1.1.1VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHÍ CHẤT (KC)Học thuyết về KC đã xuất hiện từ lâu và có một lịch sử phức tạp. KC có nguồn gốc từ những quan niệm thời cổ đại. Vào thời kỳ này người ta đã miêu tả bốn loại KC. Đây là cách tiếp cận thuần túy sinh học. Trong lịch sử, người ta đã ghi lại tên tuổi của Hypocrat một bác sĩ người Hi Lạp(460356 TCN) là người đầu tiên phát hiện ra các loại khí chất ở con người. Theo ông thì trong cơ thể người có 4 chất lỏng: máu, chất nhờn, mật vàng, mật đen. Và tùy thuộc vào tỉ lệ và mối quan hệ của các chất dịch này mà con người có những hành vi khác nhau. Sau đó, Galen (130250) bác sĩ người La Mã đã hoàn thiện học thuyết của Hypocrat qua việc phân chia khí chất thành 4 kiểu cơ bản dựa vào các chất dịch chiếm ưu thế: Kiểu Xănghanh (kiểu linh hoạt); Kiểu Phlêmatic (kiểu trầm); Kiểu Côlêric(kiểu nóng); Kiểu Mêlangcôlic (kiểu ưu tư).Khoa học phát triển đã gạt bỏ ý kiến cho rằng KC phụ thuộc vào quan hệ và tỉ lệ các chất dịch trong cơ thể. Tuy nhiên cách chia bốn kiểu KC trên khá chính xác về mặt tâm lí nên vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay. Và cho đến hiện nay thì thuyết thần kinh học của Páplốp đã cho ta một cái nhìn khoa học về KC.1.1.2VÀI NÉT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG SÁNG TẠO (TNST)Thuật ngữ khoa học về sáng tạo (Heuristics, Creatology hay Ars inveniendi), lần đầu tiên xuất hiện trong những công trình của nhà toán học Papp, sống vào nửa cuối thế kỷ thứ III tại Alexandri Hy Lạp. Sau đó các nhà toán học và triết học nổi tiếng như Descartes, Leibnitz, Bernard Bolzano... đã có nhiều cố gắng thành lập hệ thống khoa học nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con người. Hiện nay, một số nước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã tổ chức giảng dạy môn học ứng dụng vấn đề này, hoặc tổ chức kinh doanh ý tưởng sáng tạo.Trong đó, lịch sử vấn đề nghiên cứu TNST trên thế giới: TNST là một khái niệm còn khá mới mẻ. Những nghiên cứu về TNST đến thế kỉ XX mới thực sự rõ nét. J.P.Guiford là người đầu tiên nói về đặc điểm của nhân cách sáng tạo và biểu đạt nó thành mô hình. Sau đó có thể kể đến các tác giả nổi bật nghiên cứu vấn đề này như Lewis Teriman (1954), Nhà tâm lí học Đức Pigpig (1988), K.K.Urban (1995), Carl Roger (2009), Viện nhân cách thuộc Đại học Tổng hợp California. Các tác giả này đã đưa ra định nghĩa hoặc quan niệm cơ bản về tiềm năng (năng lực sáng tạo: NLST). Như vậy, có thể nói, khái niệm NLST đã khá phổ biến trên thế giới. Tại Việt Nam: khái niệm này cũng còn khá mới mẻ. Tuy nhiên, cũng đã có nhiều tác giả đề cập về vấn đề này và đưa ra những nhận định của họ. Trong đó, có thể kể đến Nguyễn Huy Tú nhà nghiên cứu chuyên bàn về vấn đề sáng tạo hay tác giả Đức Huy (2005). Bên cạnh đó, còn có một số đề tài nghiên cứu về NLST như luận văn ThS Lương Thị Thanh Hải (2008) “Nghiên cứu năng lực sáng tạo của sinh viên mỹ thuật Trường Đại Học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương”. Luận văn ThS.Tâm lí học Mã Ngọc Thể (2010) “Tính sáng tạo của học sinh tiểu học trong môn mĩ thuật”. Đề tài nghiên cứu khoa học Nguyễn Công Khanh “ Nghiên cứu chỉ số sáng tạo của sinh viên ĐHQGHN”.
Trang 1MỤC LỤC
BẢNG CHỮ VIẾT TẮT 6
CÁC BIỂU BẢNG SỬ DỤNG TRONG ĐỀ TÀI 7
MỞ ĐẦU 8
1 Lí do chọn đề tài 8
2 Mục đích nghiên cứu 9
3 Nhiệm vụ nghiên cứu 9
4 Đối tượng và khách thể nghiên cứu 10
5 Phương pháp nghiên cứu 10
6 Giới hạn đề tài 10
7 Giả thuyết khoa học 11
8 Cái mới và ý nghĩa của đề của đề tài 11
Chương 1: CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU 13
1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề 13
1.1.1 Vài nét về lịch sử nghiên cứu Khí chất-tính cách 13
1.1.2 Vài nét về lịch sử nghiên cứu về Tiềm năng sáng tạo 14
1.1.3 Vài nét về lịch sử nghiên cứu về vấn đề năng lực ngôn ngữ 14
1.1.4 Vài nét về lịch sử nghiên cứu vấn đề động cơ học tập 15
1.2 Một số khái niệm cơ bản của đề tài 17
1.2.1 Khái niệm cơ sở về khí chất (Idiosyncracy) – tính cách (Character) 17
1.2.1.1 Khái niệm chung về khí chất 17
1.2.1.2 Các loại khí chất và đặc điểm của chúng 18
1.2.1.3 Khái niệm về tính cách 19
1.2.2 Khái niệm cơ sở về tiềm năng sáng tạo 22
1.2.3 Khái niệm cơ sở về động cơ và động cơ học tập ngoại ngữ 24
1.2.3.1Khái niệm động cơ 24
1.2.3.2 Khái niệm động cơ học tập (learning motivation) 25
1.2.3.3 Khái niệm động cơ học tập ngoại ngữ 26
Trang 21.2.4 Khái niệm cơ sở về năng lực ngoại ngữ 26
1.2.4.1 Khái niệm chung về năng lực 26
1.2.4.2 Khái niệm ngôn ngữ và Năng lực ngôn ngữ (Linguistic competence) 27
1.2.4.3 Khái niệm ngoại ngữ và Năng lực ngoại ngữ 28
1.2.5 Khái niệm cơ sở về hoạt động học tập 30
1.2.5.1 Khái niệm hoạt động 30
1.2.5.2 Khái niệm hoạt động học 32
1.2.5.3 Khái niệm hoạt động học tập ngoại ngữ 34
1.2.6 Khái niệm cơ sở về giao tiếp 36
1.2.6.1 Khái niệm giao tiếp 36
1.2.6.2 Các hình thức giao tiếp và các yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp 39
1.2.7 Khái niệm cơ sở về sự ảnh hưởng 39
Chương 2: NỘI DUNG VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU 42
2.1 Nội dung nghiên cứu 42
2.2 Tiến trình thực hiện 42
2.3 Phương pháp nghiên cứu 44
Chương 3: PHÂN TÍCH KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU 58
3.1 Kết quả nghiên cứu các yếu tố tâm lí 58
3.1.1 Kết quả nghiên cứu về khí chất của sinh viên (SV) năm 4 58
3.1.2 Kết quả nghiên cứu về tiềm năng sáng tạo 59
3.1.3 Kết quả nghiên cứu về kết quả học tập môn tiếng Anh (qua 5 kĩ năng: nghe, nói, đọc, viết, dịch) của SV năm 4 trong học kì gần đây nhất 60
3.1.4 Kết quả nghiên cứu về khả năng tiếng Anh của SV năm 4 61
3.1.5 Động cơ học tập tiếng Anh của SV năm 4 62
3.1.6 Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan và chủ quan đến việc học tập tiếng Anh của SV 62
3.1.7 Kết quả nghiên cứu khả năng tiếng Anh của người học thông qua hoạt động nghe, nói, viết 64
3.2 Kết quả nghiên cứu sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí KC-TC, ĐCHT, năng NLNN, TNST đến HĐGT tiếng Anh của SV năm tư 65
Trang 33.2.1 Sự ảnh hưởng của khí chất đến kết quả các bài kiểm tra(nghe, nói, viết)
tiếng Anh của SV năm tư 65
3.2.1.1 Một số nét tương đồng giữa các nhóm khí chất thể hiện qua kết quả bài kiểm tra 65
3.2.1.2 Sự ảnh hưởng của khí chất đến kết quả bài kiểm tra nói 66
3.2.1.3 Sự ảnh hưởng của khí chất đến kết quả bài kiểm tra nghe 68
3.2.1.4 Sự ảnh hưởng của khí chất đến kết quả bài kiểm tra viết 69
3.2.2 Ảnh hưởng của tiềm năng sáng tạo đến hoạt động giao tiếp tiếng Anh 71
3.2.2.1 Đặc điểm chung của sự sáng tạo trong nhóm SV 72
3.2.2.2 Sự ảnh hưởng của tiềm năng sáng tạo đến kết quả bài kiểm tra Viết 73
3.2.3 Ảnh hưởng của NLNN đến kết quả hoạt động giao tiếp tiếng Anh 76
3.2.3.1 Ảnh hưởng của năng lực nghe đến kết quả làm bài nghe tiếng Anh của người học 76
3.2.3.2 Ảnh hưởng của năng lực nói đến kết quả làm bài nói bằng tiếng Anh 76
3.2.3.3 Ảnh hưởng của năng lực viết đến kết quả làm bài viết bằng tiếng Anh
3.2.4 Mối quan hệ giữa các yếu tố tâm lí 78
3.2.4.1 Mối quan hệ giữa khí chất và năng lực 78
3.2.4.2 Mối quan hệ giữa tiềm năng sáng tạo và năng lực 79
3.2.4.3 Mối quan hệ giữa động cơ và năng lực học tập 79
3.3 Mô tả chân dung một số khách thể tiêu biểu 80
3.3.1 Chân dung “Phan Văn Quang” 80
3.3.2 Chân dung “Ngô Thị Bình Diệp” 84
3.3.3 Chân dung “BùiThị Kim Huệ” 87
KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 90
TÀI LIỆU THAM KHẢO 91
PHỤ LỤC 93
Trang 4LỜI CAM ĐOAN Chúng tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của nhóm chúng tôi Các số liệu và kết quả nghiên cứu trong công trình này là hoàn toàn trung thực và chưa từng được công bố trong bất kì công trình nghiên cứu nào.
Nhóm tác giả
Trang 5LỜI CẢM ƠN
Chúng tôi xin chân thành gửi lời cảm ơn đến PGS.TS Đỗ Thị Châu – người đã tận tình hướng dân và giúp đỡ chúng tôi trong quá trình thực hiện đề tài Với sự nhiệt tình của cô, chúng tôi đã giải quyết được những khó khăn gặp phải trong quá trình nghiên cứu thực tế và hoàn thành đề tài.
Chúng tôi cũng muốn gửi lời cảm ơn đến cô Phạm Thị Diệu Ánh – giảng viên khoa tiếng Anh – trường ĐHNN - ĐHQGHN, người đã giúp đỡ chúng tôi
có được các tài liệu tiếng anh cần thiết cho đề tài
Chúng tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên khóa 08F1 thuộc khoa sư phạm tiếng Anh hiện đang thực tập sư phạm tại trường THPT Phan Đình Phùng và THPT LÔMÔNÔXỐP đã giúp chúng tôi hoàn thành các bài test, các phiếu điều tra.
Cuối cùng, tôi xin cảm ơn các bạn sinh viên lớp 10E3 và 10E6 – những người bạn cùng lớp đã giúp đỡ và khuyến khích chúng tôi rất nhiều trong quá trình thực hiện đề tài này.
Hà Nội, Tháng 3 – 2012 Sinh viên: Nguyễn Thị Phương An
Nguyễn Lan Hương Đào Thị Thu Thủy Nguyễn Thị Huyền Trang
Trang 611 ĐHNN – ĐHQGHN : Đại học ngoại ngữ - đại học quốc gia Hà Nội
Trang 7CÁC BẢNG BIỂU DÙNG TRONG ĐỀ TÀI
Bảng 1: Tính cách và khí chất của SV năm 4 trường ĐHNN-ĐHQGHN (%)
Bảng 2: Kết quả về tiềm năng sáng tạo của SV năm 4 trường ĐHNN-ĐHQGHN(%)
Bảng 3: Kết quả học tập môn tiếng Anh của học kì gần đây nhất của SV năm 4trường ĐHNN-ĐHQGHN (%)
Bảng 4: Khả năng học tiếng Anh của SV năm 4 trường ĐHNN-ĐHQGHN (%)Bảng 5: Kết quả khảo sát động cơ học tập môn tiếng Anh của SV năm 4 (%)
Bảng 6.1:Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố chủ quan đến việc học tập tiếng Anhcủa SV năm 4 trường ĐHNN-ĐHQGHN (%)
Bảng 6.2: Mức độ ảnh hưởng của các yếu tố khách quan đến việc học tiếng Anh (%)Bảng 7: Mối quan hệ giữa KC và kết quả bài kiểm tra
Bảng 8: Kết quả tính mối tương quan giữa các yếu tố tâm lí
Bảng 9: Mối quan hệ giữa khí chất và kết quả làm bài kiểm tra
Bảng 10: Bảng tính mức độ tương quan giữa khí chất và kết quả hoạt động nóitiếng Anh qua bài kiểm tra nói
Bảng 11: Bảng tính mức độ tương quan giữa khí chất và kết quả hoạt động nghe tiếng Anh qua bài kiểm tra nghe
Bảng 12: Bảng tính mức độ tương quan giữa khí chất và kết quả hoạt động viếttiếng Anh qua bài kiểm tra viết
Bảng 13:Bảng tính mối quan hệ giữa TNST và kết quả hoạt động viết tiếng Anhqua bài kiểm tra viết
Bẳng 14: Mối quan hệ giữa kết quả học tập môn viết với kết quả hoạt động viết.Bẳng 15: Mối quan hệ giữa khí chất và kết quả hoạt động học tập ngoại ngữ nóichung
Bảng 16: Mối quan hệ giũa động cơ học tập và kết quả hoạt động học tập ngoạingữ nói chung
Trang 8MỞ ĐẦU
1 LÍ DO CHỌN ĐỀ TÀI
Giao tiếp (GT) là sự trao đổi các tín hiệu (thông qua lời nói, cử chỉ, vẻ mặt vàchuyển động thân thể) để tạo dựng sự tiếp xúc giữa người với người, trao đổi thôngtin và khuyến khích hoặc thay đổi thái độ cũng như ứng xử của bản thân và của ngườikhác GT nói chung và HĐ và GT bằng ngôn ngữ tiếng Anh nói riêng hiện diện hầunhư trong tất cả các lĩnh vực của hoạt động của con người trong thời đại hiện nay Tuynhiên, để đạt được hiệu quả cao trong HĐ và GT lại không phải là điều dễ dàng Bởi
lẽ, “GT với mọi người là một nghệ thuật mà không phải ai cũng nắm được Bất kì aicũng phải học điều đó.” (I.Cvapilic),đồng thời HĐ và GT chịu sự ảnh hưởng của rấtnhiều các yếu tố tâm lí
Từ xưa đến nay, nhiều quan niệm cho rằng tâm lí có nguồn gốc là thế giớikhách quan, tâm lí là sản phẩm của hoạt động giao tiếp của con người trong các mốiquan hệ xã hội… Nhưng chính tâm lí con người lại tác động trở lại hiện thực bằngtính năng động, sáng tạo của nó thông qua HĐ - GT Mỗi HĐ - GT của con người đều
do “cái tâm lí” điều hành Điều đó được thể hiện qua: thứ nhất: Tâm lí định hướng
cho hoạt động (một nhu cầu được nhận thức, hứng thú, lí tưởng, niềm tin, lương tâm,
danh vọng…); Thứ hai: Tâm lí là động lực thôi thúc, lôi cuốn con người hoạt động, giao tiếp, khắc phục khó khăn vươn tới mục đích đề ra; Thứ ba: Tâm lí điều khiển,
kiểm tra quá trình hoạt động, giao tiếp bằng chương trình, kế hoạch, phương pháp,phương thức tiến hành hoạt động làm cho hoạt động giao tiếp trở nên có ý nghĩa đem
lại hiệu quả nhất định; Thứ tư: Tâm lí giúp con người điều chỉnh hoạt động cho phù
hợp với mục tiêu đã xác định, đồng thời phù hợp với điều kiện, hoàn cản thực tế chophép
Thực tế cho thấy, đối với SV nhất là SV học tập chuyên ngành ngoại ngữ thì
HĐ và GT bằng tiếng nước ngoài diễn ra thường xuyên và là vấn đề cốt lõi Họ đượchọc tập trong môi trường học tập rất năng động - nơi có nhiều các hình thức hoạt động
Trang 9tập thể, các câu lạc bộ giúp cho SV phát triển kĩ năng mềm trong HĐ và GT Tuynhiên, nhiều SV vẫn chưa nhận thức được tầm quan trọng của HĐ và GT mà nhất làchưa nhận thấy mối quan hệ khăng khít, quy định và ảnh hưởng lẫn nhau giữa các yếu
tố tâm lí và HĐ – GT Do đó, phần lớn trong số họ chưa biết cách khắc phục để hạnchế tối đa những điểm yếu về mặt tâm lí của bản thân – những cái làm ảnh hưởng đếnhiệu quả của HĐ và GT hay chưa biết tận dụng triệt để những điểm mạnh của mình vềtính cách khí chất, trạng thái, năng khiếu…để làm tăng hiệu quả trong HĐHT và GT
Dưới góc độ phân tích về sự ảnh hưởng của một số yếu tố tâm lí đến HĐ và GTbằng tiếng Anh, đề tài góp phần giúp sinh viên ngoại ngữ, nhất là các bạn SV năm thứ
tư khoa Anh có thêm hành trang là sự tự tin, năng động… đáp ứng được các yêu cầuhội nhập và phát triển của xã hội hiện nay Bởi lẽ, những yếu tố tâm lí đó chính là
“chiếc cầu nối” kết gắn tới thành công trong HĐ - GT và xa hơn là trong sự nghiệp vàtrong cuộc sống của mỗi cá nhân
Những lí do trên đã thôi thúc chúng tôi chọn vấn đề: “Sự ảnh hưởng của khíchất, tiềm năng sáng tạo, động cơ và năng lực ngoại ngữ đến hoạt động học tập vàgiao tiếp tiếng Anh của sinh viên năm tư trường ĐHNN-ĐHQGHN” làm đề tài nghiêncứu khoa học
2 MỤC ĐÍCH NGHIÊN CỨU
Nhằm làm sáng tỏ hơn về sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí (như khí chất,khả năng sáng tạo, động cơ học tập, năng lực ngoại ngữ - yếu tố chủ quan) đến hiệuquả của HĐGT tiếng Anh của người học Từ đó, đưa ra một số giải pháp nhằm pháthuy cao nhất khả năng HĐ và GT của SV
3 NHIỆM VỤ NGHIÊN CỨU
Những nhiệm vụ được đặt ra trong nghiên cứu của chúng tôi đó là:
Khái quát hóa lí luận có liên quan đến đề tài để làm cơ sở cho việc nghiên cứuthực tiễn
Nghiên cứu thực tiễn: về sự ảnh hưởng của các yếu tố: khí chất, tiềm năng sángtạo, động cơ, năng lực ngoại ngữ - yếu tố chủ quan, đến HĐ và GT của SV năm
Trang 10thứ tư khoa Anh, trường ĐHNN-ĐHQGHN; Xác định mối quan hệ giữa các yếu tốchủ quan nói trên khi SV HĐ và GT bằng tiếng Anh trong HĐ nghe, nói và viết.
Trên cơ sở nghiên cứu, đề tài sẽ đưa ra một số gợi ý nhằm giúp SV có thể phát huynhững lợi thế và cải thiện những hạn chế về các mặt tâm lí của bản thân để việc sửdụng ngôn ngữ cần học có hiệu quả hơn
4 ĐỐI TƯỢNG VÀ KHÁCH THỂ NGHIÊN CỨU
Đối tượng nghiên cứu là sự ảnh hưởng của các tâm lí (như động cơ, khíchất, năng lực ngoại ngữ và tiềm năng sáng tạo - yếu tố chủ quan) đến HĐ và GTbằng tiếng Anh của SV năm thứ 4 khoa Anh, trường ĐHNN – ĐHQGHN
Khách thể nghiên cứu là 30 SV thực tập năm thứ tư, khoa sư phạm tiếngAnh, trường ĐHNN- ĐHQGHN
5 PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
Trong quá trình nghiên cứu, chúng tôi đã sử dụng một hệ thống các nhómphương pháp nghiên cứu cơ bản sau:
Một: Các phương pháp nghiên cứu lí luận: đọc, phân tích, tổng hợp hóa, kháiquát hóa các tài liệu có liên quan đến đề tài
Hai: Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn: phương pháp trắc nghiệmbằng tiếng Việt (test về khí chất – tính cách; test về tiềm năng sáng tạo) và trắcnghiệm bằng tiếng Anh (các bài kiểm tra về khả năng nghe, viết và nói); phương phápđiều tra viết bằng bảng hỏi; phương pháp phỏng vấn – đàm thoại thực tiếp; phươngpháp nghiên cứu sản phẩm HĐ và GT; phương pháp lấy ý kiến chuyên gia; phươngpháp mô tả chân dung
Ba: phương pháp xử lí thông tin bằng toán thống kê
Nội dung chi tiết các phương pháp chúng tôi sẽ trình bày chi tiết ở chương 2.
6 GIỚI HẠN ĐỀ TÀI
Sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí đến HĐ và GT là một lĩnh vực rất rộng Nóbao gồm: nhận thức (NT), trạng thái (TT), thái độ (TĐ), khí chất (KC) – tính cách
Trang 11(TC), năng lực (NL), khả năng sáng tạo (KNST), tư duy, năng lực ngôn ngữ (NLNN),động cơ học tập (ĐCHT)
Tuy nhiên, căn cứ vào tình hình thực tế và nhiệm vụ của đề tài, chúng tôi chỉ đisâu nghiên cứu sự ảnh hưởng của một số yếu tố tâm lí của HĐ và GT như: KC, NLNgoại ngữ, ĐCHT và TNST của 30 SV năm thứ tư trường ĐHNN- ĐHQGHN khi sửdụng tiếng Anh trong HĐ và GT qua khẩu ngữ (nghe và nói) và bút ngữ (viết)
7 GIẢ THUYẾT KHOA HỌC
Trong hoạt động học tập nói chung và hoạt động học tập và GT bằng tiếng Anhnói riêng, nếu người học có tâm lí tốt như: có KC - TC hài hòa, có NLNN vững chắc,
có TNST cao và ĐC và thái độ học tập tích cực… thì đa phần họ có kết quả HĐGT,học tập tốt hơn, khả năng GT cũng tốt hơn Vì các yếu tố tâm lí này có ảnh hưởngnhất định đến hiệu quả của HĐ và GT tức là chúng quan hệ qua lại rất mật thiết vàchúng giúp cho người học HĐ và GT có hiệu quả hơn so với những người không cótâm lí tốt
8 CÁI MỚI VÀ Ý NGHĨA CỦA ĐỀ TÀI
8.1 Cái mới của đề tài
Trong lịch sử nghiên cứu, có rất nhiều các công trình khoa học đã nghiên cứu
về sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí đến HĐ và GT của con người như hoạt độnghọc tập, hoạt động lao động…còn sự ảnh hưởng của các yếu tố tâm lí như động cơ,tiềm năng sáng tạo, khí chất – tính cách, năng lực ngoại ngữ đến hoạt động học tập vàgiao tiếp của sinh viên khoa Anh thì chưa một công trình nào nghiên cứu một cách có
hệ thống và cụ thể Đề tài này đã đi vào nghiên cứu để chỉ ra sự ảnh hưởng của cácyếu tố tâm lí nói trên tới hiệu quả hoạt động học tập và GT của SV khi sử dụng tiếngAnh
8.2 Ý nghĩa nghiên cứu
8.2.1 Ý nghĩa lí luận: góp phần làm rõ thêm những vấn đề lí luận của tâm líhọc về sự ảnh hưởng của động cơ học tập, năng lực ngoại ngữ, khí chất-tính cách,tiềm năng sáng tạo đến HĐ và GT của con người
Trang 128.2.2 Ý nghĩa thực tiễn: Từ kết quả nghiên cứu, có thể chỉ ra điểm mạnh, điểmyếu của SV về mặt tâm lí nhằm giúp họ tìm ra những giải pháp khắc phục để hạn chế
để việc HĐ và GT bằng tiếng nước ngoài đạt hiệu quả cao hơn Đó cũng là cơ sở quantrọng có thể được sử dụng trong các câu lạc bộ (đặc biệt là các câu lạc bộ ngoại ngữ),các chương trình HĐ tập thể giúp phát triển kĩ năng mềm cho SV trong trường ĐH
Trang 13Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN CỦA VẤN ĐỀ NGHIÊN CỨU
1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ
Nhìn lại lịch sử về nghiên cứu, chúng tôi thấy có rất nhiều công trình nghiêncứu của nhiều tác giả khác nhau Trong công trình này, chúng tôi sẽ đề cập đến vấn đềnày theo các bình diện như sau:
Thứ nhất: Lịch sử nghiên cứu vấn đề khí chất (KC)
Thứ hai: Lịch sử nghiên cứu vấn đề tiềm năng sáng tạo (TNST)
Thứ ba: Lịch sử nghiên cứu vấn đề năng lực ngôn ngữ (NLNN)
Thứ tư: Lịch sử nghiên cứu vấn đề động cơ học tập (ĐCHT)
Mỗi bình diện, chúng tôi sẽ đề cấp đến tình hình nghiên cứu vấn đề trên thế giới
và ở Việt Nam
1.1.1 VÀI NÉT VỀ LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU KHÍ CHẤT (KC)
Học thuyết về KC đã xuất hiện từ lâu và có một lịch sử phức tạp KC có nguồngốc từ những quan niệm thời cổ đại Vào thời kỳ này người ta đã miêu tả bốn loại KC.Đây là cách tiếp cận thuần túy sinh học Trong lịch sử, người ta đã ghi lại tên tuổi của
Hypocrat- một bác sĩ người Hi Lạp(460-356 TCN) là người đầu tiên phát hiện ra các
loại khí chất ở con người Theo ông thì trong cơ thể người có 4 chất lỏng: máu, chấtnhờn, mật vàng, mật đen Và tùy thuộc vào tỉ lệ và mối quan hệ của các chất dịch này
mà con người có những hành vi khác nhau Sau đó, Galen (130-250) bác sĩ người La
Mã đã hoàn thiện học thuyết của Hypocrat qua việc phân chia khí chất thành 4 kiểu cơ
bản dựa vào các chất dịch chiếm ưu thế: Kiểu Xănghanh (kiểu linh hoạt); Kiểu Phlêmatic (kiểu trầm); Kiểu Côlêric(kiểu nóng); Kiểu Mêlangcôlic (kiểu ưu tư).
Khoa học phát triển đã gạt bỏ ý kiến cho rằng KC phụ thuộc vào quan hệ và tỉ
lệ các chất dịch trong cơ thể Tuy nhiên cách chia bốn kiểu KC trên khá chính xác vềmặt tâm lí nên vẫn còn giữ nguyên giá trị cho đến ngày nay Và cho đến hiện nay thì
thuyết thần kinh học của Páplốp đã cho ta một cái nhìn khoa học về KC.
Trang 141.1.2VÀI NÉT LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU TIỀM NĂNG SÁNG TẠO (TNST)
Thuật ngữ khoa học về sáng tạo (Heuristics, Creatology hay Ars inveniendi),
lần đầu tiên xuất hiện trong những công trình của nhà toán học Papp, sống vào nửacuối thế kỷ thứ III tại Alexandri - Hy Lạp Sau đó các nhà toán học và triết học nổitiếng như Descartes, Leibnitz, Bernard Bolzano đã có nhiều cố gắng thành lập hệthống khoa học nghiên cứu về khả năng sáng tạo của con người Hiện nay, một sốnước trên thế giới, trong đó có Việt Nam, đã tổ chức giảng dạy môn học ứng dụng vấn
đề này, hoặc tổ chức kinh doanh ý tưởng sáng tạo
Trong đó, lịch sử vấn đề nghiên cứu TNST trên thế giới: TNST là một khái
niệm còn khá mới mẻ Những nghiên cứu về TNST đến thế kỉ XX mới thực sự rõ nét J.P.Guiford là người đầu tiên nói về đặc điểm của nhân cách sáng tạo và biểu đạt nó
thành mô hình Sau đó có thể kể đến các tác giả nổi bật nghiên cứu vấn đề này như
Lewis Teriman (1954), Nhà tâm lí học Đức Pigpig (1988), K.K.Urban (1995), Carl Roger (2009), Viện nhân cách thuộc Đại học Tổng hợp California Các tác giả này đã
đưa ra định nghĩa hoặc quan niệm cơ bản về tiềm năng (năng lực sáng tạo: NLST).Như vậy, có thể nói, khái niệm NLST đã khá phổ biến trên thế giới
Tại Việt Nam: khái niệm này cũng còn khá mới mẻ Tuy nhiên, cũng đã cónhiều tác giả đề cập về vấn đề này và đưa ra những nhận định của họ Trong đó, có thể
kể đến Nguyễn Huy Tú - nhà nghiên cứu chuyên bàn về vấn đề sáng tạo hay tác giả Đức Huy (2005) Bên cạnh đó, còn có một số đề tài nghiên cứu về NLST như luận văn ThS/ Lương Thị Thanh Hải (2008) “Nghiên cứu năng lực sáng tạo của sinh viên
mỹ thuật Trường Đại Học Sư phạm Nghệ thuật Trung Ương” Luận văn ThS.Tâm lí học Mã Ngọc Thể (2010) “Tính sáng tạo của học sinh tiểu học trong môn mĩ thuật”.
Đề tài nghiên cứu khoa học Nguyễn Công Khanh “ Nghiên cứu chỉ số sáng tạo của
sinh viên ĐHQGHN”
1.1.3 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU NĂNG LỰC NGÔN NGỮ (NLNN)
Trong lịch sử nghiên cứu vấn đề NLNN trên thế giới có thể kể đến tên tuổi củamột số tác giả tiêu biểu V.V.Bôgôlôvxki (1973), Ph.N.Gônôbôlin (1973),A.V.Daparôgiet (1974), A.B.Pêtrôvxki (1976), A.V.Kruteski (1980) Bên cạnh đó, ở
Trang 15Việt Nam, vấn đề này cũng nhận được sự quan tâm và khai thác của nhiều nhà nghiêncứu như: Phạm Minh Hạc (1988), Phạm Văn Hoàn và Nguyễn Cảnh Nam (1989),Nguyễn Quang Uẩn (1995), Vũ Dũng (2000)
1.1.4 LỊCH SỬ NGHIÊN CỨU VẤN ĐỀ ĐỘNG CƠ HỌC TẬP (ĐCHT)
Hệ ĐCHT là một trong những phạm trù quan trọng của tâm lí học và giáo dụchọc, nó đặc trưng cho hoạt động (HĐ) học tập và quy định chất lượng của HĐ này.Chính vì thế, trong lịch sử nghiên cứu tâm lí học, đặc biệt là tâm lí học dạy hoc, có rấtnhiều công trình nghiên cứu về vấn đề này Các nhà tâm lí học và giáo dục học trong
và ngoài nước đã đưa ra rất nhiều những quan điểm khác nhau về những khía cạnhkhác nhau của khái niệm ĐCHT
Các công trình nghiên cứu của các tác giả nước ngoài.
E.Thendike trong “The fundaments of learing” (1932) nhìn nhận về ĐCHT như
là một kích thích hướng hành vi vào việc đạt tới một kết quả Năm 1946,
A.N.Lêôntiev có công trình “Sự phát triển động cơ học tập ở trẻ” Công trình này đã
thể hiện được tư tưởng tiến bộ của A.N.Lêôntiev, trong đó các khái niệm về ĐCHT,các cách thức phân loại ĐCHT, đặc điểm và bản chất của hiện tượng tâm lí này được
đề cập khá sâu sắc Sau đó, năm 1964, W.Kennedy và H.Willeut nghiên cứu động cơ
(ĐC) kích thích trong quá trình học tập với công trình “Praise and blame asincentives”đã xem khen chê là những động cơ kích thích con người học tập
A.K.Markova, A.B.Orlov, L.M.Phritman vào năm 1983 đã cho ra đời công
trình“ Động cơ học tập và sự giáo dục chúng ở học sinh” nhằm đề cập đến vai trò củaĐCHT trong giáo dục và nhấn mạnh việc giáo dục ĐCHT trong học sinh Bà
A.K.Markova cũng nghiên cứu khá sâu sắc về vấn đề “Động cơ học tập trong lứa tuổi
học sinh” ở đó, bà không chỉ dừng lại ở việc phân tích ĐCHT là gì, có những loạiĐCHT nào mà còn chỉ ra những biểu hiện của ĐCHT và những phương pháp nghiêncứu ĐCHT để giáo viên có thể nhận biết, nghiên cứu và giáo dục ĐCHT ở học sinhnhằm nâng cao chất lượng giáo dục
R.M.Ryan, J.P.Connell và E.L.deci đã thực hiện một nghiên cứu về động lực
trong Giáo dục “Research on motivation in education” (1985), trong đó, vấn đề ĐCHT
Trang 16và mối quan hệ của nó với chất lượng đào tạo được nêu lên như những vấn đề chínhcủa nghiên cứu.
Các công trình nghiên cứu của các tác giả Việt Nam
Tác giả Nguyễn Kế Hào đã trình bày nhiều khía cạnh của vấn đề này trong
nhiều công trình nghiên cứu khoa học của mình: “ Đặc điểm và cấu trúc của động cơhoạt động học tập trong sự phụ thuộc vào các kiểu khái quát tài liệu học tập” (1981);
“Cơ sở tâm lí của việc hình thành động cơ học tập” (1982); “Về khả năng hình thànhđộng cơ học tập” (1983); “Một số phương pháp nghiên cứu động cơ hoạt động họctập” (1983)
Ngoài ra, Phạm Thị Minh Đức đưa ra một cái nhìn khá khái quát về phạm trù
ĐCHT trong bài viết “Về phạm trù động cơ học tập của học sinh trong giai đoạn hiện
nay” (1940) Năm 1980, Đỗ Mộng Tuấn đã bảo vệ luận án Phó tiến sĩ tâm lí học bằng
công trình “Động cơ hoạt động của học sinh trong việc học tập và ảnh hưởng của nó
tới việc tổ chức hoạt động ấy đến động cơ” Phạm Thị Nguyệt Lãng với bài viết “Tìm
hiểu động cơ xã hội trong hoạt động học tập của học sinh cấp 3” đã đi sâu vào một
khía cạnh của khái niệm ĐC, đó là ĐC xã hội Nguyễn Văn Lũy viết bài:“ Một số đặc
điểm động cơ học tập của học sinh kém bậc tiểu học” (2001) đã làm rõ đặc điểmĐCHT của các em
Trên đây là một số công trình nghiên cứu của các tác giả trong và ngoài nước vềvấn đề ĐCHT của học sinh Đi sâu hơn nữa, về vấn đề ĐCHT ngôn ngữ nói chung vàngoại ngữ nói riêng chúng ta cũng có thể tìm thấy một số công trình nghiên cứu như:
Trần Xuân Điệp “ Vấn đề động lực trong giảng dạy tiếng Anh” (1998) Trong
đó, vai trò của yếu tố động lực được đề cập đến trong toàn bộ quá trình giảng dạy vàhọc tiếng Anh, từ khâu xác định phương hướng đến phương pháp, từ khâu soạnchương trình đến giáo trình, từ thủ thuật trên lớp đên hoạt động ngoại khóa và kiểm trađánh giá Hoàng Xuân Hoa “Tạo động cơ để động viên vai trò chủ động tích cực củasinh viên trong việc luyện tập và phát triển kĩ năng viết” (2000) Trong đó, ĐCHTngoại ngữ được nghiên cứu trong một mức độ cụ thể hơn là đối với kĩ năng viết và đưa
ra nhiều giải pháp cho vấn đề tạo động cơ cho sinh viên (SV) trong việc rèn luyện vàphát triển kĩ năng viết
Trang 17Như vậy vấn đề ĐCHT và ĐCHT ngoại ngữ đã được nhiều nhà tâm lí học, giáodục học nghiên cứu Tuy nhiên, việc nghiên cứu mối quan hệ giữa ĐCHT với các yếu
tố tâm lí khác, cũng như ảnh hưởng của nó đến hiệu quả của hoạt động giao tiếp(HĐGT) và học tập vẫn còn là những khía cạnh cần được quan tâm
1.2 MỘT SỐ KHÁI NIỆM CƠ BẢN CỦA ĐỀ TÀI
1.2.1 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ KC (Idiosyncracy) – TC (Character).
1.2.1.1 Khái niệm chung về khí chất (Idiosyncracy)
KC là một thuộc tính tâm lí phức hợp của cá nhân mang tính ổn định và độcđáo Nó quy định sắc thái biểu diễn tâm lí trong hoạt động tâm lí của con người Trong
tiếng Anh, KC được định nghĩa: “According to psychology, temperament is individual psychological attributes, it’relates to the rype of relatively sustainable mental activity
of human Temperament expresses intensity, speed, frequency of psychological operations It shows nuance of actions, behaviors and ways to talking.” (Theo tâm lý
học: KC là thuộc tính tâm lý cá nhân gắn liền với kiểu hoạt động thần kinh tương đốibền vững của con người, KC biểu hiện cường độ, tốc độ, nhịp độ của các HĐ tâm lýthể hiện sắc thái hành vi, cử chỉ, cách nói năng của cá nhân.)
Trong các đặc điểm tâm lí để phân biệt người này với người khác thì KC có tầmquan trọng nhất Từ xưa, người ta đã nhận thấy có những khác biệt cá nhân rõ rệt trongnhững đặc điểm bên ngoài của hành vi Những đặc điểm về KC chỉ thuần túy là cácbiểu hiện bên ngoài của hành vi và ta không thể đánh giá về mặt đạo đức của conngười thông qua các đặc điểm này được Đồng thời, KC chỉ phản ánh sắc thái HĐ tâm
lí của con người về mặt cường độ, tốc độ, nhịp độ của những động tác, cử chỉ…màthôi Vì thế, KC không định trước giá trị đạo đức và giá trị xã hội của cá nhân Người
có KC khác nhau có thể có chung một loại đạo đức, hoặc những người có KC nhưnhau thì lại có những giá trị đạo đức và xã hội rất giống nhau KC không định trướcnhững nét tính cách mà chỉ có quan hệ chặt chẽ với tính cách Bên cạnh đó, có thể thấy
KC không định trước trình độ của năng lực
Trang 181.2.1.2 Các loại khí chất và đặc điểm của chúng
KC có nguồn gốc từ những quan niệm thời cổ đại Hiện nay, thuyết thần kinh
học của Páplốp đã cho ta một cái nhìn khoa học về KC Theo ông cơ sở sinh lý của
khí chất là kiểu hoạt động thần kinh cấp cao hay là kiểu hệ thần kinh Và căn cứ vào ba
thuộc tính cơ bản: cường độ, tính linh hoạt và tính cân bằng của hai quá trình thần
kinh cơ bản là hưng phấn và ức chế mà Páplốp xếp thành bốn kiểu thần kinh cơ bảntương ứng với bốn kiểu khí chất
a Kiểu linh hoạt – Xănghanh (loại thần kinh mạnh, cân bằng, linh hoạt)
Cấu tạo thần kinh: ức chế cao, hưng phấn cao Nhịp độ thần kinh nhanh, nhưngkhông cân bằng giữa ức chế (buồn) và hưng phấn (vui) Tương ứng với KC sôi nổi,
hay còn được gọi là kiểu hoạt bát.
Các biểu hiện: Đây là kiểu người nói to, nói nhiều, hành động mạnh mẽ, haybiểu lộ cảm xúc ra ngoài, rất nhiệt tình với người khác, khả năng nhận thức mọi sựviệc rất nhanh Tuy nhiên lại hay vội vàng, hấp tấp, nóng nảy, không có khả năng tựkiềm chế, bảo thủ, hiếu thắng, không kiên trì Khi rơi vào hoàn cảnh khó khăn sẽthường không tự chủ được bản thân Khả năng thích nghi với môi trường cao
b Kiểu trầm - Phlêmatic (loại thần kinh mạnh, cân bằng, không linh hoạt)
Cấu tạo thần kinh: Hưng phấn, ức chế ở mức độ bình thường Phản ứng, nhịp
độ thần kinh rất chậm, không linh hoạt Tương ứng với KC lãnh đạm, hay còn gọi làkiểu KC bình thản
Các biểu hiện: Đây là kiểu người ít nói, nói chắc, hành vi chậm chạp, không bộc
lộ cảm xúc ra bên ngoài, khả năng tiếp thu cái mới rất chậm, khá nguyên tắc, cứngnhắc, đôi khi máy móc Đồng thời thường là người khó gần, khó làm quen, cũng khóbiết tâm trạng của họ Các mối quan hệ của họ rất ít vì họ không thích quan hệ rộng.Những người thuộc nhóm KC này khó thích nghi với môi trường sống
c Kiểu nóng – Côlêric (kiểu thần kinh mạnh, không cân bằng)
Cấu tạo thần kinh: Phản ứng, nhịp độ thần kinh mạnh, mềm dẻo Tính cân bằnggiữa ức chế và hưng phấn cao Tương ứng với KC nóng nảy, ta gọi kiểu nóng nảy
Các biểu hiện: Đặc biệt nói nhiều, nhanh, hoạt động cũng nhanh nhẹn, hoạt bát
Có tài ngoại giao nên quan hệ rất rộng nhưng không sâu sắc Tư duy, nhận thức nhanh,
Trang 19lắm sang kiến, nhiều mưu mẹo, hay vội vàng hấp tấp nên hiệu quả công việc khôngcao Có khả năng thích nghi với mọi môi trường hoàn cảnh, tư tưởng rất dễ thay đổi.Đây là loại người rất linh hoạt trong cuộc sống.
d Kiểu ưu tư - Mêlangcôlic (loại thần kinh suy yếu)
Cấu tạo thần kinh: Hưng phấn lẫn ức chế đều thấp, nhưng ức chế vẫn trội hơn,
có hệ thần kinh nhạy cảm, nhịp độ phản ứng thần kinh chậm Tương ứng với KC trầm
tư, ta gọi là kiểu ưu tư
Các biểu hiện: ít nói, tiếng nói nhẹ nhàng, yếu ớt Hành động thiếu tính bạo dạn,rất rụt rè, nhút nhát Nhận thức chậm, chắc, có năng khiếu riêng Không thích đámđông, không thích ồn ào Thiên về sống nội tâm, không thích quan hệ rộng Rất chuđáo, ít làm mất lòng người khác
Cần phải lưu ý rằng, KC bị quy định không những bởi những đặc tính bẩmsinh của hệ thần kinh, mà còn bởi những điều kiện sống và HĐ KC không phải là bấtbiến trong cuộc đời của mỗi cá nhân Bất kì KC nào cũng đều không cản trở sự pháttriển của tất cả các đặc tính xã hội cần thiết của cá nhân, song mỗi KC lại đòi hỏinhững con đường, những phương thức hình thành riêng và có ưu và nhược điểm KCkhông quy định người đó là người tốt hay người xấu nhưng KC lại có ảnh hưởng nhấtđịnh đối với HĐ và GT của con người và sự ảnh hưởng này diễn ra theo cả hai chiềuhướng tích cực và tiêu cực
1.2.1.3 Khái niệm về tính cách
Tính cách xuất phát từ chữ Hy Lạp “character” có nghĩa là dấu vết, dấu ấn.Ngay từ thế kỷ thứ 3 TCN, từ “character” với ý nghĩa đó đã được nhà triết học
Têôphraxtơ dùng trong cuốn sách đầu tiên nói về tính cách Têôphraxtơ đã coi tính
hèn nhát, sự giả nhân, giả nghĩa, tính tham lam, lòng trung thực và các nét khác là biểuhiện của tính cách cá nhân
Quan niệm của các tác giả Phạm Minh Hạc, Trần Trọng Thuỷ, Lê Khanh:
“Tính cách là sựu kết hợp độc đáo các đặc điểm tâm lí ổn định của con người, những đặc điểm này quy định phương thức hành vi điển hình của con người trong điều kiện
Trang 20và hoàn cảnh sống nhất định, thể hiện thái độ của họ đối vời thế giới xung quanh và bản thân”.
Cũng theo các tác giả trên “con người có thái độ sống khác nhau đối với thếgiới xung quanh, đối với người khác, đối với tập thể, đối với lao động, đối với tráchnhiệm xã hội của mình, đối với bản thân mình Chính những thái độ này làm chongười này khác người kia Thái độ đó được thể hiện trong hành vi, cử chỉ của conngười”
Tác giả Nguyễn Quang Uẩn quan niệm: “Tính cách là một thuộc tính phức
hợp của cá nhân bao gồm một hệ thống thái độ của nó đối với hiện thực, thể hiện trong hệ thống hành vi, cử chỉ, cách nói năng tương ứng” Cũng theo tác giả Nguyễn
Quang Uẩn tính cách là cái được thể hiện rất cụ thể, phong phú: Trong cuộc sống hàngngày ta thường dùng từ “tính tình”, “tính nết”, “ tư cách”, để chỉ tính cách Những néttính cách tốt thường được gọi là “ đặc tính”, “lòng”, “tinh thần”; những nét tính cáchxấu thường được gọi là “tật”, “thói”
Tác giả Nguyễn Phúc Ân cho rằng: Tính cách là tổng hợp những thuộc tính
tâm lí đặc trưng, phản ánh mối quan hệ cá nhân và hiện thực thông qua hệ thống thái
độ, hành vi, cử chỉ, hành vi đối với xã hội, đối với lao động, đối với những người xung quanh mình và đối với bản thân mình Quan niệm này đã tách rời hệ thống thái độ và
tính cách nhưng về thực chất thái độ là hình thức biểu hiện của tính cách, là một phầncủa tính cách không thể tách rời trong đó sự kết hợp những thuộc tính hay là phẩmchất tâm lí là nội dung của tính cách Thái độ là cách nói chung, có thể là yêu, ghét,căm thù, nhiệt tình hay lười biếng thì đều là thái độ
Tác giả Bùi Văn Huệ đã định nghĩa: “Tính cách là những phẩm chất chung của
nhân cách, là tập hợp không phải tất cả mà chỉ là nhứng đặc điểm điểm hình nhất củanhân cách ở trong mối liên hệ chặt chẽ” Quan niệm này đã định vị được tính cách “lànhững phẩm chất chung của nhân cách” Tuy nhiên sự định vị này còn làm cho chúng
ta thấy rằng tính cách là những phẩm chất rời rạc, đơn lẻ của nhân cách mà không thấyđược tính trọn vẹn, thống nhất của tính cách Quan niệm này cũng chỉ dừng lại ở khíacạnh mô tả chứ chưa khắc hoạ được bản chất của tính cách là gì
Trang 21Trong tâm lí học quân sự, tính cách được định nghĩa: “ Tính cách sự kết hợp
độc đáo những đặc trưng tâm lí điển hình, ổn định, bền vững của cá nhân, được biểu hiện ra trong hệ thống thái độ và hành vi, trong đặc điểm của các quá trình tâm lí và thuộc tính tâm lí”.
Trong tâm lí học thể thao do tác giả P.A.Ruđich chủ biên thì tính cách được
định nghĩa: “Tính cách biểu hiện qua những đặc điểm của cá tính, là cái dấu vết rõ ràng trong hành vi của con người, trong quan hệ của con người với người khác và với thế giới bên ngoài” Trong định nghĩa này tác giả đã thể hiện được mặt biểu hiện của
tính cách đó là “cái để lại dấu vết rõ ràng” thông qua các hành vi trong các mối quan
hệ giữa người với người và giữa con người với thế giới bên ngoài Tuy nhiên do chú nhiều đến mặt biểu hiện nên định nghĩa còn nặng về tính “ kĩ thuật” Mặt khác địnhnghĩa này còn hạn chế: đối với con người có thể nhận ra rằng chính “tính cách” là yếu
tố tạo nên cá tính Đó là sự tổ hợp các đặc điểm của tính cách trong mỗi cá nhân tạonên cá tính chứ không phải cá tính cách biểu hiện qua những đặc điểm của cá tính Cátính chẳng qua chỉ là sự khác biệt giữa các cá nhân về mặt tính cách cong gọi là“tính
cá biệt” Quan hệ của tính cách và cá tính là quan hệ của cái chung và cái riêng, cáiđơn nhất
Qua các định nghĩa trên ta có thể nhận thấy điểm chung của các tác giả khi địnhnghĩa về tính cách:
Tính cách là 1 thuộc tính tâm lí của cá nhân có tính ổn định và bền vữngtương đối, là 1 thành phần trong cấu trúc nhân cách của cá nhân
Tính cách được phức hợp từ nhiều phẩm chất (đặc điểm- thuộc tính) tâm
lí để tạo nên Sự phức hợp này đã lầm cho tính cách mang tính hoàn chỉnh, thống nhất,riêng biệt (đặc thù), đọc đáo, điênnr hình ở mỗi cá nhân Sự kết hợp này không phải làphép cộng đơn giản, mà là sự kết hợp riêng biệt thành 1 thể sinh động, thống nhất,cũng giống như 1 bản nhạc, không phải là 1 chuỗi riêng lẻ của những “nốt nhạc”
Tính cách là sự thể hiện thái độ của cá nhân trước hiện thực Đó là sựnhiệt tình, sôi nổi, thẳng thắn, trách nhiệm, cần cù, chịu khó hay hiếu thắng, ganh đua,ích kỉ Tất cả những phẩm chất này được quy tụ, phức hợp thành 1 chỉnh thể mang
Trang 22bảnsắc cá nhân và được thẻ hiện bằng chính thái độ của cá nhân đó thông qua hành vi,
cử chỉ, cách nói năng
Như vậy từ những định nghĩa khái niệm trên, theo chúng tôi tính cách phản ánh đầy đủ những thuộc tính sau:
Tính cách là 1 thuộc tính tâm lí của cá nhân, là 1 chỉnh thể toàn vẹn, thồng nhất,
là “bộ khung của nhân cách” bao gồm 1 hệ thống phẩm chất tâm lí mang tính điểnhình Thuộc tính tâm lí này được phức hợp từ những phẩm chất tâm lí trong mỗi cánhân Chính từ sự phức hợp đã tạo nên cho tính cách mangg tính độc đáo và rieng biệt
ở từng cá nhân Biểu hiện của tính cách là hệ thống thái độ của cá nhân nhưng nhữngthái độ này phải mang tính hệ thống, phải mang tính điển hình Tính cách được thểhiện thông qua hành vi và hoạt động đối với xã hội, lao động học tập, với người khác
và đối với bản thân
1.2.2 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ TIỀM NĂNG SÁNG TẠO.
Trong tiếng Anh, TNST được định nghĩa: “Potentiality is translations of the
Ancient Greek word Dunamis or dynamis as it is used by Aristotle as a concept contrasting with actuality (TNST là thuật ngữ được các học giả Ancient Greek và
Aistotle dùng để chỉ sự nhận thức nổi trội, đối lập với thực tại)
Sáng tạo là quá trình làm phát sinh (phát hiện, phát kiến hoặc phát minh) một
sự vật hoặc hiện tượng mới & hữu ích, đáp ứng nhu cầu tồn tại hoặc phát triển của conngười trong xã hội đương đại Khái niệm sáng tạo được sử dụng trong mọi lĩnh vựccủa thế giới vật chất và tinh thần
Theo F Raynal và Rieunier: sáng tạo là năng lực tưởng tượng nhanh, nhiều lời giải độc đáo khi đối đầu với một vấn đề Theo P.Foulquie: tính/ năng lực sáng tạo là
năng khiếu và xu hướng sáng tạo, tức là lập ra những đề án độc đáo, hình dung và thựchiện được những tác phẩm có cá tính Tính sáng tạo phụ thuộc phần lớn vào môitrường văn hóa – xã hội, thường xuất hiện trong lao động nhóm (gọi là “tính sáng tạo
nhóm”) J.P.Guiford cho rằng trí sáng tạo được xác định bởi một tổ hợp các đặc điểm
và năng lực sau: tính lưu loát (fluency), tính mềm dẻo (flexibility), tính chi tiết(elaboration), tính độc đáo (originality), tính nhạy cảm vấn đề (sensibility) và sự định
Trang 23nghĩa lại (redefinition) Qua đây, tác giả cho thấy: một con người sáng tạo cần cónhiều sáng kiến, có khả năng thao tác thuần thục đối với những vấn đề khác nhau Họcũng rất nhạy cảm với vấn đề và độc đáo trong cách giải quyết vấn đề.
Nhà Tâm lý học Đức Pigpig (1988) định nghĩa: Năng lực sáng tạo là thuộc tính
nhân cách đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh có vấn đề Thuộc tínhnhân cách này là tổ hợp các phẩm chất tâm lý mà nhờ đó con người trên cơ sở kinhnghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo, hợp lý trênbình diện cá nhân hay xã hội Ở đó người sáng tạo gạt bỏ được các giải pháp truyềnthống và đưa ra các giải pháp mới, độc đáo và thích hợp đối với vấn đề đặt ra
K.K.Urban (1995) cho rằng: tính sáng tạo của con người là thuộc tính nhân
cách bộc lộ trong sản phẩm hoạt động mới mẻ, độc đáo và tối lợi, gây nhiều ngạc
nhiên cho bản thân và cũng mới mẻ với người khác Nguyễn Hữu Tú cho rằng: Sáng
tạo là một thộc tính tâm lí đặc biệt, thể hiện khi con người đứng trước hoàn cảnh cóvấn đề Thuộc tính này là tổ hợp các phẩm chất và năng lực mà nhờ đó con người trên
cơ sở kinh nghiệm của mình và bằng tư duy độc lập tạo ra được ý tưởng mới, độc đáo,hợp lý trên bình diện cá nhân hay xã hội Ở đó, người sáng tạo gạt bỏ được các giảipháp truyền thống để dưa ra giải pháp mới, độc đáo và thích hợp cho vấn đề đặt ra
Qua nghiên cứu, các nhà Tâm lý học hiện đại đã kết luận: “Con người có TNST
to lớn và vô tận” Những hoạt động tư duy có sáng kiến gọi là tư duy sáng tạo -TNST.Như ta đã biết, trong HĐ và GT, sáng tạo gắn liền với sự thay đổi, đưa ra cái mới (đổimới), các ý tưởng mới, các phương án lựa chọn mới Sự sáng tạo thuộc về NL ra quyếtđịnh, thuộc về sự kết hợp độc đáo hoặc liên tưởng, phát ra các ý tưởng đạt được kếtquả mới Mọi người có thể dùng tính sáng tạo của mình để đặt vấn đề một cách baoquát, phát triển các phương án lựa chọn, làm phong phú các khả năng và tưởng tượngcác hậu quả có thể nảy sinh trong khi tiến hành HĐ và GT
Trong HĐ và GT, sự sáng tạo được biểu hiện qua tính độc đáo, tức là khi suynghĩ vấn đề thường không dập khuôn theo những quy tắc hoặc tri thức thông thường,
biết giải quyết vấn đề một cách linh hoạt, ứng biến Điều đó đòi hỏi chúng ta khi suy
nghĩ phải cố hết sức thoát khỏi những khuôn sáo suy nghĩ cũ kỹ, biết xem xét vấn đề
từ cách nhìn mới mẻ Sự sáng tạo trong HĐ và GT còn cần phải có tinh thần nhẫn nại,
Trang 24cần cù, xả thân vì công việc Mặc dù tính sáng tạo của tư duy được xây dựng trên mặtbằng trí lực tương đối cao, nhưng không phải tất cả những người có trình độ trí lực caođều có tính sáng tạo Bởi vì tính sáng tạo còn gắn chặt với những phẩm chất nhân cáchcủa mỗi người Những người có tính sáng tạo đều có tấm lòng nhân ái, có quyết tâmcao, tinh thần bất khuất, không sợ thất bại, có óc quan sát tinh tế, suy nghĩ độc lập, tinhthần quên mình vì lý tưởng!
Tựu chung, trong đề tài này, chúng tôi quan niệm: TNST là một thuộc tính nhâncách bộc lộ thông qua những ý tưởng mới, lạ, các sản phẩm độc đáo không chỉ có giátrị đối với cá nhân mà còn có giá trị xã hội
1.2.3 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ ĐỘNG CƠ, ĐCHT NGOẠI NGỮ.
1.2.3.1 Khái niệm động cơ
Động cơ (motivation) là một vấn đề trọng tâm trong cấu trúc nhân cách Tuynhiên đây cũng là một vấn đê hết sức phức tạp trên cả bình diện lí luận và thực tiếngiáo dục Nhìn nhân vấn đề này trong cùng một lĩnh vực hay trên nhiều lĩnh vực cũng
có những quan điểm khác nhau của các nhà tâm lí học trên thế giới Chúng ta có thểchia thành hai trường phái khác nhau trong nền tâm lí học
Trường phái thứ nhất là tâm lí học hành vi, tâm lí học cấu trúc và tâm lí học
phân tâm Đại diện của nó là Watson, Skinner, Jolman, A.Karter, Freud, Atler,
Horney… Dù sinh ra trong những thời điểm khác nhau và nghiên cứu hoàn toàn độc
lập nhưng họ đề đưa ra một quan điểm chung coi ĐC như những kích thích tích cực
của con người Trường phái thứ hai nghiên cứu ĐC trên quan điểm duy vật lịch sử và duy vật biện chứng Đại diện của trường phái này là các nhà tâm lí học và giáo dục học
người Nga Các nhà tâm lí học Mác- xít đều có quan điểm chung cho rằng muốn hiểuđược tâm lí con người, trước hết phải đi từ cuộc sống thực của con người, mà mó vôcùng đa dạng, nảy sinh từ trong nhu cầu hững thú khác nhau, ĐC không phải là sự trảinghiệm của nhu cầu mà là quá trình thúc đẩy con người thỏa mãn nhu cầu của chủ thể
ĐC là đặc trưng chủ yếu của tâm lí con người, nó thúc đẩy và điều khiển mọi hành vicủa con người
Trang 25Trong quá trình xem xét các quan điểm của các nhà tâm lí học về ĐC, chúng tôiđưa ra một cách hiểu về ĐC như sau: “ Động cơ là tất cả những gì làm nảy sinh tínhtích cực của cơ thể và quy định xu hướng, nói cách khác, khái niệm động cơ liên quanđến tất cả những gì tạo ra rung cảm trong con người, thúc đẩy tính tích cực hoạt độngcủa họ để hướng tới những kết quả mong muốn” Đây là khái niệm công cụ của đề tài.
1.2.3.2 Khái niệm động cơ học tập (learning motivation) và phân loại.
A Khái niệm
Các nhà tâm lí học phương Tây cho rằng: những yếu tố của ĐCHT bao gồmkhông chỉ những yếu tố bên trong mang tính chủ quan mà còn có cả những yếu tố bênngoài mang tính khách quan Những yếu tố này được tạo ra bởi bản thân con người với
tư cách của một chủ thể hoạt động bởi tính chất của hoàn cảnh bên ngoài cũng nhưkích thích bản năng bên trong Các nhà tâm lí học Liên Xô nghiên cứu nội dung họctập như một quá trình có một vị trí nhất định trong cuộc đời của con người chứ khôngchỉ là những hoạt động học tập được giới hạn trong một khoảng thời gian ngắn
Chúng ta có thể nhìn nhận vấn đề này dưới góc độ sau đây để có một cái nhìnkhá tổng quát: ĐCHT là những kích hích, thúc đẩy quá trình HĐ học tập nhằm đạt đếnmục đích cuối cùng của HĐ này là lĩnh hội các tri thức, kĩ năng, kĩ xảo cần thiết màloài người đã tích lũy được, đồng thời thông qua đó sẽ tiếp thu được kinh nghiệm lịch
sử xã hội loài người ĐCHT không có sẵn, cũng không thể áp đặt từ bên ngoài, nó trúngụ trong đối tượng của HĐ để quy định HĐ của con người
B Phân loại động cơ học tập
Như vậy chúng ta thấy rằng bản chất của ĐCHT là đa dạng và rất phức tạp.Việc phân chia các hình thức của ĐCHT, vì thế cũng trở nên khó khăn và có nhiều ý
kiến khác nhau Theo A.K.Markova, ĐCHT bao gồm ĐC nhận thức và ĐC xã hội Theo P.Galay, N.P.Morgun, ĐCHT bao gồm: ĐC bên trong, ĐC trung gian và ĐC
bên ngoài Ngoài ra, còn có quan niệm cho rằng, ĐCHT bao gồm: ĐC hoàn thiện tri thức và ĐC quan hệ xã hội.
Tuy nhiên, trong đề tài này, chúng tôi sử dụng cách phân chia theo quan điểm
của P.Galay và N.P.Morgun làm cơ sở cho đề tài Cụ thể:
Trang 261.2.3.3 Khái niệm động cơ học tập ngoại ngữ
ĐCHT ngoại ngữ, trước hết là một hệ thống các kích thích thúc đẩy con ngườichiếm lĩch lấy đối tượng là một ngoại ngữ nhất định, đồng thời thúc đẩy người họchình thành các kĩ năng, kĩ xảo lời nói để có thể sử dụng nó như một công cụ nhận thức
và phương tiện GT
Trong giai đoạn hiện nay, việc học ngoại ngữ không chỉ đơn thuần là việc họcmột môn học, nhiều khi nó được coi như một xu thế để hội nhập với cuộc sống đầybiến đổi và mang tính đối ngoại xung quanh, khi khác lại được học sinh nhận thức nhưmột thứ “mốt” của giới trẻ Nhiều người cho rằng đây là cơ hội vô cùng tốt để kiếmđược nhiều tiền Bộ phận khác lại đơn giản học vì thấy người khác học nó, hoặc là vìmình không biết lựa chọn phải học gì Tuy nhiên, dù quan niệm thế nào về ĐCHTngoại ngữ thì chúng ta cũng phải thừa nhận một điều là nó có ý nghĩa vô cùng quantrọng để động viên người học trong toàn bộ tiến trình học ngoại ngữ
1.2.4 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ NĂNG LỰC NGOẠI NGỮ.
1.2.4.1 Khái niệm về năng lực
ĐC có liên quan đếnnhững yếu tố bênngoài của quá trìnhhọc tập như tráchnhiệm, nghĩa vụngười học, sự đánhgiá, khen thưởng…
Trang 27Năng lực (ability) (NL) được hiểu không thống nhất Một số nhà tâm lí học hiểu
NL là phẩm chất tâm lí, như: Ph.N.Gônôbôlin (1973), A.B.Pêtrôvxki (1976) Vũ Dũng (2000) Một số nhà tâm lí học khác lại hiểu NL là thuộc tính tâm lí, như:
A.V.Daparôgiet (1974), Phạm Minh Hạc (1988), Nguyễn Quang Uẩn (1995) Một
số nhà tâm lí học khác nữa lại hiểu NL là đặc điểm (đặc tính) tâm lí, như:
V.V.Bôgôlôvxki (1973), A.V.Kruteski (1980), Phạm Văn Hoàn và Nguyễn Cảnh Nam (1989) …
Nhưng dù hiểu thế nào thế nào thì họ cũng đều thống nhất ở những điểm sau vềnăng lực Một là: NL là cái do con người tạo ra, chủ yếu nhờ học tập, khổ luyện; Hailà: NL được hình thành và phát triển trên cơ sở những điều kiện bên trong và bênngoài Những điều kiện bên trong như những tiền đề, cơ sở vật chất của năng lực Ởđây có năng khiếu Những điều kiện bên ngoài như những yêu cầu, đòi hỏi của xã hội,của một hoạt động nào đó và những điều kiện thoả mãn cho yêu cầu đó; Ba là: NL vềmột hoạt động nào đó là một khả năng hiện thực, bao giờ cũng thể hiện ở kết quả caotrong hoạt động
Từ những quan điểm trên về năng lực, chúng tôi lấy khái niệm sau làm khái
niệm cơ bản cho đề tài nghiên cứu: “Năng lực là một tập hợp các khả năng hay các đặc điểm tâm lí của con người để hoàn thành dễ dàng, nhanh chóng và có kết quả cao một hoạt động nào đó Có năng lực chung để làm cơ sở giải quyết nhiều hoạt động và
có năng lực riêng để giải quyết một hoặc một vài hoạt động xác định.”
1.2.4.2 Khái niệm ngôn ngữ và năng lực ngôn ngữ
A Khái niệm ngôn ngữ
Ngôn ngữ là một hiện tượng xã hội - lịch sử Do sống và làm việc (hoạt động)cùng nhau nên con người có nhu cầu giao tiếp (GT) (thông báo) với nhau và nhận thức(khái quát hoá) hiện thực Trong quá trình HĐ cùng nhau, hai quá trình GT và nhậnthức đó không tách rời nhau: Trong lao động, con người phái thông báo cho nhau về
sự vật hiện tượng nào đó, nhưng để thông báo lại phải khái quát sự vật hiện tượng vào
Trang 28một nhóm, một lớp các sự vật hiện tượng cùng loại Ngôn ngữ đã ra đời và thoả mãnnhu cầu thống nhất các hoạt động đó.
Ngôn ngữ là một hệ thống ký hiệu đặc biệt, dùng làm phương tiện giao tiếp
và công cụ của tư duy (Chúng tôi sử dụng khái niệm này là khái niệm cơ bản của đề
tài) Ngôn ngữ là một bộ mã được thống nhất trong một cộng đồng người - Đây là nói
về mặt xã hội của ngôn ngữ Nhưng cần thấy ngôn ngữ còn là một hoạt động Đây lànói về mặt tâm lí, về mặt cá nhân nắm vững một ngôn ngữ Nắm vững một ngôn ngữ
là nắm vững hoạt động ngôn ngữ
B Năng lực ngôn ngữ (Linguistic competence)
NL ngôn ngữ theo Chomsky (1957) trong đầu óc con người có một cơ chế
ngôn ngữ, tức ngữ pháp chung, đó là ngữ pháp riêng của con người, là di truyền NLngôn ngữ là nguyên nhân bên trong để loài người có thể học được ngôn ngữ NL nàytiềm tàng, chỉ có quan hệ ảnh hưởng lặp đi lặp lại nhiều lần của một hoàn cảnh ngôn
ngữ nhất định mới có thể sản sinh ra ngôn ngữ Theo Sgall (1986), NL ngôn ngữ là NL
về mặt cấu trúc ngôn ngữ, chủ yếu là khả năng nhận thức với bản thân ngôn ngữ: ngữ
âm, từ vựng, ngữ pháp…
NL GT ngôn ngữ là một NL tổng hợp, NL vận dụng ngôn ngữ NL ngôn ngữ
theo Canade và Swanin (1980) gồm: NL ngữ pháp, NL ngôn bản, NL ngôn ngữ học
xã hội; NL sử dụng các chiến lược Theo Hymes (1972) NL ngôn ngữ gồm: NL ngữ
âm, ngữ điệu chuẩn xác về cơ bản; Khả năng tạo sinh ngữ pháp; Khả năng biểu đạt và
lí giải từ ngữ; Khả năng đọc viết; Khả năng ngữ dụng và sách lược; Khả năng tương
ứng văn hóa xã hội của ngôn ngữ Theo Nguyễn Hữu Cầu: NL GT ngoại ngữ gồm:
NL ngôn ngữ, NL ngôn ngữ xã hội và NL phi ngôn ngữ
Tựu chung, chúng tôi xây dựng quan niệm: “NL ngôn ngữ là khả năng của con người tạo ra được những câu đúng trên cơ sở nắm vững những kiến thức ngữ pháp, từ vựng, ngữ âm, tu từ …của ngôn ngữ đó NL ngôn ngữ được hình thành trong HĐGT, chịu sự tác động của HĐGT và quay trở lại điều chỉnh hành động của con người nhằm đạt kết quả nhất định trong HĐGT đó.”
1.2.4.3 Khái niệm ngoại ngữ và năng lực ngoại ngữ
Trang 29A Khái niệm ngoại ngữ.
Ngoại ngữ hay tiếng nước ngoài là một thuật ngữ có tính chất tương đối Bất kìthứ tiếng nào cũng vừa là ngoại ngữ với cộng đồng người này và là ngoại ngữ hay thứtiếng thứ hai với người khác Tiêu chí phân biệt ngoại ngữ với "nội ngữ", tức phân biệttiếng nước ngoài, tiếng của người khác với tiếng mẹ đẻ, tiếng của mình về mặt địa líchính là lãnh thổ quốc gia (tiếng xuất hiện và được truyền dùng trong biên giới là tiếng
mẹ đẻ hoặc tiếng thứ hai và ở ngoài biên giới, của nước khác là tiếng nước ngoài) và
về quá trình nắm vững trong đời sống cá thể (tiếng nắm vững đầu tiên là tiếng mẹ đẻ
và tiếng nắm vững sau này là tiếng thứ hai hoặc tiếng nước ngoài) Tất nhiên cũngnhiều trường hợp không hẳn đã là thế như trường hợp các trẻ em ngoại kiều và đượcsinh ra khi cha mẹ sống lâu ở nước ngoài và v.v… Song nhìn chung sự phân biệt nêu trên
là được mọi người chấp nhận
Như vậy, ngoại ngữ hay tiếng nước ngoài về bản chất cũng là một thứ tiếng, một ngôn ngữ cụ thể Và trong công trình nghiên cứu này, ngoại ngữ của SV là tiếng
Anh, còn tiếng mẹ đẻ là tiếng Việt Ngoại ngữ cũng là ngôn ngữ Đây là khái niệm cơbản của đề tài
B Năng lực ngoại ngữ
Khái niệm: NL ngoại ngữ là tổ hợp những đặc điểm tâm lí-ngôn ngữ bền vững,
có khả năng nắm bắt nhanh chóng và sử dụng có hiệu quả cao ngoại ngữ vào trong cácHĐGT và nhận thức hiện thực xung quanh
Thành phần của năng lực ngoại ngữ bao gồm:Khả năng bắt chước nhanh, tức
nhận thức tổng hợp phát triển mạnh; Tai âm thanh phát triển cao, tức có khả năng phânbiệt tinh tế, phân tích, tổng hợp nhanh chóng; Trí nhớ ngôn ngữ phát triển mạnh, tức
có khả năng trí nhớ ngôn ngữ tốt; Khả năng khái quát trí thức ngôn ngữ cao, tư duyngôn ngữ phát triển; Tốc độ hình thành kĩ xảo, kĩ năng lời nói nhanh, di chuyển chúng
dễ dàng vào ngữ liệu mới, tình huống mới; Thực hiện nhanh chóng, dễ dàng, có hiệuquả tốt các hoạt động lời nói ngoại ngữ
Trang 301.2.5 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ HOẠT ĐỘNG HỌC TẬP
1.2.5.1 Khái niệm hoạt động.
Nghiên cứu về sự hình thành và phát triển tâm lý của con người trong mọitrường hợp và trên mọi phương diện, chúng ta đều phải đi tìm hiểu khái niệm hoạtđộng Đó là do theo quan điểm tâm lý, sự phát triển tâm lý con người là một quá trìnhtrẻ lĩnh hội nền văn hóa xã hội loài người thông qua hoạt động và giao tiếp, trong đógiáo dục có vai trò chủ đạo Chỉ khi chúng ta có một cái nhìn đúng đắn về khái niệm,cấu trúc, đặc điểm và con đường hình thành của nó thì chúng ta mới có thể đưa ranhững kết luận chính xác về vấn đề chúng ta nghiên cứu
Nếu giải thích các hoạt động của con người theo cách này thì hành vi chỉ còn lại
là các cử động như một cái máy đáp ứng một kích thích của môi trường Nghĩa là chủnghĩa hành vi đã hoàn toàn tước bỏ tính tích cực, tính chủ thể của con người
Theo A N Lêôntiev, một đại diện của thuyết hoạt động, thì hoạt động được
hiểu là tổ hợp các hành động của con người tác động vào khách thể nhằm mục đíchthỏa mãn một nhu cầu nhất định và chính kết quả cảu hoạt động là sự cụ thể hóa nhucầu của chủ thể Nói cách khác, hoạt động là mối quan hệ là mối quan hệ giữa chủthể và khách thể bao gồm quá trình khách thể hóa chủ thể (tức là chuyển năng lực củacon người vào sản phẩm của hoạt động) và quá trình chủ thể hóa khách thể (có nghĩa
là trong hoạt động con người phản ánh vật thể, phát hiện và tiếp thu đặc điểm của vậtthể, chuyển thành tâm lý và ý thức của con người) Như vậy, hoạt động của conngười bao gồm các quá trình con người tác động vào khách thể, sự vật tri thức… vàquá trình tinh thần, trí tuệ,…
Trang 31Từ quan diểm trên, chúng ta có thể nói rằng hoạt động là phương thức tồn tại của con người trong xã hội, hoạt động là nơi nảy sinh tâm lý và cũng là nơi tâm lý vận hành Hoạt động là sự tác động qua lại giữa con người với tư cách là chủ thể và thế giới khách quan với tư cách là khách thể, kết quả là tạo nên sản phẩm về cả hai phía.
- Hoạt động có những đặc điểm cơ bản sau:
Hoạt động bao giờ cũng có đối tượng,
nghĩa là bao giờ cũng tác động vào cái gì
đấy
Hoạt động học là để tiếp thu tri thức, kĩnăng, kĩ xảo Do đó, đối tượng của hoạtđộng là nhằm hình thành và phát triểnnhân cách người học
Hoạt động bao giờ cũng do chủ thể (có thể
là do một hoặc nhiều người) tiến hành
Đặc điểm nổi bật trong tính chủ thể là tính
Hoạt động vận hành theo nguyên tắc gián
tiếp Trong hoạt động người, ta dung công
cụ để tác động vào đối tượng lao động
Công cụ để giữ vai trò trung gian giữa chủ
thể lao động và đối tượng lao động
Tiếng nói, chữ viết, các hình ảnh,… đều làcông cụ lao động của các hoạt động dạy
và học
- Cấu trúc của hoạt động:
Trang 32Từ cấu trúc của hoạt động, chúng ta thấy rằng yếu tố quan trọng nhất, quyếtđịnh đến hoạt động cũng như quy định tính chất của hoạt động la động cơ hoạt động.Bởi vì động cơ là cái thúc đẩy hoạt động, không có động cơ thì con người sẽ không cónhu cầu hoạt động và không hoạt động Hơn nữa, động cơ được khái quát hóa từ mụcđích và phương tiện hoạt động.
1.2.5.2 Khái niệm hoạt động học
Trong cuộc sống thường ngày con người lúc nào cũng học Học như thế bao giờcũng gắn với một việc nào đó mà kết quả của việc học chỉ là kết quả phụ của việc đó
Vì thế, việc lĩnh hội các kinh nghiệm lịch sử xã hội loài người chỉ là một cách ngẫunhiên và nó chỉ đưa đến những tri thức tiền khoa học Song thực tiễn đòi hỏi con ngườiphải có tri thức khoa học thực sự, phải có năng lực và phương pháp hoạt động phù hợpvới thực tiễn Kết quả là, phương thức học tập đặc biệt, phương thức nhà trường ra đời
Khách thểChủ thể
Sản phẩm của hoạt động
Phương tiện
Mục đích
Thao tácHành động
Động cơHoạt động
Trang 33nhằm tổ chức các cá nhân tiến hành hoạt động đặc biệt là hoạt động học tập Do đó,khái niệm HỌC và khái niệm HOẠT ĐỘNG HỌC là không giống nhau
Như vậy, hoạt động học là hoạt động đặc thù của con người được điều khiển bởi mục đích tự giác là lĩnh hội những tri thức, kỹ năng, kỹ xảo mới, những hình thức hành vi và những dạng hoạt động nhất định, những giá trị Đây là khái niệm
công cụ của đề tài
Hoạt động học là một dạng của hoạt động nên về cơ bản nó có cấu trúc giốngnhư các hoạt động khác, tuy nhiên, về bản chất, hoạt động học có rất nhiều khác biệt
so với các hoạt dộng khác
Trước hết, chúng ta có thể thấy rằng hoạt động học là hoạt động hướng vào lĩnhhội tri thức và những kỹ năng tương ứng Nghĩa là hoạt động học có đói tượng là trithức, kỹ năng, kỹ xảo Với đặc điểm này, người học không thể thụ động mà phải tíchcực hoạt động bằng cả đầu óc và chân tay, bằng chính ý thức tự giác và năng lực trí tuệcủa bản thân mình Thông thường các hoạt động khác hướng vào thay đổi khách thể(đối tượng của hoạt động), nhưng hoạt động học lại hướng vào việc làm thay đổi chínhchủ thể hoạt động (bản thân người học) Qua quá trình học tập, các tri thức của loàingười không bị thay đổi (hoặc bị thay đổi nhưng đó không phải mục đích tự bản thâncủa hoạt động học), nhưng nhờ có sự chiếm lĩnh các tri thức đó mà tâm lý của conngười được thay đổi và phát triển Bên cạnh đó, hoạt động học được điều khiển mộtcách có ý thức nhằm tiếp thu, lĩnh hooijnhwngx nội dung và các hình thức của tri thức,của trí óc lý luận, kỹ năng, kỹ xảo Khác với việc tiếp thu các kinh nghiệm giá trị trongcuộc sống một cách không hệ thống, chưa được khái quát và nhiều khi không lý giảiđược, những tri thức là đối tượng của hoạt động học đã được lựa chọn kinh tế và tổchức lại hệ thống nhất định (thông qua khái quát hóa và hệ thống hóa) bằng cách vạch
ra cái bản chất, phát hiện những mối lien hệ mang tính quy luật quy định sự tồn tại,vận động và phát triển của sự vật và hiện tượng Bên cạnh đó, hoạt động học không chỉhướng vào tiếp thu tri thức, lý luận, kỹ năng, kỹ xảo mà còn nhằm vào việc tiếp thu trithức của bản thân hoạt đông, tức là tiếp thu về phương pháp hoạt động (phương phápgiành tri thức đó, phương pháp học tập) Đó là do để học tập đạt kết quả, người họcphải biết cách học, biết cách tìm hiểu, khám phả đối tượng hoạt động của mình
Trang 34Hoạt động học được cấu tạo bởi các thành phần cơ bản sau:
Tri thức khoa học,
kỹ năng, kỹ xảo
Hệ thống câu hỏi,bài tập lý thuyết vàthực tiễn mà ngườihọc phải thực hiệntrong quá trình học
Các hành động học,vốn tri thức, kỹnăng, kỹ xảo vànăng lực học củangười học đã hìnhthành ở các giaiđoạn học tập trước
Sự thống nhất giữahoạt động học vàhoạt động dạy
Vấn đề quan trọng trong quá trình tiến hành hoạt động học chính là phải làmsao để hình thành hoạt động này Căn cứ vào cấu trúc của hoạt động học( tương ứngvới cấu trúc của hoạt động) thì việc hình thành hoạt động học phai là quá trình tổnghợp của quá trình hình thành động cơ học tập, hình thành mục đích học và hình thànhcác hành động học tập Trong điều kiện không cho phép của đề tài, chúng tôi khôngthể đi hết được các vấn đề được nêu, chỉ khẳng định lại một điều là bất cứ hoạt độnghọc nào cũng được thúc đẩy bởi động cơ học tập
Trên đây là những lý luận cơ bản về hoạt động học tập Tuy nhiên, để có một sựxác thức hơn với vấn đề nghiên cứu của đề tài, chúng tôi đi sâu nghiên cứu vào hoạtđộng học tập ngoại ngữ để tìm ra những điểm chung và riêng đối với các hoạt độnghọc tập khác
1.2.5.3 Khái niệm hoạt động học tập ngoại ngữ.
Học tập ngoại ngữ (tiếng nước ngoài) là một hoạt động học tập mang nhiều đặcđiểm khác biệt so với các hoạt động khác Do hoạt động lời nói tiếng nước ngoài cónhững đặc điểm riêng biệt Do đó, trước khi tìm hiểu về hoạt động học tập ngoại ngữ,chúng ta sẽ tìm hiểu về hoạt động lời nói tiếng nước ngoài
Tiếng nước ngoài được định nghĩa là tiếng của các dân tộc ở nước ngoài, đượcnắm vững sau tiếng mẹ đẻ và chủ yếu để làm công cụ giao lưu giữa các quốc gia và để
mở rộng phạm vi nhận thức của con người Trong nghiên cứu này, tiếng nước ngoài
Trang 35được nghiên cứu chính là tiếng Anh (English) Hoạt động lời nói tiếng nước ngoài cóhai hình thức cấu trúc khác nhau trong từng giai đoạn của việc học tiếng, khi chúng tacòn đang trong quá trình “nắm” ngôn ngữ và khi chúng ta đã nắm vững nó.
CẤU TRÚC CỦA HOẠT ĐỘNG LỜI NÓI TIẾNG NƯỚC NGOÀI
Khi đang nắm ngôn ngữ Khi đã nắm vững ngôn ngữ
Chúng ta đang nghiên cứu ở quá trình người học chưa nắm vững ngôn ngữ, vìthế, chúng ta cần thấy rằng động lực để diễn ra hoạt động lời nói tiếng nước ngoàichính là động cơ lời nói Do đó, trong quá trình học tập tiếng nước ngoài, phải đặc biệtchú ý đến việc hình thành động cơ cho sinh viên
Hoạt động học tập ngoại ngữ diễn ra theo phương thức xã hội đặc thù( phương thức nhà trường), mang tính chất tự giác, tức là có mực đích, có chương trình học, nội dung, kế hoạc, biện pháp và được tổ chức và được chủ thể ý thức rõ ràng Đây là khái niệm công cụ của đề tài
Học ngoại ngữ không chỉ dừng lại ở việc hiểu biết về ngoại ngữ đó mà phải đạtđến khả năng sử dụng thứ tiếng đó như một công cụ của nhận thức và làm phương tiện
để giao tiếp Cụ thể về đặc điểm của hoạt động học ngoại ngữ là:
Chủ thể học sinh ý thức được rõ ràng đối tượng của hoạt động học ngoại ngữ làtiếng nước ngoài( thứ tiếng mà họ cần phải chiếm lĩnh)
HĐ lời nói ĐC lời nói
Hđ lời nói MĐ lời nói
Thao tác LN PT lời nói
Hđ lời nói MĐ lời nói
Thao tác LN PT lời nói
Trang 36 Hoạt động học ngoại ngữ là có đối tượng, đó là những tri thức ngôn ngữ, các kỹnăng, kỹ xảo thực hành tiếng.
Hoạt động ngoại ngữ hướng vào việc làm biến đổi chủ thể của hoạt động( sinhviên) chứ không phải là làm biến đổi khách thể của hoạt động học( ngoại ngữ)
Hoạt động này vận động theo cơ chế lĩnh hội Nền văn hóa xã hội, kinh nghiệm lịch
sử của loài người (các tri thức về ngôn ngữ) được chuyển vào sinh viên thông quaquá trình sinh viên làm việc với ngôn ngữ và giao tiếp vớ giáo viên, bạn cùng lớp,người bản ngữ và những người có khả năng sử dụng ngôn ngữ này
Chủ thể của hoạt động học ngoại ngữ không chỉ chiếm lĩnh đối tượng mà cònchiếm lĩnh bản thân hoạt động này( nghĩa là cách học ngoại ngữ này) Việc họcngoại ngữ đòi hỏi phải có phương pháp học phù hợp, đồng thời dòi hỏi nhiều thờigian cho việc luyện tập các kỹ năng thực hành tiếng
Với những đặc điểm trên, hoạt động học ngoại ngữ đòi hỏi người học phải cónhững nhận thức đúng đắn về việc học của mình, đồng thời phải có động cơ học tậptích cực thì mới có thể đạt được những kết quả như mong muốn Và điều đó là tráchnhiệm của người học, cũng là trách nhiệm của các nhà giáo dục học trong việc hìnhthành và giáo dục động cơ ở học sinh
1.2.6 KHÁI NIỆM CHUNG VỀ GIAO TIẾP (Communication)
1.2.6.1 Khái niệm giao tiếp (communication)
Kagan, tác giả “Thế giới giao tiếp” hiểu GT là sự tác động qua lại giữa các chủ
thể với nhau Sự tác động này hết sức phức tạp, luôn luôn mang tính chất tích hợp về
mặt biểu hiện (ngôn ngữ, điệu bộ, nét mặt…) và về nội dung A.A.Lêônchiep đưa ra
định nghĩa GT như là: một hệ thống những quá trình có mục đích và động cơ nhằmđảm bảo sự tương tác giữa người này với người khác trong HĐ tập thể, thực hiện cácquan hệ xã hội và nhân cách, các quan hệ tâm lí và những phương tiện đặc thù, mà
trước hết là ngôn ngữ Fischer, nhà tâm lí học nổi tiếng, đưa ra khái niệm về GT của
mình: GT là một quá trình xã hội thường xuyên bao gồm các dạng thức ứng xử rất
Trang 37khác nhau: lời lẽ, cử chỉ, cái nhìn Theo đó không có sự đối lập giữa GT bằng lời
(Verbal communication) và GT không bằng lời (Nonverbal communication) GT là
một tổng thể trọn vẹn
Việt Nam, GT được dùng với nhiều thuật ngữ khác nhau trong các công trình
nghiên cứu của các nhà nghiên cứu tâm lí: giao lưu và GT Từ điển tiếng Việt có ghi
“GT là trao đổi, tiếp xúc với nhau, ngôn ngữ là công cụ GT” Trong Từ điển tâm lí học
của Nguyễn Khắc Viện lại đưa ra từ “khó khăn trong giao tiếp” Trong giáo trình tâm
lí học dùng cho các trường ĐH sư phạm, Phạm Minh Hạc định nghĩa: “GT là hoạt
động xác lập và vận hành các quan hệ người-người để hiện thực hóa quan hệ của conngười với nhau.”
Trong tiếng Anh, khái niệm này được dùng với thuật ngữ “communication”.
(Communication is the activity of conveying information Communication has been
derived from the Latin word "communis", meaning to share Communication requires a sender, a message, and an intended recipient, although the receiver need not be present or aware of the sender's intent to communicate at the time of communication; thus communication can occur across vast distances in time and space Communication requires that the communicating parties share an area of communicative commonality The communication process is complete once the receiver has understood the message of the sender Feedback is critical to effective communication between parties) (Giao tiếp là hoạt động truyền tải thông tin, có nguồn
gốc từ chữ La-tinh “communis” có nghĩa là chia sẻ Để HĐGT có thể diễn ra đòi hỏiphải có một người truyền tải thông tin, một thông điệp và một người tiếp nhận thôngtin, cho dù người nhận không cần thiết phải hiện diện trực tiếp hay nhận thức được ýđịnh của người gửi thông tin ngay trong thời điểm GT Vì vậy, GT có thể diễn ra trongphạm vi rộng và ở bất kì khoảng thời gian nào Tuy nhiên, HĐGT đòi hỏi các bêntham gia phải đề cập đến một nội dung thống nhất để đảm bảo người nhận thông tin cóthể hiểu được thông điệp từ phía người gửi khi HĐGT đó kết thúc Hiệu quả GT được
quy định bởi ý kiến phản hồi giữa các bên tham gia vào HĐGT kể trên.)
Trong từ điển Anh-Nga khái niệm “Communication” được xét tương đương vớicác từ: GT, thông báo, thông tin Từ điển Tâm lí học của Liên Xô xác định giao tiếp
Trang 38với nội hàm là sự tác động qua lại giữa hai hay nhiều người để trao đổi thông tin, NThay TC.
Như vậy, có rất nhiều định nghĩa khác nhau về giao tiếp Mỗi tác giả tùy theophương diện nghiên cứu của mình đã đưa ra một khái niệm GT theo cách riêng Trong
đề tài này chúng tôi sử dụng khái niệm: “Giao tiếp là tiếp xúc tâm lí có tính đa chiều
và đồng chủ thể giữa người với người được quy định bởi các yếu tố văn hóa, xã hội và đặc trưng tâm lí các nhân Giao tiếp có chức năng thỏa mãn các nhu cầu vật chất và tinh thần của con người, trao đổi thông tin, cảm xúc, định hướng và điều chỉnh nhận thức và hành vi của bản thân và của nhau, tri giác lẫn nhau, tạo dựng quan hệ với nhau và tác động qua lại lẫn nhau.” Đây là khái niệm cơ bản của đề tài.
1.2.6.2 Các hình thức giao tiếp và các yếu tố ảnh hưởng đến giao tiếp
GT bao gồm các hình thức phổ biến như: GT ngôn từ: thông qua lời nói hoặc
chữ viết (verbal communication); GT phi ngôn từ (nonverbal communication); GT hình họa (graphic communicatin); GT điện tử (electronic communication)….
Để HĐGT phát huy được hiệu quả cao nhất thì cần có sự tham gia của các yếu
tố chủ quan và khách quan Theo “Giáo trình tâm lý học xã hội” - PGS.TS Trần Thị Minh Đức (chủ biên) thì có 7 yếu tố tham gia vào HĐGT: chủ thể GT, mục đích GT,
nội dung GT, phương tiện GT, hoàn cảnh GT, kênh GT và quan hệ GT Trong đó, nộidung GT là yếu tố quan trọng nhất trong HĐGT, thể hiện ở thông tin cần truyền đạtcần phải được cấu trúc như thế nào để nó phản ánh đúng nội dung cần truyền đạt, cũngnhư đến được người thu với kết quả cao nhất
Ngoài ra, chúng tôi khái quát một số yếu tố tâm lí tác động đến HĐGT Một:
tâm thế (một trạng thái tâm lí hoàn chỉnh, là tâm trạng của cá nhân chuẩn bị thực hiện/ trong khi thực hiện một hành động nhất định); Hai: quan hệ liên nhân cách (bao gồm
các yếu tố: uy tín, địa vị, vị thế xã hội, mức độ thân quen hoặc sự tương đồng giữa các
cá nhân.); ba: một số yếu tố cá nhân (sự tự nhận thức về bản thân, sự tri giác đối tác
GT, cởi mở và che giấu trong GT, sự tự kiềm chế và né tránh.)
Trang 39Mỗi cá nhân luôn bị chi phối (kìm hãm và thúc đẩy sự phát triển) từ mọi mặt cả
về vật chất lẫn tinh thần Thực tế, chúng ta thường chỉ nhận biết và lưu tâm đến nhữngtác động trực tiếp hay gián tiếp từ môi trường sống, môi trường sinh hoạt và học tập
Trong Từ điển tiếng Viết 2001 có viết: “Ảnh hưởng là tác dụng của vật nọ đốivới vật kia làm cho vật thứ hai ít nhiều chịu sự chi phối bởi vật thứ nhất”
Trong Từ điển Tiếng Anh: “The effect that SB/ ST has on the way a personthinks or behaves or on the way that ST works or develops” (sự ảnh hưởng trong suynghĩ hoặc hành động của một người hoặc sự vật lên sự hoạt động phát triển của vật/người khác.)
Vậy, sự ảnh hưởng tạm hiểu là khả năng tác động của một sự vật, hiện tượng… lên hành vi của một đối tượng nhất định và luôn diễn ra theo 2 chiều hướng: ảnh hưởng tích cực và ảnh hưởng tiêu cực
Tuy nhiên, một trong những yếu tố góp phần ảnh hưởng đến con người cũngnhư hiệu quả trong mọi mặt, đặc biệt là trong hoạt động học tập và giao tiếp - đó là yếu
tố chủ quan, yếu tố tâm lí như khí chất – tính cách, động cơ học tập, tiềm năng sángtạo, năng lực học tập ngoại ngữ,
Trước hết, khí chất – tính cách có ảnh hưởng nhất định đến hiệu quả của hoạt
động học tập và GT của người học Như chúng tôi đã đề cập trong phần trên, có 4 kiểukhí chất và 2 loại tính cách Trong đó, mỗi loại KC – TC khác nhau lại có những ảnhhưởng tích cực và tiêu cực khác nhau đối với chủ thể GT, vì mỗi loại khí chất hay tínhcách đều có những ưu và hạn chế nhất định Ví dụ:
- Đối với những người có KC nóng nảy, họ luôn luôn thể hiện được sự hoạt bát,
nhanh nhẹn, nhận thức nhanh, có nhiều sáng kiến… những yếu tố này sẽ góp phầngiúp họ tự tin và bạo dạn hơn trong quá trình học tập và giao tiếp Điều này có ý nghĩađặc biệt quan trọng đối với những người học tập ngoại ngữ, nó được chứng minh trongthực tiễn khi giúp cho người học đạt hệu quả và thành tích cao hơn Tuy nhiên, mộtthực tế có thể dễ dàng nhận thấy, những người có KC nóng nảy thường hay vội vàng,hấp tấp - một yếu tố gây nên ảnh hưởng tiêu cực khi không tự làm chủ và kiềm chếđược tính cách của bản thân Đối với các SV năm 4 khoa sư phạm – hiện đang thực tập
sư phạm tại các trường THPT, hay trong tương lai không xã sẽ trở thành những thầy cô
Trang 40giáo, nếu trong quá trình giảng dạy, vì đôi chút lí do mà không giữ được bình tĩnh, vộivàng, hấp tấp sẽ tạo nên cái nhìn không mấy thiện cảm trong mắt các em học sinh, làmgiảm độ tin cậy và hiệu quả trong công tác giảng dạy Đôi khi, đây còn được xem làmột trong những nguyên nhân làm xuất hiện hiện tượng làm nhanh, làm ẩu, qua loa,đại khái gây giảm sút chất lượng học và dạy đối với chính bản thân họ cũng như đốivới nhà trường và các em học sinh
- KC trầm – kiểu KC có những đặc điểm tương đối khác so với KC nóng Tuy
nhiên, đây cũng là một trong những kiểu KC mà ta dễ dàng nhận thấy sự ảnh hưởngtích cực của nó đến hoạt động học tập và giao tiếp của người học Không thể phủ nhậnđược rằng, kiểu KC trầm giúp cá nhân người học, người GT luôn cẩn thận, chắc chắn,bình tĩnh, tự chủ… song đôi khi nó lại khiến cho chủ thể của HĐ và GT trong nhữngtrường hợp mới lại khó hoặc không thể thích nghi kịp thời Trong những trường hợpnày, hiệu quả của hoạt động học tập, GT sẽ bị giảm đi dáng kể, đôi khi cũng do thái độquá cẩn trọng, tỉ mỉ, chậm rãi…khiến người GT cùng thấy mệt mỏi, chán nản với cuộctrò chuyện
Yếu tố tâm lí có ảnh hưởng đến hoạt động và giao tiếp là động cơ Động cơ học
tập có quan hệ mật thiết với những yếu tố tâm lí khác và luôn giữ vai trò quan trọngtrong hoạt động của con người Hay nói cách khác, động cơ có những ảnh hưởng nhấtđịnh đối với hiệu quả của mọi hoạt động trong cuộc sống của chúng ta Tương ứng với
đó, có những loại ĐC, ĐCHT có ảnh hưởng tích cực hay tiêu cực đến hiệu quả cao haythấp của quá trình hoạt động học tập và GT của người học Đối với những SV có động
cơ học tập bên trong (với biểu hiện thường thấy là: họ ham mê học hỏi, muốn trau dồitri thức, hoàn thiện bản thân …) thì thường có kết quả học tập cao hơn so với nhữngngười có đônghj cơ bên ngoài Và với kết quả học tập cao, hoạt động tích cực lại làthúc đẩy người học hoạt động tiếp về sau Song có những người học học với mục đíchđối phó, “học vì người khác”, hay “học theo người khác” …thì kết quả đạt đượcthường không cao
Tiềm năng sáng tạo hay năng lực ngoại ngữ cũng là yếu tố tâm lí có ảnh
hưởng rất nhiều đến hoạt động và GT của mỗi người Cụ thể, nếu trong quá trình họctập mà người học có năng lực tốt kết hợp với sự sáng tạo thì điều đó sẽ giúp họ trở nên