1. Trang chủ
  2. » Nông - Lâm - Ngư

Dánh giá cây TRỒNG, vật NUÔI bản địa có lợi THẾ HÀNG hóa đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số TỈNH ĐĂKLĂK

34 890 3

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 34
Dung lượng 318 KB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Riêng đối với các hộ đồng bào dân tộcthiểu số, Đăk Lăk quan tâm đẩy nhanh việc thực hiện các chính sách, như:Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển

Trang 1

NỘI DUNG 1 ĐÁNH GIÁ THỰC TRẠNG CÂY TRỒNG, VẬT NUÔI BẢN ĐỊA CÓ LỢI THẾ HÀNG HÓA ĐỐI VỚI ĐỒNG BÀO DÂN TỘC

THIỂU SỐ TỈNH ĐĂKLĂK

1 Khái quát thực trạng kinh tế- xã hội của đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk

1.1 Thực trạng nhân khẩu và phân bố dân cư

1.1.1 Số lượng dân tộc trên địa bàn tỉnh.

Nằm ở vị trí trung tâm cao nguyên Nam Trung Bộ (còn gọi là TâyNguyên) Đăk Lăk có tổng diện tích tự nhiên là 1.953.546 ha, là tỉnh có quy môdiện tích lớn nhất nước Địa giới hành chính của tỉnh Đăk Lăk được xác địnhbởi: Phía Bắc giáp tỉnh Gia lai, phía Tây giáp Cam pu chia với biên giới dài240km, phía Đông giáp tỉnh Phú Yên và Khánh Hòa, phía Nam giáp tỉnh LâmĐồng và Bình Phước Toàn tỉnh được chia thành 18 đơn vị hành chính trựcthuộc bao gồm 17 huyện và một thành phố cấp tỉnh là Buôn Ma Thuột

Hiện nay, dân số của tỉnh có trên 1.847 ngàn người người, mật độ dân sốđạt trên 137 người/km² với 47 dân tộc Người Kinh chiếm trên 70%; các dântộc thiểu số như Ê Đê, M'nông, Thái, Tày, Nùng chiếm gần 30% dân số toàntỉnh trong đó chủ yếu là đồng bào dân tộc tại chỗ (cư dân bản địa) và đồng bàodân tộc từ các tỉnh phía Bắc di cư tự do, ngoài ra còn một số dân tộc khác đếnlàm ăn sinh sống, đi lẻ với số lượng không lớn Trong số đồng bào dân tộc tạichỗ có 3 dân tộc chiếm số lượng lớn là Ê đê, Giarai, M’nông, trong đó dân tộc

Ê đê chiếm 49%; dân tộc Nùng chiếm 9,2%; dân tộc Tày chiếm 9,0%, còn lại làcác dân tộc Cơ Ho, X’Tiêng, Phù Lá, Khơ Mú, Mạ, Giấy, La Hủ, Lự, Chút Dân số nông thôn ở Đăk Lăk chiếm trên 80% dân số toàn tỉnh Đồng bào dântộc cư trú rải rác ở khắp các địa phương, trong đó cư trú chủ yếu ở nông thôn, ởvùng sâu, vùng xa

1.1.2 Dân tộc thiểu số, phân bố và đặc điểm tập quán của đồng bào dân tộc

Thành phần dân tộc ở Đăk Lăk rất đa dạng và phức tạp, mỗi dân tộc ởĐăk Lăk, kể cả dân tộc đông người, bao gồm từ nhiều nhóm địa phương hợp

Trang 2

thành Mỗi nhóm này có tên gọi riêng, có những yếu tố ngôn ngữ và sinh hoạtvăn hóa riêng tồn tại cho đến tận ngày nay Trong các buôn làng có sự pha trộn

về huyết thống, thường là giữa người Ê đê và M’nông, Ê đê và Giarai, Hrê vàBana, Giarai và Chăm Các dân tộc đông người như Ê đê, Giarai và M’nôngthường quy tụ vào một số địa bàn cư trú nhất định trong mỗi vùng còn các dântộc ít người khác cư trú phân tán, thường là ở những vùng giáp ranh

Sự phân bố dân cư các dân tộc bản địa ở Đăk Lăk mang tính tộc người,trải qua quá trình lịch sử đã hình thành nên những “lãnh thổ tộc người”, do nhucầu sản xuất, sinh hoạt và tự vệ Trong “lãnh thổ tộc người” này hình thành nênnhững cụm dân cư Mỗi cụm dân cư là một buôn làng Các buôn làng mangtính khép kín, tổ chức tự quản và hoàn toàn độc lập với nhau về mọi mặt: kinh

tế, văn hóa, tổ chức sinh hoạt xã hội

Điều kiện sống của đồng bào dân tộc nhìn chung là khó khăn Ở nhữngvùng đồng bào dân tộc cư trú tập trung, đặc biệt là vùng sâu, vùng xa, giaothông không thuận lợi cho việc đi lại, làm ăn sinh sống và giao lưu văn hóa Vềmùa mưa, đường sá đi lại lầy lội, ô tô không thể vào tới xã, do vậy vào mùa này

ở vùng sâu, vùng xa gần như cách biệt với bên ngoài, sản phẩm làm ra khó tiêuthụ Hệ thống thủy lợi ở đây còn lạc hậu, về mùa khô nguồn nước không đápứng đủ nhu cầu sản xuất và sinh hoạt gây ảnh hưởng không nhỏ đến quá trìnhsản xuất các nông sản trên địa bàn tỉnh

Đồng bào dân tộc thiểu số hầu hết sống theo kiểu tự túc tự cấp, ít giaolưu buôn bán, trao đổi với bên ngoài Sản xuất hàng hóa mới chỉ đang hìnhthành ở một số vùng đã định canh định cư ổn định và vùng định cư, luân canh.Mặc dù điều kiện sống có nhiều khó khăn, song vùng đồng bào dân tộc cư trú ởĐăk Lăk còn đang chứa đựng nhiều tiềm năng lớn về đất đai và lao động chưađược khai thác Ở đây có thể xây dựng những vùng chuyên chuyên sản xuất:lâm sản, cây công nghiệp (cà phê, cao su, hồ tiêu ), cây lương thực hoa màu,chăn nuôi đàn gia súc, phát triển nghề rừng Mặc dù vậy, hiện tại, do vốn đầu tưsản xuất và xây dựng kết cấu hạ tầng ở vùng đồng bào dân tộc còn nhỏ, cho nênkhả năng tổ chức cho đồng bào sản xuất theo công nghệ tiên tiến, hiện đại cònrất hạn chế Điều đó cản trở việc khai thác những tiềm năng về cây trông vậtnuôi có lợi thế hàng hóa ở vùng đồng bào dân tộc tỉnh Đăk Lăk

Trang 3

1.2 Thực trạng phát triển kinh tế

1.2.1 Tăng trưởng kinh tế và thu nhập bình quân

Kinh tế của tỉnh trong thời gian qua duy trì được tốc độ tăng trưởng khácao và tương đối ổn định; cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng, song mức độchuyển dịch cơ cấu kinh tế giữa các ngành và trong nội bộ ngành chưa cao.Tăng trưởng tổng giá trị sản phẩm bình quân hàng năm giai đoạn 2005 - 2012đạt 12,1% Riêng trong năm 2014, tổng sản phẩm xã hội đạt khoảng 37.700 tỷđồng, tăng 9,2% so với thực hiện năm 2013, đạt 99,4% KH Trong đó: Giá trịngành nông, lâm, thủy sản 16.420 tỷ đồng; Giá trị ngành công nghiệp - xâydựng 6.440 tỷ đồng; Giá trị ngành dịch vụ 14.840 tỷ đồng

Cơ cấu kinh tế năm 2014 (theo giá hiện hành): Nông, lâm, thủysản 45%, công nghiệp - xây dựng 16,7% , dịch vụ 38,3% Thu nhập bình quânđầu người theo giá hiện hành 31,4 triệu đồng/năm; Huy động vốn đầu tư toàn

xã hội khoảng 13.500 tỷ đồng, bằng khoảng 23,3% tổng sản phẩm xã hội Tổngmức lưu chuyển hàng hóa trên địa bàn 49.425 tỷ đồng, tăng 29,8% so với thựchiện năm 2013 Về phát triển hạ tầng, thuỷ lợi bảo đảm tưới chủ động cho 76%diện tích cây trồng có nhu cầu tưới, cải tạo, nâng cấp nhựa hoặc bê tông hóa95% các tuyến đường tỉnh, 73% hệ thống đường huyện, 38% đường xã và liên

xã, có 95% số thôn, buôn có điện, trong đó có 96,8% số hộ được dùng điện

1.2.2 Thực trạng nghèo đói và xóa đói giảm nghèo

a Thực trạng nghèo đói ở tỉnh Đăk Lăk

Ở Đăk Lăk đồng bào dân tộc thiểu số chiếm tỉ lệ khá cao (khoảng 30%) dân số,các hộ nghèo nằm rải rác ở các huyện trên toàn tỉnh Theo thống kê, tỷ lệ hộ nghèotrong đồng bào dân tộc thiểu số giảm nhanh trong mấy năm gần đây, giảm từ48,26% năm (năm 2005) xuống còn 14,98%/năm (năm 2010), và khoảng 12,75%(năm 2014, giảm 2,1% so với năm 2013 trong đó các huyện nghèo, khó khăn giảm3%), đến cuối năm 2015, tỷ lệ hộ nghèo trên địa bàn tỉnh giảm xuống còn 7%, tỷ lệ hộcận nghèo giảm còn 7,2%

Trong năm 2014, tổng số hộ nghèo của tỉnh là 41.593 hộ, chiếm 10,02%(giảm 8.841 hộ, tương ứng 2,24% so với năm 2013) Trong đó, dân tộc thiểu số tạichỗ 14.467 hộ, dân tộc thiểu số khác 10.688 hộ, còn lại là dân tộc Kinh Toàn tỉnhhiện còn 31.724 hộ cận nghèo, chiếm 7,64% (giảm 444 hộ cận nghèo, tương ứng

Trang 4

0,19% so với năm 2013) Những địa phương có tỷ lệ hộ nghèo cao là Ea Súp29,32%, kế đến là Buôn Đôn 26,22%, Lak 21,18%, Krông Bông 18,94%, M’Drăk17,12%

Tỷ lệ hộ nghèo khá khác biệt nhau giữa các khu vực, nơi có tỷ lệ hộ nghèo thấpnhất là TP Buôn Mê Thuột, nơi có tỷ lệ hộ nghèo cao nhất là huyện Krông Ana,Buôn Đôn, huyện EaSoup, cụ thể như sau:

Bảng 1 Thực trạng hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số phân theo huyện

TT Đơn vị

Tổng

số hộ toàn tỉnh (hộ)

Hộ đồng bào DTTS (hộ)

Hộ ĐBDTTS nghèo (hộ)

Tỷ lệ hộ nghèo ĐBDTTS (%)

Tổng số

hộ toàn tỉnh (hộ)

Hộ đồng bào DTTS (hộ)

Hộ ĐBDTTS nghèo (hộ)

Tỷ lệ hộ nghèo ĐBDTTS (%)

Trang 5

Nguồn: Sở Lao động Thương binh Xã hội tỉnh ĐắkLắk.

Nguyên nhân để có sự khác biệt như vậy là do điều kiện tự nhiên, kết cấu

hạ tầng Một số huyện như: Eakar, Buôn Mê Thuột, KrôngPắc là những huyện

có đất bazan phát triển cây công nghiệp như cà phê, cao su do vậy tỷ lệ hộnghèo thấp hơn các huyện khác không có điều kiện phát triển các cây côngnghiệp hàng hóa như huyện Lắk, EaSoup Tỷ lệ đói nghèo tập trung theo khuvực là điều rất rõ ràng, điều này ảnh hưởng đến khoảng cách chênh lệch giữacác khu vực của tỉnh, thể hiện sự mất cân đối trong quá trình phát triển kinh tế -

xã hội của tỉnh Tuy nhiên nó cũng là một điều kiện thuận lợi để ta khoanhvùng nghèo đưa ra những chiến lược phát triển kinh tế xã hội hữu hiệu, nhữnggiải pháp giảm nghèo đặc dụng đối với từng địa phương, có như vậy công cuộcgiảm nghèo mới nhanh đạt kết quả cao

Song song đó, tỷ lệ hộ nghèo giữa các dân tộc thiểu số cũng có sự khácbiệt Qua quá trình điều tra cho thấy ngoài sự khác biệt về vùng, khu vực khálớn về tỷ lệ hộ nghèo thì thực tế cho thấy trong số 47 dân tộc cũng có sự phâncách khác biệt rõ rệt Các dân tộc di cư từ ngoài Bắc vào có cuộc sống khá hơn,

tỷ lệ hộ nghèo của họ thấp hơn với các dân tộc tại chỗ như Ê đê, M’Nông.Những dân tộc mới vào, một số hộ nghèo tự thoát ra cảnh nghèo đói, họ tìmđến các nhóm dân tộc có trình độ sản xuất cao hơn, giỏi làm kinh tế để học hỏikinh nghiệm Họ mạnh dạn vay vốn để phát triển sản xuất Các dân tộc Ê đê,M’Nông rất ít tham gia vào các hoạt động kinh tế thị trường, tâm lý của họquen sống dựa vào điều kiện tự nhiên, an phận, dễ thỏa mãn các nhu cầu Tớithời điểm này, tổng số hộ nghèo chung của tỉnh Đăk Lăk là 50.334 hộ, chiếm12,26% dân số; hộ cận nghèo là 32.168 hộ, chiếm 7,83% số hộ Trong đó hộnghèo trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số là 30.716 hộ, chiếm 61% số hộnghèo toàn tỉnh, hộ cận nghèo là 13.742 hộ, chiếm 42,71% số hộ nghèo chung

Nhìn chung, tỷ lệ hộ nghèo theo chuẩn nghèo giai đoạn 2011 – 2015 vẫncòn khá cao so với cả nước, nguyên nhân của tình trạng này phải kể đến một sốnguyên nhân cơ bản như: thiếu nguồn lực cho sản xuất (đất đai, vốn, lao động,

kỹ thuật), thiếu các phương tiện sản xuất (máy gặt đập, công nông, máy bơmnước, máy xay xát), lao động lành nghề ít, năng suất lao động thấp, thiếu nguồnvốn vay, cơ sở hạ tầng kém phát triển…

b Thực trạng công tác xóa đói giảm nghèo tại tỉnh Đăk Lăk

Trang 6

Những năm qua, công tác giảm nghèo đã đạt được nhiều kết quả đáng kể,công cuộc giảm nghèo đã được nhân dân trong tỉnh ủng hộ và tích cực tham giatrong quá trình phát triển kinh tế - xã hội Tỉ lệ hộ nghèo giảm khá nhanh, số hộtái nghèo hoặc cận nghèo không tăng Riêng đối với các hộ đồng bào dân tộcthiểu số, Đăk Lăk quan tâm đẩy nhanh việc thực hiện các chính sách, như:Chương trình 135 về hỗ trợ đầu tư phát triển cơ sở hạ tầng, hỗ trợ phát triển sảnxuất; Chính sách cho vay vốn sản xuất đối với hộ đồng bào dân tộc thiểu số đặcbiệt khó khăn theo Quyết định số 54/2012/QĐ-TTg; Chính sách hỗ trợ trực tiếpcho người dân thuộc hộ nghèo vùng khó khăn theo Quyết định số102/2009/QĐ-TTg…

Triển khai Chương trình 135, Quyết định 102, Đăk Lăk đã giải ngânđược 12 tỷ 275 triệu đồng xây dựng đường giao thông nông thôn, nhà sinh hoạtcộng đồng, kênh mương thủy lợi; 103.919 khẩu được hỗ trợ bằng hiện vật, vớikinh phí trên 10 tỷ 842 triệu đồng; hỗ trợ bằng tiền mặt cho 10.735 khẩu, kinhphí trên 1 tỷ 341 triệu đồng Riêng chính sách cho vay vốn sản xuất đối với hộđồng bào dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn, tổng dư nợ hiện nay là gần 5 tỷđồng, với trên 600 hộ được vay… Chính từ đó nhiều hộ đồng bào dân tộc thiểu

số đã thoát nghèo, bảo đảm an sinh xã hội, giữ vững an ninh chính trị, trật tự antoàn xã hội trong khu vực

Trong năm 2015, tỉnh đã triển khai kịp thời các chương trình, chính sách

hỗ trợ hộ nghèo, hộ cận nghèo Cụ thể, đã giải ngân vốn tín dụng ưu đãi cho36.503 lượt hộ nghèo, cận nghèo và các đối tượng chính sách khác được vayvới số tiền hơn 724,5 tỷ đồng; tổ chức tập huấn, hội thảo, hướng dẫn cách làm

ăn cho 1.200 lượt hộ; cấp thẻ BHYT miễn phí cho 546.317 người nghèo, cậnnghèo và người dân tộc thiểu số thuộc xã có điều kiện kinh tế - xã hội khókhăn, đặc biệt khó khăn; hỗ trợ tiền điện cho 51 nghìn hộ với kinh phí 28 tỷđồng; trợ giúp pháp lý miễn phí cho 1.676 lượt người nghèo Bên cạnh đó, hộnghèo thuộc các xã đặc biệt khó khăn còn được hỗ trợ xây dựng mô hình giảmnghèo; cấp đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt; hỗ trợ di dân thực hiện địnhcanh, định cư cho đồng bào dân tộc thiểu số; hỗ trợ trực tiếp cho người dânthuộc hộ nghèo vùng khó khăn theo Quyết định số 102/2009/QĐ-TTg của Thủtướng Chính phủ…

Tại huyện M’Đrăk, các chính sách dân tộc được triển khai rất hiệu quả,

Trang 7

đời sống của bà con được nâng lên Từ năm 2011 đến nay, từ nguồn vốn củaChương trình 135, huyện đã đầu tư xây dựng 59 hạng mục công trình cho các

xã, thôn đặc biệt khó khăn với tổng kinh phí trên 24,4 tỷ đồng; hỗ trợ giống câytrồng, vật nuôi phát triển sản xuất cho các hộ đồng bào dân tộc thiểu số vớitổng số tiền 5,9 tỷ đồng; hỗ trợ vệ sinh môi trường, trợ giúp pháp lý, đào tạo,bồi dưỡng cán bộ cộng đồng với số tiền trên 6,9 tỷ đồng Đáng chú ý, huyện đãhoàn thành việc cấp đất ở cho 185 hộ, cấp đất sản xuất cho 664 hộ và cấp nướcsinh hoạt cho 1.356 hộ Với rất nhiều nỗ lực, lệ hộ nghèo trong đồng bào dântộc thiểu số tại huyện M’Đrăk từ 49,24% đầu năm 2011, xuống còn 27,84 %cuối năm 2014 (bình quân giảm 5,35%/năm)

Tại huyện Ea H’leo, công tác xóa đói giảm nghèo được triển khai đồng

bộ, bài bản, với sự tham gia của cả hệ thống chính trị Cho tới hết năm 2014,toàn huyện còn 2.424 hộ nghèo Như vậy trong vòng 10 năm huyện đã giảmđược gần 9.000 hộ nghèo Riêng trong 4 năm (2010-2014), giảm 3.601 hộ đưa

tỷ lệ hộ nghèo từ 22,48% đầu năm 2011 xuống còn 8,26% vào cuối năm 2014,bình quân mỗi năm giảm 3,6% hộ nghèo (chỉ tiêu là 3%) Toàn huyện phấn đấucuối năm 2015 số hộ nghèo giảm dưới 7% Tổng kết 10 năm thực hiện công tácgiảm nghèo (2006-2015), huyện M’Đrăk đã đề ra giải pháp nhằm đạt mục tiêuđưa tỷ lệ hộ nghèo giảm xuống dưới 2% vào cuối năm 2020 (theo tiêu chuẩnnghèo hiện nay) và dự kiến xuống dưới 7% (theo chuẩn nghèo mới)

Bên cạnh những kết quả đạt được, hiện tại, công tác xóa đói giảm nghèocủa tỉnh vẫn còn tồn tại nhiều hạn chế, kết quả giảm nghèo chưa vững chắc, tỷ

lệ hộ nghèo vẫn còn rất cao so với bình quân chung của cả nước (tỉ lệ nghèo đóicủa cả nước trong năm 2015 dưới 5%), tỷ lệ hộ thoát nghèo hàng năm thấp và

số hộ tái nghèo, cận nghèo còn ở mức cao Đặc biệt, tỉ lệ chênh lệch giàunghèo giữa các vùng, nhóm dân cư chưa được thu hẹp, nhất là các xã có ngườiđồng bào dân tộc thiểu số sinh sống chiếm tỷ lệ cao, tỷ lệ hộ nghèo người dântộc thiểu số và vùng nông thôn giảm chậm Để khắc phục tình trạng này, bêncạnh việc triển khai đồng bộ các chính sách xóa đói giảm nghèo thì tỉnh cũngcần tập trung hỗ trợ và hướng dẫn các đồng bào dân tộc phát triển các tiềmnăng và thế mạnh sẵn có nhất là trong việc sản xuất các cây trồng, vật nuôi bảnđịa có lợi thế hàng hóa trên địa bản tỉnh

Trang 8

2 Xác định các cây trồng, vật nuôi và mô hình cây trồng, vật nuôi bản địa có lợi thế hàng hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đắk Lắk

2.1 Điều tra, đánh giá và xác định những cây trồng, vật nuôi bản địa có lợi thế hàng hóa

2.1 Điều tra, đánh giá và xác định những cây trồng bản địa có lợi thế hàng hóa

Đăk Lăk là tỉnh trung tâm cao nguyên Trung bộ, có tiềm năng lớn về pháttriển các loại cây trồng, đặc biệt là cây ăn quả và cây công nghiệp Toàn tỉnh có300.000 ha đất đỏ bazan, đã trồng trên 250.000 ha cây dài ngày các loại Cây chủlực là cà phê, cao su, điều, hồ tiêu và cây ăn quả khác

Theo Tổng cục thống kê, bên cạnh một số cây trồng truyền thống có lợi thếnhư cà phê, điều, tiêu thì hiện tại trên địa bàn tỉnh Đăklăk có một số loại cây códiện tích và năng suất cao cụ thể như sau:

Bảng 1: Bảng sản lượng và diện tích cây trồng bản địa ở Đăk Lăk

giai đoạn 2010 – 2014

Cây bản

địa

Sản lượng (ĐVT: Nghìn tấn

Diện tích (ĐVT:Nghìn ha) Năm

2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Sơ bộ năm 2014

Năm 2010

Năm 2011

Năm 2012

Năm 2013

Sơ bộ năm 2014

Cà phê 399,1 487,7 465,0 452,4 444,1 1,9 2,0 2,0 2,03 2,04 Mía 780,1 1005,7 954,1 1158,4 1134,8 12,9 16,1 16,1 17,6 17,1 Sắn 479,0 610,0 472,8 571,3 642,2 25,9 32,0 25,7 29,3 31,4

Ngô 218,7 207,7 208,3 212,4 216,6 115,7 116,0 119,6 123,0 121,1 Lúa 450,7 474,3 490,6 514,1 575,3 80,1 84,5 87,4 90,3 95,0

Nguồn: Tổng Cục thống kê hàng năm

Từ bảng số liệu trên có thể rút ra một số nhận xét đánh giá về lợi thế của cáccây trồng bản địa trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk như sau:

- Cây cà phê: Cà phê là một trong những cây trồng có thế mạnh của Tây

Nguyên, trong đó Đắk Lắk là tỉnh có diện tích cà phê lớn nhất nước với trên 200nghìn ha, sản lượng hàng năm đạt 437,6 nghìn tấn tấn cà phê nhân Từ lâu, cà phê

Trang 9

Tây Nguyên đã được thế giới biết đến và được đánh giá có chất lượng cao Cà phêViệt Nam hiện đang có mặt hơn 80 quốc gia và vùng lãnh thổ Khi cà phê là mặthàng xuất khẩu có giá trị thì cuộc sống của những người trồng cà phê, kinh doanh

và làm dịch vụ cho cà phê thay đổi hẳn Nhiều người trở thành tỷ phú nhờ trồng càphê hoặc chế biến, kinh doanh sản phẩm của nó Giá trị kinh tế từ cây cà phê manglại rất lớn giúp giải quyết tốt các vấn đề về kinh tế, đời sống, việc làm Một hec-ta

cà phê kinh doanh loại tốt nếu đầu tư đúng mức có thể thu hoạch được từ 18 đến

20 tấn cà phê quả tươi, tương đương với 4 đến 4,5 tấn cà phê nhân Tuy nhiên để

có được một tấn cà phê, vốn đầu tư ban đầu rất lớn, trong đó chi phí cho khâu tướichiếm một tỉ trọng không nhỏ, bình quân mỗi hecta trồng 1.100 gốc cà phê, mỗigốc mỗi lần tưới từ 200 đến 300 lít nước, mỗi mùa cây cà phê được tưới ít nhất 5lần trong khi ở Đăk Lăk thường xảy ra tình trạng hạn hán keo dài Như vậy, việctrồng cây cà phê đòi hỏi chi phi đầu tư cho sản xuất cao, do vậy các đồng bào dântộc, nhất là các hộ nghèo sẽ gặp khó khăn trong việc huy động vốn trong việc sảnxuất và kinh doanh giống cây này

- Cây mía: Mía là nguồn nguyên liệu liệu chính của ngành công nghiệp chế

biến đường Mía là cây đa dụng, ngoài sản phẩm chính là đường, cây mía còn lànguyên liệu hoặc trực tiếp hoặc gián tiếp của nhiều ngành công nghiệp, thực phẩm,dược phẩm…Cây mía đã gắn bó và phát triển trên vùng Đăk Lăk từ nhữngnăm 1990 và được xem là cây trồng thoát nghèo, giúp nhiều hộ nông dân vươn lênlàm giàu bởi hiệu quả kinh tế mà nó mang lại Hàng năm, sản lượng mía ở ĐăkLăk đạt trên 1.100 nghìn tấn mía với diện tích là 17,1 nghìn ha Tuy nhiên việctrồng mía gặp rất nhiều rủi ro như như hạn hán, sâu bệnh làm cho năng suất, sảnlượng mía ngày càng sụt giảm khiến người trồng gặp khó khăn Đặc biệtkhoảng 4 năm trở lại đây, khâu tiêu thụ mía còn tồn tại nhiều bất cập, thiếu đầu ratrong khi giá mía liên tục giảm khiến việc sản xuất kinh doanh mía của các hộ dântại Tây nguyên đang lâm vào tình trạng khó khăn Do vậy, trong thời gian tới, tỉnhĐăk Lăk cần tăng cường hơn nữa việc kiểm soát số diện tích mía trên địa bàn, hạnchế việc người dân mở rộng khi chưa tìm được đầu ra cho sản phẩm; bên cạnh đócần có chính sách hỗ trợ trong khâu tiêu thụ sản phẩm mía trên địa bàn tỉnh

- Cây sắn: Sắn là loại cây dễ trồng, không kén đất và chịu hạn tốt rất thích

hợp canh tác tại các vùng chưa có thủy lợi đặc biệt ở các vùng đồi dốc Mặt khác

dù giá sắn lúc trầm lúc bổng nhưng vẫn hiệu quả hơn cây mía do đầu tư chi phí

Trang 10

thấp Chính vì vậy, cũng như nhiều địa phương trong cả nước, những năm qua tạitỉnh Đăk Lăk diện tích cây sắn không ngừng được mở rộng, từ chỗ chỉ hơn chụcngàn ha mỗi năm, đến nay đã đạt 31,4 nghìn ha Tính bình quân trong 5 năm qua(2010 – 2014) diện tích sắn trung bình hàng năm đạt khoảng 27 nghìn ha, tổng sảnlượng trung bình mỗi năm 554,8 nghìn tấn, trong đó năm 2014 diện tích sắn củatỉnh này lên tới 31.4 nghìn ha với sản lượng là 642.2 nghìn tấn Diện tích trồng sắntại Đăk Lăk mở rộng phi mã đã thúc đẩy 4 nhà máy chế biến tinh bột sắn ra đời.Trong đó 2 nhà máy thuộc sở hữu Cty CP Lương thực vật tư nông nghiệp Đăk Lăk,một cái đặt tại xã Ea Sô, huyện Ea Kar, nhà máy thứ hai xây dựng tại huyện KrôngBông, ngoài ra còn có nhà máy của Cty TNHH Thành Vũ xây dựng tại huyện EaH’leo và Nhà máy chế biến tinh bột sắn Quán Quân, tại xã Ea Kiết, huyện CưM’Gar Tổng công suất của 4 nhà máy là 86.000 tấn tinh bột/năm, nhu cầu lượngsắn nguyên liệu hàng năm lên tới 300 – 350 ngàn tấn Do vậy, sắn của người dânĐăk Lăk làm ra đến đâu được các nhà máy thu mua hết đến đó Tuy nhiên, theocác nhà chuyên môn, nếu phát triển cây nguyên liệu sắn trên diện tích lớn sẽ là tácnhân gây nên tình trạng sa mạc hóa tài nguyên đất, xói mòn, lũ lụt cục bộ làm ảnhhưởng đến môi trường Rễ sắn lấy các chất hữu cơ trong đất và thải ra một loại axít

có hại cho cây trồng, đồng thời làm chai cứng nền đất, hủy diệt các loại vi sinh vật

có lợi Nếu canh tác liên tục thì sau đó cây sắn sẽ bị giảm năng suất nghiêm trọng.Bên cạnh đó, hầu hết các nhà máy chế biến tinh bột sắn đều tồn tại vấn đề về ônhiễm môi trường Chính vì phát triển ồ ạt cây sắn dẫn đến hậu quả không tốt nêncác Bộ ngành và địa phương khuyến cáo hạn chế tối đa mở rộng diện tích trồngsắn

- Cây khoai: Khoai lang là một cây dân gian đã được trồng từ lâu đời ở

nước ta, có phổ thích nghi rất rộng, có thể trồng được ở nhiều điều kiện khí hậu,đất đai khác nhau; nhưng tốt nhất là trồng trên đất pha cát, lượng mưa năm khoảng1.000 mm, chịu hạn, chịu đất xấu Khoai lang là cây đa tác dụng có thể sử dụng cảtrong lĩnh vực sản xuất công nghiệp lẫn sử dụng làm thực phẩm như làm nguyênliệu để chế biến sâu các sản phẩm công nghiệp, làm nguyên liệu lý tưởng để sảnxuất thức ăn chăn nuôi có giá cạnh tranh cao, làm nguyên liệu để SX ethanol sinhhọc

Với các công năng như trên, khoai lang là một cây trồng có thu nhập cao.Một vụ khoai lang chỉ cần khoảng 110 ngày, năng suất khoai thực phẩm đạt

Trang 11

khoảng 40- 50 tấn/ha vụ, với giá 2.000 đ/kg thì nông dân có thể thu 100 triệuđồng/ha vụ, nếu làm 2- 3 vụ/năm, có thể thu 200- 300 triệu/ha/năm Với khoai langtinh bột, năng suất 70- 80 tấn/ha/vụ, với giá 1.000 đ/kg thì nông dân có thể thu 70-

80 triệu đồng/ha/vụ, nếu làm 2- 3 vụ, có thể thu 150- 300 triệu đồng/ha/năm Khoailang đầu tư ít, bán được giá, lợi nhuận đem lại cho nông dân chắc chắn cao hơnhẳn những cây trồng ngắn ngày khác ở nước ta

Khoai lang có thể trồng ở khắp cả nước ta, từ vùng đồng bằng đến trung dumiền núi, từ Bắc vào Nam, thích hợp mọi loại đất, mọi thời vụ, chỉ cần đất trồngkhông úng nước Trồng 100 ngày có thể thu hoạch, nhân giống rất đơn giản, bónphân chuồng và phân khác chỉ tốn khoảng 5 triệu đồng/ha, tốn rất ít công chăm sóc

và thu hoạch, doanh thu đạt trên 100 triệu đồng/ha vụ Bên cạnh đó, khoai lang còn

có thị trường tiêu thụ lớn, khoai lang thực phẩm cung cấp cho bữa ăn hàng ngàycủa thị trường nội địa, có thể xuất khẩu sang các nước Hàn Quốc, Nhật Bản, Châu

Âu và Đông Nam Á Việc trông khoai lang sẽ tạo ra cơ hội lớn về việc làm và nângcao thu nhập cho nông dân Tại Đăk Lăk, trong 5 năm gần đây (từ 2010 – 2015),trung bình mỗi năm sản xuất được khoảng 34 nghìn tấn, trên tổng diện tích 31nghìn ha Cũng giống như một số cây trồng, vật nuôi khác hiện tại việc trồng câykhoai lang ở Đăk Lăk cũng đang gặp phải tỉnh trạng khó khăn trong việc tìm thịtrường đầu ra cũng như đối mặt với tình trạng giá bán thấp, thu nhập không bù đáp

đù chi phí, gây khó khăn lớn cho các hộ nông dân trong việc triển khai trồng giốngcây này

- Cây ngô: Ngô là một trong những loại cây lương thực quan trọng của nước

ta và thế giới Nhờ giá trị dinh dưỡng cao có nơi ngô đã thay thế gạo trong bữa ănhàng ngày của người dân Bên cạnh vai trò cung cấp lương thực cho con người ngôcòn là nguyên liệu quan trọng của công nghiệp chế biến thức ăn gia súc và côngnghệ sinh học nhiều nước đang sử dụng ngô để chế biến ethanol - năng lượng sạchcủa tương lai Từ lâu cây ngô đã gắn bó với người dân đặc biệt là đồng bào miềnnúi Đây là một trong ba loại cây lương thực quan trọng (lúa, ngô, sắn) đã giúpđồng bào vùng cao vượt qua khó khăn để đứng vững và tồn tại giữa một vùng thiênnhiên khắc nghiệt Cây ngô rất dễ trồng lại thích nghi nhanh với vùng núi cao chỉcần có đủ nước trời và ẩm độ phù hợp là có thể phát triển và cho năng suất cao

Với những đặc điểm sinh thái đó cây ngô luôn được bà con dân tộc thiểu sốlựa chọn làm cây trồng chủ lực Diện tích trông ngô tại tỉnh Đăk Lăk năm 2014

Trang 12

ước đạt 121,1 nghìn ha với sản lượng là 216,6 nghìn tấn, trong đó tập trung ở cáchuyện Ea Kar, Ea H'Leo, Cư M'Gar, Krông Pắk So với trồng các loại lúa và hoamàu khác thì giá trị kinh tế mà cây ngô mang lại hơn hẳn với giá thị trường hiệnnay Mỗi héc ta trồng ngô thâm canh sau 3 tháng có thể mang về cho người nôngdân nguồn lợi không dưới 15 triệu đồng (sau khi đã trừ các chi phí) Đồng thời ngô

có thị trường tiêu thụ tương đối rộng lớn do đó cây ngô trong tương lại sẽ trở thànhmột trong những cây trồng bản địa của các đồng bào dân tộc ở Đăk Lăk có lợi thếhàng nếu ngay từ bây giờ người quản lý cũng như người sản xuất cần phải nắm bắt

xu hướng giá cả lương thực thế giới tăng cao không chỉ trước mắt mà còn trong lâudài để có nhận thức về tầm quan trọng của việc phát triển cây ngô trong chiến lượcphát triển cây lương thực nói chung

- Cây lúa: Việt Nam là một trong những nước có nghề truyền thống trồng

lúa nước cổ xưa nhất thế giới Nông nghiệp trồng lúa vừa đảm bảo an ninh lươngthực quốc gia, vừa là cơ sở kinh tế sống còn của đất nước, lực lượng lao độngtrong nghề trồng lúa chiếm 72% lực lượng lao động cả nước Điều đó cho thấy lĩnhvực nông nghiệp trồng lúa thu hút đại bộ phận lực lượng lao động cả nước, đóngvai trò rất lớn trong nền kinh tế quốc dân Đăk Lăk được xem là có lợi thế về điềukiện thổ nhưỡng, nguồn nước và sinh thái phù hợp cho phát triển nền nông nghiệp

đa dạng, với các loại cây trồng, nhất là cây lương thực như lúa, ngô, khoai lang…Riêng về cây lúa thì hàng năm, diện tích gieo cấy và sản lượng đạt tương đối caohơn so với các cây trồng bản địa khác Năm 2014, diện tích trồng lúa ở Đăk Lăk là

95 nghìn ha với tổng sản lượng lên tới 575,3 nghìn tấn Với lợi thế về điều kiện tựnhiên, cùng với các cơ chế chính sách hỗ trợ của tỉnh, những năm gần đây, tỉnh đãtriển khai có hiệu quả các mô hình, quy hoạch vùng trồng tập trung, nâng cao giátrị và dần tạo thương hiệu cho sản phẩm nông sản này như ở huyện Ea Súp, huyệnLăk…

Như vậy, bên cạnh những cây trồng là thế mạnh của khu vực Tây Nguyênnhư cà phê, tiêu, điều, mía thì ở tỉnh Đăk Lăk hiện nay cũng nên nghiên cứu vàứng dụng phát triển một số loại cây trồng bản địa có lợi thế hàng hóa của các vùngđồng bào dân tộc So với các cây đậu tương, khoai lang … thì cây ngô và cây lúa là

có diện tích, sản lượng và năng suất cao hơn hẳn Đồng thời, cây lúa nương và câykhoai lang có chi phí đầu tư thấp, phù hợp với điều kiện khí hậu ở khu vực TâyNguyên thêm vào đó lại có thị trường tiêu thụ lớn trong tương lai sẽ là những cây

Trang 13

trồng bản địa có lợi thế hàng hóa, góp phần giúp các đồng bào dân tộc tại tỉnh cóthể xóa đói giảm nghèo, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần

2.2.1 Điều tra, đánh giá và xác định những con bản địa có lợi thế hàng hóa

Theo Tổng cục thống kê, hiện tại trên địa bàn tỉnh Đăklăk có một số vật nuôibản địa phổ biến và sản lượng cao gồm:

Bảng 2: Bảng số lượng vật nuôi bản địa ở Đăk Lăk

Nguồn: Tổng Cục thống kê hàng năm

Từ bảng số liệu trên có thể rút ra một số nhận xét đánh giá về lợi thế của cácvật nuôi bản địa trên địa bàn tỉnh Đăk Lăk như sau:

- Thủy sản: Đắk Lắk có hệ thống sông suối phong phú cùng hàng trăm hồ

chứa và hồ tự nhiên lớn nhỏ, với tổng diện tích hơn 42.000 ha, phân bố tương đốiđồng đều trên địa bàn tỉnh, đây là điều kiện thuận lợi để phát triển ngành thủy sảnnói chung và nghề khai thác thủy sản nội địa nói riêng Mặt khác, một số côngtrình thủy lợi, thủy điện đã và đang được xây dựng, trong tương lai là tiềm năng tolớn để phát triển nghề cá ở Đắk Lắk, chỉ tính riêng năm 2014, tỉnh đã thu được

2935 tấn thủy sản Tuy nhiên, trong thời gian qua với áp lực gia tăng dân số cùngvới việc khai thác bằng các ngư cụ hủy diệt (kích điện, thuốc nổ, thuốc độc, ngư cụ

có kích thước mắt lưới nhỏ…) và khai thác thủy sản không đúng mùa vụ (khai thácvào mùa sinh sản của thủy sản) trên các thủy vực; cùng với việc các công trìnhthủy điện chắn dòng ảnh hưởng đến quá trình di cư sinh sản của các đối tượng đãlàm sản lượng khai thác sụt giảm nghiêm trọng Hơn nữa, theo Chi cục Thủy sảntỉnh, thủy sản khó tìm được đầu ra ổn định do phần lớn diện tích nuôi đều do ngườidân tự phát, cứ thấy loại cá nào dễ nuôi, nhanh lớn thì tập trung phát triển loại đó

Trang 14

Vì vậy, khi thu hoạch đồng loạt một vài loại cá dẫn đến khủng hoảng thừa, cungvượt cầu Thủy sản, nhất là cá của bà con nuôi chủ yếu phục vụ nhu cầu tiêu thụtrên địa bàn, còn việc xuất bán ra ngoại tỉnh hầu như không có vì kích thước nhỏkhông được ưa chuộng.

- Gia súc (trâu, bò), Gia cầm (gà): Theo định hướng đến năm 2020, ngành

chăn nuôi Đăk Lăk sẽ trở thành ngành sản xuất hàng hóa theo hướng toàn diện,trong đó tăng trưởng giá trị sản xuất chăn nuôi cao hơn mức bình quân ngành nông

nghiệp, xây dựng nền chăn nuôi an toàn sinh học, bền vững Xác định chăn nuôi là

ngành kinh tế quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, tăng tỷ trọng chăn nuôi làgiải pháp chủ yếu để duy trì và nâng cao giá trị sản xuất nông nghiệp, do vậy tỉnh

đã tiến hành rà soát lại thực trạng chăn nuôi và đưa ra phương án điều chỉnh, bổsung cho quy hoạch chăn nuôi giai đoạn 2011-2015 và định hướng đến năm 2020.Theo đó, đến năm 2014 số lượng đàn bò trên tỉnh đạt 355,1 nghìn con, lợn đạt406,9 nghìn con, trâu đạt 32,5 nghìn con, gia cầm đạt 1.929 nghìn con trong đó đàn

gà chiếm 85%, vịt 11,3% còn lại là các loại gia cầm khác

Tỉnh cũng xác định vùng nuôi trâu, bò tập trung chủ yếu trên địa bàn cáchuyện có tiềm năng về đồng cỏ tự nhiên, điều kiện trồng cỏ, có kinh nghiệm chămsóc và phòng chống dịch bệnh tốt như: Ea Kar, M’Drak, Krông Pak, Krông Bông,

Ea Súp, Buôn Đôn Phát triển đàn lợn hướng nạc theo mô hình chăn nuôi trangtrại với quy mô phù hợp tại vùng ven các đô thị: TP.Buôn Ma Thuột, Krông Pak,

Ea Kar, Cư M’gar, Ea H’leo… Phát triển đàn gia cầm theo mô hình chăn nuôi tậptrung kết hợp với quy mô gia đình để quản lý tốt dịch bệnh, bảo đảm vệ sinh môitrường và tăng thu nhập cho người dân Tuy nhiên, để ngành chăn nuôi gia súc giacầm trở thành thế mạnh của vùng, góp phần tích cực trong việc xóa đói, giảmnghèo cho các đồng bào dân tộc thì đòi hỏi cần quan tâm đầu tư mạnh hơn chongành chăn nuôi, đặc biệt là có chính sách tháo gỡ khó khăn cho người chăn nuôi,trong đó, các địa phương cần quan tâm đẩy mạnh công tác quy hoạch chăn nuôitrên địa bàn cũng như xây dựng các mô hình chăn nuôi gà, lợn có hiệu quả kinh tếcao, phù hợp với điều kiện kinh tế của các đồng bào dân tộc

2.3 Xác định số cây trồng, vật nuôi bản địa đã xây dựng thành mô hình

2.3.1 Cây trồng bản địa đã xây dựng thành mô hình

- Xây dựng mô hình trồng lúa cạn ở huyện Lăk

Trang 15

Nhằm khôi phục một số giống lúa cạn có chất lượng gạo ngon mà nhữngnăm gần đây đang bị mai một dần do nông dân chuyển sang trồng các giống khác

có năng suất cao hơn, vụ Hè thu năm 2015 trạm Khuyến nông huyện Lăk phối hợpvới Sở Khoa học-Công nghệ tỉnh Đăk Lăk triển khai mô hình trồng lúa cạn bản địa

có chất lượng cao thuộc đề tài "Xây dựng một số mô hình cây trồng, vật nuôi bảnđịa có lợi thế hàng hóa vùng đồng bào dân tộc thiểu số tỉnh Đăk Lăk"

Mô hình được triển khai tại xã Bông Krang huyện Lăk trên diện tích 1ha với

2 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn kỹthuật của cán bộ trạm khuyến nông huyện Lăk bằng các giống lúa bản địa BaNjRang và Ba Mei Theo tập quán canh tác lúa cạn của đồng bào dân tộc tại chỗchỉ tỉa hạt và làm cỏ còn lại phụ thuộc hoàn toàn vào thiên nhiên không bón phân,phòng trừ sâu bệnh hại nên năng suất không cao, năng suất chỉ đạt 1 đến 1,5tấn/ha

Được sự hướng dẫn của cán bộ trạm khuyến nông huyện Lăk, các hộ thựchiện mô hình đã thực hiện từ khâu làm đất, làm cỏ, bón phân, sử dụng các loạithuốc BVTV… theo quy trình để phòng trừ các loại sâu bệnh hại Qua theo dõi cácgiống lúa bản địa Ba NjRang và Ba Mei có thời gian sinh trưởng từ 130 đến 140ngày, có đặc tính phát triển khỏe, cây cao, góc lá gọn, màu lá xanh, chịu hạn,chống chịu sâu bệnh tốt Năng suất đạt 3,5tấn/ha chất lượng gạo tốt, cơm mềm, vịđậm Sau khi trừ chi phí đầu tư nông dân thu lợi 14 triệu đồng/ha

Qua kết quả của mô hình cho thấy: Khi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trongsản xuất nông nghiệp đã nâng cao năng suất cây trồng và đặc biệt đối với một sốgiống bản địa có những đặc tính tốt sẽ được bảo tồn cũng như có lợi thế về hànghoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Với kết quả này chúng ta khẳng định,nếu công tác chuyển giao KHKT tốt có sự đầu tư thích hợp thì các sản phẩm mangtính đặc sản của từng địa phương có thể sản xuất thành hàng hoá phục vụ thịtrường từ đó nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và bảo tồn cácnguồn gen quý hiếm đang dần bị mất

- Mô hình lúa cạn ở huyện Easoup

Mô hình được triển khai tại cánh đồng Buôn Hang Ja trên diện tích 0,5 havới 2 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trực tiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn kỹthuật của cán bộ trạm khuyến nông huyện bằng các giống lúa cạn bản địa Được sựhướng dẫn của cán bộ trạm khuyến nông huyện Lăk, các hộ thực hiện mô hình đã

Trang 16

thực hiện từ khâu làm đất, làm cỏ, bón phân, sử dụng các loại thuốc BVTV… theoquy trình để phòng trừ các loại sâu bệnh hại Qua theo dõi các giống lúa bản địa cóthời gian sinh trưởng từ 120 đến 125 ngày, có đặc tính phát triển khỏe, cây cao,góc lá gọn, màu lá xanh, chịu hạn, chống chịu sâu bệnh tốt Năng suất đạt 3,5tấn/hachất lượng gạo tốt, cơm mềm, vị đậm Sau khi trừ chi phí đầu tư nông dân thu lợi9,6 triệu đồng/ha.

Qua kết quả của mô hình cho thấy: Khi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trongsản xuất nông nghiệp đã nâng cao năng suất cây trồng và đặc biệt đối với một sốgiống bản địa có những đặc tính tốt sẽ được bảo tồn cũng như có lợi thế về hànghoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Với kết quả này chúng ta khẳng định,nếu công tác chuyển giao KHKT tốt có sự đầu tư thích hợp thì các sản phẩm mangtính đặc sản của từng địa phương có thể sản xuất thành hàng hoá phục vụ thịtrường từ đó nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và bảo tồn cácnguồn gen quý hiếm đang dần bị mất

- Mô hình ngô tím : Được thực hiện tại huyện Buôn Đôn

Mô hình được triển khai tại Buôn EaMar, Xã Krông Na Huyện Buôn Đôn Tỉnh Đắk Lắk trên diện tích 0,6 ha với 2 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trựctiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ trạm khuyến nông huyệnbằng các giống ngô tím bản địa Được sự hướng dẫn của cán bộ trạm khuyến nônghuyện các hộ thực hiện mô hình đã thực hiện từ khâu xới đất, làm cỏ, bón phân, sửdụng các loại thuốc BVTV… theo quy trình để phòng trừ các loại sâu bệnh hại

-Qua kết quả của mô hình cho thấy: Năng suất đạt 30.000 bắp/ha, khi thuhoạch có 10% số cây bị sâu đục quả và sâu đục thân, số lượng bắp trên cây là 1 bắptrên cây với phương thức thu hoạch bằng thủ công sau đó hộ gia đình bán bắp tươi.Sau khi trừ chi phí đầu tư nông dân thu lợi 3,8 triệu đồng/sào

Theo đánh giá sơ bộ, khi áp dụng các tiến bộ kỹ thuật trong sản xuất nôngnghiệp đã nâng cao năng suất cây trồng và đặc biệt đối với một số giống bản địa cónhững đặc tính tốt sẽ được bảo tồn cũng như có lợi thế về hàng hoá trong vùngđồng bào dân tộc thiểu số Với kết quả này chúng ta khẳng định, nếu công tácchuyển giao KHKT tốt có sự đầu tư thích hợp thì các sản phẩm mang tính đặc sảncủa từng địa phương có thể sản xuất thành hàng hoá phục vụ thị trường từ đó nângcao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và bảo tồn các nguồn gen quý hiếm

Trang 17

đang dần bị mất.

2.3.2 Vật nuôi bản địa đã xây dựng thành mô hình

- Mô hình nuôi gà bản địa tại huyện Buôn Đôn:

Mô hình được triển khai tại Buôn Jang Lành xã Krông Na huyện Buôn Đôn,Tỉnh Đắk Lắk với quy mô 50 con gà và 1 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trựctiếp thực hiện dưới sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ trạm khuyến nông huyệnbằng giống gà bản địa

Qua kết quả của mô hình cho thấy: Thời gian 4 tháng, tổng chi phí chăn nuôi

là 4.487.000 đồng, tổng thu là 6.540.000 đồng, lãi là 2.053.000 đồng Theo đánhgiá sơ bộ, khi áp dụng các phương pháp chăn nuôi và nguồn thức ăn theo đúnghướng dẫn, giống gà bản địa có những đặc tính tốt sẽ được bảo tồn cũng như có lợithế về hàng hoá trong vùng đồng bào dân tộc thiểu số Với kết quả này chúng takhẳng định, nếu công tác chuyển giao KHKT tốt có sự đầu tư thích hợp thì các sảnphẩm mang tính đặc sản của từng địa phương có thể sản xuất thành hàng hoá phục

vụ thị trường từ đó nâng cao đời sống đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ và bảo tồncác nguồn gen quý hiếm đang dần bị mất

- Mô hình nuôi lợn sóc tại huyện Ea Soup

Mô hình được triển khai tại thị trấn Ea Soup - huyệ Ea Soup - Đăk Lăk vớiquy mô 40 con và 4 hộ đồng bào dân tộc thiểu số tại chỗ trực tiếp thực hiện dưới

sự hướng dẫn kỹ thuật của cán bộ trạm khuyến nông huyện bằng giống gà bản địa

Qua kết quả của mô hình cho thấy: Theo kết quả điều tra cho thấy khả năngkháng bệnh của lợn Xét về hiệu quả kinh tế của mô hình: Bình quân 1con tăngtrọng 4kg/ con /tháng, ngày đầu triển khai 3- 4kg/ con đến thu hoạch trung bình25,3 kg/ con Tổng thu mô hình lợn sóc: 25,3kg/con x 40 con = 1000kg X65.000đ/kg= 65.780.000 đồng, chi phí thức ăn: 36.000.000 đồng, Lợi nhuận đạt29.780.000 đồng

Nhìn chung, mô hình nuôi lợn sóc góp phần chuyển đổi dần hình thức nuôichăn thả không cách ly, gây ô nhiễm môi trường và lây lan dịch bệnh sang hướngchăn nuôi tập trung kết hợp có vườn rào bao quanh cách ly với khu sinh hoạt giađình, khu nuôi động vật khác nhằm ngăn ngừa dịch bệnh từ vật nuôi này sang vậtnuôi khác, hạn chế thấp nhất ô nhiễm môi trường Mô hình nuôi lợn sóc ít dịchbệnh, ít tốn công lao động, tăng thêm thu nhập, thay đổi tập quán chăn nuôi tại địa

Ngày đăng: 16/05/2016, 15:01

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1. Thực trạng hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số phân theo huyện - Dánh giá cây TRỒNG, vật NUÔI bản địa có lợi THẾ HÀNG hóa đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số TỈNH ĐĂKLĂK
Bảng 1. Thực trạng hộ nghèo đồng bào dân tộc thiểu số phân theo huyện (Trang 4)
Bảng 1: Bảng sản lượng và diện tích cây trồng bản địa ở Đăk Lăk - Dánh giá cây TRỒNG, vật NUÔI bản địa có lợi THẾ HÀNG hóa đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số TỈNH ĐĂKLĂK
Bảng 1 Bảng sản lượng và diện tích cây trồng bản địa ở Đăk Lăk (Trang 8)
Bảng 3: Diện tích, sản lượng, năng suất cây ngô tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2010 – 2014 - Dánh giá cây TRỒNG, vật NUÔI bản địa có lợi THẾ HÀNG hóa đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số TỈNH ĐĂKLĂK
Bảng 3 Diện tích, sản lượng, năng suất cây ngô tỉnh Đăk Lăk giai đoạn 2010 – 2014 (Trang 19)
Bảng 4. Số lượng lợn Sóc phân bố theo các huyện của tỉnh Đăk lăk - Dánh giá cây TRỒNG, vật NUÔI bản địa có lợi THẾ HÀNG hóa đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số TỈNH ĐĂKLĂK
Bảng 4. Số lượng lợn Sóc phân bố theo các huyện của tỉnh Đăk lăk (Trang 21)
Bảng 6: Chi phí, giá thành, sạn lượng, doanh thu, lợi của cây lúa bản - Dánh giá cây TRỒNG, vật NUÔI bản địa có lợi THẾ HÀNG hóa đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số TỈNH ĐĂKLĂK
Bảng 6 Chi phí, giá thành, sạn lượng, doanh thu, lợi của cây lúa bản (Trang 25)
Bảng 7: Bảng Chi phí, giá thành, sản lượng, doanh thu và lợi nhuận trong - Dánh giá cây TRỒNG, vật NUÔI bản địa có lợi THẾ HÀNG hóa đối với ĐỒNG bào dân tộc THIỂU số TỈNH ĐĂKLĂK
Bảng 7 Bảng Chi phí, giá thành, sản lượng, doanh thu và lợi nhuận trong (Trang 26)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w