Theo quy định của LBVQLNTD, hợp đồng theo mẫu là một loại điều kiện giao dịch chung.. Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ soạn thảo để giao dịc
Trang 11 Theo quy định của LBVQLNTD, hợp đồng theo mẫu là một loại điều kiện giao dịch chung.
Theo quy định tại Khoản 5, Khoản 6 Điều 3 LBVQLNTD:
5 Hợp đồng theo mẫu là hợp đồng do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng
hóa, dịch vụ soạn thảo để giao dịch với người tiêu dùng.
6 Điều kiện giao dịch chung là những quy định, quy tắc bán hàng, cung
ứng dịch vụ do tổ chức, cá nhân kinh doanh hàng hóa, dịch vụ công bố và áp dụng đối với người tiêu dùng
Có thể nói hợp đồng theo mẫu và điều kiện giao dịch chung có bản chất điều kiện giống nhau Tuy nhiên, hợp đồng theo mẫu là loại hợp đồng cụ thể, có điều khoản cụ thể quy định quyền và nghĩa vụ của các bên (bên cung cấp sản phẩm, dịch vụ và bên mua hàng) Còn điều kiên giao dịch chung chỉ là những quy định, quy tắc bán hàng do một bên đặt ra (mà cụ thể ở đây là cá nhân, tổ
chức kinh doanh) Chính vì thế, hợp đồng theo mẫu không phải là một loại điều kiện giao dịch chung.
2 Cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng không chỉ quy định trong LBVQLNTD.
Cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho người tiêu dùng không chỉ quy định trong LBVQLNTD mà còn được đề cập ở các mức độ khác nhau tại các văn bản quy phạm pháp luật như: Bộ luật Dân sự (2005), Bộ luật Hình sự (2000), Luật Thương mại (2005), Luật Cạnh tranh (2004), Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật (2006), Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (2005), Pháp lệnh Chất lượng sản phẩm (1999), Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (2003), Pháp lệnh Quảng cáo (2001), Luật công nghệ thông tin (2006)
- Ví dụ như ở Bộ luật dân sự 2005:
Trong các quy định của BLDS 2005 có nhiều quy định liên quan đến việc
xử lý hành vi xâm phạm quyền lợi của người tiêu dùng, cụ thể Điều 604 Căn cứ phát sinh bồi thường thiệt hại, Điều 630 Bồi thường thiệt hại do vi phạm quyền lợi của người tiêu dùng
Trang 2Nguyên tắc bồi thường được quy định tại Điều 605 theo hướng thiệt hại phải được bồi thường toàn bộ và kịp thời Thời hiệu khởi kiện yêu cầu bồi thường là 2 năm được quy định tại Điều 607 Bên cạnh đó, Điều 608 quy định cách xác định thiệt hại khi tài sản bị xâm phạm; Điều 609 quy định cách xác định thiệt hại do sức khoẻ bị xâm phạm; Điều 610 quy định về cách xác định thiệt hại do tính mạng bị xâm phạm
Ngoài ra, BLDS 2005 còn quy định các biện pháp bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng trong trường hợp giữa người tiêu dùng và nhà sản xuất, kinh doanh có quan hệ hợp đồng như quan hệ mua bán hàng hóa, sử dụng dịch vụ… như Điều 444 quy định về bảo đảm chất lượng vật mua bán, Điều 445 về Nghĩa
vụ bảo hành…
- Trong Bộ luật Hình sự:
BLHS năm 1999 đã có một số quy định về các tội phạm trong lĩnh vực bảo
vệ quyền lợi người tiêu dùng với các biện pháp chế tài khá đa dạng gồm cả phạt tiền, phạt cải tạo không giam giữ hoặc có trường hợp có thể phạt tù tới 20 năm,
tù chung thân hoặc tử hình cụ thể như sau:
Điều 156 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả; Điều 157 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là lương thực, thực phẩm, thuốc chữa bệnh, thuốc phòng bệnh; Điều 158 Tội sản xuất, buôn bán hàng giả là thức ăn dùng để chăn nuôi, phân bón, thuốc thú y, thuốc bảo vệ thực vật, giống cây trồng, vật nuôi; Điều 162 Tội lừa dối khách hàng (cân, đo, đong, đếm, tính gian, đánh tráo v.v.); Điều 164 Tội làm tem giả, vé giả; tội buôn bán tem giả, vé giả; Điều 168 Tội quảng cáo gian dối…
- Trong Luật thương mại 2005:
Điều 14 Nguyên tắc bảo vệ lợi ích chính đáng của NTD; Khoản 5 Điều
123 Trưng bày, giới thiệu mẫu hàng hóa không đúng với hàng hóa đang kinh doanh nhằm lừa dối khách hàng; Điều 213 Trách nhiệm đối với hàng hóa bán đấu giá không đúng với thông báo, niêm yết; Khoản 4 Điều 240; Điểm d Khoản
2 Điều 263; Khoản 3 Điều 264; Điều 266 Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại
Trang 3trong trường hợp kết quả giám định sai; Điều 280 Trách nhiệm đối với khiếm khuyết của hàng hóa cho thuê…
- Luật Cạnh tranh 2004:
Khoản 4 Điều 3 về Hành vi canh tranh không lành mạnh; Điều 4 Quyền cạnh tranh trong kinh doanh; Khoản 1 Điều 10 Trường hợp miễn trừ với thỏa thuận hạn chế cạnh tranh bị cấm; Khoản 3 Điều 13 Các hành vi lạm dụng vị trí thống lĩnh trên thị trường bị cấm; Khoản 2 Điều 14 Áp đặt các điều kiện bất lợi cho khách hàng; Điều 40 Chỉ dẫn gây nhầm lẫn; Khoản 2, 3 Điều 45 Quảng cáo nhằm cạnh tranh không lành mạnh; Khoản 2, 3 Điều 46 Khuyến mãi nhằm cạnh tranh không lành mạnh…
- Các luật chuyên ngành khác: Luật Tiêu chuẩn và Quy chuẩn kỹ thuật
(2006), Luật Bảo vệ môi trường sửa đổi (2005), Pháp lệnh Chất lượng sản phẩm (1999), Pháp lệnh Vệ sinh an toàn thực phẩm (2003), Pháp lệnh Quảng cáo (2001), Luật công nghệ thông tin (2006)
- Các văn bản quy phạm pháp luật khác (*)
Có thể nói, cơ sở pháp lý để bảo vệ quyền lợi cho NTD không chỉ quy định trong LBVQLNTD mà còn được quy định trong nhiều bộ luật cũng như các luật chuyên ngành và văn bản quy phạm pháp luật khác như đã nêu trên Với những quy định này, NTD sẽ được bảo vệ một cách hiệu quả hơn quyền và lợi ích của mình
Tuy nhiên, việc đấu tranh bảo vệ quyền lợi NTD ở Việt Nam hiện nay vẫn chưa đạt hiệu quả cao, thành công ít, thất bại nhiều Bởi bên cạnh hành vi gian lận của người sản xuất, kinh doanh, NTD chưa quan tâm tìm hiểu pháp luật, cũng chưa nhận thức rõ quyền và lợi ích của mình Vì vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình, NTD cần thích ứng với cơ chế thị trường, tìm hiểu hệ thống pháp luật Nếu quyền và lợi ích hợp pháp bị xâm phạm, NTD có quyền khiếu nại trực tiếp đến nhà cung cấp hoặc tìm đến Hội Tiêu chuẩn và Bảo vệ NTD Mặc dù vẫn còn nhiều quan ngại, nhưng chắc chắn trong tương lại không xa, luật sẽ thực sự trở thành “tấm lá chắn” hữu hiệu, bảo vệ quyền lợi chính đáng cho NTD
Trang 4Phụ lục:
(*) Trên cơ sở quy định của Pháp lệnh bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng
năm 1999, Pháp lệnh Xử lý vi phạm hành chính năm 2002 và các văn bản có liên quan, Chính phủ đã ban hành một số Nghị định xử lý vi phạm hành chính có liên quan trực tiếp tới công tác bảo vệ người tiêu dùng Trong số đó phải kể đến Nghị định 175/2004/NĐ-CP ngày 10-10-2004 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thương mại; Nghị định số 120/2005/NĐ-CP ngày 30/9/2005 của Chính phủ quy định về xử lý vi phạm pháp luật trong lĩnh vực cạnh tranh; Nghị định số 126/2005/NĐ-CP ngày 10 tháng 10 năm 2005 quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực đo lường và chất lượng sản phẩm, hàng hoá (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 95/2007/NĐ-CP ngày 4/6/2007); Nghị định 45/2005/NĐ-CP ngày 06-04-2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực y tế; Nghị định số 63/2007/NĐ-CP ngày 10/4/2007 quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực công nghệ thông tin; Nghị định 106/2006/NĐ-CP ngày 22-09-2006 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính về sở hữu công nghiệp; Nghị định 129/2005/NĐ-CP ngày 17-10-2005 của Chính phủ về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thú y; Nghị định 169/2004/NĐ-CP ngày 22-09-2004 của Chính phủ quy định về
xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực giá; Nghị định 118/2003/NĐ-CP ngày 13-10-2003 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực kinh doanh bảo hiểm; Nghị định 74/2003/NĐ-CP ngày 26-06-2003 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực điện lực; Nghị định 70/2003/NĐ-CP ngày 17-06-2003 của Chính phủ quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực thuỷ sản; Nghị định 26/2003/NĐ-CP ngày 19-03-2003 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo
vệ và kiểm dịch thực vật,…
Trang 5DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Luật bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng 2011
2 Bộ luật Dân sự 2005
3 Bộ luật Hình sự 1999 sủa đổi bổ sung 2011
4 Luật thương mại 2005
5 Luật Cạnh tranh 2004
6 Chánh tòa dân sự TANDTC Tưởng Duy Lượng, Vai trò của Tòa án
trong việc bảo vệ quyền lợi NTD, Tạp chí Tòa án nhân dân, số 9/2007,
tr 29-34
7. http://www.baocongthuong.com.vn/p0c275n11635/luat-bao-ve-quyen-loi-nguoi-tieu-dung-tam-la-chan-huu-hieu.htm
8. http://www.nclp.org.vn/ban_ve_du_an_luat/nguoi-tieu-dung-va-phap-luat-bao-ve-nguoi-tieu-dung