Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 đặt ra nhiệm vụ: “Phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số” [70]; “Phát triển giáo dục, đào tạo,
Trang 1MỞ ĐẦU
1 Lí do chọn đề tài
Việt Nam là một quốc gia đa dân tộc Trong 54 dân tộc, Việt Nam có 53 DTTS Cộng đồng các DTTS chủ yếu cư trú ở những vùng sâu, vùng xa, vùng biên giới, là những vùng gặp nhiều khó khăn trong phát triển KT-XH Đối với cộng đồng các DTTS, nguyên tắc xuyên suốt trong chính sách dân tộc của Đảng
và Nhà nước Việt Nam là bình đẳng, đoàn kết, tương trợ, giúp nhau cùng phát
triển Nguyên tắc này được cụ thể hóa trong đường lối của Đảng, Hiến pháp,
Pháp luật của Nhà nước, cụ thể: “Nhà nước ưu tiên phát triển giáo dục ở miền núi, hải đảo, vùng đồng bào DTTS và vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn” [41]; “Đào tạo nguồn nhân lực, đào tạo nghề cho đồng bào vùng DTTS phù hợp với đặc điểm từng vùng, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa và hội nhập Quốc tế” [59]
Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 đặt ra nhiệm vụ: “Phát triển giáo dục đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực là người dân tộc thiểu số” [70]; “Phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số trong đó mở rộng dạy và học ngôn ngữ dân tộc thiểu số; tăng cường
số lượng, chất lượng đội ngũ giáo viên là người dân tộc thiểu số”[75]; “Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng cao, đặc biệt chất lượng giáo dục văn hóa, đạo đức, kỹ năng sống, pháp luật, ngoại ngữ, tin học Phát triển đội ngũ nhà giáo
để đến năm 2020: 100% giáo viên Tiểu học đạt trình độ trên chuẩn” [70]; “Phát triển đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lí, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo; và đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới
cơ chế quản lí giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lí giáo dục
là khâu then chốt” [60]
Nội dung đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông yêu cầu: “Ở cấp tiểu học và cấp trung học cơ sở thực hiện lồng ghép những nội dung liên quan với nhau của một số lĩnh vực giáo dục, một số môn học trong chương
Trang 2trình hiện hành để tạo thành môn học tích hợp; Tiếp tục đổi mới phương pháp giáo dục theo hướng: phát triển toàn diện năng lực và phẩm chất người học; Đổi mới căn bản phương pháp đánh giá chất lượng giáo dục theo hướng hỗ trợ phát triển phẩm chất và năng lực học sinh” [62]; “Biên soạn, thử nghiệm một bộ sách giáo khoa, trong đó có sách giáo khoa song ngữ (Tiếng Việt - Tiếng một số dân tộc ít người) đối với một số môn học ở cấp Tiểu học; biên soạn và thử nghiệm sách giáo khoa điện tử” [71]
Như vậy, tính ưu việt, những yêu cầu đổi mới và vai trò của GV trong Chính sách phát triển giáo dục dân tộc của Đảng, Nhà nước rất được quan tâm cùng với những thành tựu đã đạt được của sự nghiệp giáo dục ở vùng DTTS Tuy nhiên, trong thực tế, sự chênh lệch vẫn còn quá lớn, công tác phát triển giáo dục ở những vùng DTTS nói chung, vùng Tây Bắc nói riêng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu, tỷ lệ mù chữ, tái mù chữ trong cộng đồng các DTTS vẫn còn khá cao Để nâng cao trình độ học vấn cho mọi người dân, đòi hỏi phải có sự quan tâm hơn nữa của Nhà nước bằng việc mở thêm trường, lớp, đào tạo và bồi dưỡng GV, đặc biệt đội ngũ GV là người dân tộc tại chỗ, ngay tại miền núi, vùng sâu, vùng xa nơi cộng đồng các DTTS sinh sống Chỉ có như vậy, mới có thể nói đến công tác phát triển giáo dục, nâng cao trình độ học vấn của cộng đồng các DTTS
Tây Bắc là vùng khó khăn nhất và cũng nhiều cộng đồng các DTTS sinh sống nhất trong cả nước, nên HS chủ yếu là người thuộc các cộng đồng DTTS Một trong những yếu tố làm hạn chế sự phát triển giáo dục đó là vấn đề bất đồng ngôn ngữ trong quá trình dạy và học Trẻ em chưa thông thạo tiếng mẹ đẻ đã phải học tiếng phổ thông Vì học không hiểu, học kém, thua bạn bè, gây ra tâm
lí chán nản, sợ phải học, sợ phải đến trường nên bỏ học, dẫn đến tình trạng mù chữ và tái mù chữ Đối với HS tiểu học ở nhà và trong cộng đồng, các em giao tiếp bằng ngôn ngữ của dân tộc mình, các em được sống trong môi trường văn hóa của dân tộc mình Khi đến trường các em cần thầy cô hiểu mình: giao tiếp, dạy dỗ các em như những người mẹ Để thực hiện yêu cầu này, không ai khác chính là GV người cùng dân tộc với các em, giúp cho các em nhanh chóng hòa nhập với môi trường mới (môi trường giáo dục) Khác với những gì các em đã biết ở nhà và cộng đồng: GV nói cùng tiếng nói với HS, hiểu được văn hóa,
Trang 3phong tục tập quán của HS giúp cho các em được hòa nhập với môi trường giáo dục, không còn bị rào cản ngôn ngữ, và cuối cùng là giúp cho các em học Tiếng Việt và tiếp thu kiến thức một cách nhanh chóng và thuận lợi
Đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc trong những năm gần đây phát triển khá nhanh về số lượng Trong sự nghiệp phát triển giáo dục, đội ngũ này đã có những đóng góp nhất định như góp phần hoàn thành phổ cập giáo dục
TH, tạo cơ hội học tập cho trẻ em DTTS, thực hiện công bằng trong giáo dục cho trẻ em DTTS, tuyên truyền đường lối chính sách của Đảng và Nhà nước đến với đồng bào DTTS,… Tuy nhiên, ở họ cũng còn nhiều bất cập về năng lực và thực lực sư phạm Nguyên nhân của bất cập là do đặc điểm tộc người, vùng miền, lịch sử - văn hóa, KT-XH, điều kiện tiếp xúc thông tin và môi trường giáo dục,…
Mặt khác, GVTH người DTTS bản địa vùng Tây Bắc chủ yếu sống và làm việc tại nơi có điều kiện tự nhiên hiểm trở, khí hậu khắc nghiệt, thiên tai nhất cả nước Sự phân bố dân cư trong cộng đồng các DTTS thưa thớt khiến các lớp học điểm lẻ quá sâu, quá xa so với điểm trường chính Họ thường đảm trách những lớp học điểm lẻ này dẫn tới việc học hỏi, nâng cao năng lực chuyên môn hoặc công tác bồi dưỡng đội ngũ GV của các nhà trường hết sức khó khăn, điều này càng làm hạn chế đến năng lực nghề nghiệp của họ
Giáo dục Tiểu học là cấp học đầu tiên của GDPT, là cơ sở ban đầu để hình thành, phát triển toàn diện nhân cách con người, đặt nền móng vững chắc cho GDPT [54] Đội ngũ GVTH nói chung và đội ngũ GVTH người DTTS nói riêng là nhân tố quan trọng quyết định chất lượng GDTH Vì thế, cần nhanh chóng đào tạo, bồi dưỡng được một đội ngũ GVTH người DTTS tại chỗ vừa có trình độ cả về sư phạm và kiến thức cho từng vùng và từng dân tộc vừa đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục Bên cạnh đó, cần xây dựng chế độ đãi ngộ và sử dụng đội ngũ này sao cho họ yên tâm với nghề nghiệp, gắn bó với sự nghiệp
“trồng người” ở chính quê hương của họ
Từ thực tiễn nêu trên, đặt ra yêu cầu cần đưa ra các giải pháp phát triển đội ngũ GVTH người DTTS Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS chính là phát huy nội lực để thực hiện đổi mới căn bản toàn diện giáo dục ở vùng Tây
Bắc Do đó, tác giả lựa chọn vấn đề “Phát triển đội ngũ giáo viên Tiểu học
Trang 4người dân tộc thiểu số vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo” để nghiên cứu làm đề tài luận án
2 Mục đích nghiên cứu
Nghiên cứu cơ sở lí luận theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực và thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS, làm cơ sở đề xuất một số giải pháp phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc nhằm đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
3 Khách thể và đối tượng nghiên cứu
3.1 Khách thể nghiên cứu
Giáo viên tiểu học và đội ngũ GVTH vùng Tây Bắc
3.2 Đối tượng nghiên cứu
Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS bản địa vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
4 Giả thuyết khoa học
Nếu đề xuất các giải pháp theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực, chuẩn nghề nghiệp GV phù hợp với đặc thù riêng (tộc người và vùng miền) và yêu cầu đổi mới giáo dục của từng dân tộc/đa dân tộc và văn hóa/đa văn hóa trong cộng đồng các DTTS theo từng vùng, tiểu vùng, tác động đồng bộ vào các khâu cơ bản của quá trình phát triển đội ngũ GVTH người DTTS (qui hoạch; đào tạo và bồi dưỡng; sử dụng; kiểm tra, đánh giá; môi trường giáo dục đa văn hóa và các chế độ chính sách) thì sẽ góp phần phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo, đồng thời đóng góp kinh nghiệm cho các vùng dân tộc thiểu số có điều kiện KT-XH tương ứng có thể tham khảo
5 Phạm vi nghiên cứu
- Chủ thể quản lí:
Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc liên quan đến nhiều chủ thể quản lí gián tiếp Trong luận này, cấp quản lí trọng tâm mà đề tài nghiên cứu là cấp Sở Giáo dục và đào tạo
Trang 5- Phạm vi nghiên cứu:
Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ GVTH người DTTS theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực, chuẩn nghề nghiệp GV, và yêu cầu đổi mới giáo dục; Khảo sát, đánh giá thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc trong 3-5 năm học gần đây (tập trung vào các DTTS bản địa chiếm số đông ở các tỉnh vùng Tây Bắc như dân tộc Mường, Mông, Tày, Thái);
Đề xuất các giải pháp phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc có thể áp dụng sau năm 2015
6 Nhiệm vụ nghiên cứu
Luận án thực hiện những nhiệm vụ nghiên cứu như sau:
- Nghiên cứu cơ sở lí luận về phát triển đội ngũ GVTH người DTTS theo tiếp cận phát triển nguồn nhân lực trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo
- Đánh giá thực trạng đội ngũ giáo viên, phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc;
- Đề xuất một số giải pháp để phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo;
- Khảo sát, thăm dò tính cần thiết, tính khả thi về các giải pháp do đề tài
đề xuất; và thử nghiệm một số nội dung của hai giải pháp do đề tài đề xuất
7 Phương pháp luận và phương pháp nghiên cứu
Để thực hiện mục tiêu của đề tài, luận án sử dụng những phương pháp tiếp cận và phương pháp nghiên cứu sau:
7.1 Phương pháp luận
7.1.1 Tiếp cận hệ thống: Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS là một hệ
thống gồm nhiều yếu tố có mối quan hệ hữu cơ, tương hỗ lẫn nhau giữa các yếu
tố liên quan phát triển đội ngũ GV; Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS trong mối quan hệ tương tác với các hoạt động khác trong quản lí quá trình dạy-học của các nhà trường; giữa các nhà trường TH vùng Tây Bắc và của cả hệ thống giáo dục TH
7.1.2 Tiếp cận phát triển nguồn nhân lực: Vận dụng cách tiếp cận phát
triển nguồn nhân lực để nghiên cứu các giải phát triển đội ngũ GVTH người
Trang 6DTTS vùng Tây Bắc nhằm nâng cao chất lượng đội ngũ phù hợp với đặc thù Vùng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
7.1.3 Tiếp cận chuẩn hóa: Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng
Tây Bắc phải dựa theo qui định của Luật giáo dục và chuẩn nghề nghiệp GVTH của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo; và đáp ứng được yêu cầu đổi mới giáo dục
7.1.4 Tiếp cận năng lực: Đội ngũ GVTH người DTTS phải có đủ các
năng lực nghề nghiệp Tiếp cận năng lực của GVTH người DTTS là xác định các yêu cầu, tiêu chí cần phải có, đặc biệt là năng lực giảng dạy, năng lực giảng dạy ở các trường/lớp học đặc thù đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục
7.1.5 Tiếp cận đa văn hóa: Tận dụng thế mạnh của văn hóa cộng đồng
các DTTS trong phát triển đội ngũ GVTH người DTTS sẽ bảo đảm cho GV cộng đồng các DTTS nâng cao năng lực nghề nghiệp tốt hơn và góp phần làm giàu thêm bản sắc văn hóa Việt Nam
7.1.6 Tiếp cận thực tiễn: Cách tiếp cận này cho phép công tác phát triển
đội ngũ GVTH người DTTS phù hợp với đặc thù vùng Tây Bắc cũng như những đặc điểm riêng của đội ngũ GVTH người DTTS (vùng miền và tộc người) ở từng tỉnh vùng Tây Bắc
7.2 Các phương pháp nghiên cứu
7.2.1 Phương pháp nghiên cứu lí thuyết
Phân tích, tổng hợp, hệ thống hóa, khái quát hóa trong nghiên cứu các nguồn tài liệu lí luận: vận dụng nguyên lí về sự phát triển và nguyên lí về mối liên hệ phổ biến của chủ nghĩa Mác-Lênin, lí luận về phát triển nguồn nhân lực, nhằm xây dựng cơ sở lí luận của đề tài luận án
7.2.2 Nhóm các phương pháp nghiên cứu thực tiễn
- Phương pháp tổng kết kinh nghiệm: Tổng kết kinh nghiệm từ thực tiễn
công tác phát triển đội ngũ GVTH người DTTS của các Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT và các trường TH thông qua các báo cáo tổng kết hằng năm; Các tài liệu có liên quan trên sách báo, mạng internet,
- Phương pháp điều tra bằng phiếu hỏi: Điều tra bằng phiếu hỏi về thực
trạng đội ngũ GVTH người DTTS, thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc Từ đó, xác định được các mặt mạnh, những mặt còn hạn
Trang 7chế cần được khắc phục; điều tra bằng phiếu hỏi về tính cần thiết và khả thi của các giải pháp
- Phương pháp phỏng vấn: Phỏng vấn CBQL và GVTH người DTTS các
trường TH về thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc làm căn cứ cho việc đề xuất các giải pháp
- Phương pháp quan sát: Quan sát trực tiếp giờ dạy của GVTH người
DTTS; các hoạt động dạy học ở trường; cơ sở vật chất, thiết bị dạy học của nhà trường
- Phương pháp nghiên cứu sản phẩm hoạt động giáo dục: Nghiên cứu kế
hoạch dạy học, giáo án, hồ sơ, kế hoạch tự bồi dưỡng, của GVTH người DTTS
- Phương pháp nghiên cứu điển hình: Nghiên cứu điển hình tại 3 trường
tiểu học /3 huyện tỉnh Lào Cai thuộc khu vực khó khăn và đặc biệt khó khăn
- Phương pháp chuyên gia: Xin ý kiến các chuyên gia gồm: Các nhà khoa
học, các chuyên gia về quản lí giáo dục; giáo dục học; Các nhà quản lí của các
Sở GD&ĐT, Phòng GD&ĐT, các trường tiểu học; Các nhà quản lí các trường
sư phạm (trường sư phạm tỉnh là chủ yếu) về các giải pháp do đề tài luận án đã
đề xuất
- Phương pháp thử nghiệm: Tiến hành thử nghiệm nhằm kiểm nghiệm
một số nội dung của một số giải pháp mà đề tài luận án đã đề xuất
7.2.3 Nhóm các phương pháp xử lí dữ liệu
Sử dụng thống kê toán học; Sử dụng sơ đồ, bảng biểu, đồ thị;
8 Những luận điểm bảo vệ
8.1 Đội ngũ GVTH người DTTS bản địa thực chất là nguồn nhân lực DTTS ngành/lĩnh vực giáo dục vùng dân tộc thiểu số, có vai trò thế mạnh trong môi trường giáo dục đa văn hóa, là nội lực quan trọng quyết định chất lượng, hiệu quả giáo dục cho trẻ em DTTS, đảm bảo công bằng trong giáo dục cho trẻ
em DTTS Do đó, phát triển đội ngũ GVTH người DTTS phải được thực hiện theo quan điểm phát triển nguồn nhân lực để đảm bảo chiến lược phát triển nguồn nhân lực người DTTS; cách tiếp cận cá thể; tăng cường vai trò quản lí cấp trường; nâng cao các năng lực nghề nghiệp phù hợp với tộc người và vùng miền
Trang 8đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục góp phần vào mục tiêu phát triển giáo dục bền vững
8.2 Thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS bản địa vùng Tây Bắc bên cạnh những mặt đã đạt được còn tồn tại một số điểm bất cập về số lượng chưa ổn định thừa thiếu cục bộ; cơ cấu chưa thực sự cân đối; chất lượng chưa đáp ứng yêu cầu giáo dục hiện tại và yêu cầu đổi mới, và chưa phù hợp với đặc thù của vùng Tây Bắc
8.3 Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS bản địa vùng Tây Bắc đòi hỏi vừa phải quan tâm phát triển đội ngũ (giải quyết ổn định về số lượng, nâng cao chất lượng và hài hòa về cơ cấu nhất là cơ cấu tộc người), vừa phải chú trọng đến phát triển cá thể GV người DTTS (nâng cao các năng lực nghề nghiệp của GV) phù hợp với giáo dục đặc thù vùng dân tộc thiểu số, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục; đảm bảo sự phù hợp về nhu cầu, lợi ích tạo động lực phấn đấu trong mỗi GVTH người DTTS và mục tiêu chiến lược phát triển của từng trường, từng tỉnh và vùng Tây Bắc
9 Đóng góp mới của luận án
9.1 Góp phần hệ thống hóa và phát triển lí luận về phát triển đội ngũ GVTH nói chung và phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc nói riêng đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, trong đó có sử dụng các phương pháp tiếp cận mới:
- Tiếp cận phát triển nguồn nhân lực: Khai thác được tính ưu việt của mô hình phát triển nguồn nhân lực vào phát triển đội ngũ GVTH người DTTS: phối hợp giữa phát triển cá thể với phát triển đội ngũ, lấy phát triển cá thể GVTH người DTTS làm nền tảng cho phát triển đội ngũ GVTH người DTTS phù hợp với đặc thù của vùng dân tộc thiểu số trong bối cảnh đổi mới giáo dục
- Tiếp cận năng lực: Quan tâm đến phát triển các năng lực nghề nghiệp chú trọng năng lực giảng dạy phù hợp với giáo dục đặc thù của vùng dân tộc thiểu số và yêu cầu đổi mới giáo dục
- Tiếp cận đa văn hóa: Khai thác thế mạnh của môi trường giáo dục đa văn hóa, đa dân tộc vào phát triển đội ngũ GVTH người DTTS góp phần nâng cao năng lực nghề nghiệp GV nhằm đảm bảo cơ hội bình đẳng trong tiếp cận giáo dục của trẻ em DTTS
Trang 99.2 Đánh giá được thực trạng đội ngũ GVTH người DTTS và thực trạng phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc, xác định được những điểm mạnh và những điểm còn hạn chế trước yêu cầu đổi mới giáo dục; và yêu cầu đặc thù của vùng Tây Bắc
9.3 Đề xuất được các nguyên tắc và 5 giải pháp phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc mang tính khoa học, phù hợp với đặc thù của vùng, đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục, và có thể dùng để tham khảo đối với các vùng dân tộc thiểu số khác, đó là: (i) Xây dựng công tác qui hoạch phát triển đội ngũ GVTH người DTTS; (ii) Đổi mới tổ chức đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GVTH người DTTS theo chuẩn nghề nghiệp phù hợp với giáo dục vùng dân tộc thiểu số; (iii) Đổi mới công tác sử dụng đội ngũ GVTH người DTTS theo năng lực nghề nghiệp phù hợp với dân tộc và vùng miền; (iv) Tăng cường công tác kiểm tra và đánh giá việc thực hiện nhiệm vụ của đội ngũ GVTH người DTTS theo chuẩn nghề nghiệp và điều kiện thực tế của các nhà trường; (v) Xây dựng môi trường giáo dục đa văn hóa phù hợp, sáng tạo và quan tâm về vật chất, tinh thần cho đội ngũ GVTH người DTTS
10 Cấu trúc của luận án
Ngoài phần mở đầu, kết luận và khuyến nghị, luận án có 3 chương
Chương 1: Cơ sở lí luận phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo
Chương 2: Thực trạng phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS vùng Tây Bắc
Chương 3: Giải pháp phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo
Trang 10NỘI DUNG NGHIÊN CỨU
Chương 1
CƠ SỞ LÍ LUẬN VỀ PHÁT TRIỂN ĐỘI NGŨ GIÁO VIÊN TIỂU HỌC NGƯỜI DÂN TỘC THIỂU SỐ TRONG BỐI CẢNH
ĐỔI MỚI GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO
1.1 Tổng quan nghiên cứu vấn đề
1.1.1 Những nghiên cứu về đội ngũ giáo viên
1.1.1.1 Vai trò của đội ngũ giáo viên
Tất cả các nghiên cứu trong và ngoài nước về đội ngũ GV đều khẳng định một trong các nguồn lực quan trọng quyết định đến sự phát triển của các nhà trường phổ thông nói chung, trường tiểu học nói riêng thì đội ngũ GV là quan trọng nhất, đóng vai trò chủ thể mang tính quyết định
Chính vì vậy, vai trò của GV với tư cách là nhân tố quyết định chất lượng giáo dục đã được biết đến từ lâu trên cơ sở tổng kết thực tiễn cũng như nghiên cứu khoa học giáo dục Đặc biệt, trong năm 2007, Công ty tư vấn toàn cầu Mc Kinsey nổi tiếng trong lĩnh vực quản lí, trên cơ sở nghiên cứu sâu 25 hệ thống giáo dục thế giới, trong đó có 10 hệ thống thành công, đã đưa ra câu trả lời sau
đây cho câu hỏi “Làm thế nào để các hệ thống giáo dục thành công trên thế giới
vươn lên hàng đầu?”: Đó là thực hiện ba vấn đề quan trọng nhất: (1) tuyển đúng
người để trở thành GV; (2) đào tạo họ thành những nhà giáo hiệu quả; (3) bảo đảm rằng hệ thống có khả năng cung cấp việc dạy tốt nhất có thể cho mọi trẻ em [100]
Vấn đề nâng cao chất lượng GV đã trở thành định hướng quan trọng hàng đầu trong hoạch định chính sách phát triển giáo dục của các quốc gia Câu hỏi
lại được đặt ra là làm thế nào nâng cao chất lượng đội ngũ GV? Khoảng hơn 10
năm nay đã có rất nhiều nghiên cứu tìm câu trả lời cho vấn đề này cũng như nhiều đề xuất về cải cách đào tạo GV Năm 2001, UNESCO và OECD, trên cơ
sở phân tích các chỉ số giáo dục của các nước đang phát triển, đưa ra các khuyến nghị về lựa chọn chính sách trong xây dựng đội ngũ GV đủ năng lực đáp ứng các yêu cầu của ngày mai [105] Bốn năm sau, OECD đúc kết kinh nghiệm và
Trang 11kết quả nghiên cứu để phân tích, trao đổi và gợi ý về cách thức để thu hút, đào tạo, giữ chân các nhà giáo giỏi ở các nước phát triển [104] Tiếp đó, năm 2006, UNESCO đưa ra các phân tích và kiến giải về một loạt chính sách liên quan đến việc tuyển dụng, đào tạo, sử dụng, đãi ngộ, điều kiện làm việc của GV nhằm hướng tới việc thực hiện các mục tiêu giáo dục cho mọi người đến năm 2015 [106] Đặc biệt quan trọng là những nghiên cứu khoa học và chia sẻ kinh nghiệm về chính sách GV và đào tạo GV đã mang vóc dáng toàn cầu Lần đầu tiên Hội nghị thượng đỉnh quốc tế về nghề dạy học được tổ chức vào năm 2011
ở New York để chia sẻ kinh nghiệm và kết quả nghiên cứu khoa học trong việc nâng cao chất lượng nhà giáo cũng như chất lượng dạy và học Hội nghị thượng đỉnh lần thứ hai được tổ chức vào năm 2012 để trao đổi về 3 chủ đề: (i) đào tạo hiệu trưởng; (ii) chuẩn bị GV cho những kỹ năng của thế kỷ 21; (iii) đào tạo GV
để làm việc và thành công ở những nơi cần họ nhất Gần đây, tháng 3/2013, Hội nghị thượng đỉnh lần thứ ba, tổ chức tại Amsterdam, tập trung vào chủ đề duy nhất là chất lượng GV Như vậy, có thể nói các nghiên cứu này đã đưa ra bức tranh khá toàn diện về vai trò cũng như những yêu cầu đối với GV Tuy nhiên, nghiên cứu trên tập trung vào khái quát bức tranh toàn diện về giáo viên nói chung chưa đi sâu phân tích vào cấp học cụ thể và đối tượng cụ thể
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Hạnh, trong: “Kinh nghiệm Quốc tế về đào
tạo, bồi dưỡng, sử dụng giáo viên tiểu học và định hướng giải pháp cho vấn đề
ở Việt Nam”[40], tác giả cho thấy: Vai trò của GVTH rất quan trọng Để trở
thành GV tiểu học, yêu cầu bắt buộc là phải học 4 năm để lấy bằng đại học ở một trong số 12 trường đại học theo quy định (Hàn Quốc) Và để được tuyển họ phải có bằng giỏi; các vị trí được phân bổ để đáp ứng các vị trí còn trống một cách hợp lí Khác với việc tuyển GV tiểu học, để trở thành GV trung học, ứng
cử viên có thể học và tốt nghiệp bất kỳ trường nào trong số 350 trường đại học
và tiêu chuẩn lựa chọn ít nhiều thông thoáng hơn Điều này dẫn đến tình trạng
“dư thừa” GV trung học đủ trình độ và điều kiện, khoảng 11 ứng cử viên cho 1
vị trí cần tuyển dụng Kết quả là ở Hàn Quốc giảng dạy trong trường trung học
có “địa vị” thấp hơn so với tiểu học, do vậy xu hướng muốn trở thành GV tiểu học nhiều hơn Nghiên cứu đã chỉ ra mức độ yêu cầu cao đối với GVTH về năng lực và trình độ GVTH ở Việt Nam qui định chuẩn đối với GVTH là THSP [52]
Trang 12và phấn đấu đến năm 2020 đạt 100% trình độ trên chuẩn [60] Như vậy, yêu cầu này hiện tại có thể phù hợp với điều kiện từng vùng/tiểu vùng nhưng cũng có thể chưa phù hợp với từng vùng/tiểu vùng ở Việt Nam Tuy nhiên, những yêu cầu
về GVTH của nghiên cứu là mục tiêu phấn đấu đối với GVTH của Việt Nam đến năm 2020 (theo nghị quyết số 29 – NQ/TW) nên có tính chất tham khảo trong luận án khi đề xuất các giải pháp liên quan đến đào tạo
Nghiên cứu của Thái Duy Tuyên trong “Triết học giáo dục Việt
Nam”[84], tác giả cho rằng: vị trí của người thầy trong quá trình giáo dục đóng
vai trò chủ thể, là người đại diện cho xã hội điều khiển quá trình giáo dục chủ yếu thể hiện ở: khởi động quá trình giáo dục; điều khiển phương hướng hoạt động, trình tự thời gian, tốc độ phát triển của quá trình giáo dục; đánh giá kết quả giáo dục Phát huy vai trò chủ đạo của người thầy, người thầy càng cố gắng thì càng phát huy được vai trò chủ đạo của mình Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới giáo dục một số nội dung này chưa phù hợp
1.1.1.2 Chuẩn nghề nghiệp giáo viên – Yêu cầu đổi mới giáo dục
Theo Prof Bernd Meier (2007), Management and leadership education
[102], theo tác giả về quan điểm lãnh đạo và quản lí của nhà giáo dục đòi hỏi người
GV cần phải có các năng lực/chuẩn hạt nhân/nòng cốt như: năng lực dạy học; năng lực giáo dục; năng lực chẩn đoán; năng lực đánh giá; năng lực tư vấn; năng lực tiếp tục phát triển nghề nghiệp và phát triển trường học Kế thừa những quan điểm này, trong giai đoạn đổi mới giáo dục cũng cần có các năng lực trên
Công trình của tác giả người Pháp Michel Dvelay “Peut- On former les
Enseignants?” [56] Trong tác phẩm này tác giả đã lí giải vì sao công tác đào
tạo, bồi dưỡng GV cần được đổi mới theo quan điểm lấy người học làm trung tâm của hệ thống giáo dục, tức là việc đào tạo nghề dạy học không chỉ được xác định bằng hoạt động dạy của người thầy mà trước hết phải bằng hoạt động học của người trò Thông qua đào tạo ban đầu và bồi dưỡng thường xuyên, người
GV phải có năng lực vừa tập trung đi sâu vào nội dung của bộ môn, vừa tập trung đi sâu vào việc học của HS Tuy nhiên, trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo của Việt Nam thì GV cần được bổ sung những năng lực/chuẩn như dạy học theo định hướng phát triển phẩm chất năng lực HS, HS DTTS, dạy học tích
Trang 13hợp, dạy song ngữ trong môi trường đa văn hóa ở vùng DTTS, và bối cảnh lịch
sử cụ thể
Bài viết của tác giả Nguyễn Văn Đệ “Hoạt động đào tạo giáo viên trong
bối cảnh mới” [32] cho rằng cách bồi dưỡng năng lực cho GV tương lai phải
theo chuẩn nghề nghiệp đã được qui định, đặc biệt chú ý đến khuyến cáo của UNESCO: “Thầy giáo phải được đào tạo để trở thành những nhà giáo dục nhiều hơn là những chuyên gia truyền đạt kiến thức; phải làm chủ được môi trường công nghệ thông tin - truyền thông mới và chuẩn bị về mặt tâm lí cho mọi sự thay đổi cơ bản về vai trò của họ” Nghiên cứu đã chỉ ra những yêu cầu đổi mới trong quá trình đào tạo GV Tuy nhiên, cũng cần lưu ý đến các điều kiện, các yếu tố cản trở của mỗi vùng miền/ tiểu vùng để vận dụng một cách phù hợp nên
có tính chất tham khảo trong luận án khi đề xuất các giải pháp liên quan đến đào tạo GV
Đề tài “Giải pháp đổi mới đào tạo nghiệp vụ sư phạm đáp ứng yêu cầu
giáo dục phổ thông trong thời kỳ mới”, mã số B2011-17-CT04 của tác giả
Nguyễn Thị Kim Dung [24] đã đưa ra hệ thống năng lực nghề nghiệp cần hình thành cho sinh viên sư phạm gồm: (1) Năng lực khoa học chuyên ngành và (2) Năng lực sư phạm Đồng thời tác giả cũng đưa ra “Khung chuẩn đầu ra của chương trình đào tạo GV theo định hướng phát triển năng lực nghề nghiệp Theo
đó khung chuẩn đầu ra gồm 5 nhóm năng lực với 30 tiêu chí: (1) Năng lực dạy học; (2) năng lực giáo dục; (3) năng lực định hướng sự phát triển cá nhân học sinh; (4) năng lực phát triển cộng đồng nghề và xã hội; (5) năng lực phát triển cá nhân Tuy nhiên, đề tài đã tập trung vào đào tạo nghiệp vụ sư phạm cho GV phổ thông nói chung chưa đi cụ thể đối với từng cấp học
Theo tác giả Nguyễn Trí “Một số vấn đề đổi mới QLGD Tiểu học vì sự
phát triển bền vững” (Dự án phát triển GV Tiểu học) [86], với việc đưa ra quá
trình xây dựng và nội dung của chuẩn nghệ nghiệp giáo viên Tiểu học: Sự xuất hiện các hệ đào tạo rất mềm dẻo, linh hoạt với việc tuyển sinh trình độ học vấn phổ thông ngày càng được nâng cao đã đáp ứng nhu cầu phát triển cả về số lượng và chất lượng đội ngũ GV Tiểu học hơn 50 năm sau cách mạng Tuy nhiên, điều đó cũng để lại gánh nặng rất lớn về đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ này cho giai đoạn hiện nay, khi chúng ta phải chuẩn hóa và hiện đại hóa đội ngũ GV
Trang 14Tiểu học, chuẩn bị cho việc hòa nhập và phát triển Việc liên tục nâng cao trình
độ đào tạo cho đội ngũ GV Tiểu học là đòi hỏi tất yếu của quá trình xây dựng và quản lí đội ngũ GV Tiểu học diễn ra suốt mấy chục năm qua Ở nước ta mới chú
ý đến xác định trình độ đào tạo và việc GV phấn đấu đạt trình độ đào tạo chuẩn Nghiên cứu này, tập trung chủ yếu vào chuẩn hóa trình độ đào tạo, chuẩn nghề nghiệp GV chưa được đề cập (do đang đề xuất xây dựng qui định chuẩn nghề nghiệp)
Luận án QLGD của tác giả Lê Văn Chín “Quản lí đội ngũ giáo viên tiểu
học tỉnh Bến Tre đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục” [15], tác giả đã đưa ra giải
pháp đào tạo, đào tạo lại và bồi dưỡng đội ngũ giáo viên đạt trình độ trên chuẩn đáp ứng chương trình Tiểu học mới Trên cơ sở đánh giá GV theo chuẩn nghề nghiệp, công tác bồi dưỡng và tự bồi dưỡng đội ngũ GVTH phải được triển khai đồng bộ bằng nhiều giải pháp sáng tạo nhằm đáp ứng chuẩn nghề nghiệp ở mức cao và phải gắn với công tác bố trí, sàng lọc đội ngũ Tuy nhiên, luận án của tác giả tập trung giải quyết về đội ngũ GVTH nói chung ở một tỉnh cụ thể thuộc khu vực Đồng Bằng Sông Cửu Long
Trên cơ sở kết quả nghiên cứu về các văn bản, qui định,…cho thấy: Bộ Giáo dục và Đào tạo đã có quy định chuẩn nghề nghiệp GVTH ban hành kèm theo quyết định số 14/2007/QĐ-BGDĐT ngày 04 tháng 5 năm 2007, trong đó qui định 3 lĩnh vực: (1) Phẩm chất chính trị, đạo đức, lối sống; (2) Kiến thức; (3) Kĩ năng sư phạm Mỗi lĩnh vực có 5 yêu cầu và mỗi yêu cầu có 5 tiêu chí Qui định này được dùng trong luận án và bổ sung một số tiêu chí mang tính chất đặc thù vùng miền, tộc người và yêu cầu đổi mới giáo dục cho GVTH người DTTS
Bên cạnh đó, yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo thể hiện trong Nghị quyết 88/2014/QH13: “chương trình, sách giáo khoa mới là cách tiếp cận theo phẩm chất và năng lực của HS thay cho tiếp cận nội dung trước đây chi phối mục tiêu giáo dục, nội dung, phương pháp, hình thức, đánh giá Nội dung giáo dục tiểu học mới nhất đó là dạy tích hợp, phương pháp, hình thức tổ chức dạy học phát huy tính độc lập sáng tạo của HS Tăng cường hoạt động trải nghiệm sáng tạo Đánh giá theo năng lực phẩm chất của HS, HS DTTS” Đây chính là căn cứ để định hướng cho Luận án thực hiện nghiên cứu
Trang 151.1.2 Những nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực và phát triển đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số
1.1.2.1 Phát triển nguồn nhân lực- nguồn nhân lực dân tộc thiểu số
Từ những năm 1980, nhà xã hội học người Mỹ Leonard Nadle đã đưa ra
sơ đồ khá đầy đủ về phát triển nguồn nhân lực [27], bao gồm các nội dung: Giáo dục- đào tạo nguồn nhân lực (đào tạo, bồi dưỡng, tự bồi dưỡng); Sử dụng nguồn nhân lực (tuyển chọn, bố trí, sử dụng, đánh giá, đề bạt, thuyên chuyển); Tạo môi trường thuận lợi cho nguồn lực phát triển (môi trường làm việc, môi trường pháp lí, các chính sách đãi ngộ)
Tác giả Christian Batal (Pháp) trong bộ sách “Quản lí nguồn nhân lực
trong khu vực nhà nước” [10] Tác giả đã đưa ra lí thuyết tổng thể về phát triển
nguồn nhân lực Từ kết quả nghiên cứu một số ngành khoa học (giáo dục học, dân số học, toán học ), ông đã đưa ra bức tranh hoàn chỉnh về nhiệm vụ phát triển nguồn nhân lực từ khâu kiểm kê, đánh giá đến việc nâng cao năng lực, hiệu lực của nguồn nhân lực
Tác giả Paul Hersey và Ken Blanc Hard trong cuốn “Quản lí nguồn nhân
lực”’[103], đề cập đến cách tiếp cận ứng dụng các khoa học về hành vi, xem đó
là những công cụ quan trọng giúp nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả của các hoạt động Ngoài sự thống nhất về nội dung các nhiệm vụ với quản lí phát triển nguồn nhân lực, nghiên cứu đã dành sự quan tâm đặc biệt đến chất lượng GV; đề cao việc thúc đẩy phát triển bền vững và thích ứng nhanh của mỗi GV và cả đội ngũ Trong đó, việc xuất hiện các công nghệ dạy học mới, dẫn đến nhu cầu thay đổi vai trò và phương pháp của người thầy càng trở nên cấp thiết; các hình thức bồi dưỡng GV cũng trở nên đa dạng và phong phú; kèm theo đó là chính sách giảm giờ dạy lí thuyết trên lớp của GV Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến việc để thực hiện được cũng cần có các điều kiện phù hợp với từng vùng và tiểu vùng khác nhau
Tác giả Nguyễn Minh Đường và Phan Văn Kha (2006) [33], “Đào tạo
nhân lực đáp ứng yêu cầu CNH, HĐH trong điều kiện kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế”, các tác giả cho rằng: Trong thời đại ngày nay, để
sống và lao động trong một xã hội công nghiệp văn minh và hiện đại, văn hóa
Trang 16phổ thông đã trở nên vô cùng quan trọng là cơ sở cho sự phát triển của mỗi con người, trong đó có phát triển nghề nghiệp đó chính là nền tảng để đào tạo nhân lực Với quan điểm GD&ĐT là biện pháp cơ bản phát triển nguồn nhân lực, các nước đang quan tâm nhiều đến việc hình thành các kĩ năng, kĩ thuật tổng hợp cho học sinh phổ thông Những quan điểm của các tác giả đưa ra tương đối phù hợp với bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo trong đó hướng tới các năng lực và phẩm chất của người học
Tác giả Nguyễn Lộc, trong “Những vấn đề lí luận cơ bản về phát triển
nguồn nhân lực ở Việt Nam”- Đề tài trọng điểm cấp Bộ B2006-37-02TĐ” [51]
Đề tài đã làm rõ những vấn đề về phát triển nguồn nhân lực được xác định như
“Các hoạt động học tập của tổ chức trong tổ chức nhằm nâng cao việc thực hiện hoặc phát triển cá nhân cho mục đích phát triển công việc, cá nhân hoặc tổ chức” Như vậy, tác giả nghiên cứu ở việc xác định phát triển nguồn nhân lực ở cấp độ quốc gia bao gồm: phát triển nguồn nhân lực gồm các lĩnh vực đào tạo và phát triển, phát triển nghề nghiệp và phát triển tổ chức
Phan Văn Kha – Nguyễn Lộc (đồng chủ biên) trong công trình “Khoa học
giáo dục Việt Nam từ đổi mới đến nay”, tác giả Nguyễn Minh Đường (Chương
9) “Phát triển nguồn nhân lực” [49, Tr303], tác giả đã đưa ra mô hình phát triển nguồn nhân lực một cách toàn diện: (1) Phát triển nhân cách của người lao động, phát triển sinh thể/thể lực, tạo việc làm và được sử dụng hợp lí, tạo môi trường lao động thuận lợi, đảm bảo môi trường xã hội và môi trường sinh thái an toàn
để họ có thể sống an vui và lao động có hiệu quả; (2) Xây dựng chiến lược phát triển nhân lực; qui hoạch đào tạo và sử dụng nhân lực; hướng nghiệp cho học sinh phổ thông; phân luồng giáo dục, đào tạo và sử dụng hợp lí đội ngũ nhân lực quốc gia Đồng thời, khi nghiên cứu về phát triển nguồn nhân lực cần xem xét mối quan hệ giữa các yếu tố của nội dung phát triển nguồn nhân lực với các yếu
tố khác có liên quan như: mối quan hệ giữa kinh tế - xã hội với phát triển nguồn nhân lực; mối quan hệ giữa tiến bộ của khoa học và công nghệ với phát triển nguồn nhân lực; mối quan hệ giữa xu thế thời đại về GD&ĐT với phát triển nguồn nhân lực; và mối quan hệ giữa hợp tác quốc tế và hội nhập với phát triển nguồn nhân lực Tác giả kế thừa lí luận phát triển nguồn nhân lực của nghiên cứu này trong nghiên cứu luận án
Trang 17Tác giả Đặng Cảnh Khanh với bài viết về: “Phát triển nguồn nhân lực các
DTTS trong quá trình CNH, HĐH và hội nhập kinh tế Quốc tế hiện nay đáp ứng yêu cầu đổi mới GD&ĐT” [55], tác giả đã đưa ra cách nhìn khá toàn diện về
phát triển kinh tế- xã hội cần quán triệt theo những quan điểm: Phát triển nguồn nhân lực các dân tộc cần phải gắn liền với những định hướng phát triển KT-XH tại vùng dân tộc; Gắn việc phát triển nguồn nhân lực các DTTS với sự phát triển của thị trường lao động; Gắn với những đặc điểm văn hóa- xã hội của chính vùng dân tộc; Cần phải kết hợp với việc phân bố và sử dụng hợp lí nguồn nhân lực Để phát triển nguồn nhân lực các DTTS, cần phải có chính sách, cơ chế và giải pháp thích hợp, quan tâm đầy đủ và trực tiếp tới nhóm người sẽ là nguồn lực trong tương lai như: Chăm sóc về mặt thể chất; Đào tạo và bồi dưỡng về học vấn và tri thức; Nâng cao nhận thức chính trị, ý thức tư tưởng, lối sống nhân cách của thanh thiếu niên các dân tộc với tư cách là nguồn nhân lực trong tương lai Tuy nhiên, tác giả tập trung vào việc đưa ra bức tranh khái quát phát triển nguồn nhân lực các DTTS nói chung bao gồm các nguồn nhân lực ở các ngành/lĩnh vực khác nhau
Tác giả Trịnh Quang Cảnh, “Trí thức người DTTS ở Việt Nam trong công
cuộc đổi mới”, Luận án tiến sĩ Triết học [14] Tác giả đã đánh giá thực trạng đội
ngũ trí thức người DTTS Việt Nam, chỉ rõ nhu cầu nguồn nhân lực người DTTS, những nguyên nhân dẫn đến những bất cập trong phát triển nhân lực người DTTS và khẳng định để nâng cao chất lượng nguồn nhân lực người DTTS đòi hỏi phát triển giáo dục ở vùng dân tộc Phát triển đội ngũ GV người DTTS là phát triển trí thức người DTTS GV người DTTS không chỉ làm nhiệm vụ giáo dục mà còn góp phần phát huy lòng tự hào, tự tôn dân tộc thúc đẩy giáo dục phát triển Tuy nhiên, tác giả mới dừng lại việc phân tích nhiệm vụ/nội dung nói chung chưa phân tích cụ thể vào từng nhiệm vụ/nội dung của từng vùng với những đặc điểm KT-XH khác nhau để phát triển nguồn nhân lực người DTTS
1.1.2.2 Phát triển đội ngũ giáo viên- đội ngũ GV người dân tộc thiểu số
Michael Fullan, Andy Hargreaves trong cuốn sách “Teacher development
and educational change”[101], đề cập đến các phương diện của sự phát triển
GV, đó là: (1) Phát triển tâm lí, gồm 4 cấp độ: tự bảo vệ, tiền đạo đức, phụ
Trang 18thuộc một chiều; bảo thủ, phủ định đạo đức, tự lập; lương tâm, đạo đức, phụ thuộc có điều kiện; tự lập, tự chủ, nguyên tắc, tích hợp; (2) Phát triển chuyên môn, nghiệp vụ, gồm 6 cấp độ: Phát triển các kỹ năng tồn tại; thành thạo các kỹ năng dạy học cơ bản; mở rộng sự linh hoạt chuyên môn; trở thành chuyên gia; góp phần phát triển chuyên môn của đồng nghiệp; tham gia đưa ra quyết sách giáo dục ở mọi cấp độ; (3) Phát triển chu kỳ nghề nghiệp, gồm 5 cấp độ: khởi động nghề nghiệp; ổn định, gắn bó nghề nghiệp; các thách thức và mối quan tâm mới; trở nên chuyên nghiệp; chuẩn bị về hưu; Luận án kế thừa tiếp cận của một
số phương diện phát triển GV nêu trên để xây dựng nội dung chương trình đào tạo, bồi dưỡng GV người DTTS
Theo tác giả Mishra & Koehler: “Technological pedagogical content
knowledge: A framework for teacher knowledge” (Công nghệ sư phạm nội dung kiến thức: Một khuôn khổ cho kiến thức của GV) [102] Công nghệ thông tin
được xem như một nguyên nhân và một bánh xe thúc đẩy kết quả quá trình đổi mới giáo dục Một yếu tố quan trọng ảnh hưởng đến quá trình tích hợp CNTT trong giáo dục là việc phát triển chuyên môn cho GV hiện tại và tương lai Việc phát triển này được xác định là ưu tiên hàng đầu trong chính sách về đổi mới giáo dục Tuy nhiên, tác giả chưa đề cập đến những điều kiện để thực hiện nó phù hợp với thực tiễn (có thể là phù hợp với đội ngũ GV, vùng/khu vực này nhưng lại không phù hợp với đội ngũ GV vùng/khu vực khác và cần chỉ rõ ưu tiên nhiệm vụ nào làm trước một cách phù hợp)
Nghiên cứu của Nguyễn Thị Mỹ Lộc (2011), “Phát triển đội ngũ GV
trong thế kỉ 21” [52, tr 489], theo tác giả đội ngũ GV luôn là lực lượng quyết
định chất lượng của giáo dục, nguồn duy nhất đào tạo nguồn nhân lực có khả năng hiện thực hoá mọi kế hoạch cho tương lai Phát triển đội ngũ GV là một quy trình bao gồm nhiều công đoạn, từ quy hoạch đội ngũ GV cho 10-20 năm, chiến lược đào tạo (trong đó có đào tạo liên tục), sử dụng, xây dựng môi trường hoạt động (trong đó có các chính sách đãi ngộ, tạo môi trường thuận lợi cho hoạt động nghề nghiệp, đánh giá, đề bạt, thuyên chuyển v.v ) Tác giả đã phân tích sâu về chiến lược đào tạo của các cơ sở đào tạo theo chuẩn nghề nghiệp GV do
Bộ GD&ĐT qui định được làm là căn cứ chuẩn đầu ra cho các cơ sở đào tạo Tuy nhiên, tác giả chủ yếu tập trung vào phân tích đào tạo đối với cấp THCS và
Trang 19THPT ở cấp TH chưa được đề cập đến, trong đó có đối tượng đào tạo GV là người DTTS
Đề tài cấp Nhà nước của Nguyễn Thị Bình, “nghiên cứu đề xuất các giải
pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng GV phổ thông” [11], tác giả đã đưa
ra 6 nhóm giải pháp cải cách công tác đào tạo, bồi dưỡng GV: (i) Xây dựng và thực hiện kế hoạch đào tạo và bồi dưỡng GV để đảm bảo sự cân bằng giữa cung
và cầu nguồn nhân lực trong lĩnh vực giáo dục; (ii) Tái cơ cấu hệ thống các cơ
sở đào tạo GV: giảm số lượng của các cơ sở, mỗi cơ sở thực hiện đồng thời ba chức năng (đào tạo, bồi dưỡng và nghiên cứu), tăng cường mối quan hệ nội bộ, giữ liên hệ chặt chẽ với các trường phổ thông; (iii) Chuyển đổi mô hình đào tạo, bồi dưỡng GV từ đào tạo một lần sang đào tạo căn bản - ban đầu kết hợp với đào tạo bổ sung định; (iv) Thay đổi các chính sách về tiền lương, phụ cấp và chế độ làm việc đối với GV; (v) Thành lập Hiệp hội giáo chức (gồm các hội thành viên, mỗi hội tập hợp và đại diện cho giáo chức thuộc một cấp học/ một ngành học)
để thực hiện chức năng, nhiệm vụ của một tổ chức nghề nghiệp;(vi) đề nghị Quốc hội ban hành một đạo luật về GV và nghề dạy học nhằm thiết lập cơ sở pháp lí cho việc thực hiện các biện pháp cải cách Nghiên cứu đã đưa ra các giải pháp tương đối toàn diện về đào tạo và bồi dưỡng GV phổ thông Luận án kế thừa một số nội dung của nghiên cứu này trong công tác đào tạo và bồi dưỡng đội ngũ GVTH nói chung và GVTH người DTTS nói riêng hiện nay
Luận án tiến sĩ chuyên ngành QLGD của tác giả Lê Trung Chinh (2015)
với đề tài “Phát triển đội ngũ GV THPT thành phố Đà Nẵng trong bối cảnh hiện
nay” [16], đã tổng kết khá phong phú công tác nghiên cứu xung quanh vấn đề
phát triển đội ngũ giáo viên, đồng thời đề xuất nhiều giải pháp khả thi để phát triển đội ngũ GV THPT Tuy nhiên, vấn đề đi sâu nghiên cứu của đề tài là đội ngũ GV THPT của một vùng/khu vực có điều kiện tương đối thuận lợi
Theo Bùi Thị Ngọc Diệp: “Nâng cao chất lượng GD&ĐT ở vùng dân tộc
và miền núi” [25], tác giả nhấn mạnh chất lượng giáo dục vùng dân tộc thiểu
sốchưa đạt được như mong muốn có nhiều nguyên nhân trong đó có nguyên nhân về đội ngũ GV: Hầu hết GV hiện nay đã đạt chuẩn và trên chuẩn về đào tạo Tuy nhiên, đội ngũ GV công tác ở vùng dân tộc thiểu sốcòn bộc lộ những mặt hạn chế như: khả năng vận dụng phương pháp dạy học mới; kĩ thuật dạy
Trang 20học lớp ghép; nhận thức về giới và quyền trẻ em; về giáo dục hòa nhập và kĩ năng sống; khả năng nói Tiếng DTTS; những hiểu biết về phong tục tập quán dân tộc, đặc điểm tâm lí của học sinh DTTS… Một trong những giải pháp đó là nâng cao chất lượng GV đó là cần tổ chức bồi dưỡng thường xuyên về: trình độ chuyên môn, phương pháp giảng dạy, giới, bình đẳng giới, quyền trẻ em, vận dụng công nghệ trong dạy học, Tiếng DTTS, văn hóa dân tộc và tri thức địa phương Nghiên cứu đã chỉ ra những yếu tố ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục
ở vùng dân tộc thiểu sốtrong đó đội ngũ GV là hết sức quan trọng Luận án kế thừa một số những lưu ý về vấn đề chất lượng ở vùng dân tộc và miền núi
Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu những điều kiện cần thiết để đưa Tiếng dân
tộc vào dạy trong trường tiểu học vùng dân tộc đạt hiệu quả” [90], tác giả đã
đưa ra quan điểm việc dạy Tiếng dân tộc ở vùng DTTS là điều kiện cần thiết nhằm nâng cao chất lượng giáo dục vùng dân tộc như: đào tạo GV phải đồng thời nếu không muốn nói rằng cần đi trước một bước trước khi triển khai dạy Tiếng dân tộc đại trà Đảm bảo khi mở lớp dạy Tiếng dân tộc phải có GV được đào tạo dạy Tiếng dân tộc đứng lớp Đào tạo GV dạy Tiếng dân tộc phải đảm bảo mục đích: Sau khi được đào tạo, người học phải dạy được môn Tiếng dân tộc, đồng thời cũng dạy được cả các môn học khác Không đào tạo GV chỉ chuyên dạy Tiếng dân tộc; Về bồi dưỡng GV, Các cấp quản lí giáo dục từ đội ngũ GV phải nhận thức được tầm quan trọng của công tác bồi dưỡng GV, để công tác này được tạo điều kiện, đầu tư trí tuệ, công sức, kinh phí và trở thành một phong trào sôi nổi, hào hứng nhất là trong các dịp hè Tuy nhiên, tác giả chưa cụ thể về đối tượng nào được cần được đào tạo Tiếng dân tộc và Tiếng dân tộc nào được bồi dưỡng phù hợp với vùng /tiểu vùng, dân tộc/đa dân tộc
Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu khả năng đáp ứng của GV trong việc triển
khai chương trình và sách giáo khoa tiểu học mới ở vùng dân tộc” [77], tác giả
đã đưa ra nhóm giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng GV tiểu học bao gồm: Giải pháp về nhận thức; Giải pháp về đào tạo, bồi dưỡng nghiệp vụ chuyên môn cho
GV tiểu học vùng dân tộc Luận án, kế thừa những quan điểm của tác giả trong việc bồi dưỡng đội ngũ GVTH người DTTS nhưng cần chú ý đến bối cảnh cụ thể
Trang 21Đề tài cấp Bộ “Nghiên cứu giải pháp nâng cao chất lượng dạy-học lớp
ghép vùng DTTS” [81], tác giả đã đưa ra các giải pháp nhằm xây dựng và nâng
cao năng lực cho đội ngũ GV góp phần nâng cao chất lượng giáo dục vùng DTTS như (i).Tăng cường bồi dưỡng GV nhưng chú trọng những nội dung giáo dục đặc thù bên cạnh những nội dung chung đồng thời tăng cường tự bồi dưỡng
và bồi dưỡng đồng đẳng; (ii) Tuyển dụng và đào tạo GV bản địa dạy; (iii) Đào tạo nguồn GV dạy ở vùng dân tộc trong các nhà trường Sư phạm Về lâu dài, chương trình sư phạm cần bổ sung các chuyên đề dạy sinh viên những phương pháp đặc thù cho học sinh dân tộc, chuyên đề về đặc điểm tâm sinh lí học sinh dân tộc Nghiên cứu này, luận án tham khảo một số nội dung trong đào tạo và bồi dưỡng GV, GV người DTTS về tính đặc thù của vùng miền
1.1.3 Nhận xét chung
Qua nghiên cứu các công trình khoa học, các tài liệu trong nước và ngoài nước, tác giả nhận thấy vấn đề phát triển nguồn nhân lực trong đó phát triển đội ngũ GV đã và đang được quan tâm nghiên cứu của các nhà quản lí, các nhà khoa học theo những cách tiếp cận khác nhau và cũng xuất phát điểm nghiên cứu khác nhau Những công trình khoa học, những tài liệu đó đều khẳng định được vai trò và tầm quan trọng của phát triển nguồn nhân lực, phát triển đội ngũ GV
kể cả qui mô, chất lượng, cơ cấu để đáp ứng yêu cầu phát triển KT-XH
Các tác giả đã có những đóng góp to lớn về mặt lí luận và thực tiễn từ vấn
đề phương pháp luận về chiến lược phát triển nguồn nhân lực; các chính sách phát triển nguồn nhân lực; vấn đề phát triển đội ngũ GV trong việc phát triển nguồn nhân lực; chiến lược đào tạo GV chú trọng chuẩn đầu ra dựa vào năng lực; đào tạo và bồi dưỡng GV đáp ứng yêu cầu CNH-HĐH; quản lí đội ngũ GV, GVTH; nâng cao năng lực đội ngũ GVTH, GVTH người DTTS về dạy lớp đặc thù, Tuy nhiên, vấn đề phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc chưa được nghiên cứu và giải quyết thỏa đáng Luận án sẽ kế thừa những thành tựu đã đạt được, đồng thời luận giải chuyên sâu vào vấn đề: “Phát triển đội ngũ GVTH người DTTS vùng Tây Bắc đáp ứng yêu cầu đổi mới giáo dục và đào tạo”
Trang 221.2 Đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số
1.2.1 Khái niệm giáo viên và đội ngũ giáo viên tiểu học người DTTS
1.2.1.1 Giáo viên
GV là người lao động trí óc, đòi hỏi phải có tính khoa học, tính sư phạm, tính nghệ thuật và tính sáng tạo Người GV không những làm những việc trong nhà trường mà còn làm việc ở gia đình, không chỉ làm việc trong giờ hành chính
mà cả ngoài giờ hành chính, đòi hỏi người GV phải có tinh thần phấn đấu trong học tập và phải có tinh thần tự học cao
Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của luật giáo dục 2005 ngày 25 tháng
11 năm 2009 qui định: “Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục mầm non, giáo dục phổ thông, giáo dục nghề nghiệp trình độ sơ cấp nghề, trung cấp nghề, trung cấp chuyên nghiệp gọi là giáo viên Nhà giáo giảng dạy ở cơ sở giáo dục đại học, trường cao đẳng nghề gọi là giảng viên.”
Với tư cách là nhà giáo, GV phải có những tiêu chuẩn sau: Phẩm chất, đạo đức, tư tưởng tốt; đạt trình độ chuẩn đào tạo về chuyên môn nghiệp vụ; đủ sức khỏe theo yêu cầu nghề nghiệp; lí lịch bản thân rõ ràng
1.2.1.2 Đội ngũ giáo viên:
“Đội ngũ” là một phạm trù được dùng khá rộng rãi trong các tổ chức xã hội như: Đội ngũ cán bộ quản lí, đội ngũ giáo viên, đội ngũ công nhân Từ điển giáo dục học định nghĩa: “Đội ngũ giáo viên là tập hợp những người đảm nhận công tác giáo dục và dạy học có đủ tiêu chuẩn đạo đức, chuyên môn và nghiệp
vụ qui định” Trong nhà trường đội ngũ giáo viên là lực lượng quyết định mọi hoạt động giáo dục trong nhà trường Trên cơ sở cộng đồng trách nhiệm, đội ngũ giáo viên là tập hợp những người có tinh thần đoàn kết, gắn bó, tạo thành một khối thống nhất và từng hoạt động của mỗi thành viên luôn có mối liên hệ, tác động qua lại lẫn nhau trên cơ sở thực hiện mục đích chung, có cùng quyền lợi và nghĩa vụ, có qui chế làm việc nhằm vào thực hiện mục tiêu giáo dục chung
Từ nhiều cách tiếp cận khác nhau, kế thừa các quan điểm, trong phạm vi luận án có thể hiểu: Đội ngũ giáo viên là những người cùng làm nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục trong nhà trường hoặc các cơ sở giáo dục, bao gồm giáo viên có
Trang 23đủ tiêu chuẩn về đạo đức, chuyên môn và nghiệp vụ theo qui định Đội ngũ này quyết định toàn bộ chất lượng hoạt động giáo dục của nhà trường bằng việc cống hiến hết tài năng và công sức của họ Như vậy, theo quan điểm tiếp cận hệ thống, tập hợp các GV của một trường tiểu học nhất định được gọi là đội ngũ
GV của trường TH đó Đây là một hệ thống mà mỗi GV có mối quan hệ với nhau, bị ràng buộc bởi những cơ chế xác định Vì lẽ đó, mỗi tác động vào các
GV đơn lẻ của hệ thống vừa có ý nghĩa cục bộ vừa có ý nghĩa trên toàn thể với toàn bộ hệ thống
1.2.1.3 Giáo viên tiểu học – Giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số
Theo điều lệ trường tiểu học-bản hợp nhất số 03/VBHN-BGDĐT ngày 22 tháng 1 năm 2014 qui định:
- GV làm nhiệm vụ giảng dạy, giáo dục học sinh trong trường tiểu học và
cơ sở giáo dục khác thực hiện chương trình giáo dục tiểu học
Nhiệm vụ của GVTH:
- Giảng dạy, giáo dục đảm bảo chất lượng theo chương trình giáo dục, kế hoạch dạy học; soạn bài, lên lớp, kiểm tra, đánh giá, xếp loại học sinh; quản lí học sinh trong các hoạt động giáo dục do nhà trường tổ chức; tham gia các hoạt động chuyên môn; chịu trách nhiệm về chất lượng, hiệu quả giảng dạy và giáo dục
- Trau dồi đạo đức, nêu cao tinh thần trách nhiệm, giữ gìn phẩm chất, danh dự, uy tín của nhà giáo; gương mẫu trước học sinh, thương yêu, đối xử công bằng và tôn trọng nhân cách của học sinh; bảo vệ các quyền và lợi ích chính đáng của học sinh; đoàn kết, giúp đỡ đồng nghiệp
- Học tập, rèn luyện để nâng cao sức khỏe, trình độ chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, đổi mới phương pháp giảng dạy
- Tham gia công tác phổ cập giáo dục tiểu học ở địa phương
- Thực hiện nghĩa vụ công dân, các quy định của pháp luật và của ngành, các quyết định của Hiệu trưởng; nhận nhiệm vụ do Hiệu trưởng phân công, chịu
sự kiểm tra, đánh giá của Hiệu trưởng và các cấp quản lí giáo dục
- Phối hợp với Đội Thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh, gia đình học sinh và các tổ chức xã hội liên quan để tổ chức hoạt động giáo dục
Trang 24Quyền của GVTH:
- Được nhà trường tạo điều kiện để thực hiện nhiệm vụ giảng dạy và giáo dục học sinh; Được đào tạo nâng cao trình độ, bồi dưỡng chuyên môn, nghiệp vụ; được hưởng nguyên lương và phụ cấp, các chế độ khác theo qui định khi được cử đi học; Được hưởng tiền lương, phụ cấp ưu đãi theo nghề, phụ cấp thâm niên và các phụ cấp khác theo qui định của Chính phủ Được hưởng mọi quyền lợi vật chất, tinh thần và được chăm sóc, bảo vệ sức khỏe theo chế độ, chính sách qui định đối với nhà giáo;
- Được bảo vệ nhân phẩm, danh dự;
- Được thực hiện các quyền khác theo qui định của pháp luật
GVTH người DTTS không nằm ngoài những nội dung qui định trên Tuy nhiên, với những yêu cầu về vùng miền và đối tượng HS người DTTS nên ngoài những nội trên, GVTH người DTTS còn đảm nhận vai trò không chỉ dạy mà còn nuôi dạy HS DTTS, biết tiếng DT, các phong tục, tập quán, văn hóa,… các cộng đồng DTTS khi thực hiện dạy –học ở vùng DTTS và miền núi
1.2.1.4 Dân tộc thiểu số
Dân tộc Việt Nam (dân tộc hiểu theo nghĩa nation-cộng đồng chính trị -xã hội được sự quản lí của một nhà nước, thiết lập trên một lãnh thổ nhất định) bao gồm nhiều dân tộc (dân tộc hiểu theo nghĩa ethni - tộc người, trong Luận án này
có trường hợp tác giả dùng từ tộc người để thay thế từ dân tộc) Theo danh mục
các tộc người ở nước ta được công bố ngày 2/3/1979, nếu không tính ngoại kiều, nước ta có 54 dân tộc Tổng điều tra 1/4/1999, tổng dân số nước ta có 76.323.173 người, trong đó dân tộc Việt (Kinh): 65.759.514 người; 53 dân tộc khác có dân số ít hơn, chiếm 13% tổng dân số Giữa các tộc người cũng có độ chênh lệch rất lớn về dân số,…
Khái niệm DTTS còn có nhiều ý kiến khác nhau, các thuật ngữ và định nghĩa về “Dân tộc thiểu số” được chấp nhận hoặc thường dùng là khác nhau ở mỗi nước, mỗi chuyên ngành và thậm chí ở mỗi nhóm liên quan có sử dụng
Theo quan điểm của chủ nghĩa Mác - Lênin, và xuất phát từ nguyên tắc bình đẳng dân tộc, thì khái niệm “dân tộc thiểu số” không mang ý nghĩa phân biệt địa vị, trình độ phát triển của các dân tộc Địa vị, trình độ phát triển của các
Trang 25dân tộc không phụ thuộc ở số dân nhiều hay ít, mà nó được chi phối bởi những điều kiện kinh tế, chính trị, xã hội, văn hóa và lịch sử của mỗi dân tộc
Khác với châu Âu, đa số các quốc gia châu Á có nhiều dân tộc chung sống và các dân tộc chiếm số ít so với nhóm dân tộc chính thường được coi là
“Dân tộc thiểu số”, chẳng hạn ở Trung Quốc, có 56 dân tộc, trong đó dân tộc Hán có dân số đông nhất, 55 dân tộc có dân số ít gọi là DTTS Ở Việt Nam, có
54 dân tộc, trong các văn bản pháp luật, trong xã hội và ngay cả cộng đồng các dân tộc cũng thừa nhận định nghĩa về DTTS nêu trên Dân tộc Kinh có dân số nhiều nhất là dân tộc đa số, còn lại 53 dân tộc có dân số ít được gọi là DTTS (ví dụ: Dân tộc Tày, Nùng, Mông, Dao, Jrai, Khmer, Chăm, ) đều có những đặc trưng cơ bản mang đậm tính dân tộc như: ngôn ngữ, văn hóa, truyền thống, phong tục tập quán
Theo Nghị định 05/2011/NĐ-CP về công tác dân tộc: “dân tộc thiểu số” được hiểu là những dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam Còn “Dân tộc đa số” là dân tộc có số dân chiếm trên 50% tổng dân số của cả nước, theo điều tra dân số quốc gia “Vùng dân tộc thiểu số” là địa bàn có đông các DTTS cùng sinh sống ổn định thành cộng đồng trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam
Từ cách dẫn giải trên, trong phạm vi luận án này được hiểu: DTTS là dân tộc có số dân ít hơn so với dân tộc đa số trên phạm vi lãnh thổ nước Việt Nam
và không mang ý nghĩa chỉ khái niệm dân tộc trong “Quốc gia dân tộc” (ví dụ: Nước Việt Nam là một; Dân tộc Việt Nam là một,…) Đồng thời cũng cần phân biệt khái niệm DTTS với khái niệm chủng tộc, bởi vì chủng tộc là những nhóm người hình thành trong lịch sử trên một lãnh thổ nhất định, có một số đặc điểm chung trên cơ thể mang tính di truyền (ví dụ: chủng tộc da Trắng, da Vàng, da Đen)
1.2.2 Đặc điểm đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số
Ngoài một số đặc điểm chung như GVTH, GVTH người DTTS bản địa có những đặc điểm khác biệt, đó là:
Trang 261.2.2.1 Đặc điểm về tính tộc người và vùng miền
(1) Tính dân tộc: do ảnh hưởng của khu trú/vùng miền nên mỗi dân tộc
thể hiện ở yếu tố: ngôn ngữ; đặc trưng văn hóa sinh hoạt chung; và ý thức tự
giác dân tộc Ngôn ngữ là dấu hiệu quan trọng đầu tiên, vừa là phương tiện giao
tiếp giữa những người đồng tộc, vừa là vách ngăn với các dân tộc khác Văn hóa dân tộc được biểu hiện ở vô vàn các lĩnh vực văn hóa vật chất và văn hóa tinh thần, như loại hình nhà cửa, đồ dùng trong gia đình, y phục, trang sức, ăn uống, tập quán, nghi lễ, nghệ thuật dân gian, tôn giáo… Ý thức tự giác dân tộc thể hiện
ở tên tự gọi (Tày, Nùng, Mông, Dao,…) và quan niệm về nguồn gốc lịch sử dân tộc Cả ba yếu tố trên được bồi đắp, biến đổi cùng với tiến trình phát triển của xã hội dân tộc, gắn với biến đổi của phương thức sản xuất, sinh hoạt và đời sống tinh thần [42]
GV người DTTS là tri thức người DTTS, trong họ vừa có tính dân tộc, vừa có tính quốc gia dân tộc (ngôn ngữ quốc gia, văn hóa quốc gia và ý thức quốc gia dân tộc) Do đó, mỗi GV người DTTS nói chung GVTH người DTTS nói riêng đều mang trong mình về mặt ngôn ngữ là một cá thể song/đa ngữ (từ 2-3 ngôn ngữ trở lên: Tiếng mẹ đẻ (tiếng DT của bản thân GV) + tiếng DT khác + tiếng Việt (ngôn ngữ Quốc gia); và cũng mang trong mình đa văn hóa (văn hóa DT của bản thân GV + văn hóa DT khác + văn hóa Quốc gia) Vì vậy, môi trường giáo dục cũng là môi trường đa văn hóa: dù là GVTH người DTTS bản địa thì dạy học trong môi trường lớp học/trường học cũng vẫn là môi trường đa văn hóa GV là người DTTS thì cũng chỉ thuộc về một thành phần DTTS có trong lớp học Đó là chưa kể đến GV là người DTTS nhưng lớp của GV dạy lại không có thành phần cộng đồng DTTS đó mà lại là những cộng đồng DTTS khác
Với đặc điểm đa ngôn ngữ, đa văn hóa và môi trường giáo dục đa văn hóa là những thuận lợi trong việc giúp HS DTTS gỡ bỏ được rào cản ngôn ngữ, tạo tiền đề để các em học tốt TV và các môn học của các cấp học Từ đó, HS hiểu bài, thích học, tự tin hơn trong học tập dẫn tới kết quả học tập tốt hơn, nhờ
đó làm gia tăng tiềm năng học tập của các em Đây là một mục tiêu của đổi mới GD&ĐT cho tất cả HS DTTS; Góp phần bảo tồn và phát triển văn hóa dân tộc được thể hiện không chỉ phản ánh văn hoá Việt Nam, văn hoá nhân loại,
Trang 27mà còn phản ánh, giới thiệu rõ nét hơn những nét đẹp của văn hoá dân tộc (văn hoá cộng đồng tộc người), những đặc trưng của phong tục tập quán, văn hoá
ẩm thực, kiến trúc, được tôn vinh, ghi lại Từ đó, khắc sâu cho HS DTTS tình yêu quê hương, đất nước; Thúc đẩy bình đẳng giới và công bằng trong giáo dục cho trẻ em DTTS trong môi trường đa văn hóa
Từ những đặc điểm trên, khi thực hiện nhiệm vụ dạy học, GV cần giúp
HS người DTTS biết khai thác thế mạnh của tính dân tộc để từng bước hình thành cho các em tính quốc gia dân tộc Từ đó giáo dục các em trở thành những công dân tốt, đồng thời bảo tồn và phát huy được tính dân tộc trong mỗi HS DTTS, nhằm mục tiêu giúp các em trở thành những công dân toàn cầu
(2) Tính vùng miền: Đặc điểm sinh sống ở những vùng, miền khác nhau,
thuộc những dân tộc khác nhau, trở thành GVTH theo những phương thức khác nhau thì đội ngũ GVTH người DTTS đều có những điểm tương đồng và khác biệt về kiến thức, năng lực cá nhân Sự giống và khác nhau này ảnh hưởng đến việc phát triển năng lực nghề nghiệp của họ cả về mặt tích cực và những hạn chế được tập trung ở các chuẩn nghề nghiệp/ năng lực, thể hiện:
- Năng lực tiếp nhận kiến thức: Ngay từ nhỏ, giáo dục gia đình và cộng đồng của các dân tộc là phương pháp giáo dục trực tiếp - làm mẫu Các kĩ năng sống, kĩ thuật lao động sản xuất được truyền từ thế hệ trước cho thế hệ sau đều được truyền đạt, hướng dẫn trực tiếp theo cách làm mẫu và làm theo Với phương pháp này, những trẻ em gái dân tộc Mông ngay từ nhỏ đã biết trồng lanh, xe sợi lanh, dệt thổ cẩm và may váy áo, sự trưởng thành của các em được ghi nhận bằng khả năng may được áo váy cho mình Trẻ em nam DTTS vào rừng biết cách đánh đấu dường đi; biết là cây nào độc, biết loại quả nào ăn được; nhìn dấu chân biết loại thú nào, to hay nhỏ,… Với cách giáo dục này, trẻ em DTTS có năng lực tư duy trực tiếp, và như vậy trong dạy học GV cần rèn luyện khả năng tư duy trừu tượng cho HS DTTS, đây là đặc điểm cần quan tâm trong dạy học ở vùng DTTS Là người DTTS nên GV người DTTS có những đặc trưng cơ bản này trong tiếp nhận tri thức
- Năng lực rèn luyện kĩ năng: Giáo dục gia đình và cộng đồng của các dân tộc được thực hiện khá sớm (từ khi còn nhỏ) và lặp đi lặp lại nhiều lần để giúp cho trẻ em DTTS sớm có những kĩ năng nhất định trong cuộc sống và trong lao
Trang 28động sản xuất Trẻ em nữ DTTS sớm thuần thục các công việc gia đình như một người lớn; trẻ em nam sớm thành thạo những công việc của người đàn ông, đặc biệt là những dân tộc mà chế độ mẫu hệ vẫn tồn tại Đặc trưng này đòi hỏi trong giáo dục trẻ em DTTS muốn rèn luyện kĩ năng cho các em cần phải thực hiện chậm và lặp nhiều lần GVTH người DTTS cũng có những đặc điểm này và cần lưu ý vấn đề này khi đào tạo, bồi dưỡng GV về kĩ năng sư phạm
- Năng lực giao tiếp xã hội: Sự khép kín trong cộng đồng dân tộc và bản sắc văn hóa mỗi dân tộc đã hạn chế năng lực giao tiếp xã hội Ngại tiếp xúc, ngại bộc lộ mình, luôn kín đáo, thăm dò trước khi tiếp xúc là những biểu hiện của HS DTTS Trong giáo dục cần tạo cơ hội, tạo điều kiện để động viên các em tham gia các hoạt động tập thể Thực tế, ở các trường PTDTBT HS người DTTS rất mạnh dạn và tự tin khi tham gia các hoạt động tập thể vì các em được rèn luyện trong môi trường tập thể đa sắc tộc Để phát triển đội ngũ GVTH người DTTS cần lưu ý những đặc điểm này
1.2.2.2 Đặc điểm phát triển nghề nghiệp
(1) Những đặc điểm liên quan đến số lượng GVTH người DTTS: Sự hình
thành và phát triển đội ngũ GV người DTTS chịu ảnh hưởng của những điều kiện tự nhiên, kinh tế, văn hóa, xã hội ở vùng dân tộc thiểu số Vào những năm cuối của thế kỉ XX, ở các tỉnh miền núi do KT-XH và giáo dục chậm phát triển,
số lượng GV người DTTS chiếm tỉ lệ rất nhỏ, phần lớn đội ngũ GV ở các tỉnh miền núi phía Bắc đều được điều động từ miền xuôi lên công tác (sau 5 năm công tác, những GV này được chuyển vùng về xuôi) Trong những năm gần đây,
do giáo GDPT ở miền núi khá phát triển nhờ những chính sách ưu tiên của nhà nước (chính sách cử tuyển, chính sách đào tạo theo địa chỉ, ) số lượng GV người DTTS tăng nhanh, nhất là đội ngũ GV tiểu học (do đào tạo tại tỉnh), tập trung ở những dân tộc chiếm số đông như: ở tỉnh Hòa Bình tập trung chủ yếu là GVTH người DT Mường, tỉnh Lào Cai và Yên Bái tập trung chủ yếu là GVTH người DTTS Mông và Tày, tỉnh Sơn La, Lai Châu và Điện Biên chủ yếu GV là
DT Thái Tuy nhiên, số lượng GV này, tập trung chủ yếu ở những khu vực II (khó khăn), khu vực III (đặc biệt khó khăn) thuộc các tỉnh vùng Tây Bắc nên lại được coi là dân tộc chiếm đa số còn số lượng GV người Kinh là dân tộc chiếm
Trang 29thiểu số Điều này cho thấy, với từng vùng, tiểu vùng thì số lượng GVTH người DTTS được coi là đa số nhưng so với tổng số GVTH toàn vùng và số GVTH toàn quốc là dân tộc thiểu số Mặt khác, so với HS người DTTS thì số lượng GVTH người DTTS vùng Tây Bắc chưa tương xứng [79]
(2) Những đặc điểm liên quan đến chất lượng GVTH người DTTS: GVTH
người DTTS là trí thức DTTS có hiểu biết sâu sắc về truyền thống, phong tục tập quán, bản sắc văn hóa DTTS Hiện tại, về cơ bản GVTH người DTTS đạt chuẩn đào tạo theo cấp học, cho nên có thể khẳng định họ là đội ngũ trí thức người DTTS Là người DTTS có kiến thức nên họ có hiểu biết về phong tục tập quán, truyền thống, văn hóa không chỉ của dân tộc mình và của các dân tộc khác trong cộng đồng các dân tộc Việt Nam (đa văn hóa) Sự hiểu biết này, giúp ích cho họ rất nhiều trong công tác và trong dạy học Tuy nhiên, trình độ đào tạo ban đầu của GVTH người DTTS với phương thức tuyển sinh sư phạm là rất khác nhau như: (i) Một số em trúng tuyển, có điểm thi đủ điểm chuẩn của trường (không cần cộng điểm ưu tiên DTTS và khu vực); (ii) Một số em trúng tuyển, có điểm thi cộng điểm ưu tiên DTTS và khu vực (3,5 điểm) đủ điểm chuẩn của trường; (iii) Một số HS được tuyển vào học trường sư phạm theo hệ
cử tuyển (thường là những em đã thi tuyển sinh song không đủ điểm chuẩn vào
ĐH, CĐ kể cả đã cộng điểm ưu tiên); (iv) Một số HS được tuyển sinh vào học trường ĐH, CĐ sư phạm theo hệ dự bị đại học dân tộc chọn cử vào các trường SP; (v) Một số HS thuộc nhóm DTTS rất ít người được tuyển thẳng vào học trường ĐH, CĐ sư phạm (với 9 dân tộc rất ít người gọi là nhóm dân tộc Rin theo
QĐ 2123/QĐ-TTg)
Một vấn đề cần nữa đó là giáo dục dân tộc ở Việt Nam những năm 80, 90 của thế kỷ trước, để đáp ứng mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ trên toàn quốc, ở vùng dân tộc thiểu số đã xuất hiện nhiều hình thức đào tạo cấp
tốc, cắm bản như các hệ đào tạo 5+3; 9+3 tháng; 12+6 tháng, Tuy nhiên, cũng cần nói thêm ở đây đó là ta không nên đánh giá năng lực một người chỉ căn cứ
thuần tuý vào trình độ đào tạo ban đầu của họ Trong thực tế, do khả năng tự học, do ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn nghiệp vụ, nhiều GV từ xuất phát ban đầu thấp đã vươn lên trình độ cao, trở thành những người dạy giỏi, những nhà khoa học, nhà giáo dục giỏi Song, cả một đội ngũ lớn đến
Trang 3012.860/30.945 là GV người DTTS vùng Tây Bắc (theo Thống kê GD&ĐT, Vụ
Kế hoạch Tài chính- Bộ Giáo dục và Đào tạo năm học 2013-2014) mà trình độ
đào tạo ban đầu lại thấp thì rõ ràng là một khó khăn cho việc hoàn thành sứ mệnh giáo dục thế hệ trẻ ở vùng DTTS
Hơn nữa, đội ngũ GVTH người DTTS ở vùng/tiểu vùng và ngay cả trong một địa phương (rộng là trong một tỉnh, hẹp là ngay trong một trường) có sự không đồng đều về năng lực nghề nghiệp Các GV được đào tạo ở nhiều trình độ khác nhau, năng lực nghề nghiệp của họ cũng là khác nhau
Đặc điểm này càng bộc lộ rõ khi giáo dục TH hoàn thành phổ cập, bước sang giai đoạn nâng cao chất lượng Để có mặt bằng chất lượng giáo dục TH ở vùng dân tộc thiểu số ngang bằng với các vùng miền trong cả nước thì rõ ràng là cần coi trọng chiến lược nâng cao chất lượng đội ngũ GVTH Sau khi hoàn thành mục tiêu phổ cập giáo dục tiểu học, xóa mù chữ trên toàn quốc, nhiệm vụ bồi dưỡng đội ngũ, yêu cầu chuẩn hóa được ngành giáo dục quan tâm rất nhiều Tuy nhiên vẫn thật khó để đạt được sự tương ứng giữa chuẩn trình độ đào tạo và chuẩn nghề nghiệp
Mặt khác, Tây Bắc là một tiểu vùng khó khăn nhất cả nước với địa hình hiểm trở, với khí hậu khắc nghiệt, với những thiên tai khôn lường,… Dân cư thưa thớt khiến các lớp học điểm lẻ quá sâu, quá xa so với điểm trường chính Các GVTH người DTTS bản địa thường đảm trách những lớp học điểm lẻ này,
và điều này cũng làm hạn chế đến việc học hỏi nâng cao năng lực nghề nghiệp của họ
Như vậy, có thể thấy, chính sách ưu tiên của Đảng và Nhà nước tạo cơ hội
và điều kiện để phát triển GV người DTTS, song sự chênh lệch về kiến thức và năng lực đầu vào (đào tạo) và đầu ra (sau đào tạo trở thành GV) của GV là rất khác nhau; trình độ đào tạo ban đầu của GV cũng là khác nhau, điều kiện môi trường giáo dục khác nhau sẽ là những thách thức đối với chất lượng GV Do
đó, là những hệ lụy liên quan đến chuẩn đào tạo nhưng mẫu thuẫn với thực lực của chuẩn nghề nghiệp GVTH
(3) Đặc điểm liên quan đến cơ cấu: Tỉ lệ GV người DTTS không cân đối
theo dân tộc và theo cấp học Dân số của các dân tộc khác nhau; truyền thống, phong tục tập quán, văn hóa của các dân tộc khác nhau; trình độ phát triển của
Trang 31các dân tộc khác nhau, cho nên tỉ lệ GV của các dân tộc cũng khác nhau Các dân tộc có dân số đông (DT Mường, Tày, Thái) tỉ lệ GV người DTTS cao Tuy nhiên, một số dân tộc có dân số đông nhưng tỉ lệ GV người DTTS thấp Ví dụ: dân tộc Mông có dân số hơn 1 triệu, song tỉ lệ GV người Mông ít hơn so với tỉ lệ
GV người Tày, nguyên nhân chủ yếu do phong tục tập quán của người Mông có phong tục lấy vợ, lấy chồng sớm nên các em học hết TH, hoặc THCS ở nhà lấy
vợ, lấy chồng Do đó, có sự mẫu thuẫn giữa những trường/lớp học, với vùng/tiểu vùng với HS là người DTTS này nhưng GV dạy lại là người DT khác Ví dụ: HS người DT Mông nhưng GV dạy là người DT Tày Điều này cho thấy, sự chưa phù hợp với cơ cấu về DT ngay chính trong lớp/trường học sẽ là những khó khăn đối với chất lượng giáo dục ở vùng DTTS
1.2.3 Vai trò của đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số
1.2.3.1 Vai trò của giáo viên tiểu học nói chung
GVTH là bộ phận được hình thành sớm nhất trong đội ngũ GV nước ta Đây là bộ phận GV xuất hiện ngay từ giai đoạn sơ khai của nền giáo dục nước nhà Ở giai đoạn nào, GVTH cũng là bộ phận đông đảo nhất, gắn bó mật thiết với nhân dân Trong tâm trí mọi lứa tuổi trong cộng đồng dân cư, hình ảnh người thầy để lại dấu ấn sâu đậm thường là hình ảnh người khai trí con đường học vấn của họ: người GVTH Do đó, GVTH có vai trò:
(1) Là nhân tố quan trọng trong việc xây dựng cấp Tiểu học trở thành cấp học nền tảng của hệ thống giáo dục quốc dân, tạo điều kiện cơ bản để nâng cao dân trí và trang bị những cơ sở ban đầu hết sức trọng yếu để phát triển toàn diện nhân cách con người Việt Nam tương lai
(2) Là người giữ vai trò chủ yếu trong việc thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học Do thực hiện phổ cập giáo dục tiểu học, người GVTH trở thành người sâu sát, gần gũi nhất với mọi người và là người thầy đầu tiên đối với mỗi công dân tương lai - dù sau này người ấy giữ trọng trách gì
(3) Học sinh tiểu học tiềm ẩn nhiều khả năng phát triển song do chưa có kinh nghiệm về cuộc sống nên các em tiếp thu không chọn lọc (cả cái tốt lẫn cái xấu trong xã hội) GVTH là người có uy tín, là “thần tượng” đối với tuổi nhỏ Lời thầy là sự thuyết phục, cử chỉ của thầy là mẫu mực, cuộc sống và lao động
Trang 32của thầy là tấm gương đối với các em GVTH giữ vai trò quyết định sự phát triển đúng hướng của các em Ấn tượng về người thầy tiểu học giữ mãi trong kí
ức của mỗi người
(4) Giáo dục tiểu học là cấp học nền tảng trong hệ thống giáo dục quốc dân, là bậc học đào tạo những cơ sở ban đầu cơ bản và bền vững cho trẻ tiếp tục học lên bậc học trên [54] Là nhà giáo dục, “giáo viên giữ vai trò quyết định” trong việc định hướng cho hoạt động giáo dục, đảm bảo chất lượng cho mọi hoạt động dạy học và giáo dục, xét cho cùng “không có hệ thống giáo dục nào có thể vươn cao quá tầm những GV phục vụ cho nó” (Paja Roy Singh-1991) Trong trường Tiểu học hiện đại, mọi trí thức hiện đại đem đến cho trẻ em không phải là
sự dồn ép, cũng không phải là sự truyền thụ những kinh nghiệm đơn thuần mà là
sự lựa chọn để cung cấp cho trẻ em những cái mới kết hợp với tri thức truyền thống quí báu, sao cho trẻ em không chỉ được thỏa mãn những nhu cầu trong cuộc sống hàng ngày mà còn được thỏa mãn nhu cầu học tập nâng cao hiểu biết được mọi mặt về cuộc sống hiện tại và tương lai Muốn được vậy, người GVTH phải trở thành nhà tổ chức, hướng dẫn làm sao để học sinh Tiểu học ham thích hoạt động, ham muốn vươn lên Nghĩa là thầy có vai trò chủ đạo, tổ chức cho
HS hoạt động
(5) Một đặc điểm khác của GVTH là làm cho vai trò của GV tăng lên cao hơn là vì GVTH không phải là GV bộ môn trung học cơ sở hay các bậc học, cấp
học cao hơn mà phải phù hợp với đặc điểm tâm lí, sinh lí HS, và mỗi lớp tiểu
học chủ yếu có một GV làm chức năng “tổng thể” tương ứng với cả một ê kíp
GV bậc học khác Nghĩa là GVTH phải làm việc với tất cả HS, phải thấu hiểu từng HS của mình một cách tường tận đòi hỏi phải có sự cố gắng vượt bậc Bởi mỗi HS có các đặc điểm tâm lí, sinh lí riêng Điều đó đòi hỏi GV trong thời đại ngày nay không chỉ dạy cái mình thích mà phải dạy cái HS cần và thời đại yêu cầu, xã hội đòi hỏi Để thực hiện tốt việc cá thể hóa HS trong nhiệm vụ đào tạo hàng loạt nhân cách công dân GVTH ngày nay phải học tập liên tục, thường xuyên chứ không phải chỉ học một lần như ngày xưa là hành nghề được
Do đặc điểm lao động sư phạm ở cấp TH như vậy, nghề dạy học TH là nghề quan trọng và thầy giáo TH cũng là nhân tố quyết định đối với sự phát
Trang 33triển và về chất lượng giáo dục của mỗi lớp TH, của từng HS tiểu học Vì vậy, GVTH có vai trò hết sức quan trọng đối với giáo dục
1.2.3.2 Vai trò của GVTH người dân tộc thiểu số trong phát triển giáo dục ở vùng DTTS
Ngoài những vai trò như GVTH nói chung, và với những đặc điểm phân tích ở mục 1.2.2 có thể nói đội ngũ GVTH người DTTS còn có vai trò hết sức quan trọng trong phát triển giáo dục ở vùng dân tộc thiểu số góp phần hoàn thành phổ cập giáo dục tiểu học và đảm bảo công bằng trong giáo dục cho trẻ
em DTTS:
(1) GVTH người DTTS là lực lượng thực hiện nội dung, chương trình giáo dục TH như GVTH nói chung [54], nhưng điểm khác đó là sự phù hợp ở vùng DTTS: Năng lực của GVTH người DTTS chịu ảnh hưởng của những yếu
tố văn hóa, xã hội như bản sắc văn hóa, phong tục, tập quán của dân tộc Những dân tộc có dân số đông, sống đan xem với người Kinh ở những vùng có điều kiện KT-XH phát triển hơn sẽ ảnh hưởng đến năng lực của giáo viên Điều này
có thể lí giải tại sao ở vùng dân tộc Mường, Tày, Thái, chất lượng giáo dục cao hơn ở vùng dân tộc Mông, Dao,…
(2) GVTH người DTTS là nhân tố quan trọng trong việc nâng cao chất lượng giáo dục và đảm bảo cho giáo dục tiểu học vùng dân tộc thiểu số phát triển bền vững: Khi thực hiện nội dung, chương trình giáo dục tiểu học ở vùng dân tộc, khó khăn lớn nhất là vấn đề ngôn ngữ Rào cản ngôn ngữ là nguyên nhân chủ yếu và trực tiếp ảnh hưởng đến chất lượng giáo dục tiểu học Đồng thời rào cản ngôn ngữ còn ảnh hưởng đến năng lực giao tiếp, năng lực sáng tạo
và phát triển tư duy của HS người DTTS tiểu học Học sinh chán học, bỏ học một phần cũng xuất phát từ vấn đề bất đồng ngôn ngữ giữa GV và HS không cùng một dân tộc (ngôn ngữ TMĐ (Tiếng dân tộc) và Tiếng Việt
HS là người DTTS ở nhà và trong sinh hoạt cộng đồng ngôn ngữ mà các
em sử dụng là Tiếng dân tộc (tiếng mẹ đẻ), khi đến trường các em giao tiếp với thầy cô và tiếp thu kiến thức bằng Tiếng Việt (được gọi là ngôn ngữ thứ hai)
GV là người dân tộc sẽ giúp cho các em gỡ bỏ “rào cản” ngôn ngữ trong giao tiếp và dạy - học Giữa GV và HS trong quá trình dạy - học trở nên dễ dàng và
Trang 34gần gũi hơn, khoảng cách giữa giáo dục và HS dần được thu hẹp HS được tiếp cận kiến thức bằng cả Tiếng Việt và Tiếng Dân tộc
Trong dạy học những nội dung kiến thức HS không hiểu do hạn chế về tiếng Việt, GV có thể dùng tiếng dân tộc để giải thích cho các em; và ngược lại khi hiểu được nội dung nhờ tiếng dân tộc sẽ tăng cường khả năng tiếng Việt cho
HS Đặc biệt là những lớp đầu cấp tiểu học Vai trò của GV người DTTS hết sức quan trọng, giúp HS tiếp thu được kiến thức; HS đi học chuyên cần hơn, tự tin hơn và đặc biệt thích đến trường, đến lớp Điều này có được vì GV có cùng ngôn ngữ nói được tiếng nói của các em và hiểu được các em muốn gì
(3) GVTH người DTTS là người biết lựa chọn và thực hiện các phương pháp giáo dục đặc thù đối với HS người DTTS: Quan điểm chung với giáo dục vùng dân tộc là thực hiện nội dung chương trình chung quốc gia, và lựa chọn những phương pháp giáo dục đặc thù phù hợp với vùng dân tộc Tính đặc thù của giáo dục vùng dân tộc được thể hiện ở đặc điểm vùng miền và đặc điểm dân tộc Là người DTTS, sinh ra và lớn lên trong môi trường đa văn hóa mang đậm bản sắc dân tộc GVTH người DTTS hiểu biết về truyền thống, phong tục tập quán của dân tộc; đồng thời là người đã trải nghiệm trong quá trình là HS phổ thông nên họ biết rõ những mặt tích cực cũng như hạn chế trong quá trình tiếp thu kiến thức Vì vậy, khi được trang bị kiến thức làm GV họ sẽ biết lựa chọn phương pháp giáo dục đặc thù phù hợp với đối tượng HS người DTTS
(4) GV người DTTS là lực lượng nòng cốt trong tuyên truyền, vận động cộng đồng tham gia vào các hoạt động giáo dục ở vùng dân tộc: Không đi học đều, bỏ học giữa chừng, không học tiếp lên cấp học cao hơn, là những tồn tại của giáo dục vùng dân tộc GVTH người DTTS có ưu thế quan trọng vận động
HS đến trường, động viên HS đi học đều, khuyến khích HS học lên cấp học cao hơn; vận động cộng đồng tạo điều kiện để con em đi học bởi họ hiểu phong tục tập quán, hiểu ngôn ngữ và cùng sinh sống trong cộng đồng Mặt khác, GVTH người DTTS có vai trò quan trọng trong việc tuyên truyền để làm thay đổi nhận thức trong cộng đồng về giáo dục; làm gương tốt cho HS noi theo khi các em thấy được người DTTS hoàn toàn có thể trở thành trí thức, điều này đặc biệt quan trọng đối với những dân tộc có dân số ít, chưa có cán bộ có trình độ cao đẳng, đại học
Trang 35(5) GVTH người DTTS có vai trò quan trọng trong bảo tồn, phát huy và phát triển văn hóa các DTTS: Thông qua dạy học, thông qua các hoạt động giáo dục GVTH người DTTS giúp cho HS hiểu được sâu hơn về truyền thống, phong tục, tập quán dân tộc; đồng thời giúp cho HS hiểu được sâu sắc hơn vị trí, vai trò của văn hóa dân tộc đối với sự phát triển cộng đồng; vai trò của bản sắc văn hóa dân tộc trong nền văn hóa Việt Nam
Tóm lại, GVTH người DTTS có vai trò quan trọng đối với giáo dục tiểu học vùng dân tộc, là “nội lực” để phát triển giáo dục vùng dân tộc, là nhân tố quan trọng đảm bảo cho giáo dục ở vùng dân tộc phát triển nhanh và bền vững Tuy nhiên, trong thực tiễn đội ngũ GV này còn nhiều bất cập về kiến thức cũng như năng lực sư phạm Do vậy, cần có kế hoạch phát triển đội ngũ GVTH người DTTS Trong đó, cần lưu ý các vấn đề: khi phát triển số lượng cần khắc phục tính cục bộ dân tộc; trong đào tạo GV cần lưu ý đến đặc điểm dân tộc (quan tâm
cả đào tạo chuyên môn và ngôn ngữ),…
1.3 Những yêu cầu phát triển đội ngũ giáo viên tiểu học người dân tộc thiểu số
1.3.1 Đổi mới giáo dục và đào tạo với những yêu cầu phát triển đội ngũ GVTH người dân tộc thiểu số
1.3.1.1 Những yêu cầu của đổi mới giáo dục và đào tạo
Yêu cầu đổi mới GDPT nói chung, yêu cầu đổi mới GDTH nói riêng với mục tiêu thay đổi phương pháp dạy học, từ truyền đạt kiến thức sang tổ chức hướng dẫn, định hướng phát triển năng lực của HS, dạy học tích hợp [60] Đối với giáo dục vùng dân tộc thiểu sốkhông nằm ngoài những yêu cầu này Tuy nhiên, với đặc thù của vùng dân tộc như đã trình bày ở mục 1.2.2 (phần đặc điểm) đòi hỏi phải dạy học theo định hướng phát triển năng lực của HS người DTTS trong môi trường đa văn hóa Cụ thể:
a) Yêu cầu dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS nói chung và phát triển năng lực HS người DTTS trong môi trường đa văn hóa
- Yêu cầu đổi mới của chương trình GDPT nói chung GD tiểu học nói riêng chuyển sang cách tiếp cận năng lực, nhằm phát triển phẩm chất và năng lực người học Đó là là cách tiếp cận nêu rõ HS sẽ làm được gì? và làm như thế
Trang 36nào? vào cuối mỗi giai đoạn học tập trong nhà trường Cách tiếp cận này cũng đòi hỏi HS nắm vững những kiến thức, kĩ năng cơ bản nhưng còn chú trọng yêu cầu vận dụng kiến thức, kĩ năng vào thực hành, giải quyết các tình huống trong học tập và cuộc sống; tính chất và kết quả hoạt động cũng phụ thuộc rất nhiều vào hứng thú, niềm tin, đạo đức… của người học nên chương trình cũng rất chú trọng đến mục tiêu phát triển các phẩm chất của học sinh;
- Phát triển các phẩm chất chủ yếu và các năng lực chung mà mọi HS đều cần có, đồng thời phát triển các phẩm chất và năng lực riêng của từng em;
- Tập trung vào việc dạy và học như thế nào? Sự thay đổi căn bản trong cách tiếp cận này sẽ chi phối và bắt buộc tất cả các khâu của quá trình dạy học thay đổi: nội dung, phương pháp, phương tiện, hình thức tổ chức, cách kiểm tra, đánh giá, thi cử; cách thức quản lý và thực hiện… nhằm tạo ra sự thay đổi căn bản về chất lượng giáo dục; [78]
Như vậy, với những yêu cầu đổi mới trên, trong môi trường đa văn hóa đối với HS và GV sẽ là những khó khăn, thách thức không nhỏ bởi GV, HS thuộc nhiều dân tộc khác nhau, ngôn ngữ, văn hóa khác nhau,… đòi hỏi người
GV trong quá trình dạy học cần hướng tới sự tôn trọng những đặc điểm riêng của mỗi dân tộc nhưng vẫn đảm bảo những cái cốt lõi cơ bản chung theo qui định nhằm đạt được yêu cầu của đổi mới
b) Yêu cầu dạy học tích hợp nói chung dạy học tích hợp trong môi trường
đa văn hóa
Dạy học tích hợp là định hướng dạy học giúp HS phát triển khả năng huy động tổng hợp kiến thức, kĩ năng… thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau để giải quyết có hiệu quả các vấn đề trong học tập và trong cuộc sống, được thực hiện ngay trong quá trình lĩnh hội tri thức và rèn luyện kĩ năng; phát triển được năng lực cần thiết, nhất là năng lực giải quyết vấn đề Tính tích hợp thể hiện qua sự huy động, kết hợp, liên hệ các yếu tố có liên quan với nhau của nhiều lĩnh vực
để giải quyết có hiệu quả một vấn đề và thường đạt được nhiều mục tiêu khác nhau
Ở cấp tiểu học: Xây dựng một số môn học tích hợp mới trên cơ sở phát triển các môn học tích hợp đã có như: Cuộc sống quanh ta (được phát triển từ môn Tự nhiên và Xã hội ở các lớp 1, 2, 3 trong chương trình hiện hành), Tìm
Trang 37hiểu xã hội và Tìm hiểu tự nhiên (được phát triển từ các môn Khoa học, Lịch sử
và Địa lý ở các lớp 4, 5 trong chương trình hiện hành) [78]
Như vậy, dạy học tích hợp trong môi trường đa văn hóa vừa phải đảm bảo yêu cầu chung vừa đảm bảo được sự huy động, tổng hợp ngôn ngữ, văn hóa,… trong lớp/trường đa văn hóa có liên quan với nhau để giải quyết được một vấn
đề và đạt được nhiều mục tiêu và đặc thù riêng khác nhau
Ngoài ra, các yêu cầu về môn học còn có hoạt động trải nghiệm sáng tạo; các yêu cầu được qui định trong quyết định 404/QĐ-TTg: “Biên soạn, thử nghiệm một bộ sách giáo khoa (do Bộ GD&ĐT tổ chức thực hiện), trong đó có sách giáo khoa song ngữ (Tiếng Việt - Tiếng một số dân tộc ít người) đối với một số môn học ở cấp Tiểu học; biên soạn và thử nghiệm sách giáo khoa điện tử.”[71] Như vậy, sẽ phải cần một đội ngũ GVTH nói chung GVTH người DTTS nói riêng đáp ứng được những năng lực để thực hiện một trong ba bộ sách giáo khoa nói trên Đối với vùng dân tộc thiểu sốviệc thực hiện bộ sách giáo khoa Song ngữ (Tiếng Việt- Tiếng dân tộc) sẽ là những thách thức đối với những GV chưa biết tiếng dân tộc
c) Yêu cầu của đổi mới đối với giáo viên
Chương trình GDPT mới đòi hỏi GV đổi mới PPDH theo hướng tích hợp, phát huy tính chủ động, sáng tạo, rèn luyện phương pháp học, đổi mới kiểm tra đánh giá theo yêu cầu vì sự tiến bộ và phát triển năng lực HS Khi nhà trường được tự chủ về thực hiện chương trình thì GV có cơ hội và cần phải linh hoạt, sáng tạo, tự chủ, tự chịu trách nhiệm về bảo đảm chất lượng theo yêu cầu cần đạt
về kiến thức, kỹ năng, phẩm chất và năng lực cho HS
Hoạt động trải nghiệm sáng tạo được quy định trong chương trình là điều kiện thuận lợi để GV thực hiện phát triển năng lực, hình thành kỹ năng mềm thông qua nhiều hoạt động đa dạng Tuy nhiên, hoạt động đó cũng đòi hỏi GV phải có năng lực sáng tạo trong việc tổ chức, hướng dẫn và đánh giá các hoạt động đó
Thực hiện một chương trình, nhiều SGK là cơ hội để GV chủ động, linh hoạt lựa chọn nguồn tài liệu đa dạng, phong phú phù hợp với đặc điểm HS, điều kiện nhà trường nhưng cũng yêu cầu GV phải có năng lực phát triển chương trình phù hợp, phát huy được ưu điểm của nguồn tư liệu phong phú [79]
Trang 38Với yêu cầu trên, đòi hỏi GV nói chung GVTH người DTTS nói riêng cần
có những năng lực để thực hiện yêu cầu của đổi mới Ngoài ra, đối với GVTH người DTTS còn đảm nhận thêm một vai trò đổi mới phương pháp dạy học trong môi trường đa văn hóa Có thể thấy hiện nay, phần lớn GV người DTTS đang dạy học theo phương pháp chủ yếu truyền thụ kiến thức lý thuyết một chiều cho HS người DTTS dẫn đến hoạt động của HS người DTTS là ghi nhớ kiến thức rời rạc, có sẵn, không được vận dụng kiến thức vào giải quyết các vấn
đề trong học tập và trong cuộc sống Mặt khác, với môi trường dạy học đa văn hóa việc truyền tải kiến thức cho HS người DTTS sẽ là khó khăn do vấn đề ngôn ngữ (nhiều dân tộc khác nhau trong lớp học) chưa thể nói đến việc vận dụng kiến thức trong cuộc sống nếu GV người DTTS không nắm được đặc điểm này
Do đó, yêu cầu đổi mới của GVTH người DTTS đó là dạy học tích hợp, dạy học theo định hướng phát triển năng lực của HS người DTTS trong môi trường đa văn hóa sẽ là những cơ hội đồng thời là những thách thức đối với GVTH người DTTS
1.3.1.2 Những yêu cầu cần phát triển đội ngũ giáo viên người dân tộc thiểu số
Quyết định 449/QĐ-TTg về phê duyệt chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 với mục tiêu: “nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ là người dân tộc thiểu số”[74]; Để thực hiện mục tiêu này quyết định 2356/QĐ-TTg ban hành chương trình hành động thực hiện chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020 đề
ra các nhiệm vụ trong đó nhiệm vụ ưu tiên số 1 là phát triển giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực các dân tộc thiểu số với yêu cầu mở rộng dạy và học ngôn ngữ dân tộc thiểu số; tăng cường số lượng, chất lượng đội ngũ
GV là người dân tộc thiểu số [75] Như vậy, trong chiến lược công tác dân tộc cũng đã nêu rõ tầm quan trọng của việc phát triển đội ngũ GV là người DTTS
Cùng với Chiến lược công tác dân tộc đến năm 2020, trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo đã đặt ra những thách thức lớn đối với đội ngũ GVTH nói chung, GVTH người DTTS nói riêng, những người trực tiếp thực hiện nhiệm vụ dạy học Tuy nhiên, một bộ phận GV hiện nay có tâm lí ngại đổi mới, việc thực hiện thay đổi phương pháp giảng dạy đối với họ là tương đối khó,
Trang 39thậm chí có nhiều yếu tố chuyên môn khiến họ có thể phản đối lại sự điều chỉnh
về sách giáo khoa, tài liệu dạy học Do vậy, để đáp ứng yêu cầu của đổi mới giáo dục phổ thông nói chung, giáo dục tiểu học nói riêng trong bối cảnh hiện nay, cần phải nâng cao nhận thức, tăng cường năng lực của đội ngũ GV; tích cực phát triển đội ngũ về năng lực (kiến thức, kĩ năng, thái độ) và phẩm chất trong môi trường dạy học khác biệt (môi trường đa văn hóa) Đây là thách thức lớn mà các địa phương, các cấp quản lí cần phải có những kế hoạch cụ thể, cần vượt qua trong quá trình thực hiện mục tiêu của công cuộc đổi mới Nội dung này, sẽ là
cơ sở để đề xuất những nội dung của giải pháp được luận giải trong chương 3
1.3.1.3 Đổi mới giáo dục và đào tạo với những yêu cầu phát triển đội ngũ GVTH người dân tộc thiểu số
a) Nâng chuẩn trình độ đào tạo của GV: Nghị quyết 29-NQ/TW nêu rõ:
“Thực hiện chuẩn hóa đội ngũ nhà giáo theo từng cấp học và trình độ đào tạo Tiến tới tất cả các giáo viên tiểu học, trung học cơ sở, giáo viên, giảng viên các
cơ sở giáo dục nghề nghiệp phải có trình độ từ đại học trở lên, có năng lực sư phạm” Chính vì thế, trong công tác đào tạo, bồi dưỡng GV nói chung GVTH người DTTS nói riêng cần hướng đến việc đào tạo, bồi dưỡng nâng chuẩn trình
độ Việc nâng chuẩn cần phải gắn với công tác qui hoạch về phát triển đội ngũ
và sự phối hợp đồng bộ giữa các cơ sở đào tạo (trường, khoa sư phạm) và các đơn vị sử dụng GV (trường tiểu học, trường PTDTBT tiểu học) Trên cơ sở phối hợp với ngành GD&ĐT tại địa phương, trường phải dự báo được nhu cầu bổ sung GV đảm phù hợp với số HS có tỉ lệ DT chiếm số đông
b) Nâng cao năng lực nghề nghiệp đội ngũ GVTH người DTTS: Trước
yêu cầu đổi mới giáo dục, năng lực nghề nghiệp của GVTH nói chung và GVTH người DTTS nói riêng phải đáp ứng được:
- Về phẩm chất và nhân cách đối với người GV người DTTS: Trước hết
người GV phải ý thức sâu sắc mình là nhà giáo dục, giáo dục trẻ em bằng chính
nhân cách của mình Do đó, người GV phải có phẩm chất chính trị tốt, thực hiện nghiêm chỉnh nghĩa vụ công dân và có phẩm chất đạo đức, lối sống lành mạnh làm tấm gương cho HS noi theo
Trang 40Ngoài ra, đối với GVTH người DTTS phải là những người thực sự tâm huyết không quản ngại khó khăn, gian khổ ở vùng dân tộc thiểu sốvới nghề dạy học, bám trường, bám lớp, phải hiểu và tôn trọng nhân cách của trẻ, biết hợp tác
và vận động trẻ trong quá trình giáo dục; không ngừng tự hoàn thiện mình về phẩm chất, năng lực chuyên môn, nghiệp vụ và có ý thức học tập suốt đời; nhiệt tình chủ động tham gia thực hiện đổi mới giáo dục, tích cực tuyên truyền, vận động đường lối chính đổi mới giáo dục của Đảng và Nhà nước trong cộng đồng các DTTS tại địa phương
- Về kiến thức: GVTH người DTTS phải đảm bảo các yêu cầu thuộc lĩnh
vực kiến thức đã được qui định trong chuẩn nghề nghiệp GVTH; nắm vững chương trình, sách giáo khoa tiểu học, có khả năng đáp ứng những đổi mới của chương trình, SGK giáo dục phổ thông vào năm học 2018 trong môi trường đa văn hóa: về dạy học tích hợp và phát triển theo năng lực của học sinh; kiến thức
về tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo Sử dụng thông thạo 4 kĩ năng (nghe - nói- đọc- viết) Tiếng Việt, Tiếng dân tộc; hiểu biết thực tiễn địa phương về tình hình kinh tế, văn hóa, xã hội, đời sống, phong tục tập quán để phản ánh vào nội dung giáo dục và hòa nhập với cộng đồng;
- Về kĩ năng sư phạm: Ngoài những yêu cầu về kĩ năng sư phạm được qui
định trong chuẩn nghề nghiệp GVTH, trước yêu cầu đổi mới đòi hỏi GVTH người DTTS cần được cập nhật về khả năng dạy chuyên một số môn học hoặc khả năng dạy chuyên một môn học, dạy tích hợp, dạy lớp ghép (lớp đặc thù); Biết sử dụng thành thạo một số phương tiện dạy học hiện đại (sử dụng công nghệ thông tin) Hiểu biết và thực hiện tốt các yêu cầu về phương pháp dạy học theo định hướng phát triển năng lực HS người DTTS, đổi mới soạn bài, lên lớp, đánh giá HS theo tinh thần đổi mới; đáp ứng dạy học 2 buổi/ngày đối với một số nơi chưa thực hiện; kĩ năng quản lí lớp học có HS ở bán trú, lớp ghép và tổ chức hoạt động trải nghiệm sáng tạo,…
1.3.2 Yêu cầu của chuẩn nghề nghiệp GVTH người dân tộc thiểu số trong bối cảnh đổi mới giáo dục và đào tạo
1.3.2.1 Khái niệm chuẩn, chuẩn nghề nghiệp