Tuy nhiên, đây làloại hình kinh doanh bán lẻ khá mới mẻ tại một vùng không phải là trung tâmlớn nên việc kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động và quản lý.Chính vì vậy để góp
Trang 1Phần 1 MỞ ĐẦU
1.1 Tính cấp thiết của đề tài
Trong những năm gần đây, nền kinh tế Việt Nam đã có những chuyểnbiến tích cực, biểu hiện tập trung qua mức tăng trưởng GDP tương đối nhanh.Thêm vào đó là chính sách đổi mới của Đảng và Nhà nước tạo nhiều cơ hộithuận lợi cho các doanh nghiệp hòa nhập vào nền kinh tế thị trường Cùng với
sự phát triển của ngành thương mại, Siêu thị là loại hình kinh doanh bán lẻ mớixuất hiện ở nước ta vào những năm đầu của thập niên 90 Được hình thành vàphát triển trong quan hệ mật thiết với quá trình công nghiệp hóa và đô thị hóatrên quy mô toàn thế giới Kinh doanh siêu thị ra đời đã làm thay đổi diện mạongành thương mại bán lẻ của đất nước, mở ra một loại cửa hàng văn minh, hiệnđại và tiện nghi cho người mua sắm Việt Nam; làm thay đổi thói quen mua sắmtruyền thống của người dân và góp phần phát triển kinh tế xã hội của đất nóichung
Siêu thị xuất hiện phổ biến ở nước ta chủ yếu là tại các thành phố lớnnhư: Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Đà Nẵng… tại các tỉnh lẻ thì đây vẫn làloại hình kinh doanh khá mới mẻ đối với các doanh nghiệp thương mại Tuynhiên, trong thực tế thì cho thấy sự phát triển về kinh tế, văn hóa xã hội củangười dân trong nước ngày một tăng lên, đời sống của người dân ngày mộtđược cải thiện, nhu cầu không chỉ dừng lại ở sự thõa mãn những nhu cầu cơbản mà còn thể hiện những nhu cầu ở mức độ cao hơn và việc mua hàng hóatiêu dùng cũng được chú trọng hơn Chính vì thế mà kinh doanh bán lẻ theohình thức siêu thị sẽ trở thành tất yếu cùng với sự phát triển của xã hội và nhất
là ở thời buổi nền kinh tế trong quá trình hội nhập của nước ta nhiện nay
Yên Định là một huyện thuộc tỉnh Thanh Hóa, trong 10 năm 2010) huyện tập trung phát triển kinh tế, tốc độ tăng GDP bình quân 10% năm,tăng gấp 2,6 lần so với năm 2009, tổng thu nhập bình quân của nhân dân là12,89 triệu đồng/năm Hệ thống giao thông trong vùng được đầu tư xây dựng
Trang 2(2000-trên năm 2010 huyện vinh dự được Chủ tịch nước phong tặng danh hiệu đơn vịAnh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới Mức sống của người dân ngày mộtđược nâng cao Nhu cầu tiêu dùng hàng hóa dịch vụ của người dân trong vùngcũng tăng lên đáng kể tạo điều kiện cho phát triển hoạt động kinh doanhthương mại trên địa bàn huyện trong đó có phát triển kinh doanh siêu thị Mặtkhác trong vùng chưa có một trung tâm mua bán nào lớn, các chợ còn rải rác vàsản phẩm tiêu thụ ở đây thì chưa đảm bảo Nắm bắt được nhu cầu trên mà công
ty cổ phần thương mại Thiệu Yên mở siêu thị để kinh doanh Tuy nhiên, đây làloại hình kinh doanh bán lẻ khá mới mẻ tại một vùng không phải là trung tâmlớn nên việc kinh doanh còn gặp nhiều khó khăn trong hoạt động và quản lý.Chính vì vậy để góp phần thõa mãn nhu cầu mua sắm của người dân trongvùng cũng như nâng cao hiệu quả kinh doanh của Công ty Cổ phần thương mại
Thiệu Yên tôi chọn đề tài nghiên cứu: “Giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu thuộc Công ty Cổ Phần Thương mại Thiệu Yên trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Thực trạng hoạt động kinh doanh, các nhân tố ảnh hưởng tới hoạt độngkinh doanh của siêu thị Kiểu thuộc công ty Cổ phần thương mại Thiệu Yên trênđịa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa, để từ đó đề ra những giải pháp nhằmthúc đẩy hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Cơ sở lý luận và thực tiễn hoạt động kinh doanh siêu thị
- Thực trạng về hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu thuộc Công ty cổphần thương mại Thiệu Yên
- Đề xuất giải pháp nhằm thúc đẩy hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểuthuộc Công ty Cổ phần thương mại Thiệu Yên trên địa bàn huyện Yên Định
Trang 3 Đối tượng nghiên cứu: hoạt động kinh doanh tại “Siêu thị Kiểu” và nhữngnhân tố tác động tới việc phát triển kinh doanh siêu thị của Công ty cổ phầnthương mại Thiệu Yên.
Phạm vi nghiên cứu:
- Không gian: siêu thị tại ngã ba Kiểu, xã Yên Trường, huyện Yên Định,tỉnh Thanh Hóa
- Thời gian: 27/12/2010 đến 30/4/2011
1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Hệ thống được cơ sở lý luận về siêu thị và hoạt động kinh doanh siêuthị
- Thực trạng hoạt động kinh doanh siêu thị và các nhân tố ảnh hưởng tớikinh doanh của siêu thị Kiểu thuộc Công ty Cổ phần thương mại Thiệu Yên
- Đề xuất được những giải pháp thúc đẩy hoạt động kinh doanh của siêuthị Kiểu trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa
Trang 4Phần 2 TỔNG QUAN VỀ HOẠT ĐỘNG KINH DOANH SIÊU THỊ VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU
2.1 Cơ sở lý luận và thực tiễn về kinh doanh siêu thị.
2.1.1 Tổng quan về siêu thị
2.1.1.1 Định nghĩa
"Siêu thị" là từ được dịch ra từ các thuật ngữ nước ngoài
-"supermarket" (tiếng Anh) hay "supermarché" (tiếng Pháp), trong đó "super"nghĩa là "siêu" và "market" là "thị trường" ("chợ") Ngày nay có nhiều kháiniệm về siêu thị
Trên thế giới hiện có một số khái niệm về siêu thị như sau:
Theo Philips Kotler, siêu thị là "cửa hàng tự phục vụ tương đối lớn cómức chi phí thấp, tỷ suất lợi nhuận không cao và khối luợng hàng hóa bán ralớn, đảm bảo thỏa mãn đầy đủ nhu cầu của người tiêu dùng về thực phẩm, bộtgiặt, các chất tẩy rửa và những mặt hàng chăm sóc nhà cửa"
Theo nhà kinh tế Marc Benoun của Pháp, siêu thị là "cửa hàng bán lẻtheo phương thức tự phục vụ có diện tích từ 400m2 đến 2500m2 chủ yếu bánhàng thực phẩm"
Tại Anh người ta định nghĩa “Siêu thị là cửa hàng buôn bán tạp phẩm,bán thực phẩm, đồ uống và các loại hàng hoá khác, thường đặt tại thành phố,dọc đường cao tốc hoặc trong khu buôn bán có diện tích khoảng từ 4.000 đến25.000 bộ vuông Trong vòng 10-15 năm trở lại đây, rất nhiều siêu thị đã đượcxây dựng ở ngoài thành phố hoặc ngoại ô
Theo Từ điển kinh tế thị trường từ A đến Z:
"Siêu thị là cửa hàng tự phục vụ bày bán nhiều mặt hàng đáp ứng nhucầu tiêu dùng hàng ngày của người tiêu dùng như thực phẩm, đồ uống, dụng cụgia đình và các loại vật dụng cần thiết khác"
Siêu thị truyền thống thường được xây dựng trên diện tích lớn, gần khu dân cư
Trang 5 Theo Quy chế Siêu thị, Trung tâm thương mại của Bộ Thương mại ViệtNam (nay là Bộ Công Thương Việt Nam) ban hành ngày 24 tháng 9 năm 2004:
“Siêu thị là loại hình cửa hàng hiện đại, kinh doanh tồng hợp hoặcchuyên doanh; có cơ cấu chủng loại hàng hoá phong phú, đa dạng, bảo đảmchất lượng; đáp ứng các tiêu chẩn về diện tích kinh doanh, trang bị kỹ thuật vàtrình độ quản lý, tổ chức kinh doanh; có các phương thức phục vụ văn minh,thuận tiện nhằm thoả mãn nhu cầu mua sắm hàng hóa của khách hàng”
Tại Việt Nam, các siêu thị ghi bằng tiếng Việt là SIÊU THỊ trước tênthương mại hoặc tên riêng do thương nhân tự đặt và trước các từ địa chỉ danhhay tính chất của Siêu thị Nếu ghi thêm bằng tiếng nước ngoài, kích cỡ chữ
nhỏ hơn kích cỡ tên tiếng Việt và đặt dưới hoặc sau tiếng Việt.
Các đặc trưng cơ bản của siêu thị
Theo Viện nghiên cứu Thương mại Việt Nam, siêu thị có các đặc trưngsau
Đóng vai trò cửa hàng bán lẻ: Siêu thị thực hiện chức năng bán lẻ - bánhàng hóa trực tiếp cho người tiêu dùng cuối cùng để họ sử dụng chứ khôngphải để bán lại Đây là một kênh phân phối ở mức phát triển cao, được quyhoạch và tổ chức kinh doanh dưới hình thức những cửa hàng quy mô, có trangthiết bị và cơ sở vật chất hiện đại, văn minh, do thương nhân đầu tư và quản lý,được Nhà nước cấp phép hoạt động
Áp dụng phương thức tự phục vụ (self-service hay libre - service): Đây làphương thức bán hàng do siêu thị sáng tạo ra, được ứng dụng trong nhiều loạicửa hàng bán lẻ khác và là phương thức kinh doanh chủ yếu của xã hội vănminh giữa phương thức tự chọn và tự phục vụ có sự phân biệt:
Tự chọn: khách hàng sau khi chọn mua được hàng hoá sẽ đến chỗ người
bán để trả tiền hàng, tuy nhiên trong quá trình mua vẫn có sự giúp đỡ, hướngdẫn của người bán
Tự phục vụ: khách hàng xem xét và chọn mua hàng, bỏ vào giỏ hoặc xe
đẩy đem đi và thanh toán tại quầy tính tiền đặt gần lối ra vào Người bán vắngbóng trong quá trình mua hàng
Trang 6 Phương thức thanh toán thuận tiện: Hàng hóa gắn mã vạch, mã số đượcđem ra quầy tính tiền ở cửa ra vào, dùng máy quét để đọc giá, tính tiền bằngmáy và tự động in hóa đơn Đây chính là tính chất ưu việt của siêu thị, đem lại
sự thỏa mãn cho người mua sắm Đặc điểm này được đánh giá là cuộc đại
"cách mạng" trong lĩnh vực thương mại bán lẻ
Sáng tạo nghệ thuật trưng bày hàng hoá: qua nghiên cứu cách thức vậnđộng của người mua hàng khi vào cửa hàng, người điều hành siêu thị có cách
bố trí hàng hóa thích hợp trong từng gian hàng nhằm tối đa hoá hiệu quả củakhông gian bán hàng Do người bán không có mặt tại các quầy hàng nên hànghóa phải có khả năng "tự quảng cáo", lôi cuốn người mua Siêu thị làm đượcđiều này thông qua các nguyên tắc sắp xếp, trưng bày hàng hóa nhiều khi đượcnâng lên thành những thủ thuật Chẳng hạn, hàng có tỷ suất lợi nhuận cao được
ưu tiên xếp ở những vị trí dễ thấy nhất, được trưng bày với diện tích lớn; nhữnghàng hóa có liên quan đến nhau được xếp gần nhau; hàng khuyến mại phải thuhút khách hàng bằng những kiểu trưng bày đập vào mắt; hàng có trọng lượnglớn phải xếp ở bên dưới để khách hàng dễ lấy; bày hàng với số lượng lớn để tạocho khách hàng cảm giác là hàng hoá đó được bán rất chạy
Hàng hóa chủ yếu là hàng tiêu dùng thường ngày như: thực phẩm, quần
áo, bột giặt, đồ gia dụng, điện tử với chủng loại rất phong phú, đa dạng Siêuthị thuộc hệ thống các cửa hàng kinh doanh tổng hợp, khác với các cửa hàngchuyên doanh chỉ chuyên sâu vào một hoặc một số mặt hàng nhất định Theoquan niệm của nhiều nước, siêu thị phải là nơi mà người mua có thể tìm thấymọi thứ họ cần và với một mức giá "ngày nào cũng thấp" (everyday-low-price).Chủng loại hàng hóa của siêu thị có thể lên tới hàng nghìn, thậm chí hàng chụcnghìn loại hàng Thông thường, một siêu thị có thể đáp ứng được 70-80% nhucầu hàng hóa của người tiêu dùng về ăn uống, trang phục, mỹ phẩm, đồ làmbếp, chất tẩy rửa, vệ sinh
Trong các đặc trưng trên, phương thức bán hàng tự phục vụ và nghệ thuật trưngbày hàng hoá của siêu thị đã mở ra kỷ nguyên thương mại bán lẻ văn minh hiệnđại
Trang 7Việc xác định và hình thành quy mô các siêu thị phụ thuộc vào tình hìnhphát triển kinh tế-xã hội của từng giai đoạn, kim ngạch xuất nhập khẩu, tổngmức lưu chuyển hàng hóa bán buôn, bán lẻ và tình hình đầu tư nước ngoài, sốlượng văn phòng đại diện nước ngoài trên địa bàn tỉnh và khu vực.
Sự hình thành và phát triển các siêu thị phải phù hợp với định hướngphát triển kinh tế-xã hội, định hướng phát triển thương mại của tỉnh, đồng thờiphải tuân thủ các khu chức năng của định hướng phát triển không gian đô thịcủa các đô thị trong tỉnh
Sự hình thành và phát triển các siêu thị phải đảm bảo tính hiệu quả tronghoạt động kinh doanh của chính các siêu thị, đồng thời phải đảm bảo chức năng
là hạt nhân phát triển thị trường của tỉnh, vùng, cả nước Để đạt mục tiêu trênthì các sêu thị phải có những yếu tố sau:
- Vị trí các siêu thị phải đảm bảo sự thuận lợi dễ dàng trong các giao dịchtrong hoạt động thương mại như điều kiện giao thông thuận lợi, vị trí trungtâm, các khu vực có hoạt động thương mại…
- Để đảm bảo yêu cầu cho việc vận hành hoạt động tốt các siêu thị thì cácđiều kiện về cơ sở hạ tầng tại khu vực đó phải đồng bộ và hoàn chỉnh như hệthống đường sá, điện, cấp nước, thoát nước…đảm bảo yêu cầu đối với một siêuthị
Ngoài những điều kiện trên, thì cần phải chú ý đến các yếu tố như trình
độ quản lý, chất lượng đội ngũ lao động hoạt động trong các siêu thị…
2.1.1.3 Phân loại siêu thị
Phân theo quy mô
Theo quy định của Bộ Công Thương Việt Nam, siêu thị được phân làm
3 hạng:
Siêu thị hạng I
Ngoài các tiêu chuẩn về kiến trúc hiện đại, kho hàng, kỹ thuật bảo quản,khu vệ sinh, khu giải trí:
Các siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 5.000m2 trở lên
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 20.000 tên hàng trở lên;
Trang 8Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Diện tích từ 1.000m2 trở lên
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 2.000 tên hàng trở lên
Siêu thị hạng II
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 2.000m2 trở lên
- Có danh mục hàng hoá kinh doanh từ 10.000 tên hàng trở lên
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Diện tích từ 500m2 trở lên
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 1.000 tên hàng trở lên
Siêu thị hạng III
Siêu thị kinh doanh tổng hợp phải đảm bảo các tiêu chuẩn cơ bản sau:
- Có diện tích kinh doanh từ 500m2 trở lên
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 4.000 tên hàng trở lên
Đối với siêu thị chuyên doanh, tiêu chuẩn cơ bản là:
- Diện tích từ 500m2 trở lên (như siêu thị tổng hợp)
- Có Danh mục hàng hoá kinh doanh từ 500 tên hàng trở lên
Phân theo hàng hóa kinh doanh
Siêu thị tổng hợp: siêu tị bán nhiều loại hàng hóa cho mọi khách hàng.Hiện nay siêu thị tổng hợp đang ngày càng phát triển, có những siêu thị từ vàinghìn đến vài chục ngàn loại hàng hóa được bày bán trong siêu thị Những siêuthị này cung cấp một chuỗi hoàn chỉnh những mặt hàng tổng hợp, từ thựcphẩm, dụng cụ gia đình, các mặt hàng tiêu dùng đến quần áo, giày dép…đápứng mọi nhu cầu
Siêu thị chuyên doanh: là siêu thị bán một hoặc một số hàng hóa củamột ngành nào đó Một số loại siêu thị chuyên doanh như: siêu thị máy tính,siêu thị điện thoại di động, siêu thị trái cây, siêu thị điện máy, siêu thị sách,siêu thị đĩa ốc… siêu thị chuyên doanh cung cấp các loại hàng hóa có tínhchuyên sâu cao, có tính đặc thù của ngành hàng mà không một ngành hàng nào
có thể cung cấp
Trang 9 Siêu thị kinh doanh độc lập: các siêu thị hoạt động đơn lẻ, thương nhân
có thế mạnh mặt hàng nào thì kinh doanh mặt hàng đó, không có sự kiên kếtvới các siêu thị khác để bổ sung nguồn hàng cho nhau
Chuỗi siêu thị: là mô hình siêu thị mà một doanh nghiệp có thể mởnhiều siêu thị ở các địa điểm khác nhau, kinh doanh các mặt hàng tương tựnhau và chịu sự thống nhất quản lý của doanh nghiệp kinh doanh siêu thị Việcthành lập chuỗi siêu thị giúp doanh nghiệp tối ưu hóa hiệu quả kinh doanhthông qua sử dụng hệ thống hậu cần (logistics) và điều hành chung
Phân loại theo phương thức kinh doanh
Siêu thị bán buôn
Kinh doanh phục vụ các khách hàng làm kinh doanh bao gồm nhà sảnxuất, chế tạo, những người bán sỉ khác, nhà bán lẻ, các công ty dịch vụ: nhàhàng, khách sạn và bất cứ khách hàng chuyên nghiệp nào khác
Đáp ứng mọi nhu cầu kinh doanh bao gồm nhu cầu bán lại và chế biến,nhu cầu đầu tư và tất cả các nhu cầu bổ sung khác để phục vụ kinh doanh
Siêu thị bán buôn là bán hàng tới các đơn vị kinh doanh khác có cùngchức năng trong thệ thống cung ứng Bán không giới hạn ở mức độ bán đếnngười bán lại mà bao gồm cả việc bán hàng đến tất cả các loại hình kinh doanhbất kể họ có bán lại, có chế biến hoặc chỉ sử dụng hàng hóa này cho mục đíchchuyên môn nào đó Chính vì thế mà siêu thị bán buôn đóng vai trò quan trọngtrong hệ thống phân phối
Siêu thị bán lẻ
Là siêu thị bán hàng trực tiếp tới mọi đối tượng, đến người tiêu dùngcuối cùng, đó là các người tiêu dùng cá nhân, các hộ gia đình Chức năng chủyếu của các siêu thị này là tiếp xúc với khách hàng, phát hiện nhu cầu tiêudùng, thu thập thông tin thị trường và chuyển các thông tin này tới tay nhà sảnxuất, thực hiện bán hàng, quảng cáo và trưng bày sản phẩm, phân chia và sắpxếp hàng hóa thành những khối lượng phù hợp với người mua; dữ trữ hàng hóa
sẵn sàng cung cấp cho người tiêu dùng, cung cấp dịch vụ cho khách hàng 2.1.2 Vị trí, vai trò của siêu thị trong hệ thống phân phối hiện đạị
Trang 102.1.2.1 Vị trí của siêu thị trong mạng lưới tiêu thụ
Trong những năm gần đây, cùng với sự phát triển kinh tế- xã hội, ngàycàng có nhiều mô hình phân phối hàng hóa hiện đại của các nước phát triểntrên thế giới thâm nhập vào Việt Nam, đáp ứng được phần nào nhu cầu muasắm ngày càng cao của người tiêu dùng trong nước tại các đô thị lớn, đồng thờigóp phần hoàn thện hệ thống lưu thông-phân phối hàng hóa theo xu hướng hộinhập kinh tế quốc tế của nền thương mại Việt Nam
Nếu như trước kia tỷ lệ hàng bán trong siêu thị chiếm tỷ trọng từ 100% nhập khẩu nay chỉ còn khoảng 70% và tỷ lệ này càng thấp đi Điều nàycho thấy siêu thị ngày càng đóng vai trò quan trọng hơn trong hệ thống phân
95-phối hàng hóa của Việt Nam Siêu thị đã tìm thấy chỗ đứng trên thị trường Việt
Nam, góp phần tạo dựng nền văn minh thương mại tại các địa phương và đáp
ứng nhu cầu tiêu dùng trong đời sống hiện đại Siêu thị chiếm một vị trí quan
trọng trong hệt hống phân phối Nếu như trước đây, người tiêu dùng phải dichuyển rất nhiều nơi, đi đến rất nhiều địa điểm bán hàng mới có thể mua đủ cácloại hàng hóa mà mình mong muốn thì hiện nay đi siêu thị người tiêu dùng cóthể mua được mọi loại hàng hóa cần thiết
Siêu thị là cầu nối quan trọng giữa sản xuất và tiêu dùng Siêu thị giúpgiải quyết được nhiều mâu thuẫn trong kênh phân phối hàng hóa
Siêu thị là một loại của hàng riêng nằm trong hệ thống mạng lưới bán lẻhàng hóa và dịch vụ, với mặt hàng kinh doanh chủ yếu là các hàng hóa thuộcnhu cầu hàng ngày
Ở các nước phát triển, siêu thị là một thành phần không thể thiếu trongmạng lưới bán lẻ hàng hóa Siêu thị đã trở nên quen thuộc trong đời sống hàngngày của người dân
Hiện nay tại các thành phố, khu đô thị và khu công nghiệp, sức tiêudùng cá nhân tăng nhanh chóng Số lượng người nước ngoài và Việt kiều đếnViệt Nam du lịch, đầu tư làm ăn ngày càng nhiều Việc đáp ừng nhu cầu tiêudùng của tầng lớp khách hàng này đang trở nên cần thiết Trên thực tế, vớinhững thuận lợi trong việc đáp ứng nhu cầu hàng hóa của người dân, các siêu
Trang 11ngày càng sẵn sàng đi mua sắm tại các siêu thị, nên siêu thị ngày càng có vị tríquan trọng trong trong hệ thống bán lẻ hàng hóa, đặc biệt là hệ thống bán lẻquy mô hiện đại.
2.1.2.2 Vai trò của siêu thị
Vai trò của siêu thị trong nền kinh tế
- Thúc đẩy sự luân chuyển nhanh chóng hàng hóa từ nhà sản xuấtđến người tiêu dùng
- Phục vụ nhu cầu đa dạng của đa số tầng lớp người tiêu dùng
- Góp phần giải quyết việc làm cho người lao động
- Nâng cao đời sống vật chất tinh thần cho các tầng lớp dân cư xãhội
Vai trò của siêu thị trong hệ thống bán lẻ và sản xuất hàng hóa.
Trong hệ thống bán lẻ:
- Họat động siêu thị làm tăng mức độ cạnh tranh trong lĩnh vực bán lẻ.
- Siêu thị có điều kiện thuận lợi để nắm bắt nhu cầu khách hàng Góp
phần giúp hàng hóa lưu chuyển đúng chỗ, đúng lúc, đúng người.
- Siêu thị đóng vai trò cầu nối giữa nhà sản xuất và người tiêu dùng
- Giúp nhà sản xuất quảng cáo giới thiệu sản phẩm mới đến người tiêudùng
- Giúp nhà sản xuất mở rộng thị trường tiêu thụ
- Giúp đưa sản phẩm đến người tiêu dùng
- Đối với Việt Nam, siêu thị còn là một kênh quan trọng để tiêu thụ vàquảng bá cho thương hiệu hàng Việt Nam chất lượng cao
Đối với người tiêu dùng:
- Siêu thị với phuơng thức bán hàng văn minh hiện đại, nhiều chuơngtrình khuyến mãi, nghệ thuật trưng bày hàng hóa đẹp mắt giúp kích thích nhucầu người tiêu dùng
- Siêu thị đang dần thay thế các loại hình truyền thống để phục vụ nhu cầu
đa dạng của người tiêu dùng
Trang 12- Siêu thị nghiên cứu nhu cầu người tiêu dùng để có chính sách phân phốihàng hợp lý.
Tóm lại, các siêu thị tổng hợp và chuyên doanh có vai trò quan trọngtrong việc giải quyết được rất nhiều mâu thuẫn giữa sản xuất và tiêu dùng hànghóa:
Trong quá trình phân phối hàng hóa các siêu thị nắm bắt được nhu cầuthực tế của thị trường cả về sản phẩm, thời gian và không gian nên có thểchuyển tải những thông tin cần thiết về nhu cầu thị trường cho những người sảnxuất và cung ứng hàng hóa Điều này tạo lập cầu nối để dẫn dắt người sản xuấtđịnh hướng và nhu cầu thị trường, giảm thiểu các tầng, các lớp trung gian trong
hệ thống phân phối, do đó sẽ có mức giá bán lẻ thấp nhất trong mạng lưới bán
lẻ hàng hóa thông thường
Cách thức tổ chức các quá trình phân phối sản phẩm của siêu thị sẽ giảiquyết các mâu thuẫn cố hữu của nền kinh tế Các chức năng chính của siêu thị
là mua và bán, vận chuyển, lưu kho, tiêu chuẩn hóa và phân loại, tài chính, chịurủi ro, thông tin thị trường
Siêu thị thực hiện chức năng tài chính cung cấp tiền mặt và tiến dụngcần thiết cho hoạt động sản xuất hàng hóa Ví dụ: siêu thị Metro đã cung cấp tàichính cho các hộ nông dân sản xuất rau sau đó mua lại rau để bán trong siêuthị
Siêu thị là người chia sẻ rủi ro với các nhà sản xuất Nếu như trước kiacác nhà sản xuất tự phân phối hàng hóa và tự gánh chịu rủi ro đối với hàng hóacủa mình thị hiện nay một số siêu thị thường mua đứt hàng hóa của các doanhnghiệp (với giá thấp) sau đó tự chịu trách nhiệm bảo hành, vận chuyển hànghóa đối với khách hàng nhằm thu được lợi nhuận cao hơn Do đó siêu thị chia
sẻ một phần rủi ro với các nhà sản xuất
Siêu thị là nơi cung cấp thông tin thị trường, do bán hàng tiếp cho kháchhàng nên các siêu thị là người hiểu rõ nhất nhu cầu của khách hàng, những thayđổi về thị hiếu của khách hàng để từ đó cung cấp thông tin phản hồi cho đối vớinhà sản xuất, tác động đến sản xuất để các nhà sản xuất có thể tạo ra các sản
Trang 13Ngoài ra siêu thị còn giữ một số vai trò khác như: hoàn thiện thiện thêmsản phẩm, có thể là bao gói, gắn nhãn mác hoặc đóng hộp Một số siêu thị cònthực hiện một số công đoạn chế biến một phần đặc biệt là hàng thực phẩm.Ngoài ra siêu thị còn giữ vai trò tạo dựng và duy trì mối quan hệ với nhữngngười mua tiềm năng.
2.1.3 Tình hình phát triển siêu thị trên thế giới và xu hướng phát triển 2.1.3.1 Tổng quát về các giai đoạn phát triền của hệ thống siêu thị trên thế
giới:
Qua khảo sát hệ thống phân phối ở các nước châu Âu, châu Mỹ người tathấy sự ra đời của siêu thị là đổi mới của phương thức bán hàng từ những cửahàng tổng hợp cuối thế kỷ 19 đầu thế kỷ 20
Pháp
Cửa hàng lớn đầu tiên là La Bell Jardi-niere, do Piere Parissot thành lập ởParis 1824 có phương thức bán hàng, nhấn mạnh đến khâu các mặt hàng củaông đều được bán theo giá cố định và bán thu tiền mặt; làm đảo lộn các tậpquán mua bán từ trước là dựa trên 2 nguyên tắc lớn: sự mặc cả về giá hàng giữangười bán - người mua và bán chịu
Năm1852 Au Bon Marche’ do Aristide Boucicaut cùng với cộng sự làJustin Videau sáng lập, có đặc trưng giống siêu thị, tiên phong trong việc ápdụng phương thức bán hàng cải tiến so với những phương thức truyền thống đã
có từ truớc: hàng hóa được niêm yết giá và dán rõ ràng, nhiều loại hàng hóa,quảng cáo, lợi nhuận thấp (13,5%) để giám giá bán làm tăng doanh thu bánhàng, khách hàng tự do tiếp xúc, xem xét hàng hóa và không bắt buộc phảimua
Bardour là người khai trương siêu thị đầu tiên tại Pháp, là chuỗi cửa hàngliên nhánh Goulet Tourpin mở ra vào năm 1957 tại Reuil Malmaison Đến
1973 thì đã có hàng nghìn siêu thị tại Pháp Các nhà bán lẻ Pháp đã phát triểnthành các đại siêu thị (hypermarket) Đại siêu thị đầu tiên có tên là: Carrefourkhai trưong ngày 15/06/1963 tại Sainte Genevieve-des Bois, Paris Hiện nayCarrerfour là nhà bán lẻ lớn thứ hai thế giới sau Wal-Mart Đến nay có hơn
Trang 141300 đại siêu thị ở Pháp, trong đó 6 cái lớn nhất là: Carrefour, Leclerc,Intermarche, Casino, Auchan và Cora ( Nguồn: The future of marketing’s past).
Mỹ
Ý tưởng giảm giá bán, giảm lợi nhuận biên để tăng doanh thu – nguồn gốccủa phương thức kinh doanh siêu thị -thực sự ra đời ở Mỹ năm 1879, “Great 5cts”do Frank WoolWorth sang lập Các cửa hàng đầu tiên thuộc dạng này cómặt ở Anh năm 1909 và Pháp 1927
Siêu thị đầu tiên ra đời 4/8/1930 tại Mỹ do Michael Cullen sáng lập Giábán thấp song có tốc độ quay vòng hàng hóa nhanh và mức lợi nhuận khoảng9-10% Theo M.Cullen, công thức chung cho một siêu thị là:
Hàng thực phẩm và đồ gia dụng + Giá rẻ + Tự phục vụ + Chi phí thấp + Bãi đỗxe
Những chuỗi cửa hàng bán lẻ khác cũng được thành lập năm 1930 nhưKrogger và Safeway lúc đầu chống lại ý tưởng của Cullen, nhưng cuối cùngcũng tự xây dựng siêu thị theo công thức chung như Cullen đã nói ở trên Tuynhiên Kroger có sáng kiến hơn khi xây dựng siêu thị đầu tiên với bốn mặt đều
là bãi giữ xe
Siêu thị nhanh chóng lan rộng ra khắp Mỹ cùng với sự phát triển củangọai ô sau chiến tranh thế giới II, 1962 cửa hàng đầu tiên của Wal-Mart – tậpđoàn bán lẻ lớn nhất thế giới- ra đời Doanh thu của WalMart là 1 tỷ USD mộtngày, 42 triệu USD một giờ, từng giờ của từng ngày trong năm
Các nước Châu Á
Ở châu Á, do sự phát triển kinh tế chậm nên siêu thị cũng xuất hiện muộnhơn Siêu thị chính thức có mặt tại các quốc gia châu Á cùng với sự khởi sắccủa nền kinh tế châu Á Dẫn đầu là Nhật, Đài Loan, Hàn Quốc, HôngKông,Singapore Dần dần siêu thị phát triển rộng khắp các nuớc châu Á khác
2.1.3.2 Tốc độ phát triển siêu thị trên thế giới
Các siêu thị ở những nước Châu Âu đang ở trong giai đoạn bão hòa,thậm chí suy thoái đối với những siêu thị đầu tiên trước sự nổi lên của các loạicửa hàng chuyên doanh với tập hợp hàng hóa hẹp nhưng sâu, có quy mô ngày
Trang 15châu Á, siêu thị mới đang ở giai đọan hình thành hoặc đang bắt đầu phát triển.Những thị trường đang bước vào thời kỳ phát triển của thương nghiệp bán lẻhiện đại như Tây Ban Nha, Bồ Đào Nha , Hy Lạp, Maroc và các nước Đông
Âu Những thị trường tiềm năng lớn trong tương lai là các nước Châu Á nhưTrung Quốc, Đài Loan, Hàn Quốc, Thái Lan, Singapore, Malaysia, ViệtNam…
Ở Châu Á
Siêu thị của Trung Quốc đã phát triển rất mạnh vào đầu thập kỷ 90, với tốc
độ tăng trưởng bình quân hàng năm khoảng 70% Thái Lan: hiện nay hệ thốngbán lẻ hiện đại của Thái Lan có tốc độ tăng trưởng nhanh hơn tốc độ tăngtrưởng của hệ thống bán lẻ truyền thống Siêu thị ở Thái Lan chủ yếu tập trung
ở Băng Cốc Tại Băng Cốc có đến 75% siêu thị trong khi đó dân số của khuvực này chỉ chiếm 20% dân số của Thái Lan
Các nước Châu Mỹ La tinh
Từ chỗ các nước chỉ có một vài siêu thị ở thủ đô trong giai đoạn những năm1960-1980, đến cuối thập kỷ 1980 và suốt thập kỷ 1990, người ta đ đượcchứng kiến sự phát triển ngoạn mục của hệ thống chuỗi siêu thị, từ các nướclớn và giàu có cho tới những nước nhỏ và nghèo hơn Các tập đoàn siêu thị đaquốc gia, như Wal-Mart, Carrefour, và Ahold, là những nhà đầu tư trực tiếpnước ngoài chi phối hệ thống bán lẻ ở Châu Mỹ La Tinh Vào giữa những năm
1990, hệ thống chuối siêu thị đã lan tới các thành phố cấp hai của các nước.Đến cuối những năm 1990, hệ thống siêu thị đã thu hút được ngay cả nhữngkhách hàng có thu nhập thấp
2.1.3.3 Các xu hướng phát triển
Thứ nhất, ngày nay hầu hết mọi nơi đều phát hành những lọai thẻ đặcbiệt của cửa hàng như: thẻ thành viên (membership card), thẻ câu lạc bộ (clubcards), thẻ khách hàng thân thiết (loyalty cards) Những khách hàng sở hữu cáclọai thẻ này sẽ được hưởng ưu đãi giảm giá chiết khấu trên một số món hàngnhất định
Trang 16Thứ hai, giảm giá cho khách hàng mua số lượng lớn Ngày nay, siêu thịthường cung cấp một lượng hàng hóa và dịch vụ đa dạng bên cạnh các mặthàng thực phẩm.
Thứ ba, xu hướng quốc tế hóa trong ngành thương nghiệp bán lẻ toànthế giới đã diễn ra theo những hướng chính là từ Bắc Âu sang Nam Âu; từ Mỹsang Tây Âu; ngược lại, từ Tây Âu sang Mỹ; từ Tây Âu, Mỹ sang Đông Âu,
Mỹ Latinh và Châu Á Quốc tế hóa được tiến hành dưới nhiều hình thức:
- Đầu tư trực tiếp và thành lập những chi nhánh độc lập tại nước ngoàidưới hình thức các cửa hàng, siêu thị, đại siêu thị 100% vốn của công ty mẹ.Những tập đoàn đi theo hướng này là Carrefour và Promodes
- Mua lại hoặc sát nhập với các hàng bán lẻ khác ở nước ngoài và nắm giữmột tỷ lệ vốn nhất định Ví dụ: Tập đoàn Dock de France mua lại các cửa hàngtiện dụng của hai hãng Lilchamp Foodstores và Huntley’s Jiffy ở vùng ĐôngNam nước Mỹ…
- Kết hợp đồng đặc quyền kinh tiêu Ví dụ, theo cách này, hàng chục cửahàng mang bảng hiệu Printemps đã được nhân rộng ở Bồ Đào Nha, Ảrập Xêút,Thổ Nhĩ Kỳ, Thái Lan, Đài Loan, Nam Triều Tiên, Trung Quốc
- Mỗi quốc gia có những nét đặc trưng riêng trong quá trình quốc tế hóangành công nghiệp phân phối Nếu như “cửa hàng hạ giá” là loại hình cửa hàngđược các công ty bán lẻ Đức áp dụng nhiều nhất khi mở rộng ra nước ngoài,các công ty Mỹ nổi tiếng với phương thức trung tâm phân phối và Hà Lan đượcbiết đến với truyền thống kinh doanh siêu thị, hiện tại siêu thị là loại cửa hàngđược nước Pháp ưu ái nhất khi tiến ra các thị trường nước ngoài
2.1.4 Sự ra đời và kinh nghiệm kinh doanh của siêu thị một số nước trên thế giới
2.1.4.1 Trung Quốc
Thị truờng bán lẻ Trung Quốc (TQ) có nhiều điểm tuơng đồng với ViệtNam vể đặc điểm thị trường, thói quen mua sắm của người tiêu dùng Ngay từnăm 1992 Chính phủ TQ đã cho phép các doanh nghiệp (DN) nước ngoài đầu
Trang 17khoảng 40 tập đoàn phân phối lớn của nước ngoài tràn vào khai thác thị trườngnước này, hơn 60% doanh thu rơi vào tay họ, đặt các tập đoàn bán lẻ của TQvào tình thế phá sản Chính phủ TQ ban hành Pháp lệnh bán lẻ và đưa ra một
số quy định nhằm hạn chế sự phát triển siêu thị của các tập đoàn nước ngoàiđang đầu tư mở thêm siêu thị ở Trung Quốc như hạn chế về diện tích kinhdoanh, hạn chế về số lượng siêu thị tại một tỉnh hay một thành phố thông quaquy hoạch
Đây là một phương pháp quản lý mà Việt Nam nên học tập trong giaiđoạn đầu mở cửa thị trường phân phối của Việt Nam Nuớc ta đã chính thức
mở cửa vào 1/1/2009 nhưng hiện nay vẫn chưa xây dựng Bộ luật nào để điềuchỉnh hoạt động siêu thị ngoại trừ Quy chế siêu thị, trung tâm thương mại(TTTM) đã bán hàng từ thời điểm 2004 Kinh nghiệm cho Việt Nam là nênsớm biên soạn một Bộ luật riêng về bán lẻ để điều tiết thị truờng, và dùng ENT(Economic Needs Test) như một công cụ hữu hiệu để hạn chế tốc độ phát triểnquá ồ ạt của siêu thị nước ngoài Điểm yếu của các DN bán lẻ của Trung Quốc
là nhiều nhưng thường có quy mô nhỏ Và giải pháp của TQ là Chính phủ chọnmột số doanh nghiệp bán lẻ lớn (dựa trên thành tích hoạt động kinh doanh,thuộc các thành phần kinh tế) để hỗ trợ phát triển Với sự hỗ trợ này nhiềudoanh nghiệp kinh doanh siêu thị của Trung Quốc đã phát triển rất nhanh và thịphần của siêu thị ngày càng tăng trong hệ thống bán lẻ hàng hoá Áp dụng ởViệt Nam, Nhà nuớc nên chọn ra những DN bán lẻ lớn như CoopMart,Maximark để hỗ trợ các DN này lớn mạnh hơn để cạnh tranh với những tậpđoàn nước ngoài hùng mạnh
2.1.4.2 Thái Lan
Không giống như siêu thị của một số nước phát triển khác siêu thị củaThái Lan thường nằm trong các trung tâm thương mại (TTTM) TTTM là loạihình phát triển nhất và thu hút nhiều khách hàng nhất của nước này Các siêuthị trong nuớc liên doanh với các siêu thị của nước ngoài để cạnh tranh với cácđại siêu thị và các loại hình bán lẻ truyền thống Đối thủ cạnh tranh chủ yếu củacác siêu thị là các chợ truyền thống Thái Lan cũng có lúc 80% thị phần bán sỉ
và lẻ nằm trong tay các tập đoàn nước ngoài và Chính phủ nước này đã phải
Trang 18điều tiết bằng cách chỉ cho các tập đoàn nước ngoài được mở từng siêu thịriêng lẻ, không cho hình thành chuỗi liên kết để chi phối thị trường Chính Phủcũng ban hành quy định về thương mại công bằng đối với các siêu thị nhằmngăn chặn tình trạng hạ giá quá nhiều để chiếm lĩnh thị trường Ngoài ra TháiLan cũng thành lập Liên minh bán lẻ để giúp các siêu thị truyền thống trongnước làm quen với các hình thức bán lẻ hiện đại và giúp các siêu thị nhỏ trongnước có được quyền lực thị trường tương đương với các siêu thị lớn của nướcngoài Áp dụng vào trường hợp ở Việt Nam, Nhà nuớc mở cửa cho DN phânphối nuớc ngoài xây dựng nhưng chỉ cho xây dựng siêu thị đầu tiên, từ siêu thịthứ 2 trở đi nên xem xét kỹ, khống chế DN phân phối nuớc ngoài hình thànhchuỗi liên kết để chi phối thị trường Cũng như Liên minh bán lẻ Thái Lan,Hiệp hội các nhà bán lẻ Việt Nam(AVR) nên tăng cuờng mối liên kết và nhữnghọat động hỗ trợ DN bán lẻ Việt Nam.
2.1.5 Sự ra đời và phát triển hoạt động kinh doanh của các siêu thị ở Việt Nam
2.1.5.1 Thực trạng phát triển siêu thị ở Việt Nam
Do đặc trưng lịch sử phát triển kinh tế, siêu thị tại Việt Nam ra đời khámuộn Quá trình hình thành và phát triển của siêu thị Việt Nam trải qua cácthời kỳ:
Thời kỳ 1993 - 1994: Những siêu thị đầu tiên ra đời tại thành phố HồChí Minh
Thời kỳ 1995 - 1997: Mở rộng ra các thành phố lớn trên cả nước: Trongthời kỳ này bắt đầu có sự xuất hiện của các siêu thị ở Hà Nội vào đầu năm1995
Từ năm 1998 đến nay: Cạnh tranh, đào thải và chuyên nghiệp hơn: Do
sự xuất hiện ồ ạt, kinh doanh không bài bản, thiếu kiến thức thương nghiệp vàphải cạnh tranh với các hình thức bán lẻ truyền thống như chợ, cửa hàng, hàngrong và cạnh tranh lẫn nhau nên rất nhiều siêu thị đó đã vỡ nợ, phá sản, làm ănthua lỗ và có nguy cơ phá sản Những siêu thị còn tồn tại và phát triển là nhờ
Trang 19Có nhiều siêu thị (cũng như trung tâm thương mại) không đáp ứng đủđiều kiện kinh doanh theo quy định như: diện tích kinh doanh chưa đạt mức tốithiểu; bảo quản hàng hoá không đúng quy trình; thiếu các điều kiện cần thiết đểphục vụ khách hàng (khu vệ sinh, khu giải trí).
2.1.5.2 Các vấn đề đặt ra với phát triển siêu thị ở Việt Nam
Đối với quản lý nhà nước:
Cần có chính sách quản lý phù hợp để đảm bảo cạnh tranh công bằng.Hện nay một số siêu thị lớn của nước ngoài như Meetro, BigC, thị trường phânphối của Việt Nam sẽ được mở cửa Các doanh nghiệp Việt Nam sẽ phải chịu
áp lực cạnh tranh từ các nhà bán lẻ nước ngoài Các hình thức bán lẻ truyềnthống đang có nguy cơ mất thị trường do không thể cạnh tranh với các tập đoànbán lẻ nước ngoài Các chính sách có thể là các quy định về liên doanh, đất đai,các tiêu chuẩn về môi trường
Ban hành cơ chế quản lý các nhà phân phối nước ngoài Kết hợp quản lýsiêu thị với quản lý đất đai quy hoạch Thực hiện chính sách hỗ trợ hệ thốngsiêu thị trong nước Các chính sách liên quan tới hợp đồng tiêu thụ hàng hóa
2.1.6 Các chỉ tiêu đánh giá điều kiện kinh doanh siêu thị
Vị trí đặt siêu thị
Vị trí đặt siêu thị đóng vai trò lớn đối với việc kinh doanh Nếu đặt ở vịtrí thuận lợi: rìa các chục đường lớn, nơi có điều kiện kinh tế phát triển, nhiềudân cư sinh sống, thuận tiện cho việc mua sắm thì đảm bảo siêu thị sẽ thu hútđược nhiều khách hàng đến với mình hơn là những siêu thị đặt ở vị trí xa trungtâm kinh tế, xây dựng bị khuất lấp bởi các công trình khác và đặt tại nơi ít dân
cư, kém phát triển thì nhu cầu mua sắm sẽ ít và kinh doanh sẽ kém phát triển
Diện tích kinh doanh
Diện tích kinh doanh của các siêu thị là diện tích sàn (kể cả lối đi lại)của các tầng nhà dùng để bố trí các hoạt động kinh doanh của Siêu thị Nếudiện tích kinh doanh càng lớn thì sẽ mở rộng được quy mô kinh doanh của siêuthị, đa dạng hóa nhiều loại sản phẩm khác nhau và sáng tạo các cách trưng bàyhàng khác nhau thu hút được người mua hàng Điều kiện bố chí các hoạt độngkinh doanh trong siêu thị Bên cạnh đó đáp ứng một trong số các tiêu chuẩn về
Trang 20siêu thị theo quy chế siêu thị, trung tâm thương mại (Ban hành kèm theo Quyếtđịnh số 1371/2004/QĐ-BTM ngày 24 tháng 09 năm 2004 của Bộ trưởng BộThương mại) cũng phần nào đánh giá được quy mô của siêu thị to hay nhỏ.
Hệ thống kho và trang thiết bị phục vụ kinh doanh
Hệ thống kho bãi rộng rãi, đầy đủ phương tiện bảo quản, có ý nghĩaquan trong công tác bảo quản hàng hóa tránh bị hao hụt và dự trữ hàng hóađảm bảo cho hoạt động bán hàng tại siêu thị diễn ra liên tục
Trang thiết bị: hệ thống máy móc hiện đại, trang thiết bị để bảo quản vàtrưng bày hàng hóa đầy đủ, chất lượng thì sẽ phục vụ cho hoạt động kinh doanhdiễn ra thuận lợi hơn
Nhân sự
Nhân sự trong bất kỳ doanh nghiệp nào cũng rất quan trọng, nhất làtrong doanh nghiệp thương mại Đối với siêu thị thì tất cả các hoạt động đềuphụ thuộc vào khả năng làm việc của nhân viên siêu thị
Với đội ngũ nhân viên được đào tạo chuyên nghiệp, tác phong làm việcnhanh nhẹn, nhiệt tình thân thiện với khách hàng; giỏi chuyên môn sẽ thu hút
và thõa mãn ngày một tốt hơn nhu cầu của khách hàng, góp phần đưa hoạtđộng kinh doanh của siêu thị ngày một phát triển đi lên Ngược lại thì sẽ làmcho hoạt động kinh doanh của siêu thị kém hiệu quả; không đạt được nhữngnhiệm vụ đã đề ra
2.1.7 Các chỉ tiêu kinh tế đánh giá kết quả và hiệu quả hoạt động kinh doanh siêu thị
2.1.7.1 Doanh thu
Doanh thu bán hàng là tổng giá trị được thực hiện do việc bán hàng hóa,sản phẩm cung cấp lao vụ, dịch vụ cho khách hàng Tổng số doanh thu bánhàng là số tiền ghi trên hoá đơn bán hàng, trên hợp đồng cung cấp lao vụ, dịch
vụ
Doanh thu = Số lượng hàng hoá, sản phẩm tiêu thụ trong kỳ * Đơn giá bán
Doanh thu đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động kinh doanh của
Trang 21thu bán hàng phản ánh qui mô của quá trình sản xuất, phản ảnh trình độ tổ chứcchỉ đạo sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Bởi lẻ nó chứng tỏ sản phẩmcủa doanh nghiệp được người tiêu dùng chấp nhận.
2.1.7.2 Lợi nhuận
Lợi nhuận của doanh nghiệp là biểu hiện bằng tiền của bộ phận sảnphẩm thặng dư do người lao động tạo ra trong quá trình sản xuất kinh doanh.Lợi nhuận của doanh nghiệp cơ bản được xác định như sau:
P = DT – CPP: Lợi nhuận của doanh nghiệp trong kỳ
DT: doanh thu của doanh nghiệp trong kỳ
CP: Chi phí bỏ ra trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh
Lợi nhuận là nguồn gốc của tái sản xuất mở rộng kinh doanh, là đòn bẩykinh tế quan trọng có tác dụng khuyến khích người lao động nâng cao hiệu quảkinh doanh trên cơ sở chính sách phân phối hợp lý và đúng đắn
Lợi nhuận trong doanh nghiệp được hình thành từ các nguồn:
- Lợi nhuận từ hoạt động kinh doanh: lợi nhuận này được thu từ hoạtđộng bán hàng của doanh nghiệp hoặc từ các hoạt động dịch vụ thương mại Bộphận lợi nhuận này chiếm chủ yếu trong tổng số lợi nhuận của doanh nghiệp
- Lợi nhuận từ hoạt động tài chính: lợi nhuận này được xác định bằngchênh lệch giữa các khoản thu chi về hoạt động tài chính
- Lợi nhuận bất thường: những khoản lợi nhuận mà doanh nghiệp không
dự tính trước hoặc dự tính đến nhưng ít có khả năng thực hiện hoặc nhữngkhoản thu không mang tích chất thường xuyên
2.1.7.3 Mức doanh lợi trên doanh số bán
P1 = (P/DS) * 100%
P1: Mức doanh lợi trên doanh số bán ra trong kỳ
P: lợi nhuận trong kỳ
Trang 22P2 = (P/VKD) *100%
P2: mức lợi nhuận của vốn kinh doanh trong kỳ
P: lợi nhuận trong kỳ
VKD: tổng vốn kinh doanh trong kỳ
Chỉ tiêu này cho biết hiệu quả sử dụng vốn trong kỳ Một đồng vốn kinhdoanh bỏ ra mang lại bao nhiêu đồng lợi nhuận
2.1.7.5 Mức doanh lợi trên chi phí kinh doanh
2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: tổng hợp, thống kê, chọn lọc thông tin từ các
dữ liệu khác như: báo, tạp chí, các luận văn, luận án, trên các phương tiệ thôngtin đại chúng…
- Thu thập số liệu sơ cấp: hỏi chuyên gia, người quản lý, hỏi ý kiến khách
Nhân tố ảnh hưởng:
Môi trường vĩ mô
Môi trường vĩ mô
Nguồn lực của công ty
Hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu
Hoạt động mua hàng:
Hình thức mua hàng
Lựa chọn nhà cung cấp
Hoạt động bảo quản
và dự trữ hàng hóa
Hoạt động tiêu thụ:
Hoạt động bán hàng
Hoạt động
marketing
Trang 23 Điều tra khách hàng đến mua hàng tại siêu thị Với số mẫu điều tra là
50 mẫu Bằng cách phát phiếu điều tra để thu thập thông tin khách hàng vềnghề nghiệp, giới tính, tần suất đến siêu thị để mua hàng của khách hàng,những cảm nhận của khách hàng về chất lượng, sự đa dạng và giá cả của hànghóa tại siêu thị Kiểu như thế nào
Phỏng vấn trực tiếp giám đốc siêu thị, trưởng phòng kinh doanh vànhân viên siêu thị về hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu
2.2.3 Phương pháp phân tích
- Sử dụng phương pháp so sánh số tuyệt đối và số tương đối của các quýsau so với quý trước để thấy mức độ biến động của các chỉ tiêu theotừng quý trong năm
- Sử dụng sơ đồ, bảng biểu, hình để phân tích và xác định xu hướng
Trang 24Phần 3 THỰC TRẠNG HOẠT ĐỘNG KINH DOANH CỦA SIÊU THỊ KIỂU THUỘC CÔNG TY CỔ PHẦN
THƯƠNG MẠI THIỆU YÊN
3.1 Giới thiệu chung về siêu thị Kiểu thuộc Công ty Cổ phần thương mại Thiệu Yên
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của siêu thị Kiểu
Siêu thị kiểu là đơn vị kinh doanh phụ của Công ty cổ phần thương mạiThiệu Yên - đó là Công ty có lịch sử phát triển lâu đời Trong thời kỳ chuyểndịch cơ cấu từ bao cấp sang cơ chế thị trường cùng với sự biến động tình hìnhchính trị và kinh tế thế giới, nhất là chịu sự ảnh hưởng lớn của năm 1991, saukhi Liên Xô sụp đỗ và đã kéo theo nó là một loạt các nước XHCN ở Đông Âu,làm cho nền kinh tế nước ta gặp không ít khó khăn Nhiều doanh nghiệp khôngtrụ vững đã đãn đến phá sản hoặc rơi vào tình trạng trên bờ vực phá sản, giảithể, cán bộ công nhân viên mất việc làm, đời sống gặp không ít khó khăn
Trước tình hình khó khăn đó, để cứu cho doanh ngiệp không bị phá sản,giải thể các ban ngành chức năng và các lãnh đạo 3 đơn vị: Công ty Vật tư,Công ty ngoại thương, Công ty XNK Thương Nghiệp đã họp và đi đến thốngnhất quyết định sát nhập 3 Công ty thành 1 để duy trì, phát triển sản xuất kinhdoanh
Tháng 6/1991 sau khi các bên bàn bạc thống nhất và đi đến quyết địnhthành lập Công ty thương mại Thiệu Yên, dưới sự quản lý của Nhà nước Ông
Lê Xuân Túc làm giám đốc Từ tháng 6/1991 đến 30/09/2000 cùng với sự giảmbiên chế, bố chí lại nhân sự, đơn vị đã dần ổn định sản xuất kinh doanh, đảmbảo được vật chất, tinh thần cho cán bộ công nhân viên và đạt được những kếtquả đáng ghi nhận
Sau 10 năm đi vào ổn định và phát triển kinh doanh Thương mại, cùngvới sự mở cửa cơ chế quản lý nền kinh tế Nhà nước Nhiều đơn vị đã chuyển
Trang 25đổi cổ phần tự hoạch toán thu – chi, độc lập về kinh tế dưới sự quản lý của Nhànước, đáp ứng thời kỳ phát triển kinh tế mở cửa và hội nhập kinh tế Đất nước.
Ngày 1/10/2000, đơn vị được sự nhất trí của các ban ngành quản lý cóliên quan chính thức chuyển hình thức kinh doanh từ hoạt động sản xuất kinhdoanh dưới sự quản lý của Nhà nước sang hình thức tự độc lập sản xuất kinhdoanh hoạt động theo hình thức Công ty cổ phần, chuyển tên Công ty thànhCông ty Cổ phần Thương Mại Thiệu Yên – Thanh Hóa Trụ sở chính đóng tạiThị trấn Quán Lào, huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa Đại diện pháp nhân: ôngTrịnh Xuân Tấn – chủ tịch HĐQT, kiêm giám đốc Là một đơn vị chuyên kinhdoanh các mặt hàng:
- Hàng phân bón, giống cây trồng, thức ăn gia súc, hàng công nghệ phẩm,điện tử- điện máy- điện lạnh, dịch vụ ăn uống
- Kinh doanh vật liệu xây dựng
- Xây dựng các công trình dân dụng, giao thông, thủy lợi nhỏ
- Kinh doanh các mặt hàng xe máy, ôtô, máy móc phục vụ nông nghiệp
- Kinh doanh nhà hàng, siêu thị
Siêu thị Kiểu được khánh thành ngày 6/12/2009, siêu thị ra đời nằmtrong chiến lược phát triển kinh doanh–mở rộng ngành nghề kinh doanh củacông ty, cũng phù hợp với định hướng phát triển kinh tế xã hội của huyện,đồng thời đáp ứng được nhu cầu mua sắm văn minh hiện đại của người tiêudùng trên đại bàn huyện và huyện lân cận Siêu thị kinh doanh tổng hợp nhiềungành hàng, mặt hàng:
- Lương thực, thực phẩm: đồ uống, đồ hộp, bánh kẹo, đường sữa, café,chè, hàng đông lạnh…
- Hàng may mặc: quần áo, mũ…
- Đồ gia dụng: điện gia dụng, đồ dùng gia đình…
- Đồ điện tử: máy giặt, quạt…
- Hàng văn phòng phẩm: bút, sách, giấy…
- Hàng gia giày, túi xách, ví, cặp…
- Hàng mỹ phẩm
Trang 26Thực hiện các chức năng là đơn vị bán lẻ hiện đại trên địa bàn huyện Làcầu nối trung gian giữa người sản xuất và người tiêu dùng, cung cấp cho kháchhàng những sản phẩm cần thiết phù hợp với nhu cầu và sở thích của người tiêudùng từ đó thực hiện giá trị và giá trị sử dụng của hàng hóa Siêu thị còn là nơi
dữ trữ hàng hóa để góp phần bình ổn thị trường, cân bằng cung- cầu giá cả, bảo
vệ và quản lý chất lượng hàng hóa
Sơ đồ 1: Tổ chức bộ máy quản lý của siêu thị Kiểu
Giám đốc siêu thị là người trực tiếp tham gia quản lý và điều hành hoạtđộng kinh doanh của siêu thị, là người sẽ chịu trách nhiệm hoàn toàn trướcpháp luật về việc thực hiện các quyền và nghĩa vụ với Nhà nước
Phòng kế toán gồm 2 người làm công tác kế toán, 1 thủ quỹ, thực hiệncông tác mua bán hàng hóa trên giấy tờ hóa đơn Một người chuyên làm côngtác kế toán hàng hóa và công tác kế toán tổng hợp để báo cáo cho tổng Công ty
Phòng kinh doanh chịu trách nhiệm nghiên cứu thị trường, tìm đầu vào,thực hiện các giao dịch về hàng hóa để bán trong siêu thị Chức năng quantrọng nhất là lên kế hoạch mua hàng và bán hàng tại siêu thị
Quầy hàng may mặc, giày dép
Quầy hàng mỹ phẩm
Quầy hàng đồ điện tử
Quầy hàng văn phòng phẩm
Trang 27Phòng nhân sự và tổ chức hành chính làm công tác tổ chức, quản lýnhân sự tại siêu thị và sử lý các vấn đề về hành chính liên quan tới hoạt độngkinh doanh của siêu thị.
Mỗi tầng gồm nhiều quầy hàng, mỗi quầy sẽ bán những mặt hàng nhấtđịnh Mỗi tầng có một trưởng ngành hàng phụ trách các vấn đề chung của tầng
đó Trưởng các ngành hàng sẽ chịu trách nhiệm quản lý trực tiếp các quầy hàngvề: xác định số lượng nhập, xuất từng loại mặt hàng, trưng bày hàng hóa, kiểm
kê số lượng hàng tồn trên giá sau mỗi quý, quản lý các nhân viên bán hàngtrong quầy
Những người phụ trách các quầy hàng cụ thể thì có nhiệm vụ trong coihàng hóa tại quầy của mình: lau chùi, trưng bày, kiểm tra số lượng, trả lờikhách hàng về thông tin liên quan tới sản phẩm thuộc quầy hàng đó…
Số lượng nhân viên trong mỗi quầy sẽ phụ thuộc vào quy mô của quầy
mà nhiều hay ít Thường thì một hoặc hai người một quầy
Các phòng và các quầy hàng có mối quan hệ chức năng với nhau, ngoàicông việc chuyên môn riêng thì phải thống nhất với nhau để lập kế hoạch vềmua hàng, dự trữ và tiêu thụ sản phẩm tại siêu thị góp phần thúc đẩy hoạt độngkinh doanh của siêu thị phát triển, nâng cao hiệu quả hoạt động, tạo ra thu nhậpcao cho nhân viên trong siêu thị và công ty Cổ phần Thương Mại Thiệu Yên
3.1.2 Cơ sở vật chất kỹ thuật
Siêu thị Kiểu thuộc Công ty Cổ phần Thương Mại Thiệu Yên được xâydựng trên khu đất có tổng diện tích mặt bằng là 1850m2 Nằm tại chân cầuKiểu, thuộc phố Kiểu, xã Yên Trường, Huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa- nơiđược xem là có nền kinh tế phát triển sớm nhất trong địa bàn huyện Yên Định;cũng là nơi cửa ngõ giao thương trên địa phận của hai huyện Yên Định và VĩnhLộc.Trong đó diện tích mặt bằng siêu thị xây dựng làm nơi bán hàng là1000m2 Diện tích đất còn lại là dùng để xây dựng nhà kho, nhà ăn cho nhânviên và nơi gửi xe cho khách vào siêu thị
Trang 28Sơ đồ 2: Mặt cắt siêu thị Kiểu
ấm chén…; hàng điện tử: quạt, máy giặt,… Tầng hai bán các sản phẩm thuộchàng may mặc: quần áo, mũ, tất, ba lô, giầy dép; hàng mỹ phẩm, đồ chơi trẻem; hàng văn phòng phẩm: bút sách…; có nơi trông giữ xe và khu vệ sinh chokhách hàng phù hợp với quy mô kinh doanh của Siêu thị Có hệ thống kho vàcác thiết bị kỹ thuật bảo quản, bán hàng, thanh toán và quản lý kinh doanh tiêntiến, hiện đại…đúng tiêu chuẩn về siêu thị theo quyết định của Bộ Thương Mại
Nhà ăn
Bãi để xe
Nơibánhàng
Nhà kho
Chợ Kiểu
Đường chính
Trang 29Bảng 1: Diện tích kinh doanh của siêu thị Kiểu
(Nguồn: phòng kinh doanh siêu thị Kiểu)
Cơ sở vật chất cho việc dự trữ và bảo quản hàng hóa: nhà kho rộng400m2 có lắp đặt hệ thống thông hơi, làm khô, đèn điện để bảo quản hàng hóatránh ẩm mốc, ánh sáng làm hư hỏng sản phẩm hoặc biến đổi thành phần cácchất trong sản phẩm do nhiệt độ môi trường Hệ thống tủ lạnh để bảo quảnhàng thực phẩm: 2 tủ lạnh chuyên dùng để đựng và bảo quản hàng đông lạnh, 3
tủ đựng và bảo quản hàng sữa tươi, kem các loại
Cơ sở vật chất cho việc bán hàng và mua hàng: hai tầng của siêu thịđược lắp đặt hệ thống điện, máy điều hòa nhiệt độ, loa âm thanh, có khoảng 50
kệ hàng gồm cả kim loại và gỗ dùng để trưng bầy hàng hóa, tủ kính và các loạigiá đỡ khác Giỏ và xe đẩy hàng đủ phục vụ cho khoảng 30 lượt khách tại mộtthời điểm Trước cửa siêu thị có sân rộng 260m2 là nơi trông giữ xe cho khách,
2 tủ để đồ cho khách tới mua hàng nằm ở hai bên sân để xe với 100 ngăn đựng
Cơ sở vật chất cho nhân viên làm việc tại siêu thị: do tính chất hoạt độngcủa siêu thị là làm việc cả buổi trưa và ngày nghỉ nên Công ty đã xây nhà ănriêng khoảng 15m2 có đầy đủ bàn ghế, bát đũa, phục vụ cho việc nấu ăn trưacho nhân viên tại siêu thị
Tuy nhiên siêu thị cũng còn thiếu những trang thiết bị khác như máy hútbụi để tăng cường công tác vệ sinh, cầu thang trượt để vận chuyển hàng hóa lên
dễ dàng và thuận tiện hơn, máy camera giám sát để theo dõi tiến trình muahàng của khách và phòng chống cũng như phát hiện trộm trong siêu thị…
Siêu thị được đầu tư xây mới, đáp ứng được yêu cầu kinh doanh củasiêu thị hạng 2 theo quy định của bộ thương mại và xứng đáng là đơn vị kinhdoanh bán lẻ hiện đại trong giai đoạn hiện nay
Trang 303.1.3 Nhân sự
Lao động là một yếu tố đầu vào không thể thiếu trong quá trình sản xuấtkinh doanh, đảm bảo cho sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp nói chung.Đối với doanh nghiệp thương mại nói riêng thì yếu tố con người lại càng quantrọng hơn, tại siêu thị Kiểu để thúc đẩy hoạt động kinh doanh phát triển đem lạikết quả và hiệu quả cao thì việc lựa chọn sản phẩm hàng hóa kinh doanh, với sốlượng, chủng loại bao nhiêu sao cho hợp lý, quản lý hàng hóa sao cho không bịthừa thiếu, cách bố trí bày bán sản phẩm sao cho đẹp mắt để thu hút kháchhàng, cách thức chăm sóc khách hàng trước và sau khi mua hàng như thếnào? Tất cả các hoạt động trên đều phụ thuộc vào cách thức tư duy và làmviệc của nhân viên siêu thị Chính vì vậy mà yếu tố con người tại siêu thị luônđược coi trọng để sử dụng nguồn nhân lực sao cho đầy đủ và hợp lý Số lượng
và trình độ người lao động trong siêu thị có ảnh hưởng rất lớn đến kết quả vàhiệu quả kinh doanh của siêu thị
Từ khi thành lập tới nay không tính giám đốc siêu thị thì có 16 lao động
và không thay đổi trong thời gian qua Nhân viên làm việc tại siêu thị là nhữngngười có độ tuổi từ 20-35 tuổi; đều là những người trẻ, khỏe, có tính năng độngsáng tạo
Bảng 2: Cơ cấu lao động tại siêu thị Kiểu thuộc Công ty Cổ phần Thương
Mại Thiệu Yên
Trang 31(Nguồn: phòng nhân sự siêu thị Kiểu)
Do đặc thù của kinh doanh siêu thị chủ yếu là hoạt động bán hàng nên
số nhân viên chủ yếu là nữ giới Cụ thể, số nhân viên nữ là 13 người chiếm81,25%; trong khi số nhân viên nam là 3 người chiếm 18,75% – một người làtrưởng phòng kinh doanh, một người là trưởng nhân sự, một người là bảo vệtrong coi việc trông giữ xe Có thể thấy cơ cấu lao động về giới là tương đốiphù hợp với tính chất hoạt động kinh doanh của loại hình siêu thị
Nếu phân theo trình độ học vấn thì có thể thấy nhân viên trong siêu thị
có trình độ cao đẳng và lao động phổ thông chiếm tỷ trọng 31,25% lớn hơnnhững nhân viên có trình độ đại học và trung cấp Người có trình độ cao đẳnglàm công tác kế toán, quản lý nhân sự và trưởng các quầy hàng Người có trình
độ đại học có 2 người trong tổng số 16 người chiếm 12,5 % là những ngườilàm công tác quản lý trong siêu thị: giám đốc, trưởng phòng kinh doanh Cònnhân viên có trình độ trung cấp và lao động phổ thông thì phụ trách bên bánhàng Nói chung nhân viên trong siêu thị đa số là những người có trình độ, đãqua đào tạo, là những người trẻ, năng động, làm việc nhiệt tình… hơn nữa lạilàm việc lâu tại siêu thị đây sẽ là nguồn lao động trung thành có thể giúp choviệc kinh doanh của siêu thị ngày một đi lên, mang lai hiệu quả hoạt động caocho Công ty nếu được quan tâm và phát triển đúng mức
3.1.4 Vốn
Siêu thị Kiểu hoạt động với tổng số vốn ban đầu là gần 7,2 tỷ đồng.Trong quá trình kinh doanh siêu thị đã áp dụng phương thức thanh toán ngayvới khách hàng và thanh toán chậm với nhà cung cấp nếu có thể Điều này giúpcho siêu thị chủ động hơn về nguồn vốn dự trữ và tham gia vào các hoạt động
Trang 32Nguồn vốn của siêu thị được lấy từ phần đóng góp của các cổ đông, củangân hàng và được huy động từ các nhân viên trong công ty Cổ Phần Thươngmại Thiệu Yên Vốn kinh doanh của siêu thị Kiểu thì vốn cố định do công ty cổphẩng Thương Mại cấp vốn để xây dựng, sắp các loại tài sản cố định phục vụcho siêu thị Vốn lưu động chủ yếu là vốn vay ngân hàng và một phần là công
ty cung cấp xuống để siêu thị quản lý và theo dõi, trong số vốn của công ty thì
có phần đóng góp của cán bộ công nhân viên đóng góp, mỗi nhân viên vào làmviệc ở công ty phải đóng cho công ty một số tiền nhất định và được tính lãitheo lãi suất của ngân hàng Vốn kinh doanh của siêu thị có vốn cố định là 3 tỷđồng và vốn lưu động là hơn 4 tỷ đồng Trong vốn lưu động, vốn vay chiếm tỷ
(Nguồn: phòng kế toán siêu thị Kiểu)
Từ bảng trên ta thấy tổng vốn kinh doanh của siêu thị, vốn cố địnhchiếm 42,06 %; vốn lưu động chiếm 57,94% Trong nguồn vốn lưu động củasiêu thị thì vốn vay là 2,737 tỷ đồng chiếm 66,23% tổng số vốn lưu động củasiêu thị, gần gấp đôi vốn tự có Trong khi vốn tự có là 1,395 tỷ đồng, chiếm33,77% tổng vốn lưu động của siêu thị, điều này chứng tỏ chiến lược kinhdoanh của siêu thị đang hướng vào tận dụng nguồn lực bên ngoài để phục vụkinh doanh cho mình Việc vay nợ nhiều cũng nhiều rủi ro song trong môitrường kinh doanh ổn định thì mang lại hiệu quả cao hơn là so với vốn tự cónhiều Đây chưa phải là số vốn lớn để cho siêu thị kinh doanh, chính vì thế mà
để mở rộng kinh doanh thì siêu thị cần quan tâm tới thu hút thêm nguồn vốn từnhiều nguồn khác nhau
Trang 333.2 Thực trạng hoạt động kinh doanh của siêu thị Kiểu thuộc Công ty cổ phần thương mại Thiệu Yên trên địa bàn huyện Yên Định, tỉnh Thanh Hóa.
3.2.1 Hoạt động tạo nguồn, mua hàng
Kinh doanh thương mại là đầu tư tiền của, công sức vào hoạt động muabán hàng hóa để kiếm lời Có nghĩa là kinh doanh thương mại phải thực hiệnhoạt động mua để bán, mua hàng không phải để tiêu dùng mà mua hàng để bánlại cho người tiêu dùng trên thị trường Cũng giống như các đơn vị sản xuất,các doanh nghiệp thương mại phải chuẩn bị các yếu tố đầu vào như: vốn kinhdoanh, nguồn nhân lực và quan trọng nhất là hàng hóa, dịch vụ để thõa mãnnhu cầu mua sắm của khách hàng Tạo nguồn, mua hàng thực chất là hoạt độngđảm bảo nguồn hàng đầu vào cho kinh doanh Đây là hai hoạt động riêng biệtnhưng lại có mối quan hệ chặt chẽ với nhau trong chuỗi mắt xích đảm bảonguồn hàng cho kinh doanh
Mua hàng là hoạt động nghiệp vụ sau khi xem xét và tìm hiểu về ngườibán và cùng với chủ hàng bàn bạc và thõa thuận về điều kiện mua bán, thựchiện các thủ tục mua bán, thanh toán và các nghiệp vụ giao nhận, vận chuyển(hoạt động tạo nguồn) nhằm tạo nên lực lượng hàng hóa tại doanh nghiệp với
số lượng, chất lượng, cơ cấu đáp ứng nhu cầu của dự trữ, bán hàng phục vụkhách hàng với chi phí thấp nhất
3.2.1.1 Nguồn hàng và công tác tạo nguồn của siêu thị
a Nguồn hàng của siêu thị
Nguồn hàng của siêu thị hiện nay chủ yếu là hàng sản xuất trong nước,một số ít là hàng nhập khẩu, nhưng hàng nhập khẩu được nhập chủ yếu làthông qua các nhà phân phối Nguồn hàng của siêu thị rất phong phú và đadạng Tổng giá trị hàng sản xuất trong nước bán tại siêu thị chiếm tới hơn 80%,phương trâm kinh doanh của siêu thị là hướng tới mục tiêu “Người Việt Nam
ưu tiên dùng hàng Việt Nam”, xác định đối tượng khách hàng của siêu thị làtầng lớp trung lưu, những người có thu nhập khá trở lên, phụ nữ Chính vì vậy
mà hàng hóa đưa vào siêu thị, ban quản lý rất chú ý tới chất lượng và uy tín củasản phẩm trên thị trường Hầu hết hàng hóa đưa vào siêu thị đều được người
Trang 34tiêu dùng bình chọn là hàng Việt Nam chất lượng cao, do đó có thể nói hànghóa bán tại siêu thị có đặc điểm là hàng Việt Nam chất lượng cao Những hànghóa này không những có chất lượng cao mà còn phong phú đa dạng về chủngloại, bao bì đẹp và liên tục có sự cải tiến về chất lượng cũng như mẫu mã sảnphẩm.
Nguồn hàng theo ngành hàng
Là đơn vị kinh doanh rất nhiều mặt hàng chủ yếu phục vụ cho nhu cầusinh hoạt của người dân trên địa bàn huyện Yên Định và các vùng lân cận.Phân tích tình hình kinh doanh theo nhóm hàng và mặt hàng chủ yếu giúp chosiêu thị thấy được mặt mạnh, mặt yếu của từng nhóm hàng, mặt hàng để từ đó
có thể đầu tư vào mặt hàng kinh doanh có triển vọng đã và đang được thịtrường chấp nhận, nâng cao khả năng cạnh tranh của siêu thị với các loại hìnhkinh doanh khác trên thị trường hiện nay và hiệu quả kinh doanh của siêu thị
Nguồn hàng theo tiêu thức ngành hàng được phân ra các ngành hàng cụthể như: hàng gia dụng, hàng mỹ phẩm, hàng bánh kẹo, thực phẩm đông lạnh,
đồ uống nước giải khát và bia rượu, may mặc, đồ chơi trẻ em, hàng văn phòngphẩm, hàng thực phẩm…
Phân chia theo từng ngành hàng để siêu thị có thể quản lý các mặt hàngcho tốt, tìm cách cân đối các mặt hàng tránh tình trạng chỉ bán tập trung vàomột số mặt hàng chủ yếu mà quên đi các mặt hàng khác, không quan tâm muahàng có chất lượng,… bên cạnh đó việc phân chia hàng hóa cũng góp phầngiúp nhà quản lý siêu thị theo dõi tình hình mua hàng theo các quý, có tăng vềquy mô hay không Để từ đó có chính sách phù hợp cho việc đầu tư mở rộngquy mô kinh doanh Cũng từ việc phân tích tình hình mua hàng sẽ giúp nhàquản lý tìm hiểu nguyên nhân làm cho giá trị hàng mua về qua các quý thay đổi
và dự báo nhu cầu mua hàng cho các quý sau Có thể giá trị hàng hóa mua vàocủa quý sau cao hơn quý trước song số lượng hàng mua về chưa chắc đã tăng
mà có khi còn giảm do giá hàng hóa tăng lên Hoặc chất lượng hàng hóa đượccải thiện
Giá trị hàng hóa mua và tỷ lệ mua theo từng ngành hàng ở siêu thị Kiểu
Trang 35Bảng 4: Nguồn hàng theo tiêu thức ngành hàng
ĐVT: Triệu đồng
Ngành hàng
Quý I Quý II Quý III Quý IV So sánh
II/I III/II IV/III Giá trị TT(%) Giá trị TT(%) Giá trị TT(%) Giá trị TT(%) Tuyệt đối Tương đối (%) Tuyệt đối Tương đối (%) Tuyệt đối Tương đối (%)
8 Bánh kẹo, đường sữa 764,66 39,1 458,79 32,6 689,56 47,7 1003,8 31 -305,87 60,0 230,77 150,3 314,2 145,6
9 Dầu ăn, nước mắm 142,06 7,3 27,4 1,9 271,38 18,8 354,18 10,9 -114,66 19,3 243,98 990,4 82,8 130,5 Tổng 1955,2 100 1405,7 100 1447,1 100 3240 100 -549,43 71,9 41,39 102,9 1792,9 223,9
(Nguồn: phòng kế toán siêu thị Kiểu)
Trang 37
Nhìn tổng quát thấy hàng bánh kẹo, đường sữa chiếm tỷ trọng lớn nhấttrong tổng giá trị hàng nhập vào ở các quý (trên 30%); tiếp đó là đến hàng máymặc, đồ gia dụng, hàng đồ uống (bao gồm cả bia rượu và nước giải khát) trungbình chiếm hơn 10% tổng số giá trị hàng nhập vào mỗi quý Ngành hàng mỹphẩm chiếm tỷ trọng từ 7 - 8%; ngành hàng dầu ăn, nước mắm chiếm tỷ trọngtrung bình là gần 10%; hàng thực phẩm đông lạnh chiếm tỷ trọng thấp dưới5%; còn các ngành hàng khác như: hàng văn phòng phẩm, hàng đồ chơi trẻ emchỉ chiếm tỷ lệ rất thấp không đáng kể khoảng trên dưới 1% tổng giá trị hàngmua vào ở các quý Chứng tỏ những mặt hàng này chưa được ưa chuộng tạisiêu thị, hơn nữa vì thế mà khi nhập hàng siêu thị cũng không quan tâm đầu tư
đa dạng hóa chúng để thu hút người mua là các em nhỏ, trong khi theo quan sátthì các em cũng hay vào siêu thị và đến chỗ quầy hàng đồ chơi, ngắm ngía.Nhìn vào bảng trên ta thấy, siêu thị mua chủ yếu là các mặt hàng đường sữa,bánh kẹo trong đó giá trị về sữa là chiếm giá trị lớn Đây là những mặt hàngthực phẩm có giá cao và có lợi thế khi được bán tại siêu thị, những mặt hàngchưa thu hút được sự quan tâm của khách hàng thì siêu thị ít mua hơn, chứng tỏrằng siêu thị mua hàng về kinh doanh chỉ quan tâm tới những nhu cầu có khảnăng thanh toán của khách hàng chứ chưa có quan tâm kích thích sự mua hàngcủa họ Song việc mua hàng các ngành hàng khác nhau ở các quý bị thay đổi:giá trị hàng mua vào quý II giảm so với quý I Cụ thể: tổng giá trị hàng hóamua vào giảm 549,43 triệu đồng, giảm 28,1% Quý II tăng so với quý I là 41,39triệu đồng, tăng 2,9%; sang quý IV tổng giá trị hàng nhập vào tăng so với quýIII là 1.792,75 triệu đồng, tăng 123,9%
Giá cả các mặt hàng trong thời gian này biến động nhỏ Như vậy có thểthấy siêu thị đã cố gắng mở rộng tăng quy mô kinh doanh, dựa trên dự đoánnhu cầu của khách hàng Còn quý II giảm mạnh so với quý I là do mới đi vàokinh doanh nên việc kinh doanh theo hình thức bán lẻ hiện đại còn xa lạ vớingười tiêu dùng nông thôn nên tâm lý còn e ngại khi mua hàng tại siêu thị làmcho việc tiêu thụ hàng hóa gặp nhiều khó khăn, hàng hóa ứ đọng nhiều Sangquý II trở đi rút được kinh nghiệm thì siêu thị lên kế hoạch mua hàng phù hợphơn và tăng dần trong những quý tiếp theo Việc phân tích tăng giảm doanh số
Trang 38mua hàng theo từng ngành hàng chủ yếu làm cơ sở xây dựng kế hoạch muahàng cho siêu thị
Đi sâu vào từng nhóm hàng cụ thể của siêu thị:
Nhóm hàng đồ gia dụng: quý II so với quý I tỷ trọng tăng 0,9%, nhưng
về mặt giá trị lại giảm 62,93 triệu đồng, chiếm 76,6%, giảm 23,4% Sang quýIII tỷ trọng lại giảm so với quý II là 8,3% , giá trị giảm 114,03 triệu đồng, giảm55,2% Nhưng sang quý IV lại tăng cả về tỷ trọng và giá trị so với quý II, mứctăng tương tứng là 9,9% và 434,97 triệu đồng, tăng 470,9%, mức tăng đáng kể
về giá trị do vào thời gian quý IV gần tết nguyên đán dự báo nhu cầu mua sắmvận dụng nấu ăn của khách hàng sẽ lên cao
Nhóm hàng mỹ phẩm: tỷ trọng quý II so với quý I tăng 1,8%, giá trịtăng 0,63 triệu đồng, tăng 0,5% Sang quý II tỷ trọng giảm so với quý II là0,2%, giá trị giảm 7,15 triệu đồng, giảm 5,2% Sang quý IV tỷ trọng giảm1,8%, nhưng giá trị lại tăng lên 103,74 triệu đồng, tăng 79,4% Siêu thị muanhiều hàng mỹ phẩm hơn trong khoảng thời gian gần tết
Nhóm mặt hàng đồ uống (bao gồm cả nước ngọt và bia rượu) mặt hàngchiếm tỷ trọng bình quân hơn 10% qua các quý Quý II tỷ trọng tăng so với quý
I là 2,4%, giá trị lại giảm 18,99 triệu đồng, giảm 13%; sang quý III tỷ trọnggiảm so với quý II là 2,1%, giá trị giảm 24,33 triệu đồng, giảm 12,6%; quý IV
tỷ trọng tăng so với quý III 0,4%, giá trị tăng 221,99 triệu đồng, tăng 131,1%.Đây là mặt hàng mang tính thời vụ dùng nhiều vào dịp lễ tết nên giá trị nhậpvào nhiều để phục vụ tết nguyên đán
Hàng may mặc: đây là nhóm hàng chiếm tỷ trọng lớn thứ 2 sau hàngsữa, bánh kẹo Tỷ trọng quý II so với quý I tăng 8,6%, giá trị cũng tăng 30,19triệu đồng, tăng 9,4%; sang quý III tỷ trọng giảm đi hơn một 1/2 so với quý II,chiếm 14,4%, giá trị giảm 352,07 triệu đồng, giảm 56%; quý IV tỷ trọng tăng
so với quý III là 10%, giá trị tăng 669,20 triệu đồng, tăng 331,8% Giải thích sựbiến động này: vào quý III lượng hàng nhập về ít do hàng quý I, II nhập về cònbán chưa hết trong khi hàng quần áo là hàng theo thời trang nếu không bán hết
để sẽ bị lỗi thời, chính vì thế mà phải đợi bán cho hết hàng mới dám nhập hàng
Trang 39mùa đông và hàng này năm nay giá cả khá là cao nên làm cho giá trị hàng hóatăng lên đáng kể.
Hàng bánh kẹo, đường sữa: chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng số giá trịcác nhóm hàng nhập vào và cũng tăng giảm thất thường Quý II so với quý I cả
tỷ trọng và giá trị đều giảm lần lượt là 6,5% và 305,86 triệu đồng, giảm 40%;quý III so với quý II tỷ trọng tăng 15,1%, giá trị tăng 230,76 triệu đồng, tăng50,3%; quý IV tỷ trọng giảm so với quý III 15,7%, giá trị tăng 314,20 triệuđồng, tăng 45,5% Đây là mặt hàng tiêu thụ chủ yếu của siêu thị và đồng thờigiá cả các mặt hàng này cũng tương đối cao nhất là mặt hàng sữa bột nên làmcho giá trị hàng nhập của nhóm hàng này cao
Hàng dầu ăn, nước mắm là nhóm hàng chiếm tỷ trọng trung bình khoảng10% trong tổng giá trị hàng hóa nhập vào trong quý, trong đó tỷ trọng giá trịdầu ăn luôn chiếm tỷ trọng lớn hơn so với nước mắm Giá trị nhóm hàng nàytăng lên bất thường chủ yếu là do chính sách mua hàng về dự trữ, góp phầnbình ổn giá cả khi thị trường có biến động xảy ra Cụ thể, quý II so với quý I tỷtrọng giảm 5,4%, giá trị giảm 114,66 triệu đồng, giảm 80,7%; quý III so vớiquý I tăng tỷ trọng 16,9%, giá trị tăng 243,98 triệu đồng, tăng 890,5%; sangquý IV tỷ trọng giảm so với quý III là 7,9%, nhưng giá trị lại tăng 221,99 triệuđồng, tăng 30,5% Chủ yếu là phụ thuộc vào nhu cầu của khách hàng
Các mặt hàng khác như: hàng thực phẩm đông lạnh, đồ chơi trẻ em,hàng văn phòng phẩm chiếm tỷ trọng và giá trị nhỏ cũng tăng giảm thất thườngtheo các quý vì phụ thuộc vào tình hình tiêu thụ của siêu thị Đây là các mặthàng chưa được ưa chuộng tại siêu thị, những mặt hàng còn mới mẻ với ngườitiêu dùng nông thôn Khả năng tiêu thụ còn ít
Từ phân tích trên cho thấy, siêu thị luôn chú trọng đến công tác tạonguồn và mua hàng cho siêu thị, phù hợp với nhu cầu của người tiêu dùngtrong vùng, ưu tiên mua những mặt hàng có khả năng tiêu thụ cao, bên cạnh đócũng cân đối các nhóm hàng khác sao cho đa dạng hóa hàng hóa trong siêu thị
và đảm bảo cho kinh doanh có lãi
Trang 40 Nguồn hàng theo nhà cung cấp
Ngoài việc quản lý và theo dõi hàng theo xuất sứ hàng hóa và theo tiêuthức ngành hàng, trung tâm còn quản lý, theo dõi hàng hóa theo tiêu thức chủhàng Khi quản lý nguồn hàng theo tiêu thức này, siêu thị sẽ biết được trong sốcác nhà cung cấp hàng hóa cho mình ai là người có giá trị cung cấp lớn nhất,đâu là chủ hàng quan trọng cần hợp tác lâu dài Từ đó siêu thị sẽ có chính sáchhợp lý với từng nhà cung cấp
Đối với các doanh nghiệp thương mại hàng hóa mua vào thường đượcmua từ các từ nhiều nguồn khác nhau Để đạt hiệu quả cao trong kinh doanhđòi hỏi siêu thị phải tiến hành phân tích tình hình mua hàng theo từng nguồnhàng để thấy được sự biến động tăng giảm của các đơn đặt hàng với các nhàcung cấp, từ đó tìm ra nguyên nhân, những mặt thuận lợi và khó khăn trongnguồn hàng mua, làm căn cứ xác định nhà cung cấp đang có ảnh hưởng tớicung hàng đầu vào cho siêu thị, đảm bảo lựa chọn được nhà cung cấp có lợi,mang lại hiệu quả cho siêu thị
Bảng 7: Sơ đồ nhà cung cấp hàng đầu vào cho siêu thị Kiểu
Hiện tại siêu thị đang có mối quan hệ với 21 nhà cung cấp, các nhà cungcấp đa số là các nhà phân phối trong tỉnh Thanh Hóa, một số nhà cung cấp làcác doanh nghiệp và các cửa hàng phân phối ở Hà Nội Các nhà cung cấp là cácđơn vị sản xuất trên địa bàn tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An và Hà Nội Một số nhà