1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông

122 323 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 122
Dung lượng 0,91 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Nếu như Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam giúp học sinh hiểu rằng: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa đa dạng trong thống nhất thì đến với Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam, các em

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CHU NGỌC QUỲNH

SỬ DỤNG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ BẢO TÀNG

MĨ THUẬT VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

LỚP 10 TRUNG HỌC PHỔ THÔNG

LUẬN VĂN THẠC SĨ NGÀNH SƯ PHẠM LỊCH SỬ

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI

TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

CHU NGỌC QUỲNH

SỬ DỤNG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ BẢO TÀNG

MĨ THUẬT VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ

Trang 3

LỜI CẢM ƠN

Ngoài sự nỗ lực của bản thân để hoàn thành Luận văn, tôi xin bày tỏ lời cảm

ơn sâu sắc nhất của mình đến cô giáo: TS Hoàng Thanh Tú, người đã hướng dẫn, tận tình chỉ bảo, giúp đỡ và động viên tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn

Tôi xin gửi lời cảm ơn chân thành đến các thầy, cô giáo và các em học sinh của trường THPT Trung Giã (Sóc Sơn, Hà Nội), THPT Sơn Tây (Hà Nội), THPT Kim Liên (Hà Nội), THPT Tây Hồ (Hà Nội), THPT Ninh Giang (Hải Dương) và THPT Tây Tiền Hải (Thái Bình) đã giúp đỡ tôi hoàn thành luận văn

Cuối cùng, tôi xin gửi lời cảm ơn tới gia đình và bạn bè đã luôn sát cánh bên tôi, động viên, tin tưởng và giúp đỡ tôi trong quá trình thực hiện luận văn này

Hà Nội, ngày 19 tháng 11 năm 2015

Học viên

Chu Ngọc Quỳnh

Trang 4

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

Trang 5

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Ý kiến đánh giá của GV về mức độ hiệu quả của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa Lịch sử tại bảo tàng cho HS THPT (%) 33 Bảng 1.2: Ý kiến đánh giá của HS về mức độ hiệu quả của việc sử dụng Bảo tàng

Mĩ thuật Việt Nam trong học tập Lịch sử (%) 35 Bảng 1.3: Tổng hợp ý kiến đề xuất của HS về hình thức sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử (%) 40 Bảng 2.1: Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong dự án

“Tìm kiếm tài năng Việt Nam” (%) 86 Bảng 2.2: Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong chương trình ngoại khóa “Hồn quê đất Việt” (%) 89

Trang 6

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Mức độ quan tâm của HS các trường THPT (Nhóm 1) đối với Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam (%) 38 Biểu đồ 1.2: Các hoạt động ngoại khóa Lịch sử HS đã từng được 39 tham gia tại bảo tàng (%) 39

Trang 7

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT ii

DANH MỤC CÁC BẢNG iii

DANH MỤC CÁC BIỂU ĐỒ iv

MỤC LỤC v

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1 CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA VIỆC SỬ DỤNG BẢO TÀNG TRONG DẠY HỌC LỊCH SỬ Ở TRƯỜNG THPT 10

1.1 Cơ sở lí luận 10

1.1.1 Quan niệm về sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử tại trường THPT 10

1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 14

1.1.3 Một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng tư liệu của bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT 21

1.2 Cơ sở thực tiễn 24

1.2.1 Thực trạng sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay 24

1.2.2 Thực trạng sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay 30

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1 44

CHƯƠNG 2 CÁC BIỆN PHÁP SỬ DỤNG BẢO TÀNG DÂN TỘC HỌC VÀ BẢO TÀNG MỸ THUẬT VIỆT NAM TRONG DẠY HỌC PHẦN LỊCH SỬ VIỆT NAM LỚP 10 (CHƯƠNG TRÌNH CHUẨN) 45

2.1 Vị trí, mục tiêu, nội dung cơ bản của phần Lịch sử Việt Nam 45

2.1.1 Mục tiêu 45

2.1.2 Nội dung 46

Trang 8

2.2 Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật

Việt Nam 47

2.2.1 Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Dân tộc học 47

2.2.2 Khảo sát nguồn tài liệu tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam 51

2.3 Các biện pháp sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam 59

2.3.1 Trong hoạt động ngoại khóa 60

2.3.2 Trong bài nội khóa 72

2.4 Thử nghiệm sư phạm 80

2.4.1 Mục đích 80

2.4.2 Đối tượng và địa bàn thử nghiệm 80

2.4.3 Nội dung, phương pháp và tiến trình thử nghiệm 81

2.4.4 Kết quả thử nghiệm 82

TIỂU KẾT CHƯƠNG 2 91

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 92

DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO 95

PHỤ LỤC 98

Trang 9

MỞ ĐẦU

1 Lý do chọn đề tài

Công cuộc đổi mới đất nước hiện nay đòi hỏi giáo dục phổ thông phải đào tạo những con người phát triển toàn diện, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hóa Yêu cầu này được cụ thể hóa trong Luật giáo dục năm 2005, được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam khóa XI thông qua (sửa đổi, bổ

sung năm 2010): “Mục tiêu giáo dục là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mĩ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc” [10,

tr.18] Trong nhà trường phổ thông, mỗi môn học với đặc trưng của mình đều phải góp phần đào tạo thế hệ trẻ, đóng góp cụ thể vào việc thực hiện mục tiêu của sự nghiệp giáo dục và đào tạo Trong đó, Lịch sử là một môn học có vai trò rất quan trọng trong việc thực hiện mục tiêu chung của giáo dục phổ thông

Lịch sử là những sự việc đã diễn ra, có thật, nó tồn tại khách quan trong quá khứ Do đó, không thể phán đoán, suy luận hay tưởng tượng để nhận thức lịch sử Nhận thức lịch sử phải thông qua những “dấu tích” của quá khứ, những chứng cứ

về sự tồn tại của các sự việc đã diễn ra Trong dạy học Lịch sử, lời nói của người thầy có vai trò quan trọng để tạo biểu tượng, hình thành khái niệm lịch sử cho học sinh nhưng dù sao cũng không thể thay thế hoàn toàn cho việc sử dụng đồ dùng trực quan Trong dạy và học Lịch sử, phương pháp trực quan góp phần quan trọng tạo biểu tượng cho học sinh, cụ thể hóa các sự kiện và khắc phục tình trạng hiện đại

hóa lịch sử của học sinh Nhà giáo dục học K.D Usinxki từng khẳng định: “Hình ảnh được lưu giữ đặc biệt vững chắc trong trí nhớ chúng ta là hình ảnh mà chúng

ta thu nhận được bằng trực quan”[12; tr.18] Và những đồ dùng trực quan ấy đang

được lưu giữ, trình bày trong hàng trăm bảo tàng, di tích tại Việt Nam Bảo tàng là

cơ quan giáo dục công cộng, là nơi lưu giữ kí ức của dân tộc Là cơ quan văn hóa – giáo dục thực hiện chức năng giáo dục, tuyên truyền, bảo tàng đã, đang và sẽ góp

Trang 10

phần giáo dục nhằm nâng cao dân trí, tăng cường sự hiểu biết, khơi dậy niềm tự hào

về truyền thống yêu nước, giữ gìn bản sắc văn hóa dân tộc và xây dựng đất nước giàu đẹp Cùng với nhà văn hóa, câu lạc bộ, thư viện, rạp hát, rạp chiếu phim và các khu vui chơi giải trí khác, bảo tàng thuộc hệ thống giáo dục ngoài nhà trường, có chức năng giáo dục quan trọng nhằm góp phần hoàn thiện nhân cách con người Nhiệm vụ giáo dục con người là nhiệm vụ chung cho toàn xã hội Do đó, tất cả các

bảo tàng đều có trách nhiệm giáo dục công chúng mà bảo tàng phục vụ

Hà Nội – nơi tập trung những bảo tàng lớn của cả nước Mỗi bảo tàng đều có nội dung trưng bày khác nhau nên đều có ưu thế riêng trong việc phục vụ công tác dạy và học tập Lịch sử Trong đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thuộc Trung tâm Khoa học Xã hội và Nhân văn Quốc gia với một khối lượng đồ sộ những tư liệu, hiện vật được sưu tầm, bảo quản, bảo tàng góp phần quan trọng vào việc bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời, trở thành một trung tâm thông tin, tư liệu đặc thù, cho phép tất cả mọi người trực tiếp quan sát, nghiên cứu các dân tộc trên mọi miền đất nước ngay tại Thủ đô Hà Nội Các hiện vật trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học, trước hết giúp học sinh hiểu thêm những sự kiện về đời sống văn hóa của các dân tộc mà các

em chưa có điều kiện tiếp cận nhiều trong chương trình, sách giáo khoa Việc quan sát các tài liệu, hiện vật được trưng bày ở đây giúp các em hiểu được toàn cảnh về đời sống văn hóa vật chất cũng như văn hóa tinh thần của 54 dân tộc sống trên lãnh thổ Việt Nam Nếu như Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam giúp học sinh hiểu rằng: Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc, có nền văn hóa đa dạng trong thống nhất thì đến với Bảo tàng Mỹ Thuật Việt Nam, các em học sinh được tiếp cận với di sản nghệ thuật, biết trân trọng những giá trị truyền thống, có kiến thức cơ bản để thưởng thức văn hóa nghệ thuật dân tộc thông qua trên 18.000 tài liệu hiện vật đang được trưng bày tại đây Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam với cấu trúc nội dung trưng bày mạch lạc, khúc triết theo trục dọc thời gian của lịch sử mỹ thuật từ truyền thống tới hiện đại, mà nét nổi bật là sự bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc có ý nghĩa trong việc cung cấp cho học sinh những hiểu biết sâu sắc độc đáo về nền văn hóa và lịch

sử cộng đồng dân tộc Việt Nam

Trang 11

Tuy nhiên, do nhiều yếu tố chủ quan và khách quan nên việc sử dụng nguồn

tư liệu, hiện vật của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử chưa được tiến hành một cách thường xuyên và rộng rãi Xuất phát từ thực tiễn đó và từ việc nhận thức được chức năng của bảo tàng trong giáo dục Lịch sử cho học sinh trung học phổ thông,

chúng tôi lựa chọn đề tài “Sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử lớp 10 trung học phổ thông” làm đề tài nghiên

cứu cho luận văn tốt nghiệp của mình

2 Lịch sử nghiên cứu vấn đề

Vấn đề sử dụng tư liệu của bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

đã được các nhà giáo dục học, giáo dục Lịch sử quan tâm nghiên cứu

Trong cuốn sách “Phương pháp dạy học lịch sử” do Phan Ngọc Liên chủ

biên (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2010) đã đề cập đầy đủ vị trí, ý nghĩa của hoạt động ngoại khóa; các hình thức tổ chức và cách tiến hành những hoạt động ngoại khóa trong dạy học Lịch sử, trong đó, tác giả nhấn mạnh đến việc tổ chức hoạt động tham quan bảo tàng, khu di tích lịch sử - văn hóa

Cuốn giáo trình “Lịch sử mĩ thuật Việt Nam” của tác giả Phạm Thị Chỉnh

(NXB Đại học Sư phạm, 2013) đã chọn lọc những kiến thức mĩ thuật cơ bản nhất với các tác phẩm mĩ thuật tiêu biểu nhất cho từng thời kì lịch sử của dân tộc Giúp cho người học có thể cảm thụ, hiểu và phân tích được những nét hay, nét đẹp của một số tác phẩm mĩ thuật Việt Nam Đồng thời, qua đó người học thấy được những tác phẩm mĩ thật từ ngàn xưa đến nay đã phản ánh được một bức tranh lịch sử sinh động về cuộc sống sinh hoạt con người và cảnh vật của quê hương đất nước, với một phong cách Việt Nam mang đậm đà bản sắc dân tộc

Cuốn sách“Phương pháp dạy học môn Lịch sử ở trường trung học phổ thông” do Vũ Quang Hiển – Hoàng Thanh Tú chủ biên (NXB Đại học Quốc gia Hà

Nội, 2014) đã khái quát vị trí, ý nghĩa của hình thức dạy học tại bảo tàng và hoạt động ngoại khóa Lịch sử Đồng thời, tác giả đề xuất các biện pháp và hình thức tiến

Trang 12

hành dạy học và tổ chức hoạt động ngoại khóa phù hợp tại bảo tàng cho HS ở trường THPT

Trong cuốn “Các con đường, biện pháp nâng cao hiệu quả dạy học lịch sử ở trường phổ thông” của Nguyễn Thị Côi (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2006) đề

cập đến vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức tham quan học tập ở nhà bảo tàng lịch sử, cách mạng, nhà truyền thống, di tích lịch sử cho học sinh ở trường trung học phổ thông Tác giả khẳng định, thông qua các hiện vật trưng bày hoặc đồ phục chế về quá khứ giúp học sinh được trực quan sinh động những sự kiện lịch sử, làm giàu cho các em những biểu tượng lịch sử cụ thể và là chỗ dựa để hình thành các kết luận khái quát Đặc biệt, học sinh được liên hệ kiến thức lý luận với thực tiễn, gắn nhà trường với xã hội

Trong cuốn “Rèn luyện kĩ năng nghiệp vụ sư phạm môn Lịch sử” do Nguyễn

Thị Côi chủ biên (NXB Đại học Sư phạm, Hà Nội, 2011) đã đề cập đến ý nghĩa của hoạt động ngoại khóa, rèn luyện năng lực tổ chức và cách thức tiến hành tổ chức hoạt động ngoại khóa Trong đó, tác giả có đưa ra ví dụ xây dựng kế hoạch hoạt động ngoại khóa tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam

Cuốn sách “Bảo tàng, di tích nơi khơi nguồn cảm hứng dạy và học Lịch sử cho học sinh phổ thông” của tác giả Nguyễn Thị Kim Thành (NXB Giáo dục Việt

Nam, 2014) đã trình bày rất khái quát, dễ hiểu về mối quan hệ hỗ trợ giữa việc truyền thụ kiến thức về lịch sử trong nhà trường với phương pháp tiếp cận mới trong việc dạy và học Lịch sử từ bảo tàng và di tích Tác giả với những trải nghiệm

từ thực tế của mình đã đưa những tri thức lịch sử, giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc vào trí não học sinh ở ngoài học đường mà trước hết là tại các bảo tàng, di tích Đặc biệt, cuốn sách đã trình bày rất rõ ràng tiến trình tổ chức ngoại khóa Lịch

sử tại bảo tàng thông qua hoạt động của Câu lạc bộ “Em yêu Lịch sử”

Luận văn Thạc sĩ Khoa học Giáo dục của tác giả Nguyễn Thị Xuyến về “Sử dụng tư liệu gốc phần Lịch sử Thế giới (thế kỉ XVI đến giữa thế kỉ XIX) để biên soạn sách giáo khoa Lịch sử trung học cơ sở sau năm 2015 (Trường Đại học Sư

phạm Hà Nội) đã trình bày được vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng tư liệu gốc trong

Trang 13

dạy học Lịch sử Đồng thời, tác giả đã thống kê được các loại tư liệu cần và có thể khai thác sử dụng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

Trong khóa luận tốt nghiệp “Tổ chức hoạt động ngoại khóa Lịch sử tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam cho học sinh lớp 10 trung học phổ thông” (Khoa Sư phạm, trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội) tác giả Chu Ngọc

Quỳnh đã khái quát được vai trò, ý nghĩa của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa tại

bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch

sử ở trường THPT Tác giả đã xác định mục đích, yêu cầu, khảo sát và chọn lọc tư liệu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam để tiến hành tổ chức các chương trình ngoại khóa Lịch sử cho HS trường THPT nhằm góp phần đạt được mục tiêu dạy

Thông báo Khoa học số 6 năm 1997, tác giả Nguyễn Thị Côi, trường Đại

học Sư phạm Hà Nội với đề tài: “Sử dụng tư liệu của bảo tàng vào dạy học môn Lịch sử ở trường phổ thông” Bài viết này, tác giả đã tập trung làm sáng tỏ vai trò,

ý nghĩa của tư liệu bảo tàng vào dạy học Lịch sử; bài viết đi sâu vào trình bày một

số nét cơ bản về nội dung trưng bày của các bảo tàng lớn và chỉ rõ ưu thế của chúng trong dạy học Lịch sử Từ đó nêu lên những dự kiến và phương pháp sử dụng

Tạp chí Nghiên cứu Giáo dục số 10, năm 1997, đồng tác giả Nguyễn Thị Côi

– Nguyễn Văn Phong, trường Đại học Sư Phạm Hà Nội với đề tài: “Khai thác và sử dụng tài liệu của bảo tàng, nhà truyền thống vào dạy học Lịch sử dân tộc ở trường

Trang 14

phổ thông” đã khái quát các hình thức, phương pháp khai thác, sử dụng tư liệu của

bảo tàng Lịch sử nói chung, nhà truyền thống nói riêng vào dạy học Lịch sử Cụ thể

là giáo viên có thể tổ chức đưa học sinh đi tham quan bảo tàng; giáo viên khai thác

và sử dụng tư liệu để dạy học bài Lịch sử nội khóa tại bảo tàng hoặc ở trường phổ thông; khai thác và sử dụng tư liệu để tổ chức các triển lãm, ra báo học tập nhân các ngày lễ lớn của đất nước

Tạp chí Di sản Văn hóa số 3 năm 2012, ThS Nguyễn Kim Thành với đề tài:

“Các bảo tàng tại Hà Nội với việc nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử trong các trường phổ thông” đã nhấn mạnh mối quan hệ giữa bảo tàng với quá

trình dạy học Lịch sử Từ đó, tác giả đi sâu phân tích những nỗ lực trong việc tổ chức các hoạt động của một số bảo tàng tại Hà Nội để việc dạy học Lịch sử ở trường phổ thông đạt được hiệu quả cao hơn như tổ chức tham quan bảo tàng, bảo tàng phối hợp với nhà trường trình bày lưu động, bảo tàng tích cực tổ chức các hình thức câu lạc bộ, phòng khám phá để thu hút HS đến tham gia

Tạp chí Giáo dục và Xã hội, số 29 (90) tháng 8/2013, TS Hoàng Thanh Tú –

Chu Ngọc Quỳnh với đề tài: “Xây dựng chương trình hoạt động ngoại khóa Lịch sử tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam” đã nhấn mạnh được vị trí và vai trò của Bảo

tàng Dân tộc học Việt Nam trong việc cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng và giáo dục thái độ cho HS; trên cơ sở tìm hiểu thực trạng sử dụng bảo tàng này trong dạy học Lịch sử, tác giả tiến hành xây dựng các chương trình hoạt động ngoại khóa Lịch sử phù hợp với đối tượng HS lớp 10 THPT

Như vậy, thông qua tìm hiểu một số tài liệu có liên quan đến đề tài, chúng tôi thấy rằng các tác giả đã đề cập đến vai trò, ý nghĩa của bảo tàng trong dạy học Lịch sử; đánh giá được thực trạng sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử; xác định yêu cầu cơ bản cũng như cách thức tiến hành sử dụng bảo tàng để dạy học Tuy nhiên, chưa có một tác phẩm hay một công trình nghiên cứu nào đề cập cụ thể đến việc sử dụng hai bảo tàng: Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam để

tổ chức bài học nội khóa và hoạt động ngoại khóa Lịch sử cho HS ở trường THPT

Đó là cơ sở, động lực để chúng tôi thực hiện đề tài này, với mong muốn góp phần

Trang 15

bổ sung nguồn tài liệu tham khảo hữu ích cho GV, HS THPT và sinh viên các trường sư phạm

3 Đối tƣợng và phạm vi nghiên cứu

3.1 Đối tượng nghiên cứu: Sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ

thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử lớp 10 THPT

4 Mục đích, nhiệm vụ nghiên cứu

4.1 Mục đích

Trên cơ sở khẳng định vai trò, ý nghĩa của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử, đề tài xác định mục tiêu, lựa chọn nội dung, nguồn tư liệu phù hợp và đề xuất một số biện pháp sử dụng hai bảo tàng đó để tổ chức hoạt động ngoại khóa và dạy bài nội khóa cho phần Lịch sử Việt Nam (chương trình Lịch sử Lớp 10) Đồng thời, dựa trên kết quả thực nghiệm tại trường THPT, chúng tôi đưa ra kết luận cải tiến phương pháp

sử dụng bảo tàng hiệu quả, góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử

ở trường THPT

4.2 Nhiệm vụ

- Tìm hiểu cơ sở lý luận của việc sử dụng tư liệu của bảo tàng nói chung và

Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử

ở trường trung học phổ thông

Trang 16

- Khảo sát, đánh giá thực trạng dạy học Lịch sử nói chung, thực trạng sử dụng tư liệu của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử

- Nghiên cứu nội dung phần Lịch sử Việt Nam lớ p 10 và đề xuất biện pháp

sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch

sử

- Thử nghiệm và đánh giá tính hiệu quả, tính khả thi các biện pháp sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử

5 Cơ sở phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu

5.1 Cơ sở phương pháp luận: dựa trên những quan điểm của chủ nghĩa

Mác Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, quan điểm đường lối của Đảng và Nhà nước ta

về lịch sử, giáo dục

5.2 Phương pháp nghiên cứu

- Nghiên cứu lí thuyết: đọc và phân tích, tổng hợp tài liệu sách báo, tạp chí, internet… về tâm lý học, giáo dục học, phương pháp dạy học LS; phân tích nội dung chương trình, SGK lớp 10

- Nghiên cứu thực tiễn: quan sát, dự giờ, trao đổi với giáo viên, học sinh, điều tra xã hội học để đánh giá về thực trạng sử dụng tư liệu của bảo tàng nói chung

và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch

sử ở trường trung học phổ thông; Thực nghiệm sư phạm nhằm kiểm tra, đối chứng kết quả nghiên cứu của luận văn

6 Giả thuyết khoa học

Nếu GV sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam theo hướng dạy học tích cực sẽ đáp ứng được mục tiêu dạy học lịch sử nói chung, dạy học phần Lịch sử Việt Nam (lớp 10) nói riêng, góp phần nâng cao chất lượng dạy học môn Lịch sử ở trường THPT hiện nay

7 Đo ́ ng góp của đề tài

Thực hiện tốt những nhiệm vụ đề ra, luận văn góp phần:

Trang 17

- Khẳng định được vai trò, ý nghĩa, sự cần thiết của việc sử dụng tư liệu của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

- Đánh giá được thực trạng dạy học LS nói chung, thực trạng sử dụng tư liệu của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử

- Đề xuất biện pháp sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam phù hợp với mục tiêu dạy học

- Thử nghiệm một số biện pháp sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng

Mỹ thuật Việt Nam tổ chức hoạt động ngoại khóa và dạy bài nội khóa cho phần Lịch sử Việt Nam (chương trình Lịch sử lớp 10)

8 Ý nghĩa khoa học và thực tiễn của đề tài

- Ý nghĩa khoa học: làm phong phú thêm lí luận PPDHLS nói chung và vấn

đề sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học lịch sử ở trường THPT nói riêng

- Ý nghĩa thực tiễn: là nguồn tài liệu tham khảo cho sinh viên các trường Cao đẳng, Đại học Sư phạm; GV môn LS ở trường THPT

9 Cấu trúc luận văn

Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận văn gồm 2 chương:

Chương 1: Cơ sở lí luận và thực tiễn của việc sử dụng tư liệu của Bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường trung học phổ thông

Chương 2: Các biện pháp sử dụng tư liệu của Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học phần Lịch sử Việt Nam (Lớp

10, chương trình chuẩn)

Trang 18

đó được trưng bày ở bảo tàng góp phần quan trọng trong việc hình thành, bổ sung

kiến thức lịch sử cho HS Bảo tàng “là một trung tâm thông tin, có lượng thông tin nguyên gốc, chính xác, phong phú, dễ tiếp cận và được nhận thức bằng phương tiện trực quan, sinh động” [7; tr.173] Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã từng nói: bảo tàng “cũng như một cuốn sử… cho ta thấy rõ ông cha ta đã khó nhọc như thế nào mới xây dựng nên đất nước tươi đẹp ngày nay” [18, tr.1]

Bàn về quá trình nhận thức của con người, V.I Lênin đã viết: “Từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng và từ tư duy trừu tượng đến thực tiễn, đó là con đường biện chứng của sự nhận thức chân lý, nhận thức hiện thực khách quan”

Quá trình nhận thức lịch sử của học sinh cũng không ngoài quy luật nhận thức chung đó Một đặc điểm điển hình của việc học tập lịch sử là học sinh không trực tiếp quan sát các sự kiện lịch sử như nó đã từng diễn ra, vì vậy, yếu tố trực quan có

ý nghĩa rất quan trọng trong dạy học Các nhà giáo dục học đã chứng minh rằng, càng có nhiều giác quan tham gia vào quá trình tri giác thì sự lĩnh hội tri thức ngày càng nhanh, càng bền vững và tạo điều kiện thuận lợi cho quá trình hình thành biểu tượng, khái niệm, rút ra quy luật và bài học lịch sử Khi được tri giác các tài liệu, hiện vật ở bảo tàng, nhất là các tài liệu, hiện vật gốc, HS dễ dàng có được biểu tượng cụ thể về những sự kiện lịch sử đã qua, HS được tiếp xúc với những “mảnh”

Trang 19

lịch sử được để lại, có giá trị xác nhận tính hiện thực, tính chính xác của những sự kiện, những thời kì lịch sử mà các em đã được học Điều này có ý nghĩa rất lớn trong việc khắc sâu tri thức lịch sử, giáo dục niềm tin, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho HS Đồng thời, dưới sự hướng dẫn của GV và dựa trên cơ sở quan sát tài liệu, hiện vật của bảo tàng, HS cũng được rèn luyện các kĩ năng thực hành bộ môn như:

kĩ năng quan sát, miêu tả, giới thiệu nội dung tranh ảnh, bản đồ, hiện vật… một cách ngắn gọn, xúc tích, rõ ràng và từ đó biết rút ra kết luận về bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử

Nói tóm lại, việc sử dụng tài liệu, hiện vật ở bảo tàng trong dạy học Lịch sử

ở trường THPT không chỉ cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng mà còn có ý nghĩa giáo dục thái độ cho HS Dạy học Lịch sử ở các bảo tàng là rất cần thiết bởi các tài liệu, hiện vật ở bảo tàng không chỉ cung cấp một khối lượng kiến thức phong phú, sinh động, củng cố kiến thức đã học cho HS, mà còn cung cấp kiến thức mới, tài liệu tham khảo, đồ dùng trực quan cho GV HS được học tập trong một không khí rất mới, rất khác với không khí trên lớp học vì ở đó HS được phần nào sống trong khung cảnh của thời kì lịch sử đang học Quá khứ lịch sử trở nên gần gũi với HS hơn Tùy điều kiện cụ thể của mỗi trường, mỗi lớp mà có thể lựa chọn bài, nội dung dạy học tại bảo tàng

Ở nước ta có rất nhiều bảo tàng, bên cạnh các bảo tàng Quốc gia còn có những bảo tàng ở địa phương Tính riêng Thủ Đô Hà Nội - nơi tập trung những bảo tàng lớn của cả nước đã có trên 120 bảo tàng Mỗi bảo tàng đều có nội dung trưng bày khác nhau nên đều có ưu thế riêng của mình trong việc phục vụ công tác dạy và học tập Lịch sử Bảo tàng có nhiều loại: bảo tàng lịch sử nói chung, trong đó bao gồm Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Quân đội Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh ; các bảo tàng nghệ thuật như Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam ; bảo tàng chuyên ngành như Bảo tàng Phụ nữ, Bảo tàng Phòng không - Không quân, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam ; các bảo tàng lịch sử tự nhiên (động vật học, thực vật học, hải dương học); các bảo tàng lưu niệm (bảo tàng ở di tích số 5D Hàm Long, 48 Hàng Ngang – Hà Nội ); các bảo tàng địa phương Tư liệu của các bảo tàng trên là

Trang 20

những phương tiện trực quan – một nguồn kiến thức vô giá, phục vụ rất tốt việc dạy học một số bộ môn ở trường THPT, đặc biệt là môn học Lịch sử

Sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử được hiểu là việc mà GV các trường THPT phối hợp với Ban quản lý bảo tàng và ngược lại để sử dụng các tư liệu, hiện vật, không gian của bảo tàng trong việc tổ chức hoạt động ngoại khóa và dạy bài nội khóa nhằm liên hệ kiến thức lịch sử trên sách vở với thực tế lịch sử Có thể nói rằng dạy học Lịch sử mà không gắn với bảo tàng cũng giống như việc đi bơi mà không có hồ bơi, nấu ăn mà không có bếp vậy Sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử sẽ giúp cho HS được trải nghiệm, cảm nhận được Lịch sử không phải là những gì đã diễn ra trong quá khứ, xa rời thực tại, cũng không phải là những điều

đã được khám phá xong và các em chỉ còn việc học thuộc lòng Ngược lại, lịch sử rất đỗi gần gũi và các tư liệu đang được trưng bày trong bảo tàng tuyệt đối không định mức được giá trị Nó chỉ có giá trị khi HS phải tự tìm hiểu, tự khám phá và trải nghiệm với nó

Như vậy, sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT về bản chất là sử dụng tư liệu của bảo tàng Trong đó, GV đóng vai trò tìm hiểu, lựa chọn các nguồn tư liệu của bảo tàng phù hợp với mục tiêu bài học Lịch sử, phù hợp với từng trường, từng lớp và từng đối tượng HS Từ đó, GV thiết kế kế hoạch bài dạy với các phương pháp, hình thức tổ chức đa dạng và phù hợp nhằm hướng dẫn HS khám phá sự kiện, hiện tượng Lịch sử được phản ánh qua tư liệu, hiện vật trưng bày trong bảo tàng

Tư liệu lịch sử được chia thành bảy loại: tư liệu chữ viết, tư liệu vật chất, tư liệu truyền miệng dân gian, tư liệu ngôn ngữ, tư liệu dân tộc học, tư liệu phim ảnh, băng ghi hình và tư liệu băng ghi âm Theo phân loại như trên, tại bảo tàng có những nguồn tư liệu lịch sử như sau:

Tư liệu chữ viết là những sử liệu cho ta những thông tin về các sự kiện đã

xảy ra được ghi lại bằng kí tự trên các kênh thông tin khác nhau như: giấy, xương,

đá, mai rùa, vỏ cây Đây là nguồn tư liệu có khối lượng lớn và đặc biệt quan trọng, đôi khi chiếm địa vị chủ yếu trong các loại tư liệu Các nhà nghiên cứu đã phân chia

Trang 21

tư liệu chữ viết thành các loại khác nhau như theo đặc điểm, theo ngành, theo lĩnh vực Tuy loại tư liệu này có thể dễ dàng thu thập dưới nhiều hình thức hơn các loại

tư liệu khác, nhưng chúng ta cần nghiên cứu và xử lý trước khi đem vào sử dụng

Vì lịch sử mang tính giai cấp nên lịch sử cũng mang tính chủ quan, chịu ảnh hưởng

tư tưởng của các thời kì lịch sử Khi tìm hiểu loại tư liệu này chúng ta cần phải đối chiếu với các loại tư liệu khác để có cái nhìn toàn diện, chân thực nhất về lịch sử Ngoài ra, tư liệu chữ viết còn bao gồm cả những bảng số liệu thống kê từ các lĩnh vực kinh tế, chính trị, quân sự, văn hóa, giáo dục Thông qua những bảng số liệu

đó, phần nào đó lịch sử được cụ thể hóa

Tư liệu vật chất là sản phẩm của quá trình hoạt động thực tiễn và hoạt động

nhận thức của con người, đó là những dụng cụ lao động, đồ dùng sinh hoạt, vũ khí của người xưa, thành quách, cung điện Ví dụ: công cụ sản xuất, vũ khí, đồ đựng được trưng bày tại Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam; công cụ săn bắt, trang phục, nhà ở của các dân tộc được trưng bày tại Bảo tàng Dân tộc học Tư liệu vật chất mang

ý nghĩa cực kì quan trọng, nó phản ánh thời kì dài của lịch sử khi mà chưa xuất hiện chữ viết, đồng thời mang tính khách quan trung thực lớn Khi đã có chữ viết, tư liệu vật chất bổ sung về mặt nhận thức làm cho nhận thức của chúng ta chính xác hơn các loại tư liệu chữ viết, bổ sung và kiểm tra các loại tư liệu chữ viết đã đúng chưa

và đúng ở mức độ nào Ngày nay, với sự hỗ trợ của khoa học kĩ thuật, số lượng tư liệu vật chất tăng lên, cực kì phong phú, đa dạng, chúng ta khai quật được nhiều hơn tư liệu vật chất của các thời kì lịch sử và giải mã được những bí ẩn của nhân loại thời kì trước kia Tuy nhiên, đây là loại tư liệu “câm”, tự bản thân nó không nói lên được điều gì vì thế chỉ khi nào được các nhà khoa học nghiên cứu được thì chúng ta mới biết thông tin về tư liệu Loại tư liệu này thường được bảo quản trong các nhà kho, viện bảo tàng nên gây khó khăn cho việc tiếp xúc trực tiếp

Tư liệu hình ảnh gồm tranh, ảnh được chụp lại, vẽ lại tại thời điểm xảy ra sự

kiện lịch sử Ví dụ như các tác phẩm hội họa, tranh ảnh được trưng bày tại Bảo tàng

Mĩ thuật Việt Nam; hình ảnh trưng bày trong không gian “Góc nhìn chéo” thể hiện

sự giao lưu văn hóa Việt Nam - Pháp tại Bảo tàng Dân tộc học Đây là tư liệu đặc

Trang 22

biệt giúp người quan sát có thể tri giác được lịch sử qua hình ảnh lịch sử Loại tư liệu này giúp chúng ta tái hiện lại bức tranh lịch sử một cách sinh động cụ thể và mang tính trực quan cao

Tư liệu băng ghi âm, ghi hình là loại tư liệu xuất hiện cùng với xã hội hiện

đại Ví dụ như các đoạn phim tư liệu về lễ Lẩu then của người Tày, tang ma của người Mường, lễ hiến sinh trâu của người Ba-na được lưu trữ và chiếu cho du khách đến Bảo tàng Dân tộc học Loại tư liệu này giúp chúng ta “nghe”, “nhìn” hiện thực lịch sử Nó ghi lại một cách chân thực và tái hiện gần như đầy đủ các sự kiện, hiện tượng lịch sử đã xảy ra Tuy nhiên, với sự phát triển của kĩ thuật công nghệ nguồn tư liệu này dễ bị xuyên tạc, làm giả nên khi sử dụng cần lưu ý đến độ chân thực nguyên bản Nếu sử dụng được đúng tư liệu băng ghi âm, ghi hình gốc sẽ rất có giá trị

Trong các nguồn tư liệu lịch sử, loại tư liệu chữ viết chiếm đa số, dễ cho việc tìm kiếm hơn các loại tư liệu khác nên được sử dụng rộng rãi Tuy nhiên, trong dạy học lịch sử hiện nay, bên cạnh việc tiếp cận nguồn tư liệu chữ viết, GV cần chú ý đến việc sử dụng các nguồn tư liệu khác như tư liệu vật chất, tư liệu hình ảnh, băng ghi âm, ghi hình mà các bảo tàng là một trong những nơi lưu trữ, bảo tồn những nguồn tư liệu đó để giúp cho bài học lịch sử không còn khô khan mà trở nên sinh động, hấp dẫn đối với HS Vì vậy, trong phạm vi luận văn của mình, tác giả đi sâu vào đề xuất sử dụng tư liệu của bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT theo hai hình thức: Một là tổ chức các hoạt động ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo cho HS tại bảo tàng hoặc ở trên lớp thông qua “bảo tàng ảo” được thiết kế bằng phần mềm Photo 3D Album; hai là sử dụng tư liệu của bảo tàng trong việc hướng dẫn HS tìm hiểu bài nội khóa trên lớp học

1.1.2 Vai trò, ý nghĩa của bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

Khác với kiến thức của các bộ môn thuộc lĩnh vực khoa học tự nhiên, kiến thức lịch sử có đặc trưng riêng, đó là tính quá khứ, tính không lặp lại, tính cụ thể, tính hệ thống, tính thống nhất giữa “sử” và “luận” Do đó, trong việc học tập môn

Trang 23

Lịch sử, học sinh không được trực tiếp chứng kiến những sự kiện, hiện tượng lịch

sử Trong giờ học, lời nói của giáo viên dù có sinh động, giàu hình ảnh đến đâu cũng khó có thể tạo được hình ảnh cụ thể, chính xác, đầy đủ về hiện thực lịch sử

như nó đã từng diễn ra Chính vì vậy, bảo tàng “một bằng chứng vật chất xác thực

về con người và môi trường xung quanh con người” (Hội đồng Bảo tàng thế giới

(ICOM), năm 1946) đóng một vai trò và có ý nghĩa quan trọng trong việc tạo nên những biểu tượng sinh động, chính xác về lịch sử quá khứ

Về việc cung cấp kiến thức cho học sinh

Trước hết, sử dụng tư liệu của bảo tàng có ý nghĩa to lớn trong việc hình thành kiến thức lịch sử cho HS Khi được trực tiếp quan sát các tài liệu, hiện vật trong bảo tàng, HS dễ ghi nhớ nội dung kiến thức cơ bản của bài học thông qua những tài liệu, hiện vật gốc… được trưng bày một cách có hệ thống Không chỉ dừng lại ở việc quan sát những biểu hiện bên ngoài của tài liệu, hiện vật mà HS còn

có thể đi sâu tìm hiểu bản chất bên trong của tài liệu, hiện vật đó Thông qua việc tìm hiểu tư liệu của bảo tàng các em còn có khả năng vận dụng những hiểu biết và kiến thức đã học vào cuộc sống thực tiễn hàng ngày

Hiện nay ở nước ta hệ thống bảo tàng từ Trung ương đến địa phương được xây dựng tương đối hoàn chỉnh Mỗi bảo tàng có nội dung trưng bày khác nhau nên

sẽ có những ưu thế riêng của mình trong việc phục vụ công tác dạy và học tập Lịch

sử Trong đó, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam với một khối lượng đồ sộ những tư liệu, hiện vật được sưu tầm và bảo quản (gần 25.000 hiện vật văn hóa, trong đó bao gồm các hiện vật và các tư liệu nghe nhìn) là những đồ dùng sinh hoạt hàng ngày của 54 dân tộc trên lãnh thổ nước ta, từ những hiện vật nhỏ như cái kim, đôi hoa tai, chiếc nhẫn… đến những hiện vật lớn như những ngôi nhà sàn (diện tích 50 - 70m2 ) Bên cạnh những hiện vật gốc là chủ yếu còn có những tranh ảnh, bản đồ, khu tái tạo

và băng ghi hình cũng được sử dụng khá rộng rãi Tất cả đều được sắp xếp một cách có hợp lý trong một không gian chung tạo ra sự gần gũi, thân thiết giữa các dân tộc Việt Nam Bảo tàng góp phần quan trọng vào việc bảo tồn di sản văn hóa, đồng thời trở thành một trung tâm thông tin, tư liệu đặc thù, cho phép chúng ta trực

Trang 24

tiếp quan sát, nghiên cứu tất cả các dân tộc trên mọi miền đất nước ngay tại Thủ đô

Hà Nội Các hiện vật trưng bày trong bảo tàng cho thấy mỗi dân tộc đều mang một nét đặc trưng riêng từ trang phục, nhà ở, phong tục tập quán… nhưng tất cả vẫn có nét tương đồng và giao thoa với nhau Điều đó làm nên bản sắc của văn hóa Việt Nam và đặc trưng văn hóa riêng của từng dân tộc

Thông qua các phần trưng bày, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam đã thể hiện được cuộc sống, sinh hoạt, một số đặc trưng văn hóa của các dân tộc, bảo tàng là nơi có ưu thế đặc biệt trong việc giúp học sinh có cái nhìn toàn diện và nâng cao tri thức khoa học về nền văn hóa của các dân tộc, mở rộng giao lưu và tăng cường sự hiểu biết lẫn nhau giữa các dân tộc trên lãnh thổ Việt Nam

Đến với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, học sinh sẽ hiểu được toàn bộ quá trình phát triển của lịch sử mỹ thuật Việt Nam thông qua trên 18.000 tài liệu hiện vật đang được trưng bày tại đây thể hiện qua các chuyên đề: Mỹ thuật thời Tiền sử – Sơ sử; Mỹ thuật từ thế kỷ XI đến thế kỷ XIX (Mỹ thuật thời Lý – Trần, mỹ thuật thời kỳ Lê Sơ – Mạc – Lê Trung Hưng, mỹ thuật thời Tây Sơn – thời Nguyễn); Mỹ thuật đương đại, Mỹ thuật ứng dụng; Mỹ thuật dân gian; Gốm nghệ thuật Việt Nam

từ thế kỷ XI đến thế kỉ XX Cấu trúc nội dung trưng bày mạch lạc, khúc triết theo trục dọc thời gian của lịch sử mỹ thuật, với sự trưng bày theo loại hình, chất liệu: gốm, tranh sơn mài, sơn dầu, lụa, giấy Mặt xuyên suốt của mỹ thuật từ truyền thống tới hiện đại, chính là cái bảo lưu bản sắc văn hóa dân tộc Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam giúp HS có thể cảm thụ, hiểu và phân tích được những nét hay, nét đẹp của những tác phẩm mỹ thuật Việt Nam tiêu biểu Đồng thời khẳng định những đặc điểm của một nền mỹ thuật dân tộc Nền mỹ thuật đó có chịu ảnh hưởng của một số nền văn hóa xung quanh ở một vài nội dung và trong những thời kì nhất định, nhưng phong cách sáng tạo hoàn toàn mang đặc điểm, tinh thần, tư tưởng và quan niệm tạo hình của người Việt Nam Thông qua các tác phẩm nghệ thuật đó, HS có thể tìm hiểu về các nhân vật lịch sử, về những người anh hùng có công với cách mạng, với dân tộc; tìm hiểu về các sự hiện, hiện tượng lịch sử từ cội nguồn đến các thời kì xây dựng và bảo vệ đất nước, bảo vệ chính quyền cách mạng; đồng thời, HS

Trang 25

được khám phá nhiều khía cạnh đời sống vật chất và đời sống tinh thần của gia đình, dòng họ, của quê hương, đất nước Có thể khẳng định rằng những tác phẩm

mỹ thuật Việt Nam từ ngàn xưa đến nay là những bức tranh “thu nhỏ” chứa đựng giá trị lịch sử với phong cách Việt Nam đậm đà bản sắc dân tộc mà mỗi em HS có thể tìm hiểu, khám phá và trải nghiệm

Về việc hình thành, phát triển kĩ năng cho học sinh

Khi tri giác các tài liệu, hiện vật của bảo tàng học sinh không chỉ quan sát những biểu hiện bên ngoài mà còn phải phân tích, đối chiếu, so sánh để hiểu bản chất bên trong của tư liệu Dưới sự hướng dẫn của GV, nhân viên bảo tàng và dựa trên cơ sở quan sát tài liệu, hiện vật của bảo tàng, HS được rèn luyện các kĩ năng thực hành bộ môn như: kĩ năng quan sát, miêu tả, giới thiệu nội dung tranh ảnh, bản

đồ, hiện vật… một cách ngắn gọn, súc tích, rõ ràng và từ đó các em biết rút ra kết luận về bản chất của các sự kiện, hiện tượng lịch sử, biết vạch ra những mối liên hệ giữa các hiện tượng và từ đó được nâng cao hứng thú học tập

Khi tiến hành tổ chức hoạt động học tập tại Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam thông qua các hình ảnh, hiện vật của bảo tàng sẽ giúp các em hình thành được những kĩ năng cơ bản nêu trên Ví dụ, khi quan sát tượng nhà mồ, mô hình nhà rông

của các dân tộc Tây Nguyên Giáo viên có thể đưa ra câu hỏi: “Em có nhận xét gì

về nhà mồ của các dân tộc ở Tây Nguyên?” Học sinh quan sát mô hình và có thể

miêu tả lại Để tiếp tục phát triển tư duy cho học sinh giáo viên có thể hỏi

thêm:“Tại sao người Gia Rai lại xây dựng những ngôi nhà mồ?”, “Tại sao họ lại dựng các tượng gỗ xung quanh nhà mồ?”, “ Tại sao tượng lại được đẽo theo hình các con vật hay phụ nữ mang thai?”… Học sinh quan sát mô hình và suy nghĩ trả

lời, sau đó lắng nghe lời giải thích của giáo viên: Sở dĩ người Gia Rai xây dựng tượng gỗ xung quanh nhà mồ là xuất phát từ quan niệm mang tính tâm linh, thể hiện mong muốn canh giữ không cho “ma” về quấy rầy con cháu, còn tượng người phụ nữ mang thai thể hiện quan niệm kiếp sau của người Gia Rai, phong tục đó còn thể hiện khát vọng sinh sôi nảy nở và tín ngưỡng phồn thực của các dân tộc Tây Nguyên Việc quan sát tượng nhà mồ của các dân tộc Trường Sơn – Tây Nguyên,

Trang 26

mô hình tái tạo cảnh tang lễ của người Mường, lễ cấp sắc của người Dao, lễ lẩu then của người Tày, lễ hội đâm trâu của người Bana… giúp các em nhận thức được rằng các dân tộc thiểu số ở Việt Nam đều tin rằng mọi vật trên đời đều có linh hồn

và thờ đa thần; tục xây dựng nhà mồ ở Tây Nguyên và các nghi lễ ma chay đều thể hiện truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta, đó là đạo hiếu của người còn sống đối với người đã khuất Đồng thời, qua đó học sinh cũng có thể đánh giá được rằng dù đã

có nhiều thay đổi về nghi thức, tuy nhiên tín ngưỡng của các dân tộc thiểu số vẫn rất rườm rà, tốn kém và mê tín

Đối với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, học sinh được hình thành các kĩ năng chủ yếu như miêu tả, phân tích, so sánh, đối chiếu và liên hệ các sự kiện, hiện tượng lịch sử thông qua tác phẩm nghệ thuật Ví dụ: Trong nhiều di chỉ thuộc văn hóa Hòa Bình chúng ta đã tìm thấy được những dấu hiệu mỹ thuật đầu tiên Mặc dù chỉ là những hình khắc đơn giản về nội dung và bằng trình độ tạo hình sơ khai nhưng sự xuất hiện của những hình khắc đó đã khẳng định sự ra đời của nền nghệ thuật tạo hình của người Việt cổ Trên vách đá lối đi vào hang Đồng Nội có bốn hình khắc với nét sâu và to Trong đó có ba hình mặt người và một hình mặt thú Hiện nay, những hình khắc trên hang đá này đang được lưu trữ tại Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Với tác phẩm nghệ thuật này, giáo viên có thể đưa ra nhiệm vụ yêu

cầu học sinh miêu tả, nhận xét về đặc điểm tạo hình của bốn hình khắc đó: ba hình

khắc mặt người được sắp xếp thành một nhóm Mặt giữa to nhất với kích thước cao 31cm, rộng 34cm Các chi tiết mắt, mũi, miệng rõ ràng, cân đối Nét khắc dứt khoát, khỏe Khuôn mặt vuông vức, đôi mày đậm gợi cho người xem cảm giác đây

là chân dung của một người đàn ông Hai mặt người hai bên có đặc điểm tạo hình khác với hình ở giữa với nét khắc mảnh và mềm hơn Nét cong của khuôn mặt được thể hiện rõ gợi khuôn mặt tròn trịa và nữ tính hơn, các chi tiết mắt, mũi, miệng gần nhau Đặc biệt phía trên đầu của cả ba hình khắc đều có hình gần giống chữ Y Sau

đó, GV yêu cầu HS giải thích và liên hệ với những kiến thức đã được học để trả lời câu hỏi: Hình chữ Y gợi chúng ta nhớ đến hình sừng thú Vậy, tại sao hình khắc chữ

Y đó lại được đặt phía trên đầu của cả ba hình khắc mặt người? Cuối cùng, nhiệm

Trang 27

vụ của GV là giải thích và kết luận: Có nhiều giả thuyết về hình chữ Y, song tập trung lại gồm hai giả thuyết Đây là một cách hóa trang để lại gần các con thú Đồng thời, có thể là một nghi lễ gắn với một hình thức thờ phụng của người Việt cổ

- tô tem giáo Các hình khắc ở hang Đồng Nội một mặt chứng tỏ tư duy hình tượng

và nghệ thuật của người Việt thời nguyên thủy đã tiến thêm một bước Từ những hình đơn giản và độc lập đã tiến đến một bố cục có ý thức Mặt khác, trong các hình khắc đã bộc lộ khả năng quan sát và thể hiện tỉ lệ mặt người, thú tương đối cân đối

và hoàn thiện Ngoài ra nó còn thể hiện tài năng khéo léo của bàn tay qua nét khắc khoáng đạt và phong phú về độ sâu, độ to nhỏ, cứng cáp hoặc mềm mại Chỉ bằng bốn hình khắc đơn giản nhưng gợi cảm, người nghệ nhân nguyên thủy đã cho chúng ta ngày nay nhiều hiểu biết, suy đoán về con người và cuộc sống nguyên

thủy xa xưa

Về việc giáo dục thái độ cho học sinh

Giáo dục thế hệ trẻ bao giờ cũng là mối quan tâm của tất cả các dân tộc, của mọi thời đại và của mọi gia đình Trong đó, bộ môn Lịch sử với đặc trưng riêng của mình rất có ưu thế trong việc giáo dục tư tưởng, tình cảm và đạo đức đúng đắn cho học sinh, hướng các em đến với những điều chân, thiện, mĩ của cuộc sống

Tại bảo tàng, học sinh được trực tiếp tri giác các tài liệu, hiện vật, từ đó giúp các em có được những biểu tượng cụ thể về những sự kiện lịch sử đã qua Điều này

có ý nghĩa rất lớn đối với việc khắc sâu kiến thức lịch sử, giáo dục niềm tin, giáo dục tư tưởng, tình cảm cho học sinh

Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam là ngôi nhà chung của 54 dân tộc, có ưu thế lớn trong việc giáo dục truyền thống yêu nước, truyền thống đoàn kết, lòng tự hào,

tự tôn dân tộc

Khi được trực tiếp quan sát những bộ trang phục độc đáo của các cô gái Tày, Thái, Lự, Hmông, Dao, Pà Thẻn, Lô Lô… các em sẽ thấy được nét đặc sắc, bí ẩn riêng của từng dân tộc Trang phục là “ngôn ngữ” của từng dân tộc ở nước ta, thể hiện phong cách và quan niệm riêng của từng dân tộc Mặc dù có những nét khác biệt nhưng nó đều thống nhất trên nền tảng chung trong trang phục của người phụ

Trang 28

nữ Việt Nam: đẹp mắt, duyên dáng, tinh tế, cầu kì và kín đáo Không chỉ có những đặc trưng riêng về phong cách mà kĩ thuật tạo hình, trang trí trang phục của từng dân tộc, từng nhóm dân tộc, từng vùng cũng rất phong phú, mang đặc điểm riêng theo nếp sống, tâm lý của từng dân tộc, trong đó phải kể đến kĩ thuật tạo hoa văn bằng sáp ong của người Hmông vô cùng sáng tạo Thông qua những bộ trang phục đặc sắc của từng dân tộc, sẽ hình thành ở các em lòng tự hào, khâm phục về tài năng, sự sáng tạo, về những nét đẹp mang đậm bản sắc của từng tộc người

Khi quan sát các hiện vật như các công cụ lao động, những tác phẩm nghệ thuật, các mô hình nhà ở, các công trình kiến trúc đồ sộ ở khuôn viên ngoài trời… học sinh sẽ thấy được sức sáng tạo của tất cả các dân tộc Từ đó có thái độ cảm phục đối với những người lao động, có ý thức giữ gìn, bảo vệ các di sản văn hóa của các dân tộc

Ngoài ra, Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam còn có những không gian thể hiện

sự giao lưu văn hóa như mô hình tái tạo “Chợ Đồng Văn” (Hà Giang) học sinh sẽ thấy được cảnh tượng những chàng trai, cô gái Hmông, Tày… tấp nập mua bán, trao đổi; hay phòng trưng bày “Góc nhìn chéo” thể hiện được những nét tương đồng, sự giao lưu văn hóa giữa hai quốc gia Việt Nam và Pháp Nhưng không gian đó giáo dục tinh thần đoàn kết, yêu thương, ý thức cộng đồng ở học sinh Đồng thời, giúp học sinh ý thức được rằng, trong bối cảnh đất nước đang phát triển mau chóng về mọi mặt, hướng tới công nghiệp hóa, hiện đại hóa thì việc giữ gìn bản sắc văn hóa của mỗi dân tộc đang là một yêu cầu được đề cao, đồng thời, văn hóa dân tộc cần có sự tiếp thu tinh hoa văn hóa của các dân tộc trên thế giới và của cả thời đại

Đối với Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, với phong cách trưng bày độc đáo các tác phẩm nghệ thuật theo từng thời kì lịch sử không chỉ giúp HS có một kiến thức khái quát về Lịch sử mỹ thuật Việt Nam mà còn giúp các em cảm thụ và hiểu rằng: dân tộc Việt Nam chúng ta có truyền thống đấu tranh dựng nước và giữ nước suốt mấy nghìn năm nay Mỗi tác phẩm nghệ thuật chứa đựng một tinh thần, tình cảm lớn lao của những con người lao động đối với quê hương đất nước Đó là niềm vui lớn với cuộc sống sinh hoạt, vui chơi, lễ hội của cư dân Đông Sơn được khắc họa

Trang 29

trên trống đồng Đông Sơn; là vẻ đẹp thâm trầm, sâu lắng theo đúng tâm lý, thị hiếu của người Việt của tượng Phật tổ chùa Tây Phương; là tình cảm quân dân, tình cảm mẫu tử, là hình tượng người chiến sĩ trong bức tranh sơn mài “Bát nước” của họa sĩ Nguyễn Sĩ Ngọc, “Giặc đốt làng tôi” của Nguyễn Sáng, “Xuân trong hầm pháo Điện Biên” của Phạm Thanh Tâm, “Vai đồng chân sắt” của Nguyễn Hồng Ngọc,

“Ngã ba Đồng Lộc” của Lê Huy Hòa…; là hình tượng con người Việt Nam say mê trong niềm vui lao động dựng xây đất nước: “Bình minh trên nông trang” của Nguyễn Đức Nùng, “Tổ đổi công miền núi” của Hoàng Tích Chù, “Mùa gặt” của Nguyễn Tiến Chung… Như vậy, trong suốt chiều dài lịch sử, dân tộc ta đã tạo nên một nền mỹ thuật phong phú, đa dạng và đậm đà bản sắc, mặc dù mỗi lần đất nước

bị xâm lăng là một lần nền văn hóa dân tộc bị thử thách, bị tàn phá Kẻ thù luôn muốn đồng hóa văn hóa của chúng ta Cho đến ngày nay, nền văn hóa nghệ thuật của chúng ta không những không bị đồng hóa mà bản sắc dân tộc càng được khẳng định hơn

Ngoài những ý nghĩa to lớn đối với HS, sử dụng tư liệu của bảo tàng trong dạy học lịch sử còn giúp GV biết cách sưu tầm, bổ sung, làm giàu vốn đồ dùng dạy học và kiến thức lịch sử của mình Điều này đặc biệt bổ ích đối với những trường ở

xa trung tâm thành phố, không có nhà bảo tàng

Như vậy, việc sử dụng tài liệu, hiện vật ở bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông có ý nghĩa phát triển toàn diện học sinh một cách sâu sắc

1.1.3 Một số yêu cầu cơ bản khi sử dụng tư liệu của bảo tàng trong dạy học Lịch sử ở trường THPT

Muốn sử dụng hiệu quả tư liệu của bảo tàng trong dạy học Lịch sử, giáo viên cần đảm bảo những thực hiện tốt những yêu cầu sau:

Thứ nhất, GV cần xác định mục đích sử dụng tư liệu của bảo tàng trong dạy

học một cách rõ ràng, cụ thể, có tính xác định và có thể lượng hóa được để dễ thực hiện, dễ kiểm tra, đánh giá Đặc biệt, mục đích sử dụng tư liệu bảo tàng cần đảm bảo thực hiện được mục tiêu môn học Lịch sử của chương trình giáo dục THPT

Trang 30

theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo, nhằm cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng và giáo dục thái độ cho HS

Thứ hai, GV cần biết lựa chọn sử dụng tư liệu trưng bày tại bảo tàng phù

hợp với mục tiêu, nội dung dạy học và đối tượng HS Bởi tư liệu ở bảo tàng vô cùng đa dạng, phong phú Trong thời gian có hạn của hoạt động ngoại khóa hay bài học nội khóa thì GV phải biết lượng hóa mục tiêu, cân đối nội dung để lựa chọn những tư liệu, hiện vật điển hình Việc lựa chọn đó cần đảm bảo được mối liên hệ giữa tư liệu, hiện vật với nội dung kiến thức Lịch sử Phù hợp với khả năng tìm tòi, trình độ hiểu biết của HS và đảm bảo cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng và giáo dục thái độ cho HS

Thứ ba, GV cần phải có kế hoạch tổ chức nhằm phát huy tính tích cực, chủ

động của HS, tạo điều kiện để cho HS trải nghiệm Đó là việc GV luôn đề cao vai trò hoạt động chủ động, tích cực, sáng tạo của HS, tránh tác động một chiều GV luôn tạo điều kiện tối đa để HS được tham gia vào các hoạt động, từ các hoạt động trong khâu chuẩn bị như lập kế hoạch, phân công người thực hiện cụ thể… tới hoạt động tìm hiểu tư liệu như quan sát, tìm tòi, khám phá, liên hệ kiến thức đã có để giải thích các hiện tượng, sự vật đó GV giao nhiệm vụ rõ ràng, hướng dẫn cụ thể chi tiết để HS biết cách làm việc với tư liệu, có sản phẩm do cá nhân hoặc nhóm tạo

ra các em sẽ phấn khởi càng cố gắng hoàn thành nhiệm vụ Điều đó càng khuyến khích HS làm việc tích cực, nhiệt tình hơn, các em có cơ hội được thể hiện mình Trong quá trình làm việc với tư liệu, các em được áp dụng những kiến thức, sự hiểu biết của cá nhân để nhận biết các sự vật, hiện tượng, các em được trải nghiệm vói những tình huống, có thể chỉ là những tình huống được dựng lại, được mô tả lại nhưng nó tác động mạnh tới tâm tư, tình cảm của các em, bên cạnh đó sẽ giúp các

em phát triển tốt hơn một số kĩ năng sống

Thứ tư, GV cần kết hợp đa dạng các hình thức tổ chức thực hiện Căn cứ vào

chủ đề, mục tiêu đã xác định, hoàn cảnh cụ thể của trường lớp và khả năng của HS

để xác định nội dung phù hợp cho hoạt động bằng cách liệt kê đầy đủ những nội dung của hoạt động từ đó lựa chọn hình thức hoạt động tương ứng

Trang 31

Để tạo nên sự phong phú, đa dạng, hấp dẫn, một hoạt động có thể tiến hành với nhiều hình thức khác nhau Các hoạt động được thực hiện đan xen, hoặc có một hình thức trung tâm và các hình thức bổ trợ, tránh sự trùng lặp, gây nhàm chán Có nhiều hình thức hoạt động khác nhau, tùy thuộc ở mục đích, quy mô tổ chức, trình

độ học sinh, thời gian tiến hành Hình thức tổ chức có thể mang tính quần chúng đông đảo (toàn trường, từng khối lớp), một tập thể nhỏ (từng lớp, từng tổ hay những học sinh khác lớp nhưng cùng sống trên một địa bàn) hay cá nhân Có thể tiến hành những hình thức hoạt động sau:

- Các tổ, nhóm yêu thích tìm hiểu lịch sử (dân tộc, địa phương), bao gồm HS nhiều lớp khác nhau, hoạt động trong một thời gian tương đối lâu dài Tổ nhóm hoạt động dưới sự hướng dẫn của GV, các cơ quan có liên quan và nhà khoa học

- Những hoạt động được tổ chức thường xuyên ở một lớp, một tổ (đọc sách, làm đồ dùng trực quan, sưu tầm tài liệu lịch sử…)

- Những hoạt động có quy mô lớn được tổ chức vào những ngày lễ lớn như tham quan, cắm trại, dạ hội lịch sử… Những hoạt động này cần có sự phối hợp, giúp đỡ của nhiều tổ chức, cơ quan

- Những công việc của từng cá nhân hay một nhóm nhỏ, được tiến hành ở nhà, ở tổ học tập như đọc sách, trao đổi thảo luận

- Những công tác công ích xã hội như nói chuyện lịch sử, tham gia lễ hội ở địa phương, xây dựng nhà bảo tàng…

Việc thực hiện các hình thức tổ chức này phụ thuộc vào nhiều điều kiện (hoàn cảnh của địa phương, nhà trường, lớp học, khả năng của GV và HS, yêu cầu chính trị của các trường hay địa phương…) Vai trò của nhà trường, GV bộ môn rất quan trọng, nhưng việc phát huy tính tích cực, năng lực chủ động, sáng tạo của HS

là điều không thể thiếu được

Thứ năm, GV cần xây dựng kế hoạch kiểm tra, đánh giá kết quả sử dụng tư

liệu của bảo tàng trong dạy học phù hợp với mục tiêu, nội dung chương trình hoạt động Kiểm tra, đánh giá có thể tiến hành dưới nhiều hình thức khác nhau như HS viết bài thu hoạch; từng HS hoặc nhóm HS trình bày sản phẩm… Kết quả kiểm tra,

Trang 32

đánh giá phản ánh việc sử dụng tư liệu của bảo tàng trong dạy học Lịch sử có đạt mục tiêu không, từ đó giáo viên rút kinh nghiệm cho lần tổ chức thực hiện tiếp theo

Tóm lại, để sử dụng hiệu quả tư liệu của bảo tàng trong dạy học Lịch sử, GV cần chủ động tìm hiểu, khai thác, lựa chọn tư liệu, hiện vật phù hợp Bên cạnh đó, yếu tố đóng góp rất lớn vào sự thành công của bài học đó là tinh thần tích cực, chủ động tham gia và khả năng sáng tạo của HS Vì vậy, khi xây dựng kế hoạch bài dạy, GV cần phối hợp linh hoạt, nhuần nhuyễn các phương pháp và hình thức tổ chức hoạt động phù hợp với khả năng và trình độ của HS để thu hút đông đảo các

tham gia và yêu thích tìm hiểu lịch sử, tìm hiểu văn hóa của dân tộc

Ở Việt Nam, học sinh học Lịch sử từ lớp 4, lớp 5 Nhưng trước đó, các em cũng đã tiếp nhận tri thức lịch sử thông qua các môn học khác như Tiếng Việt, Đạo đức, Tự nhiên và Xã hội… Từ những kiến thức khái quát ban đầu, đến các cấp học cao hơn, học sinh sẽ được tiếp cận với các bài học chi tiết, cụ thể về lịch sử Việt Nam và lịch sử thế giới Nhận thức rõ vai trò của mình trong việc góp phần nâng cao chất lượng dạy và học môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông, trong những năm qua các trường phổ thông trên cả nước đã có sự liên kết chặt chẽ với các bảo tàng

Trang 33

để tổ chức đưa học sinh đến tham quan, học tập với nhiều loại hình khác nhau Ví

dụ, khi dạy về lịch sử thời nhà Trần, giáo viên đưa học sinh đến học tại phòng trưng bày “Triều đại nhà Trần” của Bảo tàng Lịch sử Quốc gia Khi dạy các bài học liên quan đến thời kì chống Mỹ cứu nước của dân tộc, GV đưa HS đến tham quan, học tập tại các phòng trưng bày có liên quan đến nội dung bài học của một số bảo tàng như: Bảo tàng Lịch sử Quốc gia, Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam, Bảo tàng Phòng không Không quân… Hoặc những ngày hội, ngày lễ lớn của đất nước, giáo viên có thể đưa học sinh đến với Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam để các em được “hâm nóng”, ghi nhớ truyền thống hào hùng của đất nước Riêng sinh viên các trường cao đẳng, đại học thì việc học qua “kênh” bảo tàng có ý nghĩa đặc biệt quan trọng Các môn Chủ nghĩa Mác - Lênin, Tư tưởng Hồ Chí Minh

và Đường lối cách mạng của Đảng Cộng sản Việt Nam đã trở nên gần gũi, thực tế hơn với những giờ học, buổi học tại bảo tàng Như vậy, việc đổi mới cách dạy và học lịch sử thông qua “kênh” bảo tàng đã tạo hứng thú cho học sinh, sinh viên, các

em học môn Lịch sử dễ hơn, còn giáo viên cũng sẽ có những giờ lên lớp sinh động, hữu ích và hiệu quả hơn

Để hỗ trợ cho việc dạy và học môn Lịch sử của các em đạt kết quả tốt, ngoài việc đưa học sinh đến tham quan bảo tàng, một số bảo tàng còn phối hợp với nhà trường phổ thông trên địa bàn sở tại hoặc một số tỉnh tổ chức các cuộc trưng bày lưu động nhằm giúp các em học sinh có thể tiếp xúc với các sự kiện, nhân vật lịch

sử một cách cụ thể thông qua các panô ảnh Với những cuộc trưng bày lưu động, triển lãm chuyên đề, tuy chưa được quy mô, nhưng bước đầu đã giúp học sinh của nhiều trường được tiếp xúc, cảm nhận, quan sát và thu nhận được những hình ảnh, hiện vật và nội dung các câu chuyện lịch sử Có thể nhắc tới những cuộc trưng bày lưu động tiêu biểu dưới đây:

Ngày 1/5/2007, Bảo tàng Cách mạng Việt Nam (nay là Bảo tàng Lịch sử Quốc gia) phối hợp với Phòng Giáo dục huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc xây dựng triển lãm ảnh “Phong trào giải phóng dân tộc của nhân dân Việt Nam 1858 - 1954” và “Cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp 1946 - 1954” Cũng trong năm

Trang 34

2007, Bảo tàng Bảo tàng Lịch sử Quốc gia cho ra mắt Câu lạc bộ “Em yêu Lịch sử” với mục đích góp phần bổ sung kiến thức, nâng cao hiệu quả học môn Lịch sử cho học sinh khối phổ thông Sau hơn 7 năm hoạt động, Câu lạc bộ đã tổ chức được gần

100 buổi sinh hoạt, 3 buổi tổng kết dành cho học sinh các khối (Tiểu học, THCS, THPT), 2 cuộc Hội nghị, Hội thảo và bước đầu hướng đến sinh viên một số trường đại học, cao đẳng ở Hà Nội Cùng với việc xây dựng nội dung, chương trình hoạt động, Câu lạc bộ còn luôn quan tâm đến trình độ từng cấp học và lứa tuổi để tổ chức những hoạt động chơi cho phù hợp Mặt khác, Ban Chủ nhiệm Câu lạc bộ và giáo viên dạy môn Lịch sử ở các trường đã từng bước triển khai cụ thể các chương trình với nhiều hình thức như: tham quan, khám phá các câu chuyện lịch sử thông qua những hiện vật, tài liệu tiêu biểu tại bảo tàng; tổ chức các trò chơi “Nhận diện Lịch sử”, “Theo dòng Lịch sử” gắn với các nhân vật, sự kiện điển hình của dân tộc;

tổ chức cho giáo viên đi tham quan di tích lịch sử cách mạng Những hoạt động của Câu lạc bộ này đã lôi cuốn được sự quan tâm, chú ý của nhiều tổ chức giáo dục, các

cơ quan văn hóa và các bảo tàng quốc gia Việt Nam Đặc biệt, mô hình này đã nhận được sự hưởng ứng nhiệt tình của các em học sinh, phụ huynh và giáo viên dạy môn Lịch sử ở nhà trường phổ thông trên địa bàn Hà Nội

Ngày 20/3/2009, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia đã tổ chức cuộc triển lãm chuyên đề “Lịch sử Cách mạng Việt Nam (1945 - 1954)” tại trường THPT Nam Sách (Hải Dương)

Năm 2010 và 2011, nhân các sự kiện lớn của đất nước, chào mừng Đại lễ

1000 năm Thăng Long Hà Nội, Đại hội Đại biểu Toàn quốc lần thứ XI của Đảng Cộng sản Việt Nam, Bảo tàng Lịch sử Quốc gia tiếp tục mang bộ triển lãm lưu động đi trưng bày tại các trường THPT của tỉnh Thái Bình, Hà Giang như: THPT Nội trú, Ngọc Hà, Lê Hồng Phong, Bắc Quang, Lê Quý Đôn, Nguyễn Đức Cảnh, Nguyễn Thái Bình, Nguyễn Công Trứ Thông qua hình thức trưng bày chuyên đề, các em học sinh đã hiểu và rất ấn tượng, xúc động về những năm tháng khó khăn của đất nước Việc làm này cũng tạo cơ hội cho các em hiểu rõ hơn về lịch sử nước

Trang 35

nhà, mở rộng thêm kiến thức cho bản thân, học hỏi nhiều điều hay, biết trân trọng truyền thống tốt đẹp của dân tộc mà cha ông ta đã xây dựng nên

Hướng tới kỉ niệm 65 năm ngày Toàn quốc kháng chiến (19/12/1946 - 19/12/2011), Bảo tàng Lịch sử Quân sự Việt Nam phối hợp với trường THPT Chu Văn An (Hà Nội) tổ chức triển lãm chuyên đề “Âm vang lời thề quyết tử” từ ngày 1/11 đến 8/11/2011 Đây là một hoạt động có ý nghĩa giáo dục lòng yêu nước, lòng

tự hào dân tộc, yêu thích môn Lịch sử trong các em học sinh - thế hệ tương lai của đất nước Trong thời gian triển lãm, các lớp có tiết học môn Lịch sử ở trường đều đến xem triển lãm, được nghe thuyết minh để các em hiểu rõ và bổ trợ tốt hơn cho bài học trên lớp Bảo tàng đã kết hợp cho các em xem phim tư liệu về cuộc đấu tranh của nhân dân ta trong thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp, về truyền thống hào hùng của Quân dội nhân dân Việt Nam nhằm tạo cho các em một không khí hứng khởi khi học môn Lịch sử Ngay trong ngày đầu tiên, triển lãm đã phục vụ

800 lượt học sinh Theo lịch ngoại khóa của nhà trường thì dự kiến tổng số học sinh đến tham quan, học tập tại triển lãm sẽ lên đến 6000 lượt giáo viên và học sinh Triển lãm đã mang lại cho các em những giờ học ngoại khóa bổ ích, ý nghĩa Khi được hỏi, tất cả các học sinh đều có chung mong muốn: thường xuyên có nhiều cuộc trưng bày với nhiều chủ đề được diễn ra tại các trường, để các em không còn cảm thấy những sự kiện lịch sử xa lạ và môn học Lịch sử sẽ không còn “khô, khó” nữa

Bên cạnh tổ chức trưng bày tại các trường học với những đặc thù khác nhau, nhiều bảo tàng ở Hà Nội cũng tổ chức các chuyên đề tại chính khuôn viên của bảo tàng mình, hay tại các nhà văn hóa và mời học sinh các trường đến tham quan như: Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Bảo tàng Hồ Chí Minh, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam, Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam Thông qua những cuộc trưng bày lưu động, triển lãm chuyên đề, bản thân các bảo tàng đã tìm ra cho mình một hướng hoạt động có tính giáo dục cao, hoàn thành tốt hơn chức năng giáo dục của mình Về phía các trường học, đây thực sự là những giờ ngoại khóa mang lại hiệu quả thiết thực Bởi qua các triển lãm chuyên đề, bản thân học sinh và giáo viên được tận mắt nhìn thấy

Trang 36

các tài liệu, hiện vật, hình ảnh về lịch sử mà trong sách giáo khoa chưa hoặc còn quá ít và qua đó mỗi em lại càng có điều kiện củng cố kiến thức đã được học trên lớp ở môn Lịch sử

Một trong những hình thức hoạt động của các bảo tàng trong công tác tuyên truyền giáo dục đối với học sinh phổ thông chính là việc cho ra đời Câu lạc bộ, Phòng Khám phá, Không gian Sáng tạo nhằm tạo sân chơi hấp dẫn cho các em khi đến vơi bảo tàng Đối với học sinh phổ thông, bảo tàng không chỉ là nơi lưu giữ những hiện vật quý hiếm như các chức năng, nhiệm vụ vốn có của nó (sưu tầm, bảo quản và giới thiệu cho công chúng) mà còn phải có trách nhiệm cao hơn nữa, đó là trách nhiệm giáo dục truyền thống, truyền bá văn hóa Việt Nam, gợi lên những vấn

đề về bảo vệ và phát huy giá trị di sản văn hóa dân tộc Chính những bài học lịch sử mắt thấy, tai nghe khi tham quan bảo tàng sẽ để lại trong các em những dấu ấn tốt đẹp, khơi dậy lòng tự hào dân tộc, giúp các em trở thành những con ngoan, có ích cho xã hội Bởi vậy, để tránh sự “nhàm chán” cho học sinh khi đến bảo tàng, hình thức Câu lạc bộ, Phòng Khám phá, Không gian Sáng tạo đã và đang được phát huy mạnh mẽ trong các bảo tàng ở Hà Nội hiện nay

Ở Bảo tàng Dân tộc học Việt Nam, Phòng Khám phá đã hoạt động được hơn

10 năm và đến nay địa chỉ này vẫn luôn là điểm cuốn hút nhiều đối tượng đến tham gia, đặc biệt là vào dịp hè với những chương trình thú vị như: lớp học làm đồ vải truyền thống; đồ chơi dân gian; tìm hiểu về văn hóa các nước Đông Nam Á qua quốc kì, di sản văn hóa, tiền tệ… không gian sáng tạo ở đây chính là cách để các

em tiếp cận với di sản, trân trọng những giá trị văn hóa truyền thống, có kiến thức

cơ bản để thưởng thức nghệ thuật

Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam lại có Không gian Sáng tạo, tới đây các em học sinh được tiếp cận với di sản nghệ thuật, biết trân trọng những giá trị truyền thống,

có kiến thức cơ bản để thưởng thức nghệ thuật Với diện tích 70m2 dành riêng cho trẻ em từ 5 - 15 tuổi, thiết kế đẹp, trang thiết bị hiện đại, các em được các họa sĩ, cán bộ giáo dục hướng dẫn tìm hiểu, khám phá nghệ thuật thông qua các hoạt động

tô màu (tô màu tranh, tô màu tượng), vẽ tự do, xé dán giấy, xếp hình tranh theo

Trang 37

mẫu, ghép tranh khuyết, nặn, in tranh Đông Hồ… Điểm khác biệt của Không gian Sáng tạo của Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam so với các điểm vui chơi giải trí khác đó

là các hoạt động đều được các chuyên gia xây dựng trên ý tưởng khai thác giá trị di sản dân gian Việt Nam hay những kiệt tác đang được trưng bày tại bảo tàng

Ở Bảo tàng Phụ nữ Việt Nam (Hà Nội), Phòng Khám phá rất chú ý cho hoc sinh rèn kĩ năng logic, hiểu biết thêm về văn hóa các dân tộc Gian phòng rộng khoảng gần 100m2 nhưng sinh động, được trang bị đầy đủ các giáo cụ trực quan phục vụ nhiều trò chơi giáo dục hấp dẫn Đến đây, các em được hướng dẫn chia nhóm, tham gia các hoạt động “học mà vui vui mà học” như têm trầu - tôi vôi, nhận biết và thử trang phục truyền thống của các dân tộc; ghép hình, ghép thông tin các nhân vật, thời gian, sự kiện lịch sử; chơi ô chữ theo các chủ đề; vẽ tranh các đồ vật trưng bày trong bảo tàng; thực hành các môn thủ công, sáng tạo trang sức, trang phục Có thể nói Phòng Khám phá của bảo tàng này là địa chỉ được nhiều trường lựa chọn đưa học sinh đến tham quan, vui chơi, học tập

Tóm lại, hiện nay, trong khi trẻ thiếu sân chơi, người lớn phàn nàn, lo âu về

sự mai một của trò chơi truyền thống, những kiến thức về văn hóa nghệ thuật cho thế hệ trẻ học đường thì các Phòng Khám phá của các bảo tàng rõ ràng là những địa chỉ tin cậy Các kiến thức lịch sử đến với học sinh không khô khan, cứng nhắc mà hiển thị trong các trò chơi đã tạo cho các em hứng thú, sáng tạo thực sự Với việc các Phòng Khám phá được mở ra, chính các bảo tàng cũng thực hiện thêm một bước chức năng của mình là giới thiệu, trưng bày, một lần nữa các giá trị hiện vật

có trong bảo tàng tới được đối tượng tiềm năng là học sinh phổ thông Thêm vào

đó, những sân chơi này luôn nhận được sự ủng hộ của các ngành bảo tàng học, sư phạm học cùng các nhà quản lý trong việc mở lối đưa ra những hướng tiếp cận truyền đạt mới cho học sinh

Tuy đã tiến hành nhiều hình thức hoạt động nhằm thu hút học sinh, sinh viên đến tham quan, học tập, trải nghiệm, nghiên cứu và bước đầu đạt được nhiều hiệu quả mong muốn như đã nói ở trên, song việc dạy và học môn Lịch sử của học sinh phổ thông qua thực tế ở bảo tàng vẫn còn chưa được tiến hành thường xuyên Hình

Trang 38

thức học tập tại bảo tàng chủ yếu mới chỉ dừng lại ở hoạt động tham quan theo chu

kì, nhiều thì có trường tổ chức cho học sinh tham quan một năm hai lần, bình thường thì một năm một lần những cũng có những trường, nhất là những trường nghèo thì hai năm, thậm chí ba năm mới cho học sinh đến học tập theo hình thức này một lần Hơn nữa, việc học tập ở bảo tàng với các hình thức có hiệu quả giáo dục lịch sử cao hơn như: Câu lạc bộ, Không gian Trải nghiệm, Phòng Khám phá, các trò chơi lại chưa phổ biến và tiến hành rộng rãi, hầu hết mới chỉ tập trung ở Hà Nội và các bảo tàng lớn Tần số diễn ra các hình thức học tâp này không nhiều, chỉ khoảng vài lần trong năm Từ nội dung, chương trình đến việc tổ chức thực hiện vẫn còn manh mún, nhỏ lẻ, mạnh ai nấy làm, chưa có sự phối hợp một cách có hệ thống, đồng bộ, chưa có sự đầu tư thích đáng kể cả về nhân lực lẫn tài chính

Trong giai đoạn hiện nay, khi mà nền kinh tế thị trường phát triển mạnh, do nhiều nguyên nhân tác động đã làm cho không ít thanh niên và học sinh có dấu hiệu

“lãng quên” các giá trị văn hóa và lịch sử tốt đẹp của dân tộc Mặt khác, việc dạy và học Lịch sử ở trường phổ thông trong thời gian qua còn khá nhiều bất cập về nhiều khía cạnh: bài giảng của giáo viên, chương trình đào tạo, tâm lý của học sinh và phụ huynh, học sinh không nhớ sự kiện lịch sử cơ bản, chất lượng bài thi môn Lịch

sử còn ở mức thấp Cho nên vấn đề đặt ra là cần phải có nhiều hình thức dạy và học khác nhau nhằm bổ sung kiến thức, nâng cao trình độ chất lượng đào tạo như học tập trên lớp, nghiên cứu tham quan bảo tàng, di tích đê giúp các em tiếp thi kiến thức lịch sử một cách chủ động, sáng tạo và hứng thú Hơn bao giờ hết, công tác tuyên truyền giáo dục truyền thống lịch sử cách mạng cho học sinh tới tham quan, học tập tại bảo tàng, di tích hiện nay là việc làm quan trọng và rất cần thiết

1.2.2 Thực trạng sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử ở trường phổ thông hiện nay

1.2.2.1 Mục đích, nội dung điều tra, khảo sát

Kết quả điều tra, khảo sát về thực trạng sử dụng bảo tàng nói chung và Bảo tàng Dân tộc học, Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng là cơ sở đưa ra những kết luận chung cũng như những yêu cầu đặt ra cần giải quyết để có thể tận dụng được

Trang 39

ưu thế của bảo tàng, khai thác tư liệu của bảo tàng trong dạy học lịch sử cho học sinh THPT có hiệu quả

Việc điều tra, khảo sát được tiến hành ở 2 nhóm trường THPT:

Nhóm 1: Các trường THPT có khoảng cách dưới 20km so với bảo tàng như

THPT Tây Hồ (Hà Nội), THPT Kim Liên (Hà Nội)

Nhóm 2: Các trường THPT có khoảng cách lớn hơn 20km so với bảo tàng

như Trung Giã (Sóc Sơn, Hà Nội), THPT Sơn Tây (Hà Nội), THPT Ninh Giang (Hải Dương), THPT Tây Tiền Hải (Thái Bình)

Về phương pháp tiến hành: điều tra bằng phiếu khảo sát ý kiến của 20 GV và

378 HS các trường ở địa bàn nêu trên

Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào các vấn đề cơ bản sau:

Tìm hiểu quan niệm của giáo viên về các vấn đề như: sự cần thiết của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa tại bảo tàng; ý nghĩa của việc sử dụng bảo tàng nói chung, Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng trong dạy học Lịch sử cho HS; thực trạng sử dụng tư liệu của Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử; các hình thức tổ chức ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo phù hợp khi tiến hành tại Bảo tàng Dân tộc học

và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam Điều tra, khảo sát còn tập trung vào tìm hiểu những thuận lợi và khó khăn của giáo viên trong quá trình tổ chức, triển khai (Phiếu khảo sát ý kiến GV – Phụ lục 1)

Đối với học sinh: nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào tìm hiểu thực trạng được học tập Lịch sử với nguồn tư liệu của bảo tàng nói chung, Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mỹ thuật Việt Nam nói riêng; các hình thức ngoại khóa, các hoạt động trải nghiệm sáng tạo mà các em mong muốn được tham gia tại bảo tàng;

ý kiến đánh giá của học sinh về ý nghĩa, vai trò của bảo tàng trong học tập Lịch sử Bên cạnh đó, điều tra, khảo sát cũng tìm hiểu những thuận lợi, khó khăn mà các em gặp phải khi tham gia hoạt động học tập tại bảo tàng nhằm tìm hướng giải quyết để

Trang 40

1.2.2.2 Kết quả điều tra, khảo sát

a Quan niệm của giáo viên và học sinh về việc sử dụng bảo tàng trong dạy

và học Lịch sử

Nội dung điều tra, khảo sát tập trung vào những vấn đề cơ bản như:

- Quan niệm của GV về sự cần thiết của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa tại bảo tàng trong dạy học Lịch sử cho HS ở trường THPT (Rất cần thiết/Cần thiết/Không cần thiết)

- Đánh giá của GV về mức độ hiệu quả của việc tổ chức hoạt động ngoại khóa Lịch sử tại bảo tàng cho HS (Rất hiệu quả/Hiệu quả/ Bình thường/Ít hiệu quả/Không hiệu quả)

- Quan niệm của GV và HS về sử dụng tư liệu của Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử (Có thể/Không thể/Không biết)

- Đánh giá của GV và HS về mức độ hiệu quả của việc sử dụng tư liệu của Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong học tập Lịch sử (Rất hiệu quả/Hiệu quả/ Bình thường/Ít hiệu quả/Không hiệu quả)

Kết quả điều tra cho thấy 100% ý kiến GV được chọn khảo sát thống nhất cho rằng cần tổ chức hoạt động ngoại khóa Lịch sử tại bảo tàng cho HS THPT Kết quả trên chứng tỏ các thầy cô đều nhận thức được tầm quan trọng của hoạt động ngoại khóa trong việc cung cấp kiến thức, phát triển kĩ năng và giáo dục thái độ cho

HS Điều đó cũng được thể hiện trong việc đánh giá của các thầy, cô về mức độ hiệu quả, hay nói cách khác là đánh giá về ý nghĩa của việc sử dụng bảo tàng trong dạy học Lịch sử được thống kê trong Bảng 1.1 dưới đây:

Ngày đăng: 16/05/2016, 20:56

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Ý kiến đánh giá của GV về mức độ hiệu quả của việc tổ chức hoạt - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
Bảng 1.1 Ý kiến đánh giá của GV về mức độ hiệu quả của việc tổ chức hoạt (Trang 41)
Bảng 1.2: Ý kiến đánh giá của HS về mức độ hiệu quả của việc sử dụng Bảo - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
Bảng 1.2 Ý kiến đánh giá của HS về mức độ hiệu quả của việc sử dụng Bảo (Trang 43)
Bảng 1.3: Tổng hợp ý kiến đề xuất của HS về hình thức sử dụng Bảo tàng Dân  tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử (%) - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
Bảng 1.3 Tổng hợp ý kiến đề xuất của HS về hình thức sử dụng Bảo tàng Dân tộc học và Bảo tàng Mĩ thuật Việt Nam trong dạy học Lịch sử (%) (Trang 48)
Hình văn - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
Hình v ăn (Trang 63)
-  5  bảng  ngữ  hệ  ở  Việt  Nam. - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
5 bảng ngữ hệ ở Việt Nam (Trang 64)
Hình  tượng - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
nh tượng (Trang 66)
Bảng 2.1: Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong dự - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
Bảng 2.1 Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong dự (Trang 94)
Bảng 2.2: Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
Bảng 2.2 Ý kiến đánh giá của HS về sự phù hợp của các hoạt động trong (Trang 97)
Hình thuyền trên tang trống đồng Ngọc Lũ - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
Hình thuy ền trên tang trống đồng Ngọc Lũ (Trang 109)
Hình thuyền trên tang trống đồng Ngọc Lũ - Sử dụng bảo tàng dân tộc học và bảo tàng mĩ thuật việt nam trong dạy học lịch sử lớp 10 trung học phổ thông
Hình thuy ền trên tang trống đồng Ngọc Lũ (Trang 114)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w