Người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn gópcủa Nhà nước tại doanh nghiệp khác thì được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp.. Khi một thành viên hợp danh kí kết hợ
Trang 1a Người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp
của Nhà nước tại doanh nghiệp khác thì được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp
b Khi một thành viên hợp danh kí kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân
ngoài công ty thì hợp đồng đó có hiệu lực đối với công ty và các thành viên hợp danh khác
Trang 2a Khẳng định trên là đúng Vì:
Theo quy định tại điểm d khoản 2 điều 13 Luật doanh nghiệp 2005 quy định về quyền thành lập, góp vốn, mua cổ phần và quản lý doanh nghiệp như
sau: “2 Tổ chức, cá nhân sau đây không được quyền thành lập và quản lý doanh nghiệp tại Việt Nam: d) Cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu nhà nước, trừ những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác;”
Theo quy định của pháp luật nước ta thì mọi tổ chức, cá nhân được làm tất
cả những gì mà pháp luật không cấm Vì thế trong trường hợp này, những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại doanh nghiệp khác là đối tượng không bị cấm thành lập và quản lý doanh nghiệp
vì thế họ sẽ được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp
Theo em đây là một quy định rất đúng đắn của pháp luật nước ta vì: Chúng ta chỉ cấm những người là cán bộ lãnh đạo, quản lý nghiệp vụ trong các doanh nghiệp 100% vốn sở hữu Nhà nước không được thành lập và quản lý doanh nghiệp Trong khi đó vốn của Nhà nước không chỉ có trong doanh nghiệp Nhà nước mà còn ở cả các doanh nghiệp khác, và những người được cử làm đại diện theo ủy quyền để quản lý phần vốn góp của Nhà nước tại các doanh nghiệp này sẽ có trách nhiệm “nhẹ nhàng” hơn những người quản lý vốn của Nhà nước trong doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước vì thế họ được phép thành lập và quản
lý doanh nghiệp Quy định này đã mở rộng số lượng đối tượng được phép thành lập và quản lý doanh nghiệp Đó là sự phù hợp để đưa nền kinh tế nước ta phát triển hơn nữa nhất là trong lĩnh vực thương mại
b Khẳng định trên là chưa chính xác Vì:
Theo quy định tại điểm b khoản 1 điều 134 Luật Doanh nghiệp quy định
về quyền của thành viên hợp danh như sau “Nhân danh công ty tiến hành các hoạt động kinh doanh các ngành, nghề kinh doanh đã đăng ký; đàm phán và ký kết hợp đồng, thỏa thuận hoặc giao ước với những điều kiện mà thành viên hợp danh đó cho là có lợi nhất cho công ty;”
Trang 3Như vậy, thành viên hợp danh có quyền ký kết hợp đồng cho công ty hợp danh của mình nhưng hợp đồng đó chỉ phát sinh hiệu lực đối với công ty và các thành viên hợp danh khác khi hợp đồng đó do thành viên hợp danh ký kết nhân danh chính công ty hợp danh đó Trong khẳng định trên không nói rõ thành viên hợp danh đó ký kết hợp đồng với tổ chức, cá nhân khác trong trường hợp nào vì thế sẽ khó xác định đúng hay sai hoàn toàn
Theo như quy định tại khoản 1 điều 134 trên: nếu thành viên hợp danh đó
ký hợp đồng nhân danh công ty hợp danh thì hợp đồng đó sẽ phát sinh hiệu lực với công ty và các thành viên hợp danh khác Còn nếu thành viên đó ký kết hợp đồng mà không nhân danh công ty thì hợp đồng đó sẽ không phát sinh hiệu lực với công ty và các thành viên hợp danh khác bởi theo quy định tại khoản 2 điều
133 Luật Doanh nghiệp 2005:“Thành viên hợp danh không được quyền nhân danh cá nhân hoặc nhân danh người khác thực hiện kinh doanh cùng ngành, nghề kinh doanh của công ty đó để tư lợi hoặc phục vụ lợi ích của tổ chức, cá nhân khác.”
Và tại khoản 2 của điều 137 Luật doanh nghiệp “ Hoạt động do thành viên hợp danh thực hiện ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh đã đăng ký của công ty đều không thuộc trách nhiệm của công ty, trừ trường hợp hoạt động đó
đã được các thành viên còn lại chấp thuận,” Như vậy, trong trường hợp thành
viên hợp danh đó ký hợp đồng ngoài phạm vi hoạt động kinh doanh của công ty thì sẽ phát sinh hiệu lực cho công ty và thành viên hợp danh khác trong trường hợp được các thành viên của của công ty chấp thuận, còn nếu không được chấp thuận thì hợp đồng đó sẽ không có hiệu lực với cả công ty và các thành viên hợp danh khác
Với những quy định chặt chẽ như trên của pháp luật, quyền lợi của các thành viên hợp danh sẽ được bảo đảm hơn vì công ty hợp danh là một pháp nhân nhưng trong đó các thành viên hợp danh thì lại chịu trách nhiệm đến cùng bằng toàn bộ tài sản của mình về các nghĩa vụ của công ty Do đó, việc đặt ra những yêu cầu về trách nhiệm của từng thành viên hợp danh trong khi ký kết các hợp đồng cho công ty là điều rất cần thiết
Trang 4TÀI LIỆU THAM KHẢO.
1 Giáo trình Luật Thương mại tập 1 – Trường đại học Luật Hà Nội
2 Luật Doanh nghiệp 2005