LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta hiện nay đã và đang đạt được những kết quả nhất định trong mọi lĩnh vực. Tuy nhiên vẫn xuất hiện những hạn chế bất cập trong cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhà nước, trong đó có các cơ quan tư pháp mà đặc biệt là hệ thống tòa án. Qua thực tiễn xét xử các vụ việc về kinh doanh, thương mại của ngành tòa án trong thời gian qua cho thấy không ít những vụ việc về kinh doanh, thương mại (KDTM) đã bị giải quyết kéo dài, gây nên tâm lý hoang mang trong một bộ phận nhân dân. Một trong những nguyên nhân quan trọng của tình trạng trên là ở sự bất cập trong cách thức xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh, thương mại. Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 ra đời đã đáp ứng được những yêu cầu từ thực tiễn, với việc quy định trình tự, thủ tục trong việc giải quyết các việc dân sự mà trong đó có quy định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về KDTM đã thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong công tác lập pháp ở nước ta. Tuy nhiên, thực tiễn cho thấy quan hệ KDTM thường rất đa dạng và phức tạp bởi vì quan hệ KDTM không chỉ nằm trong phạm vi một quốc gia mà hiện tại nó còn chứa đựng yếu tố quốc tế trong đó. Do đó, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS cũng đã quy định khá cụ thể về các vấn đề thủ tục tố tụng, thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc trong hoạt động KDTM. Đó là cơ sở quan trọng để tòa án xác định đúng thẩm quyền của mình trong việc giải quyết các tranh chấp, cũng như các yêu cầu mới được giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời, khách quan và khoa học. Vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết của tòa án trong kinh doanh, thương mại là một trong những đề tài được nhiều tác giả lựa chọn để nghiên cứu. Tuy nhiên, các tác giả này chỉ tập trung bàn về khía cạnh thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu có thể đề cập đầy đủ thẩm quyền của tòa án trong toàn bộ quan hệ kinh doanh, thương mại. Xuất phát từ thực tiễn đó, việc lựa chọn đề tài: “Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại” là cấp thiết, có ý nghĩa cả về lý luận và thực tiễn.
Trang 1LỜI CAM ĐOAN
Tôi xin cam đoan đây là công trình nghiên cứu của riêng tôi, các kết luận, số liệu trong khóa luận tốt nghiệp là trung thực, đảm bảo độ tin cậỵ
Xác nhận của
Giảng viên hướng dẫn
Tác giả khóa luận tốt nghiệp (Ký và ghi rõ họ tên)
Trang 2Để hoàn thành khóa luận này, trước tiên em xin chân thành cám ơn TS Trần Phương Thảo- Giảng viên khoa pháp luật dân sự, Trường đại học Luật
Hà Nội đã tận tình hướng dẫn em hoàn thành tốt khóa luận của mình Em cũng xin chân thành cám ơn quý Thầy, Cô giáo Trường đại học Luật Hà Nội đã tận tình dạy giỗ và truyền đạt kiến thức cho em trong suốt 4 năm học vừa qua.
Em xin chân thành cám ơn!
Trang 3DANH MỤC NHỮNG TỪ VIẾT TẮT TRONG KHÓA LUẬN
BLTTDS 2004: Bộ luật tố tụng dân sự năm 2004 được sử đổi bổ
sung theo Luật số: 65/2011/QH Luật sửa đổi bổ sung BLTTDS 2004 ngày 29 tháng 3 năm 2011 BLTTDS: Bộ luật tố tụng dân sự
HĐTP-TANDTC: Hội đồng thẩm phán- Tòa án nhân dân tối cao
Nghị quyết 03/2012
NQ-HĐTP:
Nghị quyết 03/2012 NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2011 Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung”của
Bộ luật tố tụng dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố tụng dân sự.
Nghị quyết 05/2012
NQ-HĐTP:
Nghị quyết 05/2012 NQ-HĐTP ngày 03 tháng 12 năm 2012 Hướng dẫn thi hành một số quy định trong Phần thứ hai “Thủ tục giải quyết vụ án tại Tòa
án cấp sơ thẩm” của Bộ luật Tố tụng Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật Sửa đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật Tố tụng dân sự.
TANDTC: Tòa án nhân dân tối cao
Trang 4LỜI MỞ ĐẦU 1.Tính cấp thiết của việc nghiên cứu đề tài
Công cuộc xây dựng và phát triển đất nước của Đảng và Nhà nước ta hiện nay
đã và đang đạt được những kết quả nhất định trong mọi lĩnh vực Tuy nhiên vẫn xuấthiện những hạn chế bất cập trong cách thức tổ chức và hoạt động của bộ máy nhànước, trong đó có các cơ quan tư pháp mà đặc biệt là hệ thống tòa án Qua thực tiễn xét
xử các vụ việc về kinh doanh, thương mại của ngành tòa án trong thời gian qua chothấy không ít những vụ việc về kinh doanh, thương mại (KDTM) đã bị giải quyết kéodài, gây nên tâm lý hoang mang trong một bộ phận nhân dân Một trong những nguyênnhân quan trọng của tình trạng trên là ở sự bất cập trong cách thức xác định thẩmquyền của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp và các yêu cầu về kinh doanh,thương mại
Bộ luật tố tụng dân sự (BLTTDS) năm 2004 ra đời đã đáp ứng được những yêucầu từ thực tiễn, với việc quy định trình tự, thủ tục trong việc giải quyết các việc dân sự
mà trong đó có quy định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc vềKDTM đã thể hiện sự tiến bộ đáng kể trong công tác lập pháp ở nước ta Tuy nhiên,thực tiễn cho thấy quan hệ KDTM thường rất đa dạng và phức tạp bởi vì quan hệKDTM không chỉ nằm trong phạm vi một quốc gia mà hiện tại nó còn chứa đựng yếu
tố quốc tế trong đó Do đó, luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLTTDS cũng đã quyđịnh khá cụ thể về các vấn đề thủ tục tố tụng, thẩm quyền của tòa án trong việc giảiquyết các vụ việc trong hoạt động KDTM Đó là cơ sở quan trọng để tòa án xác địnhđúng thẩm quyền của mình trong việc giải quyết các tranh chấp, cũng như các yêu cầumới được giải quyết một cách nhanh chóng, kịp thời, khách quan và khoa học
Vấn đề xác định thẩm quyền giải quyết của tòa án trong kinh doanh, thương mại
là một trong những đề tài được nhiều tác giả lựa chọn để nghiên cứu Tuy nhiên, cáctác giả này chỉ tập trung bàn về khía cạnh thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyếtcác tranh chấp về kinh doanh, thương mại mà chưa có nhiều công trình nghiên cứu cóthể đề cập đầy đủ thẩm quyền của tòa án trong toàn bộ quan hệ kinh doanh, thương
Trang 5mại Xuất phát từ thực tiễn đó, việc lựa chọn đề tài: “Thẩm quyền của tòa án trong
việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại” là cấp thiết, có ý nghĩa cả về
lý luận và thực tiễn
2 Tình hình nghiên cứu đề tài
Việc nghiên cứu cho thấy, trước đây đã có một số công trình có đề cập hoặcnghiên cứu về thẩm quyền của tòa án trong KDTM Có thể kể đến một số công trình
tiêu biểu như: “Thẩm quyền giải quyết tranh chấp kinh doanh của Tòa án theo bộ luật
tố tụng dân sự- Những điểm mới và vấn đề đặt ra cho thực tiễn thi hành”(Luận văn thạc sỹ của tác giả Bùi Nguyễn Phương Lê); “Thẩm quyền của toà án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại” (Khóa luận tốt nghiệp của tác giả Cao Thị Lê Thương); “Thẩm quyền xét xử sơ thẩm theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam(
Luận án tiến sĩ luật học của tác giả Lê Hoài Nam)
Tuy nhiên, những công trình nghiên cứu nói trên chỉ đề cấp tới những khía cạnhkhắc nhau về vấn đề thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp trong
lĩnh vực kinh doanh, thương mại Đề tài: “Thẩm quyền của tòa án trong việc giải
quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại” là đề tài đầu tiên tập trung, chuyên sâu
vào việc nghiên cứu thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp cũngnhư các yêu cầu về kinh doanh, thương mại
3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu đề tài
-Đối tượng nghiên cứu: của đề tài là nghiên cứu về những vẫn đề mang tính
chất lý luận về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh,thương mại Qua đó, tìm hiểu về thực tiễn thực hiện các quy định của pháp luật về vấn
đề này và đưa ra những kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả trong việc xác định thẩmquyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại
-Phạm vi nghiên cứu: khóa luận tập trung đi vào tìm hiểu những khái niệm, ý
nghĩa và cơ sở của việc xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ
Trang 6việc về kinh doanh thương mại; lược sử các quy định của pháp luật tố tụng dân sự ViệtNam về thẩm quyền của tòa án, từ đó mở rộng với pháp luật của một số nước về vấn đềnày Trên cơ sở lí luận, khóa luận còn tập trung đi nghiên cứu những quy định của phápluật hiện hành về thẩm quyền của toàn án trong việc giải quyết các vụ việc về kinhdoanh, thương mại Từ những quy định cụ thể của pháp luật trên, khóa luận còn trìnhbày thực trạng và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việc xác định thẩmquyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại.
4 Mục đích nghiên cứu
Khóa luận tập trung nghiên cứu và làm sáng tỏ các vấn đề về lý luận về việc xácđịnh thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thươngmại như: khái niệm, ý nghĩa, cơ sở của việc phân định thẩm quyền của tòa án trongviệc giải quyết các vụ việc về kinh doanh thương mại; Lược sử các quy định của phápluật tố tụng dân sự Việt Nam về thẩm quyền của tòa án, từ đó mở rộng với pháp luậtcủa một số nước về vấn đề này Những quy định của pháp luật hiện hành về thẩmquyền của toàn án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại Đánhgiá đúng thực trạng áp dụng các quy định về việc xác định thẩm quyền của tòa án trongviệc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại và đề xuất một số kiến nghịnhằm nâng cao hiệu quả của việc xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyếtcác tranh chấp cũng như các yêu cầu về kinh doanh, thương mại
5 Phương pháp nghiên cứu
Luận văn được hoàn thiện trên cơ sở phương pháp luận của Chủ nghĩa Mác- Lênin, quan điểm duy vật biện chứng và duy vật lịch sử, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhànước và pháp luật, đường lối chính sách của Đảng và nhà nước qua các giai đoạn lịchsử
Việc nghiên cứu đề tài còn dựa vào thực tiễn xét xử, những tổng hợp của ngànhtòa án, những số liệu thống kê qua các năm làm cho những kiến nghị sửa đổi, bổ sungpháp luật về xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh
Trang 7doanh, thương mại không những dựa trên những cơ sở khoa học mà còn có cơ sở thựctiễn.
Để giải quyết các vấn đề thuộc phạm vi nghiên cứu của đề tài, trong quá trìnhnghiên cứu đề tài tác giả còn sử dụng các phương như phương pháp phân tích, phươngpháp tổng hợp, phương pháp diễn giải, phương pháp suy diễn, phương pháp so sánh,phương pháp logic
6 Kết cấu của khóa luận
Khóa luận được chia thành các phần: Lời mở đầu, nội dung, kết luận và danhmục tài liệu tham khảo Phần nội dung của khóa luận bao gồm 3 chương:
Chương I: Một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các
vụ việc về kinh doanh, thương mại
Chương II Những quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành về
thẩm quyền Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại
Chương III Thực trạng xác định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ
việc về kinh doanh, thương mại và một số kiến nghị nhằm nâng cao hiệu quả của việcxác định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh,thương mại
Trang 8CHƯƠNG I MỘT SỐ VẤN ĐỀ LÝ LUẬN VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC
GIẢI QUYẾT CÁC VỤ VIỆC VỀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI
1.1 Khái niệm
1.1.1 Khái niệm kinh doanh, thương mại ( KDTM)
Hiện nay khái niệm kinh doanh, thương mại được hiểu theo nhiều cách khácnhau và được đề cập trong nhiều văn bản pháp luật
Pháp luật của nhiều nước trên thế giới sử dụng thuật ngữ “commerce”(kinh
doanh/thương mại) theo nghĩa rộng để chỉ một cách tổng hợp các hoạt động sản xuất,
mua bán hành hóa, dịch vụ và có sự phân biệt với thuật ngữ “trade” chỉ riêng hoạt
động mua bán hàng hóa thuần túy [31, 74.] Còn theo từ điển tiếng Việt khái niệm
thương mại được hiểu là hoạt động trao đổi của cải, hàng hóa, dịch vụ, kiến thức, tiềntệ giữa hai hay nhiều đối tác, và có thể nhận lại một giá trị nào đó (bằng tiền thôngqua giá cả) hay bằng hàng hóa, dịch vụ khác như trong hình thức thương mại hàng đổihàng (barter) Trong quá trình này người bán là người cung cấp của cải, hàng hóa, dịchvụ có người mua, đổi lại người mau sẽ phải trả cho người bán một giá trị tương đươngnào đó[13] Trong từ điển Tiếng Việt mới chỉ đề cập đến khái niệm thương mại màkhông định nghĩa một cách rõ ràng khái niệm kinh doanh Khái niệm này chỉ được đềcập trong Từ điển Luật học
Theo từ điển Luật học thì kinh doanh là các hoạt động đầu tư, sản xuất, muabán, cung ứng dịch vụ do các chủ thể kinh doanh tiến hành một cách độc lập, thườngxuyên trên thị trường nhằm mục đích lợi nhuận[1]
Khái niệm KDTM còn được quy định trong các văn bản pháp luật hiện hành cónội dung gần trùng với nhau
Ở Việt Nam khái niệm KDTM đã được quy định tại khoản 2 Điều 3 Luậtthương mại năm 1999 và sau đó tiếp tục tục được kế thừa trong Luật doanh nghiệp
Trang 9năm 2005 Khoản 2 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định: “Kinh doanh là
việc thực hiện liên tục một, một số hoặc tất cả các công đoạn của quá trình đầu tư, từ sản xuất đến tiêu thụ đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường nhằm mục đích sinh lời”[24] Luật doanh nghiệp năm 2005 là đạo luật cơ bản quy định
các hình thức tổ chức kinh doanh, do đó khi nói đến khái niệm kinh doanh là chủ yếunhấn mạnh đến hoạt động của các loại hình doanh nghiệp Luật doanh nghiệp chỉ đềcập đến hoạt động kinh doanh, mà không chỉ rõ thương mại là hoạt động như thế nào.Khái niệm thương mại lại được đề cập cụ thể trong văn bản pháp luật khác mà cụ thể làLuật thương mại năm 2005
Luật thương mại năm 2005 đã quy định cụ thể về khái niệm thương mại, và
được mở rộng hơn nhiều so với khái niệm được quy định trong Luật thương mại năm
1997, theo đó hoạt động thương mại là hoạt động nhằm mục đích sinh lợi nhuận bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác[25].
Mặc dù có quy định về thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc
về KDTM nhưng hiện nay BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung 2011 không định nghĩaKDTM mà chỉ liệt kê những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyềncủa Tòa án quy định tại khoản 1,Điều 29 BLTTDS
Như vậy, khái niệm “kinh doanh” hay “thương mại” thường được hiểu là những
hoạt động của cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh thông qua các hoạt động đầu tư,
từ sản xuất đến tiêu thụ sản phẩm hoặc cung ứng dịch vụ trên thị trường, xúc tiến
thương mại nhằm mục đích lợi nhuận Và trong tương quan giữa “kinh doanh” và
“thương mại” thì thuật ngữ “kinh doanh” có nội hàm rộng hơn[8].
1.1.2 Khái niệm thẩm quyền của tòa án
Để tìm hiểu về khái niệm thẩm quyền của tòa án trước hết cần đi tìm hiểu kháiniệm thẩm quyền Khái niệm thẩm quyền thường được gắn liền với chức năng, nhiệm
vụ của cơ quan trong bộ máy nhà nước
Trang 10Theo Đại từ điển tiếng Việt thì thẩm quyền là quyền xem xét để kết luận và định đoạt một vấn đề theo pháp luật[5, 459.] Theo khái niệm này thì thẩm quyền được hiểu
là việc một cơ quan nhà nước được phép tự mình nhìn nhận sự việc và đưa ra ý chíriêng để giải quyết vấn đề một cách phù hợp mà pháp luật đã quy định
Dưới góc độ lí luận, khái niệm thẩm quyền thường được hiểu là phạm vi chứcnăng, nhiệm vụ và quyền hạn của cơ quan Nhà nước trong phạm vi pháp luật nhất định.Tuy nhiên, dưới góc độ này khái niệm thẩm quyền lại được đề cập và có các cách thểhiện không giống nhau Cụ thể:
Trong giáo trình Lý luận về nhà nước và pháp luật của Trường đại học Luật Hà
Nội cho rằng: các cơ quan nhà nước hoạt động trong phạm vi thẩm quyền của mình Thẩm quyền của cơ quan nhà nước là toàn bộ những quyền và nghĩa vụ mà Nhà nước quy định cho cơ quan đó, phụ thuộc vào vị trí của mình trong bộ máy nhà nước Các
cơ quan nhà nước khác nhau thì thẩm quyền khác nhau[19, 204]
Cũng có nội dung tương tự nhưng được trình bày ngắn gọn hơn về thẩm quyền,giáo trình Luật tố tụng hình chính của Trường đại học Luật Hà Nội khẳng định
rằng:“thầm quyền là quyền hạn theo pháp luật quy định, của cơ quan công quyền và công chức giữ chức vụ nhà nước nhất định”[20, 29].
Dưới góc độ pháp lý: Theo từ điển Luật học của Mỹ thì “Thẩm quyền được hiểu
là một khả năng cơ bản và tổi thiểu để cơ quan công quyền xem xét và giải quyết một việc gì theo pháp luật”[32, 289].Theo khái niệm này, thẩm quyền được gắn chặt với
khả năng của cơ quan công quyền khi thực hiện xem xét, giải quyết một vấn đề nào đó
Theo từ điển Luật học của Việt Nam, định nghĩa về thẩm quyền là: “tổng hợp quyền và nghĩa vụ hành động, quyết định của các cơ quan, tổ chức thuộc hệ bộ máy nhà nước do pháp luật quy định”[1] Khái niệm này khẳng định thẩm quyền bao gồm
quyền được làm những công việc, quyền ra các quyết định và nghĩa vụ của các cơ quannhà nước, tổ chức nhà nước khi thực hiện các quyền trên trong phạm vi pháp luật chophép
Trang 11Như vậy có thể hiểu thẩm quyền là tổng hợp các quyền mà pháp luật quy định cho một cơ quan, tổ chức hoặc một công chức được xem xét giải quyết những công việc cụ thể trong lĩnh vực và phạm vi nhất định nhằm thực hiện chức năng của bộ máy nhà nước phù hợp với nhiệm vụ của mình.
Một số nhà nghiên cứu cũng đưa ra khái niệm thẩm quyền của tòa án như sau:
Trong tiếng anh, thuật ngữ Jurisdition được dùng để chỉ thẩm quyền hoặc quyền
tài phán của tòa án[4, 297.] Vì thế, trong từ điển pháp luật của tác giả Lemeunier thì
thẩm quyền của tòa án được hiểu là khả năng của một tòa án xem xét một vụ việc trong
phạm pháp luật cho phép [31] Với cách hiểu này, thẩm quyền của Tòa án chủ yếu
được nhấn mạnh phạm vi xem xét các vụ việc trong giới hạn pháp luật cho phép
Khác với tác giả Lemeunier chỉ đưa ra khái niệm chung chung về thẩm quyền
của tòa án, TS.Nguyễn Đức Mai đã cụ thể hóa khái niệm thẩm quyền của tòa án một
cách chi tiết hơn, theo đó: “ Thẩm quyền của tòa án là một thể thống nhất bao gồm hai yếu tố có liên quan chặt chẽ với nhau đó là thẩm quyền về hình thức và thẩm quyền về nội dung Thẩm quyền về hình thức thể hiện ở quyền hạn xem xét và phạm vi xem xét của tòa án (thẩm quyền xét xử và phạm vi xét xử), còn thẩm quyền về nội dung thể hiện
ở thẩm quyền giải quyết, quyết định của tòa án đối với những vấn đề đã được xem xét”[6].
Theo Th.S Nguyễn Văn Tiến, cũng nêu ra quan điểm của mình về thẩm quyềncủa tòa án có nội dung tương tự như quan điểm của TS.Nguyễn Đức Mai, đó là khái
niệm được thể hiện một cách ngắn gọn và cô động Theo đó, thẩm quyền của tòa án là phạm vi, giới hạn của hoạt động tòa án và quyền năng pháp lý của tòa án có mối liên
hệ chặt chẽ với nhau tạo thành thẩm quyền của tòa án Thẩm quyền của tòa án bao gồm: Thẩm quyền xét xử, phạm vi-giới hạn xét xử và quyền hạn quyết định của tòa án[3]
Khái niệm thẩm quyền của Tòa án còn được đề cập trong tại Khoản 1 Điều 102Hiến pháp năm 2013 và điều 1 Luật tổ chức Tòa án nhân dân năm 2002 Theo đó Tòa
Trang 12án được coi là cơ qua xét xử của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam có quyềnxét xử các vụ án hành chính, hình sự, dân sự và ban hành các bản án, quyết định đượcđảm bảo thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.
Từ những phân tích trên, chúng ta có thể đưa ra khái niệm chung về thẩm quyền
của tòa án như sau: Thẩm quyền của tòa án là toàn bộ những quyền do pháp luật quy định theo đó Tòa án được tiến hành xem xét, giải quyết những vụ việc cụ thể theo quy định của pháp luật Nghiên cứu cụ thể hơn thì có thể thấy thẩm quyền của tòa án là quyền xét xử những vụ án hình sự, giải quyết tranh chấp, các yêu cầu về dân sự, hôn nhân và gia đình; kinh doanh, thương mại; giải quyết các vụ án hành chính và giải quyết các vụ việc khác trên cơ sở quyền lực nhà nước và được quy định bởi pháp luật.
1.1.3. Khái niệm thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh
doanh, thương mại.
Khái niệm vụ việc KDTM được hiểu bao gồm: những vụ án về kinh doanh,thương mại và những yêu cầu về kinh doanh, thương mại Theo đó, vụ án KDTM lànhững tranh chấp giữa quyền và lợi ích của đương sự trong kinh doanh, thương mại.Tranh chấp KDTM là những mâu thuẫn, bất đồng về lợi ích kinh tế giữa các chủ thểphát sinh trong quan hệ kinh doanh, thương mại Những yêu cầu về KDTM là nhữngtrường hợp giữa các chủ thể không có tranh chấp, nhưng yêu cầu Tòa án công nhậnhoặc không công nhận quyền KDTM hoặc một sự kiện pháp lý làm phát sinh, thay đổi,chấm dứt quyền và nghĩa vụ KDTM
Từ cách hiểu về vụ việc kinh doanh, thương mại có thể đưa ra khái niệm thẩmquyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại trong tố
tụng dân sự như sau: Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại là quyền xem xét giải quyết các tranh chấp và yêu cầu về kinh doanh, thương mại và quyền ra các quyết định xem xét, giải quyết các tranh chấp về yêu cầu về kinh doanh, thương mại đó được tiến hành theo thủ tục tố tụng dân sự của tòa án.
Trang 13Khi nhắc đến thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc vềKDTM chúng ta hiểu ngay đó là thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa án trong việc giảiquyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại Thẩm quyền xét xử sơ thẩm của Tòa ántrong việc giải quyết các vụ việc KDTM là thẩm quyền xét xử lần đầu các vụ việcKDTM, để giải quyết những mâu thuẫn, bất đồng, xung đột về quyền lợi và lợi ích,cũng như là các yêu cầu về KDTM của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi íchkinh tế phát sinh trong hoạt động KDTM
1.2 Ý nghĩa của việc quy định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các
vụ việc về kinh doanh, thương mại.
Phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh,thương mại có ý nghĩa vô cùng quan trọng:
Thứ nhất, giúp Tòa án xác định thẩm quyền của mình trong việc giải quyết các vụviệc về KDTM Việc xác định thẩm quyền của Tòa án được quy định trong Hiến pháp
và được cụ thể hóa trong nhiều văn bản pháp luật của ngành Tòa án Vì vậy khi phápluật đã quy định thẩm quyền trong việc giải quyết các vụ việc về KDTM của Tòa án thìTòa án phải thực hiện thẩm quyền đó sao cho đúng với các quy định của pháp luật hiệnhành Việc quy định cụ thể về chức năng nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án, mà đặc biệt
là thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về KDTM sẽ hạn chế được
sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ giữa Tòa án với các cơ quan khác, cũng nhưcác cơ quan Tòa án với nhau
Thứ hai, các quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương
mại là cơ sở để thực hiện quyền khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết các vụ việc vềKDTM theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Từ các quy đinh pháp luật vềKDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án, các chủ thể kinh tế có thể nhận biết được nhữngtrường hợp nào thì thuộc thẩm quyền của Tòa án, trường hợp nào thuộc thẩm quyềncủa Trọng tài thương mại, giúp họ nộp đơn yêu cầu đến đúng cơ quan có thẩm quyền.Qua đó, các chủ thể kinh tế có thể thực hiện dễ dàng quyền yêu cầu của mình
Trang 14Thứ ba, việc phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc vềkinh doanh, thương mại là cơ sở để xác định trách nhiệm của Tòa án về việc giải quyếtcác vụ việc về kinh doanh, thương mại khi có yêu cầu Pháp luật đã quy định cụ thể vụviệc KDTM nào thì thuộc thẩm quyền của Tòa án và những vụ việc nào thuộc thẩmquyền của Trọng tài thương mại Thẩm quyền của Tòa án chỉ được thực hiện trong giớihạn pháp luật quy định Từ đó những quy định pháp luật hiện hành về thẩm quyền củaTòa án, nếu Tòa án không thực hiện thì có thể phải chịu các loại trách nhiệm như tráchnhiệm hành chính, trách nhiệm dân sự, trách nhiệm hình sự tùy thuộc vào mức độnghiêm trọng của việc tòa án không hoặc thực hiện không đúng những quy định đó.
Thứ tư, việc quy định thẩm quyền giúp tòa án giải quyết một cách nhanh chóng và
dễ dàng hơn các vụ việc về kinh doanh, thương mại Nếu như pháp luật không có quyđịnh cụ thể về thẩm quyền của tòa án thì sẽ mất nhiều thời gian để xác định đó có phải
vụ việc về KDTM hay không? Và cơ quan nào sẽ thụ lý giải quyết? Ngược lại, vớiviệc quy định thẩm quyền của Tòa án trên thì khi đương sự có yêu cầu, tòa án sẽ theođúng thẩm quyền của mình mà thụ lý giải quyết theo trình tự thủ tục tố tụng dân sự Dovậy, đảm bảo các vụ việc về KDTM được giải quyết nhanh chóng, dễ dàng và đúngquy định của pháp luật
1.3 Cơ sở của việc phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các
vụ việc về kinh doanh, thương mại.
Thứ nhất, căn cứ vào đường lối, chính sách của Đảng, Nhà nước về hoạt động tưpháp Trong lĩnh vực giải quyết các vụ việc về KDTM các đường lối, chính sách thểhiện trong các Nghị quyết của Đảng luôn là những căn cứ để các nhà làm luật xây dựngcác văn bản pháp luật tương ứng Trong Nghị quyết 08 NQ/TW ngày 02/01/2002 của
Bộ chính trị về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới lạikhẳng định, khẩn trương chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện tăng thầm quyền xét
xử cho tòa án cấp huyện, đổi mới tổ chức của TANDTC để tập trung làm tốt các nhiệm
vụ trong thời gian tới Việc tuân theo đường lối, chính sách của Đảng là một trong
Trang 15những yêu cầu cơ bản không thể thiếu khi xây dựng, sửa đổi các quy định về thẩmquyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về KDTM.
Thứ hai, căn cứ vào cơ cấu tổ chức của hệ thống Tòa án, việc phân định theo cấpTòa án chính là xuất phát từ nguyên tắc xây dựng hệ thống Tòa án theo cấp của ViệtNam Ngoài ra, xuất phát từ cách thức tổ chức hệ thống Tòa án theo địa giới hànhchính việc phân định những vụ việc về KDTM còn để phân định giữa Tòa án cùng mộtcấp với nhau Việc phân định theo lãnh thổ này còn nhằm xác định được Tòa án nào cóđiều kiện thích hợp nhất để giải quyết các vụ việc về KDTM, qua đó đảm bảo đượcquyền lợi của các đương sự
Thứ ba, căn cứ vào cơ sở thực tiễn : hiện nay do sự ảnh hưởng của nền kinh tế thịtrường, cũng như việc hợp tác quốc tế ngày càng sâu rộng nền kinh tế hiện đại của đấtnước diễn ngày càng sôi động Việc nước ta tham gia vào các tổ chức quốc tế khu vực
và trên thế giới, đặc biệt là tham gia vào Tổ chức thương mại thế giới WTO (năm2007) với việc kí kết các điều ước quốc tế song phương và đa phương, đã làm nền kinh
tế nước ta có những chuyển biến rõ rệt Các quan hệ trong lĩnh vực kinh doanh, thươngmại cũng ngày càng mở rộng về chiều rộng và chiều sâu, cùng với đó số lượng cáctranh chấp về KDTM cũng tăng nhanh đòi hỏi hệ thống pháp luật nói chung và phápluật tố tụng dân sự nói riêng cần có những quy định cụ thể để điều chỉnh các quan hệnày phù hợp với các thông lệ quốc tế
Ngoài ra, còn căn cứ vào trình độ chuyên môn nghiệp vụ của đội ngũ cán bộ ngànhtòa án (đặc biệt là của Thẩm phán ở các cấp), cũng như các điều kiện về cơ sở vật chất,
kỹ thuật của tòa án cũng là một trong những căn cứ để xác định thẩm quyền của Tòa ántrong việc giải quyết các vụ việc về KDTM
Trang 161.4 Sơ lược về quá trình hình thành và phát triển của pháp luật tố tụng dân
sự về xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về kinh doanh, thương mại và liên hệ với pháp luật tố tụng dân sự với một số nước trên thế giới.
Pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam về việc xác định thẩm quyền cuả Tòa án trongviệc giải quyết các vụ việc KDTM đã trả qua các giai đoạn khác nhau gắn liền với từnggiai đoạn lịch sử nhất định Cụ thể:
Ở thời kì phong kiến, Quốc triều khám tụng điều lệ là bộ luật đầu tiên của nước ta
điều chỉnh về các hoạt động tố tụng Tuy nhiên, pháp luật trong thời kì phong kiến nàykhông phân biệt rõ các thủ tục về hình sự, dân sự mà nó có thể được chia theo các cáchkhác nhau để xét xử, giải quyết Vì vậy, có thể nói pháp luật thời kì này không phânđịnh riêng thành các vụ việc dân sự và vụ án dân sự và càng không có sự phân chia các
vụ việc theo các lĩnh vực: kinh doanh thương mại, lao động, hôn nhân và gia đình Giai đoạn từ năm 1858-1945 là thời kì cai trị của Pháp trên đất nước ta, chia đấtnước ta thành 3 kì: bắc kì, trung kì, nam kì Pháp luật thời kì này có đặc điểm là đã có
sự phân chia về dân sự, hình sự, tuy còn sơ sài nhưng cũng đưa ra được một số quyđịnh về tố tụng Ở thời này có một số bộ luật: Bộ luật dân giản yếu năm 1833, ở Bắc kì
có Pháp viện biên chế, đến 1931 có Bộ dân luật bắc kì chuyên giải quyết các việc cóliên quan đến dân sự, tuy nhiên những bộ luật này quy định chủ yếu về việc giải quyếtcác tranh chấp, mà chưa có điều luật này quy định về thẩm quyền của tòa án trong việcgiải quyết các yêu cầu về dân sự nói chung và về kinh doanh, thương mại nói riêng.Trong giai đoạn từ năm 1945-1989 đã ban hành một số sắc lệnh như: Sắc lệnh85/SL ngày 22/05/1950 về cải cách bộ máy tư pháp và tố tụng; Sắc lệnh 159/SL ngày17/11/1950 quy định về những vấn đề ly hôn Đặc biệt ngày 24/01/1946 Hồ Chí Minhban hành Sắc lệnh 13/SL về tổ chức Tòa án và các ngạch Thẩm phán Tuy nhiên, vềthẩm quyền giải quyết của tòa án trong các vụ việc về kinh doanh, thương mại vẫnchưa được quy định cụ thể mà chủ yếu vẫn thuộc về Bộ tư pháp xã Sau năm 1960,TANDTC đã ban hành nhiều văn bản hướng dẫn về phiên tòa sơ thẩm dân sự làm cơ sở
Trang 17để xây dựng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án dân sự năm 1989 Như vậy, giaiđoạn này do đặc thù của chiến tranh đất nước bị chia cắt nên ở hai miền Nam-Bắc có 2
hệ thống pháp luật khác nhau, chưa thống nhất về xác định thẩm quyền của tòa án.Giai đoạn từ năm 1989-2004 đã ban hành Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ ánkinh tế có hiệu năm 1994 quy định về thủ tục khởi kiện, điều tra, hòa giải, xét xử các
vụ án về kinh tế Trong chương II về thẩm quyền giải quyết của Tòa án, cụ thể là tại
Điều 12 pháp lệnh này, những vụ án kinh tế thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án cóquy định Toà án có thẩm quyền giải quyết các vụ án kinh tế sau đây: 1- Các tranh chấp
về hợp đồng kinh tế giữa pháp nhân với pháp nhân, giữa pháp nhân với cá nhân cóđăng ký kinh doanh; 2- Các tranh chấp giữa công ty với các thành viên của công ty,giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giảithể công ty; 3- Các tranh chấp liên quan đến việc mua bán cổ phiếu, trái phiếu; 4- Cáctranh chấp kinh tế khác theo quy định của pháp luật
Thẩm quyền của tòa án được quy định tại Điều 10 của Pháp lệnh công nhận vàcho thi hành tài Việt Nam quyết định của Trọng tài nước ngoài năm 1996 quy định tạiĐiều 4 về việc Tòa án có thẩm quyền yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Namquyết định kinh doanh, thương mại của trọng tài nước ngoài Có thể thấy giai đoạn nàypháp luật không quy định riêng về tranh chấp kinh doanh thương mại hay yêu cầu vềkinh doanh thương mại mặc dù chúng đều thuộc thẩm quyền của Tòa án, và tất cả đềuđược giải quyết theo một thủ tục tố tụng chung
Giai đoạn từ khi có BLTTDS 2004 có hiệu lực cho đến nay: BLTTDS 2004 rađời đã khắc phục được những hạn chế của Pháp lệnh giải quyết các vụ án kinh tế năm
1994 và Pháp lệnh công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định của Trọng tàinước ngoài năm 2005 Trong BLTTDS 2004, đã có hẳn một chương đó là chương III,
quy định về thẩm quyền của tòa án cụ thể quy định Điều 29 “Những tranh chấp về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền của Tòa án” và Điều 30 “ Những yêu cầu về kinh doanh, thương mại thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án” Từ ngày 01/01/2012
Luật số 65/2011/QH12 sửa đổi bổ sung một số điều của BLTTDS chính thức có hiệu
Trang 18lực thi hành và một số quy định về thẩm quyền giải quyết các vụ việc về kinh doanh,thương mại của tòa án cũng có sự thay đổi theo hướng tăng thẩm quyền của Tòa án cấphuyện trong việc giải quyết các tranh chấp về KDTM.
Tóm lại, một số vấn đề lý luận về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyếtcác vụ việc về kinh doanh, thương mại được trình bày ở trên cho thấy cái nhìn tổngquát nhất lược sử về thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc trongquan hệ kinh doanh, thương mại Từ đó, tạo cơ sở cho việc tìm hiểu các quy định củapháp luật hiện hành về thẩm quyền của tòa án được thuận lợi và dễ dàng hơn
Liên hệ với pháp luật tố tụng dân sự với một số nước trên thế giới:
Pháp luật tố tụng dân sự của Liên bang Nga: Bộ luật tố tụng dân sự mới (Bộ luật
2003) của Liên bang Nga được quốc hội (Duma) thông qua ngày 23/10/2002 và cóhiệu lực thi hành từ ngày 01/02/2003 Bộ luật này ra đời thay thế cho Bộ luật tố tụngdân sự Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Xô-Viết Liên Bang Nga (Bộ Luật năm 1964) Cấutrúc của Bộ luật này: có 7 phần, 47 chương, và 446 điều Trong bộ luật tố tụng dân sựnăm 2003 của Nga đã dành hẳn một chương, đó là Chương III, quy định về thẩm quyềnxét xử, từ điều 22 đến điều 33, trong đó quy định cụ thể về thẩm quyền của từng cấpTòa án, thẩm quyền của tòa án theo loại việc, thẩm quyền của tòa án theo sự lựa chọncủa nguyên đơn Theo điều 22 của Bộ luật này, thì tòa án sẽ có thẩm quyền giải quyết:
“1 Các vụ việc của công dân, tổ chức, cơ quan chính quyền, nhà nước, cơ qua tự quản địa phương về bảo vệ quyền tự do và lợi ích hợp pháp trong những tranh chấp phát sinh từ quan hệ dân sự, hôn nhân, lao động, nhà ở, môi trường và những quan hệ pháp luật khác; ; 6.Vụ việc về công nhận và cho thi hành phán quyết của Tòa án và Trọng tài nước ngoài”[29] Tòa án sẽ xem xét và giải quyết tất cả các tranh chấp khi đã được
quy định tại Điều luật này, trừ những tranh chấp kinh tế và những vụ việc khác mà luậthiến pháp liên bang và luật liên bang quy định thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa ántrọng tài Theo các quy định pháp luật tố tụng dân sự của Nga thì thẩm quyền của tòa
án trong việc giải quyết các vụ việc dân sự (trong đó có các vụ việc về KDTM) đượcthể hiện qua việc phân định thẩm quyền của các cấp Tòa án, có thể thấy hệ thống Tòa
án của Nga chia Tòa án thành: Tòa án (thường), Tòa án Kinh tế, Tòa án Hiến Pháp Vì
Trang 19vậy ở Liên bang Nga các tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của hệthống Tòa án Kinh tế nên loại việc này không được quy định trong bộ Luật tố tụng dân
sự [11]
Trong nhiều trường hợp thì các vụ việc về KDTM cũng có thể áp dụng các quyđịnh về Thẩm quyền của Tòa án theo sự lựa chọn của nguyên đơn (Điều 29-Bộ luậtnăm 2003) Đối chiếu với các quy định của Việt Nam có thể thấy, nhìn chung về cơbản bộ luật tố tụng của Nga đã phân định thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyếtcác vụ việc dân sự (bao gồm cả các vụ việc về KDTM) cũng có những điểm tươngđồng nhất định với bộ luật tố tụng dân sự Việt Nam Điều này khẳng định sự học hỏi
và kế thừa lẫn nhau trong hệ thống pháp luật tố tụng dân sự của các quốc gia trên thếgiới
Bộ luật tố tụng dân sự của nước cộng hòa Pháp: Trong pháp luật tố tụng dân sự
của nước cộng hòa Pháp, trong Quyển thứ nhất- những quy định chung đối với tất cảcác Tòa án đã danh hẳn một Thiên đó là Thiên III, quy định về thẩm quyền của Tòa án,
và thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc chủ yếu xác định thôngquan thẩm quyền của Tòa án theo tính chất vụ việc (chương I) và thẩm quyền của Tòa
án theo lãnh thổ (Chương II), trong đó cũng có một số quy định khá tương đồng với
quy định của BLTTDS Việt Nam, Ví dụ như: “ Nếu có nhiều bị đơn, nguyên đơn lựa chọn có thể lựa chọn Tòa án nơi cứ trú của một trong số các bị đơn (Sắc lệnh số 81-
500 ngày 12/05/1981) Nếu bị đơn không có nơi cư trú và nơi ở rõ ràng thì nguyên đơn
có thể khởi kiện ra tòa án nơi mình cơ trú hoặc khởi kiện ra Tòa án nào mình muốn nếu đang cư trú ở nước ngoài( Điều 1406 Bộ luật tố tụng dân sự mới)”[30], có điểm
tương đồng với quy định về việc xác định thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyếtcác vụ việc về KDTM theo yêu cầu của nguyên đơn (Điều 36-BLTTDS 2004) Hay tạiQuyển thứ hai- Những quy định riêng đối với mỗi cấp Tòa án cũng dành hẳn mộtThiên đó là Thiên III- Những quy định riêng đối với Tòa án thương mại sơ thẩm; tạiThiên này quy định chi tiết về trình tự thủ tục tố tụng được thực hiện khi giải quyết các
vụ việc về KDTM Như vậy, pháp luật của từng quốc gia đã có những quy định cụ thể
về trình tự thủ tục để giải quyết các vụ việc về dân sự nói chung và vụ việc về KDTM
Trang 20nói riêng thì tuy có sự khác biệt do điều nhiều điều kiện mang lại, nhưng nhìn chungđều nhằm mục đích giải quyết các vụ việc đó hiệu quả nhất.
Trong Bộ luật tố tụng dân sự Cộng hòa Liên bang Đức để xác định thẩm quyền của
Tòa án dân sự, BLTTDS của CHLB Đức trước hết xác định thẩm quyền chung và nơitòa án có thẩm quyền đặc biệt Trước hết Điều 12 BLTTDS Đức quy định một Tòa án
có thẩm quyền đối với một người thì Tòa án đó có thẩm quyền đối với mọi trường hợpkiện chống lại người này, trừ những trường hợp mà việc khởi kiện đã được quy địnhthuộc thẩm quyền của một tòa án khác Điều này khác với BLTTDS nước ta BLTTDSnước ta chia vụ việc dân sự thành nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực KDT.Thẩm quyền của Tòa án sẽ được xác định tùy thuộc vào các vụ việc cụ thể, hơn nữanếu theo định nghĩa của Điều 12 trên thì thẩm quyền chung của tòa án chỉ xác địnhtheo bị đơn chứ không phụ thuộc vào nguyên đơn, còn theo quy định của BLTTDSViệt Nam thì thẩm quyền của Tào án không chỉ phụ thuộc vào bị đơn mà còn phụthuộc vào nguyên đơn và tài sản tranh chấp (Điều 33, khoản 3, BLTTDS) Thẩm quyềntheo địa điểm chung của Tòa án được quy định cụ thể từ Điều 13 đến Điều 21BLTTDS Đức Ngoài ra BLTTDS Đức còn có nhiều quy định về xác định các địa điểm
cụ thể của Tòa án, ví dụ như: Điều 22 BLTTDS Đức quy định đối với các vụ kiện liênquan đến khả năng thanh toán của các đơn vị thành viên cơ quan, doanh nghiệp, hợptác xã, hiệp hội thì tòa án nơi đặt trụ sở chính của các cơ quan, doanh nghiệp, hợp tác
xã cũng có thẩm quyền giải quyết [23]
Kết luận chương I: Vấn đề thẩm quyền của Tòa án, đặc biệt là thẩm quyền của
Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc trong kinh doanh, thương mại là một trongnhững nội dung quan trọng được các nhà nghiên cứu pháp luật quan tâm Thông quacách quan điểm của các học giả, nhà nghiên cứu trong nước, cũng như liên hệ với phápluật tố tụng của một số nước trên thế giới khi xác định thẩm quyền của Tòa án trongviệc giải quyết các vụ việc về KDTM, có thể thấy việc nắm bắt những vấn đề lý luận
có liên quan đến việc xác định thẩm quyền của Tòa án đóng vai trò, ý nghĩa vô cùngquan trọng đối với việc xây dựng nên cách quy định cụ thể trong pháp luật tố tụng dân
sự nói chung, và trong Bộ luật tố tụng dân sự hiện hành nói riêng
Trang 21CHƯƠNG II.
NHỮNG QUY ĐỊNH CỦA PHÁP LUẬT TỐ TỤNG DÂN SỰ VIỆT NAM HIỆN HÀNH VỀ THẨM QUYỀN CỦA TÒA ÁN TRONG VIỆC GIẢI QUYẾT CÁC
VỤ VIỆC VỀ KINH DOANH, THƯƠNG MẠI.
2.1 Thẩm quyền theo loại việc.
Việc phân định thẩm quyền theo loại việc của Tòa án là việc xác định loại việcKDTM nào sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án Thẩm quyền của Tòa án theo loại việctrong KDTM là phạm vi, giới hạn chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của Tòa án trongviệc giải quyết các tranh chấp về KDTM hoặc giải quyết các yêu cầu công nhận hoặckhông công nhận một sự kiện pháp lý nào đó làm căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụtrong KDTM của cá nhân, cơ quan, tổ chức khác; hoặc yêu cầu Tòa án công nhận chomình các quyền về KDTM
Theo quy định của pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam hiện hành, thẩm quyềntheo loại việc của tòa án trong việc giải quyết các vụ việc KDTM được xác định theo 2trường hợp: thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về KDTM vàthẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các yêu cầu về KDTM
2.1.1 Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các tranh chấp về kinh doanh,
thương mại.
Tranh chấp về KDTM là sự bất đồng, mẫu thuẫn, xung đột về quyền lợi vànghĩa vụ của các chủ thể kinh doanh liên quan đến lợi ích kinh tế trong quá trình hoạtđộng KDTM Các tranh chấp về KDTM thuộc thẩm quyền của Tòa án là được quyđịnh tại Điều 29-BLTTDS 2004, được sửa đổi, bổ sung năm 2011, bao gồm:
- Tranh chấp phát sinh từ hoạt động KDTM;
-Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, quyền chuyển giao công nghệ;
-Tranh chấp trong nội bộ công ty;
-Những tranh chấp khác về KDTM mà pháp luật quy định
Trang 22* Các tranh chấp phát sinh từ hoạt động kinh doanh, thương mại.
Theo quy định tại khoản 1-Điều 29- BLTTDS 2004 sửa đổi, bổ sung năm 2011quy định những tranh chấp phát sinh trong hoạt động kinh doanh, thương mại giữa cánhân, tổ chức có đăng ký kinh doanh với nhau và đều có mục đích lợi nhuận bao gồm:
“a) Mua bán hàng hoá; b) Cung ứng dịch vụ; c) Phân phối; d) Đại diện, đại lý; đ) Ký gửi; e) Thuê, cho thuê, thuê mua; g) Xây dựng; h) Tư vấn, kỹ thuật; i) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; k) Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; l) Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; m) Đầu tư, tài chính, ngân hàng; n) Bảo hiểm; o) Thăm
dò, khai thác”[26].
Theo đó, những tranh chấp trong hoạt động KDTM có những đặc điểm sau:
Thứ nhất, tranh chấp KDTM là tranh chấp trong lĩnh vực kinh doanh, thươngmại Theo quy định tại khoản 3-Điều 6- Nghị quyết 03/2012 NQ-HĐTP Hướng dẫn thi
hành một số quy định trong Phần thứ nhất “Những quy định chung”của Bộ luật tố tụng
dân sự đã được sửa đổi, bổ sung theo Luật sử đổi, bổ sung một số điều của Bộ luật tố
tụng dân sự (sau đây gọi chung là Nghị quyết 03) quy định về hoạt động KDTM: là
hoạt động nhằm mục đích sinh lợi bao gồm mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ, đầu
tư, xúc tiến thương mại và các hoạt động nhằm mục đích sinh lời khác tại khoản 1 Điều
3 Luật thương mại Hoạt động kinh doanh thương mại không chỉ là hoạt động trực tiếptheo đăng kí kinh doanh, thương mại mà còn bao gồm cả các hoạt động phục vụ thúcđẩy, nang cao hiệu quả hoạt động kinh doanh, thương mại [17, 61-70.] Và trong
BLTTDS đã liệt liêt kê 14 lĩnh vực được xác định là hoạt động KDTM bao gồm: Mua bán hàng hoá;Cung ứng dịch vụ; Phân phối; Đại diện, đại lý; Ký gửi; Thuê, cho thuê, thuê mua; Xây dựng; Tư vấn, kỹ thuật; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường sắt, đường bộ, đường thuỷ nội địa; Vận chuyển hàng hoá, hành khách bằng đường hàng không, đường biển; Mua bán cổ phiếu, trái phiếu và giấy tờ có giá khác; Đầu tư, tài chính, ngân hàng; Bảo hiểm; Thăm dò, khai thác Đây là một trong những yếu tố
để phân biệt các tranh chấp KDTM với các tranh chấp dân sự khác ( theo nghĩa hẹp)
Trang 23Thứ hai, tranh chấp KDTM phải nhằm mục đích lợi nhuận, đó là nhằm sinh lời
mà cá nhân, tổ chức mong muốn đạt được trong hoạt đông kinh doanh, thương mạikhông phân biệt có thu hay không có thu được lợi nhuận trong hoạt động đó Mục đíchlợi nhuận cũng được HĐTP-TANDTC hướng dẫn cụ thể tại khoản 2-Điều 6- Nghị
quyết 03/2012 NQ-HĐTP, theo đó: “mục đích lợi nhuận của cá nhân, tổ chức trong kinh doanh thương mại là mong muốn của cá nhân, tổ chức đó thu được lợi nhuận mà không phân biệt có thu được hay không thu được lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại đó”[17] Mục đích lợi nhuận có thể là trực tiếp ( ví dụ: Công ty TNHH A
kinh doanh thương mại mua hàng về để bán lại kiếm lời) hoặc gián tiếp (ví dụ: Công tyTNHH B kinh doanh thương mại mua bán một chiếc máy tính không phải để bán lại
mà chỉ để lưu giữ thông tin cần thiết phục vụ cho hoạt động KDTM của mình)
Thứ ba, tranh chấp về KDTM có đặc điểm về chủ thể, đó phải là những cá nhân,
tổ chức có đăng kí kinh doanh Giới hạn về chủ thể trong tranh chấp KDTM cũng khác
so với chủ thể trong các tranh chấp về hợp đồng kinh tế quy định tại khoản 1- Điều 12Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án kinh tế, cụ thể theo khoản 1-Điều 6 Nghị quyết
03/2012 NQ-HĐTP: “ cá nhân, tổ chức có đăng kí kinh doanh là cá nhân, tổ chức đã
được cơ quan có thẩm quyền đăng kí kinh doanh cấp giấy chứng nhận đăng kí kinh doanh theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau: “a, cá nhân, hộ gia đình, tổ hợp tác theo bộ luật dân sự năm 2005, Luật thương mại và các bản quy phạm pháp luật khác về đăng kí kinh doanh; b, Doanh nghiệp ( theo Luật doanh nghiệp và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật Doanh nghiệp); c, Hợp tác xã, liên hợp tác xã (theo Luật hợp tác xã và các văn bản hướng dẫn thi hành Luật hợp tác xã); d, Cá nhân, tổ chức khác theo quy định của pháp luật về đăng kí kinh doanh” [17].
Quy định này của BLTTDS đã khắc phục được nhiều vướng mắc là nhiều tranhchấp pháp sinh từ hoạt động KDTM giữa các chủ thể kinh doanh những lại không đượcTòa án giải quyết theo thủ tục tố tụng kinh tế Ví dụ: hợp đồng được kí kết giữa 2doanh nghiệp tư nhân với nhân hoặc giữa doanh nghiệp tư nhân với công ty hợp danh,giữa doanh nghiệp tư nhân với cá nhân có đăng kí kinh doanh đã bị gạt bỏ ra khỏiphạm trù hợp đồng kinh tế [22]
Trang 24Quy định mới này cũng hạn chế được sự bất bình đẳng trong cơ chế giải quyếttranh chấp phát sinh từ hoạt động KDTM Mặc dù đã không còn phân biệt các thủ tụckhi giải quyết các tranh chấp về dân sự hay KDTM nhưng sự tồn tại của các Tòachuyên trách với các Thẩm phán chuyên trách về dân sự, KDTM vẫn đòi hỏi sự phânđịnh hợp lý về thẩm quyền Với các nhìn nhận khác về phạm vi chủ thể KDTM theohướng dẫn của Nghị quyết 03/2012 NQ-HDTP đã có quy định về những tranh chấpKDTM mà một bên không có đăng kí kinh doanh nhưng đều có mục đích lợi nhuậncũng thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa kinh tế Tuy nhiên, trường hợp đối với quan
hệ mà một bên có mục đích KDTM nhưng một bên không có mục đích KDTM, ví dụ:Trường đại học A ký hợp đồng với một Công ty thương mại B, mua máy tính, khi cótranh chấp phát sinh từ hợp đồng này không được coi là tranh chấp về KDTM doTrường đại học A không có đăng ký kinh doanh, đây chỉ là tranh chấp về dân sự Cóthể thấy đây là tranh chấp phát sinh trong quá trình KDTM, chứ không phải là tranhchấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án
* Các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ.
Các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ thuộc thẩmquyền giải quyết của Tòa án là những tranh chấp được quy định tại khoản 2-Điều 29
BLTTDS 2004 (sửa đổi,bổ sung năm 2011): “Tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ giữa cá nhân, tổ chức với nhau và đều có mục đích lợi nhuận”[26].
Các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ thuộc thẩmquyền của Tòa án phải lưu ý những vấn đề sau:
Thứ nhất, những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ là
những tranh chấp giữa các bên có mục đích lợi nhuận Đặc điểm này giúp phân biệt vớicác quy định tại khoản 4- Điều 25 BLTTDS 2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011
về những tranh chấp về dân sư thuộc thẩm quyền của Tòa án trong đó có những tranhchấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ mà một bên chủ thể không cómục đích lợi nhuận sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án giải quyết trong lĩnh vực dân sự
Trang 25Hiện nay tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao công nghệ chủ yếu là nhữngtranh chấp phát sinh từ hành vi xâm phạm quyền sở hữu trí tuệ như xâm phạm quyềntác giả, quyền đối với nhãn hiệu, tên thương mại, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế, giảipháp hữu ích Thực tế các tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ là những tranh chấp KDTMphổ biến hơn nhiều so với tranh chấp quyền sở hữu trí tuệ thuần túy mang tính dân sự,bởi tài sản trí tuệ hiện nay đóng vai trò quan trọng đối với mỗi chủ thể KDTM.
Theo đó, các tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ đòi hỏi cả hai bên tham gia quan
hệ đó đều phải có mục đích lợi nhuận thì tranh chấp đó mới là tranh chấp KDTM, nếuchỉ có một bên có mục đích lợi nhuận thì đó là tranh chấp về dân sự Do đó, có thể hiểucác chủ thể của những tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ phát sinh giữa tác giả, chủ sởhữu tác phẩm với người sử dụng tác phẩm đó, hoặc giữa chủ sở hữu đối tượng sở hữucông nghiệp với người sử dụng đối tượng sử hữu công nghiệp đó mà tác giả, chủ sởhữu đối tượng sở hữu công nghiệp đã được người sử dụng trả một khoản tiền do cácbên thỏa thuận, còn người sử dụng dùng tác phẩm hay đối tượng sở hữu công nghiệp
đó để khai thác kiếm lời với những điều kiện hai bên thỏa thuận Ví dụ: Tác giả
Nguyễn Văn A chuyển kịch bản của mình cho xưởng phim để lấy một khoản tiền nhấtđịnh, còn xưởng phim khai thác kịch bản đó để thu lợi nhuận Với những quy định cụthể về quyền và nghĩa vụ của các bên, nếu xảy ra tranh chấp thì đây là tranh chấpKDTM
Các tranh chấp về chuyển giao công nghệ cũng phải có mục đích lợi nhuận thìmới được xác định là tranh chấp KDTM, cụ thể bên bán có nghĩa vụ chuyển giao kiếnthức tổng hợp của công nghệ hoặc cung cấp các máy móc, thiết bị, dịch vụ đàotạo kèm theo các kiến thức công nghệ cho bên mua và bên mua có nghĩa vụ thanhtoán cho bên bán đề tiếp thu, sử dụng kiến thức công nghệ đó theo các điều kiện đãthỏa thuận và ghi nhận trong hợp đồng chuyển giao công nghệ Nên khi các bên khôngthực hiện như trong thỏa thuận của hợp đồng chuyển giao công nghệ thì sẽ xuất hiệntranh chấp, và đó là tranh chấp KDTM [7]
Thứ hai, về chủ thể của những tranh chấp này, BLTTDS không có quy định cụ
thể về điều kiện chủ thể, nhưng theo hướng dẫn tại khoản 4, Điều 6, Nghị quyết
Trang 2603/2012 NQ-HĐTP quy định: “ Đối với những tranh chấp quy định tại khoản 2 Điều
29 BLTTDS thì không nhất thiết đòi hỏi cá nhân, tổ chức phải có đăng kí kinh doanh
mà chỉ đòi hỏi cá nhân, tổ chức đều có mục đích lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh, thương mại; nếu chỉ có một bên có mục đích lợi nhuận, còn bên kia không có mục đích lợi nhuận, thì tranh chấp đó là tranh chấp về dân sự quy định tại khoản 4 Điều 25 của BLTTDS” [17] Do đó có thể thấy, BLTTDS và Nghị quyết của HĐTP-TANDTC đã quy định “mở” về vấn đề chủ thể trong tranh chấp về quyền sở hữu trí tuệ, chuyển giao
công nghệ Quy định này hoàn toàn phù hợp với thực tiễn về việc giải quyết các tranhchấp về quyền sở hữu trí tuệ, quyền chuyển giao công nghệ
*Các tranh chấp trong nội bộ công ty
Các tranh chấp trong nội bộ công ty được quy định trong khoản 3 Điều 29
BLTTDS 2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011, cụ thể: “ Tranh chấp giữa công ty
và các thành viên công ty, giữa các thành viên của công ty với nhau liên quan đến việc thành lập, hoạt động giải thể, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức của công ty” [26] Vì vậy, trong trường hợp này, cần phân chia tranh chấp nội bộ
công ty thành hai loại tranh chấp: tranh chấp giữa công ty và thành viên của công ty vàtranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau
Thứ nhất, tranh chấp giữa công ty với thành viên của công ty, loại tranh chấpnày được hướng dẫn cụ thể tại điểm a, khoản 5-Điều 6 Nghị quyết 03/2012 NQ-HĐTP,
đó là các tranh chấp về phần vốn góp của mỗi thành viên đối với công ty (thông thườngphần vốn góp sẽ được tính bằng tiền, nhưng đôi khi cũng có thể tính bằng hiện vật hoặcbằng giá trị quyền sở hữu công nghiệp; về mệnh giá cổ phiếu và số cổ phiếu phát hànhvới mỗi công ty cổ phẩn; về quyền sở hữu một phần tài sản của công ty tương ứng vớiphần vốn góp vào công ty; về yêu cầu công ty đối với các khoản nợ hoặc thanh toáncác khoản nợ của công ty, thanh lý các hợp đồng mà công ty đã ký kết khi giải thể côngty; về các vấn đề khác liên quan đến thành lập, sáp nhập, hợp nhất, chia, tách, chuyểnđổi công ty
Thứ hai, tranh chấp giữa các thành viên công ty với nhau cũng được hướng dẫn
cụ thể tại điểm b, khoản 5, Điều 6 Nghị quyết 03/2012 NQ-HĐTP, đó là tranh chấp
Trang 27giữa các thành viên của công ty về việc trị giá phần vốn góp vào công ty giữa thànhviên công ty hoặc về chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty giữa thành viên củacông ty hoặc về chuyển nhượng phần vốn góp vào công ty của thành viên công ty đócho người khác không phải là thành viên của công ty; về việc chuyển nhượng cổ phiếukhông ghi tên và cổ phiếu có ghi tên; về mệnh giá cổ phiếu, số cổ phiếu phát hành vàtrái phiếu của công ty cổ phàn hoặc về quyền sở hữu tài sản tương ứng với số cổ phiếucủa thành viên công ty; về quyền được phân chia lợi nhuận và về nghĩa vụ chịu lỗ,thanh toán khoản nợ của công ty; về việc thanh lí tài sản, phân chia nợ giữa các thànhviên của công ty liên quan đến việc thành lập, hoạt động, giải thể, sáp nhập, hợp nhất,chia, tách, chuyển đổi hình thức tổ chức công ty.
Tuy nhiên khi xác định thẩm quyền của Tòa án cần lưu ý những vấn đề sau:
Khái niệm “công ty” ở đây được hiểu là Công ty cổ phẩn, Công ty trách nhiệm
hữu hạn và Công ty hợp danh Hiện nay Tòa án nhân dân tối cao đã giải thích khoản 3Điều 29 BLTTDS năm 2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 theo nghĩa rộng, cáctranh chấp phát sinh từ việc thành lập, hoạt động, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chiatách, chuyển đổi hình thức tổ chức của một số loại hình tổ chức không được quy địnhtrong luật Doanh nghiệp năm 2005 như trường dạy nghề, trường tư thực, các doanhnghiệp hoạt động trong lĩnh vực chứng khoán cũng được xác định là tranh chấp thuộcloại việc được quy định tại khoản 3 Điều 29 BLTTDS năm 2004 (sửa đổi, bổ sung năm2011)
Nếu giữa công ty và thành viên công ty hoặc giữa các thành viên công ty vớinhau có tranh chấp với nhau, nhưng tranh chấp đó không liên quan đến việc thành lập,hoạt động, giải thể, hợp nhất, sáp nhập, chia tách, chuyển đổi hình thức tổ chức củacông ty mà chỉ liên quan đến các quan hệ khác như quan hệ lao động, quan hệ dân sự,
ví dụ: tranh chấp về hợp đồng vay mượn tài sản, tranh chấp về bảo hiểm xã hội thì đókhông phải là tranh chấp về KDTM, mà tùy từng trường hợp mà xác định đó là tranhchấp về dân sự hay tranh chấp lao động
Hiện nay thực tế đã xuất hiện hiện tượng thuê giám đốc để quản lí điều hànhcông ty Việc thuê giám đốc, thực tế đã dẫn tới một hệ quả là khi có tranh chấp xảy ra
Trang 28giữa công ty hoặc thành viên công ty với người được thuê làm giám đốc công ty thì đó
có phải là tranh chấp kinh doanh không? Hay giả sử công ty kiện giám đốc( không phải
là thành viên công ty) yêu cầu bồi thường thiệt hại do điều hành kém thì đây là vụ kiện
về tranh chấp hợp đồng lao động hay tranh chấp dân sự? Vì vậy, không thể phủ nhậnnhững quy định trên vẫn là những căn cứ quan trọng trong việc xác định tranh chấp nội
bộ công ty thuộc tranh chấp về KDTM [2]
*Các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật quy định:
Các tranh chấp từ hoạt động KDTM “muôn hình vạn trạng” khiến các nhà làm
luật khó có thể liệt kê hết tất cả các tranh chấp KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết củaTòa án Do đó quy định các tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật
có quy định tại khoản 4, Điều 29 BLTTDS 2004 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011 là
hệ quả tất yếu của phương pháp liệt kê Đây là những tranh chấp về KDTM tuy khôngthuộc các quy định tại khoản 1, 2, 3 Điều 29 BLTTDS nhưng lại được quy định trongcác văn bản pháp luật khác hoặc trong các điều ước quốc mà Việt Nam là thành viên,
nó không nhất thiết phải ghi cụ thể là tranh chấp nào là “tranh chấp kinh doanh thương mại khác” mà chỉ cần đó là các tranh chấp phát sinh từ hoạt động KDTM và chưa được
quy định tại các khoản 1, 2, 3 Điều 29 BLTTDS Một số tranh chấp về kinh doanh,thương mại thuộc quy định tại khoản 4, Điều 29 BLTTDS 2004 gồm:
Tranh chấp về hợp đồng liên quan đến quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa: hợp
đồng ủy thác mua bán hàng hóa được quy định mục 3 Chương V về một số hoạt độngtrung gian thương mại của Luật thương mại năm 2005 Theo đó, hoạt động ủy thácmua bán hàng hóa là một hoạt động thương mại; hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa
là hợp đồng dịch vụ, nên các tranh chấp phát sinh từ quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa
là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại liên quan đến việc cung ứng dịch
vụ nhưng chưa được chưa được liệt kê tại điểm b, khoản 1 Điều 29 BLTTDS 2004.Nên những tranh chấp phát sinh từ quan hệ này sẽ được xác định là tranh chấp khác vềKDTM thuộc khoản 4 Điều 29 BLTTDS 2004
Tranh chấp về hợp đồng gia công: hợp đồng gia công được quy định tại mục 1
Trang 29Chương VI về một số hoạt động thương mại khác của Luật thương mại năm 2005.Theo đó hoạt động gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, nên các tranhchấp phát sinh từ quan hệ này là tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại, tuynhiên tranh chấp liên quan đến hợp đồng gia công thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án lại chưa được quy định tại các khoản 1,2,3 Điều 29 BLTTDS 2004 Do đó, tranh
chấp này khi phát sinh sẽ được xác được là “tranh chấp khác về kinh doanh, thương mại” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án (khoản 4 điều 29 BLTTDS 2004)
Hiện nay, BLTTDS sửa đổi, bổ sung năm 2011 vẫn chưa quy định hết được cáctranh chấp khác nào (khoản 4, Điều 29 BLTTDS 2004) là tranh chấp KDTM, vì vậy,thực có một số loại tranh chấp mà nếu có xảy ra trên thực tế thì không biết xếp nó vàoloại tranh chấp nào Chẳng hạn như các tranh chấp phát sinh từ quan hệ đấu thầu, đấugiá là các loại quan hệ này diễn ra hết sức phổ biến trong đời sống kinh tế xã hộinhưng có được coi là tranh chấp KDTM hay không?
Các tranh chấp cũng phát sinh trực tiếp từ hoạt động KDTM như các tranh chấpliên quan đến cạnh tranh không lành mạnh (độc quyền, bán phá giá, tung tin thất thiệtgây nguy hại đến uy tín của đối thủ cạnh trạnh, cản trở quyền tự do kinh doanh củangười khác) cũng đang diễn ra hết sức phức tạp trong nền kinh tế thị trường của nước
ta hiện nay có được xem là tranh chấp KDTM và thuộc phạm vi điều chỉnh của khoản
1, Điều 29 hay không? Điều này làm cho các Tòa án thực sự lúng túng khi xác địnhthẩm quyền của mình để giải quyết Vì vậy, để nâng cao hơn nữa việc xác định thẩmquyền của Tòa án trong việc giải quyết các vụ việc về KDTM cần có những quy định
cụ thể hơn nữa về vấn đề này
2.1.2 Thẩm quyền của Tòa án trong việc giải quyết các yêu cầu về kinh doanh, thương mại.
Những yêu cầu về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án là việc cánhân, cơ quan, tổ chức không có tranh chấp nhưng có yêu cầu Tòa án công nhận hoặckhông công nhận một sự kiện pháp lý là căn cứ phát sinh quyền, nghĩa vụ liên quanđến KDTM của mình hoặc của cá nhân, tổ chức khác, hoặc yêu cầu Tòa án không công
Trang 30nhận một số vấn đề trong lĩnh vực KDTM được pháp luật quy định thuộc thẩm quyềngiải quyết của Tòa án Những yêu cầu về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa
án được quy định cụ thể tại Điều 30 BLTTDS 2004( sửa đổi, bổ sung năm 2011) baogồm:
- Yêu cầu liên quan đến Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết các vụ tranhchấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại Theo quy định của phápluật hiện hành không chỉ Toà án có thẩm quyền giải quyết các tranh chấp về KDTM
mà trong số trường hợp thẩm quyền này còn thuộc về Trọng tài thương mại Cáctrường hợp thuộc thẩm quyền giải quyết của Trọng tài thương mại được quy định tại
Điều 2, Luật trọng tài thương mại 2010: “1.Tranh chấp giữa các bên phát sinh từ hoạt động thương mại; 2.Tranh chấp phát sinh giữa các bên trong đó ít nhất một bên có hoạt động thương mại; 3 Tranh chấp khác giữa các bên mà pháp luật quy định được giải quyết bằng Trọng tài”[27] Tuy nhiên nếu các bên đương sự có chứng cứ chứng
minh Trọng tài giải quyết như vậy là chưa hợp lý hoặc không đồng ý với phán quyếtcủa Trọng tài thì có thể yêu cầu Tòa án giải quyết các yêu cầu liên quan đến việc giảiquyết các vụ tranh chấp của Trọng tài thương mại
Thẩm quyền của Tòa án đối với các yêu cầu liên quan đến việc Trọng tài thươngmại Việt Nam giải quyết các vụ tranh chấp được quy định tại Điều 340 BLTTDS 2004
đã được sửa đổi, bổ sung năm 2011: “1 Chỉ định, thay đổi Trọng tài viên; 2 Áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời;3 Hủy quyết định trọng tài; 4 Giải quyết khiếu nại quyết định của Hội đồng trọng tài về thỏa thuận trọng tài vô hiệu, thỏa thuận trọng tài không thể thực hiện được, thẩm quyền của Hội đồng trọng tài;5 Thu thập chứng cứ; 6 Triệu tập người làm chứng; 7 Đăng ký phán quyết trọng tài; 8 Các việc dân sự khác mà pháp luật về Trọng tài thương mại Việt Nam có quy định.”[26].
Từ đây, có thể hiểu những yêu cầu liên quan đến Trọng tài thương mại giải quyết cáctranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thương mại là những yêu cầu củađương sự trong việc chỉ định Trọng tài viên, hủy quyết định của Trọng tài Và yêu cầu
Trang 31này của đương sự sẽ thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo thủ tục tố tụng dânsự.
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam bản án, quyết định kinhdoanh, thương mại của Toà án nước ngoài hoặc không công nhận bản án, quyết địnhkinh doanh, thương mại của Toà án nước ngoài mà không có yêu cầu thi hành tại ViệtNam Yêu cầu công nhận hoặc cho thi hành tại Việt Nam hoặc không công nhận bản
án, quyết định KDTM của Tòa án nước ngoài mà không yêu cầu thi hành tại Việt Namthuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại điểm b, Điều 30 BLTTDS 2004 Cácbản án, quyết định KDTM của Tòa án nước ngoài chỉ có giá trị hiệu lực trên lãnh thổcủa nước đó, trong khi đó việc KDTM hiện nay diễn ra ngày càng sôi động không chỉtrong phạm vi một quốc gia, mà còn tiến hành mở rộng ra tất cả các quốc gia trên thếgiới Do đó, những bản án, quyết định KDTM của Tòa án nước người cần được thihành và cho công nhận tại Việt Nam Điều này đảm bảo sự bình đẳng giữa các đương
sự và tăng cường hơn nữa cơ hội hợp tác kinh doanh giữa các quốc gia với nhau, trong
đó có Việt Nam Đồng thời vấn đề này còn ảnh hưởng không nhỏ tới quan hệ ngoạigiao giữa các quốc gia với nhau, mà cụ thể là liên quan đến lĩnh vực tư pháp của nước
ta với tòa án nước đã ra bản án, quyết định đó Vì vậy trước khi thực hiện các quyềncủa mình liên quan đến vấn đề này, Tòa án cần phải nghiên cứu xem xét tới các quyđịnh của pháp luật trong nước, cũng như là các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thànhviên để giải quyết vấn đề sao cho hợp lý nhất Như vậy mới đảm bảo việc thực hiệnthẩm quyền của Tòa án đúng quy định của pháp luật
- Yêu cầu công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định kinh doanh, thương mại của Trọng tài nước ngoài Theo quy định của BLTTDS người có quyền yêu cầu
Tòa án công nhận và cho thi hành tại Việt Nam quyết định KDTM của Trọng tài nướcngoài không được nộp đơn trực tiếp đến Tòa án mà phải nộp đơn yêu cầu của mình đến
Bộ Tư pháp Việt Nam, sau đó Bộ Tư pháp mới chuyển đơn đến cho Tòa án giải quyết(Điều 364, Điều 365 BLTTDS năm 2004, sửa đổi, bổ sung năm 2011) Như vậy Tòa ánkhông trực tiếp nhận đơn yêu cầu công nhận và cho thi hành taị Việt Nam quyết định
Trang 32KDTM của Trọng tài thương mại nước ngoài nhưng Tòa án vẫn là cơ quan có thẩmquyền giải quyết các yêu cầu trên.
Khi vụ việc đã được Trọng tài thương mại Việt Nam giải quyết thì những yêu cầuliên quan đến công nhận và cho thi hành các quyết định KDTM của Trọng tài nướcngoài, trong thời hạn 30 ngày theo quy định của pháp luật, nếu một trong các bên cóchứng cứ chứng minh rằng Hội đồng trọng tài không có thẩm quyền giải quyết thì cóquyền gửi đơn đến Tòa án để yêu cầu hủy phán quyết của Trọng tài Pháp luật quy định
cơ quan có thẩm quyền giải quyết các yêu cầu liên quan đến Trọng tài thương mại củaViệt Nam giải quyết các tranh chấp theo quy định của pháp luật về Trọng tài thươngmại sẽ thuộc thẩm quyền của Tòa án, và khi thụ lý giải quyết thì cũng phải tuân theonguyên tắc được quy định tại Điều 343 BLTTDS 2004
- Các yêu cầu khác về kinh doanh, thương mại mà pháp luật có quy định Các yêucầu khác về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án khi không được quy địnhtrong BLTTDS hiện hành, nhưng lại được quy định trong các văn bản pháp luật kháchoặc các điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên Ví dụ: Trong Luật phá sản cóquy định khi doanh nghiệp lâm vào tình trạng phá sản thì chủ thể được quy định tại
điều 5, Luật phá sản 2014 có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản cho Tòa án nhân dân thẩm giải quyết Đây là yêu cầu khác về KDTM thuộc thẩm quyền giải quyết
của Tòa án không được quy định trong BLTTDS, nhưng lại được quy định trong Luậtphá sản năm 2014
2.2 Thẩm quyền theo cấp Tòa án
Hiện nay, theo pháp luật tố tụng dân sự Việt Nam thì thẩm quyền theo cấp củaTòa án được phân định thành 2 loại là: thẩm quyền của Tòa án cấp huyện và thẩmquyền của Tòa án cấp tỉnh
2.2.1 Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện
Thẩm quyền của Tòa án cấp huyện trong việc giải quyết các các vụ việc về kinhdoanh, thương mại được quy định tại Điều 33 BLTTDS 2004 đã được sửa đổi, bổ sung
năm 2011 cụ thể như sau: “1 Toà án nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc