Xuất phát từ yêu cầu nâng cao hiệu quả giáo dục lịch sử nói chung và giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo nói riêng trong các nhà trường trung học phổ thông, chúng tôi chọn vấn đề : Sử dụn
Trang 1ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 2ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI
Trang 3LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn này, tôi xin trân trọng cảm ơn TS Nguyễn Văn Ninh – người đã tận tình hướng dẫn và giúp đỡ tôi trong suốt quá trình làm luận văn, cung cấp những tài liệu cần thiết để phục vụ cho việc nghiên cứu
Tôi xin chân thành cảm ơn sự giúp đỡ của Ban lãnh đạo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, cảm ơn sự góp ý của các thầy cô đã trực tiếp giảng dạy tôi trong quá trình tôi học tập, nghiên cứu tại trường
Xin trân trọng cảm ơn Ban giám hiệu, các thầy cô giáo, các em học sinh các trường THPT Cẩm Giàng I, THPT Cẩm Giàng II, THPT Tuệ Tĩnh – Cẩm Giàng – Hải Dương đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn
Cuối cùng, tôi xin chân thành cảm ơn gia đình, bạn bè đã động viên và tạo điều kiện cho tôi hoàn thành khóa học cũng như luận văn này
Hà Nội, tháng 10 năm 2015
Tác giả
Đặng Thị Huế
Trang 4MỤC LỤC
Lời cảm ơn i Mục lục ii
MỞ ĐẦU 1 CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ TIỆU VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH
SỬ Ở TRƯỜNG THPT 13
1.1 Cơ sở lí luận 13 1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ 13 1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường THPT 15 1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển, đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 19 1.2 Cơ sở thực tiễn 23 1.2.1 Thực trạng sử dụng tư liệu về chủ quyền biển, đảo tổ quốc trong dạy học lịch
sử ở trường trung học phổ thông 23 1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết 29
CHƯƠNG 2: CÁC HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU VỀ CHỦ QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG 32
2.1 Các loại tư liệu chủ yếu về chủ quyền biển đảo tổ quốc có thể khai thác, sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 32 2.2 Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 33 2.2.1 Yêu cầu về tư liệu 33 2.2.2 Yêu cầu khi xác định các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông 34 2.3 Những nội dung lịch sử liên quan, có thể khai thác, sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong chương trình sách giáo khoa lịch sử trung học phổ thông 35
Trang 52.4 Các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch
sử ở trường THPT 43
2.4.1 Các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong giờ học nội khóa 43
2.4.2 Sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong các hoạt động ngoại khóa 59
2.5 Thực nghiệm sư phạm 71
2.5.1 Mục đích thực nghiệm 71
2.5.2 Đối tượng và địa bàn thực nghiệm 71
2.5.3 Nội dung và phương pháp thực nghiệm: 71
2.5.4 Kết quả thực nghiệm: 73
KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 76
TÀI LIỆU THAM KHẢO 79
PHỤ LỤC: 82
Trang 6MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Sinh thời, chủ tịch Hồ Chí Minh đã đánh giá rất cao vai trò của thanh niên đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Người cho rằng: “Thanh niên là người chủ tương lai của nước nhà” Thật vậy, nước nhà thịnh hay suy, yếu hay mạnh, một phần lớn là do các thanh niên” [9, tr 185] Trước lúc đi xa người cũng không quên căn dặn Đảng ta “Bồi dưỡng thế hệ cách mạng cho đời sau là một việc làm rất quan trọng và cần thiết” [10, tr 510]
Lời di huấn của chủ tịch Hồ Chí Minh, trở thành tư tưởng chỉ đạo xuyên suốt đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng và nhà nước ta Nghị quyết lần thứ tư, Ban chấp hành trung ương khóa VII (1993) đã khẳng định: “Sự nghiệp đổi mới có thành công hay không, cách mạng Việt Nam có vững bước theo con đường xã hội chủ nghĩa hay không, phần lớn tùy thuộc vào lực lượng thanh niên” [ 8, tr 82] Hiện nay, giáo dục thanh niên trở thành những người vừa có tài, vừa có đức, để gìn giữ thành quả cách mạng, xây dựng và phát triển tương lai của đất nước, vẫn luôn được xác định là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu của ngành giáo dục
Bộ môn lịch sử có vai trò vô cùng to lớn trong việc giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, trân trọng những truyền thống tốt đẹp của dân tộc Đặc biệt trong
xu thế hội nhập hiện nay thì việc giáo dục cho thế hệ trẻ thấm nhuần những giá trị truyền thống, những phẩm chất cao quý tốt đẹp của dân tộc càng trở nên có ý nghĩa hơn bao giờ hết Một trong những truyền thống quý báu của dân tộc Việt nam mà thế hệ trẻ cần trân trọng, kế thừa và phát huy đó là truyền thống yêu nước, đánh giặc, bảo vệ toàn vẹn vùng đất, vùng trời, vùng biển của tổ quốc
Trong lịch sử chiều dài hàng ngàn năm lịch sử, Việt Nam luôn khẳng định là một quốc gia biển với quá trình khai phá lãnh thổ, mở mang bờ cõi hướng biển Việt
Nam có quyền lợi “sống còn” đối với việc khẳng định chủ quyền ở biển Đông Biển
Đông đóng một vai trò tối quan trọng, là một trong những yếu tố hàng đầu tạo nên
vị thế của Việt Nam ở khu vực và trên thế giới Biển Đông không chỉ là lãnh thổ, chủ quyền quốc gia thiêng liêng của Việt Nam mà còn là nơi có tiềm năng kinh tế khổng lồ, nhất là dầu khí và nguồn thủy sản, giúp cho Việt Nam có thể khẳng định được sức mạnh kinh tế của mình ở khu vực Hơn thế nữa, biển Đông có một vị trí
Trang 7đặc biệt quan trọng đối với việc mở rộng giao lưu hợp tác quốc tế và an ninh quốc gia của Việt Nam Tuy nhiên, hiện nay vấn đề bảo vệ chủ quyền quốc gia trên biển đang đứng trước nhiều khó khăn, thách thức, gần đây nhất là việc Trung Quốc hạ đặt dàn khoan trái phép, xâm phạm chủ quyền biển đảo của nước ta Trước những diễn biến phức tạp của tình hình Biển Đông thì việc tuyên truyền, giáo dục ý thức
về chủ quyền biển đảo tổ quốc cho thế hệ trẻ là một nhiệm vụ cần thiết và mang tính chiến lược
Biển đảo Việt Nam là một phần lãnh thổ thiêng liêng không thể tách rời của
Tổ quốc Trách nhiệm của mỗi người dân Việt Nam là ra sức gìn giữ sự toàn vẹn phần lãnh thổ này như lời Bác Hồ năm xưa đã dặn “Các Vua Hùng đã có công dựng nước, Bác cháu ta phải cùng nhau giữ nước” Để học sinh - những chủ nhân tương lai của đất nước, ý thức sâu sắc trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc nói chung và chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng, thì đòi hỏi người giáo viên lịch sử phải cố gắng, nỗ lực nhiều hơn trong công tác giáo dục của mình
Hiện nay có nhiều cách thức, nhiều phương pháp để giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh, nhưng làm thế nào để khắc sâu ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo? làm thế nào để thế hệ trẻ Việt Nam tự tin khẳng định với thế giới chủ quyền biển đảo của tổ quốc? thì đòi hỏi người giáo viên lịch sử phải biết lựa chọn và vận dụng linh hoạt các phương pháp sư phạm phù hợp, giúp học sinh nắm bắt và hiểu sâu sắc kiến thức về chủ quyền biển đảo, từ đó hình thành ở các em
ý thức công dân với việc bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc Ở các trường trung học phổ thông, đa số giáo viên lịch sử đã nhận thức được tầm quan trọng của việc đưa nội dung giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc vào giảng dạy Tuy nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo tổ quốc không có trong chương trình sách giáo khoa, nhưng các nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo thì rất phong phú, giáo viên
có thể dễ dàng sưu tầm và sử dụng trong công tác giảng dạy Gần đây Bộ giáo dục cũng đã kịp thời có kế hoạch bồi dưỡng, tập huấn về nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo tổ quốc trong nhà trường, đây cũng là một thuận lợi đối với giáo viên lịch
sử trong việc thực hiện nhiệm vụ giáo dục chủ quyền biển đảo Nhưng nhìn chung
là vẫn chưa có một tài liệu nào về giáo dục chủ quyền biển đảo được biên soạn chi
Trang 8tiết về cả nội dung và phương pháp dành cho giáo viên Chính vì vậy để đạt hiệu quả cao trong giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh, vẫn rất cần
ở người giáo viên lịch sử sự tận tâm với nghề Giáo viên cần không ngừng tìm tòi, nghiên cứu các phương pháp dạy học, vận dụng linh hoạt và sáng tạo các phương pháp dạy học khi sử dụng nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử, nhất là dạy học lịch sử ở nhà trường trung học phổ thông
Xuất phát từ yêu cầu nâng cao hiệu quả giáo dục lịch sử nói chung và giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo nói riêng trong các nhà trường trung học phổ thông,
chúng tôi chọn vấn đề : Sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, làm đề tài luận văn thạc sỹ chuyên
ngành lí luận và phương pháp dạy học bộ môn lịch sử
2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề
Dạy học Lịch sử nói chung và dạy học về vấn đề chủ quyền biển, đảo tổ quốc nói riêng ở trường trung học phổ thông đã và đang được các nhà lý luận dạy học, các chuyên gia, các nhà sử học, cùng nhiều giáo viên trong và ngoài nước quan tâm nghiên cứu Dưới đây là một số tài liệu có liên quan đến đề tài mà chúng tôi tiếp cận
và sử dụng làm tài liệu tham khảo trong quá trình nghiên cứu, hoàn thành luận văn:
2.1 Các công trình nghiên cứu, bài viết về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc
- Sau khi Nghị quyết Hội nghị lần thứ tư của Ban Chấp hành trung ương Đảng (khóa X) về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020 ra đời, Trung tâm thông tin công tác tư tưởng phối hợp với Cục chính trị Quân chủng Hải quân biên soạn cuốn
“Biển và hải đảo Việt Nam” xuất bản tại Hà Nội, năm 2007 Những nội dung cơ bản của tài liệu đã làm rõ về quan điểm, chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước trong việc phấn đấu để nước ta trở thành một quốc gia mạnh về biển, giàu lên
từ biển, bảo vệ vững chắc chủ quyền quốc gia trên biển Cuốn sách cũng đề cập nhiều tư liệu quan trọng của Việt Nam và quốc tế là những chứng cứ khẳng định chủ quyền biển đảo tổ quốc
- Các tác giả Nguyễn Nhã- Nguyễn Đình Đầu- Lê Minh Nghĩa- Từ Đặng Minh Thu
- Vũ Quang Việt trong cuốn “ Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam” do Nhà xuất
bản trẻ, Thành phố Hồ Chí Minh phát hành năm 2008 đã khẳng định đanh thép
Trang 9Hoàng Sa, Trường Sa là của Việt Nam bằng việc đưa ra rất nhiều những dẫn chứng lịch sử cụ thể về chủ quyền Hoàng Sa và Trường Sa
- Trong “Những điều cần biết về Đất - Biển - Trời Việt Nam” của tác giả Lưu Văn Lợi (2010) đã khẳng định rằng: Trên chặng đường bốn mươi thế kỉ , dân tộc ta đã kiên trì và từng bước mở rộng ra Biển Đông, từ ven bờ tiến ra biển gần, rồi biển xa,
từ đất liền tiến vào các đảo ven bờ rồi các đảo xa hơn
- Nhìn ra biển khơi”là cuốn sách do tác giả Hà Minh Hồng (Chủ biên) và nhóm tác giả của Trung tâm nghiên cứu biển và đảo trường Đại học Khoa học xã hội và nhân văn – Đại học Quốc Gia thành phố Hồ Chí Minh – Nhóm khảo sử Nam Bộ biên soạn và phát hành năm 2012 Đây là cuốn sách có nội dung phong phú về biển đảo, được tiếp cận qua lăng kính lịch sử với nhiều tư liệu chính thống, được phổ biến trên những phương tiện thông tin đại chúng, nhằm cung cấp cho người muốn tìm hiểu và nghiên cứu một góc nhìn hệ thống về biển đảo Việt Nam ngày nay
- Tác giả Trần Công Trục (2011) trong cuốn “Dấu Ấn Việt Nam trên Biển Đông” đã nhấn mạnh vị trí vai trò của Biển Đông trong lịch sử dân tộc, đồng thờicung cấp thông tin chính xác về tình hình biển, đảo đến với người dân Cuốn sách còn chuyển tải những quan điểm, quy định đúng đắn, khách quan của nhà nước Việt Nam, phù hợp với Công ước Luật Biển của Liên Hợp Quốc 1982 về các vấn đề tranh chấp trên Biển Đông cũng như việc thực hiện nghĩa vụ của Nhà nước Việt Nam trước cộng đồng quốc tế
- Tiếp tục khẳng định về chủ quyền biển, đảo Việt Nam, “Người Việt với biển” của tác giả Nguyễn Văn Kim (2011) đã tập trung khai thác và lý giải mối quan hệ giữa đất nước Việt Nam, dân tộc Việt Nam với thế giới bên ngoài qua con đường biển Tác giả nhấn mạnh: Chủ quyền và an ninh biển là chủ đề được quan tâm xuyên suốt theo dòng chảy của lịch sử đất nước… Việc bảo vệ chủ quyền, giữ gìn an ninh, phát triển kinh tế biển là nhiệm vụ mang tính chiến lược lâu dài
- Bộ giáo dục và Đào tạo đã ban hành cuốn “Tài liệu hướng dẫn dạy học nội dung
giáo dục tài nguyên và môi trường biển, đảo cho học sinh Trung học phổ thông”(2011) nhằm bổ sung thêm thông tin và giáo dục cho học sinh những hiểu
biết cần thiết về tiềm năng của biển, về việc khai thác hợp lí tài nguyên thiên nhiên và bảo vệ môi trường biển, đảo, đặc biệt là vấn đề bảo vệ chủ quyền biển,
Trang 10đảo Tổ quốc Tài liệu cũng đưa ra những cách thức tổ chức hoạt động ngoại khóa
để giáo dục cho học sinh ý thức về chủ quyền biển, đảo Tổ quốc trong nhà trường phổ thông
- Vụ giáo dục quốc phòng và chương trình phát triển Giáo dục phổ đã ban hành cuốn “Tài liệu tập huấn giáo viên cốt cán giáo dục quốc phòng- an ninh” (2012) Các tác giả đã khẳng định về chủ quyền biển, đảo của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam trên cơ sở những văn bản của Đảng, Nhà nước về biển, đảo và các các chứng cứ lịch sử chứng minh chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
- Tháng 7/2013, Nhà xuất bản Giáo dục Việt Nam đã giới thiệu tác phẩm “Những bằng chứng về chủ quyền của Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa, Trường Sa” của tác giả Hãn Nguyên (Nguyễn Nhã) Cuốn sách này gồm có 6 chương Năm chương đầu, tác giả tập hợp và nghiên cứu có hệ thống các tư liệu liên quan đến việc khẳng định chủ quyền của Việt tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Chương cuối đề cập tới vị trí, tầm quan trọng chiến lược của hai quần đảo này đối với việc phát triển kinh tế, an ninh quốc phòng của đất nước Nguồn tư liệu mà tác giả khảo cứu rất đa dạng, phong phú, không chỉ của người Việt Nam mà còn của người phương Tây, và của chính người Trung Quốc Cuốn sách này giúp người đọc hiểu thấu đáo hơn về chủ quyền biển, đảo của Việt Nam tại hai quần đảo Hoàng Sa
và Trường Sa
- Tháng 5/2014 Bộ Thông tin và Truyền thông tổ chức Lễ tiếp nhận và công
bố Bộ Atlas bản đồ thế giới của Philipe Vandemaelen xuất bản năm 1827, có giá trị quan trọng, khẳng định chủ quyền Việt Nam đối với hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Thứ trưởng Bộ Thông tin Truyền thông Trương Minh Tuấn nhấn mạnh:
“Bộ Atlas được nhiều nhà khoa học Pháp và Mỹ khẳng định là bằng chứng không thể chối cãi về chủ quyền Hoàng Sa, Trường Sa của Việt Nam”
- Ở Khánh Hòa, Uỷ Ban Nhân Dân tỉnh đã cho xuất bản cuốn “Văn hóa biển đảo Khánh Hòa”(2012) Sách đã tập hợp những bài viết đề cập tới việc bảo tồn, giữ gìn
và phát huy tác dụng những di sản văn hóa liên quan đến quá trình xác lập, thực thi chủ quyền và xây dựng quần đảo Trường Sa Tài liệu này góp phần vào việc giáo dục truyền thống yêu nước, uống nước nhớ nguồn, ghi nhớ công lao của các bậc
Trang 11tiền nhân đối với đất nước Đồng thời nâng cao nhận thức và trách nhiệm của cán
bộ, nhân dân, đặc biệt là thế hệ trẻ trong việc tiếp nối cha anh giữ vững chủ quyền biển, đảo Tổ quốc
- Cuối năm 2013, Tài liệu giảng dạy và học tập Lịch sử Khánh Hòa ở trường THCS, THPT ở Khánh Hòa do TS Nguyễn Thị Kim Hoa chủ biên đã được Sở GD&ĐT xuất bản, trong đó, nhiều bài học phản ánh tiềm năng thế mạnh của biển, đảo Khánh Hòa Tài liệu có bài ngoại khóa về lịch sử chủ quyền biển, đảo - Trường Sa, Hoàng
Sa tạo điều kiện thuận lợi cho GV phổ thông trong tỉnh khi dạy học những nội dung
về chủ quyền biển, đảo Những công trình nghiên cứu nêu trên chính là nguồn tài liệu tham khảo quan trọng cho chúng tôi khi thực hiện đề tài Luận văn này
- Trong bài viết “ Chủ trương của Đảng và Nhà nước Việt Nam về kết hợp phát
triển kinh tế biển và bảo vệ chủ quyền biển, đảo (1986- 2007)”.Tác giả Vũ Quang
Hiển đã nhấn mạnh đến những giá trị chiến lược của biển đảo Việt Nam Tác giả đưa ra những chủ trương lớn của Đảng Cộng Sản Việt Nam trong việc tổ chức tốt việc bảo vệ chủ quyền, và giữ vững an ninh các tuyến biên giới, vùng trời, vùng biển, hải đảo
- Trong cuốn “Hoàng Sa, Trường Sa hỏi và đáp” của tác giả Trần Nam Tiến, do
Nhà xuất bản trẻ phát hành năm 2012, đã giải đáp rất nhiều những vấn đề về chủ quyền biển đảo tổ quốc thông qua những câu hỏi cụ thể
- Đầu tháng 6/ 2014, nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu đã công bố cuốn sách “Chủ quyền Việt Nam trên Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa”, gồm 8 chương, dày 367 trang khổ lớn, tập hợp những chứng liệu lịch sử và hơn 200 bản đồ cổ khẳng định Việt Nam đã làm chủ phần lớn Biển Đông từ hàng trăm năm trước Nói về cuốn sách này, PGS TS Phan Thanh Bình, Giám đốc Đại học quốc gia TP Hồ Chí Minh nhấn mạnh: Với sự công phu, phân tích chính xác những văn bản cổ, bút ký, họa đồ, hải đồ, cuốn sách của nhà nghiên cứu Nguyễn Đình Đầu cho công chúng có cái nhìn chân thực hơn, toàn diện hơn về chủ quyền Tổ quốc Đây là những bằng chứng mà các nước phương Tây cũng như chính Trung Hoa ghi nhận về chủ quyền của Việt Nam đối với Biển Đông và Hoàng Sa, Trường Sa
- Cuốn “Hoàng Sa, Trường Sa trong thư tịch cổ” do Đinh Kim Phúc chủ biên, do Nhà bản hội nhà văn phát hành năm 2014 đã công bố nhiều dẫn chứng về chủ quyền
Trang 12Hoàng Sa, Trường Sa trong thư tịch cổ Việt Nam, Trung Quốc, các ghi chép hoặc bản đồ docá giáo sĩ phương Tây vẽ trên đường truyền giáo ở Trung Quốc Cuốn sách cũng gồmnhững bài phản biện lại tài liệu và chứng cứ lịch sử vô căn cứ mà Trung Quốc đưa ra để tranh chấp Hoàng Sa và Trường Sa của ta
- Các tác giả Trần Viết Lưu – Đặng Công Minh – Đinh Văn Bắc trong cuốn Giáo
dục chủ quyền biển đảo cho thế hệ trẻ Việt Nam (2014), đã khẳng định sự cần thiết
phải giáo dục chủ quyền biển đảo tổ quốc cho thế hệ trẻ Các tác giả cũng đã khảo cứu đưa ra biện pháp giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh trong một số bài nội khóa liên quan và đề xuất một vài biện pháp tổ chức các hoạt động ngoại khóa về chủ quyền biển đảo
Các công cuốn sách, bài nghiên cứu…đề cập đến những khía cạnh khác nhau
về biển đảo tổ quốc, nhưng tất cả đều có chung một mục đích là khẳng định chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc, khẳng định vấn đề cần thiết phải bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc
2.2 Các công trình nghiên cứu về giáo dục học và giáo dục lịch sử
* Tài liệu dịch
- Tiến sĩ N.G Đai ri với công trình “Chuẩn bị giờ học lịch sử như thế nào” ( 1973), Nxb Giáo dục, Hà Nội, đã nêu lên những vấn đề quan trọng của việc dạy học bộ môn.Tác giả chỉ rõ tiến hành một giờ học được tổ chức một cách khoa học và có hiệu quả Muốn tiến hành giờ học Lịch sử đạt hiệu quả cao thì cần phải chuẩn bị giáo án, vận dụng linh hoạt các khâu, các phương pháp dạy học Đồng thời tác giả nhấn mạnh tính cụ thể, tính hình ảnh của sự kiện có một giá trị lớn lao, bởi vì chúng cho phép hình dung lại quá khứ, và quan niệm về tổ chức công tác nghiên cứu thực
tế, nghiên cứu tại những nơi xảy ra các sự kiện lịch sử là một trong những điều kiện hiện có của hoạt động dạy và học để hình thành tư duy tự lập và tính tự lập của học sinh Ông cũng đưa ra một sơ đồ, có thể được coi như kim chỉ nam cho người GV Lịch sử về cách sử dụng linh hoạt các tư liệu để làm rõ kiến thức cơ bản trong SGK
- I.Ia.Lecne, nhà giáo dục Liên Xô trước đây, trong cuốn “Phát triển tư học sinh trong dạy học Lịch sử” (tài liệu dịch thư viện trường ĐHSP Hà Nội, 1981), tác giả đặc biệt nhấn mạnh đến con đường, biện pháp trong dạy học Lịch sử nhằm phát triển tư duy cho học sinh như: Dạy học nêu vấn đề, dạy học trực quan Ông chỉ rõ
Trang 13các biện pháp kích thích năng lực sáng tạo, tính tích cực nhận thức của HS để nâng cao chất lượng của giờ học Lịch sử
- A.A.Vaghin, nhà nghiên cứu phương pháp dạy học Liên Xô trước đây, trong cuốn
“Phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông” đã đề cập đến các biện pháp nâng cao chất lượng dạy học lịch sử như vai trò của đồ trực quan, ý nghĩa của việc
sử dụng SGK và tài liệu kiến thức lịch sử
* Tài liệu giáo dục học và giáo dục lịch sử trong nước
- Tài liệu giáo dục học:
+ Giáo trình “Giáo dục học” của Hà Thế Ngữ và Đặng Vũ Hoạt (Tập 1, Nxb GD,
1987) có đề cập đến các phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cực của học sinh
+ Bài viết “Phương pháp dạy học tích cực” của GS Trần Bá Hoành (Tạp chí nghiên cứu Giáo dục số 4/ 2000) đã vẽ bức tranh tổng quát về phương pháp dạy học tích cực
+ TS Đặng Thành Hưng trong cuốn “Dạy học hiện đại: lí luận - biện pháp – kĩ
thuật” (Nxb ĐHQG, 2002) đề cập đến nhiều lí luận dạy học hiện đại, đặc biệt là
những lí luận, biện pháp, kĩ thuật phát huy tính tích cực của học sinh Đây là những
- Tài liệu về phương pháp giáo dục lịch sử:
Trước hết phải đề cập đến các cuốn giáo trình như: “Phương pháp dạy học Lịch sử”, GS Phan Ngọc Liên, Trần Văn Trị (Chủ biên), tập 1, Nhà xuất bản Giáo dục, năm 1976, tập 2 năm 1980; cuốn “Phương pháp dạy học Lịch sử”, tập 1, 2 do Phan Ngọc Liên (Chủ biên), Trịnh Đình Tùng, Nguyễn Thị Côi, Nhà xuất bản Đại học sư phạm, (2002), tái bản có sửa chữa bổ sung năm 2009, 2010 Trong các cuốn giáo trình trên, các tác giả đã đề cập một cách toàn diện các vấn đề về Phương pháp dạy học Lịch sử ở trường phổ thông Các cuốn giáo trình đã chỉ rõ ưu thế của bộ
Trang 14môn Lịch sử trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm cho thế hệ trẻ, nội dung, nguyên tắc, biện pháp giáo dục Bên cạnh đó, các tác giả đã có những nhìn nhận và đánh giá đúng về vai trò, vị trí của các hoạt động nội khóa, ngoại khóa trong dạy học Lịch sử Ngoài ra còn phải kể đến các công trình nghiên cứu khác của các tác giả như: “Hệ thống các phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học cơ sở” do tác giả Trịnh Đình Tùng (Chủ biên), (2005); “Một số chuyên đề phương pháp dạy học Lịch sử”,
do GS Phan Ngọc Liên và một số tác giả khác (Chủ biên), 2002, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội; “Con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học Lịch sử ở trường phổ thông”, của GS Nguyễn Thị Côi, 2008, Nhà xuất bản Đại học sư phạm,
Hà Nội; “Đổi mới dạy học lịch sử lấy học sinh làm trung tâm”, Hội giáo dục Lịch
sử, 1996, Nhà xuất bản Đại học Quốc gia, Hà Nội Đây là những bộ sách quý, cung cấp phần đáng kể những kiến thức về Phương pháp dạy học bộ môn Lịch sử, các hình thức tổ chức dạy học theo hướng phát huy tính tích cực của học sinh Các tác giả đã đưa ra những nguyên tắc và biện pháp giáo dục thái độ, tình cảm, tư tưởng cho học sinh trong dạy học Lịch sử Theo các tác giả, giáo dục thái độ, tình cảm, tư tưởng chính trị, truyền thống dân tộc, phẩm chất đạo đức cho học sinh qua dạy học lịch sử ở trường phổ thông là điều rất cần thiết và quan trọng Song, việc giáo dục phải chú trọng ở tính hiệu quả, phải xuất phát từ nhiệm vụ giáo dục thế hệ trẻ nói chung, từ mục tiêu đào tạo của nhà trường, nội dung, chức năng, nhiệm vụ bộ môn
để lựa chọn các biện pháp sư phạm có hiệu quả giáo dục cao
Bên cạnh đó cũng có rất nhiều các công trình khoa học nghiên cứu, bài viết tổng hợp về các vấn đề liên quan đến giáo dục lịch sử nói chung và liên quan đến đề tài nói riêng được đăng trên các Tạp chí nghiên cứu giáo dục, Tạp chí nghiên cứu Lịch sử ; một số Luận án, Luận văn của nghiên cứu sinh, học viên cao học các trường Đại học Sư phạm Hà Nội, Đại học Quốc gia Hà Nội, Đại học Vinh
đã đề cập đến nội dung của đề tài như: Luận văn Thạc sĩ của Vũ Thị Hiền với đề tài:
"Tổ chức hoạt động ngoại khóa về chủ quyền biển, đảo Việt Nam trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông" (năm 2014; luận văn thạc sĩ của Đậu Thị Hải Vân với
đề tài “Giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh trong dạy học lịch
sử Việt Nam lớp 10, trung học phổ thông chương trình chuẩn (2012)… tạo điều
kiện thuận lợi trong quá trình thực hiện đề tài Tóm lại, tất cả những tài liệu nêu trên
Trang 15có ý nghĩa hết sức quan trọng và đáng tin cậy Cùng với sự giúp đỡ của thầy TS
Nguyễn Văn Ninh, chúng tôi đã tiến hành nghiên cứu, sưu tầm, khai thác tài liệu để
thực hiện đề tài khoa học sư phạm “ Sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông”
3 Đối tượng nghiên cứu: Quá trình sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc
trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
4 Mục đích và nhiệm vụ đề tài
4.1 Mục đích
Đề tài không chỉ nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức về chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh trung học phổ thông nói riêng mà còn góp phần nâng cao chất lượng bộ môn lịch sử ở trường phổ thông nói chung
5.1 Phạm vi nội dung: Luận văn tập trung nghiên cứu vào các biện pháp sử dụng
tư liệu về chủ quyền biển đảo trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
5.2 Phạm vi thực nghiệm: Một số trường trung học phổ thông trên địa bàn Hải
Dương
6 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
6.1 Cơ sở phương pháp luận
Dựa trên các quan điểm, đường lối của Đảng và nhà nước về giáo dục và đào tạo Dựa trên những thành tựu nghiên cứu mới về lí luận giáo dục, tâm lí học, phương pháp dạy học lịch sử của các nhà nghiên cứu khoa học, giáo dục lịch sử, nghiên cứu lịch sử
6.2 Phương pháp nghiên cứu
* Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Trang 16- Nghiên cứu các nghị quyết của Đảng, Nhà nước, các văn bản của Bộ GD&ĐT, của các cấp ngành có liên quan đến đề tài Các công trình, các nguồn tài liệu: Sách, báo, tạp chí, internet
- Nghiên cứu những nội dung cơ bản của lịch sử Việt Nam trong chương trình THPT và việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển, đảo trong dạy học lịch sử ở trường phổ thông
* Phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Quan sát, điều tra thực trạng giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh nói chung và thực trạng sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông nói riêng
- Sưu tầm các tài liệu có liên quan đến đề tài
- Thực nghiệm sư phạm
7 Giả thuyết khoa học
Trong quá trình dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học, vận dụng sáng tạo, linh hoạt các phương pháp dạy học lịch sử, phù hợp với điều kiện thực tế tại các trường trung học phổ thông thì sẽ nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh nói riêng và nâng cao chất lượng dạy học bộ môn nói chung
8 Ý nghĩa của luận văn
- Ý nghĩa khoa học: Kết quả nghiên cứu đề tài góp phần làm phong phú về mặt lí luận, khẳng định vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển, đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
9 Cấu trúc luận văn
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, tài liệu tham khảo, phụ lục, nội dung luận văn được trình bày trong 2 chương:
Trang 17Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Chương 2: Các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Trang 18CHƯƠNG 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG TƯ TIỆU VỀ CHỦ
QUYỀN BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC TRONG DẠY HỌCLỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
1.1 Cơ sở lí luận
1.1.1 Một số khái niệm, thuật ngữ
- “Tư liệu”: Là những thứ vật chất con người sử dụng trong một lĩnh vực hoạt động
nhất định nào đó, cụ thể như tư liệu sinh hoạt hay tư liệu sản xuất; tư liệu cũng là những tài liệu sử dụng cho việc học tập, nghiên cứu ( Tư liệu tham khảo, phim tư liệu…)
- “ Tư liệu về chủ quyền biển đảo”: Là những tài liệu phục vụ cho việc học tập,
nghiên cứu về chủ quyền biển đảo tổ quốc Những tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc không chỉ là tư liệu lịch sử mà nó còn là tư liệu của nhiều lĩnh vực, nhiều ngành liên quan đến biển đảo như tư liệu địa lí, văn học, quốc phòng, tôn giáo, âm nhạc… Những tư liệu góp phần khẳng định chủ quyền biển đảo, khẳng định tầm quan trọng của biển đảo trong việc phát triển kinh tế- chính trị- xã hội đất nước
- “ Chủ quyền biển, đảo”: Khái niệm “ chủ quyền biển đảo” nằm trong khái niệm
“chủ quyền quốc gia”
Theo Từ điển thuật ngữ Lịch sử phổ thông: “chủ quyền quốc gia” là quyền cao nhất của một dân tộc, một quốc gia độc lập, tự mình làm chủ đất đai, tài sản, tự mình quyết định vận mệnh của mình Những nội dung này được khẳng định trong pháp luật mỗi nước, trong văn bản pháp lí quốc tế, là nguyên tắc cơ bản cần tuân theo”
Vì vậy, “ Chủ quyền lãnh thổ quốc gia” là quyền tối cao tuyệt đối, hoàn toàn và riêng biệt của quốc gia đối với lãnh thổ và trên lãnh thổ của mình Quyền tối cao của quốc gia đối với lãnh thổ là quyền quyết định mọi vấn đề của quốc gia đối với lãnh thổ, đó là quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm Mỗi quốc gia có quyền đặt ra quy chế pháp lí đối với lãnh thổ Với tư cách là chủ sở hữu, Nhà nước có quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt đối với lãnh thổ thông qua hoạt động của các cơ quan nhà nước như hoạt động lập pháp, hành pháp và tư pháp
Trang 19Theo hiến pháp của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam: “ Nước cộng
hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một nước độc lập có chủ quyền thống nhất và
toàn vẹn lãnh thổ, bao gồm đất liền, các hải đảo, vùng biển và vùng trời”
- Một số khái nằm trong khái niệm chủ quyền biển đảo tổ quốc
+ Lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam rộng 12 hải lý, ở phía
ngoài đường cơ sở nối liền các điểm nhô ra nhất của bờ biển và các điểm ngoài cùng của các đảo ven bờ của Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện chủ quyền đầy đủ và toàn vẹn đối với lãnh hải của mình cũng như đối với vùng trời, đáy biển và lòng đất dưới đáy biển của lãnh hãi
+ Vùng tiếp giáp lãnh hải của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là vùng
biển tiếp liền phía ngoài lãnh hải Việt Nam có chiều rộng là 12 hải lý hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 24 hải lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Chính phủ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thực hiện sự kiểm soát cần thiết trong vùng tiếp giáp lãnh hải của mình, nhằm bảo vệ an ninh, bảo vệ các quyền lợi về hải quan, thuế khóa, đảm bảo sự tôn trọng các quy định về y tế, về di cư, nhập cư trên lãnh thổ hoặc trong lãnh hải Việt Nam
+ Vùng đặc quyền kinh tế của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam tiếp liền
lãnh hải Việt Nam và hợp với lãnh hải Việt Nam thành một vùng biển rộng 200 hải
lý kể từ đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về việc thăm dò, khai thác, bảo vệ
và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên, sinh vật và không sinh vật ở vùng nước, ở đáy biển và trong lòng đất dưới đáy biển của vùng đặc quyền kinh tế Việt Nam; có quyền và thẩm quyền riêng biệt về các hoạt động khác phục vụ cho việc thăm dò và khai thác vùng đặc quyền kinh tế; có thẩm quyền riêng biệt về nghiên cứu khoa học trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có thẩm quyền bảo vệ môi trường, chống ô nhiễm trong vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam
+ Thềm lục địa của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam bao gồm đáy biển và
lòng đất dưới đáy biển thuộc phần kéo dài tự nhiên của lục địa Việt Nam mở rộng ra ngoài lãnh hải Việt Nam cho đến bờ ngoài của rìa lục địa Nếu nơi nào bờ ngoài của rìa lục địa cách đường cơ sở dùng để tính chiều rộng lãnh hải Việt Nam không đến
Trang 20200 hải lý thì thềm lục địa nơi ấy mở rộng ra 200 hải lý kể từ đường cơ sở đó Nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có chủ quyền hoàn toàn về thăm dò, khai thác, bảo vệ và quản lý tất cả các tài nguyên thiên nhiên ở thềm lục địa Việt Nam bao gồm tài nguyên khoáng sản, tài nguyên không sinh vật và tài nguyên sinh vật thuộc loại định cư ở thềm lục địa Việt Nam
+ “Phạm vi nội thủy”: Công ước của Liên Hợp Quốc về Luật Biển năm 1982 quy
định: “Các vùng nước ở phía bên trong đường cơ sở của lãnh hải
Như vậy, bảo vệ “chủ quyền biển đảo tổ quốc” chính là bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ, bảo vệ những quyền thiêng liêng, bất khả xâm phạm của tổ quốc
1.1.2 Cơ sở xuất phát của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
1.1.2.1 Mục tiêu và nhiệm vụ của bộ môn Lịch sử
Hiện nay nước ta đang đẩy mạnh phát triển kinh tế trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế với sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật, của những mối quan hệ, những ảnh hưởng và tác động lẫn nhau giữa các quốc gia, dân tộc trên thế giới Quá trình hội nhập đã và đang tạo ra những thời cơ và thách thức với Việt Nam, đặt ra những yêu cầu mới trong việc giáo dục truyền thống văn hóa dân tộc và tiếp thu những tinh hoa văn hóa nhân loại
Trước những yêu cầu của thời đại, Đảng ta đã đề ra mục tiêu phát triển văn hóa dân tộc đến năm 2020: “ …tiếp tục đẩy mạnh công tác bảo tồn, kế thừa và phát huy các giá trị tốt đẹp của văn hóa dân tộc, vừa phát huy mạnh mẽ tính đa dạng, bản sắc độc đáo của văn hóa các dân tộc anh em, vừa kiên trì củng cố và nâng cao tính thống nhất trong đa dạng của văn hóa Việt Nam, tập trung xây dựng những giá trị văn hóa mới, đi đôi với việc mở rộng và chủ động trong giao lưu quốc tế, tiếp nhận
có chọn lọc tinh hoa văn hóa thế giới, làm phong phú thêm nền văn hóa dân tộc, bắt kịp sự phát triển của thời đại” [12, tr 15 – 16]
Trên cơ sở mục tiêu phát triển văn hóa chung của đất nước, chương trình lịch
sử ở trường phổ thông cũng đã xác định mục tiêu của bộ môn: “…góp phần hình thành ở học sinh thế giới quan khoa học, giáo dục lòng yêu quê hương đất nước, truyền thống dân tộc, cách mạng, bồi dưỡng các năng lực tư duy, hành động, thái độ ứng xử đúng đắn trong đời sống xã hội” [23, tr 206]
Trang 21Từ mục tiêu bộ môn lịch sử ở trường phổ thông, cho thấy việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông là thực sự cần thiết Qua sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo trong dạy học lịch sử sẽ trang bị cho học sinh những kiến thức chính xác, cụ thể về chủ quyền biển đảo tổ quốc, qua đó giúp các em nhận thức sâu sắc vai trò, giá trị của biển đảo đối với nhiệm vụ phát triển đất nước trong lịch sử cũng như trong hiện tại và tương lai Nắm vững những kiến thức về chủ quyền biển đảo, là cơ sở để học sinh tự hào về truyền thống yêu nước, bảo vệ chủ quyền đất nước của nhân dân ta, học sinh ý thức được trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ sự toàn vẹn các vùng lãnh thổ tổ quốc
1.1.2.2 Yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Sự phát triển kinh tế - xã hội trong bối cảnh toàn cầu hoá đặt ra những yêu cầu mới đối với người lao động, do đó cũng đặt ra những yêu cầu mới cho sự nghiệp giáo dục thế hệ trẻ và đào tạo nguồn nhân lực Một trong những định hướng
cơ bản của việc đổi mới giáo dục là chuyển từ nền giáo dục mang tính hàn lâm, kinh viện, xa rời thực tiễn sang một nền giáo dục chú trọng việc hình thành năng lực hành động, phát huy tính chủ động, sáng tạo của người học Định hướng quan trọng trong đổi mới phương pháp dạy học là phát huy tính tích cực, tự lực và sáng tạo, phát triển năng lực hành động, năng lực cộng tác làm việc của người học Đó cũng
là những xu hướng quốc tế trong cải cách PPDH ở nhà trường phổ thông Việc đổi mới phương pháp dạy học được Đảng và nhà nước ta rất quan tâm Điều này được
cụ thể hóa trong điều 28, Luật giáo dục 2005: “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh, phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm; rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” [11, tr 37]
Lịch sử là môn học có vai trò quan trọng và trực tiếp trong việc giáo dục truyền thống yêu quê hương đất nước; giáo dục ý thức kế thừa và phát huy truyền thống tốt đẹp của dân tộc Tuy nhiên, thực tế những năm qua đã cho thấy: chất lượng học sinh học sử ngày càng kém, số lượng điểm không, điểm dưới trung bình môn Lịch sử trong các kì thi ngày càng tăng; tình trạng học sinh nắm kiến thức Lịch
Trang 22sử mơ hồ, sai lệch trở nên phố biến…Vì vậy, việc đổi mới phương pháp dạy học Lịch sử trở nên cấp thiết và phù hợp với yêu cầu đổi mới giáo dục nói chung, đáp ứng yêu cầu đào tạo nguồn nhân lực có đầy đủ những phẩm chất năng lực cần thiết trong thời kì hội nhập quốc tế hiện nay Sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, vận dụng những phương pháp dạy học mới theo hướng phát huy năng lực người học sẽ góp phần không nhỏ vào nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng tình yêu quê hương đất nước, giáo dục ý thức về
sự toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc cho thế hệ trẻ
1.1.2.3 Đặc điểm nhân cách học sinh trung học phổ thông
- Sự phát triển của tự ý thức:
Sự tự ý thức là một đặc điểm nổi bật trong sự phát triển nhân cách của học sinh THPT, nó có ý nghĩa to lớn đối với sự phát triển tâm lý của lứa tuổi này Biểu hiện của sự tự ý thức là nhu cầu tìm hiểu và tự đánh giá những đặc điểm tâm lý của mình theo chuẩn mực đạo đức của xã hội, theo quan điểm về mục đích cuộc sống… Điều
đó khiến các em quan tâm sâu sắc tới đời sống tâm lý, những phẩm chất nhân cách
và năng lực riêng Các em không chỉ nhận thức về cái tôi hiện tại của mình mà còn nhận thức về vị trí của mình trong xã hội tương lai Các em không chỉ chú ý đến vẻ bên ngoài mà còn đặc biệt chú trọng tới phẩm chất bên trong Các em có khuynh hướng phân tích và đánh giá bản thân mình một cách độc lập dù có thể có sai lầm khi đánh giá Ý thức làm người lớn khiến các em có nhu cầu khẳng định mình, muốn thể hiện cá tính của mình một cách độc đáo, muốn người khác quan tâm, chú
ý đến mình…
Nhìn chung, ở lứa tuổi học sinh trung học phổ thông (từ 15 đến 18 tuổi), các em
đã có thể tự đánh giá bản thân một cách sâu sắc, nhưng đôi khi vẫn chưa đúng đắn, vẫn có những sai lầm, phiến diện, rất cần sự định hướng và giúp đỡ kịp thời từ người lớn
- Hình thành thế giới quan:
Sự hình thành thế giới quan là nét chủ yếu trong tâm lý thanh niên vì các em sắp bước vào cuộc sống xã hội, các em có nhu cầu tìm hiểu khám phá để có quan điểm
về tự nhiên, xã hội, về các nguyên tắc và quy tắc ứng xử, những định hướng giá trị
về con người Các em quan tâm đến nhiều vấn đề như: thói quen đạo đức, cái xấu
Trang 23cái đẹp, cái thiện cái ác, quan hệ giữa cá nhân với tập thể, giữa cống hiến với hưởng thụ, giữa quyền lợi và nghĩa vụ trách nhiệm… Tuy nhiên vẫn có em chưa được giáo dục đầy đủ về thế giới quan, chịu ảnh hưởng của tư tưởng bảo thủ lạc hậu như: có thái độ coi thường phụ nữ, coi khinh lao động chân tay, ý thức tổ chức kỉ luật kém, thích có cuộc sống xa hoa, hưởng thụ, sống thụ động…
Nhìn chung, ở tuổi này các em đã có ý thức xây dựng lý tưởng sống cho mình, biết xây dựng hình ảnh con người lý tưởng gần với thực tế sinh hoạt hàng ngày Các
em có thể hiểu sâu sắc và tinh tế những khái niệm, biết xử sự một cách đúng đắn trong những hoàn cảnh, điều kiện khác nhau nhưng có khi các em lại thiếu tin tưởng vào những hành vi đó Vì vậy, giáo viên phải khéo léo, tế nhị khi phê phán những hình ảnh lý tưởng còn lệch lạc để giúp các em chọn cho mình một hình ảnh lý tưởng đúng đắn để phấn đấu vươn lên
- Xu hướng nghề nghiệp:
Thanh niên đã xuất hiện nhu cầu lựa chọn vị trí xã hội trong tương lai cho bản thân và các phương thức đạt tới vị trí xã hội ấy Xu hướng nghề nghiệp có tác dụng thúc đẩy các mặt hoạt động và điều chỉnh hoạt động của các em Càng cuối cấp học thì xu hướng nghề nghiệp càng được thể hiện rõ rệt và mang tính ổn định hơn Nhiều em biết gắn những đặc điểm riêng về thể chất, về tâm lý và khả năng của mình với yêu cầu của nghề nghiệp
- Hoạt động giao tiếp:
Các em khao khát muốn có những quan hệ bình đẳng trong cuộc sống và có nhu cầu sống cuộc sống tự lập Tính tự lập của các em thể hiện ở ba mặt: tự lập về hành
vi, tự lập về tình cảm và tự lập về đạo đức, giá trị Nhu cầu giao tiếp với bạn bè cùng lứa tuổi trong tập thể phát triển mạnh, các em bắt đầu ý thức được vị trí, vai trò của mình trong tập thể, đây là môi trường để các em khẳng định gia trị bản thân Tình bạn, tình yêu ở lứa tuổi này mang rất nhiều màu sắc, là một phần không thể thiếu trong quá trình từng bước trải nghiệm và hoàn thiện nhân cách ở các em
1.1.2.4 Tầm quan trọng của việc trang bị cho học sinh trung học phổ thông kiến thức về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong bối cảnh hiện nay
Từ đặc điểm nhân cách chủ yếu ở học sinh trung học phổ thông, có thể thấy đây là một giai đoạn vô cùng quan trọng trong việc hoàn thiện nhân cách ở mỗi
Trang 24người trước khi bước vào cuộc sống tự lập thực sự Ở lứa tuổi này, học sinh đã biết
tự ý thức, tự đánh giá bản thân và các sự vật, sự việc trong tự nhiên và xã hội Các
em ưa khám phá, tìm tòi, sáng tạo, các em muốn khẳng định mình bằng những suy nghĩ, hành động độc lập Tuy chưa hoàn toàn là người lớn, nhưng học sinh trung học phổ thông cũng không còn là trẻ con, các em đã có thể bày tỏ quan điểm riêng, thể hiện hành động thiết thực trước những vấn đề thực tế đời sống xã hội Chính điều này đòi hỏi nhà trường phải nỗ lực trang bị cho các em nền tảng tri thức, đạo đức, văn hóa chuẩn mực, hình thành ở các em thế giới quan đúng đắn, để các em trở thành những công dân có trách nhiệm
Việc trang bị cho học sinh trung học phổ thông những kiến thức về chủ quyền biển đảo tổ quốc là một nhiệm vụ giáo dục quan trọng, nhất là trong bối cảnh hiện nay khi tình hình Biển Đông có nhiều diễn biến phức tạp Thế hệ trẻ Việt Nam cần phải được trang bị kiến thức để tự tin khẳng định với thế giới chủ quyền tổ quốc nói chung và chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng Hiểu sâu sắc tầm quan trọng của biển trong sự phát triển kinh tế đất nước, hiểu sâu sắc những hy sinh của cha ông trong việc gìn giữ biển trời tổ quốc…từ đó học sinh nhận thức sâu sắc vai trò của thế hệ trẻ đối với bảo vệ toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc
1.1.3 Vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển, đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông là hướng tới những nội dung giáo dục cụ thể:
- Giáo dục học sinh nhận thức vai trò của biển đảo trong lịch sử dựng nước, giữ nước của dân tộc qua các nguồn tư liệu đa dạng
Giáo viên cần làm cho học sinh nhận thức được trong quá trình dựng nước và giữ nước hàng nghìn năm của dân tộc, biển đảo Việt Nam luôn có vai trò quan trọng
Từ khởi nguyên thì yếu tố Sông, Biển đã là một bộ phận hợp thành, góp phần tạo dựng, định hình bản sắc văn hóa và tư duy người Việt Ý thức về chủ quyền lãnh thổ tổ quốc nói chung, chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng đã được hình thành từ rất sớm.Thực chất của quá trình dựng nước đầu tiên ở nước ta là một quá trình lấn biển Tư duy sơ khai về quá trình chinh phục biển của người Việt cổ được thể hiện
Trang 25ở nhiều khía cạnh, từ địa bàn sinh sống, nghề nông, chăn nuôi, đánh cá, đặc điểm văn hóa- nghệ thuật…Những hình thuyền trên trống đồng Đông Sơn, những ngôi
mộ thuyền được tìm thấy đã thể hiện yếu tố Sông, Biển trong văn hóa người Việt Thời kì phong kiến, các triều đình đều chăm lo, quản lí chặt chẽ chủ quyền biển đảo của tổ quốc Thời Lý thiết lập các Trang, thời Trần có các Trấn và thời Lê đã đặt Tuần Kiểm ở các xứ cửa biển, các đồn, các đảo…để quản lí biển, thu thuế tàu thuyền nước ngoài qua lại giao thương trong vùng biển nước ta Đến thời các chúa Nguyễn và triều Nguyễn việc thực thi chủ quyền biển đảo tổ quốc, cụ thể là đối với các quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa càng được thúc đẩy mạnh mẽ, và diễn ra một cách hòa bình, liên tục Việc thành lập và biến các đội Hoàng Sa thành một tổ chức nhà nước từ thời các chúa Nguyễn, và sau này được triều Nguyễn tiếp tục củng cố
là minh chứng cho thấy quyền làm chủ lãnh hải của nước ta được xác định chính thức
Ý thức về chủ quyền lãnh thổ và vai trò của biển, đảo luôn gắn liền với các cuộc kháng chiến chống ngoại xâm bảo vệ lãnh thổ tổ quốc Kẻ thù thường xâm nhập, xâm lược nước ta theo đường Sông, Biển do vậy xây dựng quân thủy và giỏi thủy chiến đã trở thành nét nổi bật trong lịch sử tổ chức quân sự và nghệ thuật quân sự của dân tộc Việt Nam Cùng với những chiến công oanh liệt trên đất liền, dân tộc ta
đã làm nên biết bao trận thủy chiến lẫy lừng, khiến kẻ thù khiếp sợ và từ bỏ mộng xâm lược
Biển, đảo là chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc, cùng với đất liền đã tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc Việt Nam Lấn biển để dựng nước
và thông qua biển để giữ nước là một nét độc đáo trong lịch sử dựng nước và giữ nước hàng ngàn năm của dân tộc Đây cũng là nét độc đáo của bản sắc văn hóa Việt cần giữ vững và tiếp tục phát huy trong thời đại mới, thời đại toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế
- Giáo dục học sinh nhận thức được giá trị, tiềm năng kinh tế- xã hội của biển, đảo trong công cuộc xây dựng phát triển đất nước
Biển, đảo ngay từ xa xưa đã luôn gắn liền với đời sống con người Việt Nam Không phải ngẫu nhiên mà các triền sông, cửa biển từ rất sớm trong lịch sử đã
là địa bàn tập trung dân cư đông đúc, hình thành lên các trung tâm kinh tế, văn hóa,
Trang 26chính trị quan trọng của đất nước Biển gắn bó mật thiết, ảnh hưởng đến sự phát triển kinh tế- xã hội, đến bảo vệ an ninh, quốc phòng, bảo vệ môi trường của mọi miền đất nước Vùng biển và ven biển Việt Nam có nguồn tài nguyên phong phú, lại nằm án ngữ trên các tuyến hàng hải và hàng không huyết mạch thông thương giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, giữa châu Âu, Trung Cận Đông với Trung Quốc, Nhật Bản và các nước trong khu vực Biển Đông đóng vai trò là “ Cầu nối” cực kì quan trọng, là điều kiện rất thuận lợi để giao lưu kinh tế, hội nhập và hợp tác giữa nước ta với các nước trên thế giới, đặc biệt là với các nước trong khu vực Châu Á- Thái Bình Dương, khu vực có nền kinh tế năng động bậc nhất thế giới với nhiều trung tâm kinh tế lớn Trong xu thế hội nhập quốc tế hiện nay thì phát triển kinh tế biển, gắn liền với bảo vệ chủ quyền và lợi ích quốc gia trên biển là chủ trương lớn
và mang tầm chiến lược của Đảng ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc Việt Nam Xã Hội Chủ Nghĩa
- Giáo dục cho học sinh nhận thức được mối quan hệ giữa Việt Nam với các nước trong khu vực và thế giới về vấn đề xác lập chủ quyền và khai thác nguồn lợi từ biển Đông
Biển Đông là một biển nửa kín, có diện tích khoảng 3,5 triệu km vuông, trải rộng từ vĩ độ 3o lên đến vĩ độ 26o Bắc và từ kinh độ 100o đến 121o Đông Ngoài Việt Nam, Biển Đông được bao bọc bởi tám nước khác là Trung Quốc, Philippin, Indonesia, Bruney, Malaysia, Singapore, Thái Lan và Campuchia Biển Đông không chỉ là địa bàn chiến lược quan trọng đối với các nước trong khu vực mà còn cả của châu Á - Thái Bình Dương và Mỹ
Biển Đông là nơi chứa đựng nguồn tài nguyên thiên nhiên biển quan trọng cho đời sống và sự phát triển kinh tế của các nước xung quanh, đặc biệt là nguồn tài nguyên sinh vật (thuỷ sản), khoáng sản (dầu khí), du lịch … Biển Đông nằm trên tuyến đường giao thông biển huyết mạch nối liền Thái Bình Dương - Ấn Độ Dương, Châu Âu - Châu Á, Trung Đông - Châu Á Năm trong số mười tuyến đường biển thông thương lớn nhất trên thế giới liên quan đến Biển Đông Đây được coi là tuyến đường vận tải quốc tế nhộn nhịp thứ hai của thế giới Những tranh chấp ở Biển Đông là vấn đề không thể tránh khỏi giữa các quốc gia trực tiếp có chủ quyền
và những quốc gia có quyền lợi kinh tế phụ thuộc vào hoạt động thông thương trên
Trang 27Biển Đông Hiện tại trong khu vực Biển Đông đang tồn tại hai loại tranh chấp chủ yếu:
+ Tranh chấp chủ quyền lãnh thổ đối với quần đảo Hoàng Sa và quần đảo Trường
Sa Đây là hai quần đảo có vị trí chiến lược quan trọng bậc nhất trên Biển Đông + Tranh chấp ranh giới các vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các các nước
có bờ biển đối diện hoặc liền kề
Hai loại tranh chấp này được hình thành vào các thời điểm khác nhau, có nội dung và mức độ khác nhau, trên những vùng địa lí khác nhau…nhưng bất kì một quốc gia nào nếu bất chấp pháp lí quốc tế gây ra tranh chấp, xung đột về chủ quyền
ở Biển Đông đều đang trực tiếp phá hoại nền hòa bình và ổn định an ninh trong khu vực, nhân dân các nước có liên quan đến chủ quyền Biển Đông và nhân dân tiến bộ
thế giới đều cần nghiêm khắc lên án những hành động đó
- Cung cấp những cứ liệu lịch sử sát thực về chủ quyền biển đảo tổ quốc Giúp học sinh nhận thức sâu sắc trách nhiệm công dân trong việc bảo vệ chủ quyền biển, đảo
tổ quốc
Như đã nói ở trên thì hiện nay ở khu vực Biển Đông đang tồn tại hai loại tranh chấp, đó là tranh chấp liên quan đến các Đảo, Quần Đảo; tranh chấp ranh giới vùng biển và thềm lục địa chồng lấn giữa các quốc gia có bờ biển đối diện hoặc liền
kề Những tranh chấp có liên quan đến Việt Nam chủ yếu nhất vẫn là những tranh chấp giữa Việt Nam và Trung Quốc về chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Đây là tranh chấp nổi bật và đã bắt đầu từ đầu thế kỉ XX cho đến tận hiện tại thì những tranh chấp của hai bên về quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa vẫn là một điểm nóng ở vùng Biển Đông
Biển Đông là biển chung của nhiều quốc gia, biển có nhiều tiềm năng kinh tế- chính trị do vậy không thể tránh khỏi những tranh chấp, xung đột giữa các quốc gia Để bảo vệ vững chắc chủ quyền và những nguồn lợi từ Biển, Đảo tổ quốc đòi hỏi thế hệ trẻ Việt Nam phải được trang bị đầy đủ những kiến thức về Biển, Đảo Đáng lưu tâm nhất trong số các kiến thức cần trang bị cho các em chính là những cứ liệu lịch sử sát thực về chủ quyền Biển Đảo tổ quốc, đặc biệt là cứ liệu lịch sử về chủ quyền tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa Những cứ liệu lịch sử sát thực
về chủ quyền Biển đảo sẽ giúp các em tự tin khẳng định chủ quyền và tranh thủ sự
Trang 28đồng tình ủng hộ của nhân dân tiến bộ thế giới trong việc bảo vệ chủ quyền thiêng
liêng và hợp pháp của tổ quốc
Bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo Việt Nam là trách nhiệm thiêng liêng của mỗi công dân Việt Nam đối với lịch sử dân tộc, là nhân tố quan trọng bảo đảm cho dân tộc ta phát triển bền vững Nghị quyết Đại hội lần thứ XI của Đảng chỉ rõ:
“Mục tiêu, nhiệm vụ quốc phòng, an ninh là bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ; giữ vững chủ quyền biển, đảo, biên giới, vùng trời;
bảo vệ Đảng, Nhà nước, nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa” [14, tr 125] Đó là ý
chí sắt đá, quyết tâm không gì lay chuyển được của dân tộc Việt Nam dưới sự lãnh đạo của Đảng
Thời gian qua, sự biến đổi khôn lường của tình hình thế giới, khu vực và trên biển Đông khiến nhiệm vụ phòng thủ, bảo vệ đất nước, nhất là an ninh trên biển trở thành nhiệm vụ nhiều khó khăn, thách thức Để hoàn thành nhiệm vụ bảo vệ chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, điều tiên quyết đặt ra là phải không ngừng củng cố, tăng cường sức mạnh quốc gia, xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân trên biển Trong đó, xây dựng thế trận lòng dân, đảm bảo bảo vệ vững chắc chủ quyền biển, đảo thiêng liêng của Tổ quốc là vấn đề chiến lược, mang tính cấp bách, then chốt
Thực hiện nhiệm vụ trên, từ năm 2010, Bộ GD & ĐT đã chỉ đạo các Vụ bậc học, Trường đại học và Viện khoa học Giáo dục Việt Nam nghiên cứu biên soạn tài
Trang 29liệu và tập huấn cho giáo viên lịch sử và địa lý sử dụng tài liệu trong giảng dạy Nội dung tài liệu tập trung vào những vấn đề: Khái quát về vùng biển, hải đảo nước ta; Tài nguyên và môi trường biển, hải đảo; Chủ quyền biển, hải đảo Việt Nam; Vai trò của biển, hải đảo đối với an ninh quốc phòng, đối với sự phát triển kinh tế - xã hội và đời sống nhân dân; Tình hình khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên và bảo
vệ môi trường biển, hải đảo, các biện pháp khai thác, sử dụng bền vững tài nguyên môi trường biển, hải đảo; Giáo dục ý thức về vấn đề bảo vệ chủ quyền biển, hải đảo của Tổ quốc; ý thức bảo vệ tài nguyên môi trường biển, hải đảo…Bên cạnh tài liệu tập huấn mang tính khái quát của Bộ thì hiện nay có rất nhiều nguồn tài liệu khác nhau về tài nguyên, môi trường biển đảo, chủ quyền biển đảo tổ quốc mà giáo viên lịch sử, địa lý có thể tham khảo, khai thác, sử dụng nhằm nâng cao hiệu quả các giờ học về chủ quyền biển đảo tổ quốc…
Bộ môn lịch sử ở trường trung học phổ thông có vài trò trực tiếp nhất trong giáo dục ý thức về chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh Trên cơ sở các nguồn tài liệu khác nhau về chủ quyền biển đảo tổ quốc thì đòi hỏi giáo viên lịch sử phải biết lựa chọn kiến thức cơ bản, phù hợp, và vận dụng linh hoạt các phương pháp dạy học để đạt hiệu quả giáo dục cao nhất về ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc Tuy nhiên trong thực tế thì mỗi trường, mỗi giáo viên lịch sử lại có những cách thức và mức độ khai thác, sử dụng nguồn tài liệu về chủ quyền biển đảo
tổ quốc khác nhau vì thế hiệu quả giáo dục đạt được cũng không giống nhau
Trong quá trình thực hiện nghiên cứu đề tài này, chúng tôi tiến hành điều tra, khảo sát tại 03 trường trung học phổ thông và 01 trung tâm giáo dục thường xuyên trên địa bàn huyện Cẩm Giàng – Tỉnh Hải Dương: Trường THPT Cẩm Giàng 1, Trường THPT Cẩm Giàng 2, Trường THPT Tuệ Tĩnh và trung tâm giáo dục thường xuyên huyện Cẩm Giàng (Có giảng dạy môn lịch sử) Chúng tôi tiến hành phát phiếu thăm dò đối với 40 giáo viên (Trong đó có 15 giáo viên lịch sử) và 400 học sinh, ngoài ra còn tiến hành phỏng vấn trực tiếp đối với một số giáo viên và học sinh Nội dung điều tra, khảo sát xoay quanh các vấn đề cơ bản:
- Đối với giáo viên: Khảo sát, thu thập ý kiến về sự cần thiết phải đưa nội dung giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo vào giảng dạy trong các nhà trường; mức độ quan tâm đối với vấn đề chủ quyền biển đảo tổ quốc, thực trạng tổ chức dạy học giáo dục
Trang 30ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc ( Hình thức tổ chức giờ học; các phương pháp sử dụng nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử; kiến nghị,
đề xuất của giáo viên về vấn đề sử dụng tư liệu chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử…
- Đối với học sinh: Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào tìm hiểu thái độ của học sinh đối với vấn đề biển đảo tổ quốc; nhận thức của học sinh về thực trạng giảng dạy về chủ quyền biển đảo tổ quốc tại trường lớp của các em; mong muốn của các em đối với giờ học lịch sử nói chung và giờ học về chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng…
Qua trình điều tra, khảo sát thu được kết quả như sau:
- Về phía giáo viên:
+ Với những câu hỏi về sự cần thiết sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông và vai trò ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử thì 100% ý kiến giáo viên cho rằng cần thiết hoặc rất cần thiết phải sử dụng các nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong giảng dạy lịch sử để trang bị cho học sinh trung học phổ thông những kiến thức đầy đủ và cần thiết về chủ quyền biển đảo tổ quốc, qua
đó giáo dục cho các em ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc, giáo dục tinh thần yêu chuộng hòa bình và lên án những hành động vi phạm hiến chương Liên Hợp Quốc về hòa bình…
+ Với câu hỏi về mức độ thường xuyên của những hoạt động ngoại khóa về chủ quyền biển đảo tổ quốc tại nơi mình đang giảng dạy thì không có giáo viên nào lựa chọn phương án cho rằng các hoạt động đó diễn ra thường xuyên; 12,5 % giáo viên cho rằng tại nơi họ đang giảng dạy chưa bao giờ tiến hành các hoạt động về chủ quyền biển đảo tổ quốc; còn lại đa số giáo viên cho rằng các hoạt động ngoại khóa
về chủ quyền biển đảo tổ quốc có diễn ra tại trường của họ nhưng mức độ không thường xuyên Qua phỏng vấn trực tiếp một số giáo viên, họ còn cho biết những hoạt động ngoại khóa chủ yếu vẫn là văn nghệ với chủ đề biển đảo và học sinh trả lời một vài câu hỏi chung chung về trách nhiệm của công dân với bảo vệ chủ quyền biển đảo
Trang 31+ Với vấn đề khảo sát mức độ chủ động tìm hiểu và nắm bắt các tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc thì chỉ có 17, 5% thường xuyên chủ động tìm hiểu, nắm bắt các tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc 77,5% giáo viên lựa chọn phương án là
có tìm hiểu nhưng không thường xuyên, và vẫn còn 5% giáo viên thừa nhận là họ chưa bao giờ chủ động tìm kiếm, tìm hiểu các tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc
+ Câu hỏi khảo sát thời điểm giáo viên bắt đầu quan tâm đến vấn đề chủ quyền biển đảo tổ quốc thì đa số giáo viên (72,5%), trong đó có cả giáo viên lịch sử có ý kiến
là họ thực sự mới bắt đầu quan tâm đến vấn đề chủ quyền biển đảo tổ quốc từ khi các phương tiện truyền thông nhắc nhiều đến các hành động vi phạm chủ quyền của Trung Quốc vào vùng biển và hải đảo của ta như : Đặt giàn khoan HD981 vào vùng đặc quyền kinh tế của Việt Nam, xây dựng sân bay trên quần đảo Hoàng Sa, xây dựng thành phố Tam Sa …
+ Câu hỏi khảo sát mức độ quan tâm đối với thực trạng chủ quyền hai quần đảo
Trường Sa và Hoàng Sa : “Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm khi nào?”thì có rất
nhiều giáo viên lựa chọn phương án là chưa từng nghĩ Trung Quốc đã chiếm đảo Hoàng Sa của ta hoặc không biết Trung Quốc chiếm năm nào, chỉ có 37,5 trả lời biết chính xác thời điểm Trung Quốc chiếm đảo Hoàng Sa của ta, số này chủ yếu là giáo viên lịch sử
Với những câu hỏi dành riêng cho giáo viên lịch sử thì kết quả khảo sát cụ thể:
+ Đối với câu hỏi về mức độ sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử thì đa số giáo viên trả lời là có sử dụng nhưng không thường xuyên (86,6%), còn lại là chưa bao giờ sử dụng, không một giáo viên nào lựa chọn phương
án là thường xuyên sử dụng các tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong giảng dạy lịch sử Lí do mà giáo viên không sử dụng hoặc sử dụng nhưng không thường xuyên thì phần lớn giáo viên cho rằng lịch sử là môn không thi, học sinh trên lớp rất thờ ơ, lười học, nên chỉ cần đảm bảo kiến thức cơn bản trong sách giáo khoa là đủ Bất ngờ là vẫn có những giáo viên lịch sử né tránh việc sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo trong dạy học lịch sử vì cho rằng đây là vấn đề nhạy cảm
Trang 32+ Khảo sát về phương pháp giáo viên đã sử dụng khi sử liệu về chủ quyền biển đảo
tổ quốc trong dạy học lịch sử thì phần lớn giáo viên lựa chọn phương pháp thuyết trình, khai thác đồ dùng trực quan theo lối truyền thống , hoặc kể chuyện lịch sử trong các giờ học nội khóa (86,6%), có 53,3% sử dụng phương pháp nêu vấn đề, rất
ít giáo viên lựa chọn phương pháp đóng vai hoặc sử dụng phim tài liệu trong giờ nội khóa Đối với ngoại khóa thì đa số giáo viên lựa chọn phương án: Nói chuyện lịch
sử và sinh hoạt ngoài giờ lên lớp theo chủ đề Nhiều hình thức không giáo viên nào lựa chọn
+ Được hỏi về những khó khăn khi sử dụng nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông, đa số giáo viên cho rằng khó khăn lớn nhất chính là do nội dung này chưa được đưa vào thành nội dung giảng dạy chính thức, những nội dung liên quan trong sách giáo khoa thì tản mát và cũng không đề cập chính thức Tài liệu định hướng giảng dạy về nội dung này cũng còn chưa phổ biến
+ Đề xuất của giáo viên cho vấn đề sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông là nên nhanh chóng đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo tổ quốc vào chương trình chính thức, dành thời lượng thỏa đáng cho nội dung này Giáo viên cũng mong muốn được trang bị những tài liệu phục vụ giảng dạy bao gồm những tư liệu cần thiết, và định hướng phương pháp sử dụng các tư liệu đó trong giảng dạy để nâng cao hiệu quả giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho thế hệ trẻ Việt Nam
Như vậy đa số giáo viên được chọn khảo sát đều nhận thức được tầm quan trọng của việc giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc cho học sinh, nhất là học sinh trung học phổ thông Giáo viên cũng phản ánh chân thực thực trạng dạy học về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong các nhà trường trung học phổ thông hiện nay: Hình thức dạy học còn chưa phong phú; nhiều giáo viên lịch sử còn ngại tìm tòi tư liệu, phương pháp dạy học cũng còn rất đơn điệu, dẫn đến hiệu quả giáo dục về chủ quyền biển đảo ở nhiều trường còn chưa cao, nặng về hình thức
- Về phía học sinh:
+ Với câu hỏi khảo sát về mức độ quan tâm của các em đối với vấn đề chủ quyền biển đảo tổ quốc thì có đến 62,5% học sinh bày tỏ thái độ rất quan tâm đến vấn đề
Trang 33này, 37,5% có thái độ quan tâm, không có học sinh nào bày tỏ thái độ không quan tâm đến vấn đề chủ quyền biển đảo tổ quốc Đây là một điều rất đáng mừng
+ Khảo sát về việc đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo tổ quốc vào chương trình dạy học chính thức và bắt buộc ở các nhà trường, kết quả là 74,75% học sinh cho rằng việc đưa nội dung đó vào giảng dạy chính thức ở các nhà trường là rất cần thiết, 23 % học sinh cho rằng cần thiết, vẫn còn 2,25% học sinh cho rằng không cần thiết
+ Về mức độ lồng ghép, tích hợp kiến thức về chủ quyền biển đảo tổ quốc của giáo viên lịch sử trong các giờ học nội khóa thì đa số học sinh cho rằng giáo viên có lồng ghép, tích hợp song không thường xuyên và còn sơ sài
+ Phương pháp của giáo viên khi sử dụng tài liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong giảng dạy các bài nội khóa có nội dung liên quan đến chủ quyền biển đảo tổ quốc đa số học sinh cho rằng giáo viên sử dụng nhiều nhất là phương pháp thuyết trình, khai thác lược đồ tranh ảnh (71,75%); 28,25% học sinh cho rằng giáo viên cũng đã áp dụng phương pháp nêu vấn đề và hướng dẫn học sinh giải quyết vấn đề; các phương pháp đóng vai, hướng dẫn học sinh thuyết trình sản phẩm trên lớp, hoặc
sử dụng phim tài liệu là không học sinh nào lựa chọn
+ Với câu hỏi: Em có thích giáo viên lịch sử sử dụng các nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử bằng các phương pháp dạy học mới không? Em có mong muốn được trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết về chủ quyền biển đảo tổ quốc khi học trong trường trung học phổ thông không? thì đa số học sinh bày tỏ quan điểm là rất thích được học các nội dung về chủ quyền biển đảo theo phương pháp dạy học mới (81,25%); tuy nhiên vẫn còn học sinh cho rằng không thích các phương pháp dạy học mới ( 5,25%) Cũng có đến gần như toàn bộ học sinh tham gia khảo sát bày tỏ ý kiến mong muốn được trang bị đầy đủ những kiến thức cần thiết về chủ quyền biển đảo tổ quốc khi học ở trường trung học phổ thông
Bên cạnh các câu hỏi về thái độ của học sinh với vấn đề chủ quyền biển đảo tổ quốc và phương pháp giảng dạy nội dung này trong nhà trường thì chúng tôi cũng đưa ra một số câu hỏi khảo sát thực trạng học sinh nắm bắt kiến thức về chủ quyền biển đảo tổ quốc, cụ thể:
Trang 34+ Với những câu hỏi như: Em hãy cho biết, quần đảo Trường Sa, Hoàng Sa thuộc
các tỉnh thành nào của nước ta? Quần đảo Hoàng Sa bị Trung Quốc chiếm năm nào? Theo em hiện nay ta có thể dựa vào những nguồn tư liệu lịch sử nào để chứng minh Hoàng Sa, Trường Sa là thuộc chủ quyền Việt Nam? Thì rất nhiều học sinh
trả lời sai hoặc bỏ không trả lời hoặc trả lời chung chunh không rõ ràng Điều này cho thấy lỗ hỏng kiến thức về chủ quyền biển đảo tổ quốc ở học sinh hiện nay là rất lớn
+ Với câu hỏi mang tính thời sự: Em hãy liệt kê một số hành động của Trung Quốc
gần đây vi phạm chủ quyền biển và hải đảo của nước ta? Câu hỏi này thì đa số học
sinh liệt kê được những hành động như: Sự kiện Trung Quốc đặt giàn khoan , xây dựng sân bay, thành lập thành phố Tam Sa…
Học sinh có đề xuất là muốn thầy cô thường xuyên sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong dạy học lịch sử, với các phương pháp dạy học mới để giúp các em lĩnh hội kiến thức về chủ quyền biển đảo tổ quốc có hiệu quả hơn
1.2.2 Những vấn đề đặt ra cần giải quyết
- Thứ nhất là vị trí của bộ môn lịch sử trong trường phổ thông hiện nay:
Vị trí của bộ môn lịch sử bị chi phối bởi quan niệm “ Môn chính, môn
phụ” Tâm lí phân biệt môn chính, môn phụ đã ăn sâu trong tiềm thức xã hội, trong
đó không ít giáo viên, các nhà quản lí giáo dục cũng bị chi phối bởi quan niệm này Bên cạnh quan niệm phân biệt môn chính, môn phụ là lối học ứng thí “Học chỉ để thi” đã làm cho bộ môn lịch sử bị đánh giá không đúng vị trí của nó Môn lịch sử nhiều năm qua không có trong chương trình thi tốt nghiệp, đặc biệt khi quy chế thi
mở cho phép học sinh lựa chọn môn thi thì vị trí của bộ môn lịch sử càng bị rẻ rúng…từ quan niệm và cách nhìn nhận vị trí môn học như vậy nên đa số ở các trường phổ thông việc đầu tư cơ sở vật chất, đội ngũ, kinh phí cho bộ môn lịch sử còn nhiều hạn chế Giáo viên lịch sử gặp rất nhiều khó khăn trong việc nâng cao chất lượng bộ môn, trong đó công tác giáo dục thế hệ trẻ của bộ môn lịch sử sẽ khó
có thể đạt hiệu quả như mong muốn Đây là một vấn đề lớn mà ngành giáo dục phải xem xét và mau chóng tìm ra giải pháp Hiện nay, thế giới phát triển theo xu thế toàn cầu hóa, hội nhập để phát triển…thì việc xây dựng đất nước càng cần gắn liền với nhiệm vụ bảo vệ sự toàn vẹn lãnh thổ tổ quốc Giáo dục thế hệ trẻ biết gắn bó,
Trang 35yêu thương, biết gìn giữ những giá trị vật chất và tinh thần thiêng liêng của tổ quốc
là một nhiệm vụ quan trọng, nhiệm vụ sống còn đòi hỏi sự cố gắng rất lớn ở các thầy cô giáo giảng dạy bộ môn lịch sử Nói về tầm quan trọng của bộ môn lịch sử trong nhà trường phổ thông, Giáo sư Phan Huy Lê đã khẳng định “ Thế hệ trẻ lớn lên qua nền giáo dục phổ thông mà không yêu mến lịch sử dân tộc, không có một niềm tự tin dân tộc, không kế thừa các truyền thống dân tộc thì làm sao có thể hoàn chỉnh được phẩm chất của người công dân Việt Nam” Muốn đào tạo những công dân có tinh thần yêu quê hương đất nước, có ý thức trách nhiệm bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của tổ quốc thì môn Lịch sử phải được đánh giá đúng vị thế và chức năng của nó trong hệ thống giáo dục phổ thông
- Thứ hai là vấn đề đối với chương trình sách giáo khoa:
Chương trình sách giáo khoa hiện nay được đánh giá là quá nặng nề, biên
soạn mang tính hàn lâm, các vấn đề thực tiễn cần thiết ở mọi thời đại lịch sử như vấn đề xác lập chủ quyền biển đảo qua các thời kì, các cuộc đấu tranh bảo vệ chủ quyền biển đảo…chưa được đưa vào chương trình sách giáo khoa Đây là một lỗ hỏng rất lớn và nghiêm trọng trong chương trình sách giáo khoa hiện hành Gần đây
bộ giáo dục cũng đã có động thái khuyến khích các nhà trường đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo vào giảng dạy Tuy nhiên đại bộ phận giáo viên còn rất lung túng khi xác định các nội dung trong sách giáo khoa, để liên hệ vấn đề biển đảo trong các giờ học, việc xác định phương pháp giảng dạy cũng gặp không ít khó khăn
- Thứ ba là hiểu biết của học sinh về chủ quyền biển đảo tổ quốc còn rất mơ hồ, rất hạn chế Ngay cả giáo viên, cũng có rất nhiều người chưa quan tâm đúng mức đến
vấn đề chủ quyền biển đảo, chưa nắm bắt được những kiến thức cần thiết về thực trạng chủ quyền biển đảo tổ quốc hiện nay
- Thứ tư là về phương pháp giảng dạy:
Đa số giáo viên đều nhận thức sự cần thiết của việc giáo dục ý thức chủ
quyền biển đảo tổ quốc, nhất là trong bối cảnh quốc tế hiện nay Song vấn đề đặt ra
là giáo viên phải tìm tòi, lựa chọn, đổi mới phương pháp giảng dạy như thế nào để đạt hiệu quả giáo dục cao trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm đạo đức nói chung
và ý thức về bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng Bản chất của đổi mới
Trang 36phương pháp dạy học đã được nghị quyết trung ương II khóa VIII chỉ rõ là phải: “
Khắc phục lối truyền thụ một chiều, rèn luyện thành nếp tư duy sáng tạo của người học Từng bước áp dụng các phương pháp dạy học tiên tiến vào quá trình dạy học, đảm bảo điều kiện và thời gian tự học, tự đào tạo thường xuyên và rộng khắp trong toàn dân, nhất là thanh niên” Với định hướng này, hiện nay, xu hướng đổi mới
phương pháp dạy học nói chung và đổi mới phương pháp dạy học lịch sử nói riêng
là xu hướng chuyển từ mô hình dạy học “Lấy giáo viên làm trung tâm” sang mô hình dạy học “Lấy học sinh làm trung tâm” Thực chất của mô hình dạy học “Lấy người học làm trung tâm” chính là phát huy cao nhất tính tích cực, chủ động và sáng tạo của học sinh trong học tập, giáo viên chỉ là người định hướng và giám sát các hoạt động của học sinh
Việc đưa nội dung giáo dục chủ quyền biển đảo vào giảng dạy nhận được
sự đồng tình của đại đa số giáo viên, học sinh và toàn xã hội Nhưng để đạt hiệu quả giáo dục cao, thiết thực thì đòi hỏi người giáo viên lịch sử phải rất nỗ lực tìm tòi, sáng tạo phương pháp phù hợp để khai thác, sử dụng các nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo trong giảng dạy Nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc hiện nay rất phong phú, đa dạng, là một sự hỗ trợ tương đối thuận lợi cho giáo viên lịch
sử khi giảng dạy nội dung về chủ quyền biển đảo Nhưng không phải giáo viên nào cũng có thể khai thác hiệu quả các nguồn tư liệu này Đa số tại các trường, các giờ học, các hoạt động giáo dục chủ quyền biển đảo tổ quốc theo phương pháp mới còn hạn chế, còn đơn điệu, còn nặng về hình thức
Trang 37CHƯƠNG 2 CÁC HÌNH THỨC VÀ BIỆN PHÁP SỬ DỤNG TƯ LIỆU VỀ CHỦ QUYỀN
BIỂN, ĐẢO TỔ QUỐC TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ
Ở TRƯỜNG TRUNG HỌC PHỔ THÔNG
2.1 Các loại tư liệu chủ yếu về chủ quyền biển đảo tổ quốc có thể khai thác, sử dụng trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc hiện rất phong phú, đa dạng
Bên cạnh các nguồn tư liệu lịch sử, giáo viên có thể sử dụng các nguồn tư liệu liên quan đến chủ quyền biển đảo tổ quốc ở nhiều bộ môn khác như địa lí, văn học, giáo dục quốc phòng…trong dạy học lịch sử về chủ quyền biển đảo tổ quốc
* Tài liệu lịch sử về chủ quyền biển đảo tổ quốc bao gồm:
- Tài liệu phản ánh lịch sử hình thành các đảo, quần đảo thuộc Việt Nam
- Tài liệu phản ánh vai trò quan trọng của biển đảo trong lịch sử dựng nước và giữ nước
- Tài liệu phản ánh quá trình xác lập và thực thi chủ quyền biển đảo qua các thời kì lịch sử, đặc biệt là tại hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa
- Tài liệu về những cuộc chiến đấu, hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc
- Lược đồ các trận thủy chiến quan trọng
- Những câu chuyện lịch sử về những tấm gương hy sinh, bảo vệ chủ quyền biển đảo
- Phim tư liệu , hình ảnh nhân vật, hiện vật, sự kiện liên quan đến chủ đề biển đảo tổ quốc
* Tài liệu địa lý về chủ quyền biển đảo tổ quốc: Cung cấp những thông tin về vị trí,
diện tích, tài nguyên thiên nhiên của vùng biển và hải đảo thuộc chủ quyền nước ta Khẳng định tiềm năng to lớn và vai trò của biển, đảo trong phát triển nền kinh tế đất nước, đặc biệt trong xu thế hội nhập hiện nay thì vai trò của biển, đảo trong phát triển kinh tế càng trở nên quan trọng hơn bao giờ hết
* Tài liệu văn học sử dụng trong dạy học lịch sử về chủ quyền biển đảo tổ quốc:
Đó là những truyền thuyết phản ánh quá trình dựng nước và giữ nước của cha ông như: Truyền thuyết “Con Rồng cháu tiên”, “Sơn tinh Thủy tinh”, “Thánh Gióng”…;
Trang 38những tác phẩm thơ, truyện, ký, ca ngợi vẻ đẹp của biển đảo tổ quốc, ca ngợi những tấm gương ngày đêm đối mặt với sóng gió, đối mặt với kẻ thù, sẵn sàng chiến đấu
và hy sinh bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc; những tác phẩm thể hiện tình yêu đối với biển đảo tổ quốc; ngoài ra còn có thể khai thác các tác phẩm báo chí viết về chủ quyền biển đảo tổ quốc, các tác phẩm báo chí mang tính thời sự sẽ phản ánh kịp thời tình hình tranh chấp trên Biển Đông qua đó giúp học sinh có cái nhìn toàn diện vấn đề biển đảo từ quá khứ đến hiện tại, thấy được trách nhiệm công dân trong đấu tranh đòi công lý, đấu tranh khẳng định chủ quyền biển đảo tổ quốc
2.2 Những yêu cầu cơ bản khi sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
2.2.1 Yêu cầu về tư liệu
- Nguồn tư liệu phải đảm bảo tính khoa học, chính xác và cụ thể : Để hình thành
kiến thức lịch sử cho học sinh, giáo dục cho các em về thế giới quan khoa học, đúng đắn, tạo tâm lí tự tin cho các em khi khẳng định chủ quyền biển đảo của tổ quốc và giáo dục ý thức bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc, thì việc lựa chọn, sử dụng các nguồn tư liệu có tính khoa học, chính xác là vấn đề quan trọng hàng đầu trong dạy học về chủ quyền biển đảo ở trường THPT Lịch sử nói chung và lịch sử về chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng, phải đảm bảo tính cụ thể, không thể trình bày một vấn đề lịch sử theo lối chung chung, trìu tượng mà phải cụ thể thời gian, không gian, những vấn đề liên quan đến sự kiện, nhân vật lịch sử Biết chọn lọc và đảm bảo tính cụ thể các kiến thức cơ bản sẽ giúp học sinh dễ tiếp thu và lĩnh hội kiến thức
- Lựa chọn các kiến thức cơ bản, phù hợp với khả năng nhận thức của học sinh trung học phổ thông: Giáo viên có thể tham khảo nhiều nguồn tư liệu khác nhau về
chủ quyền biển đảo, nhưng để đảm bảo hiệu quả trong các giờ học về chủ quyền biển đảo tổ quốc thì đòi hỏi người giáo viên lịch sử không được quá tham lam kiến thức khi tổ chức giờ học Nếu quá lạm dụng các nguồn tư liệu, không biết cách lựa chọn kiến thức cơ bản, phù hợp sẽ làm cho giờ học nặng nề, không thực hiện được mục tiêu giáo dục tư tưởng, tình cảm và ý thức cho học sinh
Trang 39- Tư liệu giàu hình ảnh, biểu tượng lịch sử: Thông qua xây dựng các biểu tượng
lịch sử cũng là quá trình làm cho lịch sử cụ thể và gần gũi hơn, giờ học lịch sử sinh động, ấn tượng và khắc sâu kiến thức cho học sinh
- Vận dụng linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp dạy học tạo hứng thú và phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở học sinh:
Hứng thú trong dạy học là sự khêu gợi lòng khát khao hiểu biết ở người học
Không khí học tập phải được tạo ra bằng sức mạnh của hứng thú, bằng việc hấp dẫn học sinh vào giờ học một cách tốt nhất…không thể nào nâng cao chất lượng của bộ môn đối với lối dạy học thụ động, nặng nề, giáo viên giảng triền miên, học sinh cặm cụi ghi chép để rồi học gạo, học vẹt
Trước yêu cầu đổi mới hoạt động dạy học lịch sử hiện nay, hứng thú được coi
là chìa khóa then chốt cho việc nâng cao chất lượng dạy học lịch sử Nếu giờ học lịch sử tạo được hứng thú cho học sinh, tạo sức hút đối với học sinh thì sẽ thôi thúc các em tự tìm hiểu, học tập không cần đến những biện pháp thúc ép, tác động từ bên ngoài Do vậy trong các giờ học lịch sử nói chung và giờ học về chủ quyền biển đảo
tổ quốc nói riêng, nhiệm vụ của giáo viên là vận dụng linh hoạt, kết hợp nhuần nhuyễn nhiều phương pháp dạy học, tạo điều kiện cho học sinh chủ động tham gia vào các hoạt động học tập với mục đích là phát huy tính tích cực, chủ động, sáng tạo ở các em Với tư cách là chủ thể khám phá, học sinh sẽ thực sự nắm vững kiến thức, khắc sâu kiến thức và có xu hướng tiếp tục tìm hiểu mở rộng kiến thức Tạo được hứng thú, phát huy được tính tích cực, chủ động, sáng tạo của học sinh trong các giờ học về chủ quyền biển đảo tổ quốc là một thành công của người giáo viên lịch sử trên bước đường giáo dục, định hướng cho học sinh về trách nhiệm của công dân trong việc bảo vệ chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng và chủ quyền lãnh thổ
tổ quốc nói chung
2.2.2 Yêu cầu khi xác định các biện pháp sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo
tổ quốc trong dạy học lịch sử ở trường trung học phổ thông
Các giờ học lịch sử nói chung và giờ học về chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng nên hướng đến mục tiêu giáo dục toàn diện, đây là nhiệm vụ mang tính chiến lược mà Đảng ta đã xác định qua các kì đại hội Luật giáo dục (2005) quy định: “
Mục tiêu của giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo
Trang 40đức tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lí tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc” [2, tr.8] Vì vậy, “Phương pháp giáo dục phổ thông phải phát huy tính tích cực tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, khả năng làm việc theo nhóm, rèn kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn, tác động đến tình cảm, đem lại niềm tin, hứng thú học tập cho học sinh”[2, tr.8] Như vậy trong giờ học lịch sử nói chung và
giờ học về chủ quyền biển đảo tổ quốc nói riêng, GV cần tránh lối truyền thụ một chiều, người thầy là trung tâm còn trò thì thụ động theo thầy Với các giờ học về chủ quyền biển đảo tổ quốc, GV nên tránh suy nghĩ “Dạy cho có” mà phải xác định tầm quan trọng của việc giúp học sinh chủ động tiếp nhận và hiểu sâu sắc về chủ quyền biển đảo thiêng liêng của tổ quốc Nguồn tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc rất phong phú, nhưng GV không nên thuyết trình tư liệu về chủ quyền biển đảo, mà nên tìm tòi, sáng tạo những phương pháp dạy học tích cực, biến học sinh thành trung tâm, tạo được hứng thú thực sự cho học sinh trong giờ học nhằm phát huy hiệu quả giáo dục ý thức chủ quyền biển đảo tổ quốc
2.3 Những nội dung lịch sử liên quan, có thể khai thác, sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc trong chương trình sách giáo khoa lịch sử trung học phổ thông
Vấn đề xác lập chủ quyền biển đảo, bảo vệ chủ quyền biển đảo của tổ quốc là một vấn đề cần thiết, thực tiễn, nhưng chưa được đưa vào chương trình SGK một cách chính thức, cụ thể Chính vì vậy người giáo viên lịch sử cần phải nghiên cứu kĩ các bài, mục trong SGK để khéo léo sử dụng tư liệu về chủ quyền biển đảo tổ quốc xen kẽ vào các bài, mục phù hợp , thực hiện mục tiêu giáo dục ý thức về chủ quyền biển đảo cho học sinh Đối với học sinh THPT thì việc làm này càng có ý nghĩa thiết thực hơn bao giờ hết Tổ nhóm chuyên môn cần lên kế hoạch, bàn bạc, nghiên cứu, lựa chọn các bài, mục phù hợp sau đó cùng thảo luận hướng khai thác tư liệu
về chủ quyền biển đảo trong mỗi bài hay đề mục Dựa trên kế hoạch chung của tổ- nhóm chuyên môn, mỗi giáo viên sẽ có những tìm tòi, sáng tạo riêng để bài học trở nên sinh động, thu hút học sinh