Lịch sử hợp đồng lao động: Trong lịch sử, vì ra đời tương đối muộn so với các ngành luật khác, nên các vấn đề pháp lí về luật lao động được điều chỉnh bằng các quy định của luật dân sự.
Trang 1I Đặt vấn đề:
Hợp đồng lao động là một trong những vấn đề được quan tâm trong Luật Lao động Việt Nam Sau đây là những phân tích về khái niệm và phạm vi áp dụng của hợp đồng lao đồng nhằm làm rõ hơn vấn đề này
II Nội dung:
1 Khái niệm hợp đồng lao động:
a Lịch sử hợp đồng lao động:
Trong lịch sử, vì ra đời tương đối muộn so với các ngành luật khác, nên các vấn đề pháp lí về luật lao động được điều chỉnh bằng các quy định của luật dân sự Hệ thống luật của Pháp, Đức trước đây không có quy định riêng về hợp đồng lao động và chỉ thuần túy coi nó là một hợp đồng dân sự Ở Trung Quốc, trước năm 1953 cũng tồn tại quan hệ hợp đồng lao động nhưng cũng chỉ quan niệm như một hợp đồng dân sự Sau khi Cách mạng tháng tám thành công, Nhà nước Việt Nam dân chủ cộng hòa đã ban hành một loạt văn bản pháp luật trong
đó có các quy phạm về hợp đồng lao động Như vậy có thể thấy trước đây hầu hết các nước đều coi hợp đồng lao động lag hợp đồng dân sự và chịu sự điều chỉnh thuần túy của pháp luật dân sự
Hiện nay, cùng với sự phát triển của khoa học luật lao động và những nhận thức mới về hàng hóa sức lao động, các nước đều có sự thay đổi trong quan niệm về hợp đồng lao động Pháp, Đức coi quan hệ hợp đồng lao động thuộc lĩnh vực luật tư Luật lao động nước Cộng hòa nhân dân Trung Hoa ra đời ngày 5/7/1994 đã có khái niệm rõ ràng hơn về hợp đồng lao động Việt Nam cũng đã
có nhiều văn bản pháp luật ra đời đề cập về vấn đề hợp đồng lao động, nhưng tùy giai đoạn và điều kiện cụ thể mà khái niệm hợp đồng lao động có sự khác nhua nhất định về phạm vi và nội dung
Trang 2b Khái niệm hợp đồng lao động:
Trong thực tế có nhiều cách tiếp cận khác nhau về khái niệm hợp đồng lao động, tuy nhiên giữa các khái niệm nầy đều có ít nhiều những điểm tương đồng Khái niệm hợp đồng lao động được quy định tại Điều 26 Luật Lao động, theo đó:
“ Hợp đồng lao động là sự thỏa thuận giữa người lao động và người sử dụng lao động về việc làm có trả công, điều kiện lao động, quyền và nghĩa vụ của mỗi bên trong quan hệ lao động.”
Trong quan niệm của Việt Nam, nội dung của hợp đồng lao động do quan niệm phân chia hệ thống pháp luật thành nhiều ngành luật có sự độc lập tương đối với nhau Trước đây, từng có nhiều tranh luận về thuật ngữ “ Người lao động” trong khái niệm hợp đồng lao đồng và cho rằng dùng thuật ngữ này là quá rộng nếu như không muốn nói là không chính xác khi chỉ một bên trong quan hệ lao động Vì trong thực tế, thuật ngữ này được dùng để chỉ tất cả công dân đến
độ tuổi nhất định, có tham gia lao động trong xã hội gồm: công chức, người làm nghề tự do, công nhân, xã viên… mà những người này không phải ai cũng làm việc theo hợp đồng lao động Hiện nay, người ta giải quyết vấn đề này bằng cách đưa ra các quy phạm định nghĩa về thuật ngữ “ người lao động” và “ người sử dụng lao động” trong quy định của pháp luật lao động
2 Phạm vi áp dụng của hợp đồng lao động:
Hợp đồng lao động với tư cách là một trong những hình thức pháp lí để tuyển dụng lao động cho nên nó được áp dụng trong phạm vi đối tượng nhất định Theo quy định hiện nay thì phạm vi đối tượng của hợp đồng lao động được
áp dụng với tất cả người lao động làm việc trong các đợn vị, tổ chức, doanh nghiệp, cá nhân có đủ điều kiện và có nhu cầu thuê mướn, sử dụng lao động
Trang 3Nghị định 198/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về hợp đồng lao động có quy định tại khoản 2 Điều 1 về Các trường hợp không áp dụng hợp đồng lao động như sau :
“Các trường hợp không áp dụng hợp đồng lao động theo Điều 4 của Bộ Luật Lao động được quy định như sau: a) Công chức, viên chức làm việc trong các cơ quan hành chính, sự nghiệp Nhà nước; b) Người được Nhà nước bổ nhiệm giữ chức vụ giám đốc, phó giám đốc, kế toán trưởng trong doanh nghiệp nhà nước;c) Đại biểu Quốc hội, Đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp chuyên trách; người giữ các chức vụ trong cơ quan lập pháp, hành pháp, tư pháp được Quốc hội hoặc Hội đồng nhân dân các cấp bầu hoặc cử ra theo nhiệm kỳ;d) Sĩ quan, hạ sỹ quan và chiến sỹ trong lực lượng quân đội nhân dân, công an nhân dân;e) Người làm việc trong một số ngành nghề hoặc ở địa bàn đặc biệt thuộc
Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ do Bộ Quốc phòng, Bộ Nội vụ hướng dẫn, sau khi thoả thuận với Bộ Lao động - Thương binh và Xã hội;g) Người thuộc các đoàn thể nhân dân, các tổ chức chính trị, xã hội khác, xã viên hợp tác xã, kể cả các cán bộ chuyên trách công tác đảng, công đoàn, thanh niên trong các doanh nghiệp.”
Theo các quy định hiện hành thì hợp đồng lao động có phạm vi áp dụng khá rộng và áp dụng cho hầu hết các đối tượng Hợp đồng lao động trở lên quan trọng, cần thiết để bảo về quyền và nghĩa vụ cho hai chủ thể chính của hợp đồng
là người lao động và người sử dụng lao động
III Kết luận:
Trên đây là một số phân tích về khái niệm và phạm vi áp dụng của hợp đồng lao đồng Qua đây hi vọng vấn đề quan trọng này phần nào được làm rõ hơn
Trang 4DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, Trường Đại học Luật Hà Nội
NXB CAND Hà Nội- 2011
2 Luật Lao động
3 Nghị định 198/CP ngày 31/12/1994 quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của bộ luật lao động về hợp đồng lao động