1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Vai trò an sinh xã hội với tiến bộ xã hội của việt nam hiện nay

161 397 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 161
Dung lượng 1,23 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Cuốn sách An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [105] của tác giả Vũ Văn Phúc đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về ASXH ở Việt Nam trong những năm đổi mới; trong đó, chỉ

Trang 1

Chương 1 TỔNG QUAN TÌNH HÌNH NGHIÊN CỨU

1.1 NHỮNG CÔNG TRÌNH BÀN VỀ AN SINH XÃ HỘI, TIẾN BỘ XÃ HỘI

VÀ VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI

1.1.1 Các công trình chủ yếu nghiên cứu nội dung an sinh xã hội

An sinh xã hội là một trong những vấn đề quan trọng trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Vì vậy, ASXH đã và đang là vấn đề được quan tâm nghiên cứu bởi các nhà khoa học trong nước và trên thế giới với cách tiếp cận, nghiên cứu ở nhiều góc độ khác nhau Có thể kể đến những công trình chủ yếu

và các kết quả nghiên cứu chính sau:

Cuốn An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực [122] của Mạc Văn Tiến

tập hợp 101 bài viết nghiên cứu, bài trao đổi tại các Hội thảo trong và ngoài

nước của tác giả, cuốn sách chia làm 3 phần: Phần I - Một số vấn đề về an sinh

xã hội, gồm 17 bài, đã đề cập đến nhiều nội dung, nhiều khía cạnh khác nhau về

ASXH, như khái niệm, cấu trúc, nội dung của ASXH Phần II - Bảo hiểm xã hội

(BHXH), gồm 55 bài, đề cập đến nguồn gốc, đặc trưng, chức năng, vai trò của BHXH, tác giả đã nhấn mạnh, BHXH là một bộ phận cơ bản, quan trọng nhất

của hệ thống ASXH Phần III - Phát triển nguồn nhân lực, gồm 29 bài, đề cập

đến nhiều vấn đề khác nhau về nguồn nhân lực hiện nay ở nước ta

Cuốn Giáo trình An sinh xã hội [57] của tác giả Nguyễn Văn Định đã cung

cấp những kiến thức cơ sở về ASXH Cuốn giáo trình đã nêu ra vai trò của ASXH; bản chất và chức năng của ASXH; hệ thống các chính sách ASXH, như bảo hiểm xã hội, cứu trợ xã hội, ưu đãi xã hội, chính sách xóa đói giảm nghèo, quỹ dự phòng; nêu ra sự cần thiết, các nguyên tắc và nội dung của quản lý nhà nước về ASXH Với những nội dung được trình bày, giáo trình này là tài liệu cơ

sở để phân tích những vấn đề lý luận về ASXH và ASXH ở Việt Nam hiện nay

Cuốn Hệ thống an sinh xã hội của EU và bài học kinh nghiệm cho Việt

Trang 2

Nam [147] của tác giả Đinh Công Tuấn đã phân tích tổng quát về hệ thống

ASXH của châu Âu nói chung và một số quốc gia điển hình trong việc cải cách

hệ thống ASXH: Mô hình “thị trường xã hội” của Đức; mô hình “thị trường tự do” của Anh; mô hình “xã hội dân chủ” của Thụy Điển Cuốn sách còn chỉ ra thành công, hạn chế và xu hướng cải cách của hệ thống ASXH của một số nước châu Âu; từ đó, gợi ý những bài học kinh nghiệm cho Việt Nam hiện nay

Cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở

Việt Nam [23] của tác giả Mai Ngọc Cường đã cung cấp một cái nhìn tổng quan

về khái niệm, cấu trúc, nội dung của ASXH Chẳng hạn, về khái niệm ASXH, tác giả cho rằng, ASXH là một khái niệm mở, có thể tiếp cận phạm trù này dưới hai giác độ là theo nghĩa rộng và nghĩa hẹp: Theo nghĩa rộng, ASXH là sự bảo đảm thực hiện các quyền để con người được hưởng an bình, an ninh, an toàn và

an khang trong xã hội; theo nghĩa hẹp, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ… Tác giả ủng hộ cách tiếp cận ASXH theo nghĩa hẹp, vì theo tác giả, cách tiếp cận theo nghĩa hẹp phù hợp với cách tiếp cận của ILO Tác giả cuốn sách đã đưa ra quan điểm nghiên cứu về khái niệm ASXH là

sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật, hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch hoạ

Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020 [17] của Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội đã chỉ ra rằng, hệ thống ASXH thời kỳ 2011 - 2020 gồm 3 tầng lưới có khả năng hỗ trợ lẫn nhau hướng tới mục tiêu bảo đảm mức sống tối thiểu cho mọi người dân, không để cho người dân bị bần cùng hóa, bị gạt ra bên lề xã

Trang 3

người dân có việc làm, tạo thu nhập và tham gia thị trường lao động để chủ động phòng ngừa rủi ro về đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh hoặc do biến động

của môi trường tự nhiên; lưới thứ hai: Giảm thiểu rủi ro, bao gồm nhóm chính

sách BHXH, BHYT, bảo hiểm nông nghiệp để bù đắp phần thu nhập bị suy giảm hoặc bị mất do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi

trường tự nhiên; lưới thứ ba: Khắc phục rủi ro, bao gồm nhóm chính sách trợ

giúp xã hội, xóa đói giảm nghèo, tăng cường cơ hội tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản để hỗ trợ người dân khắc phục các rủi ro không lường trước hoặc vượt quá khả năng kiểm soát do các biến cố trong đời sống, sức khỏe, sản xuất kinh doanh và môi trường tự nhiên, bảo đảm điều kiện sống tối thiểu của người dân Đây thực chất là nội hàm phản ánh khái niệm, nội dung, chức năng ASXH ở nước ta mà luận án sẽ kế thừa

Trong cuốn Pháp luật an sinh xã hội - Kinh nghiệm của một số nước đối

với Việt Nam [66] của Trần Hoàng Hải và Lê Thị Thuý Phương, các tác giả đã

nghiên cứu, phân tích hệ thống pháp luật ASXH ở một số nước tiêu biểu như Đức, Mỹ, Nga; đồng thời, trình bày những nội dung cơ bản của pháp luật Việt Nam Trên cơ sở sử dụng phương pháp nghiên cứu, so sánh luật, tác giả đưa ra nhận định, đánh giá chung về những ưu điểm, bất cập trong pháp luật hiện hành, đồng thời đề xuất một số kiến nghị nhằm hoàn thiện hệ thống pháp luật về lĩnh

vực này Cuốn sách được chia làm ba chương: Chương 1: Tổng quan hệ thống về

ASXH, chương này nghiên cứu về nguồn gốc xuất xứ của thuật ngữ ASXH, vai

trò của ASXH và các thiết chế ASXH dưới góc độ pháp luật quốc tế Chương 2:

Pháp luật ASXH của một số nước, chương này tập trung nghiên cứu pháp luật

ASXH của một số quốc gia tiêu biểu như Mỹ, Đức và Nga Đây là những quốc gia có những nét rất đặc trưng và có thể đại diện cho các mô hình ASXH khác

nhau trên thế giới Chương 3: Pháp luật về ASXH của Việt Nam, chương này

giới thiệu khái quát hệ thống ASXH Việt Nam, phân tích những đặc điểm của hệ thống và sự điều chỉnh của pháp luật đối với hệ thống Trên cơ sở những kinh nghiệm thực hiện pháp luật về ASXH của các quốc gia khác, các tác giả rút ra

Trang 4

một số bài học để vận dụng vào quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ASXH ở Việt Nam

Đảng Cộng sản Việt Nam trong quá trình lãnh đạo đất nước rất quan tâm đến vấn đề ASXH, nhất là trong thời kỳ đổi mới đất nước Để thuận lợi cho nhận thức và hành động, đưa nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, các quan điểm chỉ

đạo đó đã được trình bày một cách ngắn gọn, hệ thống trong cuốn sách Tìm hiểu

một số thuật ngữ trong Văn kiện Đại hội XI của Đảng [114] do Nguyễn Văn

Thạo và Nguyễn Viết Thông đồng chủ biên, công trình đã tập hợp, tuyển chọn các định nghĩa về ASXH của các nhà nghiên cứu, các tổ chức quốc tế, từ đó làm

cơ sở dẫn giải các quan điểm của Đảng ta về ASXH Các tác giả đã nhấn mạnh rằng, ASXH ở nước ta hiện nay được hiểu là một hệ thống chính sách và giải pháp áp dụng rộng rãi để trợ giúp các thành viên trong xã hội đối phó với những rủi ro và khó khăn khi gặp phải, dẫn đến mất việc làm hoặc làm suy giảm nghiêm trọng đến quyền thu nhập và cuộc sống Hệ thống ASXH ở nước ta gồm 5 trụ cột cơ bản là hệ thống chính sách, giải pháp và các chương trình phát triển thị trường lao động; phát triển hệ thống bảo hiểm; thực hiện có hiệu quả chương trình xoá đói giảm nghèo bền vững; xây dựng thực hiện tốt chính sách ưu đãi đối với ngững người có công; phát triển hệ thống phúc lợi xã hội

và hệ thống dịch vụ xã hội

Cuốn Thuật ngữ an sinh xã hội Việt Nam [125] của Viện Khoa học và Lao

động xã hội (ILSSA) phối hợp với Dự án Hỗ trợ giảm nghèo ở Việt Nam, do Tổ chức GIZ thực hiện dưới sự uỷ quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức (BMZ) xây dựng, xuất bản năm 2011 Với gần 200 thuật ngữ ASXH sắp xếp theo thứ tự ABC bằng tiếng Việt và song ngữ Việt - Anh, cuốn sách không chỉ đem lại sự thuận tiện trong tra cứu mà còn giúp độc giả có một cái nhìn tổng quát về mối liên hệ giữa các trụ cột trong hệ thống ASXH ở Việt Nam cùng các chương trình, chính sách có liên quan thông qua sơ đồ về hệ thống ASXH

Trang 5

Tác giả Dương Văn Thắng với bài Bảo đảm an sinh xã hội dưới ánh sáng

Đại hội XI của Đảng [115] đã cho rằng, “an sinh” là một từ Hán-Việt An - trong

chữ “an toàn”, sinh - trong chữ “sinh sống”, an sinh có thể hiểu là “an toàn sinh sống” Nói một cách khái lược: Xã hội an sinh là xã hội mà mọi người được an toàn sinh sống, hay là có cuộc sống an toàn Nói ngắn gọn, ASXH là một tấm lưới che chắn, bảo đảm an toàn cho xã hội và con người, là nhân tố bảo đảm cho việc phát triển kinh tế - xã hội bền vững An sinh xã hội là trụ cột của hệ thống chính sách xã hội, Hệ thống ASXH gồm các cơ chế, chính sách, giải pháp nhiều tầng, nấc nhằm bảo vệ cho mọi thành viên trong xã hội không bị rơi vào tình trạng bần cùng hóa bởi tác động tiêu cực của các loại rủi ro An sinh xã hội có ba chức năng chính là phòng ngừa rủi ro, hạn chế rủi ro và khắc phục rủi ro

Cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [105] do Vũ Văn Phúc

chủ biên, đây là một tập hợp các bài viết của các nhà quản lý, các chuyên gia nghiên cứu trên nhiều lĩnh vực liên quan đến vấn đề ASXH Mỗi bài viết được tiếp cận từ các khía cạnh khác nhau về chủ đề ASXH, nhưng đều khẳng định hệ thống ASXH ở nước ta hướng tới mục tiêu góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, bảo đảm cho sự phát triển bền vững của đất nước

Ngày 13-3-2012, tại Hà Nội, Ban Tuyên giáo Trung ương đã phối hợp với Tạp chí Cộng sản, Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội, Hội đồng Khoa học

các cơ quan Đảng Trung ương tổ chức Hội thảo khoa học - thực tiễn “An sinh xã

hội ở nước ta: Một số vấn đề lý luận và thực tiễn”[5] Các bài tham luận đã làm

rõ nội hàm khái niệm ASXH; kết cấu, các trụ cột chính của hệ thống ASXH nói chung, của hệ thống ASXH ở Việt Nam nói riêng; xác định thành tố, trụ cột nào

là quan trọng nhất cần tập trung xây dựng và củng cố Hội thảo đã làm rõ những thành tựu, hạn chế, những vấn đề đang đặt ra cần giải quyết để tiếp tục đổi mới, hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta sau hơn 25 năm thực hiện công cuộc đổi

mới Đồng thời, phân tích những quan điểm định hướng lớn của Đảng và Nhà

Trang 6

nước ta về xây dựng, hoàn thiện hệ thống ASXH trong thời kỳ đổi mới đất nước, những giải pháp đột phá, khả thi cần thực hiện trong quá trình đổi mới, hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay và đến năm 2020

Trong bài Tiếp cận an sinh xã hội ở Việt Nam hiện nay trên quan điểm

phát triển bền vững [99], tác giả Nguyễn Thị Nga đã nhấn mạnh rằng, trong

thực tiễn, do sự đa dạng về nội dung, phương thức và góc độ tiếp cận nên hiện nay còn có nhiều quan điểm khác nhau về ASXH, nhưng tựu trung lại, dù tiếp cận dưới giác độ nào đi chăng nữa, thì về bản chất, ASXH là vấn đề vừa có tính kinh tế, vừa có tính xã hội, vừa có tính nhân đạo rất sâu sắc Nhà nước có vai trò quan trọng trong bảo đảm ASXH, đối tượng bảo đảm ASXH là đông đảo các tầng lớp dân cư

Cuốn Những thách thức và giải pháp đối với chính sách an sinh xã hội bền

vững cho tất cả mọi người tại Việt Nam và Đức [103] do Nhà xuất bản Chính trị

quốc gia phối hợp với Hội đồng Lý luận Trung ương xuất bản năm 2013 Cuốn sách tập hợp những bài tham luận của các nhà khoa học hàng đầu về ASXH của Việt Nam và Đức Các bài hội thảo đã góp phần rút ra những bài học cho Việt Nam hiện nay khi thực hiện ASXH từ mô hình ASXH của Đức Chẳng hạn, nước Đức là một nước có hệ thống ASXH toàn diện Hệ thống ASXH của Đức chủ yếu chịu ảnh hưởng của trường phái Bismarck, lấy hệ thống BHXH làm nòng cốt để thực hiện chính sách ASXH cho người dân Hệ thống ASXH của Đức thực hiện trên cơ sở “hợp đồng giữa các thế hệ", thanh toán bảo hiểm trên nguyên tắc phụ thuộc

Về mục tiêu: Chính sách ASXH ở Đức nhằm hướng đến sự phát triển

bền vững "phồn vinh cho tất cả và công bằng xã hội" Đức là một trong số những nước có mạng lưới các chính sách xã hội dày đặc nhất: Ngân sách nhà nước cấp cho các khoản chi xã hội chiếm tới 26,7% GDP Tỷ lệ đó ở Mỹ chỉ

là 15,9% và tỷ lệ trung bình trong các nước OECD là 20,5% Một hệ thống toàn diện gồm bảo hiểm y tế (BHYT), hưu trí, tai nạn, chăm sóc người già,

Trang 7

người bệnh và bảo hiểm thất nghiệp (BHTN) bảo vệ người dân Ngoài ra, hệ thống các chính sách xã hội toàn diện còn bao gồm những hỗ trợ của nhà nước lấy từ nguồn thu thuế, như hỗ trợ cho gia đình (trợ cấp cho con, giảm thuế) hoặc an sinh cơ bản cho người về hưu và người thất nghiệp dài hạn Đức

là một nhà nước xã hội coi việc bảo đảm ASXH cho tất cả công dân của mình

là một nhiệm vụ hàng đầu Ngày nay, gần 90% người dân sống ở Đức được

hệ thống các chính sách xã hội bảo vệ

Về hình thức an sinh xã hội phong phú, đa dạng: Đảm bảo ASXH ở Đức

góp phần ổn định cuộc sống của hàng triệu người dân, trong đó phần lớn là phụ

nữ, trẻ em, người thất nghiệp dài hạn Đức được đánh giá là nước có đối tượng nhận trợ cấp xã hội rộng rãi nhất ở khu vực EU và trên thế giới hiện nay

Đối tượng hưởng thụ và các biện pháp trong chính sách an sinh xã hội của Đức rất rộng rãi, dựa trên các nguyên tắc chủ yếu: Nguyên tắc hợp hiến; nguyên

tắc đoàn kết và hỗ trợ, nguyên tắc hỗ trợ dựa trên trách nghiệm cá nhân, nguyên tắc phối hợp công bằng

Công tác chống tiêu cực của Đức trong việc đảm bảo an sinh xã hội của người dân nhằm đảm bảo "phồn vinh cho tất cả và công bằng xã hội" được tiến

hành một cách nghiêm ngặt, đúng pháp luật Vì thế, những tiêu cực ít nảy sinh trong quá trình thực hiện Hơn nữa, Đức có chính sách quan tâm, đảm bảo cuộc sống cho những người thực thi chính sách ASXH Điều kiện sống của họ tốt nên

ít nảy sinh tiêu cực

Cuốn Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong việc thực

hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam [29] của tác giả Nguyễn Văn Chiều

Trên cơ sở nghiên cứu những vấn đề lý luận chung về chính sách ASXH và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH, kinh nghiệm quốc tế

và thực trạng Nhà nước thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam, cuốn sách đã phân tích những nội dung cơ bản của chính sách ASXH và vai trò của Nhà nước trong việc thực hiện chính sách ASXH ở Việt Nam hiện nay

Trang 8

Đề tài khoa học cấp Bộ: Đảm bảo an sinh xã hội - Định hướng mô hình và

giải pháp [2], do Đặng Nguyên Anh làm chủ nhiệm, đã phân tích khái niệm và

các chức năng, cấu trúc và các nguyên tắc cơ bản của hệ thống ASXH, tạo cơ sở

lý luận cho việc định hướng mô hình và giải pháp về ASXH ở Việt Nam Đề tài làm rõ những đặc điểm chung và nét đặc thù của từng mô hình, từ đó có thể gợi

mở cho Việt Nam

Đề tài cấp Nhà nước: Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội

ở Việt Nam giai đoạn năm 2011 - 2020 [162], mã số KX.02.07/11-15, do Viện Khoa học Lao động và Xã hội thực hiện, đã phân tích và thống nhất về cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam, đề xuất các mức chuẩn để xây dựng sàn ASXH, các chính sách trong sàn ASXH Đây là cơ sở quan trọng góp phần xây dựng và hoàn thiện hệ thống lý luận về ASXH, vai trò của ASXH ở Việt Nam trong những năm tiếp theo

Hai tác giả William Reichenstein, William Meyer trong cuốn sách Social

Security Strategies: How to Optimize Retirement Benefits (Chiến lược ASXH:

Làm thế nào để tối ưu hóa lợi ích hưu trí) [168], ngoài việc cung cấp cách thức

sử dụng các thông tin và công nghệ tự động để tận dụng tối đa các lợi ích ASXH, nội dung chính của tác phẩm đã chỉ ra một số yếu tố ảnh hưởng đến ASXH và hưu trí của người dân nước Mỹ; đề xuất các biện pháp chuyên gia nhằm giúp người dân xây dựng chiến lược ASXH thông minh nhằm nâng cao thu nhập đời

và giảm thiểu nguy cơ hết tiền tiết kiệm hưu trí

Với cuốn sách Basis of social security in Asia: Mutual aid, micro-insurance

and social security (Cơ sở ASXH ở châu Á: Viện trợ lẫn nhau, bảo hiểm vi mô

và ASXH) [167], James Midgley là người đầu tiên nghiên cứu một cách toàn diện các hoạt động của các hiệp hội lẫn nhau và các chương trình bảo hiểm vi

mô của các hiệp hội ở châu Á nơi mà các chương trình này được phát triển đặc biệt tốt Nội dung của cuốn sách có thể tóm lược như sau: Trên cơ sở cung cấp thông tin cơ bản để nhận biết và định dạng cơ bản về các hiệp hội tác động lẫn

Trang 9

Lan, Mông Cổ, Indonesia và Philippines, cuốn sách đã chỉ ra cho người đọc những hiểu biết quan trọng về tiềm năng của các hiệp hội để cung cấp bảo vệ thu nhập hiệu quả và làm thế nào các hoạt động của họ có thể đóng góp vào việc xây dựng chiến lược ASXH toàn diện và cơ sở hiệu quả trong thế giới đang phát triển đóng góp rõ rệt cho mục tiêu xoá đói, giảm nghèo và cải thiện mức sống

Tác phẩm Social Security, Medicare & Government Pensions (An sinh xã

hội, chăm sóc y tế và trợ cấp chính phủ) [166] của Joseph Matthews Attorney Cuốn sách đã bàn sâu về lợi ích và hệ thống chăm sóc y tế, nhà ở xã hội, tiền lương hưu, chính sách cho những người có công với đất nước và cách thức để đảm bảo BHYT tốt nhất

Ngoài những công trình nêu trên, một số công trình khác cũng nghiên cứu

lý luận về ASXH ở nhiều khía cạnh khác nhau Chẳng hạn, An sinh xã hội ở Việt

Nam: Những quan điểm và cách tiếp cận cần thống nhất [46]; An sinh xã hội Bắc Âu trong cuộc khủng hoảng kinh tế toàn cầu và bài học cho Việt Nam [148]; Giáo trình nhập môn an sinh xã hội [77]; An sinh xã hội ở Việt Nam trong thời

kỳ đổi mới [97]; Từ nhận thức đến thực tiễn: Xây dựng trụ cột chính của hệ thống An sinh xã hội Quốc gia [116] v.v Những nghiên cứu này sẽ được tham

khảo, kế thừa trong quá trình triển khai luận án

1.1.2 Những công trình chủ yếu nghiên cứu nội dung của tiến bộ xã hội

Ngay từ rất sớm, trên thế giới đã có những nghiên cứu về TBXH dưới những góc độ khác nhau Từ những nghiên cứu của các nhà khoa học, Đại hội

đồng Liên hợp quốc nhận thấy rằng cần đưa ra Tuyên bố về phát triển và tiến bộ

xã hội để định hướng cho nhận thức và tìm ra cách thức để thúc đẩy TBXH Tuyên bố về phát triển và tiến bộ xã hội được Đại hội đồng Liên hợp quốc thông

qua theo Nghị quyết 2542 (XXIV) ngày 11/12/1969) đã nêu ra những nguyên tắc, mục tiêu, phương tiện, biện pháp để thực hiện sự phát triển và TBXH, trong đó Tuyên bố nêu rõ:

Phát triển và TBXH nhằm đạt được các mục tiêu sau:

Trang 10

Thứ nhất, phát triển và TBXH cần dựa trên cơ sở tôn trọng phẩm giá và giá

trị của con người

Thứ hai, tạo điều kiện để phát triển kinh tế và xã hội một cách bền vững và

nhanh chóng, nhất là ở các nước đang phát triển; thay đổi quan hệ kinh tế quốc tế,

có những biện pháp mới và hiệu quả trong hợp tác quốc tế, trong đó bình đẳng

về cơ hội được coi là đặc quyền giữa các dân tộc và giữa các cá nhân trong dân tộc đó

Thứ ba, cung cấp một hệ thống an sinh xã hội toàn diện và các dịch vụ phúc

lợi xã hội; thiết lập và cải thiện hệ thống ASXH và hệ thống bảo hiểm cho tất cả những người ốm đau, khuyết tật, tuổi già đang tạm thời hoặc vĩnh viễn không còn khả năng kiếm sống, nhằm đảm bảo một mức sống thích đáng cho những người này cùng gia đình và những người sống phụ thuộc vào họ

Những mục tiêu mà Tuyên bố nêu ra cho đến nay vẫn là cơ sở để các quốc

gia trên thế giới phấn đấu thực hiện, qua đó đã thúc đẩy sự tiến bộ chung của thế giới Trên tinh thần đó, những công trình nghiên cứu về TBXH ngày càng phong phú và nhận thức về TBXH ngày càng sâu sắc hơn

Cuốn sách Tiến bộ xã hội - một số vấn đề lý luận [20] do tác giả Nguyễn

Trọng Chuẩn chủ biên, đã phân tích những nội dung cơ bản về TBXH Theo các tác giả, trong tương quan với những phạm trù cấu thành nội dung các nguyên lý

cơ bản của chủ nghĩa duy vật (chẳng hạn, tồn tại xã hội - ý thức xã hội, phương thức sản xuất: Lực lượng sản xuất - quan hệ sản xuất, cơ sở hạ tầng - kiến trúc thượng tầng ), TBXH là sự thể hiện nội dung của các nguyên lý đó trong khía cạnh giá trị của vấn đề Nói cách khác, nếu các nguyên lý của chủ nghĩa duy vật lịch sử được xem xét từ lăng kính giá trị học thì giá trị của các quan hệ xã hội được phản ánh trong các nội dung đó chính là nội dung của khái niệm TBXH Theo các tác giả, TBXH dù xét ở góc độ nào, dù có mang tính khách quan đến mấy thì cũng không thể là cái gì khác ngoài sản phẩm của sự đánh giá của con người đối với các hiện tượng và quá trình mang tính xã hội đã, đang hoặc sẽ

Trang 11

những giá trị của sự tiến bộ, phần nhiều là các giá trị thứ sinh, phái sinh, tức là những giá trị được xác định trên cơ sở đã tồn tại các giá trị vật chất hoặc tinh thần khác Sự đánh giá về trình độ tiến bộ của một hiện tượng hoặc một quá trình nào đó, thông thường không đơn thuần chỉ là đánh giá dựa vào các giá trị nội tại, ban đầu của các hiện tượng và các quá trình đã diễn ra trong đời sống xã hội, mà

là sự đánh giá ở cấp độ cao hơn - những hiện tượng và quá trình cụ thể đó có ý nghĩa như thế nào đối với sự phát triển nói chung của cộng đồng và của xã hội loài người

Trên lập trường của chủ nghĩa duy vật lịch sử, các tác giả nhấn mạnh: Tiến

bộ xã hội, xét cho cùng, là sự vận động của xã hội từ hình thái kinh tế - xã hội này tới hình thái kình tế xã hội khác cao hơn Sự vận động ấy diễn ra trong một quá trình lịch sử - tự nhiên, với khuynh hướng của sự phủ định có kế thừa giữa các xã hội theo chiều xoáy ốc đi lên Như vậy, theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử, TBXH là một tiến trình mang tính quy luật, là một hiện tượng khách quan và tất yếu - nó vốn có đối với mọi xã hội

Các tác giả cũng cho rằng, việc kiến giải về TBXH theo quan điểm của chủ nghĩa duy vật lịch sử cho phép khẳng định rằng, dù lịch sử xã hội loài người có quanh co đến mấy, dù bộ mặt của tiến bộ trong xã hội hiện đại có đa dạng đến mấy thì cái có ý nghĩa sâu xa, quyết định mọi tiến bộ vẫn là sự phát triển của lực lượng sản xuất, vẫn là sự lớn mạnh của nền sản xuất xã hội Mặc dù TBXH là một giá trị gắn rất chặt với các nhân tố tinh thần, chịu sự chi phối của các nhân

tố tinh thần, tuy nhiên, cái quyết định TBXH, xét cho cùng, vẫn là các nhân tố vật chất, thuộc về nền sản xuất xã hội Việc đánh giá vai trò to lớn của đời sống tinh thần, tính quy định của các nhân tố văn hoá tinh thần trên thực tế, đều phải dựa vào một tiền đề là thừa nhận tính quyết định của đời sống vật chất Sự tác động trở lại của các nhân tố tinh thần đối với đời sống vật chất xã hội, về thực chất, cũng là tác động để nhân tố vật chất tăng thêm sức mạnh vốn có của nó Các tác giả nhấn mạnh rằng, vai trò của sự phát triển lực lượng sản xuất, của sự tăng trưởng kinh tế đối với TBXH là điều không cần phải bàn cãi, nhưng việc

Trang 12

chú ý hơn đến vai trò của phong tục, tập quán, nếp tư duy hoặc lĩnh vực tâm linh của mỗi cộng đồng đối với TBXH cũng không kém phần ý nghĩa

Cuốn Công bằng xã hội trong tiến bộ xã hội [69] của tác giả Nguyễn Minh

Hoàn đã có những nghiên cứu chuyên sâu về khái niệm TBXH Sau khi khảo cứu quan điểm của các nhà triết học, các nhà tư tưởng trong lịch sử, cuốn sách đã trình bày quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin về bản chất, tiêu chuẩn của TBXH Đáng chú ý, theo tác giả, trong các yếu tố thúc đẩy TBXH, thì công bằng

xã hội là một yếu tố cơ bản Công bằng xã hội không chỉ là động lực của TBXH

mà còn là thước đo về mặt xã hội của TBXH Nhận định này của tác giả cuốn sách là gợi ý để chúng tôi nghiên cứu về vai trò của ASXH đối với TBXH ở

nước ta hiện nay

Cuốn sách Gắn tăng trưởng kinh tế và tiến bộ, công bằng xã hội [151] của

tác giả Trần Nguyễn Tuyên đã phân tích về khái niệm TBXH, quan điểm của chủ nghĩa Mác -Lênin về TBXH, tiêu chuẩn của TBXH Cuốn sách khẳng định, theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, TBXH bao giờ cũng là sự thống nhất giữa trình độ phát triển của LLSX với trình độ phát triển con người và trình độ phát triển con người, thông qua việc thực hiện công bằng xã hội với một thước đo bình đẳng thực sự nhằm phát huy vai trò và khả năng con người trong nền sản xuất nói riêng và trong tiến trình phát triển lịch sử nói chung Sự phát triển xã hội là kết quả hoạt động của con người, đến lượt mình, xã hội phải là điều kiện

để ngày càng phát triển cao hơn phẩm giá con người trong xã hội và đây là mục tiêu cao nhất của TBXH

Cuốn sách Tiến bộ xã hội: Một số vấn đề về mô hình phát triển ở Đông Á

và Đông Nam Á [109] của tác giả Hồ Sĩ Quý đã nghiên cứu những quan điểm cơ

bản về tăng trưởng, phát triển, phát triển bền vững và tiến bộ xã hội; vấn đề mô hình phát triển Đông Á và Đông Nam Á; phát triển và tiến bộ ở Việt Nam: Một

số vấn đề nhìn từ kinh nghiệm Đông Á và Đông Nam Á Nội dung cuốn sách tập trung bàn về những vấn đề cấp bách thuộc lý thuyết TBXH và những vấn đề

Trang 13

cũng chỉ ra nhiều gợi ý liên quan đến sự phát triển ở Việt Nam, trong đó có những vấn đề về TBXH, trong khi chúng tôi thực hiện luận án này

Trong bài Về quan điểm tiến bộ và công bằng xã hội ở nước ta [68], tác giả

Trần Hậu đã cho rằng, để giải phóng con người theo nghĩa đầy đủ của nó chẳng những phải tăng trưởng kinh tế mà phải thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội…, cần tiếp tục tổng kết thực tiễn và nghiên cứu lý luận để xây dựng một mô hình lý thuyết về phát triển xã hội, về thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội phù hợp với điều kiện nước ta Những đặc điểm lịch sử cụ thể không giống nhiều nước đòi hỏi một khung lý thuyết về tiến bộ và công bằng xã hội ở Việt Nam mà không thể dập khuôn mô hình của bất cứ nước nào Đó là cả một quá trình công phu tìm tòi từ nhiều góc độ khác nhau trong lịch sử và hiện tại, từ góc độ kinh tế đến chính trị, văn hoá, tập quán và tâm lý

1.1.3 Các công trình nghiên cứu vai trò của an sinh xã hội đối với tiến

bộ xã hội

Trong cuốn An sinh xã hội và phát triển nguồn nhân lực [122], tác giả Mạc

Văn Tiến cho rằng, ASXH đã góp phần thúc đẩy TBXH…; rằng, sự phát triển xã hội là một quá trình, trong đó các nhân tố kinh tế và nhân tố xã hội thường xuyên tác động lẫn nhau… Theo tác giả, cần phải thấy rằng, ASXH không loại trừ được

sự nghèo túng mà chỉ có tác dụng góp phần đẩy lùi nghèo túng, góp phần vào việc thúc đẩy TBXH

Cuốn sách An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [105] của tác giả Vũ

Văn Phúc đã phân tích những vấn đề lý luận và thực tiễn về ASXH ở Việt Nam trong những năm đổi mới; trong đó, chỉ ra những thành tựu, vai trò của ASXH đối với sự phát triển xã hội cũng như những hạn chế, yếu kém còn tồn tại và định hướng xây dựng hệ thống ASXH ở Việt Nam đến năm 2020

Cuốn sách Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012 – 2020 [26] của tác

giả Mai Ngọc Cường đã phân tích thực trạng phát triển ASXH ở Việt Nam hiện nay, đồng thời phân tích vai trò của hệ thống ASXH đối với các lĩnh vực của đời sống xã hội Cuốn sách còn giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trong việc

Trang 14

phát triển hệ thống ASXH nhằm tăng cường vai trò của nó trong đời sống xã hội, thúc đẩy sự tiến bộ xã hội

Cuốn sách Phát triển hệ thống an sinh xã hội Việt Nam đến năm 2020 [75],

do Nguyễn Thị Lan Hương (chủ biên) xuất bản năm 2014, đã cung cấp một số thông tin cơ bản về tình hình thực hiện ASXH năm 2013 và đi sâu phân tích những hạn chế và định hướng chính sách nhằm khắc phục những bất cấp đang tồn tại Đối với lĩnh vực chính sách BHXH, một trong những trụ cột chính của

hệ thống chính sách ASXH, nhóm nghiên cứu đưa ra 5 tồn tại và 5 khuyến nghị hoàn thiện chính sách Cụ thể, loại hình BHXH bắt buộc, với các quy định của pháp luật hiện hành đã nảy sinh một số bất cập như mức độ tuân thủ của các doanh nghiệp không cao, nguy cơ mất cân đối quỹ lớn và phạm vi hưởng hưu trí còn thấp (chỉ 21% người từ 60 tuổi trở lên có lương hưu) Với loại hình BHXH tự nguyện, số người tham gia còn rất thấp, nông dân, lao động trẻ tham gia chưa nhiều Với loại hình BHTN, phạm vi bao phủ còn hẹp, chỉ giới hạn ở người lao động trong các doanh nghiệp có sử dụng từ 10 lao động trở lên Để giải quyết những tồn tại trên, nhóm nghiên cứu đưa ra khuyến nghị: với BHXH bắt buộc, cần tăng cường chế tài; từng bước điều chỉnh tuổi nghỉ hưu hưởng BHXH; cải thiện tình hình đầu tư tăng trưởng quỹ Với BHXH tự nguyện, xây dựng chính sách khuyến khích nông dân, người lao động khu vực phi chính thức tham gia Với BHTN, cần mở rộng diện tham gia không phân biệt quy mô lao động của doanh nghiệp Đây là tài liệu quan trọng để nghiên cứu về vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam trong những năm đổi mới

Đề tài Cơ sở khoa học của việc xây dựng sàn an sinh xã hội ở Việt Nam

giai đoạn 2011 - 2020 [162], mã số KX.02.07/11-15 của Viện Khoa học Lao

động và Xã hội đã phân tích mục tiêu của việc xây dựng sàn ASXH Theo đó,

s ảm bảo quyền cơ bản của con người về thu nhập tối

Trang 15

với người yếu thế ối tượng chính (i Trẻ em; ii Người dân trong tuổi lao động nhưng thu nhập từ việc làm không đảm bảo được mức sống tối thiểu; và iii Người cao tuổi) Đề tài

đã phân tích những kết quả và hạn chế của việc xây dựng sàn ASXH ở Việt Nam những năm qua Những phân tích này cho thấy rõ vai trò của ASXH đối với TBXH Những kết quả nghiên cứu của đề tài sẽ được kế thừa trong quá trình thực hiện luận án

Trong bài Bảo đảm ngày càng tốt hơn an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là

nội dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011-2020 [40],

nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng nhấn mạnh rằng, trong việc thực hiện Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2001 - 2010, công tác bảo đảm an sinh xã hội và phúc lợi xã hội đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Hệ thống các chính sách an sinh xã hội và phúc lợi xã hội ngày càng đồng bộ và hoàn thiện trên các lĩnh vực: Xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm, phát triển hệ thống bảo hiểm,

ưu đãi người có công với nước, trợ giúp xã hội (TGXH), mở rộng các dịch vụ xã hội công cộng, tạo điều kiện để người dân được hưởng thụ nhiều hơn về văn hóa,

y tế và giáo dục Cùng với nguồn lực không ngừng tăng lên và những nỗ lực trong tổ chức thực hiện, ASXH và phúc lợi xã hội ngày càng được bảo đảm tốt hơn, góp phần quan trọng vào nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, ổn định và phát triển kinh tế - xã hội của đất nước

Đặt trọng tâm vào công tác xóa đói, giảm nghèo, cùng với việc đẩy mạnh phát triển kinh tế, xã hội để nâng cao mức sống chung của nhân dân, Đảng và Nhà nước đã ban hành và tập trung chỉ đạo thực hiện nhiều chính sách, chương trình, dự án và huy động nguồn lực của toàn xã hội để trợ giúp người nghèo, vùng nghèo vượt qua khó khăn, vươn lên thoát nghèo Các chính sách và giải pháp xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng bộ trên cả 3 phương diện: (1) Giúp người nghèo tăng khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng, nhất là về y tế, giáo dục, dạy nghề, trợ giúp pháp lý, nhà ở, nước sinh hoạt; (2) Hỗ trợ phát triển

Trang 16

sản xuất thông qua các chính sách về bảo đảm đất sản xuất, tín dụng ưu đãi, khuyến nông - lâm - ngư, phát triển ngành nghề; (3) Phát triển cơ sở hạ tầng thiết yếu cho các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn Đến nay công tác xóa đói giảm nghèo đã đạt được nhiều thành tựu nổi bật, được nhân dân đồng tình, quốc tế đánh giá cao: Số hộ nghèo giảm từ 29% (năm 2002) xuống còn khoảng 10% (năm 2010); chênh lệch mức sống giữa thành thị và nông thôn giảm từ 2,3 lần (năm 1999) xuống còn 2 lần (năm 2008) Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên rõ rệt Việc thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia về việc làm với nhiều chính sách trợ giúp thiết thực, hàng năm giải quyết được hơn 1,6 triệu việc làm mới cho người lao động, giảm tỷ lệ lao động thất nghiệp ở thành thị từ 6,42% (năm 2000) xuống còn khoảng 4,6% (năm 2010), tăng thời gian sử dụng lao động ở nông thôn, góp phần nâng cao thu nhập và đời sống cho nhân dân Thu nhập thực tế bình quân đầu người 10 năm qua tăng khoảng 2,3 lần

Hệ thống bảo BHXH và BHYT được quan tâm phát triển với nội dung và hình thức ngày càng phong phú, nhằm chia sẻ rủi ro và trợ giúp thiết thực cho những người tham gia Bảo hiểm xã hội được triển khai đồng bộ với 3 loại hình là: Bảo hiểm bắt buộc, bảo hiểm tự nguyện và bảo hiểm thất nghiệp Số người tham gia bảo hiểm bắt buộc tăng nhanh, từ 4,8 triệu (năm 2001) lên 9,4 triệu

(năm 2009), chiếm 18% tổng số lao động Sau gần 3 năm triển khai bảo hiểm xã

hội tự nguyện, đến năm 2010 có khoảng 96,6 nghìn người tham gia Dự kiến đến cuối năm 2020 có khoảng 5,8 triệu người tham gia BHTN Bảo hiểm y tế tăng nhanh từ 13,4% dân số (năm 2000) lên khoảng 62% (năm 2010) Đặc biệt, đã thực hiện chính sách BHYT miễn phí cho trẻ em đến 6 tuổi, một số đối tượng chính sách, người nghèo và hỗ trợ BHYT cho các hộ cận nghèo,

Với bài viết Xây dựng và hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội - một công

cụ quan trọng nhằm thực hiện công bằng xã hội ở nước ta [120], tác giả

Phạm Thị Ngọc Trầm đã luận chứng rằng, hệ thống ASXH mạnh là một công

Trang 17

cụ quan trọng góp phần thực hiện công bằng xã hội Việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH có vai trò và ý nghĩa to lớn đối với mỗi cá nhân cũng như cộng đồng và toàn thể xã hội Đó là một nhiệm vụ cấp bách và thiết thực nhằm thực hiện công bằng xã hội, bảo đảm cuộc sống an toàn cho mọi người dân, sự ổn định và phát triển bền vững của xã hội

1.2 CÁC CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU THỰC TRẠNG VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM

Trong cuốn An sinh xã hội đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị

trường ở Việt Nam [3], tác giả Mai Ngọc Anh đã phân tích cơ sở lý luận và

thực tiễn của việc hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường; tổng kết kinh nghiệm xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở một số nước trên thế giới, rút ra kinh nghiệm có thể vận dụng vào xây dựng hệ thống ASXH nước ta; khái quát thực trạng hệ thống ASXH ở nước ta, chỉ ra những thành tựu, hạn chế, nguyên nhân hạn chế của hệ thống ASXH đối với nông dân; sử dụng ma trận SWOT làm rõ những thuận lợi, khó khăn, cơ hội và thách thức; trên cơ sở đó, đề xuất các phương án xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân ở nước

ta những năm tới; đồng thời đưa ra một số giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH đối với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường

Trong Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020 [17] của Bộ Lao động -

Thương binh và Xã hội đã đánh giá thực trạng ASXH thời kỳ 2001 - 2010,

chỉ ra năm tồn tại cơ bản là: Thứ nhất, quan điểm và nhận thức về ASXH còn

chưa đầy đủ, nhiều chính sách thiết kế còn chưa phù hợp, mức độ tuân thủ pháp luật của các bên tham gia còn yếu; các chế tài xử phạt chưa đủ mạnh, mang nặng tính bao cấp của Nhà nước, chưa hướng vào các giải pháp nhằm

nâng cao năng lực tự chống đỡ cho người dân; thứ hai, hệ thống chính sách

ASXH chưa đầy đủ, thiếu sự liên kết và hỗ trợ, chồng chéo làm giảm hiệu quả vốn đầu tư Một số chính sách ASXH chưa thực sự đến được với dân cư ở

Trang 18

những vùng nông thôn, vùng sâu, vùng xa; chưa bổ sung kịp thời các chính

sách mới để đảm bảo ổn định cuộc sống và an sinh cho người dân; thứ ba, mức

độ bao phủ của hệ thống ASXH còn thấp, đối tượng còn hẹp Hệ thống chính sách ASXH còn bất bình đẳng Một tỷ lệ lớn nguồn lực của ASXH phân phối cho nhóm đối tượng chính sách xã hội và khu vực chính thức; thứ tư, nguồn đầu

tư cho ASXH của Nhà nước chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng tăng của ASXH; cơ chế tài chính còn nhiều bất cập Khả năng bền vững tài chính của các

chính sách ASXH chưa cao; thứ năm, quản lý nhà nước về ASXH còn nhiều bất

cập, thiếu một hệ thống giám sát đánh giá hiệu quả

Trong cuốn An sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 [105], tác giả

Vũ Văn Phúc đã phân tích những vấn đề thực tiễn về ASXH ở nước ta, bao gồm những thành tựu đạt được cũng như những hạn chế, yếu kém còn tồn tại

và định hướng xây dựng hệ thống ASXH ở Việt Nam từ nay đến năm 2020

Trong bài An sinh xã hội ở Việt Nam: Những quan điểm và cách tiếp cận

cần thống nhất [46], tác giả Nguyễn Trọng Đàm đã phân tích thực trạng hệ

thống ASXH ở nước ta; chỉ ra một số hạn chế cần khắc phục và đưa ra quan điểm, cách tiếp cận, giải pháp giải quyết vấn đề ASXH giai đoạn 2012 - 2020

Tác giả Phạm Xuân Nam với bài An sinh xã hội ở Việt Nam trong thời kỳ

đổi mới [97], đã cho rằng, thời kỳ trước đổi mới, do nhiều nguyên nhân mà

chủ yếu là do thực hiện những chủ trương, chính sách mang nặng tính chủ quan, duy ý chí trong cải tạo xã hội chủ nghĩa và xây dựng chủ nghĩa xã hội theo một mô hình cũ đã lỗi thời, cho nên nước ta đã lâm vào khủng hoảng kinh tế - xã hội trầm trọng Trong điều kiện như vậy, việc bảo đảm ASXH chỉ

có thể bó hẹp trong một số chế độ trợ cấp ở mức thấp cho những người có công với cách mạng, cho thương bệnh binh và gia đình liệt sĩ… Trong thời kỳ đổi mới đất nước, cùng với thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, sự nghiệp bảo đảm ASXH ở nước ta đã đạt được những thành tựu rất đáng khích lệ, tuy vẫn còn những hạn chế yếu kém nhất định

Trang 19

Trong cuốn Chính sách an sinh xã hội và vai trò của Nhà nước trong

việc thực hiện chính sách an sinh xã hội ở Việt Nam [29], trên cơ sở nghiên

cứu thực trạng chính sách ASXH ở Việt Nam trong 30 năm thực hiện đường lối đổi mới đất nước, tác giả Nguyễn Văn Chiều đã chỉ ra rằng trong giai đoạn vừa qua, nhiều chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước đã được triển khai có hiệu quả, góp phần quan trọng vào quá trình phát triển kinh

tế với bảo đảm công bằng và TBXH Tuy nhiên, theo tác giả, các chính sách ASXH của nước ta vẫn còn bộc lộ những hạn chế nhất định

Đề tài khoa học cấp Bộ: Đảm bảo an sinh xã hội: Định hướng mô hình

và giải pháp, do Đặng Nguyên Anh làm chủ nhiệm [2], dựa trên khảo sát xã

hội học, thu thập và phân tích số liệu ở các cấp, đề tài đã phân tích thực trạng ASXH của Việt Nam, trong đó trọng tâm là bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, lương hưu, trợ giúp xã hội (thường xuyên và không thường xuyên) và vấn đề đảm bảo các dịch vụ xã hội cơ bản (giáo dục, y tế, thông tin, việc làm) Những khó khăn, bất cập được đi sâu tìm hiểu và phân tích đánh giá nhằm định vị mô hình ASXH ở Việt Nam hiện nay và trong 5 - 10 năm tới Tuy nhiên, những số liệu này cần nhìn nhận thêm ở những góc độ khác nhau

Trong bài An sinh xã hội 25 năm đổi mới: Thành tựu và những vấn đề

đặt ra [27], tác giả Mai Ngọc Cường cho rằng, sau 25 năm đổi mới, hệ thống

an sinh xã hội (ASXH) ở nước ta ngày càng hoàn thiện và có đóng góp quan trọng vào việc ổn định và phát triển kinh tế - xã hội, nhưng vẫn còn không ít bất cập Hệ thống ASXH đang trong quá trình hình thành, chưa đồng bộ, một

số chương trình tính khả thi thấp Mức độ bao phủ, mức độ tác động của các chương trình ASXH nhìn chung chưa cao; nguồn tài chính thực hiện các

chương trình ASXH thiếu tính bền vững, vì: Thứ nhất, hệ thống văn bản pháp luật chưa đầy đủ và chưa hoàn thiện; thứ hai, mức tham gia BHXH thấp hoặc

không có khả năng tham gia hệ thống ASXH; hệ thống chính sách trợ giúp về việc làm, thất nghiệp, xóa đói giảm nghèo… chậm được nối kết vào hệ thống

Trang 20

tổng thể về ASXH dẫn đến sự trùng chéo, chưa đáp ứng được yêu cầu; thứ

ba, năng lực tổ chức thực hiện chính sách ASXH chưa theo kịp với yêu cầu

Mô hình chính sách, tổ chức hoạt động, phục vụ thiếu đa dạng; nguồn tài chính cho ASXH còn thấp; thiếu các chế tài buộc doanh nghiệp thực hiện nghĩa vụ đóng góp BHXH, BHYT cho người lao động; công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm các quy định về ASXH chưa thường xuyên;

sự phối hợp giữa ngành chủ quản với cơ quan quản lý nhà nước và các địa phương chưa chặt chẽ; đội ngũ cán bộ làm công tác ASXH còn thiếu về số lượng và yếu về tính chuyên nghiệp

Ngoài những công trình trên, còn có những công trình nghiên cứu những

khía cạnh khác nhau về thực trạng ASXH Chẳng hạn, bài Nỗ lực phấn đấu

thực hiện có hiệu quả chính sách an sinh xã hội [100]; Chiến lược an sinh xã hội Việt Nam thời kỳ 2011 - 2020 [74]; Hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta trong giai đoạn phát triển mới [44]; Vai trò của chính sách bảo hiểm

xã hội, bảo hiểm y tế đối với an sinh xã hội của đất nước [71]; Tiếp tục thực hiện tốt chính sách ưu đãi người có công với nước ta hiện nay và định hướng đến năm 2020 [35]…

Trong những năm qua đã có nhiều công trình nghiên cứu về ASXH Các nhà khoa học đã đề cập ASXH dưới nhiều cách tiếp cận từ lý luận đến thực tiễn, dưới giác độ triết học, xã hội học, kinh tế học… Tuy nhiên, chưa có công trình nào đi sâu nghiên cứu về thực trạng vai trò của ASXH đối với TBXH từ góc độ triết học Đây là vấn đề sẽ được tập trung nghiên cứu sâu trong luận án này

1.3 NHỮNG CÔNG TRÌNH NGHIÊN CỨU VỀ CÁC GIẢI PHÁP PHÁT HUY VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI Ở VIỆT NAM HIỆN NAY

Trong cuốn Lý thuyết và mô hình an sinh xã hội (phân tích thực tiễn ở

Đồng Nai) [110], các tác giả Phạm Văn Sáng, Ngô Quang Minh, Bùi Văn

Huyền, Nguyễn Anh Dũng đã phân tích và đưa ra những nhận định, giải pháp,

Trang 21

góp phần xây dựng hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam Chẳng hạn, giải pháp bảo đảm ASXH thông qua BHXH; giải pháp bảo đảm ASXH thông qua y tế; giải pháp bảo đảm ASXH thông qua trợ cấp xã hội (TCXH) và xóa đói giảm nghèo Những giải pháp này là gợi ý quan trọng để luận án đưa

ra những giải pháp nhằm phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay

Cuốn sách Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách an sinh xã hội ở

Việt Nam [23] của tác giả Mai Ngọc Cường đã khái quát, phân tích và đề xuất

những phương hướng và giải pháp nhằm hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH tiến tới xây dựng mô hình ASXH phù hợp với điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN, đáp ứng yêu cầu phát triển đất nước Những phương hướng cơ bản mà cuốn sách nêu ra như: Xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH ở Việt Nam phải đảm bảo tính cơ bản, toàn diện, bền vững, đa tầng và linh hoạt với cơ chế, chính sách phù hợp vẫn là những phướng hướng cơ bản để xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay Cuốn sách cũng nêu ra các giải pháp để xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở nước ta hiện nay, bao gồm: Đẩy mạnh xây dựng và hoàn thiện pháp luật về ASXH; hoàn thiện cơ chế tài chính cho ASXH; hoàn thiện tổ chức, quản lý của hệ thống ASXH; nâng cao nhận thức xã hội về ASXH; nâng cao năng lực đội ngũ cán bộ thực thi chính sách ASXH; phối hợp xây dựng, hoàn thiện và thực hiện chính sách ASXH với xây dựng, hoàn thiện và thực hiện các chính sách kinh tế - xã hội khác; tăng cường vai trò của nhà nước trong việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách ASXH… Việc nghiên cứu những giải pháp này có thể đánh giá tính hiệu quả, thiết thực của các giải pháp về xây dựng và hoàn thiện hệ thống chính sách về ASXH ở nước ta những năm qua, từ đó rút ra bài học kinh nghiệm cho việc xây dựng và hoàn thiện về hệ thống ASXH trong thời gian tới Có thể nói, với những nội dung đã được trình bày, cuốn sách là tài liệu tham khảo hữu ích đối với các nhà nghiên cứu quan

Trang 22

tâm đến vấn đề này cũng như đối với các nhà quản lý, hoạch định chính sách

Chiến lược an sinh xã hội 2011 - 2020 [17] của Bộ Lao động - Thương

binh và Xã hội đã đưa ra 11 nhóm giải pháp cơ bản để thực hiện chiến lược an sinh xã hội thời kỳ 2011 - 2020, bao gồm: Nhóm giải pháp hoàn thiện hệ thống chính sách hỗ trợ người dân có việc làm, nâng cao thu nhập và tham gia thị trường lao động; nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ người dân tham gia BHXH; nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách hỗ trợ người dân tham gia BHYT; nhóm giải pháp hoàn thiện chính sách TGXH; nhóm giải pháp về giảm nghèo; nhóm giải pháp tăng cường tiếp cận các dịch vụ xã hội

cơ bản cho các đối tượng và vùng đặc thù; nhóm giải pháp nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về ASXH; nhóm giải pháp nâng cao nhận thức của các cấp, các ngành và người dân về ASXH; nhóm giải pháp huy động sự tham gia của các đối tác xã hội trong thực hiện ASXH; thúc đẩy hợp tác quốc tế trong lĩnh vực ASXH; phát triển hệ thống giám sát đánh giá thực hiện chiến lược ASXH

Cuốn sách Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội trong thời kỳ đổi

mới của tác giả Nguyễn Thị Thanh [112], đã phân tích một số vấn đề đặt ra

đối với việc thực hiện chính sách xã hội ở Việt Nam thời kỳ đổi mới; quá trình Đảng lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội những năm đầu đổi mới, thời

kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; một số kinh nghiệm của Đảng trong lãnh đạo thực hiện chính sách xã hội Những kinh nghiệm nêu ra trong cuốn sách góp phần cung cấp những luận cứ để luận án đề xuất những giải pháp phát huy vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay

Cuốn an sinh xã hội ở Việt Nam hướng tới 2020 của tác giả Vũ Văn

Phúc [105], đưa ra nhiều giải pháp nhằm xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở Việt Nam, vì sự phát triển bền vững của đất nước Bằng cách tiếp cận hệ thống ASXH với hai bộ phận: An sinh xã hội đóng - hưởng và ASXH

Trang 23

hiện nay, chỉ ra những thành tựu cũng như hạn chế và nguyên nhân hạn chế Trên cơ sở phân tích bối cảnh thế giới và trong nước, quán triệt các mục tiêu, phương hướng và giải pháp thực hiện một số vấn đề chính sách xã hội, trong

đó có chính sách ASXH giai đoạn 2012 - 2020 của Nghị quyết số 15- NQ/TW ngày 01 tháng 06 năm 2012 của Ban Chấp hành Trung ương khoá XI và Nghị quyết số 70/NQ-CP ngày 01 tháng 11 năm 2012 của Chính phủ đã đưa ra, cuốn sách khuyến nghị một số vấn đề có ý nghĩa quan trọng để thực hiện chính sách ASXH ở nước ta những năm tới Ngoài ra, cuốn sách còn có phần phụ lục giới thiệu kinh nghiệm của một số nước trong việc phát triển hệ thống ASXH để tham khảo trong nghiên cứu và hoạch định chính sách phát triển ASXH ở nước ta trong những năm tới

Đề tài khoa học cấp Nhà nước: Cơ sở khoa học xây dựng sàn an sinh xã

hội ở Việt Nam giai đoạn 2011 - 2020, mã số KX.02.07/11-15 [162] do Doãn

Mậu Diệp làm chủ nhiệm, trên cơ sở đề xuất 5 quan điểm cơ bản để xây dựng sàn ASXH phù hợp với các điều kiện kinh tế - xã hội, các tác giả đã đưa ra 6 nhóm giải pháp xây dựng sàn ASXH ở Việt Nam đến năm 2020, bao gồm các giải pháp: Tăng cường bảo đảm các chính sách sàn ASXH đối với trẻ em; tăng cường bảo đảm các chính sách sàn ASXH cho người lao động yếu thế; nghiên cứu và ứng dụng chương trình việc làm công; mở rộng đối tượng tham gia BHXH; tăng cường bảo đảm các chính sách sàn ASXH cho người cao tuổi; xây dựng bộ cơ sở dữ liệu hợp nhất cho các chính sách sàn ASXH; phát triển

hệ thống theo dõi và đánh giá sàn ASXH

Đề tài khoa học cấp Bộ: Đảm bảo an sinh xã hội: Định hướng mô hình

và giải pháp [2] do Đặng Nguyên Anh chủ nhiệm, đã đề xuất quan điểm mục

tiêu và định hướng giải pháp nhằm hoàn thiện mô hình ASXH ở Việt Nam từ nay đến năm 2020, tầm nhìn 2030 Những đề xuất mô hình và lộ trình thực hiện được trình bày tại phần cuối của báo cáo tổng hợp với một số giải pháp

cụ thể đối với BHXH, BHYT và bảo trợ xã hội là những trụ cột cơ bản của

Trang 24

mô hình ASXH ở Việt Nam Đây là một công trình nghiên cứu có giá trị khoa học với thông tin, số liệu phong phú đáng được tham khảo Đề tài đã góp phần trả lời câu hỏi về hệ thống ASXH Việt Nam cần được điều chỉnh như thế nào, và mô hình giải pháp chính sách cần chú ý ra sao nhằm thực hiện mục tiêu đảm bảo ASXH và phát triển bền vững

Ngoài những công trình nêu trên, còn có nhiều công trình khác cũng nghiên cứu, đề xuất những giải pháp thực hiện ASXH ở những góc độ khác

nhau Chẳng hạn, trong cuốn Về an sinh xã hội ở Việt Nam giai đoạn 2012 –

2020 do Mai Ngọc Cường chủ biên [26], tác giả đã phân tích những vấn đề cơ

bản về ASXH, đề xuất các phương hướng và giải pháp phát triển ASXH ở

Việt Nam giai đoạn tới Bài viết Tổ chức thực hiện bảo hiểm y tế đối với

người nghèo - Thực trạng và giải pháp của tác giả Nguyễn Minh Hải [61]; Góp phần xây dựng hệ thống an sinh xã hội tổng thể ở nước ta hiện nay của

tác giả Trịnh Duy Luân [88]; Cơ sở khoa học của việc xây dựng, hoàn thiện

hệ thống chính sách an sinh xã hội ở nước ta giai đoạn 2006-2015 Kỷ yếu

Hội thảo Khoa học thuộc đề tài KX02-02/06-10 [6]; An sinh xã hội trong

Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội thời kỳ 2011-2020 đăng trên Tạp chí

Lao động và Xã hội của tác giả Nguyễn Hữu Dũng [38]; An sinh xã hội đối

với nông dân trong điều kiện kinh tế thị trường ở Việt Nam - sách chuyên

khảo của tác giả Mai Ngọc Anh [3]; Bảo đảm an sinh xã hội dưới ánh sáng

Đại hội XI của Đảng của tác giả Dương Văn Thắng [115]; Nghèo ở Việt Nam

- những thách thức và giải pháp; Tính ưu việt của Luật Bảo hiểm xã hội, Luật Bảo hiểm y tế - thách thức trong triển khai và giải pháp đảm bảo an sinh xã hội của tác giả Bùi Sĩ Lợi đăng trên Tạp chí Cộng sản [85; 86]; Báo cáo của

các bộ, ngành “Việc thực hiện chính sách, pháp luật về giảm nghèo, giai đoạn

2005 - 2012” [155]… Những kết quả nghiên cứu sẽ được chúng tôi kế thừa

trong quá trình thực hiện luận án

Trang 25

TIỂU KẾT CHƯƠNG 1

1 Nhận xét chung về các công trình khoa học đã đề cập

Một là, hầu hết các công trình nghiên cứu đã đề cập và phân tích những vấn

đề lý luận về ASXH cũng như vai trò của nó đối với TBXH Mặc dù có những

cách tiếp cận khác nhau, song tựu trung lại, ASXH được hiểu theo hai nghĩa: Theo

nghĩa rộng, ASXH là toàn bộ các bộ các biện pháp của nhà nước, cộng đồng, cá

nhân nhằm đảm bảo cuộc sống cho người dân trong toàn xã hội; theo nghĩa hẹp,

ASXH hướng tới sự đảm bảo tối thiểu cho mục tiêu mưu sinh của một bộ phận dân cư thuộc nhóm yếu thế, gặp rủi ro hay chịu thiệt thòi trong xã hội

Về vai trò của ASXH đối với TBXH, đa số các tác giả tuy đã có đề cập và đều thống nhất ở điểm chung khi cho rằng ASXH đảm bảo sự phát triển bền vững của xã hội, ổn định chính trị - xã hội, góp phần vào xây dựng nguồn nhân lực, thể hiện tính nhân văn cao cả… nhưng chưa có sự phân tích hệ thống từ góc

độ triết học

Hai là, các tác giả đã có cái nhìn khá toàn diện về cấu trúc, mô hình của

ASXH, tạo nên bức tranh tổng quát về ASXH và chính sách ASXH đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế - xã hội trong thời kỳ đổi mới, toàn cầu hóa và chủ động hội nhập quốc tế Các công trình đã phản ánh khá sâu sắc và rõ nét về những thành tựu ASXH trong 30 năm đổi mới đất nước… nhưng chưa phân tích làm nổi bật vai trò của những thành tựu ấy đối với TBXH dưới góc độ triết học

Ba là, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những bài học kinh nghiệm đối

với việc xây dựng hệ thống chính sách và thực tiễn giải quyết vấn đề ASXH ở các quốc gia trên thế giới Những bài học này có giá trị tham khảo cho việc xây dựng và hoàn thiện hệ thống ASXH ở Việt Nam

Bốn là, các công trình nghiên cứu đã chỉ ra những hạn chế về nhận thức, về

hệ thống chính sách ASXH và thực hiện ASXH trên nhiều lĩnh vực Do vậy, nhiều công trình nghiên cứu đã đề xuất những quan điểm, giải pháp góp phần thay đổi nhận thức, cách thực hiện nhằm nâng cao hiệu quả, phát huy tốt vai trò

của ASXH trong những năm tiếp theo

Trang 26

Mặc dù vậy, những công trình trên đây chủ yếu mới đề cập đến từng khía cạnh của ASXH ở góc độ xã hội học, kinh tế học, luật học, quản lý xã hội, v.v chưa luận giải một cách có hệ thống và khái quát từ góc độ triết học về vai trò của ASXH đối với TBXH, nên những quan điểm, giải pháp nêu ra vẫn còn có những hạn chế nhất định, chưa làm thay đổi căn bản nhận thức tổng thể, cách thức xây dựng mô hình ASXH phù hợp với yêu cầu của sự phát triển xã hội Việt Nam hiện nay

2 Hướng nghiên cứu của luận án

Trên cơ sở kế thừa những kết quả của các nhà nghiên cứu trước đó, từ góc

độ triết học luận án sẽ hướng tới việc giải quyết các vấn đề sau:

Một là, hệ thống hoá, phân tích các khái niệm về ASXH, TBXH và làm rõ

những biểu hiện cụ thể vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay

Hai là, phân tích chỉ rõ thực trạng vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt

Nam hiện nay

Ba là, đề xuất một số giải pháp cơ bản nhằm phát huy vai trò của ASXH

đối với TBXH ở Việt Nam trong thời gian tới

Vai trò của ASXH đối với TBXH là một đề tài rộng và khó, được tiếp cận dưới các góc độ khác nhau, như triết học, xã hội học, kinh tế học, luật học… và nhận được sự quan tâm của nhiều nhà nghiên cứu trong và ngoài nước Các công trình nghiên cứu về ASXH, TBXH đã đạt được nhiều kết quả quan trọng Những kết quả đó từng bước làm sáng tỏ nhiều vấn đề lý luận và thực tiễn về vai trò của ASXH đối với TBXH, góp phần hình thành luận cứ khoa học để hoàn thiện đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước ta về ASXH trong điều kiện mới

Mặc dù vậy, đến nay, vẫn chưa có công trình nào nghiên cứu một cách có

hệ thống từ góc độ triết học về vai trò của ASXH đối với TBXH ở Việt Nam hiện nay Do đó, việc lựa chọn đề tài này để nghiên cứu là cần thiết và không trùng lặp với các công trình đi trước Với những kết quả đạt được, các công trình nêu trên là tư liệu quan trọng mà luận án cần kế thừa một cách sáng tạo để có thể

Trang 27

Chương 2 VAI TRÒ CỦA AN SINH XÃ HỘI ĐỐI VỚI TIẾN BỘ XÃ HỘI -

MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN CƠ BẢN

2.1 AN SINH XÃ HỘI, TIẾN BỘ XÃ HỘI: KHÁI NIỆM VÀ MỘT SỐ NỘI DUNG CHỦ YẾU

2.1.1 An sinh xã hội: Khái niệm và nội dung chủ yếu

2.1.1.1 Khái niệm an sinh xã hội

Trong xã hội, con người muốn tồn tại và phát triển trước hết phải ăn, mặc,

ở, đi lại… Để thoả mãn những nhu cầu tối thiểu này, con người phải lao động, làm ra những sản phẩm cần thiết Của cải xã hội càng nhiều, mức độ thỏa mãn nhu cầu càng cao, nghĩa là việc thỏa mãn nhu cầu phụ thuộc vào khả năng lao động của con người Tuy nhiên, trong suốt cuộc đời, không phải khi nào con người cũng có thể lao động để tạo ra được thu nhập Trái lại, có rất nhiều trường hợp khó khăn, bất hạnh, rủi ro xảy ra làm cho con người bị giảm, mất thu nhập hoặc do các điều kiện sinh sống khác; chẳng hạn, bị bất ngờ ốm đau, tai nạn, mất người nuôi dưỡng, tuổi già, tử vong… mà rơi vào hoàn cảnh khó khăn Cuộc sống của con người cũng phụ thuộc vào điều kiện tự nhiên và môi trường sống Những điều kiện tự nhiên và xã hội không thuận lợi đã khiến một bộ phận dân

cư cần đến sự giúp đỡ nhất định để bảo đảm cuộc sống bình thường Để tồn tại

và phát triển, con người đã có nhiều biện pháp khác nhau để khắc phục khó khăn Điều này được thể hiện thông qua vai trò của ASXH

An sinh xã hội là hình thức tập hợp (có tổ chức) các thành viên xã hội nhằm chống lại những biến cố rủi ro, bất hạnh của mỗi cá nhân Nhờ sự tương hợp, đoàn kết trên tinh thần tương thân tương ái, thiện nguyện mà những rủi ro, biến

cố, khó khăn của các cá nhân sẽ được chia sẻ trên phạm vi rộng giúp họ vượt qua khó khăn Sự tương trợ dần dần được mở rộng và phát triển dưới nhiều hình thức khác nhau

Trang 28

Trong quá trình phát triển xã hội, đặc biệt là từ sau cuộc cách mạng công nghiệp, hệ thống ASXH đã có những cơ sở để hình thành và phát triển Quá trình công nghiệp hoá làm cho đội ngũ những người làm công ăn lương tăng lên, cuộc sống của họ phụ thuộc chủ yếu vào thu nhập do lao động làm thuê đem lại Sự hẫng hụt về tiền lương trong các trường hợp bị ốm đau, tai nạn, rủi ro, bị mất việc làm hoặc khi về già, đã trở thành mối đe dọa đối với cuộc sống bình thường của những người không có nguồn thu nhập nào khác ngoài tiền lương Sự bắt buộc phải đối mặt với những nhu cầu thiết yếu hàng ngày đã buộc những người làm công ăn lương tìm cách khắc phục bằng những hành động tương thân, tương

ái (lập các quỹ tương tế, các hội đoàn…); đồng thời, đòi hỏi giới chủ và nhà nước phải có trợ giúp bảo đảm cuộc sống cho họ

Vào nửa đầu của thế kỷ XIX, những manh nha về ASXH đã xuất hiện với việc Chính phủ Anh công bố “Luật cứu tế mới” năm 1834 Luật này công nhận cứu trợ xã hội là một lưới đỡ thấp nhất trong hệ thống ASXH và lầ đầu tiên trên thế giới hệ thống ASXH đã đực thực hiện dựa trên luật pháp, được điều tiết bởi luật pháp

Năm 1850, lần đầu tiên ở Đức, nhiều bang đã thành lập quỹ ốm đau và yêu cầu công nhân phải đóng góp để dự phòng khi bị giảm thu nhập vì bệnh tật Từ

đó, xuất hiện hình thức bắt buộc đóng góp Lúc đầu chỉ có giới thợ tham gia, dần dần các hình thức bảo hiểm mở rộng ra cho các trường hợp rủi ro nghề nghiệp, tuổi già và tàn tật Đến những năm 80 của thế kỷ XIX, an sinh xã hội (lúc này là BHXH) đã mở ra hướng mới Sự tham gia là bắt buộc và không chỉ người lao động đóng góp mà giới chủ và nhà nước cũng phải thực hiện nghĩa vụ của mình (cơ chế ba bên) Tính chất đoàn kết và san sẻ lúc này được thể hiện rõ nét: Mọi người, không phân biệt già - trẻ, nam - nữ, người khoẻ - người yếu mà tất cả đều phải tham gia đóng góp

Mô hình này của Đức đã lan dần ra châu Âu, sau đó sang các nước Mỹ Latin, rồi đến Bắc Mỹ và Canada vào những năm 30 của thế kỷ XX Sau chiến tranh thế giới thứ hai, ASXH đã lan rộng sang các nước giành được độc lập ở

Trang 29

tương tế, cứu trợ xã hội cũng tiếp tục phát triển để giúp đỡ những người có hoàn cảnh khó khăn, như những người già cô đơn, người tàn tật, trẻ em mồ côi, người goá bụa và những người không may gặp rủi ro vì thiên tai, hoả hoạn… Các dịch

vụ xã hội như dịch vụ y tế, dự phòng tai nạn, dự phòng y tế tái thích ứng; dịch vụ đặc biệt cho người tàn tật, người già, bảo vệ trẻ em… được từng bước mở rộng ở các nước theo những điều kiện tổ chức, chính trị, kinh tế - xã hội, tài chính và quản lý khác nhau Hệ thống ASXH được hình thành và phát triển rất đa dạng dưới nhiều hình thức khác nhau ở từng quốc gia, trong từng giai đoạn lịch sử, trong đó BHXH là trụ cột chính

Năm 1935, Mỹ đã đưa ra đạo luật về ASXH, đạo luật này quy định thực hiện chế độ bảo vệ tuổi già, chế độ tử tuất, tàn tật và trợ cấp thất nghiệp Thuật ngữ ASXH được chính thức sử dụng Đến năm 1941, trong Hiến chương Đại Tây Dương và sau đó Tổ chức Lao động Quốc tế (ILO) chính thức dùng thuật ngữ này trong các công ước quốc tế An sinh xã hội đã được tất cả các nước thừa nhận là một trong những quyền con người Nội dung của ASXH đã được ghi nhận trong Tuyên ngôn nhân quyền do Đại hội đồng Liên hợp quốc thông qua ngày 10/12/1948 Trong bản Tuyên ngôn có viết: “Tất cả mọi người với tư cách

là thành viên của xã hội có quyền hưởng ASXH Quyền đó đặt cơ sở trên sự thoả mãn các quyền về kinh tế, xã hội và văn hoá cần cho nhân cách và sự tự do phát triển con người…” Ngày 25/6/1952, Hội nghị toàn thể của ILO đã thông qua Công ước số 102, được gọi là Công ước về ASXH (tiêu chuẩn tối thiểu) trên cơ

sở tập hợp các chế độ về ASXH đã có trên toàn thế giới thành 09 bộ phận

Tuy nhiên, cho đến nay, do tính chất phức tạp và đa dạng của ASXH nên vẫn còn nhiều nhận thức khác nhau về vấn đề này Khái niệm về ASXH cũng còn khá khác biệt giữa các tổ chức, các quốc gia

Theo quan niệm của Liên hợp quốc, hệ thống ASXH bao gồm các bộ phận cấu thành sau:

Thứ nhất, hệ thống BHXH (hưu trí, bảo hiểm y tế, chế độ trợ cấp, BHXH

ngắn hạn)

Trang 30

Thứ hai, hệ thống trợ giúp xã hội (trợ cấp xoá đói giảm nghèo, hỗ trợ xã hội

nhóm yếu thế …)

Thứ ba, hệ thống trợ cấp xã hội chung-Universal Social Benefit (trợ cấp gia

đình, dịch vụ y tế công cộng, trợ cấp người cao tuổi…)

Thứ tư, hệ thống trợ cấp tư nhân (Private Benefit System) [trích theo 106,

tr 63-64.]

Tại Hội nghị trù bị về “An sinh xã hội ASEAN” từ ngày 28-29/6/2001 ở Singapore, các nhà khoa học đã đưa ra khái niệm mở rộng về ASXH Về tổng thể, hệ thống ASXH bao gồm:

Hệ thống BHXH và tiết kiệm: Bảo hiểm tai nạn công nghiệp, y tế, người già,

thất nghiệp… Đó là hệ thống có sự tham gia đóng góp của các bên tạo nguồn dự trữ để sử dụng cho các trường hợp lúc tuổi già, ốm đau, thai sản, chết, tàn tật, thương tật, bệnh nghề nghiệp, thất nghiệp…

Trợ giúp xã hội và những dịch vụ xã hội (trợ cấp) Đó là loại phúc lợi xã

hội trích từ thuế và các nhà tài trợ

Chính sách thị trường lao động (bao gồm cả thị trường lao động tích cực và

thụ động): tạo cơ hội việc làm; hình thành nguồn nhân lực; phát triển kỹ năng nghề nghiệp; tìm kiếm việc làm (thông tin, giới thiệu việc làm…); đào tạo lại; hỗ trợ tạo việc làm…

Ngân hàng Thế giới cho rằng, ASXH là biện pháp công cộng nhằm giúp cho các cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng đương đầu và kiềm chế được nguy cơ tác động đến thu nhập nhằm giảm tính dễ bị tổn thương và những bấp bênh thu

nhập Những năm gần đây, quốc tế đưa ra khái niệm mới gọi là lưới an toàn xã

hội (Social Safety Net)

Trong một công trình của mình, tác giả Mạc Văn Tiến có đề cập đến thuật ngữ ASXH được Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) sử dụng chính thức trong Công ước số 102 - công ước quan trọng nhất quy định các tiêu chuẩn tối thiểu về ASXH Công ước này được hội nghị toàn thể của ILO thông qua vào năm 1952

Trang 31

thành viên của mình thông qua một loạt biện pháp công cộng, nhằm chống lại những khó khăn về kinh tế và xã hội do bị ngừng hoặc giảm thu nhập, gây ra bởi

ốm đau, thai sản, tai nạn lao động, thất nghiệp, thương tật, tuổi già và chết; đồng thời đảm bảo các chăm sóc y tế và trợ cấp cho các gia đình đông con [122,

tr.12] Khái niệm này của ILO thể hiện được bản chất, phương thức và mục đích của ASXH Như vậy, về mặt nội dung, ASXH góp phần đảm bảo thu nhập và đời sống cho các công dân trong xã hội; phương thức hoạt động là thông qua các biện pháp công cộng; mục đích là tạo ra sự “an sinh” cho mọi thành viên trong

xã hội và vì vậy, mang tính xã hội và tính nhân văn sâu sắc

Ngày nay, quan niệm về ASXH vẫn có sự khác nhau nhất định giữa các quốc gia, các tổ chức trên thế giới Tuy nhiên, các quan niệm đó về nội dung, bản chất của ASXH đều có những điểm chung, đó là sự trợ giúp của xã hội đối với những người yếu thế hoặc gặp những rủi ro trong cuộc sống Mục tiêu của ASXH là tạo ra một lưới an toàn gồm nhiều tầng, nhiều lớp bảo vệ cho tất cả mọi thành viên của cộng đồng trong những trường hợp bị giảm hoặc bị mất thu nhập hoặc phải tăng chi phí đột xuất trong chi tiêu của gia đình, do nhiều nguyên nhân khác nhau, như ốm đau, thương tật, già cả gọi chung là những biến cố và những rủi ro xã hội Qua đó, giúp họ hoà nhập và vươn lên trong cuộc sống, thúc đẩy gia đình và xã hội ổn định, phát triển theo hướng TBXH Điều này là cơ

sở để tạo ra sự nhận thức và hành động chung, thống nhất giữa các quốc gia trên thế giới

Thuật ngữ “an sinh xã hội” đã xuất hiện ở Việt Nam vào những năm 70 của thế kỷ XX trong một số cuốn sách nghiên cứu về pháp luật của một số học giả Sài Gòn Sau năm 1975, thuật ngữ này được dùng nhiều và đặc biệt là từ năm

1995 trở lại đây nó được dùng rộng rãi hơn

Đảm bảo ASXH là một yêu cầu của sự phát triển bền vững, là mục tiêu hướng tới của nhiều quốc gia trên thế giới, cũng là một đòi hỏi cấp thiết đối với nước ta trong giai đoạn hiện nay Ở Việt Nam, Đảng và Nhà nước đã có nhận

thức rất sớm về chính sách ASXH và tiếp cận nó từ góc độ quyền con người

Trang 32

Hiến pháp năm 1946 đã xác định: “Người lao động được bảo đảm quyền việc làm, nghỉ ngơi, BHXH, cứu tế; phụ nữ được nghỉ trước khi đẻ…” Hiến pháp năm 1992 đã nêu rõ trách nhiệm của Nhà nước trong việc đảm bảo xã hội cho mọi người Trong đó nhấn mạnh, Nhà nước thực hiện chế độ BHXH đối với người công chức nhà nước và người làm công ăn lương, khuyến khích phát triển các hình thức BHXH khác đối với người lao động

Đại hội VII của Đảng có nhận thức rất mới về BHXH trong kinh tế thị trường; xác định phải đổi mới chính sách BHXH theo hướng: Mọi người lao động và đơn vị kinh tế thuộc các thành phần kinh tế đều được tham gia BHXH Từng bước tách quỹ BHXH ra khỏi ngân sách Nhà nước và hình thành quỹ BHXH chung cho mọi người lao động thuộc mọi thành phần kinh tế, tách BHXH

ra khỏi quản lý nhà nước và hình thành tổ chức BHXH Việt Nam

Nghị quyết Đại hội VIII đã xác định phải thực hiện và hoàn thiện chế độ BHXH, bảo đảm đời sống người nghỉ hưu được ổn định, từng bước được cải thiện… Đẩy mạnh các hoạt động nhân đạo, từ thiện Thực hiện các chính sách bảo trợ trẻ mồ côi, lang thang cơ nhỡ, người già neo đơn, nạn nhân chiến tranh, người tàn tật Giúp đỡ những người bị thiên tai và những rủi ro khác Đặc biệt, Nghị quyết đã nhấn mạnh phải xây dựng luật BHXH, luật về bảo trợ người tàn tật và trẻ mồ côi Đến Đại hội IX của Đảng, lần đầu tiên trong Nghị quyết đã sử dụng thuật ngữ ASXH và chủ trương: “Mở rộng hệ thống bảo hiểm xã hội và an sinh xã hội” [50, tr 34] Nhận thức về ASXH của Đảng ta đã rõ nét và toàn diện hơn, thể hiện trong Nghị quyết Đại hội X theo hướng xây dựng hệ thống ASXH

đa dạng; phát triển mạnh hệ thống BHXH, BHYT, tiến tới BHYT toàn dân Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi xã hội (ƯĐXH) đối với người có công, người hưởng chính sách xã hội Đa dạng hoá các loại hình cứu trợ xã hội

Nghị quyết Hội nghị Ban Chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 6 (khoá X)

đã cụ thể hoá chủ trương của Đại hội X về phát triển hệ thống ASXH: Từng bước mở rộng và cải thiện hệ thống ASXH để đáp ứng ngày một tốt hơn nhu cầu

đa dạng của mọi tầng lớp trong xã hội, nhất là của nhóm đối tượng chính sách,

Trang 33

yêu cầu của kinh tế thị trường định hướng XHCN; mở rộng các hình thức bảo hiểm bắt buộc và bảo hiểm tự nguyện; bổ sung, sửa đổi các chế độ BHXH còn bất hợp lý, bảo đảm quyền lợi của người tham gia BHXH; tách BHXH đối với khu vực hành chính Nhà nước ra khỏi khu vực doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp

và các lĩnh vực khác; điều chỉnh lương hưu và trợ cấp BHXH theo cơ chế tạo nguồn, độc lập tương đối với chính sách tiền lương, giảm dần hỗ trợ từ ngân sách nhà nước; từng bước cải thiện đời sống của người về hưu theo trình độ phát triển của nền kinh tế Phát triển đa dạng các hình thức tổ chức tự nguyện, nhân đạo, hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận để chăm sóc đối tượng bảo trợ xã hội dựa vào cộng đồng theo tinh thần xã hội hoá với sự hỗ trợ một phần của Nhà nước, bảo đảm cho các đối tượng bảo trợ xã hội có cuộc sống ổn định, hoà nhập tốt hơn vào cộng đồng, tự vươn lên; tạo cơ hội cho các đối tượng bảo trợ xã hội, trước hết là người còn khả năng lao động, tiếp cận nguồn lực kinh tế, dịch vụ công thiết yếu, cơ hội giáo dục, đào tạo, dạy nghề, việc làm, chăm sóc sức khoẻ, nhà ở, văn hoá, thể thao Sửa đổi, bổ sung chế độ trợ cấp xã hội dựa trên cơ sở tăng mức sống tối thiểu của toàn xã hội Thực hiện các chương trình, mục tiêu hướng ưu tiên vào đối tượng bảo trợ xã hội

Như vậy, nhận thức mới cơ bản của Đảng ta về chính sách ASXH là kết hợp giữa phát triển kinh tế và thực hiện chính sách ASXH, đảm bảo công bằng

xã hội; tạo cơ hội cho mọi người cùng phát triển và được thụ hưởng đầy đủ hơn các thành quả của phát triển và tăng trưởng kinh tế; phòng ngừa và khắc phục các rủi ro trong kinh tế thị trường và rủi ro xã hội khác; không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân

Đến Đại hội XI, thuật ngữ ASXH được nhắc đến nhiều lần trong Văn kiện, được xác định là một hệ thống chính sách xã hội trọng yếu, nội dung cơ bản trong chiến lược phát triển kinh tế - xã hội đất nước Điểm mới đáng lưu ý trong

kỳ đại hội này ASXH được khẳng định là sự cam kết, trách nhiệm của Đảng và Nhà nước thực hiện những cơ chế, chính sách, biện pháp trợ giúp, bảo vệ, giúp

đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương:

Trang 34

“ Thực hiện chế độ phân phối chủ yếu theo kết quả lao động, hiệu quả kinh tế, đồng thời theo mức đóng góp vốn cùng các nguồn lực khác và phân phối thông qua hệ thống an sinh xã hội, phúc lợi xã hội” [53, tr 35]; “Bảo đảm an sinh xã hội; tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là những đối tượng yếu thế, dễ bị tổn thương” [53, tr 43]

Nhất quán với những nội dung cơ bản trong Cương lĩnh năm 1991, Cương

lĩnh xây dựng và phát triển đất nước trong thời kỳ quá độ (Bổ sung, phát triển

năm 2011) có một số điểm mới quan trọng, xác định rõ hơn định hướng, như: Gắn nghĩa vụ với quyền lợi; cống hiến với hưởng thụ; lợi ích cá nhân với lợi ích tập thể và cộng đồng xã hội Tạo môi trường để mọi người lao động có việc làm tốt hơn Có chính sách tiền lương và chế độ đãi ngộ tạo động lực để phát triển; điều tiết hợp lý thu nhập trong xã hội Khuyến khích làm giàu hợp pháp đi đôi với xoá nghèo bền vững; giảm dần tình trạng chênh lệch giàu nghèo giữa các vùng, miền, các tầng lớp dân cư Một trong những định hướng lớn mà Đảng ta chỉ rõ phải thực hiện là: “Hoàn thiện hệ thống an sinh xã hội Thực hiện tốt chính sách đối với người có công và gia đình có công với nước” [53, tr 79]

Quan điểm, đường lối của Đảng về chính sách xã hội, đặc biệt là ASXH được nâng lên tầm cao mới, thể hiện toàn diện hơn trong Chiến lược phát triển kinh tế - xã hội 2011 - 2020 Đảng ta nêu định hướng mới về ASXH trong phát triển toàn diện, hài hòa các lĩnh vực văn hóa, xã hội với phát triển kinh tế, góp phần hoàn thiện hệ thống chính sách xã hội, kết hợp chặt chẽ các mục tiêu, chính sách kinh tế với các mục tiêu, chính sách xã hội; thực hiện tiến bộ và công bằng

xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển phù hợp với điều kiện cụ thể, bảo đảm phát triển nhanh, bền vững

Phát triển hệ thống an sinh xã hội đa dạng, ngày càng mở rộng và hiệu quả Phát triển mạnh hệ thống bảo hiểm như bảo hiểm xã hội, bảo

Trang 35

Khuyến khích và tạo điều kiện thuận lợi để người lao động tiếp cận và tham gia các loại hình bảo hiểm Thực hiện tốt các chính sách ưu đãi

và không ngừng nâng cao mức sống đối với người có công Mở rộng các hình thức cứu trợ xã hội, nhất là đối với các đối tượng khó khăn [53, tr 125]

Bảo đảm ASXH là một nội dung mới, được bổ sung, phát triển trong định hướng thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội đã từng được nêu trong các kỳ đại hội trước Bảo đảm ASXH được khẳng định ngay trong tiêu đề phần VII của Báo cáo chính trị trình Đại hội XI của Đảng: “Thực hiện có hiệu quả tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội trong từng bước và từng chính sách phát triển” [53, tr 227] Nhận thức mới của Đảng ta về ASXH là kết hợp hài hoà giữa phát triển kinh tế và thực hiện chính sách ASXH, đảm bảo tiến bộ và công bằng

xã hội; tạo cơ hội cho mọi người cùng phát triển và được thụ hưởng đầy đủ hơn các thành quả của phát triển và tăng trưởng kinh tế; phòng ngừa và khắc phục các rủi ro trong kinh tế thị trường và rủi ro xã hội khác; không ngừng nâng cao chất lượng cuộc sống của mọi người dân… Từ đây, có thể nhấn mạnh rằng, càng phát triển kinh tế thì xã hội ngày càng phải được an sinh Phát triển hệ thống ASXH phù hợp với phát triển kinh tế chính là thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và là một trong những tiêu chí của định hướng XHCN; trở thành yếu tố, động lực thúc đẩy tăng trưởng bền vững Đầu tư cho ASXH cũng chính là đầu tư cho con người, đầu tư cho phát triển

Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XI của Đảng đã thể hiện nhận thức mới trong chủ trương, đường lối xây dựng hệ thống ASXH với quan điểm bao trùm:

“…bảo đảm an sinh xã hội trong từng chính sách phát triển”[ 53, tr 227] phản ánh các bộ phận hợp thành trong nội hàm khái niệm ASXH: “Tiếp tục sửa đổi, hoàn thiện hệ thống bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, trợ giúp xã hội và cứu trợ xã hội đa dạng, linh hoạt, có khả năng bảo vệ, giúp đỡ mọi thành viên trong xã hội, nhất là các nhóm yếu thế, dễ bị tổn thương, vượt qua khó khăn hoặc các rủi ro trong đời sống”[ 53, tr 228]; đồng thời, “tập trung triển

Trang 36

khai có hiệu quả các chương trình xoá đói giảm nghèo ở vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn…huy động mọi nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn nữa đời sống vật chất và tinh thần của những người và gia đình có công Giải quyết dứt điểm các tồn đọng về chính sách người có công…”[53, tr 229] Quan điểm trên cho thấy, Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong việc đảm bảo ASXH, đồng thời mở rộng sự tham gia của các tổ chức chính trị, xã hội vào thực hiện ASXH dưới hình thức xã hội hóa Các bộ, ban, ngành, tùy theo chức năng của mình thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách của Nhà nước về ASXH, phối hợp liên ngành để thực hiện ASXH Đảm bảo ASXH cũng cần huy động sự tham gia tích cực của các cá nhân, tổ chức thiện nguyện và toàn thể cộng đồng Mở rộng hệ thống ASXH sẽ giúp tăng cường khả năng tiếp cận các dịch vụ công cộng của người dân, hướng tới bao phủ toàn dân Việc xây dựng hệ thống ASXH rộng mở với phát triển hệ thống ASXH đa dạng có mối quan hệ biện chứng hữu cơ Do đó, xây dựng hệ thống ASXH rộng mở phải gắn liền với việc phát triển đa dạng hệ thống ASXH vừa đảm bảo sự phát triển của xã hội, vừa tạo điều kiện phát triển đất nước, thúc đẩy TBXH

Trên cơ sở quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, các nhà nghiên cứu đã

có những nghiên cứu sâu thêm về ASXH Tác giả Nguyễn Hải Hữu cho rằng, ASXH là một hệ thống các cơ chế, chính sách, biện pháp của Nhà nước và xã hội nhằm trợ giúp mọi thành viên trong xã hội đối phó với các rủi ro, các cú sốc

về kinh tế - xã hội làm cho họ có nguy cơ suy giảm, mất nguồn thu nhập do ốm đau, thai sản, tai nạn, bệnh nghề nghiệp, già cả không còn sức lao động hoặc vì những nguyên nhân khách quan rơi vào hoàn cảnh nghèo khổ và cung cấp các dịch vụ sức khoẻ cho cộng đồng, thông qua hệ thống mạng lưới về bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội [76, tr 19]

Theo tác giả Hoàng Chí Bảo, ASXH là sự an toàn của cuộc sống con người,

từ cá nhân đến cộng đồng, tạo tiền đề và động lực cho phát triển con người và xã hội An sinh xã hội là những đảm bảo cho con người tồn tại (sống) như một con

Trang 37

người và phát triển các sức mạnh bản chất người, tức là nhân tính trong hoạt

động, trong đời sống hiện thực của nó như một chủ thể mang nhân cách [6, tr 8]

Trong công trình của mình, tác giả Mạc Văn Tiến và Mai Ngọc Cường cho

rằng, để thấy hết được bản chất, chúng ta phải tiếp cận ASXH theo cả nghĩa

rộng và nghĩa hẹp của khái niệm này Theo nghĩa rộng, ASXH là sự đảm bảo

thực hiện các quyền để con người được an bình, đảm bảo an ninh, an toàn trong

xã hội Theo nghĩa hẹp, ASXH là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng khi họ bị giảm hoặc mất thu nhập

do họ bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc mất việc làm; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, người bị thiên tai địch hoạ [122, tr 25-26; 23, tr 21-22]

Tổng hợp các ý kiến về ASXH, tác giả Mai Ngọc Cường nhấn mạnh rằng:

An sinh xã hội là sự đảm bảo thu nhập và một số điều kiện thiết yếu khác cho cá nhân, gia đình và cộng đồng trước những biến động về kinh tế, xã hội và tự nhiên làm cho họ bị giảm hoặc khả năng lao động hoặc mất việc làm, bị ốm đau, bệnh tật, hoặc tử vong; cho những người già cô đơn, trẻ em mồ côi, người tàn tật, những người yếu thế, những nạn nhân chiến tranh, những người bị thiên tai địch hoạ [23, tr 22]

Như vậy, cách tiếp cận của tác giả Mai Ngọc Cường về ASXH là theo nghĩa hẹp, đồng quan điểm với tác giả Mạc Văn Tiến và phù hợp với cách tiếp cận của Tổ chức Lao động thế giới (ILO)

Trong bài Bảo đảm ngày càng tốt hơn ASXH và phúc lợi xã hội là một nội

dung chủ yếu của Chiến lược phát triển kinh tế- xã hội 2011 - 2020, nguyên Thủ

tướng Nguyễn Tấn Dũng cho rằng, "an sinh xã hội và phúc lợi xã hội là hệ thống các chính sách và giải pháp nhằm vừa bảo vệ mức sống tối thiểu của người dân trước những rủi ro và tác động bất thường về kinh tế, xã hội và môi trường; vừa góp phần không ngừng nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

Trang 38

cho nhân dân" [40, tr 3] Khái niệm ASXH theo quan điểm của nguyên Thủ tướng Nguyễn Tấ n Dũng là khái niệm rộng, bao gồm một hệ thống các chính sách và chương trình do Nhà nước, các tổ chức xã hội và tư nhân thực hiện nhằm

hỗ trợ, nâng cao năng lực của cá nhân, hộ gia đình và cộng đồng quản lý rủi ro

do mất việc làm, tuổi già, ốm đau, rủi ro do thiên tai, chuyển đổi cơ cấu, khủng hoảng kinh tế, dẫn đến mất thu nhập và giảm khả năng tiếp cận đến hệ thống dịch vụ xã hội cơ bản Trong đó, dưới sự quản lý, điều hành, trợ giúp của Nhà nước thông qua một hệ thống các cơ chế, chính sách, các giải pháp công…được thực hiện một cách đồng bộ, phổ biến, đầy đủ sẽ là cơ hội tốt nhất giúp mọi thành viên trong xã hội đều có điều kiện tiếp cận bình đẳng với các nguồn lực phát triển, các dịch vụ xã hội, từ đó tạo tiền đề cho việc thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội trong một xã hội còn nhiều khó khăn như Việt Nam hiện nay

Cuốn Thuật ngữ An sinh xã hội Việt Nam của Viện Khoa học và Lao động

xã hội (ILSSA) phối hợp với Dự án Hỗ trợ giảm nghèo ở Việt Nam, do Tổ chức GIZ thực hiện dưới sự uỷ quyền của Bộ Hợp tác Kinh tế và Phát triển Đức (BMZ) xây dựng, xuất bản năm 2011, định nghĩa: ASXH là hệ thống các chính sách can thiệp của nhà nước (bảo hiểm xã hội/trợ giúp xã hội) và tư nhân(các chế

độ không theo luật định hoặc của tư nhân) nhằm giảm mức độ nghèo đói và tổn thương, nâng cao năng lực tự bảo vệ của người dân và xã hội trước những rủi ro hay nguy cơ giảm hoặc mất thu nhập, bảo đảm ổn định, phát triển và công bằng

xã hội [125, tr 10]

Từ những quan điểm nêu trên, theo chúng tôi, có thể định nghĩa: An sinh xã

hội là mạng lưới các chương trình, hệ thống chính sách cụ thể từ nhà nước hoặc các tổ chức xã hội nhằm trợ giúp, hỗ trợ, bảo vệ cá nhân và toàn xã hội, đặc biệt

là các cá nhân gặp phải rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, bảo đảm mức sông tối thiểu và góp phần nâng cao đời sống của họ, từ đó, thúc đẩy sự phát triển và tiến bộ xã hội

Về bản chất, ASXH là sự bảo vệ của xã hội đối với các cá nhân;

Trang 39

Về vai trò, ASXH trước hết trợ giúp, hỗ trợ, bảo vệ, bảo đảm cuộc sống tối

thiểu và tiếp đó là thúc đẩy sự phát triển của cá nhân và toàn xã hội thông qua hệ thống chính sách

Về chức năng, ASXH tạo ra mạng lưới, “giá đỡ” an toàn cho các thành viên

xã hội bao gồm chức năng phòng ngừa rủi ro, giảm thiểu rủi ro và khắc phục rủi

ro An sinh xã hội là sự đảm bảo thu nhập và đời sống trong trường hợp người dân gặp phải các rủi ro hay khó khăn trong cuộc sống, với phương thức hoạt động là thông qua các chương trình, chính sách cụ thể từ Nhà nước hoặc các lực lượng xã hội khác nhằm đảm bảo cuộc sống của mỗi cá nhân và toàn xã hội

Về mục đích, ASXH hướng đến sự phát triển bền vững, thúc đẩy TBXH

trên cơ sở đảm bảo thực hiện được công bằng xã hội

Có thể thấy rằng, ASXH trong bản chất của nó mang tính nhân văn sâu sắc,

dù rằng bản chất ấy thể hiện trong các chế độ khác nhau có khác nhau

2.1.1.2 Nội dung của an sinh xã hội

Cùng với quá trình phát triển kinh tế - xã hội, diện bảo vệ và che chắn của

hệ thống ASXH ngày càng được mở rộng, nội dung của ASXH ngày càng phong phú thì chính sách ASXH ngày càng hoàn thiện Bởi vì, chỉ có những chính sách đúng đắn và hợp lòng dân thì việc tổ chức hệ thống ASXH ngày càng hoàn thiện cao, hiệu quả

Chính sách ASXH là trụ cột của hệ thống chính sách xã hội, là một trong những chính sách xã hội cơ bản của quốc gia hướng vào bảo vệ, bảo đảm an toàn cho các thành viên trong xã hội trong các trường hợp rủi ro dẫn đến bị giảm hoặc bị mất thu nhập, hoặc phải tăng chi phí đột xuất do nhiều nguyên nhân khác nhau

Xu hướng chung của các nước trên thế giới ngày nay là lựa chọn mô hình hệ thống ASXH hoàn chỉnh và hiệu quả, kết hợp đề cao trách nhiệm của cá nhân, cộng đồng và nhà nước Đó là một hệ thống ASXH đa tầng, linh hoạt và

có thể hỗ trợ lẫn nhau, bảo đảm phòng ngừa, giảm thiểu và khắc phục được các rủi ro cho mọi người, không một ai bị gạt ra bên lề xã hội

Trang 40

An sinh xã hội có một cấu trúc rất phong phú, đa dạng Cho đến nay, bàn về cấu trúc của hệ thống ASXH còn nhiều ý kiến, quan điểm khác nhau, chưa đi đến thống nhất Có nơi chỉ nêu hai hợp phần chính là: BHXH và BHYT Có nơi đặt ra ba hợp phần là: bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế và trợ giúp xã hội Cũng có nơi nêu lên bốn hợp phần là: Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp và trợ giúp xã hội [xem 23, tr.40; 105, tr.16; 122, tr 14-18…]

Liên hợp quốc cho rằng, hệ thống ASXH bao gồm các bộ phận cấu thành (các trụ cột) cơ bản sau đây: Hệ thống BHXH (hưu trí, BHYT, chế độ trợ cấp, BHXH ngắn hạn); hệ thống trợ giúp xã hội (trợ cấp xóa đói, giảm nghèo, hỗ trợ nhóm yếu thế ); hệ thống trợ cấp xã hội chung (trợ cấp gia đình, dịch vụ

y tế công cộng, trợ cấp người cao tuổi ); hệ thống trợ cấp tư nhân Đồng thời, theo Liên hợp quốc khi xây dựng hệ thống ASXH cần tuân thủ các nguyên tắc

cơ bản là: Toàn dân (quyền cho mọi người); chia sẻ (gắn bó, đoàn kết, liên

kết, tương trợ, bù đắp); công bằng và bền vững (trách nhiệm và quyền lợi,

đóng góp và hưởng lợi); tăng cường trách nhiệm các chủ thể (thúc đẩy nỗ lực

của các chủ thể)

Ủy ban Kinh tế - Xã hội khu vực châu Á - Thái Bình Dương của Liên hợp quốc (ESCAP) đưa ra mô hình khái quát về cấu trúc hệ thống ASXH gồm hai

cấp độ: cấp độ cơ bản là BHXH và cấp độ thứ cấp là bảo trợ xã hội Nhiều nhà

khoa học của các nước ASEAN đã đưa ra khái niệm mở rộng về ASXH với hệ thống ASXH bao gồm: Hệ thống BHXH và tiết kiệm; trợ giúp xã hội và những dịch vụ xã hội (trợ cấp); chính sách thị trường lao động (bao gồm cả thị trường lao động tích cực và thụ động)

Trên cơ sở quan điểm của Đảng Cộng sản Việt Nam, kế thừa các quan niệm

về cấu trúc của hệ thống ASXH, theo chúng tôi, hệ thống ASXH ở Việt Nam

gồm các trụ cột: Hệ thống bảo hiểm (Bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm hưu trí bổ sung do Chính phủ quy định…); trợ giúp xã hội (trợ cấp xã hội, chương trình xoá đói giảm nghèo ); ưu đãi xã hội (ưu đãi người

Ngày đăng: 16/05/2016, 15:13

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w