LỜI NÓI ĐẦU Việc trao đổi hàng hóa sức lao động không thể giống như các giao dịch hàng hóa thông thường khác mà cần thiết phải có một hình thức pháp lý vừa tạo ra sự lưu thông bình thườn
Trang 1BÀI LÀM:
I LỜI NÓI ĐẦU
Việc trao đổi hàng hóa sức lao động không thể giống như các giao dịch hàng hóa thông thường khác mà cần thiết phải có một hình thức pháp lý vừa tạo ra sự lưu thông bình thường, thuận tiện vừa đảm bảo được quyền và lợi ích hợp pháp các bên trong quan hệ lao động Hình thức pháp lý đó chính là hợp đồng lao động (HĐLĐ) Và một trong những yếu tố không thể thiếu của HDLĐ yếu tố chủ thể
Sau đây, em xin trình bày các quy định của pháp luật về chủ thể giao kết hợp
đồng lao độNg.
II GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ.
Nêu và phân tích các quy định hiện hành về chủ thể giao kết hợp đồng lao động.
Theo quy định tại Điều 6, BLLĐ : “Người lao động là người ít nhất đủ 15 tuổi,
có khả năng lao động và có giao kết hợp đồng lao động Người sử dụng lao động
là doanh nghiệp, cơ quan, tổ chức hoặc cá nhân, nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ
18 tuổi, có thuê mướn, sử dụng và trả công lao động ”).Theo quy định này, để tham gia giao kết hợp đồng lao động, công dân cần có năng lực pháp luật lao động và
năng lực hành vi lao động Năng lực pháp luật lao động là khả năng mà pháp luật quy định hay ghi nhận cho công dân có quyền làm việc, được làm việc, được hưởng quyền và thực hiện nghĩa vụ của người lao động Năng lực hành vi lao động của công dân là khả năng bằng chính hành vi của mình trực tiếp tham gia vào quan hệ lao động, tự mình hưởng quyền và gánh chịu các nghĩa vụ phát sinh trong quan hệ đó Năng lực hành vi của công dân được biểu thị qua hai yếu tố: thể
Trang 2lực và trí lực.(1) Như vậy, khi đủ các điều kiện đó, họ có thể tham gia vào các quan
hệ pháp luật lao động phù hợp
Ở đây có một câu hỏi đặt ra: Tại sao pháp luật lại quy định độ tuổi để thỏa mãn điều kiện chủ thể của NLĐ là 15 tuổi mà không phải là một độ tuổi nào khác
sự quy định này xuất phát từ những lý do về mặt kinh tế, xã hội, pháp lý như sau:
Thứ nhất: Trên cơ sở sự yêu cầu về mặt nhận thức và thể lực của quan hệ lao
động ta thấy tuổi 15 là lứa tuổi kết thúc trung học cơ sở (cấp II) các em đã có một quá trình rèn luyện, học tập nên nhận thức đã đạt đến một mức độ nhất định và sức khỏe đang ở giai đoạn phát triển
Thứ hai: xuất phát từ đòi hỏi về việc làm và giải quyết việc làm của xã hội,
khi hết cấp II nhiều em vì nguyên nhân nhất định không tiếp tục học lên và có nhu cầu tìm kiếm việc làm, hơn nữa một thực tế là nhiều đơn vị cơ sở đang sử dụng lao
ở độ tuổi này (các đơn vị sản xuất hàng thủ công mĩ nghệ, may mặc, ) và các em cũng đáp ứng được yêu cầu của công việc Với những lý do như vậy pháp luật quy định đổ tuổi nói chung để tham gia quan hệ lao động là NLĐ đủ 15 tuổi và phát triển bình thường
Tuy nhiên quy định cũng có những ngoại lệ: đó là đối với một số công việc nhất định như: Diễn viên: Múa, hát, xiếc; Các nghề truyền thống: Chấm men gốm, cưa vỏ trai, vẽ tranh sơn mài (thông tư số 21/1999/TT-BLĐTBXH), NSDLĐ có thể kí hợp đồng với NLĐ dưới 15 tuổi nhưng phải được sự đồng ý bằng văn bản của cha mẹ hoặc đỡ đầu (Điều 120 BLLĐ) Do tính chất của các công việc này cần phải đào tạo các em ngay từ lúc còn nhỏ để đảm bảo tính gia truyền của các ngành nghề trên
Về phía NSDLĐ là tất cả các đợn vị, tổ chức, doanh nghiệp có tư cách pháp nhân, có đăng ký kinh doanh Nếu là cá nhân thì ít nhất phải đủ 18 tuổi, có
1 ,Nguyễn Hữu Chí, Luận văn thạc sỹ luật học, Hợp đồng lao động với vấn đề đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của
người lao động trong nền kinh tế thij tường Hà Nội Năm 1997 Tr 71
Trang 3khả năng trả công lao động, tùy vào loại hình tổ chức,quy mô, tính chất mà cần có những điều kiện pháp lý nhất định Tuy nhiên, bên SDLĐ bao giờ cũng phải tiến hành giao kết hợp đồng lao động thông qua người đại diện hợp pháp của mình, đây
là những người đủ 18 tuổi trở lên và có năng lực hành vi đầy đủ
Tuy nhiên, ngoài những quy định chung nói trên, tùy từng trường hợp, đối tượng mà pháp luật có những quy định riêng Cụ thể:
- Đối với người nước ngoài làm việc tại các doanh nghiệp, tổ chức ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 1 Điều 133; khoản 2 Điều 184 BLLĐ
- Đối với người Việt Nam làm việc cho tổ chức, cá nhân nước ngoài tại Việt Nam, theo quy định tại Điều 131, 132 BLLĐ
Ngoài ra, trong một số trường hợp pháp luật lại có những quy định có tính chất ngoại lệ về điều kiện chủ thể của HĐLĐ Không được sử dụng lao động nữ, lao động tàn tật, lao động cao tuổi làm những công việc mà pháp luật cấm.2
III ĐÁNH GIÁ, KIẾN NGHỊ
Qua sự phân tích trên ta thấy: những quy định này một mặt thỏa mãn những đòi hỏi khách quan của quan hệ lao động, mặt khác phúc đáp được nhu cầu của đời sống kinh tế xã hội, đồng thời góp phần đảm bảo và giải quyết việc làm cho người lao động
Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 30 BLLĐ “Hợp đồng lao động được giao kết trực tiếp giữa người lao động với người sử dụng lao động” Trong điều kiện phát
triển như hiện nay cần phải có cách hiểu cho đúng Nếu quan niện khi giao kết hợp đồng nhất thiết các chủ thể phải trực tiếp gặp nhau bàn bạc, thương lượng, thỏa thuận và ký kết hợp đồngthì hiện nay những quy định này đã không còn phù hợp Bởi trong thực tế, giao dich trong thị trường (kể cả tuyển dụng lao động) đều có thể thực hiện qua phương tiện thông tin như; internet, điện thoại Vì vậy điểm này
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, năm 2009, Tr226.
Trang 4chúng ta nên có sự điều chỉnh quy phạm pháp luật nhằm tính đến những nhu cầu thực tế của quan hệ xã hội
DANH MỤC TÀI LIỆU THAM KHẢO
1 Trường Đại học Luật Hà Nội, Nguyễn Hữu Chí, Luận văn thạc sỹ luật học, Hợp đồng lao động với vấn đề đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp của người lao động trong nền kinh tế thij tường Hà Nội Năm 1997.Tr 71, 72
2 Trường Đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật Lao động Việt Nam, năm 2009,Tr226
3 Bộ Luật Lao động Việt Nam, Nxb Lao động
Trang 5MỤC LỤC
Nêu và phân tích các quy định hiện hành về chủ thể giao kết hợp đồng