1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn sử

111 218 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 111
Dung lượng 1,24 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và thực tiễn dạyhọc chưa thực sự đạt hiệu quả trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác g

Trang 1

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ MẠNH HẢI

DẠY HỌC LOẠI BÀI KHÁI QUÁT GIAI ĐOẠN VĂN HỌC

VÀ TÁC GIA VĂN HỌC (NGỮ VĂN 12) THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

TRI THỨC VĂN- SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

HÀ NỘI – 2015

Trang 2

ĐẠI HỌC QUỐC GIA HÀ NỘI TRƯỜNG ĐẠI HỌC GIÁO DỤC

VŨ MẠNH HẢI

DẠY HỌC LOẠI BÀI KHÁI QUÁT GIAI ĐOẠN VĂN HỌC

VÀ TÁC GIA VĂN HỌC (NGỮ VĂN 12) THEO HƯỚNG TÍCH HỢP

TRI THỨC VĂN- SỬ

LUẬN VĂN THẠC SĨ SƯ PHẠM NGỮ VĂN

CHUYÊN NGÀNH: LÝ LUẬN VÀ PHƯƠNG PHÁP DẠY HỌC

BỘ MÔN NGỮ VĂN

Mã số: 60 14 01 11

Người hướng dẫn khoa học: PGS TS Lê Thời Tân

HÀ NỘI – 2015

Trang 3

i

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành chương trình cao học và luận văn này, bản thân tôi đã nhận được sự quan tâm giúp đỡ của Trường Đại học Giáo dục, các thầy giáo,

cô giáo cùng với sự động viên khích lệ của gia đình, bạn bè

Với lòng kính trọng và biết ơn sâu sắc, tôi xin gửi lời cảm ơn đặc biệt tới thầy hướng dẫn đã tận tình hướng dẫn tôi trong suốt quá trình hoàn thành luận văn này

Tôi xin chân thành cảm ơn các thầy cô giáo trường Đại học Giáo dục – Đại học Quốc gia Hà Nội, các thầy cô cùng các em học sinh trường Trung học phổ thông đã tạo mọi điều kiện giúp đỡ tôi trong thời gian thực hiện đề tài

Cuối cùng, xin gửi lời cảm ơn sâu sắc đến tất cả bạn bè, đồng nghiệp và đặc biệt là gia đình, những người luôn kịp thời động viên và giúp đỡ tạo điều kiện thuận lợi nhất để tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp

Hà Nội, ngày 20 tháng 9 năm 2015 Tác giả luận văn

Vũ Mạnh Hải

Trang 4

ii

DANH MỤC CÁC CHỮ VIẾT TẮT

THPT : Trung học phổ thông SGK : Sách Giáo Khoa

VH-NT : Văn học – Nghệ thuật UNESCO : Tổ chức Văn hóa, Khoa học và Giáo dục

Liên hợp Quốc

Trang 5

iii

MỤC LỤC

LỜI CẢM ƠN i

DANH MỤC CÁC BẢNG v

DANH MỤC BIỂU ĐỒ vi

MỞ ĐẦU 1

CHƯƠNG 1: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN CỦA ĐỀ TÀI 12

1.1.Một số vấn đề lí luận về dạy học tích hợp 12

1.1.1.Tích hợp và dạy học tích hợp 12

1.1.2.Quan điểm dạy học tích hợp 14

1.1.3.Ý nghĩa của việc dạy học tích hợp 15

1.2.Tích hợp trong dạy môn học Ngữ văn ở trường phổ thông 17

1.3.Dạy học tích hợp tri thức Văn – Sử trong dạy Văn học sử của chương trình Ngữ Văn lớp 12 20

1.3.1.Mối quan hệ giữa tri thức Văn học với Lịch sử 20

1.3.2.Vai trò của việc tích hợp tri thức Văn – Sử vào dạy học Văn học sử 21

1.3.3.Ý nghĩa của việc tích hợp kiến thức Văn – Sử vào dạy học học Văn học sử 22

1.3.4.Nội dung của các bài Văn học sử của chương trình Ngữ văn 22

1.4.Cơ sở thực tiễn 27

1.4.1.Về phía Giáo viên 27

1.4.2.Về phía Học sinh 35

CHƯƠNG 2: MỘT SỐ BIỆN PHÁP TRONG CÁC KHÂU DẠY HỌC TÍCH HỢP TRI THỨC VĂN HỌC – LỊCH SỬ QUA CÁC BÀI KHÁI QUÁT GIAI ĐOẠN VĂN HỌC VÀ TÁC GIA VĂN HỌC 38

2.1 Một số yêu cầu khi dạy học Văn học sử của chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tích hợp tri thức Văn – Sử 38

2.1.1 Dạy học tích hợp cần đảm bảo những yêu cầu chung của dạy học 38

2.1.2 Đảm bảo những yêu cầu riêng của dạy học Văn học sử của chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tích hợp 52

2.2 Một số biện pháp tích hợp trong các khâu dạy học bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học của chương trình Ngữ văn lớp 12 56

2.2.1.Mục tiêu tích hợp 56

2.2.2 Nội dung tích hợp 58

Trang 6

iv

2.2.3 Hình thức tổ chức, phương pháp và cách thức dạy học tích hợp 63

CHƯƠNG 3: THỰC NGHIỆM SƯ PHẠM 72

3.1 Khái quát về thực nghiệm 72

3.1.1 Mục đích thực nghiệm 72

3.1.2 Nội dung thực nghiệm 73

3.1.3 Phương pháp và các bước thực nghiệm 73

3.1.4 Đối tượng thực nghiệm và đối chứng 73

3.2 Thiết kế giáo án thực nghiệm 74

3.2.1 Mục tiêu cần đạt 74

3.2.2 Phương pháp 74

3.2.3 Phương tiện 74

3.2.4 Tiến trình tổ chức bài dạy- 2 tiết 74

3.3 Kết quả thực nghiệm và đánh giá 90

3.3.1 Đánh giá mức độ hứng thú và sự tích cực của học sinh khi học “Khái quát văn học Việt Nam từ năm 1945 đến hết thế kỷ XX” theo hướng tích hợp 90

3.3.2 Đánh giá mức độ nhận thức của Học sinh sau khi học bài “Khái quát văn học Việt Nam từ năm 1945 đến hết thế kỷ XX” theo hướng tích hợp Văn – Sử tại hai lớp thực nghiệm và đối chứng 91

3.4.2 Hạn chế của thực nghiệm 93

KẾT LUẬN VÀ KHUYẾN NGHỊ 95

1.Kết luận 95

2.Khuyến nghị 96

2.1.Đối với Giáo viên 96

2.2.Đối với các cơ quan quản lí giáo dục và nhà trường 97

TÀI LIỆU THAM KHẢO 99

PHỤ LỤC 101

Phụ lục 1: Phiếu hỏi giáo viên 101

Phụ lục 2: Phiếu hỏi học sinh 103

Trang 7

v

DANH MỤC CÁC BẢNG

Bảng 1.1: Đánh giá của giáo viên về mức độ cần thiết của việc vận dụng quan

điểm tích hợp vào dạy học 29

Bảng1.2: Số lượng giáo viên vận dụng tích hợp trong dạy học Ngữ Văn 30

Bảng 1.3: Nguồn cung cấp tri thức về tích hợp 31

cho giáo viên THPT 31

Bảng 1.4: Mức độ nghiên cứu về dạy học tích hợp Ngữ văn 32

trung học phổ thông trong sáng kiến kinh nghiệm hàng năm 32

Bảng 1.5: Mức độ cần thiết của việc vận dụng tích hợp kiến thức văn - sử trong 34

dạy học văn học sử của chương trình Ngữ văn lớp 12 34

Bảng 3.1: Điều tra về mức độ hứng thú của học sinh sau giờ học thực nghiệm 90

Bảng 3.2 Thống kê phân loại kết quả nhận thức của học sinh 92

lớp thực nghiệm, đối chứng 92

Trang 8

vi

DANH MỤC BIỂU ĐỒ

Biểu đồ 1.1: Mức độ cần thiết vận dụng tích hợp kiến thức văn – sử trong dạy học văn học sử của chương trình Ngữ văn lớp 12 34Biểu đồ 3.1: Kết quả nhận thức của học sinh lớp thực nghiệm, đối chứng 92

Trang 9

1

MỞ ĐẦU

1 Lí do chọn đề tài

1.1 Tích hợp – một trong những định hướng của dạy học hiện đại

nhằm phát triển toàn diện năng lực người học

Thế giới đang từng ngày, từng giờ phát triển với sự bùng nổ công nghệ thông tin và xu thế hội nhập quốc tế Tình hình đó đặt ra cho giáo dục nhiều thời cơ và thách thức đòi hỏi những con người Việt Nam mới phát triển toàn diện, năng động, sáng tạo có năng lực vận dụng kiến thức tổng hợp vào xử lí các tình huống thực tiễn Vì vậy, dạy học tích hợp trở thành một xu thế tất yếu

đã mang lại hiệu quả tích cực

Hòa chung trong xu thế đó, giáo dục Việt Nam cũng đang có những bước tiến căn bản từ việc biên soạn chương trình sách giáo khoa cho tới việc đổi mới nội dung, phương pháp dạy học theo hướng tích hợp Đặc biệt kế hoạch hành động của toàn ngành giáo dục nhằm thực hiện Nghị quyết 29 của Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa XI về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục đào tạo đã tiếp tục khẳng định tính đúng đắn của việc xây dựng chương trình, sách giáo khoa và tổ chức dạy học các môn học mới theo định hướng tích hợp nhằm phát triển toàn diện năng lực người học Chương trình trung học phổ thông môn Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo đã ghi rõ:

“Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương

trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong sách giáo khoa; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo”

Trang 10

2

Vì vậy việc đi sâu vào nghiên cứu lí thuyết dạy học tích hợp và ứng dụng thể nghiệm tính khả thi của nó trong thực tiễn dạy học của mỗi môn học, lớp học, bậc học sẽ góp phần hiện thực hóa và thực hiện thành công đề án đổi mới giáo dục sắp tới

1.2 Sự cần thiết của việc dạy học loại bài khát quát giai đoạn văn

học và tác gia văn học theo hướng tích hợp tri thức văn- sử

Trong những năm gần đây, vấn đề chất lượng giáo dục đã trở thành mối quan tâm hàng đầu không chỉ của riêng ngành giáo dục mà của toàn xã hội Chính vì thế, đổi mới phương pháp dạy học được coi là một trong những nhiệm vụ quan trọng của quá trình dạy học nhằm nâng cao chất lượng dạy và học Nhất là trong hoàn cảnh hội nhập ngày nay, hệ thống giáo dục Trung học phổ thông của nước ta để vươn tới, đuổi kịp và hòa nhập với xu thế phát triển Trung học phổ thông của các nước trong khu vực và thế giới thì vấn đề đổi mới phương pháp dạy học ngày càng trở thành một đòi hỏi bức thiết, không

thể trì hoãn Trong Luật giáo dục ,điều 24, mục 2 có ghi: “Phương pháp giáo

dục phổ thông phải phát huy tính tích cực, tự giác, chủ động, sáng tạo của học sinh; phù hợp với đặc điểm của từng lớp học, môn học; bồi dưỡng phương pháp tự học, rèn luyện kĩ năng vận dụng kiến thức vào thực tiễn; tác động đến tình cảm, đem lại niềm vui, hứng thú học tập cho học sinh” Môn

Ngữ văn là một môn học góp phần trang bị kiến thức, bồi dưỡng tâm hồn, hình thành và phát triển nhân cách cho học sinh Thực tế, việc dạy học văn nói chung và văn học sử nói riêng ở trường THPT Việt Nam hiện nay bên cạnh những thành công đáng kể vẫn còn gặp những trở ngại nhất định Thực trạng giờ dạy văn học sử còn đơn điệu, tẻ nhạt, giáo viên giảng nhưng không làm nổi bật được đặc trưng kiểu bài; học sinh vẫn giữ thói quen thụ động: nghe- ghi chép và nhắc lại những điều thầy nói chứ không chịu tư duy, độc lập suy nghĩ hệ thống hoá kiến thức theo mạch chảy Lịch sử Việt Nam cũng như đúc rút cho mình những bài học sâu sắc của thế hệ đi trước qua sự dẫn dắt của thầy Điều đó khiến cho học sinh không hứng thú học văn, dẫn đến

Trang 11

3

chất lượng các giờ dạy văn ngày càng giảm sút Phương pháp dạy học mới đặt

ra yêu cầu thay thế và đổi mới phương pháp dạy học cũ để thực sự lấy người học làm trung tâmcủa quá trình dạy học.Giờ học văn học sử phải là một giờ học sôi nổi, có không khí văn chương và hào khí lịch sử dân tộc, đem lại niềm say mê, hứng thú cho học sinh.Để hoàn thành sứ mệnh đó, trước hết vai trò của người dạy và người học phải thay đổi Người dạy không còn là người “ phán truyền như cha đạo”, cung cấp kiến thức một chiều cho học sinh nữa mà trở thành người định hướng, người bạn đồng hành cùng học sinh trên con đường đi tìm chân lý nghệ thuật Người học không còn là “cái bình” để chứa kiến thức nữa mà là “một cánh chim” luôn chứa đựng khát vọng khám phá muốn bay lên

Trong chương trình Ngữ văn Trung học phổ thông,đặc biệt là chương trình Ngữ văn lớp 12, bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học là một trong hai loại bài dạy tương đối khó vì kiến thức khái quát rộng ( bên cạnh bài lý luận văn học), đây cũng là loại kiến thức bị học sinh xem là khô

và khó nên ngại học, nhưng vai trò của kiến thức văn học sử lại rất quan trọng đối với cả người dạy và người học Vì vậy, nếu có một phương pháp dạy học hiệu quả sẽ giúp ích rất nhiều cho học sinh và giáo viên trong việc khám phá cũng như chiếm lĩnh kiến thức văn học

Xuất phát từ yêu cầu đổi mới phương pháp dạy học và thực tiễn dạyhọc

chưa thực sự đạt hiệu quả trên, tôi quyết định lựa chọn đề tài “Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (Ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn- sử ” làm công trình nghiên cứu khoa học, với mong

muốn góp một tiếng nói nhỏ bé vào công cuộc đổi mới phương pháp dạy học văn nói chung và việc giảng dạy bài văn học sử trong chương trình Ngữ văn lớp 12 nói riêng

2 Lịch sử nghiên cứu

Trong lịch sử phát triển khoa học của nhân loại, song song với việc phân hóa sâu sắc người ta cũng hướng tới sự tích hợp chặt chẽ với sự ra đời

Trang 12

4

của các khoa học liên ngành, đa ngành Do đó, tích hợp đã trở thành một xu thế dạy học hiện đại đang được quan tâm nghiên cứu và áp dụng vào nhà trường ở nhiều nước trên thế giới Tuy còn nhiều khó khăn trong tìm kiếm và nghiên cứu tài liệu nước ngoài nhưng từ những tài liệu đã thu thập được có thể khái quát chung về tình hình nghiên cứu về dạy học tích hợp hiện nay như sau:

2.1 Tài liệu nước ngoài

Tháng 9/1968, Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với sự bảo trợ của UNESCO, đã tổ chức "Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa

học" tại Varna (Bungari) Hội nghị đặt ra 2 vấn đề: Vì sao phải dạy học tích

hợp các khoa học? và Dạy học tích hợp các khoa học là gì? Theo đó, dạy học

tích hợp được UNESCO định nghĩa như sau: “Một cách trình bày các khái

niệm và nguyên lí khoa học cho phép diễn đạt sự thống nhất cơ bản của tư tưởng khoa học, tránh nhấn quá mạnh hoặc quá sớm sự sai khác giữa các lĩnh vực khoa học khác nhau”

Như vậy hội nghị đã nêu lên sự cần thiết và một số cách hiểu đầu tiên

về tích hợp có vai trò mở đầu cho một trào lưu giáo dục hiện đại Nó đã tạo

nền tảng cho tác giả Xavier Roegiers nghiên cứu và hoàn thành cuốn “Khoa

sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển các năng lực ở nhà trường”

(biên dịch tổng hợp của Đào Trọng Quang và Nguyễn Ngọc Nhị) Trong đó, ông đưa ra định nghĩa và mục tiêu của khoa sư phạm tích hợp; ảnh hưởng của khoa sư phạm tích hợp đối với chương trình, việc đánh giá những kiến thức học sinh lĩnh hội và ảnh hưởng đối với việc biên soạn sách giáo khoa

Quan điểm tích hợp được nghiên cứu ngày càng rộng rãi với các công trình của Cepe, Fourez, De Ketelle…Cụ thể, đã có rất nhiều nhà nghiên cứu quan tâm đến lý thuyết về tích hợp như: Hội đồng liên quốc gia về giảng dạy khoa học, với dự bảo trợ của Unesco đã tổ chức tại Varna (Bungari) “Hội nghị tích hợp việc giảng dạy các khoa học”; Hội nghị phối hợp trong chương trình của Unesco Paris 1972; quan điểm của Cepe chủ yếu nhấn mạnh sự phát

Trang 13

5

triển của các phương pháp xuyên môn « bằng cách hướng những động tác sư phạm vào những hoạt động chuyên môn chúng ta có một nguyên tắc để tổ chức hiệu nghiệm Nhờ đó có thể lôi cuốn học sinh trong những môn học khác nhau vào giải quyết những bài toán xử lí thông tin và sáng tạo ra những bước tiến giúp học sinh vượt qua các ngưỡng trong toàn bộ thời gian học tập một cách có phối hợp và nhất quán » Quan điểm De Ketelle thì đặc biệt nhấn mạnh mục tiêu tích hợp là kết quả toàn bộ quá trình học tập trong nhiều năm học Nó được thể nghiệm trong các tình huống tích hợp đề xuất với học sinh

2.2 Tư liệu trong nước

a Dạy học tích hợp môn Ngữ văn nói chung

Nghị quyết của Hội nghị Trung ương 8 khoá XI về đổi mới căn bản,

toàn diện giáo dục và đào tạo xác định “Tiếp tục đổi mới mạnh mẽ và đồng bộ

các yếu tố cơ bản của giáo dục, đào tạo theo hướng coi trọng phát triển phẩm chất, năng lực của người học”

Ở Việt Nam, trong những năm gần đây cũng xuất hiện những bài viết

về vấn đề đổi mới dạy học theo định hướng tích hợp Các tác giả Nguyễn Văn

Cường-Bernd Meier trong cuốn “Lý luận dạy học hiện đại” phần “Cơ sở đổi

mới mục tiêu, nội dung và phương pháp dạy học” cũng đã chỉ rõ “ Giáo dục theo hướng tích hợp nhằm mục tiêu phát triển năng lực người học, nhằm đảm bảo chất lượng đầu ra của việc dạy học”

Gần đây nhất, trong tài liệu tập huấn “Dạy học và kiểm tra đánh giá

theo hướng tích hợp” năm 2008, các chuyên gia của Bộ giáo dục và đào tạo

đã có những định hướng và hướng dẫn cụ thể việc thực hiện dạy học và kiểm

tra đánh giá môn Ngữ văn THPT theo hướng tích hợp Tài liệu nêu rõ: “Phải

thực hiện thành công việc chuyển từ phương pháp dạy học theo lối “truyền thụ một chiều” sang dạy học cách học cách vận dụng kiến thức, rèn luyện kỹ năng, hình thành năng lực và phẩm chất”

Tích hợp trong dạy học Ngữ văn nói chung dạy học văn bài khát quát giai đoạn văn học và tác gia văn học nói riêng cũng đã được đề cập trong

Trang 14

6

Chương trình THPT môn Ngữ văn, năm 2006 của Bộ Giáo dục và Đào tạo

Chương trình nêu rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ

chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn

bộ môn học, từ Đọc văn, Tiếng Việt đến Làm văn; quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học; quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập; tích hợp trong chương trình; tích hợp trong sách giáo khoa; tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh; tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” Từ quan điểm chỉ

đạo đó chương trình sách giáo khoa Ngữ văn đã bước đầu biên soạn theo hướng tích hợp cùng với đó là hàng loạt các công trình nghiên cứu và thể nghiệm ứng dụng lí thuyết tích hợp trong dạy học Ngữ văn Hoà chung theo

tư tưởng chỉ đạo chung của môn Ngữ văn, nội dung và phương pháp dạy bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học đã có những thay đổi cụ thể như: Nội dung bài đã được phân chia thành từng phần theo dòng lịch sử thời gian, thời gian dạy học được tăng lên giúp đảm bảo cho giáo viên dạy theo hướng tích hợp một cách mạch lạc rõ rang, khuyến khích thầy cô biên soạn nhiều hoạt động nhóm cho học sinh trong quá trình dạy học…

Một số tài liệu đề cập vấn đề này như bộ sách Thiết kế dạy học Ngữ văn

trung học cơ sở theo hướng tích hợp của Trương Dĩnh, bài tập rèn luyện kĩ năng tích hợp Ngữ văn trung học cơ sở đã nêu lên những phương diện tích

hợp trong dạy học Ngữ văn trung học cơ sở; năng lực tích hợp, kiểu văn bản tích hợp, phương pháp tích hợp, mối quan hệ giữa tích hợp và tích cực, tích hợp và hiệu quả dạy học tích hợp, tích hợp gắn liền với đời sống xã hội và cách triển khai các bài dạy cụ thể trong chương trình trung học cơ sở theo

định hướng tích hợp Luận án Hệ thống đề kiểm tra nhằm đánh giá năng lực

Ngữ văn trung học cơ sở theo yêu cầu tích hợp của Nguyễn Thị Hồng Vân

(năm 2006) đã hướng tới việc xây dựng đề kiểm tra Ngữ văn trung học cơ sở theo hướng tích hợp để đáp ứng yêu cầu thực tiễn triển khai chương trình,

Trang 15

7

sách giáo khoa trung học cơ sở Ngoài ra còn một số bài báo bàn về quan điểm tích hợp môn Ngữ văn và dạy học Ngữ văn của: "Dạy học tích hợp",

Trần Bá Hoành, Tạp chí Khoa học giáo dục "Tích hợp trong dạy học Ngữ

văn”, Nguyễn Thanh Hùng, Tạp chí Khoa học giáo dục."Dạy học tích hợp trong trường phổ thông Australi", Nguyễn Kim Hồng và Hoàng Công Minh

Hùng, Tạp chí khoa học Đại học Sư phạm Thành phố Hồ Chí Minh "Đo

lường và đánh giá trong giáo dục", Trần Thị Tuyết Oanh, Tạp chí giáo dục

số."Phương thức và nguyên tắc tích hợp các môn học nhằm nâng cao chất lượng

giáo dục – đào tạo", Dương Tiến Sỹ , Tạp chí giáo dục số."Dạy học tích hợp và khả năng áp dụng vào thực tiễn Việt Nam", Vũ Thị Sơn, Tạp chí dạy học ngày

nay."Phối hợp các hình thức tổ chức lớp học và phương pháp dạy học nhằm

phát huy tính tích cực của học sinh trong dạy học Tiếng Việt", Nguyễn Trí,

Tạp chí Giáo dục… Trong đó các tác giả đã trình bày về các quan điểm tích hợp, các hướng tích hợp trong chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn để triển khai nội dung dạy học

Trong định hướng đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục sau 2015, dạy học tích hợp trở thành một định hướng lớn trong việc thay đổi sách giáo khoa, hình thành môn học mới Đề án trên đã nêu: hình thành hai môn học mới khoa học tự nhiên trên sự tích hợp các phân môn Lí - Hóa - Sinh, khoa học xã hội trên cơ cơ sở tích hợp các môn Sử - Địa - Giáo dục công dân; trong từng môn học cũng thực hiện các chuyên đề tích hợp để huy động kiến thức liên môn giải quyết các hoạt động thực tiễn Hiện nay Bộ Giáo dục và đào tạo đang

phát động cuộc thi “Dạy học tích hợp dành cho giáo viên trung học” như một

thể nghiệm ứng dụng tính khả thi của định hướng tích hợp trong thực tiễn Có rất nhiều sản phẩm dự thi có giá trị với các bài dạy tích hợp của nhiều môn học theo các cách thức khác nhau

Nhìn chung hiện nay đã có rất nhiều công trình nghiên cứu và thực nghiệm về dạy học tích hợp được tiến hành với những thành tựu quan trọng:

Đưa ra các cách hiểu về khái niệm tích hợp, đề xuất các biện pháp dạy học

Trang 16

8

tích hợp, phân tích ưu thế và thách thức của việc ứng dụng dạy học tích hợp trong thực tiễn và một vài ứng dụng với các bộ môn Đó là những tiền đề khái

quát rất quan trọng để triển khai các đề tài nghiên cứu cụ thể

Vậy, các công trình chuyên luận mang tính ứng dụng lí thuyết tích hợp trên vào dạy học từng phân môn và nhóm kiến thức cụ thể một cách khoa học

và hệ thống còn chưa nhiều

b Dạy tích hợp tri thức văn sử trong dạy học văn học sử

Phần trên là các nghiên cứu về việc dạy tích hợp môn Ngữ văn nói chung Các nghiên cứu đó đã khẳng định việc nghiên cứu dạy học văn học sử trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tích hợp tri thức văn sử hoàn toàn là điều cần thiết Trong SGK Ngữ văn lớp 12 các tác giả, tác phẩm văn học đều nằm trong thời kỳ 1945 đến hết thế kỷ XX.Và đây cũng là thời kỳ quan trọng trong lịch sử Việt Nam.Từ sau năm 1945 lịch sử đất nước bước quan một trang mới Nước Việt Nam bắt đầu xây dựng nên văn hoá mới sau khi độc lập, giải phóng dân tộc Hơn thế nữa, văn học là một bộ phận của văn hoá Lẽ đương nhiên, hơn bao giờ hết bài khái quát thời kỳ văn học và tác gia văn học gắn chặt với lịch sử dân tộc Như vậy thuận theo thực tế tích hợp tri thức văn sử vào dạy bài văn học sử là lẽ tự nhiên và có thể nói văn học Việt Nam thời kỳ này là một bộ phận văn học chiếm vị trí rất quan trọng trong lịch

sử phát triển của nền văn học dân tộc Nhưng phần nghiên cứu về văn học sử này chưa nhiều, chủ yếu chỉ được thâu tóm trong những cuốn giáo trình văn

học của từng giai đoạn như: Văn học Việt Nam 1945- 1954 của Mã Giang Lân (tái bản lần thứ nhất) năm 1998; Văn học Việt Nam 1954- 1964 của Mã Giang Lân (xuất bản lần thứ nhất) năm 1990; Văn học Việt Nam 1965- 1975 của

Nguyễn Bá Thành (xuất bản lần thứ nhất) năm 1990 Còn về phần hướng dẫn

giảng dạy thì có cuốn Sách giáo viên Ngữ văn lớp 12, tập 1 và tập 2 của Bộ giáo dục và đào tạo do giáo sư Phan Trọng Luận tổng chủ biên; Sách giáo

viên Ngữ văn 12 nâng cao, tập 1 và tập 2 của Bộ giáo dục và đào tạo do giáo

sư Trần Đình Sử tổng chủ biên; Thiết kế bài giảng Ngữ văn 12, tập 1và tập 2

Trang 17

9

của nhà xuất bản Hà Nội do tiến sĩ Nguyễn Văn Đường chủ biên; một số giáo

án được thiết kế trên mạng như: text.123doc.vn>Giáo án_Bài giảng>Ngữ

văn; thuviengiaoan.vn/… /giao_an_ngu_van_12…, nhưng đó mới chỉ dừng

lại ở những “gợi ý dạy học”chứ chưa có một đề tài nào đi sâu nghiên cứu về

đổi mới phương pháp dạy học văn học sử trong chương trình Ngữ văn lớp 12 theo hướng tích hợp tri thức văn sử một cách đầy đặn Song nhìn chung những công trình nghiên cứu và những bài gợi ý dạy học cùng cơ sở phân tích đặc điểm cụ thể của từng bài học, mục tiêu chương trình và đặc điểm học sinh

đề xuất những hướng tích hợp hiệu quả và khoa học nhằm nâng cao chất lượng dạy học văn học sử trong chương trình Ngữ văn lớp 12 nói riêng môn Ngữ văn nói chung đó là nguồn tài liệu vô cùng quý báu giúp chúng tôi thực

hiện đề tài “Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (Ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn- sử”

4 Nhiệm vụ nghiên cứu

 Nghiên cứu cơ sở lý và thực tiễn của việc dạy học văn học sử theo hướng tích hợp tri thức văn sử

 Khảo sát và đánh giá thực trạng của việc dạy học văn học sử ở trường THPT theo hướng tích hợp tri thức văn sử

Trang 18

10

 Xây dựng quy trình tổ chức dạy học các bài văn học sử theo hướng tích hợp tri thức văn sử

5 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

5.1 Đối tượng nghiên cứu

Phương pháp dạy học các bài học về văn học sử theo hướng tích hợp tri thức văn sử

5.2 Phạm vi nghiên cứu

Do hạn chế về điều kiện nghiên cứu đề tài chỉ đi sâu vào những vấn đề

lí luận cơ bản về tích hợp, dạy học tích hợp Từ đó tiến hành nghiên cứu việc dạy học Văn học sử qua các bài học về văn học sử trong chương trình SGK Ngữ văn lớp 12.( các bài khái quát giai đoạn và tác gia văn học).Tại trường

THPT Phú Xuyên A- Hà Nội, lớp 12A5

6 Vấn đề nghiên cứu

Trong nghiên cứu này, một số vấn đề sau đây được đưa ra để xem xét:

- Dạy học các bài học về văn học sử theo hướng tích hợp tri thức văn –

sử

- Các giải pháp trong việc dạy học các bài học văn học sử theo hướng tích hợp tri thức văn sử

7 Phương pháp nghiên cứu

7.1 Nhóm phương pháp nghiên cứu lý luận

- Phương pháp phân tích, tổng hợp

- Phương pháp thống kê, phân loại

7.2 Nhóm phương pháp nghiên cứu thực tiễn

- Phương pháp điều tra: khảo sát bằng phiếu điều tra, phỏng vấn đối với GV

và HS

- Phương pháp thống kê, phân loại: thống kê, phân loại kết quả khảo sát

Phương pháp quan sát: quan sát các hoạt động tự học của HS trong và ngoài giờ lên lớp

- Phương pháp thực nghiệm: ứng dụng kết quả nghiên cứu vào thực tiễn

Trang 19

11

8 Cấu trúc luận văn

- Ngoài phần Mở đầu; Kết luận và Khuyến nghị; Tài liệu tham khảo, luận văn

bao gồm các chương:

 Chương 1: Cơ sở lý luận và thực tiễn của đề tài

 Chương 2: Biện pháp dạy học tích hợp tri thức văn – sử qua các bài văn

học sử

 Chương 3: Thực nghiệm sư phạm

Trang 20

Ban đầu có các tên gọi là: Liên hệ (Permeation), Kết hợp (Combination), Phối hợp (Coordination), Tích hợp (Intergration) Có nhiều cách nhìn nhận và nghiên cứu vấn đề tích hợp từ góc độ khác nhau Nội hàm khoa học khái niệm

tích hợp có thể hiểu một cách khái quát là sự hợp nhất hay là sự nhất thể hoá

đưa tới một đối tượng mới như là một thể thống nhất trên những nét bản chất nhất của các thành phần đối tượng Như vậy tích hợp là sự kết hợp nhiều đối

tượng riêng rẽ thành một đối tượng mới Ở đó đối tượng mới là sự giao thoa thống nhất về bản chất chứ không phải sự lắp ghép đơn thuần của các yếu tố Tích hợp mang hai đặc điểm bản chất: tính thống nhất và tính liên kết Các thành tố được tích hợp luôn có sự tương tác gắn kết chặt chẽ, bổ sung, phối

hợp với nhau đồng thời vẫn là một chỉnh thể thống nhất, hoàn chỉnh

Trong lí luận dạy học, các nhà giáo dục, các nhà phương pháp đi sâu nghiên cứu vấn đề dạy học tích hợp.Đó không phải phép cô ̣ng đơn thuần các kiến th ức cùng da ̣y trong mô ̣t bài , một chương hay một môn học mà là s ự tổng hòa các kiến thức khác nhau thành mô ̣t đơn vi ̣ kiến thức duy nhất hướng tới giải quyết vấn đề thực tiễn của dạy học văn học sử chính là lịch sử văn học

là một quá trình nằm trong lịch sử nói chung Như vậy, tích hợp có hai tính chất cơ bản, liên hệ mật thiết với nhau, quy định lẫn nhau là tính liên kết và tính toàn vẹn Tính liên kết đòi hỏi các thành phần phải có mối liên hệ chặt chẽ tác động qua lại hỗ trợ, bổ sung cho nhau để tạo thành một thực thể toàn vẹn Tính toàn vẹn là phải có sự thống nhất nội tại các thành phần liên kết hướng tới một vấn đề chung, chứ không phải chỉ là sắp đặt các thành phần

Trang 21

xã hội.Quá trình dạy học tích hợp bao gồm những hoạt động tích hợp giúp học sinh biết cách phối hợp các kiến thức, kĩ năng và thao tác một cách có hệ thống Định nghĩa này nhấn mạnh cách tiếp cận khái niệm và nguyên lí khoa học chứ không phải là hợp nhất nội dung

Như vậy, có thể hiểu tích hợp bao hàm cả nội dung và hoạt động.Trong

cuốn Khoa sư phạm tích hợp hay làm thế nào để phát triển năng lực ở nhà

trường của Xavier Roegiers (1996) do Đào Trọng Quang & Nguyễn Ngọc

Nhị dịch(NXB Giáo dục,Hà Nội) [17, tr.24] đã nhấn mạnh dạy cách phát huy sáng tạo và cách vận dụng kiến thức vào các tình huống khác nhau, được định

nghĩa như sau: Khoa sư phạm tích hợp là một quan niệm về quá trình học tập

trong đó toàn thể quá trình học tập góp phần hình thành ở học sinh những năng lực rõ ràng, có dự tính trước, những điều cần thiết cho học sinh, nhằm phục vụ cho các quá trình học tập tương lai, hoặc nhằm hòa nhập học sinh vào cuộc sống lao động Nói một cách khác, dạy học tích hợp là dạy cho học

sinh cách sử dụng kiến thức, kĩ năng của mình để giải quyết và ứng dụng trong những tình huống cụ thể với mục đích phát triển năng lực Ngoài ra, dạy học tích hợp còn tạo nên mối liên hệ giữa kiến thức và kĩ năng của các chuyên ngành hoặc các môn học khác nhau để bảo đảm cho học sinh phát huy có hiệu quả những kiến thức và năng lực của mình trong việc giải quyết các tình huống tích hợp cụ thể

Trang 22

hiểu trong một phạm vi rộng, từ kế hoạch giảng dạy của một chương trình đến

kế hoạch giảng dạy của một môn học, kế hoạch giảng dạy của bài học Cũng theo các tác giả của từ điển này, có hai kiểu tích hợp là tích hợp dọc và tích

hợp ngang với nhiều nội dung tích hợp khác nhau Tích hợp dọc là loại tích

hợp dựa trên cơ sở liên kết hai hoặc nhiều môn học thuộc cùng một lĩnh vực hoặc một số lĩnh vực gần nhau còn tích hợp ngang là tích hợp dựa trên cơ sở liên kết các đối tượng học tập, nghiên cứu thuộc các lĩnh vực khoa học khác nhau xung quanh một chủ đề Trong Chương trình trung học phổ thông môn

Ngữ văn của Bộ Giáo dục và Đào tạo, NXB Giáo dục, Hà Nội [1, tr.27], khái

niệm tích hợp cũng được hiểu là sự phối hợp các tri thức gần gũi, có quan hệ

mật thiết với nhau trong thực tiễn, để chúng hỗ trợ và tác động vào nhau, phối hợp với nhau nhằm tạo nên kết quả tổng hợp nhanh chóng và vững chắc

Theo bài viết "Phương thức và nguyên tắc tích hợp các môn học nhằm nâng cao

chất lượng giáo dục – đào tạo", Tạp chí giáo dục số(26), [10, tr.21] Dương Tiến

Sỹ có nêu: Tích hợp là sự kết hợp một cách hữu cơ, có hệ thống các kiến thức

(khái niệm) thuộc các môn học khác nhau thành một nội dung thống nhất, dựa trên cơ sở các mối quan hệ về lý luận và thực tiễn được đề cập trong các môn học đó

Trong bài "Tích hợp trong dạy học Ngữ văn", Tạp chí Khoa học giáo

dục, [7, tr.6] Nguyễn Thanh Hùng lại phân tích: “Tích hợp là quan điểm hòa

nhập, được hình thành từ sự nhất thể hóa những khả năng, một sự quy tụ tối

đa tất cả những đặc trưng chung vào một chỉnh thể duy nhất”

1.1.2 Quan điểm dạy học tích hợp

Như vậy, có rất nhiều quan điểm xung quanh tích hợp và dạy học tích hợp Về bản chất tích hợp trong dạy học có thể hiểu là sự nhất thể hóa, liên

Trang 23

15

kết các đối tượng dạy học trong cùng một kế hoạch hoạt động để đảm bảo sự thống nhất, hài hòa, trọn vẹn của hệ thống dạy học nhằm đạt mục tiêu dạy học tốt nhất Không thể gọi là tích hợp nếu các tri thức, kĩ năng chỉ được thụ đắc, tác động một cách riêng rẽ, không có sự liên kết, phối hợp với nhau trong lĩnh hội nội dung hay giải quyết một vấn đề, tình huống Luận văn lấy quan điểm này làm cơ sở để tiến hành nghiên cứu và thực nghiệm

1.1.3 Ý nghĩa của việc dạy học tích hợp

Tích hợp là một xu thế tích cực trong giáo dục hiện đại.Vận dụng dạy học tích hợp sẽ mang lại những triển vọng mới góp phần nâng cao chất lượng dạy học

Thứ nhất, nó góp phần khắc phu ̣c ha ̣n chế cách ho ̣c khép kín tách biê ̣t , tạo điều kiê ̣n cho viê ̣c ho ̣c theo h ướng mở gắn với thực tiễn đời sống Dạy học tích hợp cung cấp kiến thức ở dạng “sống” trong mối liên hệ với các tình huống, các bài toán thực tiễn.Vì vậy nó góp phần gắn lí thuyết với thực hành nâng cao hiệu quả dạy học

Thứ hai, tích hợp tạo ra tính liên kết, xác lập được mối quan hệ giữa các nội dung kiến thức của các phân môn khác nhau Hiện nay các kiến thức bộ môn được cung cấp rời rạc thiếu nhất quán Dạy học tích hợp sẽ góp phần xâu chuỗi những kiến thức lẻ tẻ ấy thành các chuỗi vấn đề tích hợp.Từ đó học sinh

sẽ có cái nhìn tổng quan về vấn đề, giúp ghi nhớ nhanh và dễ dàng huy động kiến thức ứng dụng vào thực tiễn cuộc sống

Thứ ba, tích hợp làm cho việc học trở nên có ý nghĩa khi nâng cao tính tương tác giữa học sinh và học sinh, học sinh và giáo viên hướng tới hình thành năng lực và bồi dưỡng phẩm chất nhân văn cho học sinh.Qua sự giao lưu và những phản hồi của giáo viên cùng với các hoạt động học tập tích cực, học sinh sẽ có thêm nhiều trạng thái tích cực trong học tập Chương trình dạy học tích hợp cũng giúp học sinh có nhiều cơ hội làm việc theo nhóm tạo nên bầu không khí thân thiện, đoàn kết, học hỏi lẫn nhau Từ đó, góp phần hình thành cho học sinh những năng lực cơ bản: năng lực tư duy, năng lực giao

Trang 24

16

tiếp, năng lực huy động kiến thức tổng hợp vào giải quyết các tình huống thực tiễn và phát triển các kĩ năng mềm Tích hợp cũng là điều kiê ̣n giáo du ̣c phẩm chất nhân văn cho học sinh Qua các hình thức tổ chức dạy học mới có thể lồng ghép những bài học nhân văn sâu sắc, những câu chuyện đạo đức và rèn cách ứng xử giáo tiếp trước các vấn đề của đời sống

Thứ tư, tích hợp sẽ tránh được trùng lặp kiến thức, giảm tải và giúp học sinh lĩnh hô ̣i nhiều kiến thức mới chỉ qua tích hợp mới có được Kiến thức của các bộ môn, các phân môn có nhiều phần trùng lặp bởi vậy dạy học tích hợp giúp chúng ta giảm tải bớt các kiến thức đó Học sinh còn có cơ hội hiểu thêm

về các kiến thức liên môn mà chỉ khi đối sánh các kiến thức khác nhau ta mới

có được Dạy học tích hợp cũng giúp phân biệt cái cốt yếu với cái ít quan trọng hơn Cái cốt yếu là những năng lực cơ bản cần cho học sinh vận dụng vào xử lí những tình huống có ý nghĩa trong cuộc sống hoặc nền tảng cho những quá trình học tập tiếp theo

Ngoài ra, chương trình dạy học tích hợp có độ phức hợp cao hơn so với chương trình dạy học truyền thống, cho nên một thách thức cũng là một ưu thế là vai trò của giáo viên trở nên năng động và quan trọng hơn Trong dạy học truyền thống vai trò người giáo viên tương đối đơn giản chủ yếu là soạn giáo án Còn đối với dạy học tích hợp, vai trò của giáo viên nặng nề hơn rất nhiều vì phải thực hiện nhiều công đoạn, không chỉ soạn giáo án mà còn phải thiết kế nội dung dạy học như thế nào để tạo sự liên kết các môn học một cách phù hợp theo nhu cầu của học sinh Vì vậy trong dạy học tích hợp cả học sinh

và giáo viên đều là những chủ thể hoạt động tích cực

Như vậy có thể thấy rằng dạy học tích hợp có ý nghĩa quan trọng trong việc mang lại những giờ học thú vị bổ ích: tạo tính mở, tính liên kết trong nội dung dạy học, nâng cao hứng thú và hình thành cho học sinh những năng lực

cơ bản cần thiết nhất cho cuộc sống Đó là một hướng đi đầy triển vọng hứa hẹn việc mang lại một diện mạo mới góp phần đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục nước nhà

Trang 25

17

1.2 Tích hợp trong dạy môn học Ngữ văn ở trường phổ thông

Hiện nay, xu hướng tích hợp vẫn đang được tiếp tục nghiên cứu, thử nghiệm và áp dụng vào đổi mới chương trình và sách giáo trung học phổ thông Chương trình cấp trung học phổ thông, môn Ngữ văn, năm 2002 do

Bộ Giáo dục và Đào tạo dự thảo đã ghi rõ: “Lấy quan điểm tích hợp làm nguyên tắc chỉ đạo để tổ chức nội dung chương trình, biên soạn sách giáo khoa và lựa chọn các phương pháp giảng dạy Nguyên tắc tích hợp phải được quán triệt trong toàn bộ môn học, từ đọc Văn, tiếng Việt đến Làm Văn, quán triệt trong mọi khâu của quá trình dạy học, quán triệt trong mọi yếu tố của hoạt động học tập, tích hợp trong chương trình, tích hợp trong sách giáo khoa, tích hợp trong phương pháp dạy học của giáo viên và tích hợp trong hoạt động học tập của học sinh, tích hợp trong các sách đọc thêm, tham khảo” Với đặc trưng của mình, môn Ngữ văn cho phép thực hiện việc tích hợp

là lẽ tự nhiên Bởi tác phẩm văn học vẫn luôn được coi là nghệ thuật của ngôn

từ, việc tiếp nhận văn bản văn học trước hết là tiếp xúc với phương tiện biểu đạt là ngôn ngữ, mặt khác, việc thực hành tạo lập các văn bản thông dụng trong nhà trường và xã hội cũng sử dụng ngôn ngữ làm công cụ Như vậy, cả

ba nội dung Văn học, tiếng Việt và Tập làm văn trong môn học này đều có điểm đồng quy là tiếng Việt và đều có mục đích là hình thành cho một học sinh năng lực sử dụng tiếng Việt trong tiếp nhận và tạo lập văn bản Với quan điểm tích hợp, sẽ tận dụng được những khả năng phối hợp giữa các nội dung học tập để thực hiện mục tiêu học tập một cách hiệu quả hơn, đồng thời tránh được sự chồng chéo, sự quá tải, sự trùng lặp hoặc tách biệt của chương trình

và sách giáo khoa Văn - tiếng Việt trước đây Quan điểm tích hợp sẽ dẫn đến những thay đổi trong việc xác định mục tiêu môn học.Với quan điểm tích hợp, ba phân môn trên sẽ được phối hợp triển khai cùng hướng tới một mục đích chung là nâng cao năng lực sử dụng tiếng Việt cho học sinh, cụ thể là hình thành 4 kĩ năng nghe, nói, đọc, viết, từ đó hình thành cho học sinh năng lực phân tích, bình giá và cảm thụ văn học nghệ thuật một cách chủ động, tích

Trang 26

18

cực, từng bước hình thành và phát triển năng lực tư duy và giao tiếp bằng tiếng Việt Theo tinh thần trên, nội dung dạy kiến thức luôn gắn kết với bốn kĩ năng, nội dung dạy tiếng Việt, Văn học và Tập làm văn được kết hợp nhuần nhuyễn, dạy tiếng Việt đồng thời dạy Văn, qua dạy Văn mà cũng cố khắc sâu kiến thức, kĩ năng tiếng Việt, Tập làm văn giúp thực hành tổng hợp các kiến thức, kĩ năng đó Với quan điểm tích hợp, hệ thống các văn bản đưa vào chương trình và sách giáo khoa sẽ là ngữ liệu để gắn kết một nội dung học tập của các phân môn Nếu chương trình Ngữ văn THCS lấy trục tích hợp là các kiểu văn bản giúp học sinh hiểu đặc điểm nội dung và nghệ thuật của các văn bản theo kiểu loại và tạo lập được các văn bản theo kiểu loại, thì chương trình Ngữ văn THPT lấy trục tích hợp là hai mạch nội dung đọc hiểu và tạo lập văn bản, nhằm giúp học sinh phát triển và nâng cao năng lực thưởng thức Văn học

và năng lực sử dụng tiếng Việt trong các tình huống giao tiếp văn hóa (nói và viết)

Mặt khác, tính tích hợp của chương trình và SGK Ngữ văn còn thể hiện

ở mối liên thông giữa kiến sách vở và kiến thức đời sống, liên thông giữa kiến thức, kĩ năng của môn Ngữ văn với các môn học thuộc ngành khoa học xã hội

và nhân văn và các ngành học khác, nhằm giúp học sinh có được kiến thức và

kĩ năng thực hành toàn diện, góp phần giáo dục đạo đức công dân, kĩ năng sống, hiểu biết xã hội… Như vậy, tích hợp trong môn học Ngữ văn không chỉ

là phối hợp các kiến thức và kĩ năng của tiếng Việt và Văn học mà còn là sự tích hợp liên ngành để hình thành một “phông” văn hóa cho học sinh trong việc đọc hiểu tác phẩm văn học và tạo lập những văn bản theo các phương thức biểu đạt khác nhau, có nghĩa là để thực hiện các mục tiêu đặt ra trong môn học Ngữ văn, học sinh cần vận dụng cần tổng hợp những hiểu biết về ngôn ngữ, Văn hóa,Văn học, Lịch sử, Địa lí, phong tục, vốn sống,vốn tri thức

và kinh nghiệm của bản thân Điều này cũng thể hiện rõ trong những nhiệm

vụ của môn học là hướng đến cá thể hóa người học.Việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn ở cấp THPT là cách thức để hạn chế lối dạy

Trang 27

19

học theo kiểu khép kín trong nội bộ phân môn, biệt lập các bộ phận Văn học, tách biệt thế giới nhà trường và thế giới cuộc sống, cô lập giữa những kiến thức và kĩ năng vốn có liên hệ, bổ sung cho nhau nhằm nâng cao năng lực sử dụng những kiến thức kĩ năng mà học sinh lĩnh hội được đảm bảo cho mỗi học sinh khả năng huy động hiệu quả những kiến thức và kĩ năng của mình để giải quyết các tình huống đặt ra trong cuộc sống Mặt khác, tránh được những nội dung kiến thức trùng lặp, đồng thời lĩnh hội những nội dung tri thức và năng lực mà mỗi môn học hay phân môn riêng rẽ không có được

Chương trình Ngữ văn trung học phổ thông nói chung, Ngữ văn 12 nói riêng được xây dựng trên tinh thần đổi mới rõ nét cả về nội dung và phương pháp theo quan điểm dạy học tích hợp Nguyên tắc tích hợp này thể hiện rõ trong phân phối chương trình dạy học bộ môn

Về khung phân phối chương trình: Tổng số thời gian của chương trình Ngữ văn 12 là 37 tuần, trong đó mỗi tuần đều phân bố xen kẽ các phần Văn học, Tiếng Việt, Làm văn Phần văn học sử chiếm 7,8% tổng số tiết dành cho phần Văn học Cụ thể trong chương trình văn học sử của lớp 12 gồm 3 bài: Khát quát văn học Việt Nam từ năm 1945 đến hết thế kỷ XX, khái quát quá trình văn học sử giúp học sinh có thể hiểu rõ tư tưởng khát quát của toàn bộ phận tác phẩm trong SGK, hai bài tác gia Hồ Chí Minh, tác gia Tố Hữu chính

là hai đại diện lớn trong thời kỳ này thể hiện rõ tình thần của văn học Việt Nam: tinh thần yêu nước chống giặc ngoại xâm, hăng hái tham gia quá trình xây dựng đất nước sau khi giải phóng dân tộc năm 1975

Về hình thức: Bộ sách được nhìn nhận như một chỉnh thể văn hóa, trong đó tích hợp nhiều yếu tố chứ không phải là sự lắp ghép máy móc các phần Văn học, Tiếng Việt và Làm văn Điều này thể hiện rõ nét qua tên gọi Ngữ văn của môn học

Về nội dung: Ngữ liệu được chọn lọc, dùng cho dạy học ở cả ba phần: Văn - Tiếng Việt - Làm văn Cụ thể, các bài Làm văn và Tiếng Việt đều vận dụng tối đa các văn bản đọc hiểu làm ngữ liệu cho sự hình thành các khái

Trang 28

20

niệm cần có ở môn Tiếng Việt, kỹ năng lập dàn ý, xây dựng dẫn chứng ở môn Làm văn Ngược lại, sự hiểu biết về các biện pháp tu từ, các cách dùng từ, đặt câu hay cách xác định bố cục, dẫn chứng ở văn bản văn học sẽ giúp học sinh đọc - hiểu sâu sắc hơn.Ngoài ra các văn bản nhật dụng, các ngữ liệu và bài tập minh họa được chọn lọc từ nhiều nguồn kiến thức liên môn và kiến thức đời sống xã hội chính là nền tảng cho tích hợp ngoài môn học.Những hướng tích hợp trong dạy học Ngữ văn trên đây chính là cơ sở cho dạy học Văn học sử.Quá trình tích hợp cần tuân thủ những đặc trưng dạy học Ngữ văn đồng thời chú trọng khai thác những hướng tích hợp đặc thù của việc dạy Văn học

sử

1.3 Dạy học tích hợp tri thức Văn – Sử trong dạy Văn học sử của

chương trình Ngữ Văn lớp 12

1.3.1 Mối quan hệ giữa tri thức Văn học với Lịch sử

Giữa văn học và khoa học nói chung, sử học nói riêng có mối liên hệ chặt chẽ Khoa học lịch sử dựa vào những nhân vật, sự kiện, hiện tượng lịch

sử có thật trong một giai đoạn nhất định để khôi phục lại bức tranh quá khứ một cách chân thực, chính xác, khách quan, còn văn học dựa trên chất liệu cuộc sống để xây dựng hình tượng, cốt truyện, mỗi tác phẩm văn học đều mang trong mình dấu ấn của thời đại Khi sáng tác một tiểu thuyết, nhà văn phải nghiên cứu các tài liệu lịch sử Khi tìm hiểu nội dung một tác phẩm văn học phải tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác, bối cảnh lịch sử của nó để đặt tác phẩm

ấy trong hoàn cảnh cụ thể mới có thể hiểu được dụng ý nhà văn cũng như thời đại mà tác phẩm ra đời Đối tượng của văn học cũng như sử học là toàn

bộ thế giới nhưng văn học không miêu tả, tái hiện những con người cụ thể, cá biệt có thật trong đời sống như lịch sử mà xuất phát từ những mẫu hình có thật để dựng nên những hình tượng văn học giàu tính nghệ thuật khiến học sinh dễ hình dung kiến thức và nhớ lâu Vì vậy, vận dụng kiến thức liên môn trong dạy học văn học nói chung và văn học sử nói riêng giúp học sinh hiểu

Trang 29

21

biết đầy đủ hơn về sự kiện lịch sử xảy ra liên quan đến tác phẩm văn học để

từ đó học sinh sẽ có nền tảng để hiểu và khai thác văn bản

1.3.2 Vai trò của việc tích hợp tri thức Văn – Sử vào dạy học Văn học sử

Sử dụng tích hợp tri thức Văn – Sử là nguyên tắc cần tuân thủ trong dạy học ở trường THPT nói chung và dạy học văn học sử nói riêng Mặc dù việc sử dụng phương pháp dạy tích hợp trong học văn học sử là điều hoàn toàn theo xu hướng của thế giới Tuy nhiên việc tích hợp như thế nào? Tích hợp nội dung ra làm sao? Nội dung tích hợp đã phù hợp và hợp lý với khung chương trình dạy học Văn học sử chưa? Trả lời được các câu hỏi trên chính là việc khẳng định việc sử dụng tích hợp tri thức Văn – Sử là nguyên tắc tuân thủ trong dạy học ở trường THPT nói chung và dạy học văn học sử nói riêng

Sử dụng tích hợp trí thức Văn – Sử được coi là một nguồn kiến thức quan trọng không thể thiếu trong dạy học văn nói chung và dạy học văn học sử nói riêng Ngữ văn chính là người bạn song hành cùng Lịch sử Hay nói cách khác Lịch sử tạo nên các tác gia nổi tiếng, tạo nên tiếng nói chung của Văn học lúc bấy giờ Và cũng chính những tác gia đó đã sáng tác các tác phẩm văn học khích lệ tinh thần người dân xậy dựng đất nước, chiến đấu hy sinh để bảo vệ tổ quốc Chính vì vậy trong sử có văn, trong văn có sử Điều này lại một lần nữa khẳng định vai trò quan trọng không thể thiếu của việc tích hợp kiến thức văn – sử trong dạy văn học nói chung và văn học sử nó riêng

Ta đều biết là kiến thức văn sử luôn luôn song hành cùng nhau, nhưng dạy sao cho đúng, cho phù hợp với tình trạng học sinh hiện giờ lại là điều mà mỗi giáo viên còn nhiều trăn trở Chương trình giáo dục Việt Nam đã trải qua nhiều giai đoạn phát triển, ứng với mỗi giai đoạn là một phương pháp dạy chủ đạo Hiện nay Bộ giáo dục và đào tạo cũng đề ra cách dạy lấy học sinh là trung tâm, học sinh chủ động tiếp thu và vận dụng các kiến thức Vì vậy sử dụng tích hợp kiến thức Văn – Sử còn là biện pháp đổi mới phương pháp dạy

Trang 30

- Về kĩ năng: Việc sử dụng tích hợp kiến thức Văn – Sử nhằm gây hứng thú cho học sinh trong dạy học văn học sử là một trong những biện pháp cơ bản thúc đẩy quá trình nhận thức của học sinh đạt kết quả cao Nếu hiểu được kiến thức thì các em sẽ hình thành các kĩ năng như : hệ thống hoá kiến thức, phân tích, so sánh, nhận định, đánh giá và biết đúc rút kiến thức đã học vào cuộc sống

- Về mặt giáo dục: Bộ môn Ngữ văn ở nhà trường THPT có ưu thế trong việc giáo dục con người phát triển toàn diện về mặt nhân cách Khi chúng

ta học dạy văn học sử tích hợp tri thức Văn – Sử sẽ giúp học sinh có những tình cảm yêu, ghét, lo lắng, hồi hộp, khâm phục,… và phát huy những truyền thống tốt đẹp của dân tộc : Tinh thần yêu nước bất khuất chống giặc ngoại xâm, tinh thần yêu thương đoàn kết dân tộc…điều đó sẽ tạo cơ sở cho việc giáo dục đạo đức tư tưởng tình cảm cho học sinh

1.3.4 Nội dung của các bài Văn học sử của chương trình Ngữ văn

Văn chương tồn tại và phát triển như một dòng chảy Miêu tả dòng chảy đó là nhiệm vụ của văn học sử Dòng chảy của văn học sử là dòng chảy của sáng tạo và phát triển của văn chương Nhà văn luôn luôn sáng tác trong

sự tiếp nối với những điều họ đã nói với những gì các nhà văn khác đãnói Thầy giáo dạy văn học sử là người có ý thức đầy đủ về dòng chảy đó biết nó

Trang 31

23

bắt nguồn từ đâu và đi về đâu, trải qua các thác ghềnh nào, mở rộng dòng ở thời điểm nào…để biết khi nào dòng văn học sử lại đổ dốc, khi nào lại có chiều ngưng đọng, tỏa rộng Văn học sử không chỉ cung cấp cho học sinh tri thức về lịch sử sáng tạo và tiếp nhận văn chương của một dân tộc mà còn giúp cho học sinh hiểu được lịch sử, văn hóa, xã hội… trong sự phát triển của dân tộc đó Ý thức dân tộc và ý thức nhân văn là hai nguồn động lực hấp dẫn học sinh học văn học sử Việt Nam đồng thời với việc bồi đắp cho các em lòng yêu nước và lòng nhân ái trong cuộc sống hiện đại.Trong chương trình môn Ngữ văn phân môn Văn học ở trường Trung học phổ thông có ba loại giờ học: phân tích tác phẩm, dạy bài văn học sử, dạy bài lý luận văn học Mỗi loại bài

có đặc điểm riêng, do vậy phương hướng giảng dạy, cách khai thác bài học cũng có những yêu cầu riêng Quá trình thiết kế bài học theo hướng tích hợp không phải là quá trình giáo viên cung cấp kiến thức mà là quá trình giáo viên hướng dẫn học sinh hình thành kiến thức Vì vậy, giáo viên luôn luôn phải hình dung ra những hình thức hoạt động cụ thể sẽ tiến hành trong lớp để giúp học sinh tham gia tích cực vào quá trình tìm hiểu kiến thức

Đặc điểm quá trình nhận thức của con người đi từ khái quát đến cụ thể

và từ cụ thể đến khái quát, từ trực quan sinh động đến tư duy trừu tượng Kiến thức văn học sử là tri thức mang tính khoa học, đồng thời cũng mang tính đặc thù của một môn học Dựa vào đo các tri thức đó được chọn lọc, cấu trúc lại phù hợp với mục tiên đào tạo và đặc điểm lứa tuổi Đặc trưng bao quát của tri thức văn học sử ở trường THPT là đi từ mở rộng đến thu hẹp, đi từ khái quát đến cụ thể, đạt đến mức giới hạn về kiến thức giảng văn Các bài văn học sử trong chương trình là những bài tổng kết về một thời kỳ văn học, một giai đoạn văn học, khái quát về một tác gia (tiểu sử và sự nghiệp sáng tác), khái quát về một tác phẩm (giá trị nội dung và nghệ thuật)

Trong chương trình cải cách giáo dục, lịch sử văn học Việt Nam đượcphân kỳ lại gồm hai dòng là văn học dân gian, văn học viết và ba thời kỳ

là văn học viết từ thế kỷ XI đến hết thế kỷ XIX, văn học từ đầu thế kỷ XX đến

Trang 32

24

1945, văn học từ 1945 đến nay Trong mỗi thời kỳ, mỗi giai đoạn bao gồm những sự kiện lịch sử, xã hội, văn học, trào lưu văn học, những tác gia, và tác phẩm tiêu biểu Do vậy kiến thức của bài văn học sử có những đặcđiểm sau:

1.3.4.1 Tính khái quát

Văn học sử là những bài học tổng kết cả một thời kỳ văn học, giai đoạn văn học, trào lưu văn học hay tổng kết sự nghiệp sáng tác của một tác giả hay khái quát về một tác phẩm nên kiến thức văn học sử có tính khái quát, trừu tượng cao Bài văn học sử vì vậy mà khó dạy, khó học.Tính khái quát trong kiến thức văn học sử thể hiện ở nhiều cấp độ Cấp độ một là thời kỳ văn học; cấp độ hai là giai đoạn văn học; cấp độ ba là tác giả; cấp độ bốn là tác phẩm Kiến thức trong bài thời kỳ văn học là sự tổng hợp, khái quát những vấn đề của các giai đoạn văn học, các tác giả, tác phẩm Kiến thức trong bài giới thiệu về một tác giả là sự tổng kết cuộc đời và sự nghiệp của tác giảđó với những tác phẩm tiêu biểu Phần giới thiệu tác phẩm là sự đánh giá giá trị nội dung và nghệ thuật của một tác phẩm lớn, sau đó trong phần giảng văn, học sinh chỉ học một trích đoạncủa tác phẩm Như vậy, mỗi bài trong dạy văn học

sử chứa đựng những khối lượng kiến thức lớn, có tính khái quát cao Ví dụ: Dạy học văn học sử về bài khái quát văn học giai đoạn văn học nửa cuối thế

kỷ XVIII đến nửa đầu thế kỷ XIX, sách giáo khoa lớp 10, tập 1 viết: Đây là

giai đoạn tập trung những tác giả tiêu biểu nhất của văn học thời phong kiến như Nguyễn Du, Nguyễn Gia Thiều, Hồ Xuân Hương, Ngô Thì Nhậm, Nguyễn Công Trứ… Trong văn học giai đoạn đã hình thành một trào lưu nhân đạo chủ nghĩa trong đó các nhà văn, nhà thơ đặt ra những vấn đề về quyền sống của con người trong xã hội phong kiến, nhất là quyền sống của người phụ nữ; vấn đề tình yêu tự do và hạnh phúc lứa đôi và đấu tranh chống lại những thế lực vùi dập con người.Trong nhận định trên có những khái quát về đặc điểm

chung của cả giai đoạn văn học: Nhân đạo chủ nghĩa, trong đặc điểm chung này bao hàm những nét chung và nét riêng trong sáng tác của những tác giả khác nhau như: Thơ văn Nguyễn Du tố cáo chế độ phong kiến chà đạp lên

Trang 33

25

quyền sống con người trước hết là phụ nữ, biểu dương đề cao sức sống mới;

Nguyễn Gia Thiều với tác phẩm nổi tiếng là “Cung oán ngâm khúc” tố cáo

vua chúa xa hoa hưởng lạc, chà đạp lên thân phận của những cung tần mĩ nữ nơi cung cấm; thơ Hồ Xuân Hương thông cảm sâu sắc nỗi khổ của chị em phụ

nữ và đòi quyền bình đẳng với nam giới; thơ Nguyễn Công Trứ là nhiệt tình hăm hở với chí làm trai giữa cuộc đời mà cuối cùng lại bị chế độ phong kiến nhà Nguyễn làm vỡ mộng đến phải chán chường…Đây là giai đoạn huy hoàng trong lịch sử văn học như từ lâu nhiều người vẫn quan niệm

1.3.4.2 Tính hệ thống

Tính hệ thống của kiến thức văn học sử gắn liền với tính khái quát, thể hiện ở những điểm sau: Các dòng văn học, thời kỳ văn học, giai đoạn văn học, các khái niệm, các nhận định văn học, các tác giả, các tác phẩm được sắp xếp theo tiến trình lịch sử, qua đó thể hiện sự vận động của nền văn học dân tộc Ví dụ: Chương trình văn học từ lớp 10 đến lớp 12 được dựa theo tiến trình phát triển của văn học từ văn học dân gian đến văn học viết Trong dòng văn học viết, bài mở đầu là khái quát thời kỳ văn học từ thế kỷ X đến hết thế

kỷ XIX, ở lớp 11 là bài khái quát văn học từ đầu thế kỷ XX đến 1945, lớp 12

là bài khái quát văn học từ 1945 đến hết thế kỉ XX Tính hệ thống còn được thể hiện ở từng bài học: Trong thời kỳ văn học bao gồm các giai đoạn văn học; trong các giai đoạn văn học có các tác giả, mỗi tác giả lại có những tác phẩm khác nhau Thể hiện trong cấu trúc từng bài với hai phần: Thứ nhất là khái quát về tình hình xã hội, văn hóa của thời kỳ văn học, giai đoạn văn học hoặc nêu nên những nét chính, những sự kiện quan trọng trong cuộc đời của một tác giả; Thứ hai là giới thiệu về thành tựu văn học của thời kỳ, giai đoạn văn học đó hoặc sự nghiệp sáng tác của tác giả cùng hoàn cảnh ra đời tác phẩm có trích đoạn được học trong SGK, giữa hai phần có mối quan hệ chặt chẽ

Trang 34

26

Thành tựu của một thời kỳ, một giai đoạn văn học, một tác giả chỉ có thể được hình thành, phát triển trong những điều kiện lịch sử , xã hội, trong bầu không khí văn hóa, tinh thần nhất định

Thể hiện trong từng phần như mối quan hệ nội dung và hình thức nghệ thuật trong bản thân một hiện tượng văn học

Thể hiện trong cấu trúc giữa văn học Việt Nam và văn học thế giới trong tập 1 và tập 2 của cả ba cấp lớp 10, 11,12 Tương ứng với phần văn học dân gian ở lớp 10, tập 1, học sinh sẽ học văn học dân gian Hy lạp, Ấn Độ… Tương ứng với thời kỳ văn học trung đại Việt Nam ở lớp 11 tập 1, học sinh sẽ tiếp xúc với văn học cổ điển thế giới Tương ứng với phần văn học hiện đại Việt Nam ở lớp 12, tập 2, học sinh sẽ tiếp xúc với văn học hiện đại của Mĩ, Trung Quốc, Nga

1.3.4.3 Tính tổng hợp

Văn học của bất kỳ thời nào bao giờ cũng vận động và phát triển trong

sự gắn bó chặt chẽ với chế độ chính trị, điều kiện kinh tế, văn hóa của một thời kỳ lịch sử nhất định Do vậy kiến thức của giờ học văn học sử là kiến thức mang tính tổng hợp về lịch sử, xã hội, văn hóa, triết học, tôn giáo, chính trị Ví dụ: Trong văn học Trung đại Việt Nam có hiện tượng tam giáo đồng nguyên, tức có sự giao hòa của Nho giáo, Phật giáo, Lão giáo Nếu giáo viên không có hiểu biết nhất định về lịch sử , về Phật giáo, Nho giáo, Lão giáo thì không thể hiểu sâu văn học nhà Nho cũng như không thể hiểu tại sao trong Truyện Kiều lại có yếu tố định mệnh, tại sao Nguyễn Trãi, Nguyễn Công Trứ lại có tinh thần nhập thế mạnh mẽ Văn học giai đoạn 1930 -1945 phân hóa thành ba trào lưu: Lãng mạn, Hiện thực phê phán và Cách mạng Nguyên nhân của sự phân hóa này là do sự xuất hiện của Đảng Cộng sản, của tầng lớp trí thức Tây học, tầng lớp Tư sản, tiểu Tư sản trong xã hội, do sự giao lưu với văn học phương Tây đặc biệt là văn học Pháp… Phải hiểu những đặc trưng lịch sử, văn hóa, xã hội của thời kỳ này mới có thể hiểu được những thành tựu văn học của nó

Trang 35

27

Tóm lại, kiến thức văn học sử là lịch sử của thời gian.Thời gian và văn học sử đi song hành nhưng không phải lúc nào cũng giữ đúng song tuyến Học sinh học trong điều kiện chưa có những hiểu biết lịch sử cụ thể tác động tới tác giả, tác phẩm của thời kỳ, giai đoạn văn học đó Do vậy bài giảng cần được cụ thể hóa bằng những dẫn chứng lịch sử đi kèm trong học văn học sử

về tác phẩm, tác giả hay khái quát thời kỳ văn học, sau đó củng cố lại những kiến thức khái quát đã học trong giờ văn học sử, giúp học sinh có cái nhìn hệ thống với vấn đề đã học

1.4 Cơ sở thực tiễn

Để hiểu rõ thực tiễn sử dụng tích hợp tri thức Văn – Sử trong dạy văn học sử của chương trình Ngữ văn lớp 12 nhằm gây hứng thú học tập cho học sinh THPT lớp 12, tôi đã tiến hành điều tra thực tế ở trường THPT Phú Xuyên

A và Phú Phú Xuyên B Thông qua viê ̣c điều tra, phỏng vấn giáo viên môn văn và các em học sinh qua dự giờ, thăm lớp, tôi đã thu được kết quả về tình hình thực tiễn sử dụng hướng tích hợp tri thức văn – sử trong da ̣y ho ̣c văn học

sử của chương trình Ngữ văn lớp 12 như sau:

1.4.1 Về phía Giáo viên

1.4.1.1 Thực trạng của việc dạy Văn học sử ở trường THPT hiện nay

Có nhiều giáo viên tâm huyết đã có những biện pháp đổi mới nhằm nâng cao chất lượng khả năng nắm kiến thức cũng như hệ thống hoá lịch sử văn học của mỗi học sinh.Tuy nhiên việc dạy và học văn học sử hiện nay còn tồn tại nhiều bất cập

1.4.1.2 Thực trạng dạy Văn học sử của chương trình Ngữ văn lớp 12 theo

hướng tích hợp tri thức Văn học – Lịch sử

1.4.1.2.1 Nhận thức của giáo viên THPT về dạy học tích hợp trong môn Ngữ

văn

Trước sự phát triển như vũ bão của khoa học kĩ thuật và những đổi thay của đời sống xã hội, yêu cầu đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục theo hướng tích hợp càng trở nên cấp bách Trong đó khâu đột phá đầu tiên nằm ở

Trang 36

28

việc đào tạo đội ngũ giáo viên Hiện nay hàng loạt các cuộc hội thảo, chuyên

đề bồi dưỡng chuyên môn, sách hướng dẫn, bài báo tạp chí đều hướng tới cung cấp và đào tạo những kiến thức kĩ năng cơ bản của giáo viên nhằm thích ứng với dạy học tích hợp Dù vậy, nhận thức của đa số giáo viên trung học phổ thông hiện nay về tích hợp vẫn còn chưa thực sự đầy đủ và sâu sắc

Ngành Giáo dục và Đào tạo những năm qua đã tăng cường các hình thức hoạt động khác nhau nhằm nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ cho giáo viên Quan trọng nhất phải kể đến hình thức thông qua các bài báo và tạp

chí chuyên ngành (Báo Giáo dục và Thời đại, Tạp chí Giáo dục, Tạp chí Dạy

và Học ngày nay, Tạp chí Thế giới trong ta, Tạp chí Văn học và Tuổi trẻ…)

để tuyên truyền, cung cấp kiến thức cần thiết về vấn đề đổi mới nội dung chương trình và sách giáo khoa Ngữ văn cũng như quan điểm, nguyên tắc, phương pháp dạy học hiện đại

Bắt đầu từ năm học 2008 – 2009, phong trào xây dựng “Trường học thân thiện, học sinh tích cực” đã được hưởng ứng và nhân rộng ở các trường phổ thông Một số trường đã nắm bắt được tinh thần đổi mới và triển khai một cách hiệu quả tại cơ sở Các giáo viên bộ môn luôn chủ động tìm kiếm, vận dụng linh hoạt các phương pháp như phát vấn, trực quan, gợi mở, phân tích, chia nhóm thảo luận… Ngoài việc dạy chính khóa còn có thể tổ chức các buổi ngoại khóa, nói chuyện chuyên đề tích hợp với các nội dung giáo dục đạo đức, nhân cách, bảo vệ môi trường góp phần giúp các em phát triển toàn diện

Để chuẩn bị cho đề án đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục Bộ Giáo dục và Đào tạo đã phát động cuộc thi “Dạy học tích hợp theo chủ đề liên môn” dành cho giáo viên trung học và được triển khai sâu rộng về các tỉnh thành trên cả nước Qua đó giáo viên có dịp tìm hiểu về lí thuyết tích hợp và cùng nhau thảo luận vận dụng tích hợp vào dạy học những bài học, chủ đề cụ thể trong bộ môn của mình Cuộc thi đã dành được sự ủng hộ đồng tình của nhiều giáo viên Các bài dự thi đặc biệt là những bài đạt giải đã trở thành một kho tư liệu phong phú để các nhà trường học tập, triển khai sâu rộng

Trang 37

29

Tuy nhiên việc dạy học Ngữ văn nói chung, dạy học văn học sử nói riêng theo hướng tích hợp vẫn còn nhiều bất cập Trên các phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện hàng loạt các bài viết, các phóng sự cho thấy sự bất ổn trong dạy học Ngữ văn Những tiêu đề như: “Dạy môn Văn trong trường hiện nay chưa đạt”, “Trăn trở của một cô giáo dạy văn”, “Vì sao điểm văn năm nay thấp”, “Cách dạy văn chẳng có gì thay đổi sau 25 năm”, “Dạy và học văn – góc nhìn người trong cuộc”… xuất hiện thường xuyên trên báo và trở thành vấn đề được quan tâm, bình luận nhiều trên các website hiện nay

Trên thực tế, mặc dù nhiều giáo viên đã có ý thức tìm tòi ứng dụng đổi mới phương pháp dạy học Văn nhưng việc thực hiện chỉ mang tính hình thức, thử nghiệm chứ chưa đem lại hiệu quả thực sự Hơn nữa, không ít giáo viên chưa được trang bị kĩ càng, đồng bộ về quan điểm lí luận và phương pháp dạy học Văn mới đặc biệt là lí thuyết tích hợp Do đó, hầu hết vẫn sử dụng các phương pháp dạy học truyền thống cứng nhắc, khép kín trong bộ môn khiến cho kết quả thực tiễn dạy học còn cách quá xa so với mục tiêu đào tạo

Kết quả khảo sát tại trường THPT Phú Xuyên A và Phú Xuyên B cho thấy:

a Nhận thức mức độ cần thiết của việc vận dụng quan điểm tích hợp vào dạy học Ngữ văn

Bảng 1.1: Đánh giá của Giáo viên về mức độ cần thiết của việc vận dụng

quan điểm tích hợp vào dạy học

Chương trình Ngữ văn mới được biên soạn theo hướng tích hợp trong dạy học là một bước tiến quan trọng đáp ứng yêu cầu thực tiễn, phù hợp với

xu thế phát triển của giáo dục thời đại Bảng điều tra cho thấy không có giáo

Số lượng Rất cần thiết Cần thiết Bình thường Không cần thiết

Trang 38

30

viên nào là không cảm thấy sự cần thiết của việc áp dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn.Tuy nhiên, hầu hết giáo viên cho rằng sự cần thiết áp dụng tích hợp vào dạy học Ngữ văn chỉ ở mức bình thường(44%) Chứng tỏ giáo viên vẫn chưa thấy được những ưu điểm, tầm quan trọng cũng như sự phù hợp của tích hợp trong việc áp dụng vào dạy học chương trình Ngữ văn hiện hành.Tuy nhiên đã có phần lớn giáo viên đã dần có nhận thức rõ về việc định hướng dạy tích hợp Bằng chứng là có 40% giáo viên đánh giá là cần thiết và 18% giáo viên thấy được mức độ rất cần thiết của dạy học tích hợp Đây là một dấu hiệu đáng mừng và cần được nhà trường ủng hộ và gây dựng, phát huy phòng trào

b Về số lượng và mức độ vận dụng tích hợp trong dạy học Ngữ văn

Số lượng Rất thường

xuyên

Thường xuyên

Thỉnh thoảng Không bao giờ

Bảng1.2: Số lượng Giáo viên vận dụng tích hợp trong dạy học Ngữ Văn

Dưới sự tác động mạnh mẽ của định hướng đổi mới giáo dục các Giáo viên đã có ý thức vận dụng tích hợp vào dạy học với mức độ ngày càng cao Nếu trước đây việc tích hợp còn lẻ tẻ và hầu như không được chú ý thì hiện nay tất cả giáo viên đều đã từng sử dụng tích hợp vào dạy học Tuy nhiên hầu hết giáo viên chỉ thỉnh thoảng có đề cập đến vấn đề tích hợp như một sự liên

hệ mở rộng chứ chưa coi đó là một định hướng quan trọng trong giảng dạy (48%) Dấu hiệu tích cực ở đây là có 36% giáo viên đã thường xuyên ứng dụng lí thuyết tích hợp cũng là một tín hiệu đáng mừng so với trước đây Điều này có cơ sở từ việc ngay trong chương trình sách giáo khoa được biên soạn

đã có yêu cầu giáo viên tích hợp kiến thức đặc biệt là ba phân môn Ngữ văn

Trang 39

31

Số lượng giáo viên thường xuyên vận dụng tích hợp chiếm 16% chứng tỏ rằng có những giáo viên đã tìm tòi và thấy được tầm quan trọng và triển vọng của sư phạm tích hợp Dù vậy như thế là chưa đủ cho một cuộc lột xác căn bản và toàn diện sắp tới Nó đòi hỏi tất cả giáo viên cần nhận thức được tầm quan trọng của tích hợp và vận dụng nó một cách đồng bộ nhằm tạo ra hiệu quả thực sự

c Về nguồn cung cấp tri thức dạy học tích hợp cho Giáo viên Trung học phổ thông

Bảng 1.3: Nguồn cung cấp tri thức về tích hợp

cho Giáo viên THPT

Như vậy nguồn cung cấp tri thức tích hợp chủ yếu cho giáo viên hiện nay là thông tin lẻ tẻ trên các trang web, những đợt tập huấn thay sách và tài liệu bồi dưỡng giáo viên của Bộ Giáo dục và Đào tạo Cơ hội để tìm hiểu ở các sách tham khảo, đặc biệt là các công trình nghiên cứu khoa học chuyên sâu về tích hợp hầu như không có.Chính vì vậy hầu hết giáo viên chưa có được nhận thức đầy đủ, sâu sắc về tích hợp Những hướng dẫn mang tính khái quát của Bộ, những bài báo lẻ tẻ trên các trang web chỉ có thể giúp Giáo viên

(30 Giáo viên)

Tỉ lệ 100%

Tài liệu bồi dưỡng giáo viên của Bộ 13 43 %

Trang 40

Bảng 1.4: Mức độ nghiên cứu về dạy học tích hợp Ngữ văn

Trung học phổ thông trong sáng kiến kinh nghiệm hàng năm

Sáng kiến kinh nghiệm chính là những đúc kết của Giáo viên trong suốt quá trình dạy học cũng là nơi để Giáo viên nghiên cứu thể nghiệm những quan điểm dạy học mới Tích hợp là một trong những xu thế mới và định hướng quan trọng của giáo dục nước ta Nó được đề xuất từ năm 2007 khi biên soạn bộ sách giáo khoa mới Thế nhưng trong 25 Giáo viên thuộc hai trường chỉ có 2 Giáo viên tích cực tham gia nghiên cứu và đã có đóng góp 4 sáng kiến cho nhà trường chỉ có 5 Giáo viên từng đề cập đến vấn đề này trong

đó 2/3 Giáo viên chưa có bài nghiên cứu tích hợp khi tham gia cuộc thi “Dạy học tích hợp theo chủ đề liên môn” dành cho Giáo viên Trung học Có thể do tài liệu tích hợp chưa đủ để phục vụ nghiên cứu ứng dụng, cũng có thể do Giáo viên chưa nhận thức được đúng tầm quan trọng của tích hợp trong dạy học và cũng có thể do những điều kiện cơ sở vật chất và trình độ hiện có của Giáo viên, Học sinh chưa đủ đáp ứng yêu cầu dạy học tích hợp Nhưng nhìn chungđó là một thực trạng đáng buồn của Giáo dục hiện nay Trong khi các

Ngày đăng: 16/05/2016, 20:55

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1.1: Đánh giá của Giáo viên về mức độ cần thiết của việc vận dụng - Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn   sử
Bảng 1.1 Đánh giá của Giáo viên về mức độ cần thiết của việc vận dụng (Trang 37)
Bảng 1.3: Nguồn cung cấp tri thức về tích hợp - Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn   sử
Bảng 1.3 Nguồn cung cấp tri thức về tích hợp (Trang 39)
Bảng 1.4: Mức độ nghiên cứu về dạy học tích hợp Ngữ văn - Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn   sử
Bảng 1.4 Mức độ nghiên cứu về dạy học tích hợp Ngữ văn (Trang 40)
Bảng 1.5: Mức độ cần thiết của việc vận dụng tích hợp kiến thức Văn - Sử - Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn   sử
Bảng 1.5 Mức độ cần thiết của việc vận dụng tích hợp kiến thức Văn - Sử (Trang 42)
Hình ảnh con người trong tác - Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn   sử
nh ảnh con người trong tác (Trang 84)
Bảng những tác phẩm có giá trị. - Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn   sử
Bảng nh ững tác phẩm có giá trị (Trang 87)
Hình  tượng  chính  là  cuộc  sống  mới, con người mới, mối quan hệ  mới giữa những người lao động - Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn   sử
nh tượng chính là cuộc sống mới, con người mới, mối quan hệ mới giữa những người lao động (Trang 89)
Bảng 3.2. Thống kê phân loại kết quả nhận thức của Học sinh - Dạy học loại bài khái quát giai đoạn văn học và tác gia văn học (ngữ văn 12) theo hướng tích hợp tri thức văn   sử
Bảng 3.2. Thống kê phân loại kết quả nhận thức của Học sinh (Trang 100)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w