp vụ thị trường mở và các công cụ tái cấp vốn khác

- Giám sát chặt chẽ thị trường tiền tệ, tăng cường thanh tra, kiểm tra đối với hệ thống TCTD; Cải tiến công tác dự báo, thống kê, thông tin, đặc biệt đối với công tác thống kê, giám sát luồng vốn vào, ra;

- Đẩy mạnh thông tin, tuyên truyền về chính sách tiền tệ và hoạt động ngân hàng

1.1.2.2 Đối với hệ thống các NHTM

Chính sách thắt chặt tiền tệ đầu năm 2008 của NHNN gắn liền với sự căng thẳng về thanh khoản của các NHTM Lãi suất huy động VND có kỳ biến động mạnh nhất từ trước tới nay Cuộc đua lãi suất mạnh mẽ trong tháng 5 và tạo những đỉnh điểm trong tháng 6/2008 Trên thị trường liên ngân hàng, lãi suất ghi nhận kỷ lục lên tới vài chục %; nhiều ngân hàng đồng loạt đẩy mức huy động trong dân cư lên tới trên 19%/năm, cá biệt có trường hợp áp tới 20%/năm Đó cũng là thời điểm mà hoạt động cho vay của nhiều NHTM cầm chừng, doanh nghiệp vay vốn khó khăn cả về lãi suất cao lẫn khả năng tiếp cận vốn, tín dụng tiêu dùng gần như bị cắt bỏ, tốc độ tăng trưởng tín dụng thấp

Ngược lại, từ cuối tháng 7/2008, cùng với cơ chế cho vay mới, sự hỗ trợ của NHNN với nguồn vốn khả dụng của hệ thống tăng mạnh lên, lãi suất trên thị trường bắt đầu có đợt thoái trào Đặc biệt từ tháng 9 đến cuối năm, gắn với những điều chỉnh các lãi suất chủ chốt của NHNN, cả lãi suất huy động và cho vay dồn dập giảm; ít nhất có 8 đợt điều chỉnh trên diện rộng Từ đỉnh điểm trên 19%/năm, lãi suất huy động VND rút về quanh mốc 8%/năm; lãi suất cho vay tối đa từ 21%/năm về còn 12,75%/năm

Trang 16

Mặc dù thời gian qua đã có những thăng trầm mang tính lịch sử của thị trường, có thể đánh giá rằng hệ thống tài chính nói chung và các NHTM Việt Nam nói riêng đã có sự phát triển vượt bậc so với trước đây, thể hiện:

- Tỷ lệ dư nợ tín dụng/GDP tăng từ 43% năm 2002 lên 71% năm 2006 và lên 94% năm

2007 Tỷ lệ tiền gửi/GDP tăng từ 47,5% năm 2002 lên 78% năm 2006 và lên hơn 100% năm

2007 Tuy nhiên so với các nước trong khu vực thì các tỷ lệ này của Việt Nam còn kém (Ví dụ: năm 2006 tỷ lệ này của Malaisia là 113% và 120%; Singapore là 95% và 118%; Thái Lan là 77% và 79%, Trung Quốc là 131% và 152%; Hàn Quốc là 160% và 133%, Hồng Kông là 134% và 322%) Tăng trưởng tín dụng của Việt Nam khá cao [27]

Đồ thị 1.5: Dư nợ và tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế

200 400 600 800 1,000

- Số lượng các ngân hàng đô thị tăng (từ 9 ngân hàng năm 1991 lên 80 NHTM năm 2007 và

94 ngân hàng năm 2008, gồm: 05 NHTM Nhà nước (kể cả VCB và Vietinbank); 38 NHTM cổ phần đô thị (các NHTM cổ phần nông thôn đã chuyển đổi hết thành các NHTM cổ phần đô thị trong giai đoạn này); 05 Ngân hàng liên doanh; 42 Chi nhánh ngân hàng nước ngoài; 02 ngân hàng 100% vốn nước ngoài; 02 ngân hàng chính sách: Ngân hàng phát triển Việt Nam –VDB và Ngân hàng chính sách xã hội –VBSP) Ngoài ra có 17 công ty tài chính (năm 2007 có 9 Công ty, hết năm

2008 có 17 công ty); 13 công ty cho thuê tài chính và 54 Văn phòng đại diện ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam

- Tỷ lệ tiền mặt/tổng phương tiện thanh toán mặc dù có xu hướng giảm nhưng vẫn ở mức cao nhất so với các nước trong khu vực Năm 2002, tỷ lệ này của Việt Nam là 23%, năm 2006

là 18%; trong khi đã năm 2006 các nước như Philipin và Indonesia chỉ có 11%, Thái Lan 10%, Malaysia 5%, Trung Quốc 8%, Đài Loan và Hồng Kông 3%, Hàn Quốc 2% [27]

- Tốc độ tăng trưởng quy mô (vốn, tài sản, mạng lưới) của các ngân hàng:

+ Các NHTM đã tăng trưởng rất nhanh về quy mô, đặc biệt là vốn điều lệ và mạng lưới chi nhánh Trong năm 2007 tăng trưởng vốn này bình quân của các 11 NHTM

cổ phần lớn nhất (không kể Vietcombank) là 144% Về năng lực tài chính: quy mô vốn của các NHTM đã được tăng lên đáng kể Theo quy định tại Nghị định số 141/2006/NĐ-

CP ngày 22/11/2006 của Chính phủ về ban hành Danh mục mức vốn pháp định của các TCTD, các ngân hàng phải có vốn điều lệ ít nhất là 1.000 tỷ VND và đến năm 2010 là 3.000 tỷ VND, đến nay, đã có nhiều ngân hàng đạt mức trên 1.000 tỷ đồng đến 3.000 tỷ đồng Các NHTM Nhà nước tiếp tục tái cơ cấu: VCB đã cổ phần hóa, hiện Chính phủ đã đồng ý cổ phần hóa VietinBank và BIDV Nhờ có sự phát triển của thị trường chứng khoán, việc tăng vốn của các NHTM bớt gặp khó khăn Bên cạnh đó, các NHTM còn có thể bán cổ phần cho các đối tác nước ngoài (đến nay đã có 10 NHCP có đối tác chiến lược là ngân hàng nước ngoài, trong đó TechcomBank, ABBank, Phương Nam đã bán cổ phần cho ngân hàng nước ngoài từ 15 – 20% với giá cổ phiếu cao hơn thị trường) Nhờ vậy, các NHTM có điều kiện mở rộng mạng lưới chi nhánh, địa bàn hoạt động, tăng

Trang 17

cường khả năng cạnh tranh Trước năm 2006, hệ số an toàn vốn của các NHTM nhà nước đều không đạt mức yêu cầu 8%, tuy nhiên đến nay đều đã đạt trên mức quy định Đối với các NHTM cổ phần, hệ thống an toàn vốn đều vượt tỷ lệ quy định, thậm chí có nhiều ngân hàng có hệ thống an toàn vốn lên đến trên 20% Ngoài việc tăng quy mô vốn, nhiều ngân hàng còn đẩy mạnh việc thực hiện cơ cấu lại tài chính như tăng vốn tự có, xử lý nợ xấu, cơ cấu lại tổ chức và hoạt động Tuy nhiên, quy mô vốn của các NHTM Việt Nam

so với các nước phát triển còn rất nhỏ bé

+ Hầu hết các NHTM cổ phần đều có mức tăng tổng tài sản năm 2007 là 100% trở lên Các NHTM quốc doanh có mức tăng thấp hơn (BIDV: 29%; VCB: 16%; Vbard: 30%) nhưng quy mô rất lớn, bình quân có tổng tài sản gấp khoảng 9 lần tài sản bình quân của các NHTM cổ phần trong năm 2007 Năm 2007 tổng tài sản của toàn ngành ngân hàng đã lên tới 130% GDP

+ Hệ số an toàn vốn (CAR) trung bình của các NHTM quốc doanh tăng từ 7% năm 2006 lên 9% năm 2007, tỷ lệ này của các NHTM cổ phần bình quân trên 12% Trong khi đã, tỷ lệ này của các NHTM khu vực Đông Á là 12,3%, của khu vực Châu Á Thái Bình Dương là 13%

+ Hệ thống mạng lưới cũng tăng lên nhanh chóng, đặc biệt là khối các NHTM cổ phần Tuy nhiên quy mô mạng lưới lớn nhất vẫn là các NHTM quốc doanh, bình quân gấp 3 lần các NHTM cổ phần (Vbard: 2000 Chi nhánh, Vietinbank: 832 Chi nhánh, BIDV: 412 Chi nhánh, VCB: 204 Chi nhánh)

- Về sản phẩm dịch vụ: các NHTM đã tập trung đổi mới, cho ra đời nhiều sản phẩm dịch vụ phù hợp với nhu cầu của khách hàng Bên cạnh những sản phẩm truyền thống như tiền gửi và cho vay, đã xuất hiện nhiều sản phẩm mới tăng tiện ích cho khách hàng như: tăng tiện ích của tài khoản cá nhân, phát triển dịch vụ thẻ, phát triển các dịch vụ ngân hàng hiện đại như phone banking, internet banking… Dịch vụ tiền gửi được đa dạng hóa, cho phép người gửi có nhiều lựa chọn cho đồng vốn nhàn rỗi của mình Bên cạnh các sản phẩm tiền gửi tiết kiệm với lãi suất cố định truyền thống, các ngân hàng còn đưa ra các sản phẩm tiền gửi được hưởng lãi suất biến động theo tỷ lệ lạm phát, đảm bảo giá trị theo vàng, được bù chênh lệch tỷ giá… Đặc biệt, dịch vụ thanh toán thẻ đã có sự phát triển bùng nổ Nhiều sản phẩm thẻ đa tiện ích đã được giới thiệu tới khách hàng và thanh toán bằng thẻ ATM đã trở nên khá phổ biến tại các tỉnh, thành phố lớn Hệ thống máy ATM của ngành ngân hàng tăng nhanh và đã liên thông/liên kết với nhau khá đồng bộ Tính đến ngày 31/12/2007, cả nước có 32 tổ chức phát hành thẻ, với tổng số lượng 8,3 triệu thẻ; 4.300 máy ATM; 23.000 điểm mua bán hàng hóa dịch vụ có chấp nhận thanh toán bằng thẻ (POS); đến hết năm 2008 số thẻ đã lên tới 11 triệu Với tốc độ phát triển 150%-300%/năm trong vài năm trở lại đây, thị trường thẻ ATM Việt Nam trở nên gần gũi hơn với đời sống người dân

- Công nghệ ngân hàng là lĩnh vực được các ngân hàng rất chú trọng, coi là phương tiện chủ lực để rút ngắn khoảng cách phát triển so với ngân hàng của các nước tiên tiến trong khu vực và trên thế giới Hầu hết các NHTM đã đầu tư xây dựng hệ thống ngân hàng lõi (core banking), cho phép quản trị dữ liệu một cách tập trung tại Hội sở chính, giảm thiểu rủi ro trong hoạt động kinh doanh Một số ngân hàng đã hoàn thiện giai đoạn 2 dự án hiện đại hóa ngân hàng và hệ thống thanh toán, cho phép khai thác tối đa những tiện ích công nghệ ngân hàng, đặc biệt là các kỹ thuật quản trị rủi ro theo chuẩn mực quốc tế Hệ thống thanh toán, đặc biệt thanh toán điện tử của các ngân hàng phát triển rất nhanh

- Tính cạnh tranh ngày càng gia tăng, có sự dịch chuyển mạnh về thị phần Khối NHTM quốc doanh dù vẫn đang chiêm thị phần chi phối nhưng đã có sự dịch chuyển đáng kể Năm

2000, thị phần cho vay và huy động của các NHTM quốc doanh lần lượt là 77% và 77% thì đến 2007 chỉ còn 55% và 59%; khối các NHTM cổ phần tăng từ 9% và 11% lên 29% và 30%; các tổ chức khác tăng tương ứng từ 14% và 11% lên 16% và 11% Như vậy, có sự cạnh tranh

Trang 18

và giành giật thị phần mạnh mẽ từ khối các NHTM cổ phần và các Chi nhánh NH và liên doanh nước ngoài [7]

- Việc tuân thủ các quy định đảm bảo an toàn, phân loại nợ và trích lập dự phòng rủi ro cùng với việc tăng vốn chủ sở hữu đã giúp các NHTM giải quyết được cơ bản vấn đề nợ xấu phát sinh từ nhiều năm trước, chất lượng tài sản được cải thiện đáng kể [35]

Tuy nhiên, cũng bộc lộ nhiều điểm yếu cơ bản:

- Mô hình hoạt động của NHNN hiện tại chưa đúng nghĩa với vai trò của một ngân hàng trung ương Chính phủ đã ban hành Nghị định số 96/2008/NĐ-CP ngày 26/8/2008 quy định định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của NHNN, theo đã NHNNVN là

cơ quan ngang Bộ của Chính phủ, thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ, hoạt động ngân hàng và chức năng Ngân hàng Trung ương của Việt Nam Dù vậy, NHNN hiện nay vẫn chưa thực sự là một ngân hàng trung ương đúng nghĩa, do chưa hội đủ các yếu tố về: (i) Độc lập về hoạt động nghiệp vụ; (ii) Độc lập về tổ chức (tổ chức bộ máy và con người, vị trí trong thể chế hành chính-kinh tế) (iii) Độc lập về tài chính

- Sự phát triển về chất lượng chưa tương xứng với quy mô; cụ thể hơn là năng lực quản trị rủi ro chưa được chú trọng và cải thiện tương xứng với tốc độ phát triển về quy mô Phân loại nợ về cơ bản chưa thực hiện theo Điều 7 của QĐ 493, do vậy nó không phản ánh hết tính chất nợ xấu Các vấn đề về đào tạo nguồn nhân lực của mỗi ngân hàng chưa thực sự bài bản và theo kịp (chậm hơn) tốc độ tăng trưởng về quy mô

- Thị trường ngân hàng bán lẻ còn rất nhiều tiềm năng; theo thống kê chưa đầy đủ, mới chỉ có khoảng 13% dân số VN có tài khoản ngân hàng

- Dịch vụ đã được đa dạng song chưa thực sự phát triển Mặc dù thu nhập ngoài lãi tín dụng (từ dịch vụ và các hoạt động đầu tư kinh doanh khác) của toàn ngành ngân hàng đang tăng lên rất nhanh với tốc độ tới 88% năm 2006 và 92% năm 2007 nhưng vẫn còn rất nhỏ bé Thu nhập chủ yếu là từ hoạt động tín dụng, thu từ tín dụng của các NHTM quốc doanh là 76,6% tổng thu nhập, các NHTM cổ phần là 92% tổng thu nhập (tỷ lệ thu nhập từ dịch vụ/tổng thu nhập của các NHTM cổ phần bình quân là 8%, của các NHTM quốc doanh bình quân là 13,4%); phản ánh nguy cơ rủi ro tín dụng trong toàn ngành cao hơn các rủi ro tác nghiệp khác Hoạt động ngân hàng đầu tư còn sơ khai Các NHTM Việt Nam hiện mới chỉ tập trung vào các nghiệp vụ NHTM truyền thống như huy động vốn và cho vay Các hoạt động ngân hàng đầu tư (investment banking) như môi giới, bảo lãnh phát hành chứng khoán, tư vấn, các nghiệp vụ chứng khoán phái sinh, chứng khoán hóa mới chỉ thực hiện rải rác, lẻ tẻ ở các công ty chứng khoán Chưa có một ngân hàng đầu tư chuyên biệt của Việt Nam [27]

- Rủi ro tín dụng: Tỷ lệ cho vay/tổng tài sản của hệ thống các NHTM hiện nay là trên 50%,

nó chứng tỏ mức độ phụ thuộc vào hoạt động tín dụng của các NHTM Việt Nam Tỷ lệ nợ xấu (non-performing loan) tuy đã có nhiều cải thiện song vẫn còn cao Tính theo chuẩn mực kế toán Việt Nam (VAS), tỷ lệ NPL của toàn hệ thống giảm từ 14% năm 2006 xuống còn 3% năm 2007 Tuy nhiên nếu tính theo chuẩn mực kế toán quốc tế (IAS) thì tỷ lệ này các năm 2006 và 2007 lần lượt là 30% và 6% Trong khi đã tỷ lệ NPL của các chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam năm 2007 chỉ là 0,06% Cuối năm 2008, một số ngân hàng lớn đã chính thức công bố tỷ lệ nợ xấu thực tế hoặc mục tiêu kiểm soát từ 5% đến hơn 6%; nợ xấu toàn ngành ngân hàng năm 2008 là 3,5%

- Rủi ro thanh khoản: Có những thời điểm cuối năm 2007 đến cuối năm 2008, một số NHTM có tỷ lệ cho vay/huy động tiền gửi ở mức trên 100%; trong đã trung bình nhóm các NHTM quốc doanh là 101,8%, còn các NHTM cổ phần là 90,7% Như vậy, rõ ràng là một phần nguồn vốn cho tín dụng không phải là từ huy động tiền gửi mà từ các nguồn khác, có thể

là vay liên ngân hàng Những ngân hàng nào có tỷ lệ này càng cao thì vấn đề rủi ro thanh khoản càng lớn Mặt khác, tỷ lệ sử dụng vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn của các NHTM hiện khoảng 30%-40% nguồn vốn ngắn hạn Chúng tôi cho rằng đây là mức cao và cần giảm tỷ lệ

Trang 19

này xuống Vì nếu dùng nhiều vốn ngắn hạn để cho vay dài hạn sẽ tạo thành chênh lệch kỳ hạn, dẫn đến rủi ro thanh khoản

- Rủi ro đầu tư và kinh doanh chứng khoán: Trong năm 2007, tỷ trọng chứng khoán kinh doanh và đầu tư tài chính trong tổng tài sản của khối NHTM quốc doanh là 18%, còn khối NHTM cổ phần là 14,5% Tỷ trọng thu nhập từ hoạt động này/tổng thu nhập của 2 khối này lần lượt là 2,2% và 14% Trong khoảng thời gian từ đầu năm 2008 đến nay, khi thị trường chứng khoán sụt giảm rất mạnh thì đơn vị nào có cơ cấu tài sản là chứng khoán càng lớn sẽ càng rủi

ro và lợi nhuận bị ảnh hưởng đáng kể

- Rủi ro lãi suất: Sự biến động về chính sách lãi suất trên thị trường trong thời gian qua

đã đẩy rủi ro lãi suất của các ngân hàng lên cao; hầu hết các NHTM đều phải huy động lãi suất cao trong năm 2008 và cho vay với lãi suất thấp hơn rất nhiều (bằng khoảng 67%-90% lãi suất huy động trước đã) trong cuối quý IV năm 2008 và đầu năm 2009 đến nay Một số doanh nghiệp vay vốn chấp nhận lãi suất cao trong năm 2008 (khoảng từ 17%-21%/năm chưa kể các loại phí) thì có nghĩa là khoản vay đã có rủi ro lớn hơn và từ đã nó phát sinh rủi ro tín dụng cho các NHTM

- Các chỉ tiêu sinh lời cao và rủi ro thấp

- Có sự hỗ trợ của các đối tác chiến lược là các tập đoàn tài chính lớn trên thế giới

3 EAB, MB,

EximBank, VIB

- Quy mô vốn, tổng tài sản và mạng lưới hoạt động ở mức trung bình trong hệ thống NHTM cổ phần VN

- Tốc độ tăng tổng tài sản, doanh thu, lợi nhuận nhanh

- Khả năng sinh lời và mức rủi ro ở mức trung bình trong

hệ thống NHTM cổ phần VN

- Không mạnh bằng nhóm 2

4 VpBank, HBB,

ABB, Seabank - Quy mô vốn, tổng tài sản và mạng lưới hoạt động ở mức thấp hơn trung bình trong hệ thống NHTM cổ phần VN

- Tốc độ tăng tổng tài sản, doanh thu, lợi nhuận nhanh nhưng không ổn định

- Khả năng sinh lời ở mức thấp và mức rủi ro cao hơn mức trung bình của nhóm NHTM cổ phần VN

1.1.3 Tình hình thị trường chứng khoán

- Hệ thống hành lang pháp lý ngày càng được hoàn thiện; tính minh bạch của thị trường

đã và đang từng bước được nâng cao

- Thị trường tụt dốc nhanh chóng trong giai đoạn từ năm 2007 đến nay Tháng 12/2006, mức vốn hoá của thị trường đạt 13,8 tỷ USD (= 22,7% GDP), tăng gần 20 lần so với 2005; đến

Trang 20

cuối 2007 đạt khoảng 27,5 tỷ USD (= 40% GDP), tăng hơn 1.570 lần so với năm 2000; đến cuối năm 2008 còn khoảng 20% GDP Khối đầu tư nước ngoài thoái vốn rất mạnh mẽ

- Số lượng công ty niêm yết tăng mạnh: cuối năm 2005 có 93 công ty; năm 2006 tăng lên thành 193 công ty Đến tháng 03/2008 có 219 cty niêm yết; đến cuối năm 2008 là 338 công ty; đến nay có 354 công ty niêm yết

Bảng 1.2: Tăng trưởng quy mô trên TTCKVN

Chỉ tiêu Đơn vị tính Toàn thị trường

11/2007 03/2008 04/2009 HASTC

Tổng khối lượng niêm yết ngàn CK 1.796.704 2.342.870 4.091.031

Tổng giá trị niêm yết tỷ đồng 72.985 98.200 190.255

HOSE

Tổng khối lượng niêm yết ngàn CK 3.278.475 5.110.319 6.306.564

Tổng giá trị niêm yết tỷ đồng 81.830 101.346 7.643

Nguồn: Sở giao dịch chứng khoán HN, TP.HCM

1.2 Sự hình thành và phát triển của NHPT

1.2.1 Sự hình thành

Thực hiện đường lối đổi mới toàn diện cơ chế quản lý kinh tế và cơ chế quản lý TDĐT&TDXK của Nhà nước, nhằm góp phần thực hiện chủ trương phát huy nội lực, điều chỉnh cơ cấu kinh tế, cơ cấu đầu tư, nâng cao hiệu quả và sức cạnh tranh của nền kinh tế theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 và Trung ương 6 lần 1 khoá VIII, tháng 6 năm 1999 Chính phủ đã ban hành Nghị định số 43/1999/NĐ-CP, Nghị định 106/2004/NĐ-CP về TDĐT&TDXK của Nhà nước, là văn bản pháp lý đầu tiên về TDĐT Nhà nước Đây là một bước đi quan trọng trong việc đổi mới quản lý TDĐT&TDXK của Nhà nước - tập trung vào một đầu mối, khắc phục những tồn tại của cơ chế TDĐT&TDXK trong 10 năm trước theo hướng giảm bao cấp, tăng cường hiệu quả vốn đầu tư, nâng cao tính tự chủ tự chịu trách nhiệm của chủ đầu tư và cơ quan cho vay, tách bạch tín dụng chính sách và tín dụng thương mại trong lĩnh vực đầu tư xây dựng cơ bản

Kết quả của quá trình thực thi chính sách TDĐT&TDXK của nhà nước từ những năm

1990, đặc biệt là từ năm 2000 đến nay đã khẳng định tính đúng đắn của đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước trong lĩnh vực đầu tư, phản ánh tính tất yếu của quá trình phát triển kinh tế-

xã hội chuyển từ nền kinh tế kế hoạch hoá tập trung sang nền kinh tế vận hành theo cơ chế thị trường có sự quản lý của Nhà nước Việc hình thành và phát triển hệ thống Quỹ HTPT để thực hiện chính sách TDĐT&TDXK của nhà nước là bước kế tiếp thành công của sự đổi mới mô hình tổ chức tài chính của Chính phủ trong điều hành kinh tế vĩ mô Trong điều kiện khả năng tích luỹ của NSNN cho ĐTPT có hạn, cùng với các chính sách thu hút đầu tư, Chính phủ đã có thêm công cụ khai thác nguồn vốn trong xã hội để hỗ trợ phát triển các ngành, các vùng, các sản phẩm trọng điểm, thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, thúc đẩy xuất khẩu và khai thác những tiềm năng to lớn của đất nước cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá

Tuy nhiên, trong hơn 5 năm thực hiện nhiệm vụ của Chính phủ giao, bên cạnh những cố gắng nỗ lực để vượt qua những thách thức trong thời kỳ đổi mới, năng lực tổ chức điều hành,

Trang 21

năng lực thẩm định, dự báo của Quỹ HTPT chưa theo kịp sự phát triển của nền kinh tế, đặc biệt

là khả năng đánh giá hiệu quả của các dự án đầu tư trong 5-10 năm còn hạn chế, phần nào ảnh hưởng đến hiệu quả đầu tư Trong quá trình triển khai thực hiện TDĐT&TDXK của Nhà nước

hệ thống Quỹ HTPT đã bộc lộ những tồn tại, vướng mắc; vị thế của Quỹ HTPT, quan hệ quốc

tế, phạm vi hoạt động bị giới hạn trong quy mô hạn hẹp Chính những tồn tại, vướng mắc này đang hạn chế khả năng phát triển của Quỹ, ảnh hưởng đến độ an toàn trong hoạt động tài chính, nếu không được khắc phục kịp thời sẽ rất khó khăn trong việc hoàn thành nhiệm vụ được giao.Xuất phát từ thực trạng đã, Chính phủ đã thành lập NHPT trên cơ sở tổ chức lại hệ thống Quỹ HTPT (Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập NHPT) với chức năng, nhiệm vụ huy động vốn trung và dài hạn, tiếp nhận và quản lý các nguồn vốn của Nhà nước để thực hiện chính sách TDĐT và TDXK của Nhà nước Thời gian vừa qua, NHPT còn được Thủ tướng Chính phủ giao nhiệm vụ làm chủ đầu tư xây dựng tuyến đường ô tô cao tốc Hà Nội - Hải Phòng, thực hiện bảo lãnh cho các doanh nghiệp vay vốn NHTM

Hệ thống NHPT chính thức đi vào hoạt động trên phạm vi cả nước từ ngày 01/7/2006 theo Điều lệ tổ chức và hoạt động được Thủ tướng Chính phủ phờ duyệt tại Quyết định số 110/2006/QĐ-TTg ngày 19/5/2006 Bộ máy của NHPT được tổ chức thành hệ thống từ Trung ương đến các tỉnh, thành phố trực thuộc TW Hoạt động của NHPT tập trung hỗ trợ vào các ngành, lĩnh vực, chương trình kinh tế lớn của đất nước và các vùng, miền khó khăn cần khuyến khích đầu tư

1.2.2 Mô hình tổ chức của NHPT

- Hoạt động của NHPT không vì mục đích lợi nhuận; tỷ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm); không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi; được Chính phủ đảm bảo khả năng thanh toán, được miễn nộp thuế và các khoản nộp NSNN theo quy định của pháp luật [8]

- NHPT có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có con dấu, được mở tài khoản tại Ngân hàng Nhà nước, Kho bạc Nhà nước, các NHTM trong nước và nước ngoài, được tham gia hệ thống thanh toán với các ngân hàng và cung cấp dịch vụ thanh toán theo quy định của pháp luật

- NHPT có thời hạn hoạt động là 99 năm kể từ ngày Quyết định số 108/2006/QĐ-TTg ngày 19 tháng 5 năm 2006 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập NHPT có hiệu lực

1.2.2.1 Chức năng, nhiệm vụ của NHPT:

- Huy động, tiếp nhận vốn của các tổ chức trong và ngoài nước để thực hiện TDĐT phát triển và TDXK của Nhà nước theo quy định của Chính phủ

- Thực hiện chính sách TDĐT: Cho vay đầu tư; Hỗ trợ sau đầu tư; Bảo lãnh TDĐT

- Thực hiện chính sách TDXK: Cho vay xuất khẩu (cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu vay); Bảo lãnh TDXK; Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng xuất khẩu

- Nhận ủy thác quản lý nguồn vốn ODA được Chính phủ cho vay lại; nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua hợp đồng nhận uỷ thác giữa NHPT với các tổ chức uỷ thác

- Ủy thác cho các tổ chức tài chính, tín dụng thực hiện nghiệp vụ tín dụng của NHPT

- Cung cấp các dịch vụ thanh toán cho khách hàng và tham gia hệ thống thanh toán trong nước và quốc tế phục vụ các hoạt động của NHPT theo quy định của pháp luật

- Thực hiện nhiệm vụ hợp tác quốc tế trong lĩnh vực TDĐT phát triển và TDXK

- Thực hiện một số nhiệm vụ khác do Thủ tướng Chính phủ giao

1.2.2.2 Trách nhiệm của NHPT:

- Quản lý, sử dụng vốn và tài sản của Chính phủ giao cho NHPT theo quy định của pháp luật và Điều lệ này,

Trang 22

- Huy động vốn dưới hình thức phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi; vay vốn của các tổ chức tài chính, tín dụng, kinh tế xã hội theo quy định của pháp luật

- Được mở tài khoản tiền gửi tại NHNN, Kho bạc Nhà nước và các NHTM khác trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật; mở tài khoản cho khách hàng trong nước và nước ngoài theo quy định của pháp luật

- Bảo toàn vốn và được áp dụng các biện pháp bảo toàn vốn; chịu trách nhiệm về thất thoát vốn của NHPT theo quy định của pháp luật

- Thực hiện nhiệm vụ TDĐT phát triển và TDXK theo quy định tại Điều lệ này và các quy định pháp luật có liên quan

- Kiểm toán báo cáo tài chính hàng năm bởi tổ chức kiểm toán độc lập; thực hiện công khai, minh bạch về hoạt động và tài chính của NHPT và chấp hành chế độ báo cáo thống kê với các cơ quan có thẩm quyền theo quy định

- Ủy thác, nhận uỷ thác trong hoạt động của ngân hàng và các lĩnh vực liên quan đến hoạt động ngân hàng; cung ứng các dịch vụ tài chính, ngân hàng cho khách hàng theo quy định của pháp luật; các hoạt động khác theo quy định của Thủ tướng Chính phủ

1.2.2.3 Tổ chức bộ máy của NHPT

Cơ cấu tổ chức của NHPT gồm:

- Hội đồng quản lý: gồm 06 thành viên, trong đã có 03 thành viên chuyên trách là Chủ tịch, Tổng Giám đốc, Trưởng ban Kiểm soát và 03 thành viên bán chuyên trách là các Thứ trưởng các Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và đầu tư, NHNN Bộ phận gióp việc Hội đồng quản lý có 03 chuyên trách

và 03 thành viên bán chuyên trách là lãnh đạo cấp Vụ của Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, NHNN

- Ban Kiểm soát: gồm 6 thành viên chuyên trách

- Ban Lãnh đạo: Gồm Tổng Giám đốc, 6 Phó Tổng Giám đốc;

Bộ máy điều hành gồm: Hội sở chính đặt tại Thủ đô Hà Nội; Sở Giao dịch, Chi nhánh, Văn phòng đại diện trong nước và nước ngoài

1.3 Chính sách TDĐT, TDXK và các hoạt động nghiệp vụ chính của NHPT

- Theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP, TDĐT bao gồm: cho vay đầu tư, bảo lãnh TDĐT,

hỗ trợ sau đầu tư TDXK bao gồm: cho vay xuất khẩu (cho nhà xuất khẩu và nhà nhập khẩu vay), bảo lãnh TDXK, bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng

- Đối tượng điều chỉnh, bao gồm: (i) Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế có dự án thuộc diện vay vốn đầu tư, bảo lãnh TDĐT, hỗ trợ sau đầu tư (sau đây gọi là chủ đầu tư); (ii) Các doanh nghiệp, tổ chức kinh tế trong nước có hợp đồng xuất khẩu hoặc các tổ chức nước ngoài nhập khẩu hàng hóa thuộc diện có vay vốn, bảo lãnh TDXK;(iii) NHPT và các tổ chức, cá nhân khác có liên quan trong quá trình thực hiện TDĐT và TDXK của Nhà nước

+ Dự án đầu tư, hợp đồng xuất khẩu, hợp đồng nhập khẩu khi vay vốn, bảo lãnh phải được NHPT thẩm định phương án tài chính, phương án trả nợ vốn vay

Trang 23

+ Chủ đầu tư, nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu vay vốn hoặc được bảo lãnh, hỗ trợ sau đầu tư phải sử dụng vốn vay đúng mục đích; trả nợ gốc và lãi vay theo HĐTD đã ký; thực hiện đầy đủ các cam kết trong hợp đồng bảo lãnh, hỗ trợ sau đầu tư và các quy định pháp luật + Danh mục dự án vay vốn TDĐT và Danh mục mặt hàng vay vốn TDXK do Chính phủ quy định

1.3.1 Tín dụng đầu tư

- Đối tượng cho vay: Là chủ đầu tư có dự án thuộc danh mục các dự án vay vốn TDĐT theo quy định tại các Nghị định số: 151/NĐ-CP và 106/NĐ-CP Danh mục đối tượng các dự

án vay vốn cụ thể tại Phụ lục số 01 kèm theo

- Mức vốn cho vay đối với mỗi dự án tối đa bằng 70% tổng mức vốn đầu tư của dự án

đã (không bao gồm vốn lưu động) Mức vốn cho vay đối với từng trường hợp do NHPT quyết định

- Thời hạn cho vay: Thời hạn cho vay xác định theo khả năng thu hồi vốn của dự án và khả năng trả nợ của chủ đầu tư phự hợp với đặc điểm sản xuất, kinh doanh của dự án nhưng khụng quá

12 năm, một số dự án đặc thự (dự án nhóm A, trồng cây thụng, cây cao su) thời hạn cho vay tối đa là

15 năm

- Đồng tiền cho vay là đồng Việt Nam (VND) Việc cho vay bằng ngoại tệ được thực hiện bằng đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi đối với một số dự án có nhu cầu nhập khẩu máy móc, thiết bị mà chủ đầu tư có khả năng cõn đối ngoại tệ để trả nợ

- Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam bằng lãi suất trái phiếu chính phủ kỳ hạn 5 năm cộng 1%/năm Lãi suất cho vay bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi do Bộ Tài chính quyết định theo nguyên tắc có ưu đãi trên cơ sở lãi suất sibor 6 tháng cộng thêm tỷ lệ % Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn ghi trong HĐTD

1.3.2 Tín dụng xuất khẩu:

1.3.2.1 Cho vay xuất khẩu:

- Các hình thức cho vay xuất khẩu: Cho nhà xuất khẩu vay, bao gồm cho vay trước hoặc sau khi giao hàng; Cho nhà nhập khẩu vay

- Đối tượng cho vay: Nhà xuất khẩu có HĐXK và nhà nhập khẩu có hợp đồng nhập khẩu hàng hóa thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn TDXK được ban hành kèm theo Nghị định 151/2006/NĐ-CP

- Điều kiện cho vay: Thuộc đối tượng vay vốn theo quy định như trên; Nhà xuất khẩu đã ký kết HĐXK, nhà nhập khẩu có hợp đồng nhập khẩu đã ký kết với doanh nghiệp, tổ chức kinh tế Việt Nam; Phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả được NHPT thẩm định và chấp thuận cho vay; Nhà xuất khẩu, nhà nhập khẩu có năng lực pháp luật, năng lực hành vi dân sự đầy đủ

Ngoài các điều kiện nêu trên, nhà xuất khẩu còn phải thực hiện các quy định về bảo đảm tiền vay theo quy định hiện hành của pháp luật, phải mua bảo hiểm tài sản tại một công ty bảo hiểm hoạt động hợp pháp tại Việt Nam đối với tài sản hình thành từ vốn vay thuộc đối tượng mua bảo hiểm bắt buộc trong suốt thời hạn vay vốn; nhà nhập khẩu phải được Chính phủ hoặc Ngân hàng trung ương của nước bên nhà nhập khẩu bảo lãnh vay vốn

- Mức vốn cho vay: Mức cho vay tối đa bằng 85% giá trị HĐXK, hợp đồng nhập khẩu

đã ký hoặc giá trị L/C đối với cho vay trước khi giao hàng hoặc trị giá hối phiếu hợp lệ đối với cho vay sau khi giao hàng Mức vốn cho vay đối với từng trường hợp do NHPT quyết định

- Thời hạn cho vay: Thời hạn cho vay xác định theo khả năng thu hồi vốn phù hợp với đặc điểm của từng HĐXK và khả năng trả nợ của nhà xuất khẩu hoặc nhà nhập khẩu nhưng không quá 12 tháng Trường hợp cần thiết, thời hạn cho vay trên 12 tháng thì nhà xuất khẩu mới đủ điều kiện thực hiện HĐXK, NHPT đề nghị Bộ Tài chính xem xét, quyết định

Trang 24

- Đồng tiền cho vay là đồng Việt Nam (VND) Việc cho vay bằng ngoại tệ được thực hiện bằng đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi đối với HĐXK có nhu cầu nhập khẩu nguyên liệu mà nhà xuất khẩu có nguồn thu ngoại tệ để trả nợ

- Lãi suất cho vay bằng đồng Việt Nam và bằng ngoại tệ tự do chuyển đổi do Bộ Tài chính quyết định theo nguyên tắc phù hợp với lãi suất thị trường Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất cho vay trong hạn theo HĐTD

- Thực hiện giải ngân, thu nợ: NHPT trực tiếp giải ngân, thu nợ hoặc ủy thác cho tổ chức tài chính, tín dụng hoạt động hợp pháp ở trong nước và ngoài nước thực hiện giải ngân và thu nợ

- Thời hạn bảo lãnh: phù hợp với thời hạn vay vốn theo HĐTD đã ký giữa nhà xuất khẩu với tổ chức tín dụng nhưng tối đa không quá 12 tháng

- Mức bảo lãnh, phí bảo lãnh: Mức bảo lãnh cho nhà xuất khẩu vay vốn không quá 85% giá trị HĐXK hoặc giá trị L/C; Nhà xuất khẩu được bảo lãnh phải trả phí bảo lãnh 1%/năm trên

số dư tín dụng được bảo lãnh

1.3.2.3 Bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện hợp đồng

- Đối tượng bảo lãnh: Nhà xuất khẩu tham gia dự thầu hoặc thực hiện HĐXK hàng hoá thuộc Danh mục mặt hàng vay vốn TDXK

- Điều kiện bảo lãnh: Thuộc đối tượng bảo lãnh theo quy định như trên, có nhu cầu bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện HĐXK; Có tài liệu hợp pháp chứng minh yêu cầu của phía nước ngoài về bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện HĐXK; Nhà xuất khẩu được bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện HĐXK phải có năng lực tài chính đÓ tham gia dự thầu hoặc thực hiện HĐXK được NHPT thẩm định và chấp thuận bảo lãnh

- Thời hạn bảo lãnh: Thời hạn bảo lãnh dự thầu và bảo lãnh thực hiện HĐXK phù hợp với thời hạn thực hiện nghĩa vụ của nhà xuất khẩu

- Mức bảo lãnh, phí bảo lãnh: Mức bảo lãnh tối đa không quá 3% giá dự thầu đối với bảo lãnh dự thầu và tối đa không quá 15% giá trị HĐXK đối với bảo lãnh thực hiện HĐXK; Nhà xuất khẩu được bảo lãnh phải trả phí bảo lãnh là 0,5%/năm trên giá trị bảo lãnh nhưng tối

đa bằng 100 triệu đồng/1 hợp đồng bảo lãnh

1.3.3 Quản lý vốn ODA cho vay lại và quản lý các Quỹ quay vòng

Theo quy định tại Nghị định 151/2006/NĐ-CP, NHPT cho các dự án vay theo Hiệp định của Chính phủ và dự án đầu tư ra nước ngoài theo quyết định của Thủ tướng Chính phủ; theo đã NHPT được thực hiện quản lý vốn ODA cho vay lại và tiếp nhận quản lý các quỹ quay vòng

Điều kiện, lãi suất, thời hạn, mức vay và những nội dung có liên quan đến khoản vay của dự án được thực hiện theo các quy định ghi trong Hiệp định Trường hợp Hiệp định không quy định cụ thể về điều kiện, lãi suất, thời hạn, mức vay và bảo đảm tiền vay thì thực hiện theo quy định về cho vay đầu tư tại Nghị định 151/2006/NĐ-CP Một số quy định pháp lý đối với hoạt động quản lý vốn ODA cho vay lại và tiếp nhân, quản lý các Quỹ quay vòng:

- Nghị định 131/2006/NĐ-CP ngày 09/11/2006 của Chính phủ về ban hành Quy chế quản

lý và sử dụng nguồn hỗ trợ phát triển chính thức;

- Quyết định 19/2007/QĐ-BTC ngày 27/3/2007 của Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành Quy chế hạch toán ghi thu, ghi chi NSNN đối với các khoản vay và viện trợ nước ngoài của Chính phủ;

Trang 25

- Thông tư 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính hướng dẫn về quản lý, thanh toán vốn đầu tư và vốn sự nghiệp có tính chất đầu tư thuộc nguồn vốn NSNN;

- Quyết định 803/2007/QĐ-BKH ngày 30/7/2007 của Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư

về việc ban hành chế độ báo cáo tình hình thực hiện các Chương trình/dự án ODA;

- Thông tư 108/2007/TT-BTC ngày 07/9/2007 của Bộ Tài chính về Hướng dẫn cơ chế quản lý tài chính đối với các chương trình, dự án hỗ trợ phát triển chính thức (ODA)

- Thông tư 130/2007/TT-BTC ngày 02/11/2007 của Bộ Tài chính về việc sửa đổi, bổ sung một số điểm của Thông tư 27/2007/TT-BTC ngày 03/4/2007 của Bộ Tài chính;

- Quyết định 181/2007/NĐ-CP ngày 26/11/2007 của Thủ tướng Chính phủ về ban hành Quy chế cho vay lại từ nguồn vốn vay, viện trợ nước ngoài của Chính phủ (thay thế cho Quyết định 02/2000/QĐ-BTC ngày06/01/2000 của Bộ trưởng Bộ Tài chính về ban hành Quy chế cho vay lại từ nguồn vốn vay/viện trợ nước ngoài của Chính phủ);

- Quyết định 48/2008/QĐ-TTg ngày 03/4/2008 của Thủ tướng Chính phủ về việc ban hành Hướng dẫn chung lập Báo cáo nghiên cứu khả thi dự án sử dụng vốn hỗ trợ phát triển chính thức của nhóm 5 ngân hàng;

1.3.4 Hỗ trợ sau đầu tư và quản lý vốn ủy thác

- Đối tượng được HTSĐT: Là chủ đầu tư cú dự án trong danh mục dự án vay vốn TDĐT của nhà nước theo quy định hiện hành nhưng không vay vốn TDĐT của Nhà nước gồm: (i) Các dự án đầu tư kết cờu hạ tầng kinh tế –xã hội; (ii) Các dự án ĐTPT nông nghiệp, nông thôn; (iii) Các dự án đầu tư tại địa bàn: có điều kiện kinh tế – xã hội khó khăn, đặc biệt khó khăn; dự

án vùng đồng bào dân tộc Khơ me sinh sống tập trung ; các xã thuộc chương trình 135 và các

xã vùng biên giới thuộc chương trình 120, các xã vùng bãi ngang

- Điều kiện để được HTSĐT: (i) Một dự án chỉ được hưởng một hình thức ưu đãi đầu tư; (ii) Dự án đã hoàn thành đưa vào sử dụng, cú biên bản nghiệm thu, văn bản phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án và đã trả được nợ vay

- Nguyên tắc xác định mức HTSĐT cho một dự án:

+ Mức HTSĐT được tính trên tổng số nợ gốc thực trả theo HĐTD đã ký với TCTD nhưng tối đa không vượt quá 70 % tổng số vốn đầu tư TSCĐ theo quyết toán vốn đầu tư được duyệt của dự án

+ Chỉ HTSĐT đối với số vốn vay chủ đầu tư đã trả nợ TCTD kể từ ngày cú văn bản phê duyệt quyết toán vốn đầu tư dự án của cấp có thẩm quyền

+ Không HTSĐT đối với các khoản trả nợ quá hạn, nợ trả trong thời gian gia hạn nợ + Số tiền HTSĐT cho từng kỳ hạn trả nợ: bằng số nợ gốc thực trả từng lần trả nợ nhân với mức chênh lệch lãi suất được tính hỗ trợ SĐT do Bộ Tài chính công bố nhân với thời hạn thực vay (quy đổi theo năm) của số nợ gốc thực trả

Mức

HTSĐT = ∑

Số nợ gốc thực trả được tính HTSĐT

x

Mức chênh lệch lãi suất được tính HTSĐT do Bộ Tài chính công bố

x Thời hạn thực vay của số nợ gốc thực trả

1.3.5 Bảo lãnh tín dụng

1.3.5.1 Bảo lãnh TDĐT:

- Đối tượng được bảo lãnh: Chủ đầu tư có dự án thuộc đối tượng vay vốn tín dụng đầu tư

theo quy định tại Nghị định này và có nhu cầu được bảo lãnh để vay vốn tại các tổ chức tín dụng khác

Trang 26

- Thời hạn bảo lãnh: Được xác định phù hợp với thời hạn vay vốn theo hợp đồng tín dụng

giữa chủ đầu tư với tổ chức tín dụng

- Mức bảo lãnh và phí bảo lãnh: Mức bảo lãnh tương ứng với mức vốn vay, nhưng

không vượt quá tổng mức đầu tư của dự án (không bao gồm vốn lưu động)

- Chủ đầu tư được bảo lãnh không phải trả phí

- Trách nhiệm tài chính khi chủ đầu tư không trả được nợ: Trường hợp chủ đầu tư không

trả được nợ vay theo đúng hợp đồng tín dụng đã ký thì: NHPT có trách nhiệm trả nợ cho tổ chức tín dụng thay chủ đầu tư phần vốn vay quá hạn đã nhận bảo lãnh khi nhận được yêu cầu trả nợ thay Chủ đầu tư phải nhận nợ bắt buộc và có trách nhiệm trả nợ cho NHPT về số tiền trả nợ thay với lãi suất phạt bằng 150% lãi suất vay vốn của tổ chức tín dụng

1.3.5.2 Bảo lãnh tín dụng cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM:

- Đối tượng: doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế (kể cả các Hợp tác xã) có vốn điều lệ tối đa 20 tỷ đồng hoặc sử dụng tối đa 1000 lao động (trong Quy chế này gọi chung là doanh nghiệp) Không bảo lãnh cho các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực tư vấn, kinh doanh bất động sản, kinh doanh chứng khoán; dịch vụ (trừ dịch vụ vận tải hàng hoá, giáo dục đào tạo và y tế); vay vốn để thanh toán nợ vay của các hợp đồng tín dụng khác

- Phạm vi bảo lãnh vay vốn: NHPT bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của ngân hàng

thương mại hoạt động hợp pháp tại Việt Nam để thực hiện dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh (vay vốn đầu tư tài sản cố định); phương án sản xuất kinh doanh (vay vốn lưu động) phù hợp với quy định của pháp luật

- Điều kiện để doanh nghiệp được bảo lãnh vay vốn: (i) doanh nghiệp thuộc đối tượng;

(ii) Có dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh, phương án sản xuất kinh doanh hiệu quả Quy mô dự án đầu tư phát triển sản xuất kinh doanh tối thiểu là 100 triệu đồng Trường hợp doanh nghiệp có nợ nợ quá hạn, nhưng dự án/phương án sản xuất kinh doanh có hiệu quả thì vẫn được Bên bảo lãnh thẩm định, quyết định bảo lãnh theo quy định (vi) Có vốn chủ sở hữu tham gia dự án đầu tư sản xuất kinh doanh, phương án sản xuất kinh doanh tối thiểu 10% (vii)

Sử dụng 100% giá trị tài sản hình thành từ vốn vay (tối đa 90%) và vốn chủ sở hữu (tối thiểu 10%) để thế chấp bảo đảm bảo lãnh tại Bên bảo lãnh

- Mức bảo lãnh, đồng tiền bảo lãnh vay vốn: Số tiền được bảo lãnh tối đa bằng 100% số

nợ gốc và lãi phát sinh theo Hợp đồng tín dụng ký giữa Bên được bảo lãnh và Bên nhận bảo

lãnh Đồng tiền bảo lãnh là đồng Việt Nam, đồng ngoại tệ tự do chuyển đổi

- Thời hạn bảo lãnh vay vốn: Thời hạn bảo lãnh vay vốn phù hợp với thời hạn cho vay

của Bên nhận bảo lãnh và không vượt quá thời hạn thu hồi vốn (đối với trường hợp vay vốn để đầu tư tài sản cố định) và chu kỳ sản xuất kinh doanh (đối với trường hợp vay vốn lưu động)

- Phí bảo lãnh vay vốn: (i) Mức phí bảo lãnh tối đa bằng 0,5%/năm/số tiền được bảo lãnh

Việc thu phí phù hợp thời gian bảo lãnh, được thoả thuận trong Hợp đồng bảo lãnh vay vốn Bên bảo lãnh được miễn, giảm phí bảo lãnh trong trường hợp Bên được bảo lãnh gặp rủi ro bất khả kháng (thiên tai, hoả hoạn ) (ii) Bên bảo lãnh được sử dụng 25% phí thu được để bù đắp chi phí quản lý có liên quan đến hoạt động bảo lãnh, phần còn lại được trích vào Quỹ dự phòng rủi ro bảo lãnh vay vốn

1.3.6 Nguồn vốn của NHPT

Theo quy định tại Điều lệ tổ chức và hoạt động của NHPT ban hành kèm theo Quyết định 110/2006/QĐ-TTg ngày 19/05/2006 của Thủ tướng Chính phủ, nguồn vốn hoạt động của NHPT gồm:

- Vốn điều lệ của NHPT;

- Vốn NSNN cấp bổ sung hàng năm cho mục tiêu TDĐT và TDXK;

- Vốn ODA được Chính phủ giao để cho vay lại;

Trang 27

- Phát hành trái phiếu, kỳ phiếu, chứng chỉ tiền gửi;

- Nhận tiền gửi uỷ thác của các tổ chức trong và ngoài nước;

- Vay Công ty Dịch vụ tiết kiệm bưu điện, Quỹ bảo hiểm xã hội và các tổ chức tài chính, tín dụng trong và ngoài nước;

- Vốn đóng góp tự nguyện không hoàn trả của các cá nhân, các tổ chức kinh tế, tổ chức tài chính, tín dụng và các tổ chức chính trị-xã hội, các hiệp hội, các hội, các tổ chức trong và ngoài nước;

- Vốn nhận uỷ thác, cấp phát cho vay đầu tư và thu hồi nợ của khách hàng từ các tổ chức trong và ngoài nước thông qua Hợp đồng nhận uỷ thác giữa NHPT với các tổ chức uỷ thác;

- Các nguồn vốn khác theo quy định của pháp luật

1.3.6.1 Lãi suất huy động vốn :

Trong thời gian đầu sau khi chuyển đổi từ Quỹ HPT sang hoạt động theo mô hình ngân hàng, do đối tượng huy động vốn chủ yếu là các tổ chức do Chính phủ chỉ định nên lãi suất huy động vốn do Chính phủ quyết định Kể từ cuối năm 2007, khi nhu cầu vốn trên thị trường tăng cao, khối lượng vốn cho đầu tư phát triển rất lớn trong khi lãi suất huy động vốn bị khống chế bởi lãi suất trái phiếu Chính phủ, việc tiếp cận một số nguồn vốn truyền thống của NHPT (như Bảo hiểm xã hội, Công ty Dịch vụ tiết kiệm bưu điện) gặp rất nhiều khó khăn, NHPT đã chủ động triển khai áp dụng song song 02 cơ chế lãi suất:

- Đối với một số kênh huy động do Chính phủ chỉ định (phát hành trái phiếu Chính phủ; vay Quỹ tích luỹ trả nợ nước ngoài; vay tồn ngân Kho bạc Nhà nước; một phần vốn vay từ Công ty Dịch vụ tiết kiệm bưu điện): Lãi suất huy động không vượt lãi suất trái phiếu Chính phủ do Bộ Tài chính thông báo hoặc lãi suất theo quyết định riêng của Bộ Tài chính;

- Đối với vốn huy động tại các chi nhánh và vốn huy động khác: Được áp dụng lãi suất linh hoạt theo nguyên tắc bám sát lãi suất TPCP cùng kỳ hạn có điều chỉnh nhưng không cao hơn lãi suất huy động bình quân cùng kỳ hạn của các NHTM

- Đối với các khoản vốn huy động khác : Hợp đồng vay vốn, hợp đồng tiền gửi hoặc tài khoản tiền gửi

1.3.6.3 Thời hạn huy động:

- Đối với TPCP, thời hạn vốn huy động tối đa là 15 năm

- Đối với các khoản vốn huy động khác: không có hạn chế về kỳ hạn

1.3.6.4 Đồng tiền huy động:

NHPT được huy động vốn từ các tổ chức, cá nhân trong và ngoài nước bằng mọi loại đồng tiền Tuy nhiên, do các văn bản điều chỉnh hoạt động của NHPT còn thiếu hoặc đã có nhưng chưa đề cập đến những nội dung liên quan đến việc huy động và sử dụng vốn bằng ngoại tệ (lãi suất cho vay do Thủ tướng Chính phủ và sau này là Bộ trưởng Bộ Tài chính quyết định chỉ áp dụng đối với các khoản cho vay bằng ngoại tệ có khả năng chuyển đổi) nên bên cạnh nguồn vốn huy động, tiếp nhận bằng đồng Việt Nam, nguồn vốn huy động, tiếp nhận bằng ngoại tệ của NHPT chủ yếu chỉ dừng lại ở đồng đô la Mỹ và EURO

Trang 28

CHƯƠNG II: THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT

NAM GIAI ĐOẠN 2006-2009

2.1 Kết quả hoạt động của NHPT giai đoạn 2006-2009

NHPT hoạt động theo kế hoạch được Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm; trong những năm qua, kế hoạch của NHPT được giao khá lớn, năm sau lớn hơn năm trước, nhằm mục tiêu hỗ trợ ngày càng nhiều hơn cho tăng trưởng và xuất khẩu

Bên cạnh các nhiệm vụ thường xuyên, NHPT cũng thực hiện các nhiệm vụ khác được Thủ tướng Chính phủ giao như: quản lý cấp phát, thanh toán các dự án thành phần thuộc Dự án Thủy điện Sơn La, bao gồm: di dân tái định cư, xây dựng nhà máy, làm đường giao thông tránh ngập; đồng thời, từ năm 2008, NHPT cũng thực hiện việc cho vay và đầu tư xây dựng Đường ô

tô cao tốc Hà Nội-Hải Phòng và xây dựng dự án tuyến đảo Tân Vũ – Lạch Huyện Từ năm 2009, NHPT được giao thêm nhiệm vụ bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn của NHTM và cho doanh nghiệp vay vốn để thanh toán tiền lương, bảo hiểm xã hội và trợ cấp thôi việc

Bảng 2.1: Kế hoạch Thủ tướng Chính phủ giao hàng năm của NHPT

2.1.1 Huy động vốn:

Trong gần 3 năm qua (6/2006-3/2009), không kể số thu hồi nợ vay đưa vào cho vay mới, NHPT đã huy động thêm tổng số vốn gần 107.680 tỷ đồng (doanh số), bằng 9,6% vốn đầu tư trong nước toàn xã hội và 7% tổng số vốn đầu tư toàn xã hội của giai đoạn này; bằng 1,83 lần

so với giai đoạn 2003-2005 Tính chung trong 3 năm qua, số vốn được huy động mới tăng trưởng bình quân 18%/năm Kết quả huy động cụ thể như sau:

Bảng 2.2: Huy động vốn trong nước

Đơn vị: Tỷ đồng

2003 2004 2005 2006 6th 2006 2007 2008 2009 3th

Doanh số huy động mới 19.352 14.945 24.479 10.811 30.929 36.369 40.382 1.725 Trả gốc vốn huy động 5.058 8.037 21.729 11.200 21.904 21.364 10.966 5.654 Phát hành TPCP 5.781 6.001 3.325 1.250 10.050 24.095 26.647 -

Tỷ lệ TPCP/vốn huy động 30% 40% 14% 12% 33% 66,3% 66% 0%

Nguồn: NHPT [9]

Trang 29

NHPT chủ yếu huy động vốn có kỳ hạn nhằm đảm bảo cân đối vốn được thuận lợi hơn cho hoạt động tín dụng vốn chủ yếu là cho vay đầu tư (trung-dài hạn); kỳ hạn bình quân của doanh số vốn huy động bình quân năm 2005 là 36 tháng; năm 2006 là 48 tháng; năm 2007: 61,6 tháng; năm 2008: 50,3 tháng Tại thời điểm 31/12/2008, thời hạn bình quân còn lại của số dư vốn của số dư vốn huy động là 53 tháng Cơ cấu doanh số vốn huy động trong giai đoạn 2006-2009 như sau:

Đồ thị 2.1: Cơ cấu doanh số huy động hàng năm

Các Chi nhánh, Sở Giao dịch và Hội sở chính cùng thực hiện huy động vốn từ thị trường trong phạm vi khung lãi suất được NHPT quy định, phù hợp với khung lãi suất TPCP do Bộ Tài chính công bố để NHPT huy động trong từng thời kỳ Thời gian qua, vốn huy động của NHPT chủ yếu từ phát hành TPCP và vay các đối tác truyền thống như: Tiết kiệm bưu điện, bảo hiểm xã hội, Kho bạc Nhà nước; các nguồn huy động khác chủ yếu là vốn ngắn hạn và quy

mô khoản huy động nhỏ Tại thời điểm 31/12/2008, số dư vốn huy động của các tổ chức này chiếm tới 15,8% số dư nguồn vốn huy động của toàn ngành (BHXH: 6,7%; TKBĐ: 4,2%, Quỹ tích lũy trả nợ nước ngoài: 2%; KBNN: 2,9%); số dư nguồn vốn huy động từ TPCP chiếm 72,2%, các nguồn huy động khác chiếm 12%

2.1.2 Cho vay đầu tư:

Đến nay 31/03/2009, NHPT đang quản lý cho vay 3.972 dự án với số vốn theo HĐTD gần 128.780 tỷ đồng; trong đó có 358 dự án mới ký HĐTD và cho vay trong giai đoạn 2006-2009 với

số vốn NHPT cho vay gần 26.800 tỷ đồng, bằng khoảng 50% tổng mức đầu tư của các dự án này Trong tổng số các dự án NHPT đang quản lý, có 127 dự án nhóm A trọng điểm của Chính phủ với

số vốn vay chiếm khoảng 26% tổng mức đầu tư của dự án, bằng 51% tổng số vốn chấp thuận cho vay của các dự án NHPT đang quản lý Dư nợ của các dự án nhóm A tại thời điểm 31/12/2008 chiếm khoảng 45,3% tổng dư nợ cho vay đầu tư nguồn vốn trong nước của NHPT [31]

Bảng 2.4: Tình hình cho vay đầu tư tại Quỹ HTPT/NHPT

Đơn vị: Tỷ đồng

2003 2004 2005 2006 6th 2006 2007 2008 2009 3th

Cho vay 13.511 10.648 7.826 2.616 9.870 21.877 18.600 4.237 Thu nợ 3.382 4.201 4.993 1.748 5.667 7.104 8.592 1.824

Dư nợ (*) 31.963 38.410 41.225 42.085 46.351 60.166 63.171 65.584

Nợ gốc quá hạn 989 1.220 1.726 2.809 3.220 3.084 3.254 3.864

Nguồn: NHPT [9] Ghi chú: (*) Chưa kể dư nợ cho vay Lọc dầu Dung quất: Năm 2007: 450 triệu USD; Năm 2008: 500 triệu USD; dư nợ cho vay thỏa thuận năm 2008: 1.200 tỷ đồng

Trang 30

- Trong giai đoạn 2006-2008, TDĐT (vốn trong nước) của NHPT đã có bước tăng trưởng vượt bậc với mức tăng trưởng dư nợ bình quân 20%/năm (tính cả Lọc dầu Dung quất, nếu không kể Lọc dầu Dung Quất thì mức tăng trưởng bình quân là 18%/năm), cao hơn mức tăng trưởng dư nợ vốn ODA (bình quân 9,14%/năm) Dư nợ TDĐT vốn trong nước đến 31/03/2009 gấp hơn 1,5 lần so với thời điểm so với thời điểm NHPT bắt đầu đi vào hoạt động (01/07/2006) Thời hạn cho vay còn lại của dư nợ tại thời điểm cuối mỗi năm như sau:

Bảng 2.4a: Cơ cấu số dư nợ theo kỳ hạn còn lại tại thời điểm cuối các năm

Năm 3 năm 3-5 năm 5-10 năm Trên 10 năm Thời hạn bình quân còn lại của dư nợ

hạ tầng cụm tuyến dân cư vùng Đồng bằng Sông Cửu Long: 372 tỷ đồng (năm 200: 164 tỷ; năm 2007: 162 tỷ; năm 2008: 46 tỷ), dự kiến cả năm 2008: 750 tỷ đồng

Ghi chú: Từ 2008, gia hạn nợ được coi như biện pháp tín dụng, không coi là xử lý nợ

Hiện tại đang trình cấp có thẩm quyền xử lý nợ cho 28 dự án: khoanh nợ 21 tỷ đồng, xóa nợ gốc 92 tỷ, xóa nợ lãi 5,5 tỷ, bán nợ 4 dự án với số tiền khoảng 30 tỷ đồng

Trang 31

Đối với chương trình đánh bắt cá xa bờ:

* Đến nay, còn lại 960 tàu thuộc Chương trình đóng tàu khai thác hải sản xa bờ cho vay

từ 01/7/1997 đến nay, có dư nợ gốc là 737,8 tỷ đồng, nợ lãi là 482.6 tỷ đồng, trong đó:

- Số tàu thuộc đối tượng và đủ điều kiện đề nghị xử lý rủi ro là 900 tàu, gồm: Số tàu đã bán đấu giá 856 tàu; Số tàu chìm đắm, mất tích, bị nước ngoài đâm chìm 44 tàu; Số tàu còn lại là

55 tàu chưa bán đấu giá

* Số đề nghị xử lý:

- Đối với 900 tàu thuộc đối tượng và đủ điều kiện đề nghị xử lý rủi ro, số đề nghị: xoá

nợ là 1.173,4 tỷ đồng; trong đó, nợ gốc là 701,8 tỷ đồng, nợ lãi là 471,6 tỷ đồng; Bao gồm:

+ Số tàu đã bán đấu giá (856 tàu): Số nợ vay đề nghị xoá là 1.114,1 tỷ đồng; trong đó, nợ gốc là 664,9 tỷ đồng, nợ lãi là 449,2 tỷ đồng

+ Số nợ của các chủ đầu tư gặp rủi ro bất khả kháng như tàu bị đắm, mất tích do thiên tai, tàu bị nước ngoài đâm chìm, bắt giữ không trả lại (không còn tàu) (44 tàu)…

Số nợ vay đề nghị xoá là 59,3 tỷ đồng; trong đó, nợ gốc là 36,9 tỷ đồng, nợ lãi là 22,4 tỷ đồng

- Số nợ vay 55 tàu chưa bán đấu giá là 34 tỷ đồng, trong đó, nợ gốc 25,3 tỷ đồng, nợ lãi 8,7 tỷ đồng

Bộ Tài chính đã có công văn trình TTg với các nội dung: Thời điểm chốt số liệu: 30/9/2008; Số tàu được xử lý: 900 tàu; Nội dung xử lý: hạch toán ngoại bảng 702 tỷ đồng nợ gốc và 472 tỷ đồng nợ lãi

Các dự án hạ tầng giao thông của Bộ GTVT: Thực hiện chỉ đạo của Thủ tướng Chính

phủ tại các Văn bản số 130/TB-VPCP ngày 21/8/2006 về thông báo kết luận của Phó Thủ ướng thường trực Nguyễn Sinh Hùng tại cuộc họp xử lý các tồn tại về vốn của các công trình giao thông và một số dự án giao thông trọng điểm và số 183/TB-VPCP ngày 25/10/2006 về dự thảo Nghị định tín dụng đầu tư và tín dụng xuất khẩu và kế hoạch năm 2007; NHPT đã hướng dẫn các Chi nhánh NHPT thực hiện việc khoanh nợ (gốc và lãi) đến hạn trả nhưng chưa trả được tại thời điểm 31/12/2006 của các dự án giao thông: số nợ được khoanh là toàn bộ số nợ gốc và lãi đã quá hạn tại thời điểm 31/12/2006, thời hạn khoanh nợ bắt đầu từ 01/8/2006 và kết thúc vào 31/12/2009, trong thời gian khoanh nợ vẫn phải trả nợ gồm: nợ đến hạn, nợ khoanh phân bổ, nợ quá hạn, số dự án được khoanh nợ là 61, với số nợ gốc quá hạn được khoanh là

t-1.225 tỷ đồng; nợ lãi quá hạn được khoanh là 347 tỷ đồng

2.1.3 Vốn ODA cho vay lại và Quỹ quay vòng:

Trong gần 3 năm triển khai nghiệp vụ này (từ 01/7/2006 đến 31/12/2008), NHPT đang quản lý cho vay lại đối với 376 dự án với tổng số vốn cam kết theo Hiệp định vay là 7,05 tỷ USD, tăng 124 dự án với 1,15 tỷ USD so với thời điểm mới thành lập Các dự án được thực hiện trên 58 Tỉnh, Thành phố trên cả nước, trong đó tập trung chủ yếu vào Thành phố Hồ Chí Minh do Sở Giao dịch II quản lý, Thành phố Hà Nội do Sở Giao dịch I quản lý, các Chi nhánh có số dự án, mức vốn cho vay lớn là Hải Dương, Cần Thơ, Thành phố Đà Nẵng

Bảng 2.5: Tình hình vốn ODA cho vay lại tại Quỹ HTPT/NHPT

Đơn vị: Tỷ đồng

2003 2004 2005 6th2006 2006 2007 2008 3th2009

Cho vay 4,175 6,692 7,402 3.130 4,850 8.729 7.802 946 Thu nợ 791 1,503 1,857 - 2,090 2.330 3.413 887

Dư nợ 31,446 36,462 42,050 44.281 44,761 50.607 54.622 54.782

Nợ gốc quá hạn 133 157 206 208 233 276 292 338

Nguồn: NHPT [9]

Trang 32

Các dự án ODA phân chia theo các lĩnh vực sau:

- 133 dự án thuộc lĩnh vực điện bao gồm xây dựng nhà máy điện, đường dây chuyền tải, trạm biến áp… với số vốn vay hơn 4,9 tỷ USD chiếm 71% tổng số vốn vay

- 95 dự án thuộc lĩnh vực cấp thoát nước, vệ sinh môi trường… với số vốn vay hơn 560 triệu USD chiếm 8,02% tổng số vốn vay

- 49 dự án thuộc lĩnh vực giao thông vận tải (hàng không, đường sắt, đường thủy, cảng…); số vốn vay hơn 490 triệu USD chiếm 7% tổng số vốn vay

- 28 dự án thuộc lĩnh vực công nghiệp bao gồm sản xuất sắt thép, xi măng… với số vốn vay hơn 304 triệu USD chiếm 4,34% tổng số vốn vay

- 7 dự án thuộc lĩnh vực bưu chính viễn thông… với số vốn vay hơn 277 triệu USD chiếm 3,96% tổng số vốn vay

- 46 dự án thuộc lĩnh vực nông lâm nghiệp bao gồm chăn nuôi, chế biến trồng trọt, thủy sản, thủy lợi… với số vốn vay hơn 200 triệu USD chiếm 2,88% tổng số vốn vay

- 18 dự án thuộc lĩnh vực xây dựng, cơ sở hạ tầng… với số vốn vay hơn 200 triệu USD chiếm 2,88% tổng số vốn vay

Phân chia theo nguồn vốn của các Nhà Tài trợ, chủ yếu tập trung vào Chính phủ Nhật Bản, WB, ADB, Pháp, Đức , cụ thể như sau:

- Chính phủ Nhật Bản: 36 dự án với số vốn cho vay là 3.486 triệu USD chiếm 49,44% tổng số vốn vay

- Ngân hàng Thế giới: 81 dự án, số vốn cho vay 1,8 tỷ USD chiếm 25,4%

- ADB: 34 dự án với số vốn cho vay 394 triệu USD chiếm 0,55% tổng số vốn vay

- Pháp: 50 dự án với tổng số vốn cho vay 287 triệu USD chiếm 4% tổng số vốn vay… Trong đó, NHPT cũng kế thừa từ Quỹ HTPT tiếp tục quản lý các Quỹ quay vòng:

- Quỹ Đầu tư ngành giống nguồn vốn viện trợ không hoàn lại từ Chính phủ Đan Mạch

trị giá 8,4 triệu USD tập trung cho vay các doanh nghiệp sản xuất giống cây lương thực;

- Quỹ Phà nguồn vốn viện trợ không hoàn lại từ Chính phủ Đan Mạch trị giá 187 tỷ

đồng do Danida uỷ thác cho NHPT thực hiện từ năm 2003, tập trung cho vay các dự án đóng

mới phà hoạt động ở vùng Đồng bằng sông Cửu Long;

- Chương trình phát triển khu vực tư nhân nguồn vốn do Chính phủ Đan Mạch ủy thác

trực tiếp trị giá 26,5 tỷ VND chủ yếu cho vay đối với các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam có hợp tác, liên doanh với đối tác Đan Mạch;

- Chương trình hỗ trợ doanh nghiệp vừa và nhỏ, nguồn vốn ODA Chính phủ Đức giai

đoạn I - trị giá 7 triệu EUR, tập trung hỗ trợ vốn cho các doanh nghiệp vừa và nhỏ để đầu tư cho các liõnh vực chế biến nông lâm thuỷ hải sản và thuỷ điện nhỏ;

- Quỹ quay vòng cấp nước đô thị WB trị giá 10 triệu USD được triển khai từ năm 2005

để cho vay đầu tư các dự án cấp nướcc tại đô thị nhỏ, thị trấn, thị tứ;

- Dự án đầu tư cấp nước Phần Lan - giai đoạn I nguồn vốn viện trợ không hoàn lại của

Chính phủ Phần Lan trị giá 5,5 triệu EUR, được triển khai từ tháng 01/2004, đầu tư cho các tỉnh đồng bằng sông Hồng và các tỉnh miền núi;

- Dự án cấp nước và hỗ trợ trợ kỹ thuật của AFD: gồm 28 triệu EURO hỗ trợ xây dựng

hệ thống cấp nước sạch cho 7 tỉnh đồng bằng sông cửu long và khoảng 2 triệu EURO để hỗ trợ

kỹ thuật cho các chủ đầu tư để nâng cao năng lực

- Quản lý, kiểm soát chi và trực tiếp giải ngân từ Tài khoản đặc biệt cho các tiểu dự án,

cụ thể là các dự án/chương trình: (i) Dự án Năng lượng nông thôn II, vốn vay WB; (ii) Chương trình cấp nước đô thị, vốn vay WB

Trang 33

Bảng 2.6: Kết quả cho vay TDXK

1 Doanh số cho vay (tỷ đồng) 8.200 9.500 27.275 8.200

Doanh số cho vay xuất

khẩu tăng trưởng rất

mạnh mẽ, đặc biệt năm

2008, gấp gần 3 lần so

với năm 2007; trong đó

tập trung vào cho vay

Trang 34

chiếm tỷ lệ cao nhất (40,8%) Đây là thị trường lớn và hấp dẫn đối với các doanh nghiệp xuất khẩu các mặt hàng dệt may, hải sản, dầu thô, giầy dép Doanh số cho vay xuất khẩu sang thị trường Mỹ đã tăng một cách nhanh chóng kể từ sau khi Hiệp định thương mại Việt - Mỹ được

ký kết (Năm 2006: 820 tỷ đồng, chiếm 10% tổng doanh số cho vay; Năm 2007: 1.045 tỷ đồng; năm 2008: 3.483 tỷ đồng, chiếm gần 13% tổng doanh số cho vay Các mặt hàng xuất khẩu sang thị trường này chủ yếu là thuỷ hải sản, thủ công mỹ nghệ, cà phê, giầy dép, dầu thô, dệt may, hạt điều, hạt tiêu tăng vọt Thị trường chủ yếu của mặt hàng gạo là Cuba và Irắc; máy tính nguyên chiếc, quạt điện, bóng đèn tiết kiệm điện chủ yếu xuất khẩu sang thị trường Cuba Đây là hai thị trường thực hiện mục tiêu chính trị của Đảng và Chính phủ; trong đó riêng cho vay xuất khẩu vào thị trường Cuba hơn 8.100 tỷ đồng, chiếm 18% tổng doanh số cho vay trong giai đoạn vừa qua

Các doanh nghiệp vay vốn TDXK tại NHPT chủ yếu là DNNN, chiếm tới hơn 35%, phần lớn là các Tổng công ty thực hiện các khoản vay theo Hiệp định Chính phủ; các công ty TNHH và Công ty cổ phần chiếm tương ứng 24,8% và 34,8% doanh số cho vay năm 2008

2.1.5 Bảo lãnh tín dụng đầu tư

Trong hơn 6 năm triển khai, kết quả thu được đối với hình thức bảo lãnh tín dụng đầu

tư rất ít ỏi, tổng số chỉ có 05 dự án được bảo lãnh tín dụng đầu tư với số vốn 32,5 tỷ đồng; tập trung vào lĩnh vực sản xuất, chế biến nông sản Đến nay, các dự án hoàn thành nghĩa vụ trả nợ đối với các tổ chức cho vay và chấm dứt quan hệ bảo lãnh tín dụng

2.1.6 Bảo lãnh cho doanh nghiệp vay vốn các NHTM theo Quyết định 14

Qua hơn 1 tháng triển khai, NHPT đã ký thỏa thuận hợp tác với 30 NHTM về lĩnh vực bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp; đến nay, NHPT đã phát hành 320 thông báo chấp nhận bảo lãnh (trong đó 31 dự án và 289 phương án) với số tiền 2.132 tỷ đồng và phát hành 190 chứng thư bảo lãnh (chứng thư cho 9 dự án và 181 phương án) với số tiền 1.142 tỷ đồng Từ chối bảo lãnh 89 hồ sơ bảo lãnh Hiện nay NHPT đang thẩm định 320 hồ sơ với số tiền là đề nghị bảo lãnh là 2.520 tỷ đồng

2.1.7 Tình hình thực hiện hỗ trợ sau đầu tư

- Trong giai đoạn 2006-2008, đến ngày 31/12/2008 NHPT đã ký hợp đồng HTSĐT 372 dự

án, với số vốn hỗ trợ cho cả dự án là: 1.111,8 tỷ đồng (bình quân một dự án được hưởng HTSĐT khoảng 3 tỷ đồng) trên tổng số dự án được ký hợp đồng HTSĐT từ năm 2000 đến 31/12/2008 là 2.848 dự án, với số vốn hỗ trợ cho cả dự án là: 3.599 tỷ đồng Số vốn HTSĐT thực cấp trong giai đoạn 2006-2008 là 689,705 tỷ đồng

- Hỗ trợ LSSĐT tăng trưởng rất nhanh qua các năm, riêng giai đoạn 2006-2008 số dự án tăng bình quân 5%/năm; tổng số vốn theo hợp đồng hỗ trợ tăng bình quân 29%/năm; số vốn thực cấp tăng bình quân 40%/năm

Nguồn: NHPT [9]

Tất cả các dự án được HTSĐT đều có thời hạn rất dài, thấp nhất là 5 năm và dài nhất là

14 năm Theo các hợp đồng đã ký, tổng số vốn còn cấp HTSĐT trong giai đoạn 2009-2010 là 662,2 tỷ đồng; trong đó năm 2009: 336 tỷ đồng, năm 2010: 336,2 tỷ đồng; số vốn còn cấp cho

Trang 35

các dự án trong các năm giai đoạn 2011-2015 là: 1.124 tỷ đồng Phần lớn các dự án đề nghị được hỗ trợ LSSĐT thuộc các ngành sản xuất, chế biến nông lâm thủy sản, đầu tư thiết bị thi công xây dựng, xây dựng công nghiệp

2.1.8 Tình hình tài chính của NHPT

Tổng thu nhập của NHPT tăng trung bình 32,5%/năm; cao hơn mức tăng 30%/năm của tổng chi phí trong giai đoạn này nhưng thấp hơn mức tăng thu nhập của giai đoạn 2001-2005 (41,2%/năm) Do hoạt động chủ yếu là tín dụng nên nguồn thu chủ yếu của NHPT từ lãi cho vay và lãi thu được từ việc gửi vốn nhàn rỗi tại các NHTM và tổ chức tín dụng Bình quân trong 3 năm qua, nguồn thu này chiếm tới 72,6% tổng thu nhập của NHPT, cao hơn mức 63% của bình quân giai đoạn 2001-2005; trong đó nguồn thu từ lãi cho vay giai đoạn 2006-2008 chiếm bình quân 44% thu nhập hàng năm (năm 2003: 44%; năm 2004: 46%; năm 2005: 46%; năm 2006: 42%; năm 2007: 44%; năm 2008: 45%)

Chi phí của NHPT giai đoạn 2006-2008 gia tăng với mức tăng bình quân 30%/năm, thấp hơn mức 45,3% của bình quân giai đoạn 2001-2005; trong đó bình quân chi phí huy động vốn chiếm 83% chi phí hàng năm (cao hơn mức 81,3% của giai đoạn 2000-2005)

Bảng 2.8: Tình hình tài chính của Quỹ HTPT/NHPT

Do cho vay với lãi suất thấp hơn vốn huy động nên NHPT được cấp bù CLLS và phí quản lý

từ nguồn NSNN Số cấp bù CLLS được xác định trên cơ sở chênh lệch giữa lãi suất hòa đồng vốn huy động và lãi suất cho vay nhân với dư nợ TDĐT của Nhà nước (vốn trong nước) Phí quản lý của NHPT được xác định bằng 25% số lãi thực thu Bình quân giai đoạn 2006-2008, bình quân số cấp từ NSNN chiếm 25% tổng thu nhập, thấp hơn mức 39% của giai đoạn 2003-2005

Thu phí quản lý vốn ODA cho vay lại khá ổn định, chiếm bình quân 2% tổng thu nhập hàng năm; bình quân bằng 32% chi phí quản lý hàng năm của NHPT

2.1.9 Tình hình cán bộ của NHPT

2.1.9.1 Về cán bộ và đào tạo cán bộ

Trang 36

Đến 31/03/2009, toàn ngành NHPT có 2.523 cán bộ, trong đó nam chiếm 51,2%, nữ chiếm 49,8%; cán bộ có trình độ đại học là 2.049 cán bộ (chiếm 86,2%); số cán bộ được đào tạo về chuyên ngành tài chính ngân hàng là 808 cán bộ (chiếm 32%), tài chính kế toán là 650 cán bộ (chiếm 26%); số cán bộ được đào tạo chính quy dài hạn là 1.463 cán bộ (chiếm 57%); số cán bộ

có trình độ quản lý nhà nước cấp chuyên viên và chuyên viên chính là 1.061 cán bộ (chiếm 42%); số cán bộ có trình độ lý luận chính trị cao cấp là 222 (chiếm 8,8%); số cán bộ có trình độ ngoại ngữ trình độ đại học là 98 (chiếm 3,8%); số cán bộ có trình độ ngoại ngữ từ chứng chỉ B trở lên là 1.593 cán bộ (chiếm 63,1%) Cán bộ là đảng viên là 964 (chiếm 38,2%)

Về độ tuổi: cán bộ dưới 30 tuổi có 867 cán bộ, chiếm tỷ lệ 34%; từ 30-40 tuổi là 870, chiếm 34,5%; cán bộ từ 40-50 tuổi là 573, chiếm 22,7%; cán bộ trên 50 tuổi là 234, chiếm 9,3%

- Trong 3 năm qua, NHPT đã tổ chức 104 lớp/khóa đào tạo cho 4.631 lượt cán bộ về các nhóm chuyên ngành và lĩnh vực nghiệp vụ; trong đó tập trung vào đào tạo kiến thức nghiệp vụ ngân hàng, đặc biệt là về thẩm định, phân tích tín dụng, tổng quan về quản trị ngân hàng

2.1.9.2 Về cán bộ lãnh đạo:

Trên cơ sở mô hình tổ chức bộ máy tại Hội sở chính và Sở Giao dịch, các Chi nhánh tại các tỉnh, TP được Hội đồng quản lý phê duyệt, đến nay, bộ máy nhân sự lãnh đạo các đơn vị đã từng bước được kiện toàn:

- Tại Hội sở chính:

+ Ban Lãnh đạo gồm có Chủ tịch HĐQL, Tổng Giám đốc, Trưởng ban Kiểm soát, 5 Phó Tổng Giám đốc (trong đó 01 đ/c được điều động sang kiêm nhiệm Chủ tịch HĐQT Tổng công ty VIDIFI và 01 đ/c cử sang giữ chức Chủ tịch HĐQT Tổng Công ty VIDIFI)

+ 15 Trưởng ban và tương đương, 8 đ/c được giao nhiệm vụ quyền, Phụ trách Ban, Trung tâm, Văn phòng 41 đ/c Phó Trưởng ban và tương đương

+ 22 Trưởng phòng và 29 Phó Trưởng phòng

- Tại Sở Giao dịch, các Chi nhánh: Trong 58 đơn vị gồm 02 Sở Giao dịch và 56 Chi nhánh

có 55 Giám đốc, 3 đ/c được giao nhiệm vụ Phó Giám đốc Phụ trách và 94 Phó Giám đốc Sở Giao dịch và Chi nhánh

+ Trưởng phòng, Q Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng-Phụ trách : 253

+ Phó Trưởng phòng, : 281

Đến nay, hầu hết các đơn vị các Phòng, ban, Chi nhánh đã có đủ cấp trưởng và cấp phó ( ít nhất

có 1 cấp trưởng và 01 cấp phó) Công tác bổ nhiệm cán bộ lãnh đạo các cấp được thực hiện theo đúng quy trình về công tác bổ nhiệm cán bộ và theo quy hoạch cán bộ đã được duyệt Hàng năm, Thủ trưởng các đơn vị đã phối hợp với cấp uỷ Đảng đơn vị đã tiến hành đánh giá đội ngũ cán bộ, lựa chọn cán bộ dự nguồn các chức danh, đồng thời có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, luân chuyển cán bộ, trong đó đặc biệt quan tâm đến công tác đánh giá nhận xét, phân loại cán bộ

2.1.9.3 Về công tác quy hoạch cán bộ Lãnh đạo

Hàng năm, kết hợp với công tác đánh giá nhận xét, xây dựng quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cấp, các đơn vị trong toàn hệ thống chủ động triển khai công tác quy hoạch, tạo nguồn cán

bộ lãnh đạo các cấp bổ sung tại các đơn vị trong toàn hệ thống, đến nay, ở tất cả các đơn vị trong toàn hệ thống đã xây dựng và tạo được nguồn đội ngũ cán bộ kế cận các chức danh từ Phó Trưởng phòng trở lên, thông qua đó đã nắm bắt kịp thời và có kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng những cán bộ đó những kiến thức còn yếu, còn thiếu, đáp ứng được với tiêu chuẩn, chức danh dự kiến bổ nhiệm

Đến nay, ở hầu hết các đơn vị đều đã chuẩn bị, xây dựng, đưa vào danh sách quy hoạch đội ngũ cán bộ, trẻ, khoẻ, có phẩm chất đạo đức tốt, có trình độ chuyên môn, năng lực công tác lãnh đạo và được sự tín nhiệm của tập thể để tạo nguồn quy hoạch cán bộ lãnh đạo các cấp Trên

Trang 37

cơ sở đó, các đơn vị có kế hoạch tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng cho cán bộ thuộc diện quy hoạch đáp ứng được với các tiêu chuẩn chức danh dự kiến bổ nhiệm

+Đối với chức danh Lãnh đạo NHPT: Hội đồng quản lý đã phê duyệt quy hoạch 02 đ/c vào chức danh Chủ tịch HĐQL, 03 đ/c quy hoạch chức danh Tổng Giám đốc, 06 đ/c quy hoạch chức danh Phó Tổng Giám đốc, 03 đ/c quy hoạch chức danh Trưởng ban Kiểm soát

+Đối với quy hoạch chức danh Trưởng ban, Giám đốc, Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng: Trên cơ sở được sự chấp thuận của HĐQL, Tổng Giám đốc đã phê duyệt 22 đ/c quy hoạch chức danh Trưởng ban và 19 cán bộ quy hoạch chức danh Phó Trưởng ban; 165 đ/c được phê duyệt quy hoạch các chức danh Trưởng phòng, Phó Trưởng phòng

2.1.9.4 Về công tác luân chuyển cán bộ Lãnh đạo các cấp

Thực hiện Quy chế luân chuyển cán bộ, căn cứ yêu cầu công tác, nhiệm vụ chính trị, trong thời gian vừa qua, được sự đồng ý của Hội đồng quản lý và cấp ủy, chính quyền địa phương, trong thời gian qua, Tổng Giám đốc NHPT đã điều động và luân chuyển 35 chức danh Lãnh đạo các Ban, Văn phòng, Giám đốc, Phó Giám đốc, có yêu cầu điều động và luân chuyển

để giữ các chức vụ theo quy hoạch và theo nhu cầu công việc tại cơ quan Hội sở chính và các Chi nhánh NHPT các tỉnh, thành phố

Nhằm sử dụng có hiệu quả và tạo nên sự đồng bộ trong đội ngũ cán bộ, tạo điều kiện cho cán bộ trẻ, cán bộ trong diện quy hoạch, cán bộ đang đảm nhiệm các chức vụ tương đương được bồi dưỡng một cách toàn diện, rèn luyện trong thực tiễn, khắc phục tình trạng khép kín trong từng địa phương, từng đơn vị

Trong thời gian tới, dự kiến sẽ tiếp tục thực hiện phương án luân chuyển và bổ nhiệm một số các đồng chí Lãnh đạo các Ban, Văn phòng, Trung tâm tại cơ quan Hội sở chính thuộc diện quy hoạch để giữ các chức vụ Giám đốc, Phó Giám đốc tại Sở Giao dịch, tại một số các Chi nhánh NHPT các tỉnh, thành phố có nhu cầu và ngược lại

2.1.9.5 Về thực hiện quy định về chuyển đổi vị trí công tác:

Năm 2009 là năm thứ 3 hệ thống NHPT triển khai đi vào hoạt động, theo quy định của Nhà nước, NHPT sẽ thực hiện định kỳ chuyển đổi vị trí công việc sau 3 năm đảm nhiệm của tất

cả các vị trí chuyên môn nghiệp vụ và chức danh Dự kiến từ 1/7/2009

2.2 Đánh giá hoạt động của NHPT giai đoạn 2006-2009

2.2.1 Các mặt được

2.2.1.1 Đối với nền kinh tế

a Huy động các nguồn vốn đáp ứng nhu cầu phát triển của nền kinh tế

Trong điều kiện của nền kinh tế đang phát triển, vốn luôn có một vị trí đặc biệt quan trọng Với Việt Nam, vốn đã trở thành một yếu tố mang tính then chốt nhất đáp ứng yêu cầu tăng trưởng trong những năm qua Tính chung trong giai đoạn 2001-2005, tổng vốn đầu tư toàn xã hội chiếm 37,5% GDP, nếu tính cả năm 2000 thì bình quân tỷ lệ này trong 6 năm chiếm 37,2% GDP; giai đoạn 2006-2008 tỷ lệ này là 41% Theo tính toán của nhiều chuyên gia, yếu tố vốn đầu tư đóng góp tới 57,5% vào tăng trưởng GDP của Việt Nam trong những năm qua [25][46][37]

Vai trò của NHPT trong thời gian quangày càng được nâng cao; thông qua việc huy động

và tài trợ vốn cho các dự án phát triển, đặc biệt là các dự án trọng điểm của Chính phủ, NHPT ngày càng tham gia đắc lực hơn vào sự nghiệp phát triển kinh tế Tính chung, vốn TDĐT do NHPT giải ngân trong giai đoạn 2006-2008 chiếm 3,8% vốn đầu tư trong nước của toàn xã hội, tương đương 4,2% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 1,8% GDP; trong đó tín dụng nguồn vốn trong nước chiếm 2,8% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 1,15% GDP; nguồn vốn ODA chiếm 1,4% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, bằng 0,5% GDP

Trang 38

§å thÞ 2.5: C¬ cÊu vèn ®Çu t- x· héi

Nguồn: NHPT [9], MPI [12][3]

Tín dụng của NHPT khá lớn, giai đoạn 2006-2008 chiếm tỷ lệ trung bình 12% tín dụng toàn thị trường (Bảng 2.3); tương đương khoảng 10% GDP; trong đó tín dụng mới hàng năm chiếm 9,6% tín dụng mới toàn thị trường, tương đương khoảng 1,7% GDP

Bảng 2.9: Tỷ lệ tín dụng giai đoạn 2001-2008

Tổng dư nợ/GDP

Dư nợ tăng thêm toàn thị trường/

GDP

Dư nợ NHPT/

GDP

Dư nợ tăng thêm NHPT/

GDP

Dư nợ NHPT/Dư

nợ toàn thị trường

Dư nợ tăng thêm /TD mới toàn thị trường

b Tác động ngày càng nhiều hơn tới tăng trưởng kinh tế và xuất khẩu; góp phần nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế

Áp dụng lý thuyết kinh tế về các yếu tố cơ bản ảnh hưởng đến GDP bao gồm: Tiêu

Trang 39

dùng (C); đầu tư (I); Chi tiêu của chính phủ (G) và xuất khẩu ròng (EX) và sai số ngẫu nhiên (U) [5] Với mục tiêu xem xét ảnh hưởng của vốn đầu tư từ nguồn TDĐT của Nhà nước đến GDP, ta có thể xây dựng quan hệ hàm số đơn giản giữa GDP (giá trị của GDP trong kỳ) và DAF/VDB (là số vốn Quỹ HTPT/NHPT cho vay trong kỳ) như sau [11]:

GDP = f(I) = e β1 VDB β2 e U (*)

Sử dụng các bộ số liệu về vốn giải ngân và GDP (theo giá hiện hành) của 26 quý trong giai đoạn 2000-06/2006 và 37 quý trong giai đoạn 2000-03/2009 để ước lượng mô hình hồi quy và so sánh mối quan hệ giữa các lượng vốn này với GDP trong các thời kỳ (Phân tích mô hình hồi quy chi tiết tại Phụ lục)

So sánh kết quả ước lượng mô hình trên cho thấy, sự liên hệ tác động giữa vốn của NHPT đối với tăng trưởng GDP ngày càng tăng lên và tác động tích cực hơn so với vốn của Quỹ HTPT trước đây Nó phản ảnh rằng sự thay đổi mô hình và chính sách triển khai kênh TDĐT trong thời gian qua là tích cực và những đổi thay theo hướng này cần được tiếp tục phát huy

Việc cho vay TDXK đã giúp các doanh nghiệp Việt Nam giảm chi phí đầu vào, tăng khả năng cạnh tranh, tranh thủ thời cơ mở rộng và đẩy mạnh hoạt động xuất khẩu hàng hoá Việt Nam trên thị trường quốc tế, tạo điều kiện giúp các doanh nghiệp giữ vững thị trường truyền thống, khai thác các thị trường mới và tiềm năng Với doanh số cho vay gần 3 tỷ USD trong 3 năm qua, NHPT đã hỗ trợ các doanh nghiệp thu về kim ngạch xuất khẩu gần 3,5 tỷ USD; số cho vay xuất khẩu ngày càng tăng góp phần thúc đẩy xuất khẩu, hạn chế nhập siêu cho nền kinh tế

Đối với một số thị trường như Iraq, Cuba, mặc dù có sự bảo lãnh của Chính phủ nước nhập khẩu nhưng hai thị trường này thường có rủi ro khá cao về chính trị, thời gian trả chậm dài từ 2-5 năm nên với vai trò là tổ chức tài chính thực hiện nhiệm vụ TDXK của Nhà nước, NHPT đã hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện xuất khẩu sang các thị trường này và các thị trường mới ở Châu Phi trong khi các NHTM ngần ngại cung cấp tín dụng; tạo điều kiện hỗ trợ các doanh nghiệp thực hiện được các hợp đồng xuất khẩu, góp phần thực hiện các chủ trương của Đảng, Chính phủ trong việc hợp tác kinh tế và quan hệ giữa Việt Nam và các nước

c Góp phần thúc đẩy sự phát triển của thị trường tài chính

Việc phát hành TPCP của NHPT đã có tác động quan trọng đến thị trường vốn trong thời gian qua; TPCP do NHPT phát hành với thời hạn dài 5 năm, 7 năm, 10 năm và 15 năm là các công cụ nợ quan trọng trên thị trường và có khối lượng lớn, chiếm tới 29% tổng giá trị niêm yết toàn thị trường, góp phần đa dạng hóa các công cụ nợ và tăng lượng hàng hóa trên thị trường chứng khoán, gia tăng sự tích tụ tài chính, thúc đẩy sự phát triển của thị trường vốn, đặc biệt vốn dài hạn

Nguồn: Quỹ HTPT, NHPT [9], HOSE, HASE và Thời báo Kinh tế Việt Nam [15]

Trang 40

Thông qua việc cùng cho vay, tín dụng của NHPT (chiếm bình quân 43% tổng mức đầu

tư các dự án) đã góp phần quan trọng thu hút các nguồn vốn dài hạn khác của các NHTM và TCTD trong và ngoài nước để tài trợ cho các dự án phát triển với tổng mức đầu tư chiếm khoảng 30% tín dụng mới toàn thị trường mỗi năm, góp phần quan trọng vào mức tăng trưởng tín dụng trên GDP hàng năm của nền kinh tế, giảm tỷ lệ tiền mặt, tăng tỷ lệ tiền tệ hóa toàn nền kinh tế

Cùng với việc đẩy mạnh huy động vốn góp phần làm sôi động hơn thị trường vốn, các hình thức hỗ trợ gián tiếp là HTSĐT, bảo lãnh tín dụng đầu tư cũng góp phần quan trọng đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội cho ĐTPT, gia tăng tín dụng của các NHTM và TCTD, tăng tổng dư nợ toàn nền kinh tế Hoạt động bảo lãnh tín dụng cho các doanh nghiệp vay vốn của các NHTM dù mới triển khai trong thời gian ngắn đã góp phần huy động được 1.073 tỷ đồng cho phát triển hoạt động sản xuất kinh doanh Đối với HTSĐT, tính đến hết 31/12/2008, NHPT đã thẩm định chấp thuận hỗ trợ sau đầu tư cho 2.854 dự án với tổng số vốn cấp HTSĐT là 3.514 tỷ đồng, thông qua lượng vốn mồi này đã huy động được tổng số vốn 36.604 tỷ đồng để đầu tư 2.854 dự án với tổng số vốn đầu tư lên tới 84.753 tỷ đồng Đến 31/12/2008 đã thanh lý Hợp đồng HTSĐT đối với 1.853 dự án với tổng số tiền đã cấp cho các chủ đầu tư là 464,4 tỷ đồng

d Góp phần chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng CNH-HĐH

Thực hiện mục tiêu chiến lược chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế theo hướng CNH-HĐH, vốn TDĐT của Nhà nước đã có những bước chuyển biến hết sức căn bản và mạnh mẽ về cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực ngành nghề theo hướng tăng nhanh tỷ trọng vốn dành cho ĐTPT các dự án công nghiệp nặng, công nghiệp hóa nông nghiệp nông thôn và hiện đại hóa công nghiệp nhẹ, trong đó chú trọng đến công nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản

Bảng 2.10: Cơ cấu vốn đầu tư theo lĩnh vực kinh tế Năm

Cơ cấu dư nợ của NHPT Tỷ lệ vốn đầu tư vào

công nghiệp, xây dựng toàn nền kinh tế

Công nghiệp, xây dựng

Nông, lâm, ngư nghiệp

GTVT, thông tin liên lạc

Nguồn: Quỹ HTPT, NHPT, Tổng cục thống kê [8], MPI [12, tr 213]

Tỷ lệ vốn tín dụng của NHPT thực hiện trong 3 năm qua đố với lĩnh vực công nghiệp, xây dựng luôn tăng nhanh với mức tăng bình quân 78%/năm; tỷ lệ vốn tín dụng của NHPT luôn cao hơn tỷ lệ vốn đầu tư của toàn xã hội trong lĩnh vực này, đồng nghĩa với việc thu hút các nguồn vốn khác trên thị trường cùng cho vay đầu tư các dự án phát triển các ngành thuộc lĩnh vực công nghiệp, xây dựng Đặc biệt, trong hơn 3 năm qua, NHPT đã cho vay đầu tư 60 dự án trọng điểm (Nhóm A) trên phạm vi cả nước (trong tổng số 127 dự án Nhóm A NHPT đang quản lý), trong

đó hầu hết các dự án đều thuộc lĩnh vực công nghiệp (xi măng, thép, điện, giấy, phân bón, chế biến cao su, cơ khí) với tổng số vốn vay chiếm khoảng 40% tổng mức đầu tư, bằng 25% tổng số vốn NHPT cam kết cho vay cho các dự án Lĩnh vực HTSĐT đã thu hút vốn thị trường để đầu tư tập trung vào các lĩnh vực công nghiệp và xây dựng: chiếm 72% số vốn thu hút được; nông nghiệp: 1,6%; giao thông vận tải: 9,6%; khác: 16,5% Các kết quả với xu hướng tăng nhanh trong lĩnh vực công nghiệp và xây dựng có tác động tích cực quan trọng đến sự phát triển và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của các vùng miền và cả nước

Ngày đăng: 17/05/2016, 04:28

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[11] Trần Công Hòa (2008), Hoàn thiện chính sách lãi suất TDĐT và TDXK của Nhà nước, Tạp chí Ngân hàng, số 08/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Hoàn thiện chính sách lãi suất TDĐT và TDXK của Nhà nước
Tác giả: Trần Công Hòa
Nhà XB: Tạp chí Ngân hàng
Năm: 2008
[12] Bộ KH&ĐT (2006), Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010, NXB Thống kê Sách, tạp chí
Tiêu đề: Kế hoạch phát triển kinh tế xã hội 5 năm 2006-2010
Tác giả: Bộ KH&ĐT
Nhà XB: NXB Thống kê
Năm: 2006
[13] Quỳnh Khanh, “Tàu thủy Việt Nam về đích trước”, Thời báo kinh tế Việt Nam, 33 (1499) Sách, tạp chí
Tiêu đề: “"Tàu thủy Việt Nam về đích trướ"c"”, "Thời báo kinh tế Việt Nam
[14] Nguyễn Thị Kim Cúc (2009), Báo cáo đánh giá hoạt động HTSĐT và quản lý vốn ủy thác của NHPT giai đoạn 2006-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá hoạt động HTSĐT và quản lý vốn ủy thác của NHPT giai đoạn 2006-2009
Tác giả: Nguyễn Thị Kim Cúc
Năm: 2009
[16] Nguyễn Minh Thọ (2009), Báo cáo đánh giá tình hình huy động vốn của NHPT giai đoạn 2006-2009 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tình hình huy động vốn của NHPT giai đoạn 2006-2009
Tác giả: Nguyễn Minh Thọ
Năm: 2009
[17] Trần Công Hòa (2007), Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước, Luận án Tiến sỹ kinh tế; Hà Nội 05/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Nâng cao hiệu quả hoạt động tín dụng ĐTPT của Nhà nước
Tác giả: Trần Công Hòa
Nhà XB: Luận án Tiến sỹ kinh tế
Năm: 2007
[18] Lê Hồ Khôi (2006), Báo cáo Chuyên đề Huy động vốn cho tín dụng ĐTPT của Nhà n- ước tại Quỹ HTPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chuyên đề Huy động vốn cho tín dụng ĐTPT của Nhà n-ước tại Quỹ HTPT
Tác giả: Lê Hồ Khôi
Năm: 2006
[19] Phạm Văn Bốn (2006), Báo cáo chuyên đề nghiệp vụ thẩm định, tín dụng và quản lý rủi ro của NHPTVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề nghiệp vụ thẩm định, tín dụng và quản lý rủi ro của NHPTVN
Tác giả: Phạm Văn Bốn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
[20] Trần Tú Cát – Lê Quang Toàn (2006), Phạm Thu Hiền – Lê Quang Toàn (2009) Báo cáo Chuyên đề hoàn thiện tín dụng xuất khẩu tại NHPTVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo Chuyên đề hoàn thiện tín dụng xuất khẩu tại NHPTVN
Tác giả: Trần Tú Cát, Lê Quang Toàn, Phạm Thu Hiền
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2006
[21] Nguyễn Thị Thúy Lan (2009), Báo cáo chuyên đề vốn ODA giai đoạn 2006-2009 tại NHPTVN, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề vốn ODA giai đoạn 2006-2009 tại NHPTVN
Tác giả: Nguyễn Thị Thúy Lan
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
[22] Nguyễn Chính Tuấn (2009), Báo cáo chuyên đề công tác kế toán thanh toán của NHPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề công tác kế toán thanh toán của NHPT
Tác giả: Nguyễn Chính Tuấn
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
[23] Nguyễn Long Vân – Nguyễn Gia Thế (2009), Báo cáo đánh giá tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ của NHPT giai đoạn 2006-2009, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá tổ chức bộ máy và quản lý cán bộ của NHPT giai đoạn 2006-2009
Tác giả: Nguyễn Long Vân, Nguyễn Gia Thế
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
[25] Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán, số liệu tại trang bìa, 2 (31) 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tạp chí Nghiên cứu Tài chính Kế toán
Năm: 2006
[26] Dương Đức Tuân (2009), Báo cáo đánh giá hệ thống công nghệ thông tin NHPT 2006- 2008, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo đánh giá hệ thống công nghệ thông tin NHPT 2006- 2008
Tác giả: Dương Đức Tuân
Nhà XB: Hà Nội
Năm: 2009
[27] Trần Công Hòa- Lê Thị Thúy (2007), Sự phát triển của ngành ngân hàng giai đoạn 2004 đến nay và những xu hướng lớn trong thời gian tới, Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ, số 18 (240) 15/09/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Sự phát triển của ngành ngân hàng giai đoạn 2004 đến nay và những xu hướng lớn trong thời gian tới
Tác giả: Trần Công Hòa, Lê Thị Thúy
Nhà XB: Tạp chí Thị trường tài chính tiền tệ
Năm: 2007
[28] Trần Công Hòa (2007), Thị trường chứng khoán Việt Nam và tác động của nó tới TDĐT&TDXK của Nhà nước, Tạp chí Tài chính 07/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Thị trường chứng khoán Việt Nam và tác động của nó tới TDĐT&TDXK của Nhà nước
Tác giả: Trần Công Hòa
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2007
[29] Trần Công Hòa – Nguyễn Văn Minh, Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ và một số vấn đề đặt ra đối với NHPTVN, Tạp chí Tài chính số tháng 02/2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Huy động vốn thông qua phát hành trái phiếu chính phủ và một số vấn đề đặt ra đối với NHPTVN
Tác giả: Trần Công Hòa, Nguyễn Văn Minh
Nhà XB: Tạp chí Tài chính
Năm: 2008
[30] Ban KHTH – NHPT, Tình hình thị trường và những tác động tới NHPTVN, Tạp chí Hỗ trợ phát triển, 09/2007 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Tình hình thị trường và những tác động tới NHPTVN
Tác giả: Ban KHTH – NHPT
Nhà XB: Tạp chí Hỗ trợ phát triển
Năm: 2007
[31] Hồ Huy Hoàng, Nguyễn Thị Thu Dung, Lê Thị Hồng Anh (2009), Báo cáo chuyên đề đánh giá TDĐT giai đoạn 2006-2009 của NHPT, Hà Nội Sách, tạp chí
Tiêu đề: Báo cáo chuyên đề đánh giá TDĐT giai đoạn 2006-2009 của NHPT
Tác giả: Hồ Huy Hoàng, Nguyễn Thị Thu Dung, Lê Thị Hồng Anh
Năm: 2009
[32] Bộ KH&ĐT, http://www.mpi.gov.vn/strategy.aspx?magoc=25 Link

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Đồ thị 1.3: Lạm phát, tăng trưởng GDP và ICOR - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
th ị 1.3: Lạm phát, tăng trưởng GDP và ICOR (Trang 13)
Đồ thị 1.5: Dư nợ và tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
th ị 1.5: Dư nợ và tăng trưởng tín dụng toàn nền kinh tế (Trang 16)
Đồ thị 2.1: Cơ cấu doanh số huy động hàng năm - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
th ị 2.1: Cơ cấu doanh số huy động hàng năm (Trang 29)
Bảng 2.4a: Cơ cấu số dư nợ theo kỳ hạn còn lại tại thời điểm cuối các năm - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Bảng 2.4a Cơ cấu số dư nợ theo kỳ hạn còn lại tại thời điểm cuối các năm (Trang 30)
Bảng 2.8: Tình hình tài chính của Quỹ HTPT/NHPT - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Bảng 2.8 Tình hình tài chính của Quỹ HTPT/NHPT (Trang 35)
Đồ thị 2.10: Một số chỉ tiêu xem xét rủi ro TDĐT - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
th ị 2.10: Một số chỉ tiêu xem xét rủi ro TDĐT (Trang 47)
Đồ thị 2.11: Tỷ lệ nợ xấu trong TDĐT - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
th ị 2.11: Tỷ lệ nợ xấu trong TDĐT (Trang 48)
Hình 3.3: Mô hình quy trình quản lý tín dụng - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Hình 3.3 Mô hình quy trình quản lý tín dụng (Trang 79)
Hình 3.4: Sơ đồ tổ chức thanh toán tập trung - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Hình 3.4 Sơ đồ tổ chức thanh toán tập trung (Trang 87)
Hình 3.5: Mô hình công nghệ của hệ thống thông tin - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Hình 3.5 Mô hình công nghệ của hệ thống thông tin (Trang 88)
Hình 3.6: Kiến trúc tổng thể hệ thống lớp ứng dụng - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Hình 3.6 Kiến trúc tổng thể hệ thống lớp ứng dụng (Trang 89)
Hình 1: Mô hình tổ chức hệ thống tin học Ngân hàng PTVN - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Hình 1 Mô hình tổ chức hệ thống tin học Ngân hàng PTVN (Trang 90)
Hình 3.5: Mô hình mạng truyền thông - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
Hình 3.5 Mô hình mạng truyền thông (Trang 90)
Đồ thị 2.6: Phân bố tần suất của vốn Quỹ HTPT/NHPT và GDP  Giai đoạn 2000-06/2006  Giai đoạn 2000-03/2009 - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
th ị 2.6: Phân bố tần suất của vốn Quỹ HTPT/NHPT và GDP Giai đoạn 2000-06/2006 Giai đoạn 2000-03/2009 (Trang 105)
Đồ thị 2.8: Đường hồi quy giữa số cho vay và GDP - HOẠT ĐỘNG CỦA NGÂN HÀNG PHÁT TRIỂN VIỆT NAM 3 NĂM (05/2006-05/2009), ĐỊNH HƯỚNG GIAI ĐOẠN 2009-2015, TẦM NHÌN ĐẾN NĂM 2020
th ị 2.8: Đường hồi quy giữa số cho vay và GDP (Trang 106)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w