Những năm gần đây, đất nước càng đi lên thì tình trạng thất nghiệp càng trở nên phổ biến khiến nhiều người dân phải “khốn đốn” suy nghĩ về tương lai của bản thân khi trong tay không có l
Trang 1LỜI MỞ ĐẦU
Việt Nam chính thức khởi xướng công cuộc đổi mới nền kinh tế
từ khoảng cuối năm 1986 Kể từ đó, Việt Nam đã có nhiều thay đổi to lớn, trước hết là sự đổi mới về tư duy kinh tế, chuyển đổi từ cơ chế kinh tế kế hoạch hóa tập trung, bao cấp, sang kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, thực hiện công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đa dạng hóa và đa phương hóa các quan hệ kinh tế đối ngoại, thực hiện mở cửa, hội nhập quốc tế Con đường đổi mới đó đã giúp Việt Nam giảm nhanh được tình trạng nghèo đói, bước đầu xây dựng nền kinh tế công nghiệp hóa, đạt được tốc độ tăng trưởng kinh tế cao
đi đôi với sự công bằng tương đối trong xã hội Nhưng như Le-nin đã nói :” Muốn thực sự hiểu được sự vật cần phải nhìn bao quát và nghiên cứu tất cả các mối quan hệ và quan hệ gián tiếp của sự vật đó” Chúng ta không thể làm được điều đó một cách hoàn toàn đầy đủ, nhưng sự vật cần thiết phải xét đến tất cả mọi mặt sẽ đề phòng cho chúng ta khỏi phạm phải sai lầm và cứng nhắc” ( Lê Nin toàn tập – NXB tiến bộ) Vì thế, bên cạnh sự phát triển đi lên của nền kinh tế nước nhà là biết bao những thế hệ già, trẻ, gái, trai đang trong tình trạng không công ăn việc làm, không thể thể hiện khả năng đóng góp sức mình cho Đất Nước Những năm gần đây, đất nước càng đi lên thì tình trạng thất nghiệp càng trở nên phổ biến khiến nhiều người dân phải “khốn đốn” suy nghĩ về tương lai của bản thân khi trong tay không có lấy một công ăn việc làm ổn định
Trong sự tồn tại của thế giới quanh ta, mọi sự vật và hiện tượng
đều có mối liên hệ và tác động qua lại với nhau chứ không tách rời nhau, cô lập nhau Như chúng ta đã biết “ Quan điểm toàn diện” là quan điểm được rút ra từ nguyên lý về mối liên hệ phổ biến Muốn nhận thức hoặc hoạt động thực tiễn đúng về đối tượng nào đó phải tính đến những mối liên hệ trong sự tồn tại của đối tượng, đề phòng khắc phục quan điểm phiến diện Chúng ta đã nhìn thấy sự đi lên của đất nước, sự phát triển của nền kinh tế nhưng có phải 100% người dân đều no đủ, hạnh phúc? Câu trả lời là không! Bởi đằng sau sự sung túc, giàu có của những người có tiền, có quyền lực, có địa vị và có tiếng nói trong xã hội, đằng sau những công chức nhà nước, những người buôn bán,… Là những con người đang từng ngày, từng giờ mong chờ được khoác lên vai bộ đồng phục của một công ty tư hay cơ quan nhà
Trang 2nước Với nhiều người, mơ ước ấy có lẽ là quá xa xỉ đối với họ Đó chính là những nạn nhân không may của nạn thất nghiệp – một thứ
“nạn” đã gây không ít khó khăn cho cả tinh thần và vật chất của người dân Việt Nam cũng như người dân trên toàn thế giới
THẤT NGHIỆP
1 Khái niệm thất nghiệp
Thất nghiệp là tình trạng người lao động muốn có việc làm mà
không tìm được việc làm
Tỷ lệ thất nghiệp là phần trăm số người lao động không có việc
làm trên tổng số lực lượng lao động xã hội
Tỷ lệ thất nghiệp = 100% xSố người không có việc làm
Tổng số lao động xã hội
- Tử số: Không tính những người không cố gắng tìm việc
- Mẫu số: Tổng số lao động xã hội = Số người có việc làm + số người không có việc làm nhưng tích cực tìm việc
2 Các loại hình thất nghiệp
Thất nghiệp được chia làm 3 nhóm: thất nghiệp tạm thời, thất nghiệp cơ cấu và thất nghiệp nhu cầu
• Thất nghiệp tạm thời là tình trạng không có việc làm ngắn
hạn do không có đầy đủ thông tin về cung - cầu lao động, hoặc chờ đợi vào những điều kiện lao động và thu nhập không thực tế hoặc liên quan đến sự di chuyển của người lao động giữa các doanh nghiệp, giữa các vùng và lĩnh vực kinh tế
• Thất nghiệp cơ cấu là tình trạng không có việc làm ngắn
hạn hoặc dài hạn do không phù hợp về qui mô và cơ cấu cũng như trình độ của cung lao động theo vùng đối với cầu lao động (số chỗ làm việc) Sự không phù hợp có thể là do thay đổi cơ cấu việc làm yêu cầu hoặc do biến đổi từ phía Hoµng Ngäc HuÖ MSV:
11121607
2
Trang 3cung của lực lượng lao động Ở nước ta thất nghiệp cơ cấu biểu hiện rõ nhất trong những năm khi mà GDP tăng trưởng cao nhưng thất nghiệp giảm không đáng kể, thậm trí còn trầm trọng hơn với một số đối tượng như thanh niên, phụ nữ, người nghèo và với những thành phố lớn.
• Thất nghiệp nhu cầu là trình trạng không có việc làm ngắn
hạn hoặc dài hạn do giảm tổng cầu về lao động và làm nền kinh tế đình đốn hoặc suy thoái, dẫn đến giảm hoặc không tăng số việc làm.Thất nghiệp nhu cầu xuất hiện trong những năm đầu của cuộc cải cách kinh tế ở nước ta (1986 - 1991) và gần đây có xu hướng tăng lên do đình đốn, ứ đọng sản phẩm ở một số ngành, lĩnh vực bị ảnh hưởng của khủng hỏang kinh tế thế giới, đồng thời với đó là quá trình cải cách doanh nghiệp nhà nước và dôi dư lao động
3 Nguyên nhân của thất nghiệp
Theo nghiên cứu của ILO, nguyên nhân dẫn tới tình trạng tỷ lệ thất nghiệp ở tầng lớp thanh niên tăng cao có bắt nguồn từ cuộc khủng hoảng kinh tế thế giới Báo cáo chỉ rõ trong các quốc gia phát triển và các nền kinh tế mới nổi, hiệu ứng của cuộc khủng hoảng đối với thanh niên càng làm tăng thêm tỷ lệ thất nghiệp và các tệ nạn xã hội Tại các nền kinh tế đang phát triển, nơi sinh sống của gần 90% các thanh niên, thanh niên lại chính là đối tượng dễ bị tác động nhất của tình trạng không có việc làm và nghèo đói Trong các quốc gia thu nhập thấp, hiệu ứng của cuộc khủng hoảng gây ra còn trầm trọng hơn nữa Cũng theo báo cáo của ILO, năm 2008 có khoảng 152 triệu người, chiếm khoảng 28% tất cả số thanh niên lao động trên thế giới, đều phải làm
Trang 4việc hay sống trong cảnh cực nghèo, trong các hộ gia đình sống với dưới 1,25 USD/ người/ngày Đến nay, suy giảm kinh tế vẫn chưa có dấu hiệu chững lại, vì vậy, thất nghiệp, nhất là thất nghiệp trong lực lượng lao động trẻ vẫn chưa thể cải thiện được Cũng theo báo cáo của ILO về “Việc làm thế giới năm 2012”, đến hết năm 2012, tỷ lệ thất nghiệp trên toàn thế giới dự kiến sẽ tăng 3%, chiếm 6,1% trong số lực lượng lao động, tương đương 202 triệu người ILO cũng dự đoán tỷ lệ thất nghiệp sẽ tăng lên 6,2% vào năm 2013, tương đương với 5 triệu người nữa phải từ bỏ công việc của mình Tỷ lệ thất nghiệp đặc biệt cao ở nhóm người trẻ Theo thống kê, tại châu Âu, gần 2/3 quốc gia đã chịu tình trạng tỷ lệ thất nghiệp tăng dần mỗi năm Số liệu từ Viện Thống kê quốc gia Tây Ban Nha cho thấy, tỷ lệ thất nghiệp Tây Ban Nha trong quý 1-2012 tăng lên 24,4%, cao nhất 18 năm qua và cao hơn mức dự báo 23,8% Một báo cáo khác cũng cho biết, tỷ lệ lạm phát của Tây Ban Nha cũng tăng từ 1,8% lên 2% Các số liệu của Liên minh châu Âu (EU) công bố vào đầu năm 2011 cho thấy, tỉ lệ thất nghiệp tại 16 quốc gia thuộc khu vực sử dụng đồng tiền chung châu
Âu (Eurozone) đã tăng lên mức cao lịch sử: 10,1% trong tháng
11-2010 Theo các số liệu của cơ quan thống kê EU (Eurostat), hơn 15,9 triệu người tại khu vực đồng ơ-rô đã bị mất việc làm
Mặt khác, trên cơ sở những nghiên cứu về thất nghiệp và tổng hợp
ý kiến của nhiều nhà kinh tế thế giới, ta có thể phân loại những nguyên nhân thất nghiệp theo từng loại hình thất nghiệp và đánh giá mức độ ảnh hưởng của chúng như sau:
Nguyên nhân thất
nghiệp
Thất nghiệp tạm thời
Thất nghiệp
cơ cấu
Thất nghiệp nhu cầu
* Không có thông tin
Trang 5* Tham gia lại thị
trường lao động của
những người trước đây
Trang 6(+ : ảnh hưởng ít ; ++ : ảnh hưởng vừa; +++ : ảnh
hưởng nhiều)
Dễ thấy nguyên nhân dẫn đến tình trạng thất nghiệp hiện nay không chỉ do yếu tố bên ngoài tác động mà còn ở chính bản thân con người Hai loại nguyên nhân: chủ quan và khách quan này đã khiến cho tình trạng thất nghiệp ngày một phổ biến dẫn đến biết bao hệ lụy trong đời sống cá nhân và cộng đồng xã hội
Hoµng Ngäc HuÖ MSV:
11121607
6
Trang 74 Tác động hai chiều của khủng hoảng kinh tế
4.1 Tác hại
4.1.1 Đối với cá nhân
Không có việc làm đồng nghĩa với hạn chế giao tiếp với
những người lao động khác, tiêu tốn thời gian vô nghĩa, không có khả năng chi trả, mua sắm vật dụng thiết yếu cũng như các hàng hóa tiêu dùng Yếu tố sau là vô cùng trầm trọng cho người gánh vác nghĩa vụ gia đình, nợ nần, chi trả chữa bệnh Những nghiên cứu cụ thể chỉ ra rằng, gia tăng thất nghiệp đi liền với gia tăng tỷ lệ tội phạm, tỷ lệ tự
tử, và suy giảm chất lượng sức khỏe
Theo một số quan điểm, rằng người lao động nhiều khi phải
chọn công việc thu nhập thấp (trong khi tìm công việc phù hợp) bởi các lợi ích của bảo hiểm xã hội chỉ cung cấp cho những ai có quá trình làm việc trước đó Về phía người sử dụng lao động thì sử dụng tình trạng thất nghiệp để gây sức ép với những người làm công cho mình (như không cải thiện môi trường làm việc, áp đặt năng suất cao, trả lương thấp, hạn chế cơ hội thăng tiến, v.v )
Cái giá khác của thất nghiệp còn là, khi thiếu các nguồn tài
chính và phúc lợi xã hội, cá nhân buộc phải làm những công việc không phù hợp với trình độ, năng lực Như vậy thất nghiệp gây ra tình trạng làm việc dưới khả năng Với ý nghĩa này, thì trợ cấp thất nghiệp
là cần thiết
Những thiệt thòi khi mất việc dẫn đến trầm uất, suy yếu ảnh
hưởng của công đoàn, công nhân lao động vất vả hơn, chấp nhận thù lao ít ỏi hơn và sau cùng là chủ nghĩa bảo hộ việc làm Chủ nghĩa này đặt ra những rào cản với người muốn gia nhập công việc, hạn chế di dân, và hạn chế cạnh tranh quốc tế Cuối cùng, tình trạng thất nghiệp
sẽ khiến cán cân đàm phán điều kiện lao động nghiêng về giới chủ, tăng chi phí khi rời công việc và giảm các lợi ích của việc tìm cơ hội thu nhập khác
Người thất nghiệp dễ ở trong tình trạng mình là người thừa
tuy nhiên sự tác động là khác nhau giữa hai giới Ở phụ nữ nếu không
có việc làm ngoài thì việc nội trợ và chăm sóc con cái vẫn có thể được chấp nhận là sự thay thế thỏa đáng, ngược lại ở người nam, đem thu
Trang 8nhập cho gia đình gắn chặt đến giá trị cá nhân, lòng tự trọng Nam giới khi mất việc làm thường tự ti, rất nhạy cảm và dễ cáu bẳn, họ có thể tìm đến rượu, thuốc lá để quên đi buồn phiền, tình trạng này kéo dài ngoài khả năng gây nghiện ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe còn
có thể khởi tạo một vấn đề mới đó là bạo hành gia đình Họ cũng dễ bị rối loạn tâm lý như buồn phiền, mất ngủ, trầm cảm và như đã nói ở trên đôi khi còn dẫn đến hành vi tự sát
Hoµng Ngäc HuÖ MSV:
11121607
8
Trang 94.1.2 Đối với nền kinh tế và xã hội
Tỷ lệ thất nghiệp cao đồng nghĩa với Tổng sản phẩm quốc
nội (GDP) thấp – các nguồn lực con người không được sử dụng, bỏ phí cơ hội sản xuất thêm sản phẩm và dịch vụ
Thất nghiệp còn có nghĩa là sản xuất ít hơn Giảm tính hiệu
quả của sản xuất theo quy mô
Thất nghiệp dẫn đến nhu cầu xã hội giảm Hàng hóa và dịch
vụ không có người tiêu dùng, cơ hội kinh doanh ít ỏi, chất lượng sản phẩm và giá cả tụt giảm Hơn nữa, tình trạng thất nghiệp cao đưa đến nhu cầu tiêu dùng ít đi so với khi nhiều việc làm, do đó mà cơ hội đầu
tư cũng ít hơn
4.2 Lợi ích
• Tình trạng thất nghiệp gia tăng tương quan với áp lực giảm lạm phát Điều này được minh họa bằng đường cong Phillips trong kinh tế học
• Một tỷ lệ thất nghiệp vừa phải sẽ giúp cả người lao động
và chủ sử dụng lao động Người lao động có thể tìm những cơ hội việc khác phù hợp với khả năng, mong muốn và điều kiện cư trú Về phía giới chủ, tình trạng thất nghiệp giúp họ tìm được người lao động phù hợp, tăng sự trung thành của người lao động Do đó, ở một chừng mực nào đó, thất nghiệp đưa đến tăng năng suất lao động và tăng lợi nhuận
Trang 10Hoµng Ngäc HuÖ MSV:
11121607
10
Trang 11GIÁO DỤC VÀ THẤT NGIỆP
Hình cầu Trái Đất luôn xoay quanh một trục cố định, có lẽ vì vậy
mà mọi thứ dù có nằm ở vị trí nào đi chăng nữa, suy đến cùng, chúng vẫn có những mối liên hệ mật thiết với nhau không thế tách rời, đó là quan hệ biện chứng Không chỉ là quan hệ giữa con người với thế giới khách quan, không chỉ là mối quan hệ biện chứng nguyên nhân – kết quả, nội dung – hình thức,… Mà chúng ta sẽ nghiên cứu mối liên hệ giữa giáo dục và thất nghiệp Chúng có mối quan hệ với nhau như thế nào? Yếu tố nào là quyết định? Chúng biểu hiện dưới xã hội này ra sao? Tất cả vẫn còn là những câu hỏi lớn của một bộ phận lớn quan tâm
1 Thực trạng của nạn thất nghiệp trong giáo dục
Quay ngược dòng lịch sử trở về thời kỳ bao cấp, thời kỳ mà mỗi người chúng ta ắt hẳn đều được nghe bố mẹ kể lại về sự khó khăn, đói nghèo; thời kì phải xếp hàng mới có gạo thịt để ăn, có vải để may mặc; và là thời kì các trường đại học, cao đẳng còn khan hiếm, các ngành nghề kinh tế còn hạn hẹp Nhưng cơn sóng của nên Kinh tế thị trường đã làm thay đổi toàn diện bộ mặt của nước nhà cả về kinh tế, chính trị, xã hội, giáo dục,… Hàng ngàn trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp được mọc lên trên cả nước; các ngành nghề mới xuất hiện “hiên ngang”, “kiêu hãnh” trong cơ cấu nền kinh tế Việt Nam Ta không thể phủ nhận những ích lợi cần thiết của việc đổi mới này, đó là kinh tế mở cửa, việc giao lưu, thông thương hàng hóa với các nước bạn diễn ra sôi nổi, khẩn trương và có hiệu quả khiến cho nền kinh tế phát triển, đi lên một tầm cao mới Cũng chính vì vậy mà
cơ hội thể hiện cái tôi, thể hiện khả năng của con người càng được đề cao, chú trọng, và tăng cường mạnh mẽ Họ xuất hiện với tư cách là những con người đổi mới kinh tế qua việc sản xuất ra những máy móc, công cụ lao động mới tiết kiệm sức người, sức của mà lại cho năng suất tăng; hay là việc họ đóng góp chất xám của bản thân cho những công trình vĩ đại,… Tất cả đều được chú ý như một luồng gió mới thổi bay hết những tàn tro của quá khứ và mang lại cho hiện tại, tương lai những sắc màu, hương vị mới Nhưng mọi thứ đều không bao giờ hoàn hảo, hay nói cách khác theo lenin thì đó là “Quan điểm toàn diện”, tức nghĩa là nhìn mọi vật phải có chiều sâu và đầy đủ Bên cạnh những lợi ích mà Nền kinh tế thị trường nhiều thành phần mang
Trang 12lại, ta có thể thấy rõ những tiêu cực đáng kể đã dần xuất hiện rõ nét, một trong số đó là tình trạng thất nghiệp nghiêm trọng của sinh viên sau khi ra trường.
• Số sinh viên sau khi tốt nghiệp các trường đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp trên cả nước không tìm được việc làm ngày càng tăng
Những năm gần đây, các trường tư thục hệ ĐH, CĐ, TCCN đua nhau “mọc lên” như nấm Không những thế, tại các trường, số ngành cũng mở thêm dẫn đến việc chỉ tiêu tuyển sinh diễn ra một cách ồ ạt
mà không tính đến vấn đề đầu ra, giải quyết việc làm cho SV sau khi
ra trường, nên đã dẫn đến một hệ lụy đáng buồn, với không ít SV ra trường với tấm bằng loại khá, giỏi vẫn không có việc làm
Riêng trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa có tới 16 trường ĐH, CĐ, TCCN hệ chính quy và tư thục Mỗi năm có hàng ngàn SV tại các trường này thất nghiệp sau khi tốt nghiệp Tuy nhiên, năm nào các trường cũng tuyển sinh mỗi ngành lên đến hàng trăm SV, thậm chí có ngành lên đến cả ngàn SV
Hoµng Ngäc HuÖ MSV:
11121607
12
Trang 13Theo báo cáo mới nhất của Sở GD-ĐT tỉnh Thanh Hóa, tính đến ngày 20/2/2013, toàn tỉnh Thanh Hóa có 24.956 HS-SV đã tốt nghiệp nhưng chưa có việc làm Trong đó trình độ trên ĐH có 45 học viên,
ĐH có 5.674 SV, CĐ có 6.845 SV, TCCN có 6.003 SV, còn lại là CĐ nghề và trung cấp nghề
Các ngành có số SV thất nghiệp nhiều nhất phải nói đến là ngành
Sư phạm với 3.762 SV, tiếp đó là ngành Công nghệ Thông tin với 3.650 SV cho đến các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, nông lâm - ngư nghiệp… SV thất nghiệp phần đông ở các vùng quê như Hoằng Hóa có tới 2.815 SV (trong đó ĐH: 456 SV, CĐ: 721 SV, TCCN: 600
SV còn lại CĐ nghề và TC nghề); Hậu Lộc có 2.108 (ĐH: 541, CĐ:
694, TCCN: 344, số còn lại thuộc CĐ nghề, TC nghề) Các huyện Quảng Xương, Triệu Sơn, Quan Sơn… mỗi huyện cũng có trên một nghìn SV thất nghiệp
Theo Sở GD-ĐT tỉnh Đồng Tháp, đến hết năm 2012, toàn tỉnh
có gần 1.740 SV ngành sư phạm đã tốt nghiệp nhưng chưa tìm được việc làm Số cử nhân thất nghiệp thực tế còn cao hơn nhiều do chưa thống kê được từ các trường ĐH ngoài tỉnh Đặc biệt, nhiều khoa, ngành học không có nhu cầu tuyển dụng như lịch sử, kỹ thuật nông nghiệp, kỹ thuật công nghiệp vẫn được đào tạo tràn lan
Theo thống kê của Phòng Việc làm thuộc Sở LĐ-TB-XH TP Đà Nẵng, TP này đang thiếu nhân lực lao động phổ thông trong khi lao động có trình độ ĐH lại quá thừa Tại mỗi phiên giao dịch việc làm, nhu cầu tuyển dụng dành cho lao động phổ thông chiếm gần 70%, còn
cử nhân chỉ dao động ở mức 5%-10% TP Đà Nẵng có 8 trường ĐH với số lượng cử nhân tốt nghiệp mỗi năm lên đến hàng chục ngàn gây nên tình trạng thất nghiệp tràn lan bởi cung vượt cầu