Do vậy mà trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V Đảng Cộng sản Việt Nam, cố tổng bí thư Lê Duẩn đã phát biểu: “Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới là điều
Trang 1MỤC LỤC
PHỤ LỤC
MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài
2 Mục đích nghiên cứu
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu 7
3.2 Khách thể nghiên cứu 7
4 Giả thuyết khoa học
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lí luận tâm lí học về NSCVH của HS 7
5.3 Đề xuất các biện pháp tác động vào nhận thức và hành vi giúp HS có biểu hiện hành vi có văn hóa trong học tập, sinh hoạt, trong giao tiếp, đồng thời thử nghiệm một số biện pháp tác động 7
6 Phương pháp nghiên cứu
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận 7
6.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi 7
6.3 Phương pháp quan sát 7
6.4 Phương pháp trò chuyện, tọa đàm 7
6.5 Phương pháp phỏng vấn 7
6.6 Phương pháp nghiện cứu trường hợp (case study) 8
6.7 Phương pháp thực nghiệm 8
6.8 Phương pháp giải quyết một số tình huống mô phỏng 8
6.9 Phương pháp thống kê toán học 8
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu
8 Đánh giá của luận văn
CHƯƠNG 1
MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN TÂM LÍ HỌC
VỀ NẾP SỐNG CÓ VĂN HÓA
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về nếp sống ở nước ngoài 9
1.1.2 Nghiên cứu nếp sống ở Việt Nam 10
1.2 Khái niệm nếp sống và các khái niệm liên quan
1.2.1 Khái niệm nếp sống tiếp cận trên bình diện các khoa học xã hội nhân văn và tâm lí học 11
1.2.2 Một số khái niệm liên quan đến nếp sống 14
1.2.3 Hệ thống giá trị và nếp sống 17
1.3 Văn hóa và nếp sống có văn hóa
1.3.1 Khái niệm văn hóa 18
1.3.2 Chức năng của văn hóa 21
- Chức năng nhận thức: Giúp con người nhận thức thế giới tự nhiên, đời sống xã hội, cá nhân trong tất cả các mặt của hoạt động văn hóa 21
- Chức năng giáo dục: Bằng các giá trị ổn định văn hóa đã định hướng lí tưởng, đạo đức hành vi con người theo các khuôn mẫu ứng xử của xã hội 21
- Chức năng điều tiết các quan hệ xã hội: Thông qua đó con người định vị được trạng thái cân bằng với thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân mình nhằm không ngừng tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường 21
- Chức năng giao tiếp: Văn hóa gắn liền với con người từ nhận thức, cảm xúc đến hành động và hành vi cá nhân Nên văn hóa sẽ là nội dung, công cụ giao tiếp quan trọng của con người với nhau 21
- Chức năng dự báo: Văn hóa hướng vào các giá trị ổn định hoặc đang và sẽ hình thành Qua đó sẽ góp phần hình thành nên phương hướng phát triển cho xã hội ngày càng tiến bộ văn minh hơn 21
1.3.3 Khái niệm nếp sống có văn hóa 21
1.4 Học sinh THPT và nếp sống có văn hóa của HS THPT
1.4.1 Một số đặc điểm tâm lí, nhân cách của HS THPT 23
1.4.2 Các lĩnh vực biểu hiện nếp sống của HS 26
1.4.3 Nếp sống có văn hóa của học sinh THPT 27
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới nếp sống có văn hóa của học sinh THPT
1.5.1 Yếu tố chủ quan về phía HS 30
1.5 2 Các yếu tố khách quan 31
Trang 2CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Tổ chức nghiên cứu:
2.2 Các phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản: 36
2.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực trạng: 36
g Tổ chức thử nghiệm tác động 39
h Phương pháp thống kê toán học 41
CHƯƠNG 3
KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
THỰC TRẠNG VÀ THỬ NGHIỆM
3.1 Vài nét về trường THPT Kỳ Anh và trường THPT Lê Quảng Chí
3.1.1 Vài nét về trường THPT Lê Quảng Chí 44
3.1.2 Vài nét về trường THPT thị trấn Kỳ Anh 44
3.2 Kết quả khảo sát thực trạng nếp sống có văn hóa của HS
3.2.1 Nhận thức và mức độ quan tâm của HS THPT về các giá trị quan trọng trong cuộc sống
3.2.2 Nhận thức và thể hiện của HS về các giá trị văn hóa trong học tập, quan hệ ứng xử và sinh hoạt
3.2.2.1 Nhận thức và thể hiện của HS về các giá trị văn hóa trong học tập 46
3.2.2.2 Nhận thức và mức dộ thể hiện của HS về các giá trị văn hóa trong ứng xử 48
3.2.2.3 Nhận thức và biểu hiện của HS về các giá trị văn hóa trong sinh hoạt 51
3.2.2.4 Nhận thức và mức độ thể hiện NSCVH của HS trong việc đấu tranh phòng chống các hành vi tiêu cực trong xã hội và thể hiện nếp sống trong thời gian rảnh rỗi 52
3.2.2.5 Nhận xét về nhận thức của HS với các giá trị văn hóa trong học tập, giao tiếp, ứng xử và sinh hoạt 54
3.2.3 Thái độ của HS đối với những biểu hiện về nếp sống có văn hóa
3.2.3.1 Thái độ của HS đối với những biểu hiện có văn hóa và thiếu văn hóa trong nếp sống 55
3.2.3.2 Biểu hiện thái độ trong các mặt cụ thể về nếp sống có văn hóa của HS 57
3.2.3.3 Nhận xét chung về thái độ đối với các mặt thể hiện NSCVH 60
Nhìn chung HS đã có thái độ đồng tình với những giá trị có văn hóa (tuy chưa phải là tuyệt đối) và mức độ biểu hiện của HS tương đối ổn định, phù hợp với nhận thức chung Còn với những yếu tố thiếu văn hóa thì HS tỏ rõ thái độ, lập trường kiên quyết của mình Song không vì vậy mà HS đồng tình tuyệt đối với điểm trung bình bằng 1 cả, ngược lại vẫn có một số cá nhân có lập trường chưa vững vàng dễ dao động Chưa có thái độ dứt khoát với những yếu tố không phù hợp với cuộc sống sinh hoạt của HS 60
3.2.4 Biểu hiện về hành vi nếp sống văn hóa của HS THPT
3.5.1 Biểu hiện của hành vi nếp sống văn hóa trong học tập 61
Từ bảng 3.8 cho ta thấy: 61
3.2.4.2 Biểu hiện của hành vi nếp sống văn hóa trong quan hệ ứng xử 63
3.2.4.3 Biểu hiện hành vi NSCVH trong sinh hoạt, thời gian rảnh rỗi 63
3.3 Đánh giá của thầy cô giáo về mức độ biểu hiện hành vi nếp sống văn hóa của HS
3.4 Nhận xét chung về biểu hiện NSCVH của hai trường được khảo sát
3.5 Những yếu tố ảnh hưởng đến nếp sống văn hóa và thiếu văn hóa của HS THPT ở trường học, gia đình, trong quan hệ bạn bè và xã hội
3.5.1 Những yếu tố tích cực giúp HS hình thành nếp sống có văn hóa 70
3.5.2 Những yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến việc hình thành và biểu hiện NSCVH của HS 74
3.5.2.1 Đánh giá của HS về các yếu tố tiêu cực ảnh hưởng đến việc hình thành và biểu hiện NSCVH 74
3.6 Nguyện vọng và ý kiến của HS THPT về nội dung giáo dục rèn luyện NSCVH cho HS THPT hiện nay
3.7 Đánh giá chung về thực trạng nếp sống có văn hóa của học sinh hai trường THPT Lê Quảng Chí và trường THPT Kỳ Anh Hà Tĩnh
3.8 Kết quả nghiên cứu thử nghiệm các biện pháp tác động nâng cao nhận thức của học sinh về nếp sống có văn hóa
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ
Trang 31 Kết luận
2 Kiến nghị
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
PHỤ LỤC
DANH MỤC KÝ HIỆU CÁC CHỮ VIẾT TẮT
BCHTƯ : Ban chấp hành Trung ương
CNH-HĐH : Công nghiệp hóa hiện đại hóa
ĐCSVN : Đảng cộng sản Việt Nam
ĐHSP : Đại học sư phạm
ĐTB : Điểm trung bình
GD & ĐT : Giáo dục và đào tạo
NSCVH : Nếp sống có văn hóa
THPT : Trung học phổ thông
XHCN : Xã hội chủ nghĩa
Trang 4MỞ ĐẦU
1 Tính cấp thiết của đề tài.
Lối sống, nếp sống, đạo đức và chuẩn giá trị xã hội là những yếu tố cơ bản gắnliền với mọi mặt của đời sống vật chất và tinh thần của toàn xã hội Lối sống, nếpsống, có văn hóa của xã hội Việt Nam được hình thành, kết tinh trong suốt hàng ngànnăm lao động sáng tạo, đấu tranh kiên cường dựng nước và giữ nước của cộng đồngcác dân tộc
Ngày nay sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, văn hóa, giáo dục trên toàncầu làm cho chúng ta nhìn nhận, đánh giá đúng hơn yếu tố con người Quan tâm đếncon người không thể không quan tâm đến thanh niên, lực lượng nòng cốt, là nhữngngười chủ thật sự của đất nước trong tương lai Thanh niên, HS THPT luôn là lớpngười trẻ tuổi, thích ứng với mọi sự thay đổi của thời cuộc và của xã hội Khi quantâm đến thanh niên cần phải quan tâm đến lối sống, nếp sống, thói quen của họ Vìđây là tổng thể các phương thức, phương pháp suy nghĩ và hành động tương đối ổnđịnh đặc trưng cho một xã hội, cộng đồng nhóm hay cá nhân trong hoàn cảnh nhấtđịnh Do vậy mà trong Báo cáo chính trị tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ V
Đảng Cộng sản Việt Nam, cố tổng bí thư Lê Duẩn đã phát biểu: “Xây dựng nền văn hóa mới và con người mới là điều kiện cần và có thể thực hiện từng bước tạo ra một
xã hội đẹp về lối sống, quan hệ giữa con người với con người, một xã hội trong đó nhân dân lao động cảm thấy hạnh phúc tuy mức sống chưa cao” [7].
HS THPT là những người chủ tương lai của đất nước và sẽ trực tiếp tham giavào lao động sản xuất Do vậy việc hình thành cho HS lối sống, NSCVH có một ýnghĩa rất lớn Nếp sống có văn hóa là yếu tố quan trọng để hình thành và phát triểntoàn diện cho HS NSCVH trong giao tiếp, trong học tập và trong cuộc sống hàngngày, sẽ giúp HS xây dựng cho mình những thói quen sinh hoạt lành mạnh bổ ích.Hiện nay có không ít HS có nếp sinh hoạt chưa thực sự phù hợp với chuẩn mực, thậmchí còn lộn xộn, tự do Chúng ta biết rằng hoạt động, hành vi của con người có tácđộng rất lớn đến việc hình thành phát triển nhân cách Nhà trường, cần giáo dục, địnhhướng cho HS tự xây dựng cho mình nếp sống có văn hóa trong nhận thức, cũng nhưtrong hành vi
Trang 5Nếp sống có văn hoá là một trong những yếu tố cơ bản để xây dựng một xã hộivăn minh Mỗi con người muốn trưởng thành cần phải có một hệ thống giá trị mangđậm tính cá nhân đồng thời chứa đựng trong đó những giá trị văn hóa mang tính chất
khuôn mẫu của dân tộc và thời đại Nghị quyết Đại hội Đảng khóa X đã nêu “Xây dựng và hoàn thiện giá trị nhân cách con người Việt Nam mới, bảo vệ và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa hội nhập kinh tế quốc tế Bồi dưỡng các giá trị văn hóa trong thanh niên, học sinh, sinh viên, đặc biệt
là lí tưởng sống, lối sống, năng lực trí tuệ, đạo đức và bản lĩnh văn hóa con người Việt Nam’’ Đối với thế hệ trẻ hiện nay, việc hình thành ở họ NSCVH mang một ý
nghĩa vô cùng quan trọng NSCVH chính là điểm tựa cho HS vững vàng bước vàocuộc sống, là những cơ sở để HS đối chiếu giữa cái xấu và cái tốt, giữa nhữngphương thức sống khác nhau Chính vì thế Hội nghị lần thứ 9- BCH TƯ khóa VII đã
nhấn mạnh: “Một chính sách phát triển đúng đắn phải là chính sách làm cho các yếu
tố cấu thành văn hóa thấm sâu vào tất cả các lĩnh vực hành động sáng tạo của con người: văn hóa trong sản xuất, văn hóa trong quản lí, văn hóa trong lối sống, văn hóa trong giao tiếp, văn hóa trong sinh hoạt gia đình, ngoài xã hội…” [3].
Đất nước ta đang bước vào thời kỳ hội nhập, với nền kinh tế tiên tiến trên thếgiới Thế hệ trẻ đang đứng trước nhiều cơ hội và thách thức đặt ra Chúng ta cần phải
có nhiều sự thay đổi làm sao bắt kịp thời đại, nhưng không làm mất đi giá trị văn hóatruyền thống của dân tộc Văn hóa là nhân tố kết dính các mối quan hệ kinh tế - chínhtrị - xã hội….tạo nên tính đặc trưng của dân tộc và làm động lực thúc đẩy, điều chỉnh
sự phát triển kinh tế xã hội Nghị quyết lần thứ IV- BCH TƯ khóa VII đã khẳng định:
“ Văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội, là động lực thúc đẩy sự phát triển, đồng thời là một mục tiêu cao cả của chủ nghĩa xã hội” [2] Chúng ta cần phải quan tâm
đến mọi sự thay đổi của HS Sự thay đổi đầu tiên mà chúng ta dễ dàng nhận thấy lànhững thay đổi trong cách sinh hoạt, trong lối sống, trong nếp sống của HS Sự thayđổi đó diễn như thế nào? Tác động ra sao đến cuộc sống sinh hoạt học tập của HS?
Đứng trước tình hình đó nên tôi đã đi sâu Nghiên cứu NSCVH của HS THPT huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh Đề tài hoàn thành có thể đưa ra một vài giải pháp giúp
cho việc định hướng, lựa chọn, hình thành phát triển ở thế hệ trẻ những NSCVHmang tính thời đại và chứa đựng đậm đà bản sắc dân tộc trong nếp sống
Trang 62 Mục đích nghiên cứu
Trên cơ sở nghiên cứu lí luận và thực tiễn, khảo sát thực trạng NSCVH của HShai trường THPT Huyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh, đề xuất một số biện pháp tác động,góp phần rèn luyện NSCVH cho HS phù hợp với xã hội hiện nay
3 Đối tượng và khách thể nghiên cứu
3.1 Đối tượng nghiên cứu
NSCVH của HS trung học phổ thông
3.2 Khách thể nghiên cứu
- Nghiên cứu 300 HS, một số giáo viên và phụ huynh của hai trường THPT:Trường THPT Thị trấn Kỳ Anh và trường THPT Lê Quảng Chí trên địa bàn Kỳ Anh –
Hà Tĩnh năm học 2006 - 2007
4 Giả thuyết khoa học.
HS THPT có những biểu hiện tương đối tốt về NSCVH, tuy nhiên hiện naytrong xã hội nhiều yếu tố không có lợi đã tác động đến nếp sống của một số HS, cónhiều biểu hiện chưa phù hợp với yêu cầu xã hội trong nếp sống, lối sống của mình.Nếu chúng ta nắm được thực trạng và những nguyên nhân làm hạn chế NSCVH của
HS thì có thể nêu lên một số biện pháp tác động giáo dục góp phần giúp HS rèn luyệnNSCVH hơn
5 Nhiệm vụ nghiên cứu
5.1 Nghiên cứu một số vấn đề lí luận tâm lí học về NSCVH của HS.
5.2 Khảo sát, đánh giá thực trạng NSCVH hiện nay của HS THPT và lí giải nguyên nhân của thực trạng.
5.3 Đề xuất các biện pháp tác động vào nhận thức và hành vi giúp HS có biểu hiện hành vi có văn hóa trong học tập, sinh hoạt, trong giao tiếp, đồng thời thử nghiệm một số biện pháp tác động.
6 Phương pháp nghiên cứu
Để tiến hành nghiên cứu đề tài chúng tôi đã sử dụng phối hợp một số biện pháp:
6.1 Phương pháp nghiên cứu lí luận
6.2 Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi
6.3 Phương pháp quan sát
6.4 Phương pháp trò chuyện, tọa đàm
6.5 Phương pháp phỏng vấn
Trang 76.6 Phương pháp nghiện cứu trường hợp (case study)
6.7 Phương pháp thực nghiệm
6.8 Phương pháp giải quyết một số tình huống mô phỏng
6.9 Phương pháp thống kê toán học
7 Giới hạn phạm vi nghiên cứu.
Trong điều kiện thời gian cho phép chúng tôi chỉ tập trung nghiên cứu thựctrạng NSCVH của HS trường THPT Lê Quảng Chí và trường THPT thị trấn Kỳ Anh– Hà Tĩnh, bước đầu đề xuất một số biện pháp tác động giáo dục NSCVH cho HS
8 Đánh giá của luận văn
* Về mặt lí luận: Góp phần tổng hợp, hệ thống hóa, một số vấn đề cơ bản tâm lí
học về NSCVH và các yếu tố ảnh hưởng đến NSCVH ở HS THPT
* Về mặt thực tiễn: Cung cấp một hiện trạng biểu hiện NSCVH của HS THPT
ở địa bàn Kỳ Anh Hà Tĩnh hiện nay, giúp cho các nhà giáo dục có thêm tài liệu thực
tế để có thể có nhiều biện pháp tác động giúp HS THPT rèn luyện tốt hơn vềNSCVH
Kết quả nghiên cứu của đề tài là một tài liệu tham khảo cho việc nghiên cứu vàgiáo dục nếp sống có văn hóa cho học sinh
Trang 8CHƯƠNG 1 MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÍ LUẬN TÂM LÍ HỌC
VỀ NẾP SỐNG CÓ VĂN HÓA 1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Các công trình nghiên cứu về nếp sống ở nước ngoài.
Sự phát triển mạnh mẽ của một quốc gia đó chính là mức sống của nhân dân là
sự tiến bộ văn minh của xã hội đó Yếu tố quan trọng góp phần tạo ra sự phát triển đó
là lối sống, nếp sống, phương thức sinh hoạt của mỗi cá nhân Lối sống, nếp sống đây
là những phản ánh chung của xã hội vì lẽ đó mà vấn đề này trở thành đối tượngnghiên cứu của một hệ thống đa nghành các khoa học như: Triết học, Đạo đức học,
Xã hội học, Tâm lí học, Giáo dục học…Khi nghiên cứu lịch sử của vấn đề lối sống vànếp sống trên hai bình diện thực tiễn và lí luận thì chúng ta nhận thấy phần lớn cáctác giả trong nước và trên thế giới đều nghiên cứu một cách chung chung chưa cótính độc lập Mặc dù chúng ta biết rằng nếp sống là một vấn đề thuộc phạm trù củalối sống, nên những nghiên cứu về nếp sống ít nhiều liên quan đến lối sống
Khi bàn về lối sống và nếp sống đã thấy xuất hiện trong các tác phẩm của C.Mác, Ph Ăngghen, V I Lênin dù chỉ mới dừng lại mức độ mô tả Trong hệ tư tưởng
Đức là một tác phẩm của C Mác và Ph Ăngghen đã viết “Phương thức sản xuất không chỉ là tái sản xuất ra sự tồn tại thể xác của con người, mà trên một trình độ lớn hơn, nó là một phương thức hoạt động nhất định của cá nhân đó, một phương thức nhất định để biểu hiện đời sống của họ, một phương thức sinh hoạt nhất định”
Nhà xã hội học người đức Max Weber (1864- 1920) ông đã nghiên cứu về “lốisống, nếp sống” như một khái niệm khoa học Ông đã phân chia các tầng lớp xã hộitheo mô hình tam giác, đỉnh của tam giác là tầng lớp trên, đây là tầng lớp chủ củaphương tiện sản xuất Phần giữa chỉ tầng lớp trung lưu, phần đáy là tầng lớp nghèokhổ Qua cách phân tầng xã hội ông đã đưa ra các kiểu sống, lối sống ứng với mỗi tầnglớp và theo ông con người có thể hành động theo bốn kiểu hành động xã hội sau: Hànhđộng hợp lí theo một giá trị; hành động theo tập quán; hành động theo truyền thống;hành động theo tình cảm
Như vậy những điều kiện hình thành lối sống ứng xử mà Weber nghiên cứu cóảnh hưởng sâu sắc đến kết cấu xã hội Những người có cùng mức độ uy tín, quyền
Trang 9lực thường có cùng một lối sống, lối ứng xử, lối sinh hoạt cho nên họ thường giaotiếp với nhau, hình thành nên những nhóm cùng địa vị.
N M Kêgiêrốp đã nghiên cứu về lối sống và nếp sống trong tác phẩm: “Vấn đề lối sống trong chiến dịch tuyên truyền tư sản hiện nay” [14] Và tác phẩm: “Lối sống
Xô viết hôm nay và ngày mai” của tác giả V R Đôbrưnhia đã phân tích đặc trưng của
lối sống Tư Bản khác với lối sống XHCN như thế nào
Nhà xã hội học V Đôbơrianôv đã đề cập đến vấn đề lối sống trong tác phẩm: “Xã
hội học Mác - Lênin” Theo ông “Lối sống là một cơ cấu và phẩm chất nhất định của hoạt động sống hàng ngày của con người nhằm thể hiện họ về mọi mặt với tư cách là những thực thể xã hội”[10] Ông đã nêu ra cấu trúc của lối sống trên cơ sở những hoạt
động sống của con người bao gồm: Hoạt động lao động; hoạt động chính trị - xã hội;hoạt động văn hóa; hoạt động tái sinh sản; hoạt động giao tiếp
Các tác giả trên đi vào nghiên cứu về cơ cấu của lối sống, mặc dù chưa hoànchỉnh và đầy đủ nhưng đã đưa ra một hướng tiếp cận mới trong việc nghiên cứu vấn
đề lối sống, ngay cả các nhà xã hội học của Mỹ và Ấn Độ cũng tích cực tham gianghiên cứu về lối sống về phương diện xã hội học chủ yếu tập trung vào các lĩnh vựcnhư: việc làm, hôn nhân gia đình, tệ nạn xã hội, vấn đề sắc tộc tôn giáo, về sự bìnhđẳng bình quyền trong xã hội Vấn đề “Nếp sống” của tầng lớp thanh niên HS có thểxem là một lĩnh vực cần tiếp tục nghiên cứu sâu sắc về lí luận và thực tiễn
1.1.2 Nghiên cứu nếp sống ở Việt Nam
Ở Việt Nam các vấn đề có liên quan đến đời sống của nhân dân luôn luôn được
sự quan tâm của cả xã hội và của Đảng Nghị quyết Hội nghị lần thứ V – BCH TƯ
Đảng khóa VIII đã khẳng định nhiệm vụ cấp bách của chúng ta là “Xây dựng tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa lành mạnh trong xã hội…” Văn hóa và
NSCVH đây là vấn đề cốt lõi của việc xây dựng đời sống mới cho nhân dân nên đượcĐảng, nhà nước quan tâm và chú trọng thực hiện Tuy nhiên nếu chỉ có chủ trươngchính sách thì vẫn chưa đủ, cần phải tiến hành nghiên cứu khảo sát để có tài liệu thực
tế định hướng cho việc giáo dục NSCVH cho HS
Từ những năm 1987 trở đi, đã có nhiều công trình nghiên cứu về lối sống,NSCVH Có thể nêu lên một số công trình tiêu biểu sau đây:
- Nghiên cứu chương trình, chính sách, thế hệ trẻ, mô hình nhân cách thanh niênViệt Nam đến năm 2000 – công trình được tiến hành từ những năm 1980 đến 1990
Trang 10- Nghiên cứu điều tra xu hướng nhân cách sinh viên – công trình nghiên cứu củaBan lí luận Giáo dục và Tâm lí học, Viện Nghiên cứu Đại học và Giáo dục chuyênnghiệp thực hiện năm 1987-1988.
- Đề tài “Đặc điểm lối sống của sinh viên hiện nay và những phương hướng biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên” Mã số QG 94 – 38 – 32 do tác giả Mặc Văn
Trang làm chủ nhiệm
- Đề tài “Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên ĐHSP phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” Mã số QG 96/07 do Nguyễn Quang Uẩn chủ
nhiệm
- Đề tài “Nghiên cứu bước đầu về nếp sống, thói quen của xã hội ta hiện nay” của
tác giả: Nguyễn Ngọc Bảo – Trường ĐHSP Hà Nội năm 1993
- 1996 Tác giả Phạm Xuân Cảnh đã nghiên cứu đề tài “Tình hình nếp sống của sinh viên Hà Nội” với mục đích tìm hiểu thực trạng, nguyên nhân đồng thời tìm ra các
giải pháp
- Các luận văn thạc sĩ như: “Thực trạng và các biện pháp quản lí, giáo dục nếp sống cho sinh viên nội trú trường ĐHSP – ĐHQG Hà Nội” của tác giả Trần Công Thanh Và đề tài “NSCVH của sinh viên sư phạm” của tác giả: Khúc Năng Toàn –
Thực hiện năm 1999
Ngoài ra đó còn có một số chuyên đề các bài báo khoa học và một số hội thảo
khoa học có liên quan đến vấn đề nếp sống như: Nếp sống xã hội của sinh viên – của
Vũ Dũng (tạp chí ĐH và GD chuyên nghiệp tháng 1/1997) và hội thảo “Thực trạng nếp sống của sinh viên trường ĐHSP – ĐHQG Hà Nội” – Hội thảo sinh viên sư phạm
xây dựng nếp sống văn hóa (Đoàn trường ĐHSP tổ chức vào tháng 12/1998)
Tóm lại một số đề tài nghiên cứu nói trên chủ yếu tập trung vào phân tích thựctrạng biểu hiện lối sống và nếp sống ở sinh viên Còn HS THPT ít có các công trình đisâu nghiên cứu về NSCVH của các em Đứng trước tình hình đó tôi thấy đây là vấn
đề mà chúng ta cần nghiên cứu tìm hiểu nghiên cứu một cách nghiêm túc
1.2 Khái niệm nếp sống và các khái niệm liên quan
1.2.1 Khái niệm nếp sống tiếp cận trên bình diện các khoa học xã hội nhân văn và tâm lí học.
Trong cuộc sống sinh hoạt hằng ngày chúng ta thường nhắc nhiều đến kháiniệm “Nếp sống” “Lối sống” để nhằm nói lên những hành vi, phản ánh các mối quan
Trang 11hệ, hoạt động xã hội của con người Được hiểu là phong tục tập quán, những thóiquen, nếp nghĩ trong nhân dân đã được xã hội thừa nhận và lưu truyền qua nhiều thế
hệ Để hiểu rõ hơn về vấn đề này trên nhiều phương diện khác nhau, chúng ta cần đisâu tìm hiểu một số khái niệm:
- Khi nghiên cứu trên các tài liệu nước ngoài chúng ta thấy “Lối sống” và “Nếpsống” được họ viết ra như sau: Lối sống, cách sống ( Way of life – tiếng Anh) Phongcách sống, kiểu sống (Mode de vie – tiếng Pháp) Trong cuốn Từ điển Tiếng Việt do
Hoàng Phê chủ biên cho rằng: Lối là hình thức diễn ra của hoạt động đã trở thành ổn định mang đặc điểm riêng Còn Nếp là Lối, cách sống, hoạt động đã trở thành thói quen [20]
- Theo L V Kakan: “Nếp sống của con người được coi như là sự phản ánh của
cá nhân vào xã hội, còn lối sống của con người được coi như là phản ánh của xã hội vào cá nhân”
- A P Buchencô viết: “Nếp sống là một trong những bình diện của lối sống”
- Trong cuốn Từ điển Xã hội học, tác giả Nguyễn Khắc Viện đưa ra định nghĩa:
“Thói quen in sâu vào cách làm và suy nghĩ gọi là nếp”.
- Tác giả Nguyễn Quang Uẩn khái quát về nếp sống: “Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là những phương thức hành vi ứng xử đã được lặp đi lặp lại thành nếp, thành thói quen” [28]
- Tác giả Thanh Lê cho rằng: “Nếp sống là những quy ước được lặp đi lặp lại trở thành một thói quen trong sinh hoạt, phong tục tập quán, hành vi đạo đức Nói đến nếp sống là nói đến một mặt nào đó trong lối sống”
- Tác giả Mặc Văn Trang cho rằng: “Nếp sống là mặt ổn định của lối sống, là những đặc điểm biểu hiện của lối sống đã được hình thành nề nếp thói quen của cá nhân, gia đình và xã hội…” [24]
- Trong tác phẩm: Một số vấn đề về lối sống, đạo đức, chuẩn giá trị xã hội Tác giả Vũ Khiêu định nghĩa rằng: “Nếp sống là toàn bộ những thói quen được hình thành trong cuộc sống hằng ngày, những thói quen đã trở thành nếp trong sản xuất, chiến đấu, trong mọi quan hệ xã hội và trong sinh hoạt riêng tư của mỗi con người những thói quen ấy được gọi là tập quán” Như vậy theo tác giả thì nếp sống là một
bộ phận của lối sống được lặp đi lặp lại thành nếp, thói quen… được định hình, định
Trang 12tính, đã được xác lập giá trị thành nét văn hóa, được các cá nhân và cộng đồng thừanhận, làm theo và được quy định thành điều ước hoặc luật pháp.
Khái quát các công trình nghiên cứu, chúng tôi nêu lên một khái niệm như sau
về nếp sống: “Nếp sống chính là những phương thức hoạt động, hành vi ứng xử của con người đã được lặp đi lặp lại nhiều lần thành nếp, thành thói quen đã in sâu vào trong từng cá nhân và được xã hội công nhận” Ta có thể nêu lên những tính chất đặc
trưng của nếp sống như sau:
- Nếp sống là những phẩm chất, thuộc tính có tính chất ổn định cao Việc hìnhthành, thay đổi một nếp sống bao giờ cũng rất khó khăn, không thể thực hiện ngayđược mà cần phải có thời gian lâu dài Nếp sống chính là mặt ổn định của lối sống,mặt khác những hành vi, những phương thức hoạt động, sinh hoạt đã được cũng cố,định hình thành nếp, thói quen nên càng khó thay đổi
- Nếp sống bao giờ cũng mang tính chủ thể Vì khi nói đến nếp sống bao giờngười ta cũng thường nhắc đến nếp sống của một cá nhân của một cộng đồng nào đóhoặc của một nhóm xã hội cụ thể Do tính chất của nếp sống, chịu ảnh hưởng của cácyếu tố giá trị văn hóa, đạo đức mà nếp sống phản ánh nhân cách, bản sắc giá trị xã hộicủa chủ thể
- Nếp sống là những biểu hiện hành vi sống, đã trở thành thói quen ăn sâu vàonhu cầu của cá nhân có tính tự động hóa cao Những phương thức hoạt động, hành viứng xử được xem là biểu hiện nếp sống của cá nhân hay cộng đồng xã hội…mang tính
tự động hóa cao, ít có sự tham gia kiểm soát của ý thức nên con người tự giác hànhđộng theo thói quen Nếp sống sinh hoạt của cá nhân không thể tách rời khỏi hoàn cảnhđiều kiện cụ thể trong sinh hoạt hằng ngày Nếp sống của cá nhân hay cộng đồng …bao giờ cũng được hình thành trên cơ sở một phương thức quan hệ sản xuất, một hìnhthái kinh tế - xã hội nhất định chịu sự chế ước của các chuẩn mực, giá trị xã hội củahình thái kinh tế đó Một nếp sống có thể xem là đạo đức ,văn hóa trong xã hội này,nhưng có thể bị coi là vô đạo đức, thiếu văn hóa trong một xã hội khác Do vậy nếpsống của cá nhân hay cộng đồng dân tộc đều mang tính lịch sử [23]
- Quá trình hình thành nếp sống mỗi cá nhân nói chung HS THPT nói riêng,diễn ra cũng khác nhau Quá trình hình thành nếp sống có văn hóa không phải chỉtheo một con đường duy nhất, mà có nhiều con đường, chẳng hạn như: Thông quagiáo dục; thông qua hoạt động tập thể; thông qua các tác động văn hóa xã hội, giao
Trang 13lưu văn hóa, phong tục tập quán; thông qua việc học hỏi bạn bè; thông qua cá nhân tựrèn luyện Do vậy chúng ta cần phải nghiên cứu các con đường, các phương thứchình thành biểu hiện NSCVH cho HS THPT một cách tốt nhất.
1.2.2 Một số khái niệm liên quan đến nếp sống.
1.2.2.1 Lối sống
Lối sống là một phạm trù của chủ nghĩa duy vật lịch sử liên quan chặt chẽ vớiphạm trù phương thức sản xuất của cải vật chất Lối sống có khía cạnh văn minhnhân loại, truyền thống dân tộc và có các giá trị phù hợp với điều kiện lịch sử cụ thểcủa từng thời kỳ nhất định Nên được nhiều tác giả trên thế giới, trong nước nghiêncứu:
- Theo Max Weber (1864 - 1920) thì lối sống là: “Kiểu sống của một nhóm xã hội có cùng chung những điều kiện kinh tế xã hội nhất định” [16]
- Tác giả Dear – Mac Connell cho rằng: “Lối sống, trước hết thể hiện cung cách tiêu thụ, kiểu giải trí trở thành một yếu tố tiêu thụ chính, thậm chí quan trọng hơn cả những yếu tố tiêu thụ khác”
- Các nhà Tâm Lí học Liên Xô thì cho rằng:
Theo quan niệm của V I Tôntuc thì: “Lối sống là một hình thức cố định, điển hình (đối với những quan hệ lịch sử xã hội cụ thể) của hoạt động sống cá nhân và tập quán của con người Những hình thức ấy nói lên đặc điểm giao tiếp hành vi và nếp nghĩ của các cá nhân và nhóm xã hội trong các lĩnh vực lao động, hoạt động xã hội – chính trị sinh hoạt giải trí” [6] Quan niệm này tiếp cận lối sống trên một phạm trù
rộng lớn có liên quan đến mức sống, những tập quán sinh hoạt, những hành vi giaotiếp, nếp nghĩ cá nhân,…đây là một cách tiếp cận buộc nhà nghiên cứu phải tìm hiểutrên nhiều lĩnh vực của cuộc sống Có đồng quan niệm với ông, tác giả M N
Rutkevich cũng cho rằng: “Lối sống là một tổng thể, một hệ thống những đặc điểm chủ yếu nói lên hoạt động các nhóm dân tộc, các giai cấp, các nhóm xã hội, các cá nhân trong những điều kiện của một hình thái kinh tế - xã hội nhất định”
- Tác giả Xô Viết E V Sôrôkhôva cho rằng: “Lối sống là toàn bộ những hình thức hoạt động sinh sống tiêu biểu xuất hiện trong các quan hệ kinh tế xã hội nhất định của các dân tộc, giai cấp, các nhóm xã hội, cá nhân trong sản xuất vật chất và tinh thần, trong phạm vi xã hội – chính trị và riêng tư hàng ngày, trong những mối quan hệ qua lại của mọi người và trong đời sống cá nhân” Trong khi đó tác giả V.
Trang 14Đôbrianôv đưa ra quan niệm: “Lối sống là sinh hoạt cá nhân, chủ quan hóa của hệ thống các quan hệ xã hội, của toàn bộ tổng thể điều kiện sống, thể hiện trong hoạt động sống của con người”
- Khi nghiên cứu về lối sống tác giả NI Caputxtin lại cho rằng: “Cái chủ yếu trong khái niệm lối sống là những khía cạnh của xã hội như sự hài lòng về lao động, không khí tâm lí trong các tập thể sản xuất sinh hoạt, trong gia đình, trong thái độ đối với xã hội, với tổ quốc, những lí tưởng sống mà các thành viên xã hội tự chọn lấy cũng như phương pháp đạt tới những lí tưởng ấy – đời sống tinh thần của con người” [6]
- Nhà giáo dục học Nhật Bản Tsunesaburô cho rằng: “Đời sống con người thật
đa dạng, những cách sống được xem như là những giai đoạn trong sự phát triển của con người Ông cho rằng dùng thuật ngữ lối sống là để chỉ một mô hình liên tục của các hoạt động cần thiết để duy trì cuộc sống” [27]
- Ở bình diện xã hội một số tác giả nêu lên ba lối sống tổng quát của con người:Một là lối sống phụ thuộc: sống bằng hưởng thụ, hoặc là bằng chiếm đoạt.Hai là lối sống trao đổi: lối sống kinh tế, lối sống chính trị, lối sống văn hóa
Ba là lối sống đóng góp: tức là nhằm nói đến tính chất hợp tác trong cuộc sống
- Theo tác giả Hà Thị Đức: “Lối sống là văn hóa của đời sống, phản ánh mối quan hệ phức tạp giữa con người với thế giới tự nhiên, xã hội và tư duy; phản ánh mối quan hệ chằng chịt giữa cá nhân và tập thể, giữa người với người trong gia đình, xã hội và cộng đồng” [9]
- Tác giả Hà Xuân Trường đã viết: “Lối sống là sự thể hiện đời sống thông qua cách thức và hình thức hoạt động xã hội có liên quan trực tiếp hoặc gián tiếp đến sản xuất theo những lí tưởng nhất định Lối sống của chúng ta là lối sống xã hội chủ nghĩa, thể hiện một mặt của nền văn hóa mới xã hội chủ nghĩa” Qua đó khẳng định
mối quan hệ phương thức sản xuất với sự tác động của các yếu tố xã hội, giúp choviệc định hướng tương lai của cá nhân [26]
Trong cuốn “Xã hội học Mác – Lênin” Các nhà xã hội học Việt Nam đã nêu ra quan điểm về lối sống: “Lối sống là tổng thể (hệ thống) các nét căn bản đặc trưng cho hoạt động của các dân tộc các giai cấp, các tập đoàn xã hội trong những điều kiện nhất định về mặt lịch sử” Ở góc độ tiếp cận xã hội học chúng ta thấy quan hệ
giữa các yếu tố lịch sử đóng một vai trò to lớn trong việc hình thành lối sống Từ đótác động tới các nhà giáo dục là cần phải chú ý đến các điều kiện tồn tại của lịch sử
Trang 15xung quanh môi trường sống Đưa ra các phương pháp đạt hiệu quả cao trong giáodục.
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn trong đề tài: “Xây dựng lối sống và đạo đức mới cho sinh viên đại học sư phạm phục vụ công nghiệp hóa hiện đại hóa đất nước” đã định nghĩa khái quát về lối sống: “Lối sống là một khái niệm có tính tổng hợp, bao gồm nhiều mối quan hệ xã hội, tư tưởng, đạo đức, tâm lí, văn hóa, kinh tế và các mối quan hệ khác của con người, nói lên đặc trưng của hoạt động và các mối quan hệ của con người trong những điều kiện xã hội lịch sử nhất định” [28]
Vậy lối sống chính là phương thức hoạt động sống của con người, của cá nhân, của nhóm hay cộng đồng người
1.2.2.2 Lẽ sống
Trong Từ điển tiếng Việt – nhà xuất bản KHXH – 1988 định nghĩa: “Lẽ là điều thường thấy ở đời được coi là hợp lí với quy luật đạo lí; đều được coi là lí do giải thích là nguyên nhân của sự việc” Ở khái niệm này nhằm giúp chúng ta hiểu thêm
về “Lẽ” chứ chưa phải là một định nghĩa về lẽ sống
Khi bàn về lẽ sống là một phạm trù của đạo đức học, tác giả Trần Hậu Kiêm đã
định nghĩa: “Lẽ sống chính là nội dung mối quan hệ giữa hạnh phúc và nghĩa vụ của con người”.
Chúng ta biết rằng lẽ sống là một phạm trù của đạo đức học Do vậy lẽ sống vàđạo đức là quan điểm sống của con người
Khi con người hình thành, lựa chọn cho mình một lẽ sống phù hợp với cácchuẩn mực đạo đức của xã hội, lúc đó họ sẽ luôn hướng tới những giá trị chân chính,luôn biết hi sinh những lợi ích của cá nhân, thoát khỏi được những cám dổ vật chấttầm thường, biết cống hiến cho xã hội, phục vụ cho tổ quốc, luôn luôn tôn trọngnhững giá trị của cuộc sống
- Tác giả Khúc Năng Toàn trong luận văn của mình đã cho rằng: “Có thể hiểu một cách khái quát lẽ sống là quan niệm sống của con người, là sự tự nhận thức, tự giác hành động vì một lí tưởng, vì một mục tiêu cao cả Nó phản ánh tính mục đích của lối sống định hướng cho lối sống ” [23]
- Tác giả Trần Công Thanh: “Lẽ sống là nhận thức của lối sống Nó đề cập tới mục đích, ý nghĩa của cuộc sống Lẽ sống chính là sự thống nhất biện chứng giữa nghĩa vụ và hạnh phúc.” Vậy chúng ta có thể nói rằng lẽ sống chân chính của con
Trang 16người chính là quá trình hoạt động sáng tạo và cống hiến cho đất nước với một mụcđích là xây dựng một xã hội phồn vinh giàu mạnh.
Vậy “lẽ sống chính là một mặt của lối sống, nó đề cập tới mục đích, ý nghĩa, lí tưởng của cuộc sống Lẽ sống cuối cùng cũng nhằm giải thích sống như thế nào cho phù hợp với đạo lí phong tục truyền thống của dân tộc”
1.2.2.3 Phong cách sống
Phong cách sống chính là tác phong, cung cách xử sự, kiểu cách, hình thức diễn
ra trong đời sống hằng ngày của con người Phong cách sống nói lên nét riêng biệtcủa từng cá nhân với một lối sống cụ thể trong cộng đồng hay xã hội Chẳng hạn như:phong cách nghệ sỹ, phong cách doanh nhân
“Phong cách sống là sự thể hiện kiểu sống, cách sống, là biểu hiện độc đáo riêng biệt của lối sống, nếp sống ở cấp độ cá nhân hay xã hội”
1.2.3 Hệ thống giá trị và nếp sống
Bản thân mỗi con người chúng ta ai cũng hình thành cho mình một hệ thống giátrị nhất định Vì đây là những tiêu chí để phấn đấu và mong muốn ngày càng hoànthiện bản thân Quá trình nghiên cứu nếp sống của HS với một mục đích giáo dụccho HS những hệ thống giá trị phù hợp với các chuẩn mục đạo lí, nhân phẩm củangười Việt Nam Trong một hệ thống giá trị có nhiều khái niệm cụ thể:
- Thứ nhất: là “giá trị”: Theo Từ điển Tiếng Việt định nghĩa “Giá trị là cái gì làm cho một vật có ích, có ý nghĩa là đáng quý về một mặt nào đó Giá trị nghệ thuật, giá trị tinh thần….”
Hiểu một cách thông thường “giá trị” là những yếu tố nằm trong bản thân sự
vật, hiện tượng có ích cho con người, cho xã hội Một trong những tính chất quantrọng của giá trị đó là tính khách quan Giá trị chính là những thành tựu mà con ngườitạo ra góp phần thúc đẩy quá trình phát triển của xã hội Nguồn gốc của giá trị chính
là mối quan hệ giữa con người với thế giới xung quanh, và thực tiễn hoạt động củacon người với con người
- Thứ hai: là “thang giá trị” Thang giá trị là tổ hợp các giá trị được sắp xếp theo một trật tự ưu tiên nhất định” Thang giá trị còn gọi là thước đo giá trị Thang giá trị có sự biến đổi theo hoàn cảnh lịch sử, điều kiện xã hội nhất định Vì đây là những cơ sở, yếu tố quan trọng để sắp xếp thang giá trị.
Trang 17- Thứ ba: là “hệ giá trị” Là tổ hợp những giá trị khác nhau được sắp xếp theo
một nguyện tắc, một trật tự nhất định, thành một tập hợp mang tính toàn vẹn, hệthống thực hiện chức năng đánh giá con người theo những phương thức vận hànhnhất định của giá trị
- Thứ tư: là “chuẩn giá trị” Là các giá trị giữ vị trí cốt lõi trong hệ giá trị và
thang giá trị, là chuẩn mực chung cho nhiều người Đây là những phẩm giá, phẩmchất tốt đẹp của con người Hạt nhân cơ bản của thang giá trị nhân phẩm con ngườiViệt Nam hiện nay là các giá trị nhân văn truyền thống như: lòng tự hào dân tộc, bảnsắc văn hóa truyền thống…
Mục tiêu giáo dục hướng vào việc nâng cao dân trí đào tạo nhân lực bồi, dưỡngnhân tài Do vậy chúng ta cần hoàn thành cho HS những hệ thống giá trị đồng bộ toàndiện, vì đây sẽ là hành trang cho HS bước vào cuộc sống độc lâp Cần tập trung bồidưỡng tính độc lập tự chủ, năng động, biết phát huy nội lực, học hỏi vượt khó, pháttriển một nhân cách toàn diện có lối sống, nếp sống trong sáng lành mạnh
1.3 Văn hóa và nếp sống có văn hóa
1.3.1 Khái niệm văn hóa
Khái niệm “Văn hóa” xuất hiện ở Đông Á rất sớm Lưu Hướng (khoảng năm
77-6 trước công nguyên) thời Tây Hán (Trung Quốc) là người đầu tiên đưa ra khái
niệm “Văn hóa” Trong sách: “Thuyết uyển bài Chi Vũ” ông viết: “Bậc thánh nhân trị thiên hạ, trước dùng văn đức sau mới dùng vũ lực Phàm dùng vũ lực đều để đối phó kẻ bất phục tùng, dùng văn hóa không thay đổi được thì sau đó sẽ chinh phạt”
- Tác giả E B Taylor nhà nhân chủng học người Anh định nghĩa trong cuốn
“Văn hóa nguyên thủy” xuất bản năm 1871 cho rằng: “Văn hóa là một tổng thể phức tạp, bao gồm tri thức, tín ngưỡng, nghệ thuật, phong tục và cả những năng lực thói quen mà con người đạt được trong xã hội” Tác giả muốn nói đến những thành quả
mà con người đạt được trong cuộc sống trên nhiều lĩnh vực của cuộc sống
- Các học giả người Mỹ cho rằng: “Văn hóa là tấm gương nhiều mặt phản chiếu đời sống và nếp sống của một cộng đồng dân tộc” [30] Ngày nay đã có hơn 400 định
nghĩa về văn hóa Khái niệm văn hóa của UNESCO hướng vào cái cơ bản nhất vàcũng là cái chung tốt đẹp nhất của mọi nền văn hóa là xu hướng hoàn thiện và tônvinh con người – mà với hình thức biểu hiện cụ thể của nó khiến các nền văn hóamang đặc điểm riêng Cách tiếp cận này được cộng đồng quốc tế chấp nhận tại hội
Trang 18nghị liên chính phủ về các chính sách văn hóa, họp vào năm 1970 tại Venise Theo
UNESCO “văn hóa được định nghĩa là tất cả những gì làm cho dân tộc này khác với dân tộc khác, từ những sản phẩm tinh vi, hiện đại nhất cho đến tín ngưỡng, phong tục, tập quán, lối sống và lao động, nhờ đó con người tự định vị mình trong không gian, thời gian nhất định để có thể giải thích thế giới, phát triển các năng lực biểu hiện, giao lưu sáng tạo”.
- Nội dung của khái niệm văn hóa thường được UNESCO xem xét trên bốn bộphận hợp thành: hệ thống ý niệm; hệ thống giá trị, chuẩn mực biểu tượng; hệ thốngbiểu hiện văn hóa; hệ thống hành động và ứng xử văn hóa
- Tổng Giám đốc UNESCO, Federico Mayor cho rằng: “Văn hóa là tổng thể sống động các hoạt động sáng tạo trong quá khứ và trong hiện tại Qua các thế kỷ, hoạt động sáng tạo ấy đã hình thành nên một hệ thống giá trị, truyền thống, thẩm mỹ
và lối sống mà dựa trên đó từng dân tộc khẳng định bản sắc riêng của mình” [22]
- Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác – Lênin thì nói tới văn hóa là nói tới conngười, nói tới tính phát huy những năng lực thuộc bản chất người, nhằm hoàn thiện con
người và xã hội Tác giả Nguyễn Chí Mì viết: “Văn hóa là tổng thể các hoạt động của con người tạo ra các giá trị Chân – Thiện – Mỹ Văn hóa đã trở thành nhu cầu thiết yếu trong đời sống tinh thần của xã hội, nó vừa thể hiện trình độ phát triển chung, vừa
là phương thức tồn tại của mỗi con người, mỗi dân tộc, mỗi đất nước, mỗi thời đại Trong quá trình phát triển phức tạp của nhân loại, văn hóa là cái đúng cái đẹp cái thiện, nó khẳng định và chắp cánh cho con người nó góp phần loại bỏ cái xấu, cái ác cái phản văn hóa và đưa con người tới gần với tự do ” Cũng trên cơ sở đó các nhà lí luận văn hóa Mác – Lênin cho rằng: “Văn hóa là thiên nhiên thứ hai, là cái do con người cải biến, sáng tạo và vun trồng, xuất hiện nhờ kết quả hoạt động của con người trong tiến trình phát triển của lịch sử [15]
- Trong cuốn “Từ điển Hán Việt” GS Nguyễn Lân viết: “Văn hóa là toàn bộ những giá trị vật chất và tinh thần do loài người sáng tạo ra trong qúa trình lịch sử và tiểu biểu cho trình độ mà xã hội đạt được trong từng giai đoạn về các mặt học vấn, khoa học kỹ thuật, văn hóa nghệ thuật, triết học, đạo đức, sản xuất…”
GS Phạm Minh Hạc định nghĩa: “Văn hóa là hệ thống giá trị vật chất và tinh thần, do con người, cộng đồng, dân tộc, loài người sáng tạo Có văn hóa của nhân loại, văn hóa dân tộc, văn hóa cộng đồng, văn hóa gia đình và văn hóa của từng con
Trang 19người”[12] Nhà tư tưởng, văn hoá của nhân loại chủ tịch Hồ Chí Minh cho rằng: “Vì
lẽ sinh tồn cũng như mục đích của cuộc sống, loài người mới sáng tạo và phát minh
ra ngôn ngữ, chữ viết, đạo đức, pháp luật, khoa học, tôn giáo, văn học, nghệ thuật, những công cụ cho sinh hoạt hằng ngày về mặc, ăn, ở và các phương thức sử dụng Toàn bộ những sáng tạo và phát minh đó tức là văn hóa” Người đã xem xét văn hóa
trong sự thống nhất với kinh tế, chính trị, xã hội và việc xây dựng nó thực sự là một
“mặt trận” Nghị quyết TƯ 5 (khóa VIII) của Đảng Cộng Sản Việt Nam đã trình bàykhái quát; xác định tư tưởng, đạo đức, lối sống và đời sống văn hóa là những lĩnh vựcquan trọng nhất hiện nay, cần đặc biệt quan tâm trong nghiên cứu và hoạt động vănhóa ở Việt Nam
Ở đây chúng ta tiếp cận khái niệm văn hóa theo quan điểm phức hợp, bao gồmnhiều khái niệm trong một chỉnh thể đó là: Lối sống, nếp sống, đạo đức, giá trị xã hội.Trong giai đoạn hiện nay việc đẩy mạnh công nghiệp hóa hiện đại hóa, phát triển kinh
tế thị trường định hướng XHCN tất yếu diễn ra quá trình chuyển đổi mạnh mẽ và sâusắc về đạo đức, lối sống, nếp sống…để góp phần bảo đảm sự phát triển bền vững nhằmgiữ gìn, phát huy bản sắc dân tộc của văn hóa trong điều kiện biến động thường xuyêncủa nền kinh tế thị trường trong và ngoài nước Do vậy vấn đề đặt ra là phải cố gắngnắm bắt được sự vận động của lối sống, nếp sống và của văn hóa hiện nay Từ nhữngquan điểm đó chúng ta tiếp cận văn hóa trên bốn hàm nghĩa sau:
- Tri thức, kinh nghiệm hiểu biết về thiên nhiên xã hội và con người
- Các giá trị và chuẩn mực văn hóa
- Các thể thức biểu hiện văn hóa của cá nhân (hành vi văn hóa, lối sống có vănhóa) và của xã hội (văn học, nghệ thuật, khoa học…)
- Hoạt động sáng tạo, giao lưu và phát triển các giá trị tinh thần và vật chấtCác hàm nghĩa trên có những điểm tương đồng nhau Hàm nghĩa thứ nhất lànền tảng tích lũy từ các thế hệ trước và là kết quả hoạt động sáng tạo, giao lưu đồngthời phát triển văn hóa Hai hàm nghĩa sau là thể chế, hình thức biểu hiện văn hóa đểthông qua đó diển ra các hoạt động sáng tạo, giao lưu và phát triển văn hóa Chúng
tôi tán thành quan niệm: “Văn hóa là hệ thống hữu cơ các giá trị tinh thần và vật chất do con người sáng tạo, giao lưu, tích lũy và phát triển thông qua hoạt động cải biến và ứng xử với thiên nhiên, xã hội và bản thân, được biểu hiện dưới các thể thức
Trang 20ngày càng sâu sắc, da dạng để tôn vinh và phát triển toàn diện con người, nhằm làm cho thế giới có tính người” [30]
1.3.2 Chức năng của văn hóa
- Chức năng nhận thức: Giúp con người nhận thức thế giới tự nhiên, đời sống xãhội, cá nhân trong tất cả các mặt của hoạt động văn hóa
- Chức năng giáo dục: Bằng các giá trị ổn định văn hóa đã định hướng lí tưởng,đạo đức hành vi con người theo các khuôn mẫu ứng xử của xã hội
- Chức năng điều tiết các quan hệ xã hội: Thông qua đó con người định vị đượctrạng thái cân bằng với thế giới tự nhiên, xã hội và bản thân mình nhằm không ngừng
tự hoàn thiện và thích ứng với những biến đổi của môi trường
- Chức năng giao tiếp: Văn hóa gắn liền với con người từ nhận thức, cảm xúcđến hành động và hành vi cá nhân Nên văn hóa sẽ là nội dung, công cụ giao tiếpquan trọng của con người với nhau
- Chức năng dự báo: Văn hóa hướng vào các giá trị ổn định hoặc đang và sẽ
hình thành Qua đó sẽ góp phần hình thành nên phương hướng phát triển cho xã hộingày càng tiến bộ văn minh hơn
1.3.3 Khái niệm nếp sống có văn hóa
Chúng ta biết rằng nếp sống là tổng thể các phương thức, phương pháp suy nghĩ
và hành động tương đối ổn định đặc trưng cho một xã hội, cộng đồng nhóm hay cánhân trong hoàn cảnh nhất định
NSCVH tức là nếp sống của cá nhân hay nhóm phù hợp với thói quen, chuẩnmực và trình độ phát triển xã hội
Nghị quyết TƯ 5 (khóa VIII) xác định rõ phải xây dựng con người Việt Namtheo các chuẩn mực sau:
- Có tinh thần yêu nước, tự cường dân tộc, phấn đấu vì độc lập dân tộc và chủnghĩa xã hội, có ý thức vươn lên đưa đất nước thoát khỏi nghèo nàn lạc hậu, đoàn kếtvới nhân dân thế giới trong sự nghiệp đấu tranh vì hòa bình, dân chủ và tiến bộ
- Có ý thức tập thể, đoàn kết phấn đấu vì lợi ích chung
- Có lối sống lành mạnh, nếp sống văn minh, cần kiệm, trung thực, nhân nghĩa,tôn trọng kỷ cương phép nước, quy ước cộng đồng, có ý thức bảo vệ và cải thiện môitrường sinh thái
Trang 21- Lao động chăm chỉ với lương tâm nghề nghiệp, có kỷ thuật, sáng tạo, năngsuất cao vì lợi ích của bản thân, gia đình, tập thể xã hội.
- Thường xuyên học tập, nâng cao hiểu biết trình độ chuyên môn, trình độ thẩm
mỹ và thể lực Những chuẩn mực trên đã phần nào phản ánh bản sắc dân tộc của vănhóa Việt Nam Đây là cơ sở để con người luôn luôn phấn đấu và phát triển để hoànthiện nhân cách của mình một cách toàn diện có văn hóa Đồng thời phải kế thừađược các giá trị truyền thống, giao lưu và phát triển các giá trị mới mà không làm lu
mờ bản sắc dân tộc
Việc giáo dục hình thành NSCVH cho HS có một vai trò vô cùng quan trọng vàmang ý nghĩa lâu dài Thấm nhuần tư tưởng đó nên Đảng và Nhà nước ta đã cụ thểhóa thành đường lối chính sách trong giáo dục, nhằm xây dựng con người mới văn
minh, thanh lịch: “Giáo dục văn hóa, thẩm mỹ, nâng cao chất lượng giáo dục khoa học xã hội và nhân văn, giáo dục đạo đức, lối sống trong nhà trường từ phổ thông đến đại học…”
Yếu tố văn hóa trong nếp sống góp phần đắc lực vào công cuộc xây dựng conngười Việt Nam mới, với một lối sống, nếp sống văn minh hiện đại mang đậm tínhdân tộc Trong giai đoạn hiện nay khi đất nước bước vào hội nhập quốc tế với việcxây dựng công nghiệp hóa – hiện đại hóa thì hoạt động kinh tế văn hóa là nhiệm vụ
trung tâm, nhưng “văn hóa là nền tảng tinh thần của xã hội” vừa là mục tiêu, vừa là
động lực thúc đẩy sự phát triển của kinh tế xã hội Như vậy kinh tế và văn hóa luônluôn song hành, không thể xem thường yếu tố nào hết Chúng ta không thể sáng tạo
ra của cải vật chất mà đánh mất đi những giá trị cao đẹp của văn hóa trong nếp sống,
lẽ sống của mình Chính văn hóa là yếu tố định hướng điều tiết sự phát triển kinh tế,thấm sâu vào mọi hoạt động lành mạnh cho sự phát triển kinh tế xã hội nói chungtrong môi trường học tập của HS nói riêng
Trong quá trình hoạt động con người luôn tìm mọi cách để nhằm thỏa mãn nhucầu của mình Tùy thuộc mức độ nhu cầu, điều kiện thỏa mãn, mà con người cóphương thức hoạt động phù hợp nhằm đáp ứng nhu cầu của mình Quá trình hoạtđộng dần dần tạo thành nếp sống thói quen trong cuộc sống Trong thực tiễn nhữnghành vi hướng tới sự thỏa mãn các nhu cầu của con người không phải bao giờ cũngthực hiện được một cách trực tiếp mà còn chịu sự tác động của thang giá trị được xãhội chấp nhận, căn cứ vào hệ thống chuẩn mực để từ đó điều chỉnh hành vi của mình
Trang 22cho phù hợp Muốn có phương thức hợp chuẩn trong hành vi, hoạt động con ngườicần phải nhận thức đầy đủ và đúng đắn những hệ thống chuẩn giá trị Nếp sống với tưcách là phương thức ổn định của hành vi, hoạt động của con người được hình thànhtrên cơ sở kiểm duyệt và chèn ép của hệ thống thang chuẩn giá trị của xã hội, tạothành những nét chung trong nếp sống giữa các thành viên trong cộng đồng.
Như vậy NSCVH không chỉ nói lên sự tương đối ổn định về phương thức hoạtđộng, hành vi ứng xử của con người mà còn phản ánh tính chất của hoạt động, hành
vi ứng xử đó trong tương quan với các giá trị văn hóa NSCVH là trình độ cao củamột nếp sống, ở đó tính nhân bản, tính giá trị được phản ánh rõ nét như là phương
thức thực sự của cá nhân trong hoạt động và ứng xử Tóm lại: “NSCVH là tổng hòa những phương thức hoạt động, hành vi ứng xử hợp chuẩn (phù hợp với những chuẩn mực, giá trị văn hóa xã hội) của con người đã được định hình thành nếp, thành thói quen trong những điều kiện, hoàn cảnh sống nhất định”
Từ định nghĩa trên cho chúng ta thấy rằng khi nghiên cứu về NSCVH nói chung
và của HS THPT nói riêng, ta cần tiến hành trên ba mặt đó là:
- Nhận thức của HS về các giá trị văn hóa trong nếp sống Ở đây chính là khảnăng nhìn nhận hiểu biết của HS thế nào là NSCVH, thế nào là nếp sống chưa vănhóa Từ đó HS nắm rõ bản chất của việc hình thành cho mình một nếp sống phù hợpvới các chuẩn mực đạo đức xã hội
- Thái độ của HS đối với những biểu hiện văn hóa trong nếp sống, là thái độnghiêm túc đồng ý với những NSCVH phù hợp với các chuẩn mực xã hội, đồng thời
có thái độ phê phán, kiên quyết loại bỏ những lối sống, nếp sống thiếu văn hóa trongđời sống của HS hiện nay
- Biểu hiện NSCVH của HS trong hành vi giao tiếp, học tập, sinh hoạt
1.4 Học sinh THPT và nếp sống có văn hóa của HS THPT
1.4.1 Một số đặc điểm tâm lí, nhân cách của HS THPT
Tuổi đầu thanh niên là thời kì đạt được sự trưởng thành về mặt thể lực, nhưng
sự phát triển cơ thể còn kém so với sự phát triển cơ thể của người lớn Tuổi thanhniên bắt đầu thời kì phát triển tương đối êm ả về mặt sinh lí Nhịp độ tăng trưởng vềchiều cao và trọng lượng đã chậm lại Sự phát triển của hệ thần kinh có những thayđổi quan trọng do cấu trúc bên trong của não phức tạp và các chức năng của não phát
Trang 23triển Tạo tiền đề cần thiết cho sự phức tạp hóa hoạt động phân tích, tổng hợp trongquá trình học tập.
Hoạt động xã hội của thanh niên ngày càng phong phú và phức tạp, nên vai trò
xã hội và hứng thú xã hội của thanh niên không chỉ mở rộng về số lượng và phạm vi,
mà còn biến đổi cả về chất lượng Ở thanh niên ngày càng xuất hiện nhiều các vai tròcủa người lớn và họ thực hiện các vai trò đó ngày càng có tính độc lập và tinh thầntrách nhiệm hơn
Đặc điểm của sự phát triển trí tuệ, đó là tri giác có mục đích đã đạt tới mức cao.Quan sát trở nên có mục đích, có hệ thống và toàn diện hơn Bên cạnh đó ghi nhớ cóchủ định giữ vai trò chủ đạo trong hoạt động trí tuệ, đồng thời vai trò của ghi nhớlôgic trừu tượng, ghi nhớ ý nghĩa ngày một tăng rõ rệt HS đã tạo được tâm thế phânhóa trong ghi nhớ
Sự phát triển về tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cáchcủa thanh niên mới lớn, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lí của tuổithanh niên Sự hình thành tự ý thức ở lứa tuổi thanh niên là một quá trình lâu dài, trảiqua những mức độ khác nhau, ở tuổi thanh niên quá trình phát triển tự ý thức diễn ramạnh mẽ, sôi nổi và có tính chất đặc thù riêng HS có nhu cầu tìm hiểu và đánh giánhững đặc điểm tâm lí của bản thân theo quan điểm và mục đích cuộc sống của mình.Đặc điểm quan trọng trong sự tự ý thức của thanh niên là sự tự ý thức của họcsinh xuất phát từ yêu cầu của cuộc sống và hoạt động, địa vị mới trong tập thể, nhữngquan hệ mới với thế giới xung quanh buộc HS phải ý thức được những đặc điểm nhâncách của mình Nội dung tự ý thức cũng khá phức tạp HS không chỉ nhận thấy cái tôicủa mình trong hiện tại mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội, trong tươnglai Ở giai đoạn này thanh niên không chỉ đánh giá những cử chỉ hành vi riêng lẻ,từng thuộc tính riêng biệt mà biết đánh giá nhân cách nói chung trong toàn bộ nhữngthuộc tính nhân cách [14]
Khi nói về khả năng nhận thức và tự nhận thức của HS THPT nhà Tâm lí học
Erick Erickson đã viết: “Nếu một HS có khả năng nhận định được bản thân, sẽ có nhiều cơ hội thực hiện được sự phát triển về nhiều lĩnh vực về cả phương diện vật chất lẫn tinh thần như thành công trong học tập, hòa nhập với xã hội, hoàn thành nhiệm vụ một thành viên trong gia đình, có lối sống lành mạnh…”
Trang 24Cùng với việc phát triển của ý thức thì ở giai đoạn này HS đã xây dựng chomình một hệ thống quan điểm riêng Những cơ sở của thế giới quan đã được hìnhthành từ rất sớm, ngay từ khi còn nhỏ Khi HS theo học ở phổ thông đã lĩnh hội đượcnhững tâm thế, thói quen đạo đức nhất định, thấy được cái đẹp cái xấu, cái thiện cáiác dần dần những điều đó được ý thức và quy vào các hình thức, các tiêu chuẩn,nguyên tắc hành vi xác định…chỉ số đầu tiên của sự hình thành thế giới quan là sựphát triển của hứng thú nhận thức đối với những vấn đề thuộc nguyên tắc chung nhấtcủa vũ trụ, những quy luật phổ biến của tự nhiên, xã hội và của sự tồn tại xã hội loàingười HS cũng cố gắng xây dựng quan điểm riêng trong lĩnh vực khoa học đối vớicác vấn đề xã hội, tư tưởng chính trị, đạo đức.
Giao tiếp và đời sống tình cảm của HS THPT có bước phát triển và đã có phầntạo nên đời sống riêng cho mình rất sinh động Ở lứa tuổi này quan hệ bạn bè chiếmmột vị trí tương đối lớn so với người lớn tuổi hoặc ít tuổi hơn, ở giai đoạn này sự dựadẫm của HS đã giảm hẳn thay, vào đó là quan hệ bình đẳng tự lập Trong hoàn cảnhgiao tiếp tự do, rỗi rãi thì việc phát triển nhu cầu sở thích của HS hướng vào bạn bènhiều hơn là cha mẹ Nhưng khi bàn đến những giá trị sâu sắc hơn trong chọn nghề, thếgiới quan, những giá trị đạo đức thì ảnh hưởng của cha mẹ lại lớn hơn Sự mở rộngphạm vi giao tiếp và sự phức tạp hóa hoạt động riêng của thanh niên HS khiến cho sốlượng nhóm quy chiếu của HS tăng lên rõ rệt Việc HS tham gia vào nhiều nhóm sẽdẫn đến những sự khác nhau nhất định và có thể xung đột về vai trò nếu cá nhân phảilựa chọn giữa các vai trò khác nhau ở các nhóm
Đời sống tình cảm của HS giai đoạn này rất phong phú đa dạng Một đặc điểmnổi bật đó là nhu cầu về tình bạn tâm tình cá nhân được tăng lên HS cũng rất chínhchắn trong việc lựa chọn bạn bè cho mình và muốn chọn cho mình một người bạnthân sẵn sàng chia sẽ những niềm vui và nổi buồn Tình bạn ở lứa tuổi này khá bềnvững, có thể kéo dài suốt cả cuộc đời Trong mối quan hệ giữa nam và nữ được tíchcực hóa một cách rõ rệt Nhu cầu về tình bạn khác giới được tăng cường và ở một số
em đã xuất hiện những sự lôi cuốn đầu tiên khá mạnh mẽ, xuất hiện nhu cầu chânchính về tình yêu và tình cảm sâu sắc
Sự hình thành phát triển nhân cách của HS chịu sự tác động của hoàn cảnh xãhội, mối quan hệ cá nhân và cha mẹ, áp lực của văn hóa Nếu trong một xã hội thuầnnhất ít xáo trộn thì vai trò gia đình được tôn trọng, nhân cách của HS có cơ hội phát
Trang 25triển điều hòa và có tính đồng nhất Còn trong một xã hội phức tạp với sự chuyểnbiến mạnh mẽ từ kinh tế chính trị và xã hội thì việc phát triển nhân cách cho HS phảilàm cho chính bản thân HS tự thích nghi với cách sinh hoạt mới và biết lựa chọn chomình lối sống, nếp sống thích hợp Nên ở đây nhà trường, gia đình và xã hội đóngmột vai trò vô cùng quan trọng trong vấn đề giáo dục và trau dồi nhân cách cho HS.
1.4.2 Các lĩnh vực biểu hiện nếp sống của HS
Con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội Quá trình hình thành cũng nhưphát triển về mặt tâm lí của mình con người cần phải tham gia vào các hoạt động xãhội Từ đó nhân cách của con người được hoàn thiện và bộc lộ Do vậy việc con ngườilựa chọn và thể hiện những lối sống, nếp sống của mình cũng rất phong phú và đadạng Lối sống là tổng hòa các hoạt động sống của con người, nên lối sống cũng biểuhiện rất đa dạng trong mọi lĩnh vực hoạt động của con người
Tác giả M N Rutkêvich xuất phát từ quan điểm của lối sống như: “Một hệ thống các đặc điểm cơ bản về hoạt động sống của con người” Từ đó Ông đã nêu ra
các lĩnh vực chủ yếu của lối sống trên cơ sở các hoạt động sống cơ bản của con ngườibao gồm: Lao động; phúc lợi, tiêu dùng, sinh hoạt hằng ngày; sức khỏe của nhân dân;giáo dục và văn hóa; hoạt động chính trị - xã hội
Tác giả Mạc Văn Trang với đề tài: “Đặc điểm lối sống của sinh viên hiện nay
và những phương hướng, biện pháp giáo dục lối sống cho sinh viên”[25] Nêu lên các
lĩnh vực biểu hiện của lối sống: định hướng giá trị; hoạt động học tập; hoạt động laođộng; hoạt động văn hóa thể thao; hoạt động chính trị xã hội; các quan hệ giao tiếp xãhội; đời sống cá nhân
Từ những quan điểm trên cho thấy rằng biểu hiện của lối sống, nếp sống chính
là thông qua hệ thống các hoạt động của cá nhân Lối sống, nếp sống chính là sự phảnánh những đặc trưng của cá nhân trong hoạt động sống trong xã hội, trong cộng đồng.Chúng ta có thể khái quát những lĩnh vực cơ bản biểu hiện nếp sống của HS như sau:Những định hướng giá trị phản ánh xu hướng lựa chọn lối sống, nếp sống của HS; hoạtđộng lao động (trí óc và chân tay); các quan hệ ứng xử; sinh hoạt (cá nhân, sinh hoạt
xã hội)
Biểu hiện nếp sống của HS THPT đó là quá trình HS bộc lộ những hành vi củamình có tính lặp đi lặp lại thành thói quen, thành nếp, trong khi HS tham gia vào hoạtđộng học tập, giao tiếp, sinh hoạt hằng ngày của mình
Trang 26Như vậy nếp sống chính là một khía cạnh biểu hiện của lối sống, là một tổng thểcác hoạt động và hành vi ứng xử cụ thể mang tính chất ổn định của con người Mặtkhác con người có thể hình thành một nếp sống nào đó trong bất kỳ lĩnh vực nào củalối sống Các lĩnh vực biểu hiện của nếp sống thực chất cũng chính là các lĩnh vựcbiểu hiện của lối sống HS THPT là những người năng động sẵn sàng tham gia vàonhiều lĩnh vực của xã hội nên việc HS thể hiện, biểu hiện lối sống, nếp sống của mìnhcũng rất đa dạng và sinh động.
1.4.3 Nếp sống có văn hóa của học sinh THPT
1.4.3.1 Biểu hiện của nếp sống có văn hóa ở học sinh THPT
Trên cơ sở những giá trị văn hóa truyền thống, những yêu cầu xã hội hiện nay
và những đặc trưng hoạt động, quan hệ của HS, chúng ta có thể khái quát một số biểuhiện có văn hóa cơ bản trong nếp sống của HS như sau:
Cho đến hiện nay đã có nhiều công trình nghiên cứu về lối sống, nếp sống Nhưngviệc nêu lên những lĩnh vực biểu hiện nếp sống của HS THPT thì vẫn chưa có sự thốngnhất về cách biểu hiện nếp sống Theo chúng tôi việc xác định các lĩnh vực biểu hiệnnếp sống của HS cần phải căn cứ vào hoạt động chủ đạo và các lĩnh vực hoạt động đặcthù của HS hiện nay Có thể nêu lên những lĩnh vực biển hiện nếp sống của HS là:Hoạt động học tập; định hướng giá trị; trong sinh hoạt (sinh hoạt cá nhân, sinh hoạttập thể, xã hội); các quan hệ xã hội (quan hệ bạn bè, quan hệ gia đình, quan hệ trong
và ngoài nhà trường)
Đây chỉ là cách phân chia mang tính tương đối, giữa các lĩnh vực trên luôn có sựđan xen, quan hệ chặt chẽ với nhau, trong sự tổng hòa những hoạt động của cá nhân.Trong các lĩnh vực biểu hiện của nếp sống HS, thì lĩnh vực hoạt động học tập là trungtâm nhất vì đây là hoạt động chủ đạo của lứa tuổi HS THPT Có thể nêu lên nhữnglĩnh vực cơ bản sau:
a Biểu hiện nếp sống trong lĩnh vực học tập: Hiếu học được xem là một truyền
thống lâu đời của người Việt Nam Những biểu hiện của truyền thống này đó là:
- Lòng say mê học tập, tìm tòi nghiên cứu tài liệu
- Thực hiện đầy đủ những nội quy và quy định do nhà trường đề ra
- Chịu đựng mọi khó khăn gian khổ để đạt được kết quả cao nhất trong học tập
- Sẵn sàng giúp đỡ bạn bè gặp khó khăn trong học tập
- Biết tôn trọng các công trình khoa học
Trang 27- Bản thân luôn cảm thấy day dứt khi chưa hoàn thành nhiệm vụ học tập đề ra.
b Biểu hiện nếp sống trong quan hệ giao tiếp ứng xử: Giao tiếp ứng xử có một
vai trò quan trọng và ý nghĩa rất lớn đối với quá trình giáo dục trong nhà trường Hiểu
rõ được vai trò đó nên ngay từ khi bước vào trường học chúng ta thấy câu khẩu hiệu
“Tiên học lễ hậu học văn” ở tất cả các trường Với một mục đích là nhắc nhở HS
trước tiên cần phải học lễ phép ứng xử với mọi người rồi mới học văn hóa Trongquan hệ giao tiếp ứng xử của HS THPT thường biểu hiện rõ ra bên ngoài nhữngphẩm chất:
- Luôn khiêm tốn, lễ phép với thầy cô giáo và cán bộ trong trường
- Biết quan tâm và có trách nhiệm với bạn bè, không có sự phân biệt khi quanhệ
- Độ lượng, vị tha, khoan dung trong cư xử với mọi người
- Sẵn sàng hòa giải cho các mối quan hệ và làm phá vỡ bầu không khí căng thẳng
- Trung thực, có niềm tin với mọi người trong cuộc sống
- Biết tôn trọng, lễ phép, nhẹ nhàng, vâng lời người lớn khi giao tiếp
c Biểu hiện nếp sống trong sinh hoạt: Những biểu hiện NSCVH trong sinh hoạt
của HS hằng ngày
- Học tập có giờ giấc, nề nếp, khoa học và hợp lí
- Ăn mặc giản dị, biết tiết kiệm thời gian và công sức
- Hăng hái nhiệt tình tham gia các hoạt động của tập thể và xã hội
- Biết quan tâm chia sẽ cùng bạn bè những khó khăn trong cuộc sống
- Có cuộc sống lành mạnh, không tin vào chuyện bói toán, sa vào tệ nạn xã hội
- Luôn tập thể dục thể thao, rèn luyện sức khỏe
d Biểu hiện nếp sống đối với bản thân: Muốn trở thành một người công dân
tốt có ích cho xã hội thì bản thân HS cũng chịu nhiều yếu tố tác động, nhưng yếu tốđược xem là cơ bản nhất đó là sự tự giáo dục của cá nhân, nên bản thân người HSphải:
- Luôn luôn tìm tòi nhiều phương pháp học tập để nhằm nâng cao chất lượngđạt kết quả cao nhất
- Luôn biết quan sát nhìn nhận đánh giá những vấn đề tích cực hay tiêu cực để
từ đó đề ra cho mình những lựa chọn mang tính cá nhân
- Bản thân luôn chuẩn bị sẵn thích ứng những khó khăn gặp phải trong cuộc sống
Trang 28- Làm việc và học tập có kế hoạch, ngăn nắp trật tự.
- Có thái độ rõ ràng dứt khoát với các hành vi thiếu văn hóa trong xã hội
1.4.3.2 Một số tiêu chí để đánh giá nếp sống có văn hóa của học sinh
Việc tìm ra các tiêu chí cụ thể để đánh giá NSCVH của HS là tương đối khó.Dựa trên cơ sở các chuẩn mực xã hội chúng ta có thể nêu lên một vài tiêu chí căn bản
để đánh giá nếp sống có văn hóa của HS THPT:
- Nhận thức về các giá trị văn hóa trong nếp sống Được thể hiện trong học tập,trong giao tiếp, trong sinh hoạt hằng ngày: Học tập chuyên cần, tích cực suy nghĩ tìmtòi phương pháp mới, luôn chủ động trao đổi những khó khăn gặp phải với thầy côgiáo trong học tập; luôn sẵn sàng giúp đỡ bạn bè hợp tác cùng nhau để có kết quả tốt.Thực hiện nghiêm túc các nội quy của nhà trường đề ra; Trong quan hệ giao tiếp ứng
xử của các em có trách nhiệm với bạn bè và những người xung quanh, bình đẳngtrong quan hệ, chân tình tế nhị khi giao tiếp, khiêm tốn học hỏi, tôn sư trọng đạo,kính trên nhường dưới
Thái độ đối với những biểu hiện có văn hóa và các biểu hiện thiếu văn hóatrong nếp sống: Có một thái độ đồng tình, ủng hộ, những nếp sống tích cực, lànhmạnh Trong sinh hoạt cá nhân luôn luôn gọn gàng ngăn nắp, đúng giờ, ăn mặc giản
dị, sẵn sàng giúp đỡ bạn bè lúc gặp khó khăn, không toan tính vụ lợi Bản thân luôn
tự kiểm điểm khi vi phạm những nguyên tắc sống của xã hội, đồng thời lên án, phêphán tránh xa những lối sống, nếp sống thiếu tính giáo dục, vô văn hóa
Biểu hiện bằng hành vi cụ thể của NSCVH trong học tập, trong giao tiếp ứng
xử, sinh hoạt và các mối quan hệ xã hội đang diễn ra hằng ngày của HS Trong họctập thực hiện nghiêm túc quy chế của nhà trường đề ra, tích cực hăng say học tập đểnâng cao kết quả Trong giao tiếp ứng xử thể hiện hành vi khiêm tốn học hỏi, lễ phéptôn sư trọng đạo Trong sinh hoạt không tin vào mê tín dị đoan, bói toán, không chơi
cờ bạc rượu chè, gây gổ đánh nhau, ăn nói lịch sự nhẹ nhàng, tham gia vào các hoạtđộng tập thể một cách tích cực
1.4.3.3 Một số biểu hiện của nếp sống thiếu văn hóa của HS THPT
THPT là cấp học có tính chất bản lề rất quan trọng Là cấp học sẽ trang bị cho
HS những kiến thức căn bản của cuộc sống để các em tham gia vào xã hội Tuy nhiên
ở giai đoạn này các em cũng đã có những biểu hiện chưa có văn hóa trong nếp sốngcủa mình
Trang 29Trong học tập nhiều khi các em còn chịu ảnh hưởng của lối sống thực dụng,gấp gáp nên đã sao nhãng việc học tập, học hành mang tính đối phó, ý thức kỉ luậtchưa cao Quá trình học tập thiếu tính tích cực tìm tòi, chủ yếu thụ động, ngại trao đổinhững vấn đề khó khăn Trong thi cử kiểm tra thì thường tìm cách quay cóp, sử dụngtài liệu…
Trong quan hệ ứng xử, có lúc các em thể hiện sự thiếu tôn trọng, xem thườngthầy cô giáo, quan hệ một cách miễn cưỡng Đối với bạn bè các em thường dễ dải,thiếu nghiêm túc, thiếu vững vàng dễ bị lôi cuốn vào các tệ nạn xã hội Trong thực tếmột số em đề cao vấn đề vật chất trong quan hệ, thể hiện lối sống thực dụng Mộthiện tượng hiện nay khá phổ biến đó là tinh thần tập thể chưa cao, HS sống thu mìnhlại, chỉ quan tâm đến lợi ích của bản thân Trong sinh hoạt hàng ngày hay đua đòilãng phí cả tiền bạc cũng như thời gian
Một số biểu hiện tiêu cực khi HS có thời gian rảnh rỗi hiện nay: Một số HS tụtập nhau lại để uống rượu, đánh bạc và có một số khác thì đi xem bói toán cầu may…thậm chí một số em thì kết bè phái, gây gổ đánh nhau Một HS còn xem thường vấn
đề đạo đức, xa dần các nếp sống văn hóa truyền thống của dân tộc Có một số em tinvào mê tín dị doan, tin vào số mệnh sao nhảng việc học hành, rèn luyện
1.5 Các yếu tố ảnh hưởng tới nếp sống có văn hóa của học sinh THPT
Chúng ta biết rằng “ bản chất con người là tổng hòa các mối quan hệ xã hội” do
vậy các mối quan hệ xã hội ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành lối sống, nếp sốngcủa các cá nhân trong xã hội Con người không phải là một cá nhân thụ động mà họ
còn chủ động cải tạo hoàn cảnh để phục vụ cho lợi ích của cá nhân và xã hội “trong chừng mực nhất định con người tạo ra hoàn cảnh” Việc hình thành lối sống, nếp
sống chịu sự tác động của ngoại cảnh và yếu tố cá nhân mang lại
1.5.1 Yếu tố chủ quan về phía HS.
HS ở lứa tuổi này về vóc dáng bề ngoài gần như người lớn, có những nét củangười lớn Nhận thức của các em chưa đầy đủ và toàn diện những giá trị văn hóatrong nếp sống, trong sinh hoạt cũng như trong học tập Việc hình thành ý thức cho
HS về các giá trị văn hóa trong nếp sống có một ý nghĩa vô cùng quan trọng vì mộtkhi HS hiêu rõ “thế nào là có văn hóa” và “thế nào là vô văn hóa” giúp các em sẽ lựachọn cho mình một lối sống, nếp sống thích hợp với các chuẩn mực xã hội
Trang 30Hiện nay có một số HS chưa có ý thức tự tu dưỡng, việc rèn luyện bản thân cònkém Có khi HS không làm chủ được bản thân mình trước những cám dỗ tầm thườngcủa cuộc sống tác động vào, nhiều lúc chỉ một phút bốc đồng HS có thể tham gia vàocác tệ nạn xã hội vầ dần dần lún vào lúc nào không hay Một khi HS nhận ra thì đãquá muộn hoặc là chưa được sự quan tâm giúp đỡ nhiệt tình của các bậc phụ huynhhoặc thầy cô giáo.
Một trong những yếu tố tác động lớn đến việc lựa chọn nếp sống của HS THPT
đó là việc các em muốn thể hiện mình trước tập thể và nhóm bạn Ở giai đoạn nàytính bốc đồng bột phát của HS thường thể hiện ra bên ngoài và muốn chứng tỏ mình
đã trưởng thành Điều đó đã vô tình dẫn dắt HS tiếp thu các phương thức sinh hoạttrái ngược với quy định của nhà trường cũng như các chuẩn mực xã hội
HS có tính đua đòi, trưng diện trong ăn mặc trong sinh hoạt hằng ngày Điều đódẫn đến có một số HS xem thường các giá trị văn hóa truyền thống, chạy theo lốisống vật chất thực dụng Chịu ảnh hưởng của các tác động tiêu cực dễ dẫn đến nhữngbiểu hiện thiếu tích cực trong sinh hoạt hằng ngày Một số em có thể lựa chọn lốisống mang tính thực dụng, thiếu nề nếp, buông thả trong cuộc sống
Bản chất của tuổi trẻ là thích khám phá tìm hiểu những cái mới lạ trong cuộcsống Đất nước đang trong giai đoạn chuyển đổi mạnh mẽ trên mọi lĩnh vực từ kinh
tế chính trị văn hóa xã hội, đây là những thách thức đặt ra cho tất cả chúng ta Bêncạnh việc tiếp thu những tinh hoa văn hóa của nhân loại thì cũng có nhiều yếu tố tiêucực làm ảnh hưởng đến đời sống của tất cả mọi người nói chung và đặc biệt là thế hệtrẻ Vì đây là những cá nhân năng động sẵn sàng tham gia để tìm hiểu và cũng muốnthể hiện mình Bắt đầu cũng từ chổ chỉ tham gia cho biết dần dần trở thành thói quen
và nếp từ lúc nào không biết Đây là con đường dẫn HS đi vào những sai lầm trongcuộc sống một cách nhẹ nhàng nếu không có sự giáo dục định hướng kịp thời của nhàtrường, gia đình và sự hổ trợ từ xã hội
1.5 2 Các yếu tố khách quan.
a Ảnh hưởng từ phía bạn bè
Sự phát triển mạnh mẽ của xã hội đã tác động một cách trực tiếp đến lối sống,nếp sống của HS Dẫn đến trong tuổi trẻ đã xuất hiện nếp sống mới, nếp sống mới xuấthiện khi tuổi trẻ có những vấn đề khó khăn về mặt tâm lí, về cách xử thế cần phải đượcthích nghi hóa với lối sống chung của nhóm bạn bè rộng lớn Có rất nhiều thanh niên
Trang 31đã trốn khỏi thế giới này và họp bạn cùng với nhóm bạn cùng quan điểm và tạo dựngmột nếp sống mới đi ra khỏi khuôn mẫu của xã hội Họ muốn trốn thoát khỏi thực tại,tìm một hướng đi mới có thể nhận thấy đây là phản ứng tự nhiên của nhiều thanh thiếuniên hiện nay Có một điều chúng ta dễ dàng nhận thấy đó là phần lớn HS dính đến các
tệ nạn xã hội như nghiện hút, mại dâm, cờ bạc, rượu chè, phạm pháp là do một phầnbạn bè rủ rê lôi kéo và lập trường không vững vàng của bản thân
b Ảnh hưởng nền văn hoá phương Tây
Khi đất nước mở cửa giao lưu hội nhập thì một nếp sống mới vượt ra ngoài nềnmóng cổ truyền của dân tộc đã phát triển khắp nơi, đặc biệt là đối với những nướcđang trên đường phát triển Nếp sống mới bắt đầu xuất hiện từ các nước phương Tâyđặc biệt là ở Mỹ đã lan tràn khắp nơi Thông qua báo chí, phim ảnh, truyền hình của
Mỹ đã tràn ngập khắp thế giới do nền kinh tế và quyền lực mạnh mẽ của chính quyềnquốc gia này Chúng ta khó tìm thấy những phim ảnh trình bày về luân lý, đạo đức;trái lại có thể thấy nhiều hình ảnh bạo động, chém giết, nghiện hút, tự do luyến áikhiêu dâm…Duy trì cuộc sống cổ truyền dễ bị chê là “quê mùa” cho dù những đặctính này có giá trị vĩnh cửu đáng được duy trì
c Ảnh hưởng của văn hóa giáo dục gia đình
Gia đình là tế bào của xã hội, nơi con người sinh ra lớn lên và hình thành nhâncách của mình Gia đình là cơ sở để duy trì nòi giống của con người và là cơ sở củaviệc giáo dục thế hệ trẻ đang lớn lên Vì vậy khi nói đến vai trò của gia đình trong
việc giáo dục HS Đảng và Nhà nước ta đã nhấn mạnh: “Đào tạo con người mới toàn
là nhiệm vụ của toàn xã hội, trong đó gia đình giữ vai trò vô cùng quan trọng, vì thế cha mẹ không thể tự ý giảm nhẹ trách nhiệm của mình trong việc giáo dục con em mà trái lại cần xây dựng gia đình trở thành trường học thật sự để dạy dổ con em nên người” Gia đình là nơi tiếp nhận, sàng lọc, xử lý thông tin, có vai trò định hướng giá
trị đạo đức cho mỗi công dân, cho thế hệ trẻ là những thành viên trong gia đình HSsinh sống trong gia đình được sự che chở, đùm bọc, yêu thương nên những suy nghĩ,tình cảm, ước muốn, lối sống của các em đều chịu ảnh hưởng sâu sắc và lâu dài củagia đình Những phẩm chất, nhân cách của cha mẹ, niềm tin, bầu không khí tâm lí, lốisống, truyền thống…của gia đình sẽ để lại dấu ấn sâu sắc trong lòng các em [17]Gia đình ảnh hưởng to lớn đến việc hình thành nên lối sống, nếp sống của HSnhư vậy Nhưng hiện nay do sự phát triển mạnh của cơ chế thị trường nên đã có nhiều
Trang 32gia đình chạy theo đồng tiền, cuộc sống vật chất dẫn đến việc buông lỏng trongnhiệm vụ giáo dục, định hướng cho các em lựa chọn các giá trị tích cực trong cuộcsống Có một số gia đình đã xuất hiện tình trạng trọng nam khinh nữ, rượu chè cờbạc, cãi vã nhau gây nên không tâm lí nặng nề trong gia đình Do vậy gia đình phảihạn chế hoặc chấm dứt những yếu tố bất lợi ảnh hưởng đến nhân cách của HS.
d Ảnh hưởng của văn hóa giáo dục xã hội
Ngày nay tuổi trẻ có cơ hội tiếp xúc nhiều mối quan hệ xã hội, thông qua nhiềukênh thông tin khác nhau như vô tuyến, sách báo, phim ảnh, các phương tiện thôngtin liên lạc Do nhiều yếu tố xã hội tác động, nên trẻ tiếp xúc với bạn bè nhiều hơn làtiếp xúc với cha mẹ Khi HS tiếp xúc với nhau chúng thường bàn đến những vấn đề
sở thích, phim ảnh, các lĩnh vực mà chúng xem là mới lạ hấp dẫn, ít khi bàn về nhữngvấn đề đạo đức, học hành, định hướng lựa chọn nghề nghiệp trong tương lai Quanhững cuộc tiếp xúc này đã ảnh hưởng rất lớn đến việc hình thành nếp sống mới củatuổi trẻ
Hiện nay có rất nhiều HS đã sống theo các khuôn mẫu, thần tượng của mình,khi chúng đã lựa chọn Có rất nhiều khuôn mẫu điển hình của nếp sống mới dànhriêng cho từng giới Những HS nam có các thần tượng về các ca sĩ kích động mạnh,thái độ nghênh ngang, lái xe tốc độ lớn, nhiều khi uống rượu say không chấp hànhluật lệ….Còn một số bạn nữ thi lại có các thần tượng về các ca sĩ, tập cách trangđiểm, ăn mặc, lối sống Cuộc sống có rất nhiều cám dỗ nhưng số đông HS vẫn giữđược lập trường vững vàng của mình, không sa ngã vào lối sống đua đòi chơi bời.Tuy chỉ có một bộ phận nhỏ HS bị lôi cuốn vào một số hành vi thiếu văn hóa
e Ảnh hưởng của văn hóa giáo dục nhà trường
Nhà trường là cơ quan chuyên môn của Nhà nước, được sự lãnh đạo trực tiếpcủa Đảng, có đội ngũ giáo viên – những người có trình độ chuyên môn và nghiệp vụ
sư phạm, vì vậy nhà trường đóng vai trò chủ động, nòng cốt trong việc giáo dục, hìnhthành cho trẻ những lối sống, NSCVH có tính thời đại và mang đậm bản sắc dân tộc.Thông qua một số môn khoa học xã hội giáo dục HS về đạo đức, luân lí và rèn luyệnnhân cách Những gương sáng về các đức tính quý giá này của các nhân vật lịch sử,các anh hùng dân tộc Đồng thời các chương trình giáo dục thực tế, phù hợp với cuộcsống được đưa vào giảng dạy Nhà trường tổ chức giáo dục thông qua những gươngsáng ngoài xã hội, những tổ chức từ thiện, sẽ đem lại cho HS những cảm xúc, những
Trang 33suy nghĩ vô cùng ý nghĩa về đạo đức, luân lý, nhân cách, từ đó HS sẽ lựa chọn mộtlối sống phù hợp với yêu cầu của xã hội.
Tiểu kết chương 1: Ở chương một chúng tôi đã phân tích về lí luận và lịch sử
nghiên cứu vấn đề, trình bày một số vấn đề lí luận trong tâm lí học về nếp sống cóvăn hóa của HS THPT, các biểu hiện về nếp sống, các yếu tố ảnh hưởng đến nếpsống có văn hóa của các em Những vấn đề nghiên cứu ở chương 1 đặt cơ sở cho việctrình bày khảo sát thực trạng biểu hiện nếp sống có văn hóa của học sinh THPT ởhuyện Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh Từ đó đề xuất các biện pháp giáo dục nếp sống có vănhóa cho học sinh ở địa phương
Trang 34CHƯƠNG 2
TỔ CHỨC VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 2.1 Tổ chức nghiên cứu:
Giai đoạn 1: Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan đến đề tài.
Mục đích: Nhằm xây dựng đề cương nghiên cứu và những vấn đề lí luận để
làm cơ sở công cụ cho các giai đoạn nghiên cứu sau này
Nội dung:
- Xây dựng đề cương nghiên cứu
- Nghiên cứu những vấn đề lí luận có liên quan và xây dựng được khái niệmcông cụ của đề tài từ đó xác định phương pháp nghiên cứu và công cụ nghiên cứu
Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu tài liệu, các văn bản và các tạp chí
chuyên ngành, các công trình nghiên cứu khoa học, các luận văn, luận án về NSCVH
về tâm lí HS THPT
Gai đoạn 2: Giai đoạn điều tra thực trạng
Mục đích: Nhằm phát hiện những biểu hiện tích cực và tiêu cực trong nếp sống
và các yếu tố ảnh hưởng đến NSCVH của HS THPT, từ đó đề xuất được các biệnpháp nâng cao hiểu biết cho HS thế nào là NSCVH và góp phần hình thành, giáo dụccho HS THPT NSCVH
Nội dung: Tiến hành khảo sát thực trạng
- Thực trạng về NSCVH, lối sống, giao tiếp có văn hóa và các yếu tố ảnh hưởngđến NSCVH ở HS THPT thông qua việc thu thập, xử lí và phân tích số liệu theo batiêu chí
* Nhận thức của HS về các giá trị văn hóa trong nếp sống
* Thái độ của HS đối với một số biểu hiện NSCVH và thiếu văn hóa
* Biểu hiện nếp sống của HS trong các lĩnh vực học tập, giao tiếp, sinh hoạthàng ngày và các mối quan hệ xã hội khác
+ Đánh giá của HS về mức độ biểu hiện của một số hành vi có văn hóa và thiếuvăn hóa trong nếp sống hàng ngày của mình
+ Tìm hiểu nguyên nhân ảnh hưởng đến hành vi có văn hóa và thiếu văn hóatrong nếp sống của HS THPT ở hai trường
+ Một số kiến nghị của HS đối với gia đình, nhà trường, và xã hội
- Giải một số bài tập tình huống có liên quan đến nếp sống có văn hóa
Trang 35- Xử lí phân tích kết quả thực trạng biểu hiện của nếp sống có văn hóa của họcsinh hai trường được khảo sát.
Giai đoạn 3:
Thử nghiệm các biện pháp tác động nhằm nâng cao nhận thức của HS về cácgiá trị văn hóa trong nếp sống của HS
+ Khoảng thời gian tác động 6 tháng (từ tháng 5 đến tháng 11/2007)
+ Đối tượng tác động là 60 HS của cả ba khối (50 HS lớp 10; 50 HS lớp 11; 50
HS lớp 12)
+ Kết quả được đo và đánh giá bằng hệ thống câu hỏi vào khoảng giữa tháng
11 Sau đó so sánh kết quả trước và sau khi tác động để khẳng định hiệu quả của cácphương pháp tác động
- Mẫu điều tra là 300 HS THPT của hai trường: Trường THPT Lê Quảng Chí vàtrường THPT thị trấn Kỳ Anh tỉnh Hà Tĩnh
2.2 Các phương pháp nghiên cứu:
2.2.1 Nhóm các phương pháp nghiên cứu tài liệu văn bản:
Bao gồm các phương pháp cụ thể sau:
- Phương pháp phân tích và tổng hợp lí thuyết nhằm làm rõ những vấn đề líluận cần thiết của đề tài
- Phương pháp phân loại, hệ thống hóa lí thuyết nhằm sắp xếp các tri thứccho phù hợp với vấn đề nghiên cứu
2.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực trạng:
a Phương pháp điều tra bằng phiếu trưng cầu ý kiến (phương pháp chính)
Điều tra bằng hệ thống Enquête trên hệ số mẫu đã chọn ở hai trường Cấu trúccủa Enquête gồm 6 phần:
Phần I: Hệ thống câu hỏi đánh giá nhận thức của HS về các giá trị có văn hóa Phần II: Hệ thống câu hỏi đánh giá thái độ của HS đối với các biểu hiện có vănhóa hoặc thiếu văn hóa trong nếp sống
Phần III: Hệ thống câu hỏi đánh giá mức độ của các biểu hiện có văn hóa hoặcthiếu văn hóa trong nếp sống của HS
Phần IV: Thăm dò ý kiến đánh giá của HS về các biểu hiện thiếu văn hóa trongsinh hoạt và học tập
Trang 36Phần V: Thăm dò ý kiến đánh giá của thầy cô và phụ huynh về những biểu hiệnnếp sống của HS trong sinh hoạt và học tập.
Phần VI: Hệ thống câu hỏi mở để nhằm thu thập kiến nghị, đề xuất của HS vềviệc xây dựng NSCVH cho HS THPT
Mục đích: Thông qua hệ thống các câu hỏi có liên quan đến đối tượng nghiên
cứu, chúng tôi đã tiến hành khảo sát thực trạng NSCVH hiện nay của HS THPT vàthái độ cũng như những yếu tố ảnh hưởng đến NSCVH của HS
Nội dung: Chúng tôi tiến hành xây dựng bộ câu hỏi cho HS gồm có 6 nội dung
trong đó chỉ có một nội dung câu hỏi mở và 5 nội dung câu hỏi đóng Nội dung chủyếu tập trung vào phần nhận thức, thái độ của HS với những hành vi tích cực và tiêucực trong nếp sống và mức độ biểu hiện, cuối cùng là tìm hiểu những yếu tố (nguyênnhân) ảnh hưởng đến NSCVH của HS và các biện pháp tác động
- Ở phần câu hỏi tìm hiểu mức độ cần thiết (nhận thức) và mức độ quan tâm(thái độ) Chúng tôi đưa ra ba mức độ, nhận thức gồm
+ Cần thiết 3 điểm
+ Bình thường 2 điểm
+ Ít cần thiết 1 điểm
Phần thái độ cũng được tiến hành:
+ Quan tâm nhiều 3 điểm
+ Bình thường vừa phải 2 điểm
+ Ít quan tâm 1 điểm
Sau đó tính điểm trung bình cho từng câu hỏi, từ đó suy ra mức độ nhận thứccủa HS với các giá trị có văn hóa trong nếp sống
- Đối với những câu hỏi tự đánh giá và thể hiện nếp sống của bản thân chúng tôicũng tiến hành chia ra 3 mức độ sau:
+ Thường xuyên 3 điểm
+ Thỉnh thoảng 2 điểm
+ Ít khi thể hiện 1điểm
Tiếp theo tính điểm trung bình cho từng câu hỏi sau đó suy ra mức độ biểu hiệncủa HS đối với các giá trị của NSCVH
- Ở phần tìm hiểu các yếu tố tích cực và tiêu cựu ảnh hưởng đến nếp sống vănhóa của HS chúng tôi tiến hành cho thang điểm như sau:
Trang 37+Ảnh hưởng nhiều 3 điểm
+ Ảnh hưởng vừa phải 2 điểm
+ Ít khi ảnh hưởng 1 điểm
+ Không ảnh hưởng 0 điểm
b Phương pháp quan sát: Thông qua phương pháp này chúng tôi muốn thu thập
thông tin về NSCVH (thiếu văn hóa) hiện nay thông qua việc HS giao tiếp ra bên ngoàivới bạn bè, thầy cô và thái độ đối với thế giới xung quanh
Nội dung quan sát: Quan sát những biểu hiện ra bên ngoài về NSCVH (thiếu
văn hóa) của HS trong quan hệ giao tiếp, học tập và sinh hoạt hằng ngày của HS
Yêu cầu khi thực hiện: Tiến hành quan sát những biểu hiện ra bên ngoài của HS
như cách nói năng, giao tiếp, hành vi biểu hiện ra với thế giới xung quanh Ghi chép
tỉ mỷ những nội dung cần quan sát, sau đó tổng kết đánh giá chung về những biểuhiện của HS hiện nay
c Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn một số HS và các thầy cô ở hai trường
để nhằm làm rõ thêm thực trạng NSCVH của HS Để biết rõ thêm những nguyênnhân biểu hiện NSCVH và thiếu văn hóa ra bên ngoài của HS
+ Qua phụ huynh HS với mục đích là muốn biết thêm về những biểu hiện vềnếp sống của HS ở gia đình như thế nào Đồng thời muốn biết thêm về những phươngpháp giáo dục ở gia đình Đây sẽ là cơ sở vô cùng quan trọng để đưa ra các biện phápgiáo dục NSCVH cho HS
d Phương pháp nghiên cứu tiểu sử cá nhân: Thông qua việc tìm hiểu hồ sơ, lí
lịch, học bạ của một số trường hợp để biết thêm những yếu tố xung quanh đã tácđộng như thế nào đến từng cá nhân
e Phương pháp giải quyết tình huống mô phỏng về nếp sống có văn hóa:
Chúng tôi đưa ra một số tình huống nói về NSCVH và không có văn hóa để xem khả
Trang 38năng HS lựa chọn, xử lí như thế nào, từ đó biết thêm về thái độ và mức độ của HS với NSCVH Ở phần này chúng tôi tiến hành lên lớp thực nghiệm với hệ thống bài tập tình huống đã được xây dựng Tiến hành thực hiện và thu lại kết quả để đối chiếu với đáp
án Sau đó rút ra kết luận
f Phương pháp nghiên cứu trường hợp: Nghiên cứu một số HS có nếp sống văn
hóa được biểu hiện khác nhau, từ đó tìm hiểu những yếu tố nào đã tạo ra cho HS cónhững nếp sống đó
Tiến hành chọn một vài trường hợp trong hệ số mẫu nghiên cứu có biểu hiệnnếp sống văn hóa và thiếu văn hóa Thông qua đó tìm hiểu đâu là nguyên nhân, yếu
tố tắc động nhiều nhất Từ đây chúng tôi sẽ đi sâu tìm hiểu kỷ yếu tố đó để đưa vàonội dung giáo dục và điều chỉnh phương pháp giáo dục
- Từ việc nhận thức đúng đắn, HS sẽ có thái độ tích cực đối với những giá trịvăn hóa truyền thống của dân tộc, cũng như các giá trị văn hóa hiện đại, lên án, phêphán, những biểu hiện tiêu cực Trên cơ sở đó hình thành thói quen hành vi có vănhóa trong nếp sống
* Nội dung tác động:
Giúp HS nhận thức rõ về các giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp trong học tập,sinh hoạt, ứng xử và quan hệ xã hội, trong học tập:
Trong học tập:
- Truyền thống hiếu học, tôn trọng thầy cô giáo
- Phát huy đức tính cần cù, chăm chỉ, sáng tạo, năng động trong học tập cũngnhư trong lao động sản xuất
- Thể hiện được tính kiên trì, chịu khó, phát huy nổ lực của bản thân vươn lêntrong học tập
- Truyền thống đoàn kết, hợp tác, tương trợ lẫn nhau trong học tập và sinh hoạt
Trong giao tiếp ứng xử:
Trang 39- Coi trọng các nguyên tắc tập thể, tôn trọng mọi người, tích cực tham gia cáchoạt động xã hội.
- Đề cao tình cảm, giữ chữ tín, trọng tình nghĩa
- Giàu lòng nhân ái, độ lượng, vị tha trong quan hệ ứng xử với mọi người
- Tế nhị, lịch sự, chân tình trong quan hệ ứng xử
Trong sinh hoạt:
- Cần biết tiết kiệm, giản dị, trong sinh hoạt
- Tích cực, chủ động, sáng tạo có khả năng lên kế hoạch cho bản thân và làmviệc độc lập
- Hình thành tác phong công nghiệp, khẩn trương, chính xác giờ giấc, đề caotính hiệu quả trong công việc
- Gọn gàng, nề nếp vệ sinh trong sinh hoạt
- Bản thân cần phải biết coi trọng sức khỏe, rèn luyện thường xuyên
- Bản thân cá nhân cần phải có hiểu biết nhiều lĩnh vực trong xã hội
* Các biện pháp tác động:
Phối hợp cùng nhà trường tổ chức diễn đàn về nếp sống có văn hóa của HS.
Khi tổ chức diễn đàn với mục đích là cùng với HS xây dựng các tiêu chí,những chuẩn mực trong nếp sống sinh hoạt và học tập hàng ngày của HS gồm có:
- Trước tiên cần báo cáo sơ bộ tình hình thực trạng nếp sống của HS THPT hiệnnay thông qua kết quả điều tra sơ bộ đã tiền hành
- Tiến hành trao đổi, đối thoại cùng HS về các vấn đề tệ nạn xã hội, những vấn
đề tiêu cực mà hiện nay HS đang gặp phải
- HS tiến hành thảo luận các tiêu chí, và một số nếp sống mới hiện nay
- Đưa ra một vài mô hình nếp sống văn hóa trong sinh hoạt hàng ngày
- Tiến hành tổ chức phát động trong HS phong trào xây dựng nếp sống văn hóatrong học tập, sinh hoạt hằng ngày
Thông qua các chương trình hành động của cụ thể của Đoàn để giáo dục nếp sống cho HS
- Thông qua các chương trình cụ thể của Đoàn trường nhằm giáo dục lí tưởngXHCN cho HS, đạo đức cách mạng, xây dựng nếp sống mới cho thanh niên HS
- Kết hợp với tổ chức Đoàn xây dựng các chương trình hành động cụ thể như:
HS tự giác học tập, nâng cao trình độ, tích lũy kiến thức; thanh niên tình nguyện với
Trang 40hoạt động xã hội, lao động xây dựng quê hương; đấu tranh với các tệ nạn xã hội trong
HS và thanh niên
- Tổ chức một số cuộc thi viết về truyền thống dân tộc
- Tổ chức giáo dục cho HS nhận thức đúng các giá trị văn hóa trong cuộc sống
- Thực hiện những phong trào trong học tập như: Tuần học chất lượng; lậpthành tích chào mừng ngày nhà giáo 20/11; nghiêm túc trong thi cử và kiểm tra
Mời chuyên gia nói chuyện về văn hóa và văn hóa trong lối sống
Tổ chức buổi nói chuyện nhằm giúp HS hiểu biết thêm về văn hóa trong nếpsống, lối sống nhằm khơi dậy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc
- Nói nhiều về truyền thống văn hóa của dân tộc
- Đặc điểm lứa tuổi THPT và những lối sống của HS
- Nếp sống hiện nay của HS THPT và những yêu cầu của xã hội đối với họ
Phối hợp cùng với một số giáo viên (giáo viên dạy Giáo dục công dân) tiến hành tọa đàm về nếp sống trong học tập
- Tìm hiểu thực tế quan niệm của HS, nếu xây dựng được một NSCVH lànhmạnh thì sẽ có tác dụng như thế nào? Và nếp sống thiếu văn hóa sẽ ra sao?
- Lắng nghe ý kiến của HS
- Đưa ra hệ thống giá trị cho HS sắp xếp lựa chọn giá trị nào phù hợp với mình
h Phương pháp thống kê toán học
Sử dụng một số công thức toán thống kê như công thức tính trung bình tổng thể,tìm hệ số tương quan, kiểm tra độ tin cậy, tính phương sai, độ lệch chuẩn….để xử lí
số liệu sau khi thu thập
Xử lý theo từng câu để tìm ra số liệu của từng nội dung, tính tổng điểm, điểmtrung bình, tính phần trăm, hệ số tương quan… theo các công thức sau:
+ Tính trung bình cộng:
n
x n i i
1 là tổng điểm đạt được của khách thể nghiên cứu.
+ Tính phần trăm:
n
m 100
%= ×
Trong đó: m: số lượng khách thể trả lời.
N: số lượng khách thể được nghiên cứu