1. Trang chủ
  2. » Kinh Tế - Quản Lý

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỨNG CHỈ RỪNG TRỒNG CỦA NÔNG DÂN

17 390 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 17
Dung lượng 1,16 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Tư vấn về chứng chỉ rừng – Ông Nguyễn Ngọc Lung địa chỉ : Viện quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng SFMI , tại số 114 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội về việc khảo sát thu thập tư liệu hiện tr

Trang 1

ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỨNG CHỈ RỪNG TRỒNG CỦA NÔNG DÂN

(Lợi ích của chứng chỉ rừng (CCR) và sự hỗ trợ của mạng lưới/dự án thêm cây)

Báo cáo cuối cùng

Nguyễn Ngọc Lung, SFMI

Hà Nội, ngày 28/02/2015 * 1 MỤC LỤC ĐÁNH GIÁ KHẢ NĂNG CHỨNG CHỈ RỪNG TRỒNG CỦA NÔNG DÂN 1

2 Tóm tắt: 2

3 Tổng quan về hiện trạng QLRBV và CCR 2

3.1 Thực hiện hợp đồng tư vấn 2

3.2 Bối cảnh và điều kiện kinh tế xã hội nghiên cứu đánh giá CCR 3

4 Nội dung và kết quả nghiên cứu 8

4.1 Mục tiêu: 8

4.2 Phương pháp thu thập và sử dụng số liệu, dữ liệu 8

4.3 Hệ thống hóa văn bản pháp quy, chính sách lâm nghiệp đã sử dụng, 9

4.4 Ngay tại Việt nam chúng ta đã có kinh nghiệm tập huấn 9

4.5 Quản lý: giữ vững CCR đã được cấp, sử dụng đúng, đủ và có hiệu quả các CCR đạt được cũng là bài học rất bổ ích, 9

4.6 Các kết quả phân tích, đề xuất (findings) và bình luận 10

5 Kết luận 12

5.1 Sáng kiến đề xuất của dự án More trees 12

5.2 Lợi ích của hoạt động QLRBV – CCR theo nhóm 12

5.3 Có đủ điều kiện pháp lý, có đủ hướng dẫn quốc tế, có đủ kinh nghiệm quốc gia 12

5.4 Đang có cơ hội phối hợp với các chương trình dự án môi trường khác 12

5.5 Có một số trở ngại, khó khăn, nhưng những người đi trước đã chứng minh rằng có khả năng vượt qua hoặc khắc phục giảm thiểu được 12

6 Phụ lục: Hợp đồng tư vấn 12

*

Trang 2

2 Tóm tắt:

Thực hiện hợp đồng ký ngày 27/10/2014 giữa ông Vũ văn Mạnh, đại diện dự

án “Thêm cây II” và ông Nguyễn Ngọc Lung, chuyên gia quản lý rừng bền

vững (QLR BV) và chứng chỉ rừng (CCR) ,về đánh giá khả năng CCR cho rừng trồng của các hộ nông dân vùng dự án và cả nước Để xây dựng báo cáo, đã thu thập và sử dụng nhiều cơ sở dữ liệu hiện có, nhiều kinh nghiệm hoạt

đồng trong 15 năm tiến hành lý thuyết và thực tế CCR được lưu trữ tại Viện QLRBV-CCR (SFMI), tổ chức FSC, và các đơn vị được CCR Đã khẳng định rằng QLRBV là mục tiêu, còn CCR là hiệu quả và lợi ích

Đã đánh giá , đề xuất 7 kết quả (findings) sau đây về :

1) Các đặc điểm về rừng và chủ rừng hộ nông dân

2) Chính sách pháp luật liên quan đến CCR,

3) Kỹ thuật trồng rừng và quản lý rừng,

4) Tác động môi trường và xã hội,

5) Thị trường gỗ liên quan,

6) Lợi ích của CCR đối với nông dân,

7) Lợi ích môi trường cho xã hội

Đồng thời vạch ra kết quả 8) gồm 4 hạn chế, thách thức tác động đến CCR và các gợi ý giảm thiểu khi lập kế hoạch CCR

Đã kết luận rằng hoàn toàn có khả năng cấp CCR cho nông dân, nhưng cần

lưu ý cách tổ chức, hiệu quả, và tính bền vững

3 Tổng quan về hiện trạng QLRBV và CCR

3.1 Thực hiện hợp đồng tư vấn

Một hợp đồng đã được thảo luận và ký kết giữa 2 bên ngày 27/10/2014 gồm :

A Dự án “Thêm cây II” , DDS Việt nam, có địa chỉ tại phòng 407 -408 nhà A2, khu ngoại giao đoàn số 298 Kim Mã, Hà nội do ông Vũ văn Mạnh đại diện và

B Tư vấn về chứng chỉ rừng – Ông Nguyễn Ngọc Lung địa chỉ : Viện quản lý rừng bền vững và Chứng chỉ rừng (SFMI) , tại số 114 Hoàng Quốc Việt, Hà Nội về việc khảo sát thu thập tư liệu hiện trạng về nông dân trồng rừng và thị trường nguyên liệu gỗ rừng trồng tại các huyện Đà Bắc, Cao Phong (tỉnh Hòa Bình), Hương Sơn (tỉnh Hà Tĩnh) để xây dựng dự báo đánh giá khả năng cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FM/CoC) cho các hộ nông dân dựa vào tổ chức bảo trì sẵn có tại chỗ là “mạng lưới nông dân trồng rừng “ (More trees forestry Networks), nhưng sau đã bỏ phần khảo sát

Thời gian giao nộp sản phẩm chậm nhất là ngày 30/4/2015

Có một sự điều chỉnh được ghi vào hợp đồng là không cần điều tra khảo sát hiện trường mà sử dụng tài liệu sẵn có và kinh nghiệm của chuyên gia với các

Trang 3

bổ sung tham chiếu TOR kèm theo Đây là các văn bản pháp lý để thực hiện và nghiệm thu hợp đồng này 1

3.2 Bối cảnh và điều kiện kinh tế xã hội nghiên cứu đánh giá CCR

3.2.1 Tình hình quốc tế: Cuối thế kỷ XX, loài người bừng tỉnh khi phát hiện rõ nét

về môi trường sống, môi trường phát triển trên hành tinh bị đảo lộn nghiêm trọng và được đánh giá nghiêm túc trong hội nghị thượng đỉnh toàn cầu Rio de Janneiro (Brazil) năm 1992 Từđó một loạt công ước quốc

tế, các chương trình về môi trường phát triển được cam kết thực hiện, trong đó có hoạt động tự nguyện về QLRBV và CCR được đẩy mạnh cả về quy mô, tổ chức và tốc độ

Sự cam kết quốc tế của những người sử dụng gỗ, các nhà buôn bán gỗ sẽ trả giá cao cho sản phẩm có nguồn gốc khai thác từ khu rừng đã được công nhận quản lý bền vững trở thành giải pháp động lực cho mọi chủ rừng, mọi nhà quản lý đẩy mạnh phong trào QLRBV và CCR trên toàn thế giới

Tiêu chuẩn QLRBV thường rất cao, phải phấn đấu liên tục mới đạt được và

do nhiêu tổ chức lâm nghiệp có uy tín trên thế giới đề xuất như các bộ tiêu chuẩn của ITTO (tổ chức gỗ nhiệt đới quốc tế) với 7 tiêu chí, của CIFOR (Trung tâm lâm nghiệp thế giới) với 6 tiêu chí, nhưng được sử dụng rộng rãi nhất vẫn là bộ tiêu chuẩn FSC với 10 nguyên tắc phiên bản 1994 và đang được cải tiến với hệ thống các chỉ số dùng chung cho cả thế giới trong một vài năm tới

Để có hiểu biết cơ bản về CCR cần phân biệt 2 khái niệm: một là QLRBV theo định nghĩa của Tiến trình Helsinki thì “QLRBV là … hệ sinh thái khác” hoặc theo định nghĩa của tổ chức ITTO thì “ QLRBV là … và xã hội “2

Hai là CCR cũng có nhiều định nghĩa của các tổ chức hoặc tác giả khác nhau, nhưng cũng như QLRBV các định nghĩa vẫn tập trung vào việc đánh giá chất lượng quản lý theo các tiêu chuẩn xác định nào đấy đã công bố và cấp giấy chứng nhận có thời hạn Theo ISO – 1991 thì “chứng chỉ là sự cấp giấy phép chứng nhận có thời hạn Theo ISO 1991 thì “chứng chỉ là sự cấp giấy xác nhận một sản phẩm, một quá trình hay một dịch vụ đã đáp ứng các yêu cầu nhất định”

Từ đó : CCR là sự xác nhận bằng giấy chứng chỉ rằng khu rừng đã đạt được các tiêu chuẩn về QLRBV do tổ chức đó cấp hoặc đơn vị được tổ chức đó

ủy quyền cấp.”3

1 Mẫu hợp đồng với 9 điều khoản và một bản tham chiếu kèm theo trong phụ lục báo cáo này

2 Viện QLRBV – CCR (SFMI 2007) Tiêu chuẩn quốc gia về QLRBV Phiên bản 9c-2007

Trang 4

Từ các khái niệm QLRBV và CCR ta cần làm cho người nông dân có triển vọng được cấp CCR hiểu rằng, bất kỳ người chủ hay người quản lý rừng nào cũng cần đạt được kỹ năng QLRBV đang áp dụng vào khu rừng xin cấp chứng chỉ Người sử dụng hoặc buôn bán làm sai có thể yên tâm rằng lâm sản mà họ tiêu thụ khai thác từ các khu rừng đã có chứng chỉ quản lý bền vững không làm mất rừng hoặc suy thoái bất kỳ giá trị nào của rừng về kinh tế, về xã hội và về môi trường hiện tại và trong tương lai

Sáng kiến phòng chống biến đổi khí hậu bằng giảm phát thải khí nhà kính (tức là RE) cũng dựa trên cơ sở QLRBV sao cho không mất rừng (D), không suy thoái rừng (D) = REDD

Như vậy QLRBV là quan trọng nhất là mục tiêu mong muốn của chủ rừng, của địa phương và của toàn xã hội, còn CCR là kết quả của QLRBV, là phần thưởng bù đắp cho những cố gắng của chủ rừng

Nhiệm vụ đánh giá khả năng CCR cho các hộ nông dân trồng rừng của VN tại các địa điểm xác định đang nằm trong bối cảnh hết sức thuận lợi của các cuộc vận động lớn trên thế giới, không chỉ về QLRBV – CCR mà còn hàng loạt các công ước, chương trình hoạt động liên quan mật thiết tới bảo vệ rừng như công ước đa dạng sinh học (CBD), RAMSA, chống sa mạc hóa (UNCCD), bảo tồn thiên nhiên (IUCN), động vật hoang dã (WWF) và công ước khung về biến đổi khí hậu (UNFCC)

Trong 10 năm gần đây 2005 – 2015 nhận thức của chủ rừng là cộng đồng dân cư và ngành thương mại lâm sản quốc tế tăng cao, đặc biệt là ở các nước nhiệt đới đang phát triển Số lượng CCR, diện tích được xác nhận QLRBV tính đến hết năm 2014 trên toàn thế giới đã đạt được 4 riêng CCR của FSC

+ 183,106 triệu ha rừng = 4,5 % rừng thế giới

+ 79 quốc gia và vùng lãnh thổ đã được cấp CCR

+ 1.292 chứng chỉ về QLRBV (FM/CoC)

+ 28.964 chứng chỉ về chuỗi hành trình sản phẩm (CoC)

Ngoài FSC, chương trình phê duyệt các quy trình CCR (PEFC) cũng công nhận một diện tích đã đạt tiêu chuẩn QLRBV tương đương với FSC, Tốc độ chứng chỉ rừng đã tăng 2 lần so với diện tích được cấp 10 năm trước (1995-2005), trong đó mở rộng cho các đối tượng chủ rừng quy mô nhỏ,

3 Bộ NN và PTNT Cẩm nang ngành lâm nghiệp – Chương chứng chỉ rừng Hà nội năm 2006

4 FSC News letter 06 Feb 2015

Trang 5

đầu tư thấp được gọi là đối tượng (SLIMF) giống như các hộ gia đình nông dân trồng rừng ở Việt nam

3.2.2 Tại Việt nam, năm 1992 là năm kết thúc giai đoạn nửa thế kỷ suy thoái rừng liên tục (1946-1992) diện tích rừng của cả nước từ 14,3 triệu ha xuống đáy thấp nhất 8,9 triệu ha Việt Nam thực hiện 2 chương trình nổi tiếng là : Chương trình phủ xanh đất trống đồi núi trọc số 327 (1992-1997)

và chương trình trồng 5 triệu ha rừng số 661 (1998-2010) Việt Nam tham gia phong trào QLRBV –CCR ngày từ tháng 2/1998 bằng việc thành lập “ tổ công tác quốc gia FSC về QLRBV” (NWG) trực thuộc Hội KHKT lâm nghiệp Việt Nam (VIFA) , luôn có 6 – 10 tổ viên là thành viên cá nhân của tổ chức FSC quốc tế thuộc cả 3 phòng : kinh tế, xã hội, môi trường theo hướng dẫn của FSC Tháng 5/2006 tổ công tác quốc gia đổi tên thành Viện QLRBV và CCR (SFMI) cho phù hợp với pháp luật Việt Nam

Các hoạt động chính của tổ công tác quốc gia FSC 1998-2005 gồm:

- Dự thảo bộ tiêu chẩn QLRBV quốc gia theo mẫu của FSC, năm 2004 hoàn thành phiên bản số 8, công bố và sử dụng nội bộ, năm 2007 công

bố phiên bản 9c và sử dụng nội bộ VN cho đến nay

- Tuyên truyền rộng rãi tập huấn nâng cao nhận thức cho công chức, chủ rừng, cộng đồng, truyền thông và các trường đại học

- Tham gia xây dựng chính sách, kế hoạch chiến lược phát triển ngành trong đó có chiến lược phát triển lâm nghiệp giai đoạn 2006 -2020 Đã soạn thảo tập huấn hướng dẫn cho doanh nghiệp và nông dân hộ gia đình thành lập nhóm QLRBV theo nhóm tại Phú Thọ, Yên Bái, Quảng Trị

Công trình đánh giá khả năng CCR cho hộ gia đình này đề ra vào lúc rất thuận lợi và đúng hướng hoạt động của Viện QLRBV –CCR và cũng thừa kế được nhiều kinh nghiệm thành công về việc CCR cho hộ trồng rừng tại Việt Nam

Đầu tiên là khả năng quản lý rừng cho khối kinh tế hộ gia đình cần bền vững ổn định hơn, đưa năng suất cao hơn theo tiềm năng của lập địa Theo thống kê của ngành lâm nghiệp đến tháng 12/2013 thì kết cấu rừng tại Việt Nam phân theo thành phần kinh tế như sau 5 6

Tông diện tích đất có rừng là 13.954 nghìn ha 1) Rừng phòng hộ và đặc dụng đã có BQL 4.744 -

Rừng chưa giao còn do xã tạm quản lý 2.293 - -

5 Bộ NN &PTNT QĐ số 3322/QĐ-BNN-TCLN ngày 28/7/2014 về công bố hiện trạng rừng năm 2014

6 Viện QLRBV-CCR; QLRBV – CCR 2014 tại VN Cơ hội và thách thức Hội thảo VAFS/PEFC , HN 12/11

Trang 6

Đơn vị vũ trang 265 - Các tổ chức khác 815 - 2) Rừng SX cần QLRBV –CCR (cả RTN-RT) 5.839 -

Rừng SX do Cty LN nhà nước QL 1.900 - Rừng cộng đồng 525 - 3) Rừng do Hộ gia đình quản lý 3.414 -

Diện tích rừng sản xuất do hộ gia đình trồng đóng tỷ lệ quan trọng nhất trong sản lượng gỗ của VN hiện nay Ngoài vốn rừng sản xuất 5.889 nghìn

ha còn có 417 nghìn ha rừng cao su trưởng thành đang trích nhựa và khoảng 500 nghìn ha cao su non có thể cung cấp gỗ theo chu kỳ 30 năm 1 lượng gỗ tròn hàng năm khoảng 1,5 đến 3,0 triệu m3 gỗ tròn nguyên liệu rất quý chưa được tính vào diện tích rừng và kế hoạch sản xuất gỗ nguyên liệu xuất khẩu

Theo số liệu này diện tích rừng sản xuất cung cấp gỗ cho sử dụng nội địa

và xuất khẩu hiện chủ yếu dựa vào rừng trồng quy mô nhỏ dăm ba hộ/hộ hoặc rất nhỏ < 1 ha/hộ do hàng triệu hộ, chục triệu hộ tham gia, sở hữu chiếm thị phần cao nhất (3.414 triệu ha) sau đến các doanh nghiệp nhà nước (1.900 triệu ha, kể cả rừng tự nhiên) với vai trò giảm dần

3.2.3 Phân tích thị trường gỗ và lâm sản tại Việt Nam

+ Trước đây lâm sản sản xuất và tiêu thụ nội địa là chính, vì vậy mỗi năm kế hoạch nhà nước cho chỉ tiêu (quota) khai thác 1 – 2,000 triệu m3 gỗ rừng

tự nhiên để xuất khẩu gỗ tròn, gỗ xẻ có kiểm soát đã làm cho rừng tự nhiên nghèo kiệt

+ Từ năm 1992 cùng với chương trình phục hồi rừng, phủ xanh đất trống đồi núi trọc thì trong phạm vi 5 năm chỉ tiêu chặt rừng tự nhiên tự nhiên đến năm 1997 đã chỉ còn 300.000 m3 gỗ tròn và giữ luôn ở mức đó, mà chỉ còn các hoạt động khai thác, chế biến xuất khẩu, lâm sản ngoài gỗ với sản lượng song mây tre nừa dầu nhựa rất hạn hẹp

+ Sau năm 2000 rừng trồng theo vốn PAM ( tức WFP) và rừng trồng theo chương trình 327 đủ tuổi chặt đã bắt đầu có nguyên liệu chế biến đồ mộc thì kim ngạch xuất khẩu đồ mộc của Việt Nam tăng gia với tốc độ rất hấp dẫn nhờ cơ chế thị trường và gần như hầu hết là doanh nghiệp tư nhân Theo số liệu thống kê không đầy đủ của hội gỗ và lâm sản VN (VIFOREST) thì kim ngạch xuất khẩu đồ gỗ như sau:

Năm 2000 2002 2004 2006 2008 2010 2012 2014

Tỷ USD 0,22 0,44 1,15 1,93 2,80 3,40 5,40 # 6,5

Trang 7

Kim ngạch xuất khẩu lớn nhưng lợi nhuận chưa cao là do thiếu nguyên liệu Trước năm 2010 nhu cầu nguyên liệu gỗ cho xuất khẩu rất khan hiếm nên 70- 80% nguyên liệu phải nhập khẩu từ Lào, Cambodia, Malaysia, Indonesia, New Zealand, kể cả Nam Mỹ Từ năm 2010 Việt Nam tự túc nguyên liệu gỗ tăng dần, đến nay đã tự cung ứng trên 50% nhu cầu nguyên liệu (khoảng 10-12 triệu m3 gỗ tròn thương phẩm ) nhưng lại rất thiếu gỗ

có CCR để xuất khẩu vào các thị trường truyền thống lãi cao nhất

+ Phân tích sâu hơn thị trường nguyên liệu gỗ trong nước, có thể chỉ ra một

số su thế sau đây:

- Thị trường gỗ nhỏ, cây mọc nhanh đáp ứng nhu cầu nguyên liệu bột, giấy, dăm, mảnh (chip) thì đủ nhưng lãi ít Phạm vi mua bán rất rộng và thoáng, theo tỉnh, vùng và cả nước, nên việc khảo sát theo quy mô huyện (Đà Bắc, Cao Phong, Hương Sơn) là không cần thiết nữa

- Tỷ lệ gỗ nguyên liệu quy cách lớn (ø 20-25 cm) đang tăng dần để đáp ứng nhu cầu chế biến xuất khẩu, nhờ sáng kiến của các chủ rừng nuôi dưỡng thêm một vài năm nơi lập địa cho phép, nhờ hỗ trợ công nghệ chọn giống, thâm canh từ các cơ quan tổ chức khoa học, kể cả công nghệ chế biến

- Nhu cầu gỗ nguyên liệu có CCR ngày càng cao không chỉ từ nguồn nhập khẩu nguyên liệu mà còn từ sản xuất trong nước ở cả 2 mức độ là có chứng đầy đủ (FM) hoặc chưa đầy đủ mà ở mức có kiểm soát (controlled wood) nghĩa là đã đạt được một số tiêu chí quan trọng của

bộ tiêu chuẩn QLRBV (+) Liên kết thị trường lâm sản và dịch vụ

- Viện QLRBV –CCR và các nhà cung cấp dịch vụ QLRBV – CCR đã đẩy mạnh nhanh nhất tiềm năng để thúc đẩy các chủ rừng nâng cao năng lực QLRBV và CCR cho mọi loại chủ rừng (sở hữu và sử dụng), đã tham gia trực tiếp vào các chương trình dự án trọng điểm tại VN có sử dụng đến kỹ thuật hoặc công cụ QLRBV trong công nghệ thẩm định, đánh giá, tham gia vào các công cụ xác minh gỗ hợp pháp, kiểm soát, giám sát từ gốc chuỗi cung cấp nguyên liệu của chủ rừng nhỏ hoặc các doanh nghiệp nằm trong chuỗi (supply chain) cần đánh giá hoặc sử dụng đến các tiêu chí, chỉ số của tiêu chuẩn QLRBV về khía cạnh xã hội, môi trường trong chương trình FLEGT/VPA giữa VN và EU 7 hoặc chương trình kiểm soát đánh giá diễn biến thay đổi rừng về diện tích,

7 EU/NEPCon/SFMI Dư án tăng cường năng lực cho các tổ chức xã hội dân sự, các doanh nghiệp nhỏ và vừa để thực hiện các yêu cầu của FLEGT 2014-2016

Trang 8

chất lượng, dự trữ carbone, các cơ sở để tính toán đường phát thải cơ bản và đường phát thải tham chiếu trong chương trình REDD +8

(+)Báo cáo đánh giá khả năng CCR cho nông dân và hiệu quả này nằm trong bối cảnh rất thuận lợi khi 3 giai đoạn trong lộ trình QLRBV – CCR thuộc chiến lược phát triển lâm nghiệp 2006 -2020 đã được đẩy mạnh

và rút ngắn lộ trình thử nghiệm CCR cho mọi thành phần chủ rừng tiềm năng tại VN, đáng lẽ kết thúc vào cuối năm 2015 thì đã đạt sớm hơn, với tổng diện tích đã được cấp chứng chỉ rừng (FM/CoC là 136.637 ha rừng SX các loại như sau với thời hạn hiệu lực của CCR là 5 năm)

Ngày cấp CCR Tên đơn vị quản lý rừng Địa điểm Diện

tích (ha)

Loại rừng

15/3/2011 Cty TR Quy nhơn QPFL Quy Nhơn 9.762 Rừng trồng 5/10/2010 Tổng Cty giấy Việt nam Phú thọ 12.201 Rừng trồng 17/9/2010 Nhóm 345 hộ gia đình Do Linh (Qtri) 925 Rừng trồng 16/9/2011 Tập đoàn CN Cao su(4NT) Tây ninh, Đnai 11.768 Cao su 18/9/2012 Cty cổ phần lâm nghiệp Quảng nam 1.721 Rừng trồng 4/11/2012 Nhóm 354 hộ Bình định –Huế 852 Rừng trồng 23/11/2012 Cty Lâm nghiệp Bến Hải Quảng Trị 9.463 Rừng trồng 10/1/2013 Cty TNHH Bình Nam Bình Định 2.969 Rừng trồng 6/9/2013 Tcty Lâm nghiệp VINAFOR 4LT HB-La ngà 38.185 Rừng trồng 9/5/2014 Cty lâm nghiệp Trường Sơn Quảng Bình 33.149 Rừng TN 14/5/2014 Cty lâm nghiệp Đắc tô Kông Tum 15.755 Rừng TN

- CCR FSC về FM/CoC đã được cấp cho 11 đơn vị quản lý rừng từ rất lớn đến rất nhỏ là : một tập đoàn, 2 tổng công ty nhà nước, Cty nhà nước

và không nhà nước, 2 nhóm hộ gia đình (SLIMF)

- Loại rừng sản xuất đã cấp là : rừng tự nhiên, rừng trồng gỗ nhỏ (keo, bạch đàn) rừng trồng gỗ lớn (tếch, cao su)

- Ngoài ra trên 200 doanh nghiệp chế biến gỗ đã được cấp chứng chỉ hành trình sản phẩm CoC

4 Nội dung và kết quả nghiên cứu

4.1 Mục tiêu:

Đánh giá khả năng và lợi ích của nông dân khi tham gia chương trình CCR, sử dụng mạng lưới nông dân trồng rừng (More trees forestry Network) như là nhà bảo trợ quản lý CCR (trích TOR)

4.2 Phương pháp thu thập và sử dụng số liệu, dữ liệu

- Về cơ sở lý thuyết dựa vào tài liệu cập nhật trên website của FSC và hệ thống văn kiện thông tin từ các đại hội đồng FSC 3 năm 1 lần, lý thuyết, bài giảng

8 FCPF/SFMI Nâng cao nhận thức, xây dựng phương pháp và tài liệu đào tạo về REDD+ và BĐKH cho cán bộ cấp trung ương, nhà báo và giới truyền thông các tổ chức phi chính phủ TV-C2S-02 và TV CQS-04 2014, 2015

Trang 9

cho các lớp cao học và nghiên cứu sinh, giáo trình hàng năm của trường đào tạo quốc tế về đánh giá rừng Sweden Svensk Slogs Certifiering AB (SSS Forestry) Thụy Điển

- Một khối lượng số liệu điều tra khảo sát cho các tổ chức quản lý rừng để xây dựng kế hoạch quản lý rừng, thẩm định, đánh giá trong nhiều năm tại Việt Nam Đặc biệt là các lâm trường hoặc nhóm hộ gia đình chưa được cấp CCR

do các lỗi lớn không tuân thủ tiêu chuẩn QLRBV

- Tài liệu xây dựng tiêu chuẩn QLRBV của FSC, của bộ tiêu chuẩn Việt Nam, các phiên bản từ 1 đến 9c kể cả bản tiêu chuẩn tạm thời mà Bộ NN&PTNT công

bố trong thông tư số 38/2014/TT-BNN với 5 phiên bản mới nhất của 5 tổ chức cấp CCR (interim) đã được FSC phê duyệt để áp dụng cho Việt Nam

- Tài liệu đánh giá thử các dự thảo tiêu chuẩn phiên bản 1 đến 9c tại các lâm trường và cơ sở quản lý rừng

Như vậy với các cơ sở dữ liệu của Viện QLRBV- CCR cũng đủ phong phú và nếu thu thập thêm để cập nhật số liệu mới trên mạng cũng đủ để phân tích, đánh giá vận dụng cho đối tượng các đơn vị quản lý nhỏ, đầu tư thấp như hộ gia đình tại Việt Nam (SLIMF)

4.3 Hệ thống hóa văn bản pháp quy, chính sách lâm nghiệp đã sử dụng,

đã thay thế của nhà nước, hệ thống quy trình quy phạm kỹ thuật các lớp tập huấn chuyển giao công nghệ cơ sở sản xuất, cho công nhân và cộng đồng dân

cư lao động lâm nghiệp, các kiến thức bản địa phong tục tập quán trong sản xuất, bảo vệ rừng của đồng bào đã tổng kết cộng với hệ thống luật, công ước của FSC hoặc các tổ chức quốc tế mà Việt Nam đã ký kết tham gia sẽ đủ đáp ứng các quy định cho chủ rừng nông dân áp dụng và tuân thủ các nguyên tắc của tiêu chuẩn FSC từ I đên IV nếu chủ rừng nông dân được hướng dẫn tập huấn

4.4 Ngay tại Việt Nam chúng ta đã có kinh nghiệm tập huấn

tăng cường kiến thức về kỹ thuật, thị trường, quản lý rừng cho công nhân, cộng đồng dân cư và đặc biệt là áp dụng thành công quy trình chứng chỉ rừng theo nhóm các hộ nông dân liên kết, trong đó 2 nhóm hộ SLIMF đã được cấp chứng chỉ QLRBV (FM/CoC) và 3 nhóm công ty (nông lâm trường) cũng đã được cấp CCR như đã mô tả ở phần 3

4.5 Quản lý: giữ vững CCR đã được cấp, sử dụng đúng, đủ và có hiệu quả các CCR đạt được cũng là bài học rất bổ ích,

mới và cần thiết và rất mới cho chủ rừng cả ở VN và trên thế giới với sự giám sát hỗ trợ của hệ thống định kỳ hàng năm,cũng sẽ được tổng kết, hướng dẫn cho các chủ rừng sau chứng chỉ, kể cả tái chứng chỉ sau 5 năm hết hiệu lực

Trang 10

4.6 Các kết quả phân tích, đề xuất (findings) và bình luận

Theo nội dung và mục tiêu của bản nhiệm vụ ký kết trong hợp đồng này

1) Đối tượng

1a: Chủ rừng: Đa số chưa hiểu biết, chưa nhiệt tình tham gia CCR Nếu được nâng cao nhận thức, 50% nông dân chủ rừng sẽ tham gia, cần vận động người giàu, người hiểu biết vào nhóm CCR trước làm mẫu tốt

1b: Rừng trồng: Hiện tại dưới 50% rừng trồng đang có lỗi nhỏ so với tiêu chuẩn, nhiều nhất là quyền sử dụng đất nếu được tập huấn nâng cao năng lực trình độ theo 56 tiêu chi thuộc 10 nguyên tắc của tiêu chuẩn QLRBV, đa

số (60-70%) chủ rừng có khả năng tự nhận biết lỗi quản lý của mình và tự sửa chữa được các lỗi không tuân thủ Cần vận động người nhiều rừng vào nhóm trước

2) Am hiểu chính sách pháp luật: Đa số nông dân chưa am hiểu, ít tìm tòi, phạm luật mà không biết Các luật dễ bị xâm phạm, nhất là lâm nghiệp, đất đai, dân sự, lao động, không thể đào tạo tập huấn ngay, mà tự chủ rừng vào nhóm CCR sẽ tiến bộ dần sau 1-2 năm được thẩm định đánh giá sửa lỗi

3) Lỗi kỹ thuật:

3a: Kỹ thuật công nghệ ít được tập huấn tham quan học hỏi khiến ít hộ đạt được năng suất sản lượng theo tiềm năng của lập địa, đây là lãng phí lớn trong quản lý rừng từ các lý do về chọn giống, chọn loài, kỹ thuật lâm sinh, thâm canh, phân bón, mật độ, mùa vụ v.v loại lỗi này sẽ tự học tập nâng cao dần

3b: Lỗi về quản lý kế hoạch điều khiển, mặc dù mỗi chủ chỉ có rất hạn chế diện tích rừng (vài ba đến 5-10 ha), nhưng chưa bao giờ biết tự lập kế hoạch, phương án sản xuất kinh doanh để so sánh lựa chọn tối ưu theo hoàn cảnh và năng lực đầu tư, nhất là nông dân miền bắc mới ra khỏi HTX nông nghiệp Nếu được gia nhập nhóm CCR sẽ được học hỏi thảo luận phần kết hợp sản xuất phần kế hoạch nhóm

4) Bị giới hạn nhận thức về môi trường và phát triển , chủ rừng đang hoặc sắp mắc các lỗi về bảo vệ môi trường mà không biết, không tránh kịp như sử dụng dụng phân bón, thuốc trừ sâu, mua giống không biết xuất xứ, chưa biết làm đất chống xói mòn, bảo vệ cây cỏ đầu nguồn nước, rãy cỏ thu rác, cháy nổ hoặc ô nhiễm nguồn nước, trồng xen cây bảo vệ đa dạng sinh học v.v mà chưa hoặc ít được phổ biến trong quá khứ Lỗi này quy định tại nguyên tắc 6 và 9, cùng các lỗi về xã hội tại nguyên tắc 3 và 4 sẽ được tập huấn để khắc phục sớm vì đó là các tiêu chí để được cấp chứng chỉ rừng 5) Các thiếu sót về kiến thức kinh doanh do quản lý rừng sản xuất chính là kinh doanh có điều kiện, mà nông dân thì ít hoặc không tiếp xúc thị trường,

Ngày đăng: 16/05/2016, 04:02

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w