1.2.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, đề xuất một số giải pháp chủ yếu tăng cường khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp cho hộ nông dân trong xã. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về hàng hóa công, dịch vụ công, dịch vụ công trong sản xuất nông nghiệp, đầu tư công, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân. Đánh giá thực trạng về khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Trang 1Phần I: Đặt vấn đề 1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Kinh tế hộ gia đình là loại hình kinh tế tương đối phổ biến và được phát triển ở nhiều nước trên thế giới Sự trường tồn của hình thức sản xuất này đang tự chuyển mình để trở thành một thành phần kinh tế của xã hội phát triển, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế - xã hội của mỗi nước Ở Việt Nam, kinh tế hộ gia đình cũng
có vai trò và ý nghĩa to lớn, đây là mô hình kinh tế có vị trí quan trọng trong quá trình chuyển dịch cơ cấu nền kinh tế vĩ mô, nhằm huy động mọi nguồn lực tiến hành sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước Trong hoạt động kinh tế, gia đình có thể tiến hành tất cả các khâu của quá trình sản xuất và tái sản xuất Các hợp tác xã và
tổ chức quốc doanh nông nghiệp chuyển sang làm dịch vụ cho kinh tế hộ gia đình Với
tư cách là một chủ thể kinh tế, nhiều hộ nông dân sử dụng đất đai, nguồn vốn, sức lao động một cách hiệu quả Có rất nhiều hộ làm ăn giỏi, hộ khá ngày càng tăng lên, hộ nông dân đã cải thiện về thu nhập Tuy nhiên, sự khác nhau về trình độ tiếp cận về các loại dịch vụ phục vụ cho sản xuất nông nghiệp giữa các nhóm hộ đã dẫn tới hộ gặp khó khăn trong sản xuất và không theo kịp với thời đại dẫn tới sự phân hoá giàu nghèo khá rõ nét trong nông thôn hiện nay
Nghị quyết về nông nghiệp, nông dân và nông thôn được Hội nghị lần thứ Bảy (khoá X) thông qua ngày 17/7/2008, trong đó tăng cường dịch vụ công là giải pháp đột phá cho phát triển nông nghiệp nông thôn từ nay đến năm 2020 Để kinh tế hộ gia đình phát triển, Nhà nước đã có những dịch vụ hỗ trợ cho sự phát triển kinh tế hộ nói riêng
và phát triển sản xuất nông nghiệp nói chung mà doanh nghiệp tư nhân không thể hoặc không muốn cung cấp là những dịch vụ công như: khuyến nông, thuỷ lợi, bảo vệ thực vật, thông tin thị trường… Tuy nhiên, hiện nay không phải hộ nông dân nào cũng có khả năng hoặc dễ dàng tiếp cận được với các dịch vụ công đó
Thái An là một xã có điều kiện kinh tế tương đối phát triển của huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, sản xuất nông nghiệp của xã đạt năng suất cao, ngành nghề mây tre đan truyền thống phát triển, đặc biệt xã có trung tâm chợ
Trang 2Bái hoạt động sôi nổi, nên bộ mặt kinh tế, văn hoá xã hội của địa phương đã được phát triển khá mạnh mẽ, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng lên Nhìn chung, khả năng tiếp cận các dịch vụ công phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của người dân trong xã được nâng lên, tuy nhiên còn thấp so với cư dân các vùng ven đô khác Khả năng tiếp cận với thông tin và các dịch vụ công khác phục vụ trong sản xuất
và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp đang là những rào cản làm cho năng lực tiếp cận, năng lực sử dụng các dịch vụ công của hộ nông dân còn yếu
Những vấn đề đặt ra cần quan tâm giải quyết là:
- Thực trạng về khả năng tiếp cận dịch vụ công của hộ nông dân ở xã Thái An?
- Những mong muốn của người dân trong việc tham gia tiếp cận dịch vụ công?
- Làm thế nào để giúp người dân có thể tham gia tiếp cận dịch vụ công đó tốt hơn?
Việc nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công cho hô nông dân có ý nghĩa rất quan trọng với phát triển sinh kế và CNH – HĐH nông nghiệp, nông thôn vì tham gia tiếp cận và sử dụng một cách tốt nhất các dịch vụ công này, tạo điều kiện thuận lợi cho việc sản xuất và tiêu thụ sản phẩm cũng như hiểu biết hơn về thông tin thị trường, giúp sản xuất nông nghiệp đạt hiệu quả cao Chính vì vậy, nâng cao khả năng tiếp cận dịch
vụ công cho sản xuất nông nghiệp cho hộ nông dân là biện pháp quan trọng để thực
hiện được điều đó Xuất phát từ yêu cầu đó, em tiến hành nghiên cứu đề tài: “ Nghiên cứu khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân
ở xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình”.
1.2 Mục tiêu nghiên cứu của đề tài
1.2.1 Mục tiêu chung
Trên cơ sở đánh giá khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình, đề xuất một số giải
Trang 3- Góp phần hệ thống hoá một số vấn đề lý luận cơ bản về hàng hóa công, dịch vụ công, dịch vụ công trong sản xuất nông nghiệp, đầu tư công, các yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân.
- Đánh giá thực trạng về khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
- Bước đầu đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp cho nông dân trên địa bàn xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lý luận và thực tiễn về khả năng tiếp cận dịch vụ công cho hộ nông dân, tập trung vào các dịch vụ công phục vụ cho sản xuất nông nghiệp chủ yếu như: khuyến nông, thủy lợi, dịch vụ thông tin, dịch vụ đầu vào - đầu ra, dịch vụ tín dụng chính thống Với chủ thể là các hộ nông dân trên địa bàn xã Thái An, huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình
1.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Về nội dung nghiên cứu
Đề tài tập trung xem xét, đánh giá mức độ tiếp cận các loại dịch vụ công phục
vụ cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân trong xã như: Thuỷ lợi, khuyến nông, dịch vụ thông tin, dịch vụ đầu vào – đầu ra, dịch vụ tín dụng chính thống Đề xuất giải pháp tiếp cận tốt hơn tới các dịch vụ công đó trong sản xuất nông nghiệp đối với hộ nông dân
Trang 4PHẦN II: CƠ SỞ LÝ LUẬN VÀ THỰC TIỄN 2.1 Cơ sở lý luận
2.1.1 Một số khái niệm
2.1.1.1 Khái niệm về hàng hoá công cộng
Hàng hoá công cộng là những hàng hoá mà việc một cá nhân này đang hưởng
thụ lợi ích do hàng hoá đó tạo ra không ngăn cản những người khác cùng đồng thời hưởng thụ lợi ích của nó
Hàng hóa công cộng là hàng hóa và dịch vụ mang hai tính chất: không cạnh tranh và không thể loại trừ Đối lập với hàng hóa công cộng là hàng hóa tư nhân không mang hai tính chất trên
* Tính chất của hàng hóa công cộng
- Không thể loại trừ: tính chất không thể loại trừ cũng được hiểu trên giác độ tiêu dùng, hàng hóa công cộng một khi đã cung cấp tại một địa phương nhất định thì không thể hoặc rất tốn kém nếu muốn loại trừ những cá nhân không trả tiền cho việc
sử dụng hàng hóa của mình Ví dụ: quốc phòng là một hàng hóa công cộng nhưng quân đội không thể chỉ bảo vệ những người trả tiền còn không bảo về những ai không làm việc đó Đối lập với hàng hóa công cộng, hàng hóa cá nhân có thể loại trừ một cách dễ dàng
- Không cạnh tranh: tính chất không cạnh tranh được hiểu trên giác độ tiêu dùng, việc một cá nhân này đang sử dụng hàng hóa đó không ngăn cản những người khác đồng thời cũng sử dụng nó Điều này ngược lại hoàn toàn so với hàng hóa cá nhân Chính vì tính chất này mà người ta cũng không mong muốn loại trừ bất kỳ cá nhân nào trong việc tiêu dùng hàng hóa công cộng
Tuy vậy chỉ có hàng hoá công cộng thuần tuý (pure public goods) mới có đầy
đủ hai thuộc tính đó, còn trong thực tế đa số hàng hoá công cộng là không thuần tuý
Trang 51 Là loại hàng hóa mà khi đã được tạo ra thì khó có thể loại trừ ai ra khỏi việc
2.1.1.2 Khái niệm về dịch vụ công
* Khái niệm dịch vụ công
Trong thực tế không có định nghĩa nào về dịch vụ công có thể bao quát và được chấp nhận một cách hoàn hảo Có rất nhiều cách tiếp cận khác nhau để hiểu về dịch vụ công
Khái niệm “dịch vụ công” được sử dụng phổ biến rộng rãi ở châu Âu sau Chiến tranh thế giới lần thứ hai Theo quan niệm của nhiều nước, dịch vụ công luôn gắn với vai trò của nhà nước trong việc cung ứng các dịch vụ này
Từ giác độ chủ thể quản lý Nhà nước, các nhà nghiên cứu hành chính cho rằng dịch vụ công là những hoạt động của cơ quan Nhà nước trong việc thực thi chức năng quản lý hành chính nhà nước và bảo đảm cung ứng các hàng hóa công cộng phục vụ nhu cầu chung, thiết yếu của xã hội Cách hiểu này nhấn mạnh vai trò và trách nhiệm của nhà nước đối với những hoạt động cung cấp hàng hóa công cộng
Cách tiếp cận khác xuất phát từ đối tượng được hưởng hàng hóa công cộng cho rằng đặc trưng chủ yếu của dịch vụ công là hoạt động đáp ứng nhu cầu thiết yếu của
xã hội và cộng đồng, còn việc tiến hành hoạt động ấy có thể do nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm
Từ điển Petit Larousse của Pháp xuất bản năm 1992 đã định nghĩa: “dịch vụ công là hoạt động vì lợi ích chung, do cơ quan nhà nước hoặc tư nhân đảm nhiệm”
Trang 6Phạm vi dịch vụ công có sự biến đổi tùy thuộc vào bối cảnh của mỗi quốc gia Chẳng hạn, ở Canada, có tới 34 loại hoạt động được coi là dịch vụ công, từ quốc phòng, an ninh, pháp chế, đến các chính sách kinh tế- xã hội (tạo việc làm, quy hoạch, bảo vệ môi trường, và các hoạt động y tế, giáo dục, văn hoá, bảo hiểm xã hội,…) Trong khi đó, Pháp và Italia đều quan niệm dịch vụ công là những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của người dân do các cơ quan Nhà nước đảm nhiệm hoặc do các tổ chức tư nhân thực hiện theo những tiêu chuẩn, quy định của Nhà nước Tuy vậy, ở mỗi nước lại có nhận thức khác nhau về phạm vi của dịch vụ công Ở Pháp, khái niệm dịch
vụ công được hiểu rộng, bao gồm không chỉ các hoạt động phục vụ nhu cầu về tinh thần và sức khoẻ của người dân (như giáo dục, văn hoá, y tế, thể thao…, thường được gọi là hoạt động sự nghiệp), các hoạt động phục vụ đời sống dân cư mang tính công nghiệp (điện, nước, giao thông công cộng, vệ sinh môi trường thường được gọi là hoạt động công ích), hay các dịch vụ hành chính công, bao gồm hoạt động của cơ quan hành chính về cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch… mà cả hoạt động thuế vụ, trật tự, an ninh, quốc phòng…; còn ở Italia dịch vụ công được giới hạn chủ yếu ở hoạt động sự nghiệp (y tế, giáo dục) và hoạt động kinh tế công ích (điện, nước sạch, vệ sinh môi trường) và các hoạt động cấp phép, hộ khẩu, hộ tịch do cơ quan hành chính thực hiện
Trang 7Hộp 1: Hàng hóa và dịch vụ công cốt lõi và mở rộng
Khu vực công cốt lõi bao gồm các dịch vụ (chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công thuần túy – pure public goods and services) mà chính phủ là người duy nhất cung cấp và mọi công dân bắt buộc phải nhận khi có nhu cầu về chúng Chính phủ cung cấp các loại dịch vụ này dựa trên cơ sở pháp lý và nguyên tắc quản lý nhà nước cơ bản Có thể liệt kê một số dịch vụ đó như: pháp luật, an ninh, quốc phòng, các nguồn phúc lợi xã hội, môi trường và phòng dịch, cấp giấy sở hữu (tài sản, nhà đất), giấy tờ tùy thân (hộ chiếu, visa, chứng minh thư), giấy chứng nhận (khai sinh, khai tử, hôn thú), đăng ký thành lập (doanh nghiệp, hiệp hội, tổ chức)…
Khu vực công mở rộng bao gồm các dịch vụ công (chủ yếu là hàng hóa và dịch vụ công không thuần khiết- impure) mà người tham gia cung cấp có thể là nhà nước và nhiều
tổ chức khác (tư nhân, các tổ chức xã hội, cộng đồng) Sự cung cấp các loại dịch vụ này rất linh hoạt, tùy thuộc vào nhu cầu người tiêu dùng, không mang tính độc quyền và có thể miễn phí hoặc trả phí Đó là các dịch vụ như: y tế, giáo dục, giao thông đô thị, thông tin,
cơ sở hạ tầng,…
(Nguồn: World Bank, World Development Report 1997)
Đối với Việt Nam, dịch vụ công được chia thành 5 lĩnh vực bao gồm: dịch vụ hành chính công (cấp phép, đăng ký, chứng thực…); sự nghiệp công (cung cấp phúc lợi y tế, văn hoá, bảo hiểm, chăm sóc sức khoẻ, phòng chống bệnh dịch); dịch vụ công ích (xây dựng đường sá, cầu cống, vệ sinh môi trường…); dịch vụ pháp lý (cung cấp thông tin, tư vấn về giao dịch nhân sự, mua bán nhà cửa, đất đai, thi hành án dân sự…)
và dịch vụ công ích phục vụ sản xuất (thuỷ lợi, khuyến nông, khuyến lâm, cung cấp giống, thông tin thị trường…)
Trách nhiệm chính của việc cung cấp dịch vụ công thuộc về Nhà nước, nhưng việc cung cấp dịch vụ có thể do Nhà nước trực tiếp làm hoặc do các đối tác xã hội làm trong khuôn khổ pháp luật dưới sự giám sát, quản lý của Nhà nước Ngay cả khi Nhà nước chuyển giao một phần việc cung ứng dịch vụ công cho khu vực tư nhân thì nhà nước vẫn có vai trò điều tiết nhằm đảm bảo sự công bằng trong phân phối các dịch vụ này và khắc phục các bất cập của thị trường
Trang 8Có thể thấy rằng khái niệm và phạm vi các dịch vụ công cho dù được tiếp cận ở nhiều góc độ khác nhau, chúng đều có tính chất chung là nhằm phục vụ cho nhu cầu
và lợi ích chung thiết yếu của xã hội, của cộng đồng dân cư và nhà nước có trách nhiệm đảm bảo các dịch vụ này cho xã hội
Từ những tính chất trên đây, trong nghiên cứu này khái niệm dịch vụ công được
hiểu là: những hoạt động phục vụ nhu cầu thiết yếu của xã hội, vì lợi ích chung của cộng đồng, của xã hội, do nhà nước trực tiếp đảm nhận hay ủy quyền và tạo điều kiện cho khu vực tư nhân thực hiện
* Các đặc trưng cơ bản của dịch vụ công
- Các hoạt động không vụ lợi, không nhằm mục đích lợi nhuận; phục vụ nhu cầu, lợi ích chung thiết yếu của công dân, của toàn xã hội, bảo đảm công bằng và ổn định xã hội
- Các dịch vụ này thực hiện trên cơ sở pháp luật, do nhà nước trực tiếp tổ chức thực hiện hoặc uỷ quyền cho các tổ chức xã hội hoặc tư nhân thực hiện nhưng nhà nước vẫn phải chịu trách nhiệm
- Khi cung ứng dịch vụ công, các cơ quan nhà nước, các tổ chức được uỷ quyền cung ứng tiến hành sự giao dịch với khách hàng ở những mức độ khác nhau
- Việc trao đổi dịch vụ công không thông qua quan hệ thị trường đầy đủ, thông thường Người sử dụng dịch vụ công không trực tiếp trả tiền hay nói đúng hơn là đã trả tiền dưới hình thức đóng thuế vào ngân sách nhà nước Cũng có những dịch vụ mà người sử dụng vẫn phải trả một phần hoặc toàn bộ kinh phí Tuy nhiên, nhà nước vẫn
có trách nhiệm bảo đảm cung ứng các dịch vụ này không nhằm vào mục tiêu lợi nhuận
- Mọi người dân đều có quyền ngang nhau trong việc tiếp cận các dịch vụ công với tư cách là đối tượng phục vụ của chính quyền
Trang 9* Dịch vụ công ích phục vụ sản xuất nông nghiệp ở nước ta
Dịch vụ công ích là hoạt động cung cấp các hàng hoá, dịch vụ có tính chất kinh
tế đáp ứng nhu cầu vật chất thiết yếu cho sinh hoạt của người dân, gắn liền với việc cung ứng của các cơ sở hạ tầng kỹ thuật cơ bản
Trong các loại hình dịch vụ công ích phục vụ các nhu cầu cơ bản thiết yếu của người dân, dịch vụ công ích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp có vai trò rất quan trọng thúc đẩy tăng trưởng kinh tế ngành và đẩy nhanh quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế khu vực nông thôn, nâng cao đời sống cho khu vực nông thôn nói riêng và toàn
xã hội nói chung
Dịch vụ công ích phục vụ sản xuất nông nghiệp nhằm cung ứng các hàng hoá dịch vụ công cho khu vực nông nghiệp nông thôn nhằm đáp ứng các nhu cầu tối thiểu gắn với đời sống vật chất hàng ngày của người dân như điện, nước, giao thông, dịch
vụ nông nghiệp… Do nông thôn nước ta nhiều vùng còn rất khó khăn, cơ sở hạ tầng kém phát triển, trình độ dân trí thấp, sản xuất với tập quán cũ không năng suất… nên nhu cầu về cải thiện đời sống của người dân là rất lớn, đặc biệt là khu vực khó khăn và các đối tượng dễ bị tổn thương
Là loại hình dịch vụ công chịu ảnh hưởng ít hơn về vai trò điều tiết của Nhà nước so với hai loại dịch vụ công là sự nghiệp công và hành chính công Đây là loại hình dịch có khả năng thu hút sự tham gia của nhiều thành phần kinh tế song thực tế hiện nay, dịch vụ này vẫn chư thu hút sự tham gia của nhiều thành phần tư nhân do vốn đầu tư lớn nhưng khả năng thu hồi vốn, lợi nhuận không cao nên rất ít tổ chức, doanh nghiệp tư nhân muốn tham gia cung ứng Do đó, Nhà nước vẫn là chủ thể cung ứng các dịch vụ công cho khu vực này
Chất lượng của các dịch vụ này tuỳ thuộc vào trình độ phát triển, các vấn đề xã hội và khả năng thực hiện của mỗi nước Các nước có nền kinh tế càng phát triển, các dịch vụ công ích càng đặt ra một cách rõ ràng và đòi hỏi sự quan tâm nhiều hơn nữa của các quốc gia nhằm đảm bảo công bằng xã hội và phân phối lại thu nhập giữa các khu vực, giảm sự chênh lệch giàu nghèo
Trang 10Dịch vụ công ích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp có vai trò quan trọng, sản phẩm hàng hoá, dịch vụ này khi tạo ra sẽ được cung ứng đến mọi người dân, không loại trừ một ai, tác động trực tiếp đến kết quả sản xuất nông nghiệp của người dân, nâng cao năng suất lao động từ đó nâng cao thu nhập và cải thiện đời sống của người dân, thúc đẩy kinh tế phát triển.Tuy nhiên, đối tượng tiếp cận các loại dịch vụ công ích phục vụ cho sản xuất nông nghiệp là nông dân với trình độ dân trí thấp, tính bảo thủ cao… thì việc tiếp cận và sử dụng các có hiệu quả các loại dịch vụ này là một điều đáng quan tâm.
*Vai trò và chức năng của Nhà nước trong cung ứng các dịch vụ công ích phục
vụ sản xuất nông nghiệp
Cũng như những hàng hoá dịch vụ công nói chung, Nhà nước có vai trò quan trọng trong việc cung ứng các dịch vụ này Ngoài những chức năng nhiệm vụ chính, Nhà nước còn cần phải thực hiện các nhiệm vụ cụ thể sau đối với quá trình cung ứng dịch vụ công ích phục vụ sản xuất nông nghiệp như sau:
Thứ nhất, Hoàn thiện các cơ chế chính sách đối với việc cung ứng các dịch vụ công ích này, nhằm thu hút sự tham gia của khu vực tư nhân vào lĩnh vực này
Thứ hai, Nhà nước cần phải giám sát, quản lý chặt chẽ quá trình cung ứng các hàng hoá dịch vụ công ích cho sản xuất nông nghiệp, liên tục đánh giá chất lượng và hiệu quả tác động của các sản phẩm hàng hoá dịch vụ công cộng, từ đó xây dựng các
kế hoạch đầu tư cho hợp lý, cân đối các nguồn lực
Thứ ba, Thống nhất sự phân cấp quản lý và cung ứng giữa các cấp từ trung ương cho tới địa phương tránh sự chồng chéo làm giảm hiệu quả cung ứng
2.1.1.3 Khái niệm về đầu tư công
Đầu tư công là đầu tư từ nguồn vốn của Nhà nước vào ngành, lĩnh vực phúc lợi phục vụ lợi ích chung, không nhằm mục đích kinh doanh Đây là phần đầu tư quan
Trang 11Ở Việt Nam, phần vốn đầu tư công chủ yếu từ nguồn ngân sách Nhà nước, chiếm khoảng 22% tổng mức đầu tư xã hội trong giai đoạn 2000 – 2005 và dự tính xấp
xỉ 20% trong giai đoạn 2006 – 2010.(Cao Văn Bản, Vụ trưởng vụ Giám sát đầu tư -
Bộ kế hoạch Đầu tư)
Thực hiện Nghị quyết số 72/2006/QH11 ngày 29 tháng 11 năm 2006 của Quốc hội về Chương trình xây dựng Luật, Pháp lệnh năm 2007 và Quyết định số 291/QĐ-TTg ngày 7/3/2007 của Thủ tướng Chính phủ về việc phân công cơ quan chủ trì, phối hợp soạn thảo các dự án luật, Bộ Kế hoạch và Đầu tư phối hợp với các Bộ, ngành liên quan đã dự thảo Luật Đầu tư công để báo cáo Chính phủ trình Quốc hội ban hành Những nội dung chủ yếu của dự thảo luật đầu tư công (phụ lục 1.1: Những nội dung chủ yếu của dự thảo luật đầu tư công)
2.1.2 Các loại dịch vụ công chủ yếu cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân
Có nhiều loại dịch vụ công phục vụ cho sản xuất nông nghiệp: Khuyến nông, dịch vụ thủy lợi, dịch vụ thông tin, dịch vụ đầu vào – đầu ra, dịch vụ cung cấp tín dụng chính thống
Theo Adams: Khuyến nông là tư vấn cho nông dân giúp họ tìm ra những khó khăn trở ngại trong cuộc sống và sản xuất, đồng thời đề ra những giải pháp khắc phục Khuyến nông còn giúp cho nông dân nhận biết những cơ hội của sự phát triển
Theo A.H Mauder: “Khuyến nông như một dịch vụ hay hệ thống giúp đỡ nông dân thông qua giáo dục, nhằm nâng cao các phương pháp và kỹ thuật canh tác, tăng
Trang 12hiệu quả sản xuất và thu nhập, cải thiện mức sống của người nông dân và đưa ra các chuẩn mực giáo dục và xã hội lên tầm cỡ quốc gia” Hay có thể hiểu đơn giản hơn thì khuyến nông bao gồm các hệ thống giáo dục không chính thức và đối tượng hướng tới
đó là nông dân nông thôn, với các hoạt động cơ bản là nông nghiệp
Theo quan điểm của Cục Khuyến Nông Việt Nam (2006) tổng hợp từ nhiều khái niệm của các quốc gia, các tác giả đúc kết lại và đưa ra khái niệm: “Khuyến nông
là cách đào tạo và rèn luyện tay nghề cho nông dân, đồng thời giúp cho họ hiểu được những chủ trương chính sách về nông nghiệp, những kiến thức về kỹ thuật, kinh nghiệm về quản lý kinh tế, những thông tin về thị trường, để họ có đủ khả năng tự giải quyết được các vấn đề của gia đình và cộng đồng nhằm đẩy mạnh sản xuất, cải thiện đời sống, nâng cao dân trí, góp phần xây dựng và phát triển nông thôn mới”
2.1.2.2 Dịch vụ thuỷ lợi
Phát triển bền vững đã và đang trở thành phương châm trong chiến lược phát triển của mỗi quốc gia Để có một nền nông nghiệp bền vững thì trước hết phải nâng cao hiệu quả và tính bền vững của các hệ thống tưới, tiêu Đây cũng chính là mục tiêu của công tác quản lý thuỷ nông Khái niệm hiệu quả tưới được hiểu đầy đủ là mức độ đạt được của các mục tiêu ban đầu đề ra của các hệ thống tưới, tiêu Sự nhìn nhận không toàn diện và không đầy đủ về hiệu quả tưới đã ảnh hưởng lớn tới việc tìm ra các biện pháp để nâng cao hiệu quả của các hệ thống tưới hiện nay Bởi lẽ sẽ không đưa ra được một cách đầy đủ các chỉ số biểu thị hiệu quả tưới cùng các phương pháp đánh giá các chỉ tiêu đó Còn sự bền vững của một hệ thống tưới được biểu hiện ở chỗ: Phải có một tổ chức quản lý thuỷ nông hoạt động tốt, công trình phát huy được hiệu quả, tài chính đáp ứng được các yêu cầu hoạt động về vận hành và quản lý, người dùng nước thoả mãn dịch vụ dùng nước
Hiện nay, Chính phủ rất ưu tiên, dành các nguồn đầu tư tập trung cho phát triển
Trang 13nghèo, tăng thu nhập từ nông nghiệp, nâng cao chất lượng cuộc sống khu vực nông thôn.
2.1.2.3 Dịch vụ thông tin
Cùng với xu hướng phát triển mạnh mẽ của nề kinh tế thị trường đặc biệt khi Việt Nam trở thành thành viên của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) thì việc tiếp cận với các thông tin là đặc biệt quan trọng không chỉ đối với các doanh nghiệp sản xuất kinh doanh mà nó còn có ảnh hưởng rất lớn đến hiệu quả sản xuất kinh doanh của
hộ nông dân Dựa vào những nguồn thông tin hữu ích mà hộ có thể ra quyết định sử dụng yếu tố đầu vào gì? sử dụng bao nhiêu? Sản phẩm làm ra tiêu thụ ở đâu?
Trong điều kiện thị trường nông sản trong nước và thế giới ngày càng có nhiều diễn biến phức tạp, sự tăng giảm giá thất thường, việc cập nhật thông tin trở nên vô cùng cần thiết và là điều kiện sống còn để bảo đảm cho nông dân bán được sản phẩm với giá tốt nhất Từ đó tránh được việc bị ép giá, hay sự giảm sút của thị trường tiêu thụ, hay đơn giản là chọn địa điểm bán không hợp lý nên chịu thiệt thòi về giá cả Chính vì vậy, việc phát triển việc cung cấp thông tin cho hộ nông dân là vô cùng quan trọng
Hiện nay, có các tổ chức cung cấp dịch vụ thông tin cho nông dân chủ yếu như HTX, khuyến nông và các phương tiện truyền thông
* Tiếp cận thông tin
- Tiếp cận thông tin là sử dụng một số phương pháp, phương tiện trong tiếp cận
để đến gần nắm bắt các dữ liệu, số liệu về thị trường trong một bối cảnh không gian, thời gian cụ thể từ đó hình thành cách lý giải các luận điểm về thông tin
Có nhiều phương pháp và cách tiếp cận thông tin khác nhau tùy vào đối tượng tiếp cận và thông tin cần tiếp cận Đối với người sản xuất, khi tiếp cận thông tin thường với mục đích tìm hiểu thông tin về kỹ thuật sản xuất, thông tin về thị trường đầu vào, đầu ra để họ đưa ra các quyết định trong sản xuất tùy vào lợi nhuận mà họ đạt được khi quyết định sản phẩm đó Đối với người tiêu dùng khi tiếp cận thông tin thông
Trang 14thường mục đích của họ để đưa ra quyết định trong tiêu dùng sản phẩm đó và có nên tìm sản phẩm thay thế hay không tùy thuộc vào độ thỏa dụng mà họ đạt được
Nói đến thông tin đối với người nông dân là nói đến tất cả các thông tin về thị trường đầu vào và thị trường đầu ra và thông tin về kỹ thuật sản xuất Tiếp cận thông tin là tiếp cận về cả hai thị trường đầu vào, đầu ra và kỹ thuật sản xuất đó Đối với thị trường đầu vào thì người nông dân thường tiếp cận các thông tin về từng mảng thị trường mà họ quan tâm như: Thị trường phân bón, thị trường giống, thị trương thuốc BVTV, thị trường vốn… Thông tin mà họ quan tâm là tại thời điểm họ đang sản xuất thì biến động của các mảng thị trường đó như thế nào Còn đối với kỹ thuật sản xuất người nông dân sẽ tìn hiểu thông tin về kỹ thuật sản xuất, tìm hiểu những kỹ thuật mới
để áp dụng vào sản xuất nhằm đem lại kết quả sản xuất tốt nhất
2.1.2.4 Dịch vụ đầu vào – đầu ra
Dịch vụ đầu vào ở đây có thể hiểu là dịch vụ cung cấp cho nông dân những yếu
tố đầu vào cần thiết cho sản xuất nông nghiệp như vật tư nông nghiệp (có rất nhiều đầu vào cho sản xuất nông nghiệp nhưng trong báo cáo này chỉ nghiên cứu đầu vào là vật
tư nông nghiệp)
Dịch vụ đầu ra ở đây có thể hiểu là dịch vụ giúp nông dân tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp do hộ sản xuất ra
HTX là một trong những tổ chức cung cấp dịch vụ đầu vào – đầu ra cho hộ nông dân HTX sẽ đứng ra liên kết với các tổ chức khác như khuyến nông, các doanh nghiệp nông nghiệp… để cung cấp đầu vào phục vụ cho sản xuất nông nghiệp của hộ
và bao tiêu sản phẩn đầu ra cho hộ
2.1.2.5 Dịch vụ cung cấp tín dụng chính thống
Nhà kinh tế Pháp Louis Baudin đã định nghĩa tín dụng là một sự trao đổi tài hóa hiện tại lấy một tài hóa tương lai Ở đây yếu tố thời gian đan xen lẫn vào đó, do đó có
Trang 15và ngày nay khi nói đến tín dụng người ta nghĩ ngay đến ngân hàng, vì các cơ quan này chuyên làm việc cho vay, bảo lãnh triết khấu.
Tín dụng chính thống là hình thức tín dụng được pháp luật công nhận như ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng kinh doanh, ngân hàng cổ phần, HTX tín dụng, quỹ tín dụng nhân dân… đồng thời chịu sự quản lý của Nhà nước
2.1.3 Những yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân
2.1.3.1 Dịch vụ khuyến nông
Mặc dù khuyến nông giữ vai trò quan trọng trong việc nâng cao trình độ, kiến thức cho nông dân, tăng hiệu quả sản xuất nhưng vẫn còn một số hộ nông dân vẫn chưa tiếp cận được hoặc khó tiếp cận khuyến nông
Tiếp cận các dịch vụ khuyến nông hay gọi tắt là tiếp cận khuyến nông là quá trình hoạt động trong hệ thống khuyến nông được diễn ra từ hai phía ngược chiều, một
là các tổ chức cung cấp dịch vụ khuyến nông, hai là hộ nông dân - người có nhu cầu sử dụng các dịch vụ khuyến nông Một số yếu tố chủ yếu ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận các dịch vụ khuyến nông của nông dân như:
(1) Điều kiện kinh tế của hộ: Người nghèo khó tiếp cận khuyến nông Hiện nay, công tác khuyến nông mới chỉ “phủ sóng” đến những người có điều kiện, còn người nghèo, vùng đồng bào dân tộc, vùng sâu vùng xa vẫn khó tiếp cận ( TS Tống Khiêm, Giám đốc Trung tâm Khuyến nông – Khuyến ngư Quốc gia) Nguyên nhân là do cơ chế tài chính, bởi khuyến nông hoạt động theo hình thức Nhà nước và nông dân cùng đóng góp Chẳng hạn, mức hỗ trợ bình quân của Nhà nước cho khu vực đồng bằng là 30%, trung du miền núi là 50%, vùng miền núi, vùng sâu vùng xa, hải đảo là 80% Muốn làm mô hình, bà con phải đóng góp, vì thế người nghèo ít có cơ hội hưởng lợi
(2) Một yếu tố khác cũng ảnh hưởng điến việc tiếp cận với dịch vụ khuyến nông của nông dân là sự quan tâm của chính quyền các cấp đến công tác này và trình
độ cũng như tính yêu nghề của cán bộ khuyến nông viên cơ sở Chính quyền các cấp quan tâm sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho việc tiếp cận của hộ nông dân với dịch vụ
Trang 16khuyến nông Cán bộ khuyến nông viên cơ sở có trình độ và yêu nghề sẽ tạo cho nông dân lòng tin và họ sẽ dễ dàng tiếp cận hơn Trình độ của cán bộ khuyến nông thể hiện qua sự hiểu biết về kiến thức; kỹ năng giao tiếp và hành vi ứng xử của họ với người dân Cán bộ khuyến nông có hiểu biết rộng không chỉ về kỹ thuật, về thị trường, về chính sách, môi trường, xã hội… lại nhiệt tình và thân thiện với nông dân thì khả năng tiếp cận của nông dân với dịch vụ khuyến nông sẽ thuận lợi hơn.
(3) Trình độ văn hóa của nông hộ cũng là một yếu tố quan trọng có ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ khuyến nông Trình độ của chủ hộ và các thành viên trong hộ thể hiện về nhận thức, khoa học kỹ thuật, về kiến thức kinh tế, thị trường, xã hội môi trường do khuyến nông cung cấp Họ sẵn sàng tham gia hỗ trợ và giúp đỡ nông dân khác Khi người nông dân có trình độ văn hóa càng cao thì nhận thức về việc tiếp cận với các phương thức sản xuất mới, giống mới… sẽ cao hơn, cũng có nghĩa là tính bảo thủ của họ sẽ giảm Từ đó, họ sẽ nhận thấy được những mặt có lợi mà dịch vụ khuyến nông mang lại (như quyết định áp dụng những tiến bộ kỹ thuật mới…) Ngược lại, với những hộ nông dân còn hạn chế về trình độ văn hóa thì họ sẽ khó khăn trong việc tiếp cận dịch vụ khuyến nông chính vì tính bảo thủ của mình, sợ và không muốn tiếp cận với những cái mới Ngoài ra, các hộ có trình độ văn hóa thấp thường không tự tin, không dám mạo hiếm đầu tư sản xuất, họ sợ rủi ro (rủi ro thời tiết, giá cả…)
(4) Giới tính của chủ hộ cũng ảnh hưởng phần nào đến tiếp cận dịch vụ khuyến nông Nhìn chung, những chủ hộ là nam giới thì thường mạnh dạn hơn những hộ là nữ, nam giới thường quyết đoán và mạo hiểm hơn, dám làm, dám chịu… Nữ giới thường thận trọng hơn, không dám mạo hiểm Như vậy, chủ hộ là nữ thường khó khăn trong việc tiếp cận khuyến nông, đặc biệt là việc áp dụng các mô hình sản xuất mới
(5) Nội dung và chất lượng của các dịch vụ khuyến nông Các chương trình, dự
án, hoạt động khuyến nông phải xuất phát từ nhu cầu của nông dân, phù hợp với khả
Trang 17(6) Cơ chế chính sách Đây là nhóm nhân tố ảnh hưởng ở tầm vĩ mô, ngoài các chính sách về khuyến nông thì các chính sách khác có liên quan như, chính sách đất đai, chính sách tín dụng, chính sách thuế cũng có những tác động ảnh hưởng đến họat động khuyến nông [VUFO – Trung tâm Tư liệu NGO (11/2004), các vấn đề về giới và dân tộc thiểu số trong khuyến nông NXB Hà Nội].
(7) Điều kiện tự nhiên Các vùng miền núi, trung du do điều kiện địa hình khó khăn, nông dân ở đây trình độ thấp, khả năng tiếp cận thấp hơn ở các vùng đồng bằng
Điều kiện tự nhiên là yếu tố mang tình chất khách quan, các hoạt động sản xuất nông nghiệp đều chịu ảnh hưởng rất lớn của điều kiện thời tiết, khí hậu, do đó các chương trình dự án khuyến nông có đạt hiệu quả cao hay không cũng phụ thuộc rất nhiều vào điều kiện thời tiết tốt hay xấu
(8) Phong tục tập quán Đây là một yếu tố mang tính truyền thống ở các địa phương, nếu một chương trình dự án khuyến nông triển khai không phù hợp với phong tục tập quán và điều kiện sản xuất của địa phương thì sẽ rất dễ bị thất bại Các phong tục tập quán cần chú ý là tập quán canh tác, chăn nuôi, tập quán tổ chức sản xuất, sử dụng các yếu tố như đất đai, lao động, quản lý trong hộ
(9) Nguồn vốn cho hoạt động khuyến nông Vốn là nhân tố rất quan trọng cần thiết cho sản xuất, các chương trình được triển khai cần có đủ vốn để thực hiện, đặc biệt với người nông dân họ rất cần vốn để đưa tiến bộ kỹ thuật mới vào sản xuất
2.1.3.2 Dịch vụ thủy lợi
Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận của hộ với dịch vụ thủy lợi:
Thứ nhất, nguồn nước tự nhiên: Hiện nay tình trạng thiếu nước sinh hoạt và nước cung cấp cho sản xuất nông nghiệp lâm vào tình trạng đáng báo động Nhiều nơi không cung cấp đủ nước tưới cho sản xuất nông nghiệp do mực nước tại các sông đã xuống thấp khiến các trạm bơm không thể bơm nước lên được Chính vì thế, nguồn nước có vai trò rất quan trọng trong hoạt động của dịch vụ thủy lợi, không có nước thì dịch vụ thủy lợi sẽ gặp rất nhiều khăn trong việc cấp nước tưới cho sản xuất nông nghiệp
Trang 18Thứ hai, điều kiện địa hình: Địa hình cao quá hay thấp quá thì nông dân khó có thể có cơ hội tiếp cận được với dịch vụ thủy lợi vì nước không thể lên đến những nơi cao hoặc nếu có lên đến những nơi có thì những người có ruộng ở trũng sẽ bị ngập lụt
Do vậy địa hình cũng gây khó khăn cho khả năng tiếp cận dịch vụ thủy lợi của hộ nông dân
Thứ ba, cơ sở vật chất tại: Cơ sở vật chất ở đây bao gồm hệ thống máy bơm, hệ thống mương máng và những trang thiết bị khác phục vụ cho việc cấp nước và thoát nước tại địa phương Cơ sở vật chất tốt sẽ bảo đảm chất lượng dịch vụ được tốt hơn, người dân sẽ được tiếp cận với dịch vụ thủy lợi dễ dàng hơn Ngược lại nếu cơ sở vật chất kém, máy bơm công suất kém, hệ thống mương máng chưa được bê tông hóa…
sẽ làm cho chất lượng dịch vụ kém hiệu quả, người dân không được cấp đủ và thoát nước không đúng lúc gây ảnh hưởng đến việc sản xuất của người dân
2.1.3.3 Dịch vụ cung cấp thông tin
Khả năng tiếp cận thông tin của hộ nông dân là mức độ nông dân có thể có những khả năng nào hay cách nào để đến gần nắm bắt và luận giải các thông tin đó Hiện nay nông dân có rất nhiều khả năng để tiếp cận thông tin thông qua các dịch vụ cung cấp thông tin như: Tiếp cận qua báo chí, tiếp cận qua các kênh truyền thanh, truyền hình, qua Internet… Tuy nhiên, không phải hộ nông dân nào cũng tiếp cận được với các dịch vụ cung cấp thông tin và sử dụng những thông tin có hiệu quả nhất Sau đây là một số yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ cung cấp thông tin của hộ nông dân:
(1) Trình độ học vấn và trình độ chuyên môn
Đây là yếu tố rất quan trọng đánh giá trình độ của nông dân và mức độ tiếp cận cũng như xử lý các thông tin Thông thường những người có trình độ học vấn cao thường sẽ quan tâm nhiều hơn đến các hệ thống thông tin hơn là những người có trình
Trang 19Đặc biệt những người có trình độ chuyên môn cao thì thường có xu hướng sản xuất lớn theo hướng hàng hóa Có thể họ sản xuất trang trại hoặc kinh doanh lớn Những người này thường có xu hướng tìm hiểu về thông tin thị trường sản phẩm của mình hơn những người khác Họ có điều kiện tiếp xúc về trình độ chuyên môn cùng với thông tin thị trường mà họ tìm hiểu giúp họ có những quyết định đúng đắn trước, trong và sau quá trình sản xuất sản phẩm.
(2) Cơ sở vật chất và điều kiện kinh tế xã hội của địa phương và gia đình
Một địa phương có điều kiện kinh tế xã hội phát triển và hệ thống cơ sở vật chất đầy đủ, đó là địa phương có thể cung cấp các dịch vụ như truyền thanh, bưu điện, lắp đặt internet, xây dựng thư viện, đầu tư cho công tác khuyến nông khuyến lâm, xây dựng đường giao thông… Một khi cơ sở hạ tầng đầy đủ thì nông dân sẽ có khả năng cao hơn trong việc tiếp cận với hệ thống thông tin
Điều kiện kinh tế gia đình đảm bảo, tức là gia đình có thể mua sắm các trang thiết bị phục vụ nghe nhìn trong gia đình cũng như tiếp cận với sách báo và các nguồn thông tin khác Với điều kiện như thế, những người trong gia đình có điều kiện và khả năng nhiều hơn trong tiếp cận các thông tin
(3) Hệ thống kênh thông tin và chất lượng truyền bá thông tin thị trường cho nông dân trong địa phương
Nếu chính quyền địa phương quan tâm đến hệ thống thông tin cho nông dân, trang bị đầy đủ hệ thống kênh thông tin cho nông dân thì người nông dân có khả năng tiếp cận thông tin cao hơn Bên cạnh đó, hệ thống thông tin cung cấp cho nông dân có chất lượng cao, thông tin chính xác, đầy đủ và kịp thời cho nông dân thì sẽ thúc đẩy họ tìm đến thông tin nhiều hơn, họ sẽ có khả năng tiếp cận đến dịch vụ cung cấp thông tin cao hơn
(4) Nhận thức của bản thân nông dân về vấn đề sản xuất và tiêu thụ nông sản.Sản xuất là khâu cốt lõi của quá trình sản xuất, một yếu tố quan trọng đó là nhận định của bản thân nông dân về vấn đề này Khi nông dân cho rằng sản xuất là để bán thì họ sẽ quan tâm nhiều hơn đến các thông tin về kỹ thuật sản xuất, thông tin về
Trang 20đầu vào cũng như thông tin về thị trường đầu ra Nếu nông dân sản xuất để tiêu dùng trong gia đình thì họ ít quan tâm đến thị trường đầu ra mà chỉ quan tâm đến vấn đề thông tin thị trường đầu vào và kỹ thông tin về kỹ thuật sản xuất Và khi đó khả năng tiếp cận thông tin của họ cũng bị ảnh hưởng.
Tiêu thụ là khâu quan trọng của quá trình sản xuất kinh doanh Tuy nhiên, đối với nông dân nói chung thì khâu này không đạt lợi ích tối ưu nhất Người nông dân thông thường sản xuất nhỏ lẻ, thường chỉ sản xuất những sản phẩm mà gia đình cần cho tiêu dùng, nếu thừa mới đem bán Nếu sản xuất hàng hóa thì cũng chỉ là sản xuất theo nhau hoặc theo chỉ đạo của Hợp tác xã mà không có sự chủ động Chính cách sản xuất này của nông dân đã dẫn đến tình trạng tiêu thụ ồ ạt theo mùa vụ, không có người mua, giá cả thấp, bán cho thương lái, gặp mua thì bán rất ít có hợp đồng, bị ép giá… Chính vì vậy, việc nâng cao khả năng tiếp cận thông tin cho nông dân là việc rất quan trọng, nó có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả sản xuất kinh doanh của hộ nông dân
2.1.3.4 Dịch vụ đầu vào – đầu ra
Đối với đầu vào là vật tư nông nghiệp thì một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tiếp cận dịch vụ vật tư nông nghiệp của hộ nông dân như:
- Hình thức thanh toán khi mua hàng: Khi được trả chậm thì hộ sẽ mua nhiều hơn và hộ dễ dàng tiếp cận với dịch vụ hơn khi điều kiện nguồn vốn của hộ có hạn
- Sự thuận tiện khi mua hàng: Hầu hết nông dân không có phương tiện vận chuyển, do đó họ sẽ thường hay chọn mua ở những nơi thuận tiện, gần nhà hơn
Đối với dịch vụ đầu ra, yếu tố ảnh hưởng đến khả năng tiếp cận dịch vụ đầu ra như chất lượng sản phẩm: Trong nền kinh tế thị trường, chất lượng sản phẩm là một trong những vũ khí cạnh tranh sắc bén, là một yếu tố góp phần vào việc khẳng định vị trí của người sản xuất trên thị trường Chất lượng sản phẩm tốt hộ sẽ có khả năng tiếp cận với dịch vụ đầu ra tốt hơn
Trang 212.1.3.5 Dịch vụ cung cấp tín dụng chính thống
- Trình độ văn hóa của người nông dân là một yếu tố quan trọng tác động đến
sự tiếp cận nguồn vốn của người nông dân Khi người nông dân có trình độ văn hóa càng cao thì nhận thức về việc vay vốn đầu tư phát triển sản xuất và sử dụng vốn của
họ sẽ tốt hơn Ngoài ra, các hộ có trình độ văn hóa thấp thường không tự tin, không dám mạo hiểm đầu tư sản xuất, sợ rủi ro nên họ thường có tâm lý không dám vay vốn
- Điều kiện kinh tế của hộ: Những hộ khá và trung bình thường hay dám vay vốn hơn hộ nghèo, họ có giá trị tài sản lớn để thế chấp vay vốn, thậm chí họ còn vay vốn lớn để sản xuất kinh doanh, với những hộ có điều kiện kinh tế Người lại, với những hộ nghèo, phần vì không có tài sản thế chấp giá trị để vay vốn, nhưng một phần
vì những hộ nghèo thường rất mặc cảm, họ thường lo vay vốn mà không làm ăn được
sẽ không trả được nợ hoặc sẽ tiêu dùng hết
- Sự sẵn có của các tổ chức tín dụng trên địa bàn: Những nơi nào có các tổ chức tín dụng hoạt động thì người nông dân sẽ tiếp cận được nguồn vốn nhiều hơn Thường những nơi sẵn có các tổ chức tín dụng thì người nông dân ở đó sẽ có điều kiện tìm hiểu
về các thủ tục để vay vốn
- Thủ tục và phương pháp cho vay của các tổ chức tín dụng: Hộ nông dân vốn
có tư tưởng bảo thủ, lạc hậu, lại bận việc đồng áng, hộ nông dân có thể không muốn vay vốn vì họ rất sợ thủ tục rườm rà và phương pháp cho vay cứng nhắc của cán bộ tín dụng
- Chính sách của Nhà nước về tín dụng: Chính sách tín dụng ưu đãi, tín dụng hỗ trợ phát triển cho các hộ nông dân thì hộ nông dân có cơ hội để vay vốn đầu tư sản xuất kinh doanh và mở rộng quy mô sản xuất nhằm tăng thu nhập Chính vì vậy, Nhà nước ngày càng có những chính sách tín dụng phù hợp hơn cho người dân và đặc biệt
ưu tiên nguồn vốn cho phát triển nông nghiệp – nông thôn
2.2 Cơ sở thực tiễn
Thực tiễn tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân ở Việt Nam:
Trang 22Chính phủ nhận thức rõ vai trò quan trọng của nông nghiệp trong phát triển bền vững đất nước là động lực để giảm nghèo, tăng thu nhập cho đại bộ phận người lao động Đặc biệt chính phủ coi chế biến nông sản và dịch vụ phi nông nghiệp ở nông thôn là phương tiện để đạt mục tiêu phát triển dài hạn Chính vì thế, việc đầu tư cung cấp các dịch vụ công luôn được Nhà nước quan tâm
* Đối với dịch vụ khuyến nông
Ngày 2/3/1993, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 13/CP-NĐ về khuyến nông, khuyến nông Việt Nam chính thức được thành lập Để đáp ứng đầy đủ và kịp thời những yêu cầu phong phú và đa dạng của người dân và cộng đồng, đặc biệt trong điều kiện nền nông nghiệp nước ta bước vào hội nhập với thế giới, ngày 26/4/2005, Chính phủ đã ban hành Nghị định số 56/2005/NĐ-CP về công tác khuyến nông, khuyến ngư nhằm thay thế NĐ 13/CP (Chính phủ, 2005, Nghị định số 56/2005/NĐ-
CP về công tác khuyến nông, khuyến ngư)
Tính đến cuối năm 2007, 64 tỉnh thành trong cả nước đã có Trung tâm khuyến nông tỉnh, có 400 trạm khuyến nông huyện Toàn quốc có 25228 cán bộ khuyến nông
và khuyến nông viên, trong đó cấp trung ương có 43 người, cấp tỉnh có 1414 người, cấp huyện có 3176 người và cấp xã có 20595 người Bình quân khoảng 530 hộ nông dân có 1 khuyến nông viên Tỷ lệ này được cải thiện so với các năm trước, tuy nhiên vẫn chưa đáp ứng nhu cầu của người dân, đặc biệt tại những nơi địa hình phức tạp, vùng sâu, vùng xa, vùng đặc biệt khó khăn (Trung tâm khuyến nông, khuyến ngư quốc gia, 2008, Báo cáo tổng kết công tác khuyến nông khuyến ngư năm 2007 và định hướng khuyến nông khuyến ngư 2008, Hà Nội)
* Đối với dịch vụ thủy lợi
Nước là yếu tố thiết yếu đối với phát triển và xóa đói, giảm nghèo Khả năng tiếp cận với nguồn nước tưới là nhu cầu căn bản và trọng tâm phát triển của ngành
Trang 23gạo cần tới 1.000 tấn nước Do tình trạng thiếu nước, đến năm 2030, sẽ có tới 45 triệu
ha canh tác sẽ không đủ nước tưới
Ðể giải quyết thách thức trên, các chuyên gia kinh tế kêu gọi tăng cường các kỹ thuật tưới tiêu hợp lý hơn và hiệu quả hơn Ngoài ra, việc canh tác các loại cây trồng
có sức đề kháng cao với khô hạn và nước mặn có thể hạn chế được việc sử dụng nước Nâng cấp và hiện đại hóa hệ thống phân phối nước sẽ giảm khối lượng nước thất thoát trong quá trình tưới tiêu Một trong những giải pháp đối phó khan hiếm nguồn nước là
áp dụng các biện pháp kỹ thuật như thu nước mưa, giảm lượng nước lãng phí trong tưới tiêu, tăng hiệu suất sử dụng nước, thay đổi mùa vụ và chế độ tưới
Theo cảnh báo của WWAP (chương trình đánh giá nguồn nước toàn cầu), hầu hết các con sông lớn trên thế giới hiện nay đều nằm trong tình trạng ô nhiễm Tới năm
2020, lượng nước trung bình được cung cấp cho mỗi người dân trên thế giới sẽ chỉ bằng một phần ba so với hiện nay Mục tiêu giảm một nửa số người nghèo cùng cực trên toàn thế giới khó có thể đạt được trước năm 2030 bởi những ước tính trước kia về sản lượng lương thực không đạt được do thiếu nước tưới tiêu LHQ cho biết, cuộc khủng hoảng nước của thế giới nghiêm trọng tới mức có thể phải mất 30 năm để xóa đói nghèo
Tại hội nghị thường niên Ban điều hành Chương trình Nghiên cứu Lúa có tưới
tổ chức tại Hà Nội tháng 10/2007, khan hiếm nước là vấn đề chính được thảo luận và đang trở thành vấn đề quan tâm trên toàn cầu Cùng với sự gia tăng về dân số và cạnh tranh về nhu cầu từ ngành nông nghiệp và những khu vực thành thị, nước nhanh chóng trở thành nguồn tài nguyên bị hạn chế Vấn đề này càng bị làm tồi tệ thêm bởi khí hậu bất thường và chất lượng nước giảm sút Dự báo đến năm 2025, 2/3 thế giới sẽ nếm trải sự khan hiếm nước Theo nghiên cứu của Bas Bouman và T.P.Tuong, những nhà nghiên cứu nguồn nước của Viện nghiên cứu lúa gạo thế giới (IRRI), 90% nước sạch ở Châu Á được sử dụng cho những vùng đất cần tưới tiêu Nếu dự báo này đúng, sản xuất lương thực ở Châu Á sẽ bị tổn thương nghiêm trọng
Trang 24Ở Ấn Độ, những dấu hiệu khan hiếm nước thể hiện rất rõ trong những vùng nông nghiệp Đối với người nông dân Ấn Độ, lúa gạo là loại cây trồng kinh tế cao, đặc biệt là giống lúa thơm Họ mong chờ phương pháp trồng trọt có thể giảm những chi phí bơm tưới và nhu cầu tưới tiêu Điều quan trọng với họ là giảm chi phí sản xuất và tăng lợi nhuận mùa màng Ấn Độ đã áp dụng phương pháp canh tác theo hệ thống lúa tiểu vùng đồi xen kẽ (hệ thống lúa trên cạn) Đây là hệ thống gieo trồng lúa sử dụng các giống lúa có thể tăng trưởng mà không cần có nước (giống như lúa vùng cao), nhưng có thể cho năng suất chỉ thấp hơn 20 – 30% so với hệ thống canh tác lúa ở vùng đất thấp (loại lúa tăng trưởng cần có nước) Với phương pháp quản lý tốt, năng suất và
sự bền vững của hệ thống lúa trên cạn sẽ được đảm bảo phát triển
* Đối với dịch vụ thông tin
Năm 2007, việc nghiên cứu của Viện Chính sách và Chiến lược Phát triển Nông nghiệp Nông thôn đã đưa ra một kết quả đáng quan tâm đó là : đa số bà con nông dân
ít tiếp cận thông tin về báo chí mà chủ yếu là thông qua kênh truyền hình, truyền thanh Điều này có thể do đặc thù địa lý của từng vùng tạo ra những khó khăn cho việc tiếp cận Năm 2009, theo khảo sát của Viện về nhu cầu thông tin nông nghiệp nông thôn của bà con cho thấy mức cầu là rất lớn nhưng mức cung lại chưa đáp ứng kịp thời
Mô hình Trung tâm thông tin nông thôn ở huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa đã và đang phát huy tính năng, tác dụng và từng bước được nhân rộng Qua hai năm hoạt động có 1.068 lượt người đến trung tâm khai thác thông tin về chính sách pháp luật, kỹ thuật trồng trọt, chăn nuôi, giá vật tư, nguyên liệu đầu vào, hoạt động thu hoạch, chế biến nông sản Trung tâm còn tổ chức các lớp tập huấn, hội nghị đầu bờ chuyển giao tiến bộ khoa học - kỹ thuật cho hơn 1.300 lượt người, hỗ trợ nhân rộng nhóm cùng sở thích đồng thời xây dựng cơ chế thỏa thuận, hợp tác với các cơ quan, ban ngành các
Trang 25cho nông dân nhằm khai thác hiệu quả tiềm năng đất đai, nhân, vật lực ở địa phương, tăng thu nhập cho người lao động.
* Đối với dịch vụ cung cấp tín dụng chính thống
Hơn 80% dân số Việt Nam sống ở khu vực nông thôn với nguồn sống chính dựa vào các hoạt động nông nghiệp Sau 20 năm đổi mới, nền kinh tế đã có những thành công đáng ghi nhận Nhờ sản xuất phát triển và thu nhập tăng, nhiều hộ đã có tích lũy tuy còn rất nhỏ Tính trung bình mỗi hộ nông dân tích lũy được 3.2 triệu đồng/năm, tính chung cho toàn nông thôn (Đặng Kim Sơn, 2005) Đây là nội lực hết sức quan trọng để nông dân đổi mới trang bị và áp dụng công nghệ, chuyển đổi cơ cấu sản xuất Tuy nhiên nguồn lực cho sản xuất của hộ còn rất hạn hẹp, bình quân cả nước mỗi hộ chỉ có 0.49ha đất canh tác chia thành 6-7 mảnh khác nhau, vốn cho sản xuất rất thiếu Khoảng 90% số hộ có nhu cầu vay vốn để đầu tư chiều sâu Trước tình hình đó, chính phủ đã có nhiều chính sách nhằm tăng tiếp cận đến tín dụng của hộ tuy nhiên vẫn tồn tại một bộ phận lớn nông dân thiếu vốn Hệ thống các tổ chức TDCT ở nông thôn vẫn không đáp ứng được nhu cầu tín dụng ngày càng tăng của hộ, nhiều hộ tìm đến các nguồn tín dụng không chính thức để mở rộng sản xuất và trang trải các chi tiêu vào những thời điểm khó khăn Kết quả điều tra mức sống dân cư năm 1993, chỉ có 26% tổng số khoản vay của các hộ nông dân đến từ nguồn TDCT còn lai là tới 73% tổng số khoản vay của các hộ nông dân đến từ nguồn không chính thức (Trần Thọ Đạt, 2001) Nghiên cứu của Barslund và Tarp (2007) cũng chỉ ra rằng hiện tượng hạn mức tín dụng bởi các tổ chức TDCT vẫn tồn tại phổ biến ở nông thôn Việt Nam và người nông dân vẫn tiếp tục phụ thuộc vào mạng lưới tín dụng không chính thức Nghiên cứu của Phương, Dương và Baliswain (2008) cũng cho thấy hiện nay nông dân rất cần vay vốn để mở rộng sản xuất Nghiên cứu chỉ ra sự tồn tại của vấn đề cần vay nhưng không dám xin vay của nông dân Tình trạng này xuất hiện ở cả 3 nhóm hộ nhưng phổ biến nhất là ở nhóm nghèo Những hộ hoàn toàn bị từ chối vay từ NHNN&PTNT cũng không có sự lựa chọn nào khác ngoài việc phải vay trên thị trường tín dụng không chính thức để chi đầu tư cho sản xuất ở những thời điểm mang tính quyết định và tiêu
Trang 26dùng trong những thời điểm khó khăn.Ở nước ta Chính phủ luôn giữ vai trò chủ đạo trong việc điều tiết thị trường tài chính tín dụng nói chung trong đó có thị trường tài chính tín dụng nông thôn Chính phủ đã cho thành lập các tổ chức tài chính tín dụng ở nông thôn và thông qua các chính sách tài chính tín dụng như chính sách lãi suất, chính sách trợ giá , chính sách điều tiết lượng vốn vay của các ngân hàng thương mại đối với nông nghiệp nông thôn, chính sách hỗ trợ kỹ thuật, hỗ trợ vốn cho nông nghiệp nông thôn nhằm tăng cường cung ứng nguồn tài chính cho phát triển nông nghiệp nông thôn
2.3 Các công trình nghiên cứu có liên quan
Vấn đề nâng cao năng lực tham gia tiếp cận dịch vụ công phục vụ cho sản xuất nông nghiệp cho người nông dân là một trong những vấn đề cần thiết được hầu hết các nước nông nghiệp đặc biệt quan tâm cả trong đầu tư nghiên cứu, triển khai các dự án chương trình nhằm đạt mục tiêu nâng cao đời sống và thu nhập của người nông dân hiệu quả nhất
Ths Nguyễn Thị Hiên - Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (2006),
Sự tiếp cận của đồng bào dân tộc thiểu số với dịch vụ công ở Việt Nam Mục tiêu: Đánh giá thực trạng phát triển dịch vụ công ở các vùng dân tộc thiểu số Đánh giá tình hình tiếp cận và sử dụng một số dịch vụ công ở vùng dân tộc thiểu số Đề xuất các giải pháp cải thiện sự tiếp cận với một số dịch vụ công ở vùng dân tộc thiểu số
Dự án “Điều tra dịch trong nông nghiệp” do viện Quy hoạch và Thiết kế nông nghiệp thực hiện năm 2006 – 2007 Đây là một dự án điều tra các hoạt động dịch vụ nông nghiệp, số liệu được tổng hợp theo mục tiêu đề ra, chưa đưa ra giải pháp cụ thể
Như vậy, nghiên cứu khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của các hộ nông dân ở xã Thái An là một vấn đề mới, có thể đi sâu nghiên cứu
PHẦN III: ĐẶC ĐIỂM ĐỊA BÀN VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CƯỨ
Trang 273.1.1.1 Vị trí địa lý, địa hình
Thái An là một xã nội đồng nằm ở phía Đông Nam của huyện Thái Thụy, thuộc đồng bằng ven biển tỉnh Thái Bình Với vị trí địa lý:
Phía Đông giáp với xã Thái Hoà
Phía Tây giáp với xã Thái Hưng
Phía Nam giáp với xã Thái Xuyên
Phía Bắc giáp sông Tam Kỳ và xã Thái Nguyên
Thái An có vị trí khá thuận tiện, nằm cách trung tâm huyện 7 km, cách bờ biển khoảng 4 km Với hệ thống giao thông khá phát triển, nghề thủ công mây tre đan phát triển Đặc biệt xã có trung tâm chợ Bái hoạt động khá sôi nổi, là đầu mối trao đổi hàng hoá dịch vụ trong và ngoài xã Với vị trí thuận lợi đó đã tạo điều kiện thuận lợi trong việc giao lưu kinh tế, văn hoá xã hội cũng như việc tiếp thu các thành tựu khoa học kỹ thuật và khả năng thu hút vốn đầu tư của các tổ chức trong và ngoài huyện, tạo đà thúc đẩy xã phát triển một nền kinh tế đa dạng gồm: Thương mại, dịch vụ, tiểu thủ công nghiệp và nông nghiệp
Địa hình mang nét đặc trưng riêng của vùng Đồng Bằng châu thổ Sông Hồng được bồi đắp bởi sông Trà Lý, tạo cho địa hình của xã khá bằng phẳng với độ dốc nhỏ hơn 1% thấp dần từ khu dân cư ra biển, cao trình biến thiên phổ biến từ 0,7 – 1,25 m
so với mực nước biển
3.1.1.2 Khí hậu thời tiết
Thái An nằm trong vùng nhiệt đới gió mùa, song với đặc thù là một xã gần biển nên ở đây ngoài khí hậu lục địa còn mang đặc trưng của vùng khí hậu duyên hải, được điều hoà với khí hậu biển cả (mùa hè thường mát hơn so với khu vực sâu trong lục địa)
Nhìn chung, thời tiết Thái An thuận lợi cho sản xuất nông nghiệp và đa dạng hoá cây trồng, tạo nhiều sản phẩm cung cấp cho thị trường nông sản
3.1.2 Đặc điểm kinh tế - xã hội
3.1.2.1 Tình hình sử dụng đất đai của xã
Trang 28Thái An nằm trong vùng đồng bằng Bắc Bộ là vùng đất đai màu mỡ thuận lợi cho phát triển kinh tế Sự biến động về đất đai của xã được thể hiện qua bảng 3.1.
Qua số liệu bảng 3.1 cho thấy: Xã Thái An có tổng diện tích đất tự nhiên 271,9
ha Trong đó phần lớn là diện tích đất nông nghiệp với 203,2 ha chiếm 74,73% tổng diện tích đất tự nhiên (năm 2007), năm 2008 là 201,1 ha, chiếm 73,76%, năm 2009 là 199,9 ha, chiếm 73,52% Đất nông nghiệp có xu hướng giảm qua 3 năm, bình quân mỗi năm giảm 0,82% Nguyên nhân là do một phần đất nông nghiệp được xã quy hoạch để chuyển sang làm đất dãn dân, đất SXKD phi nông nghiệp và xây dựng công trình thủy lợi, đường giao thông nông thôn
Trong đất nông nghiệp, diện tích đất SXNN chiếm tỷ trọng cao, năm 2007 diện tích đất sản xuất nông nghiệp là 189,24 ha, chiếm 93,13%, năm 2008 là 188,04 ha, chiếm 93,51% , năm 2009 là 186,84 ha, chiếm 93,47% Diện tích đất SXNN cũng giảm qua 3 năm, bình quân mỗi năm giảm 0,64 Nguyên nhân do diện tích đất trồng lúa giảm qua 3 năm, bình quân mỗi năm giảm 1,79% ( mặc dù diện tích đất trồng cây hàng năm tăng nhưng mức độ tăng ít), đất SXKD phi nông nghiệp, đất trồng cây hàng năm khác Diện tích đât vườn tạp không thay đổi qua 3 năm Diện tích đất nuôi trồng thủy sản giảm, bình quân 3 năm giảm 4,22%, là do năm 2008 một phần diện tích đất nuôi trồng thủy sản chuyển sang làm đất dãn dân
Trang 29Bảng 1: Tình hình phân bổ và sử dụng đất đai của xã Thái An
Trang 31Lao động của xã qua 3 năm cũng tăng không đáng kể, năm 2007 là 2122 người, năm 2008 là 2130 người, năm 2009 là 2153 người, bình quân mỗi năm tăng 0,73% Nhìn chung vấn đề lao động ở xã đã khai thác được tiềm năng sẵn có với trung tâm chợ Bái hoạt động sôi nổi, có nghề thủ công mây tre đan truyền thống và nghề mộc.
Trong tổng số hộ của xã, hộ nông nghiệp bình quân mỗi năm tăng là 2,06%, hộ phi nông nghiệp bình quân mỗi năm tăng 6,13% Nguyên nhân là do nhu cầu sống của
xã hội ngày càng cao, để nâng cao thu nhập và có đời sống khá giả hơn thì các hộ bỏ ruộng chuyển sang làm các nghề khác như tiểu thủ công nghiệp hoặc buôn bán để nâng cao thu nhập
Trong tổng số lao động trực tiếp của xã, lao động trong nông nghiệp giảm qua 3 năm, bình quân mỗi năm giảm 1,76% Lao động trong ngành dịch vụ tăng khá cao qua
3 năm, bình quân mỗi năm tăng 6,97% Nguyên nhân là do các hộ có xu hướng kinh doanh dịch vụ vì ngành này mang lại thu nhập cao hơn Lao động TTCN&CNXD cũng tăng qua 3 năm, bình quân mỗi năm tăng 2,8% Bình quân khẩu/hộ, lao động nông nghiệp/ hộ nông ngiệp, khẩu nông nghiệp/ hộ nông nghiệp đều giảm qua 3 năm
Trang 32Bảng 2: Tình hình biến động về dân số và lao động của xã
I- Tổng số khẩu khẩu 3147 100,00 3170 100,00 3179 100,00 100,73 100,28 100,51Khẩu nông nghiệp khẩu 2883 90,02 2825 89,12 2822 88,77 99,72 99,89 99,81Khẩu phi nông nghiệp khẩu 314 9,98 345 10,88 357 11,23 109,87 103,48 106,68
2 Lao động gián tiếp lao động 39 1,84 39 1,83 35 1,63 100,00 89,74 94,87IV- Các chỉ tiêu BQ
Trang 333.1.2.3 Hệ thống cơ sở hạ tầng
Xã Thái An đã khai thác các nguồn lực từ vốn quỹ đất, vốn hỗ trợ của tỉnh, vốn góp của nhân dân tập trung vào xây dựng các công trình cơ sở hạ tầng nhằm phục vụ phát triển kinh tế - xã hội ở địa phương Hệ thống cơ sở hạ tầng của xã được thể hiện qua bảng 3.3
Về thuỷ lợi: Là một xã nông nghiệp nên Thái An cũng rất chú ý đến hệ thống thuỷ lợi phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Xã đã bắt đầu tiến hành kiên cố hoá kênh mương để phục vụ cho tưới tiêu Tuy nhiên, kênh mương cứng còn chiếm tỷ lệ nhỏ, năm 2009 xã mới kiên cố hoá được 3 km, chiếm 20%
Về hệ thống giao thông: Hệ thống đường giao thông của xã dài khoảng 20 km Nhìn chung hệ thống giao thông của xã đã được các cấp ủy Đảng, chính quyền hết sức coi trọng,quan tâm Xã đã cơ bản kiên cố hóa toàn bộ hệ thống đường giao thông nông thôn, năm 2009 đã tiến hành trải nhựa 13,9 km đường liên thôn để người dân trong xã thuận tiện đi lại và vận chuyển hàng hóa
Các công trình điện và công trình phúc lợi của xã tương đối đầy đủ Mạng lưới điện đã đáp ứng được nhu cầu của người dân trong xã, các dịch vụ y tế, giáo dục cũng luôn được chính quyền các cấp quan tâm đặc biệt là cơ sở hạ tầng cho giáo dục
Trang 34Bảng 3: Cơ sở hạ tầng của xã Thái An
II Hệ thống thuỷ lợi
Trang 35Bảng 4: Kết quả sản xuất kinh doanh của xã
Trang 363.1.2.4 Kết quả sản xuất kinh doanh của xã
Là một xã sản xuất nông nghiệp là chủ yếu, tuy nhiên do xã có trung tâm chợ Bái, với doanh nghiệp mây tre đan xuất khẩu Thanh Bình gần địa bàn xã nên nghề tiểu thủ công nghiệp, dịch vụ và ngành nghề phụ ở đây khá phát triển, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế
Qua bảng số liệu 3.4, từ kết quả sản xuất kinh doanh của xã Thái An qua 3 năm cho thấy: Tổng giá trị sản xuất năm 2007 là 35.068 triệu đồng, năm 2008 là 42.588 triệu đồng, năm 2009 là 49.246 triệu đồng, tốc độ phát triển bình quân là 118,54%
Giá trị sản xuất nông nghiệp có sự thay đổi qua 3 năm, năm 2007 là 15.325 triệu đồng, chiếm 43,7%, năm 2008 giảm còn 14.761 triệu đồng, chiếm 34,66%, năm
2009 là 16.945 triệu đồng, chiếm 34,41%, bình quân mỗi năm tăng 5,56% Trong đó, thu từ trồng trọt tăng 0,58%, thu từ chăn nuôi tăng 5,58%, thu từ thủy sản tăng 1,8% Trong nông nghiệp, tỷ lệ thu nhập từ chăn nuôi năm 2007 là 4.933 triệu đồng, chiếm 32,19%, năm 2008 là 4.881 triệu đồng, chiếm 33,07%, năm 2009 là 6.453 triệu đồng, chiếm 38,08%, sở dĩ năm 2008 thu từ chăn nuôi giảm là do trong năm 2007 có dịch cúm gia cầm, dịch lợn tai xanh… đã gây thiệt hại lớn cho nhiều hộ chăn nuôi nên năm
2008 các hộ chưa mở rộng quy mô chăn nuôi do tâm lý lo sợ rủi ro và giá cả thị trường thấp, các hộ chăn nuôi không có lãi Tuy nhiên đến năm 2009 số đầu gia súc, gia cầm
đã tăng lên nhanh chóng, do đó thu từ chăn nuôi bình quân mỗi năm tăng 5,58%, có được kết quả này là do quy mô đàn vật nuôi của xã tăng, đặc biệt do giá bán tăng nhanh trong năm 2009
Sự chuyển dịch cơ cấu kinh tế đã tạo ra một cơ cấu kinh tế hợp lý theo hướng tích cực Cụ thể là tốc độ tăng của ngành tiểu thủ công nghiệp và ngành dịch vụ cao hơn nhiều so với tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp Trong tổng số gía trị sản xuất, tổng thu từ ngành TTCN&XDCB năm 2007 là 9.202 triệu đồng, chiếm 26,24%,
Trang 3718.389 triệu đồng, chiếm 37,34%, bình quân mỗi năm tăng 31,47% Từ thực tế trên cho thấy, sản xuất nông nghiệp ngày càng bị thu hẹp nhường chỗ cho tiểu thủ công nghiệp và thương mại dịch vụ, đời sống nông dân ngày càng được nâng cao và ổn định.
Hiệu quả kinh tế trong chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn ngày một tăng Giá trị sản xuất bình quân mỗi năm tăng 18,54% nhưng giá trị sản xuất bình quân trên
hộ lại chỉ tăng 15,6% một năm Nguyên nhân là do tốc độ tăng hộ (tách hộ mới) nhanh hơn tốc độ tăng giá trị sản xuất Giá trị sản xuất/khẩu khá cao và tăng liên tục, bình quân mỗi khẩu có thu nhập khoảng 11,14 triệu đồng/năm (2007), khoảng 13,43 triệu đồng/năm (2008), năm 2009 tăng lên 15,49 triệu đồng/năm
Giá trị sản xuất/lao động của xã khá cao và tăng qua 3 năm, nếu tính giá trị sản xuất trên lao động thì mỗi lao động một năm thu được khoảng16,53 triệu đồng năm
2007, khoảng 19,99 triệu đồng năm 2008 và năm 2009 là 22,87 triêu đồng, bình quân mỗi năm tăng17,69% Như vậy, do tổng thu từ TTCN&TMDV tăng nhanh nên có ảnh hưởng rất lớn đến thu nhập và đời sống của lao động nông thôn nói riêng và của hộ nông dân nói chung
Hiệu quả kinh tế trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thông ngày một tăng Thu nhập của các hộ gia đình được nâng cao, đời sống được cải thiện, tỷ lệ
hộ nghèo, tỷ lệ trẻ em suy dinh dưỡng giảm đáng kể, bộ mặt nông thôn được đổi mới Kinh tế nông thôn từng bước được củng cố và đem lại lòng tin của nhân dân vào Đảng
và Nhà nước tạo động lực thúc đẩy kinh tế - xã hội phát triển
3.2 Phương pháp nghiên cứu
3.2.1 Phương pháp chọn điểm nghiên cứu
Xã Thái An là một xã tương đối phát triển về kinh tế với nghề mây tre đan là nghề truyền thống, xã có trung tâm Chợ Bái hoạt động sôi nổi, cùng với sự quan tâm của các cấp uỷ Đảng nên người nông dân được tạo điều kiện hơn cho việc phát triển kinh tế, hộ nông dân được tiếp cận nhiều hơn với các loại dịch vụ công phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Tuy nhiên, hiện nay các hộ nông dân tại xã không phải hộ nào
Trang 38cũng dễ dàng tiếp cận và sử dụng có hiệu quả các dịch vụ công phục vụ cho sản xuất nông nghiệp Việc tiếp cận và sử dụng các loại dịch vụ công còn gặp rất nhiều khó khăn như thiếu thông tin hoặc thông tin không chính xác… Vì những lý do trên, Thái
An được chọn làm địa điểm nghiên cứu đề tài nhằm đánh giá đúng thực trạng về khả năng tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp của hộ nông dân trong xã
3.2.2 Phương pháp điều tra thu thập thông tin
3.2.2.1 Thông tin, số liệu đã công bố
Các thông tin đã được công bố sẽ là cơ sở quan trọng trong việc tạo dựng cơ sở
lý thuyết, phương pháp luận và bức tranh tổng thể về tình hình kinh tế xã hội của địa bàn nghiên cứu Thông tin số liệu đã công bố bao gồm: Các nghiên cứu gần đây có liên quan; những thông tin, báo cáo về tình hình kinh tế - xã hội của xã Thái An; sách, báo, thông tin truy cập trên Internet…
Phương pháp thu thập thông tin, số liệu đã công bố:
- Liệt kê các số liệu thông tin cần thiết có thể thu thập, hệ thống hóa theo nội dung hay địa điểm thu thập và dự kiến cơ quan cung cấp thông tin
- Liên hệ với các cơ quan cung cấp thông tin
- Tiến hành thu thập bằng ghi chép, sao chụp
- Kiểm tra tính thực tiễn của thông tin qua quan sát trực tiếp và kiểm tra chéo.Các thông tin thu thập cụ thể như sau:
1 Điều kiện tự nhiên, kinh tế - xã hội của xã Ban Thống kê xã, Ban địa
chính
2 Tình hình chung về một số dịch vụ công
(khuyến nông, thuỷ lợi, thông tin thị
trường…) phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
trên địa bàn xã
Ban Thống kê xã, Ban địa chính, HTX nông nghiệp, các tổ chức đoàn thể
Trang 393.2.2.2 Thông tin, số liệu mới
Các tài liệu sơ cấp được thu thập từ việc điều tra qua phiếu điều tra và điều tra phỏng vấn trực tiếp hộ nông dân Áp dụng phương pháp chọn mẫu điều tra, phân mẫu theo sự tham gia tiếp cận các dịch vụ công trong sản xuất nông nghiệp
Nghiên cứu được tiến hành ở 3 thôn: Vũ Công, Lễ Thần Đoài và Lễ Thần Đông, trong số 4 thôn của xã Đây là 3 thôn có đặc điểm kinh tế đại diện cho toàn xã Thái An, mỗi thôn điều tra ngẫu nhiên 20 hộ, sau đó phân loại hộ theo mức độ tiếp cận một số dịch vụ công phục vụ cho sản xuất nông nghiệp
Tiêu chí chọn hộ điều tra: Chọn 3 thôn, những thôn được chọn là những thôn có các hộ sản xuất nông nghiệp là chính Từ các thôn chọn 20 hộ đại diện cho các điều kiện kinh tế khác nhau (khá, trung bình, nghèo) theo phân loại của xã Kết quả chọn hộ được tổng hợp qua bảng sau:
Bảng 3.1: Phân loại hộ điều tra
Loại hộ Tổng
số (hộ)
Thôn Vũ Công(hộ)
3.2.4.1 Phương pháp phân tích thống kê
Phương pháp này được sử dụng để hê thống hoá và phân tích vấn đề nghiên cứu Với các phương pháp phân tổ, sử dụng các số tương đối, số tuyệt đối, số bình quân để so sánh và phân tích thấy được mối quan hệ tiếp cận của từng loại dịch vụ
Trang 40công cho sản xuất nông nghiệp… qua đó đánh giá được mức độ ảnh hưởng của các nhân tố đến từng nhóm hộ.
3.2.4.2 Phương pháp so sánh
Sử dụng phương pháp so sánh để so sánh khả năng tiếp cận các loại dịch vụ công khác nhau giữa các nhóm hộ điều tra Trên cơ sở đó tìm hiểu nguyên nhân tại sao lại có sự khác nhau này
3.2.4.3 Phương pháp cho điểm
Sử dụng phương pháp cho điểm với các mức điểm như sau: 1 – Hoàn toàn đồng ý; 2 – Có phần đồng ý; 3 – Bình thường; 4 – Có phần không đồng ý; 5 – Hoàn toàn không đồng ý Để biết được ý kiến của người dân về các hoạt động cung ứng dịch vụ công phục vụ sản xuất và mức độ tiếp cận của người dân với dịch vụ công Qua đó, đánh giá được thực trạng và nhu cầu tham gia tiếp cận các loại dịch vụ công của hộ nông dân trong xã, căn cứ vào nhu cầu đó để đề ra giải pháp và đề xuất để nâng cao khả năng tham gia tiếp cận dịch vụ công cho sản xuất nông nghiệp cho hộ nông dân trong xã
3.2.4.4 Phương pháp phân tích SWOT
Sử dụng ma trận SWOT (mặt mạnh, mặt yếu, cơ hội, thách thức), khuyến khích việc thu thập ý kiến, cân nhắc và lựa chọn trong tiếp cận các loại dịch vụ công, được sử dụng trong các buổi thảo luận nhóm theo các bước:
Bước 1: Phân tích các mặt mạnh (S)
Bước 2: Phân tích các mặt yếu (W)
Bước 3: Phân tích các cơ hội (O)
Bước 4: Phân tích các thách thức (T)