Có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm
Trang 1LỜI CẢM ƠN
Để hoàn thành luận văn tốt nghiệp này, tôi đã nhận được sự giúp đỡ rất tận tình của các đoàn thể, cá nhân trong và ngoài trường.
Trước hết, tôi xin chân thành cảm ơn các thầy giáo, cô giáo trong khoa
Kế toán và Quản trị kinh doanh – Trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội đã trang bị cho tôi những hành trang kiến thức cũng như đã tạo điều kiện cho tôi hoàn thành luận văn tốt nghiệp này Đặc biệt, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn tới Thầy giáo, Th.S.Nguyễn Anh Trụ , giảng viên bộ môn Marketing, người đã tận tình chỉ bảo, hướng dẫn và động viên tôi trong suốt quá trình thực hiện luận văn này.
Tôi xin chân thành cảm ơn các anh, chị trong Công ty TNHH Tân Thế
Kỷ, đặc biệt là Anh Lê Thanh Vinh – Giám đốc Công ty, Thầy giáo TS Bùi Văn Hạnh - Giảng viên Trường ĐH Bách Khoa Hà Nội đã nhiệt tình giúp đỡ và tạo mọi điều kiện thuận lợi tôi trong thời gian thực tập tại Công ty.
Cuối cùng, tôi xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc đến gia đình, người thân, bạn bè đã luôn sát cánh bên tôi, giúp đỡ, động viên tôi trong suốt khóa học và hoàn thành tốt luận văn này.
Một lần nữa, tôi xin chân thành cảm ơn!
Hà Nội, ngày 28 tháng 05 năm 2011
Sinh viên
Vũ Thị Thanh Hằng
Trang 2DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT
2 OECD Tổ chức hợp tác và phát triển kinh tế
3 R&D Nghiên cứu và phát triển
5 VCCI Quỹ Châu Á và Phòng Thương mại và
Công nghiệp Việt Nam
Trang 3I.1 Đặt vấn đề
Cạnh tranh là thuộc tính của kinh tế thị trường Theo các nhà kinh tế, môitrường cạnh tranh có tác dụng tạo sức mạnh hướng hành vi của các chủ thể kinh tếtới năng suất, chất lượng và hiệu quả từ mục tiêu thắng trong cạnh tranh sẽ thu lợinhuận Trong môi trường cạnh tranh, sức mạnh của các tổ chức kinh tế không chỉđược đo bằng chính năng lực nội tại của từng chủ thể, mà điều quan trọng hơn, làtrong sự so sánh tương quan giữa các chủ thể với nhau Do đó, đạt được vị thếcạnh tranh mạnh trên thị trường là yêu cầu sống còn của doanh nghiệp. (1)
Doanh nghiệp là một đơn vị kinh doanh hàng hoá, dịch vụ theo nhu cầu thịtrường và xã hội để đạt lợi nhuận và đạt hiệu quả kinh tế xã hội cao nhất Mộtdoanh nghiệp tiến hành kinh doanh có hiệu quả là doanh nghiệp thoả mãn được tối
đa nhu cầu thị trường và xã hội về hàng hoá và dịch vụ trong giới hạn cho phépcủa nguồn lực hiện có và thu được lợi nhuận nhiều nhất, đem lại hiệu quả kinh tế -
xã hội cao nhất Trong hoạt động kinh doanh các doanh nghiệp buộc phải chấpnhận cạnh tranh, ganh đua với nhau, phải luôn không ngừng cải tiến để giành đượcnhững ưu thế tương đối so với đối thủ Nếu như lợi nhuận là động lực thúc đẩy cácdoanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh thì cạnh tranh buộc các doanh nghiệpphải cố gắng sản xuất kinh doanh đạt hiệu quả cao nhất nhằm thu lợi nhuận tối đađồng thời gia tăng thế lực và độ an toàn trong kinh doanh Trong cuộc cạnh tranh
có những doanh nghiệp thì vươn lên đứng vị trí dẫn đầu thị trường, có lợi nhuậncao Nhưng cũng có những doanh nghiệp tồn tại một cách khó khăn, bị phá sảnhoặc bị thôn tính Vấn đề đặt ra là tại sao lại có sự phân hoá như vậy trong khi mọidoanh nghiệp tham gia kinh doanh đều tìm mọi cách để phát triển Nguyên nhân là
sự khác biệt về khả năng cạnh tranh của từng doanh nghiệp trên thị trường (2)
Trang 4Công ty TNHH Tân Thế Kỷ là đại lý chính thức các loại máy hàn, robot hàn,mắy cắt, vật liệu hàn và khí công nghiệp của các hãng Nhật Bản tại Việt Nam Đốimặt với thực tế hiện nay là trên thị trường đã và đang xuất hiện rất nhiều các sảnphẩm cùng loại của các hãng khác du nhập vào Việt Nam cạnh tranh gay gắt vềgiá cả cũng như dịch vụ Làm sao để sản phẩm của Công ty có thể cạnh tranh vớicác sản phẩm khác? Công ty đã có những chiến lược cạnh tranh như thế nào để đốiđầu với những thách thức của bên ngoài phát huy những thế mạnh và chiến thắngnhững đối thủ cạnh tranh? Để góp phần trả lời được câu hỏi này em đã quyết định
lựa chọn đề tài:“ Nghiên cứu năng lực cạnh tranh một số sản phẩm chủ yếu của Công ty TNHH Tân Thế Kỷ”.
(1) SOURCE: TẠP CHÍ CỘNG SẢN SỐ 21 (141) NĂM 2007
(2) Thư viện học liệu mở Việt Nam, http://voer.edu.vn/content/co110379/1.2
I.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Trang 5Mục đích nghiên cứu tổng quát của đề tài là nhằm đưa ra cách nhìn đầy đủ
về năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp và của sản phẩm, từ đó đề xuất một sốgiải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm củaCông ty TNHH Tân Thế Kỷ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
Nghiên cứu cơ sở lý luận về cạnh tranh, năng lực cạnh tranh, lợi thế cạnhtranh;
Phân tích và đánh giá năng lực cạnh tranh của Công ty trong thời gian qua;
và đề xuất một số giải pháp chủ yếu nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh của Công
ty TNHH Tân Thế Kỷ trong thời gian tới
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Quá trình phát triển và năng lực cạnh tranh một số sản phẩm chủ yếu củaCông ty TNHH Tân Thế Kỷ
Trang 6Về nội dung nghiên cứu: Năng lực cạnh tranh của một số sản phẩm chủ yếu của
Công ty TNHH Tân Thế Kỷ: Máy hàn, máy cắt, robot hàn
Trang 7II.1 Tổng quan tài liệu
II.1.2 Cơ sở lý luận
2.1.2.1 Những khái niệm cơ bản
a Cạnh tranh
Cạnh tranh nói chung, cạnh tranh trong kinh tế nói riêng là một khái niệm cónhiều cách hiểu khác nhau Khái niệm này được sử dụng cho cả phạm vi doanhnghiệp, phạm vi nghành, phạm vi quốc gia hoặc phạm vi khu vực liên quốc giavv điều này chỉ khác nhau ở chỗ mục tiêu được đặt ra ở chỗ quy mô doanh nghiệphay ở quốc gia mà thôi Trong khi đối với một doanh nghiệp mục tiêu chủ yếu làtồn tại và tìm kiếm lợi nhuận trên cơ sở cạnh tranh quốc gia hay quốc tế, thì đốivới một quốc gia mục tiêu là nâng cao mức sống và phúc lợi cho nhân dân vv Theo K Marx: "Cạnh tranh là sự ganh đua, đấu tranh gay gắt giữa các nhà tưbản nhằm dành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêu dùng hànghóa để thu được lợi nhuận siêu ngạch " Nghiên cứu sâu về sản xuất hàng hóa tưbản chủ nghĩa và cạnh tranh tư bản chủ nghĩa Marx đã phát hiện ra quy luật cơ bảncủa cạnh tranh tư bản chủ nghĩa là quy luật điều chỉnh tỷ suất lợi nhuận bình quân,
và qua đó hình thành nên hệ thống giá cả thị trường Quy luật này dựa trên nhữngchênh lệch giữa giá cả chi phí sản xuất và khả năng có thể bán hàng hoá dưới giátrị của nó nhưng vẫn thu đựơc lợi nhuận
Theo từ điển kinh doanh (xuất bản năm 1992 ở Anh) thì cạnh tranh trong cơchế thị trường được định nghĩa là " Sự ganh đua, sự kình địch giữa các nhà kinhdoanh nhằm giành tài nguyên sản xuất cùng một loại hàng hoá về phía mình.Theo Từ điển Bách khoa Việt nam (tập 1) Cạnh tranh (trong kinh doanh) làhoạt động tranh đua giữa những người sản xuất hàng hoá, giữa các thương nhân,
Trang 8các nhà kinh doanh trong nền kinh tế thị trường, chi phối quan hệ cung cầu, nhằmdành các điều kiện sản xuất , tiêu thụ thị trường có lợi nhất.
Hai nhà kinh tế học Mỹ P.A Samuelson và W.D.Nordhaus trong cuốn kinh tếhọc (xuất bản lần thứ 12) Cạnh tranh (Competition) là sự kình địch giữa cácdoanh nghiệp cạnh tranh với nhau để dành khách hàng hoặc thị trường Hai tác giảnày cho cạnh tranh đồng nghĩa với cạnh tranh hoàn hảo (Perfect Competition)
Ba tác giả Mỹ khác là D.Begg, S Fischer và R Dornbusch cũng cho cạnhtranh là cạnh tranh hoàn hảo, các tác giả này viết Một cạnh tranh hoàn hảo, làngành trong đó mọi người đều tin rằng hành động của họ không gây ảnh hưởng tớigiá cả thị trường, phải có nhiều người bán và nhiều người mua
Cùng quan điểm như trên, R.S Pindyck và D.L Rubinfeld trong cuốn kinh tếhọc vĩ mô cho rằng: Một thị trường cạnh tranh hoàn hảo, hoàn thiện có rất nhiềungười mua và người bán, để cho không có người mua hoặc người bán duy nhấtnào có ảnh hưởng có ý nghĩa đối với giá cả.[1]
Như vậy dù có rất nhiều khái niệm về cạnh tranh nhưng tựu chung lại đềuthống nhất ở các điểm:
Mục tiêu cạnh tranh: Tìm kiếm lợi nhuận và nâng cao vị thế của doanh nghiệptrên thương trường đồng thời làm lành mạnh hoá các quan hệ xã hội
Phương pháp thực hiện: Tạo và vận dụng những lợi thế so sánh trong việc cungcấp sản phẩm, dịch vụ khi so sánh với các đối thủ cạnh tranh khác
Thời gian: Trong bất kỳ tuyến thị trường hay sản phẩm nào, vũ khí cạnh tranhthích hợp hay đổi theo thời gian Chính vì thế cạnh tranh được hiểu là sự liên tụctrong cả quá trình
Ngày nay hầu như tất cả các nước trên thế giới đều thừa nhận cạnh tranh, coicạnh tranh là một tất yếu khách quan ở Việt Nam, cùng với việc chuyển đổi sangnền kinh tế thị trường, cạnh tranh đã từng bước được tiếp nhận như một nguyêntắc cơ bản trong tổ chức quản lý và điều khiển nền kinh tế quốc dân nói chung,
Trang 9Sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp
Sức mạnh mặc cả của khách hàng
Sự đe dọa của hàng hóa
độ sở hữu khác nhau về tư liệu sản xuất nhằm đạt được những điều kiện sản xuất
và tiêu thụ có lợi nhất, đồng thời tạo điều kiện thúc đẩy sản xuất phát triển Cạnhtranh trong kinh tế là cuộc chạy đua “Marathon kinh tế” nhưng không có đích cuốicùng, ai cảm nhận thấy thì người đó sẽ trở thành nhịp cầu cho các đối thủ khácvươn lên phía trước.[2] Những yếu tố quyết định cạnh tranh trong ngành được thểhiện qua hình 2.1
Hình 2.1 : Những yếu tố quyết định cạnh tranh trong ngành [3]
Những yếu tố cơ cấu quyết định cường độ cạnh tranh
SẢN PHẨM DỊCH VỤ THAY THẾ
CÁC ĐỐI THỦ TRONG
NGÀNH
Nguy cơ có đối thủ
KHÁCH HÀNG
ĐỐI THỦ TIỀM NĂNG GIA NHẬP THỊ TRƯỜNG
Trang 10Cạnh tranh trong một ngành sẽ liên tục vận động làm giảm mức lợi tức trênvốn đầu tư đến một mức lợi tức sàn hay mức lợi tức có thể kiếm được trong mộtngành “cạnh tranh hoàn hảo” của các nhà kinh tế Mức lợi tức sàn này hay lợi tức
“ thị trường tự do” xấp xỉ lãi suất của trái phiếu chính phủ dài hạn được điều chỉnhthêm rủi ro mất vốn Các nhà đầu tư sẽ không chấp nhận mức lợi tức thấp hơn lãisuất này trong dài hạn bởi vì họ có thể đầu tư vào các ngành khác và những doanhnghiệp thường xuyên thu được lợi nhuận thấp hơn mức này cuối cùng sẽ phá sản.Việc lợi tức phải cao hơn mức lãi suất thị trường tự do đã điều chỉnh có vai tròkích thích dòng vốn chảy vào một ngành qua kênh gia nhập mới hoặc qua đầu tư
bổ sung của các đối thủ cạnh tranh hiện có Sức mạnh của các yếu tố cạnh tranhtrong một ngành quyết định mức độ của dòng vốn đầu tư này và đẩy lợi tức vềphía lãi suất thị trường tự do và do đó quyết định khả năng của các doanh nghiệpduy trì lợi nhuận trên mức trung bình này
Năm yếu tố cạnh tranh: Sự gia nhập, sự đe dọa của sản phẩm thay thế, sứcmạnh mặc cả của khách hàng, sức mạnh mặc cả của nhà cung cấp và cạnh tranhgiữa các đối thủ hiện có Phản ánh thực tế là cạnh tranh trong một ngành khôngchỉ bao gồm “người chơi” hiện có trong ngành Khách hàng, nhà cung cấp, sảnphẩm thay thế và đối thủ gia nhập tiềm năng đều là những “đối thủ cạnh tranh”của các doanh nghiệp trong ngành và có vai trò khác nhau phụ thuộc vào từnghoàn cảnh cụ thể Cạnh tranh theo nghĩa rộng này có thể được gọi là cạnh tranh
mở rộng
Tất cả năm yếu tố cạnh tranh này cùng quyết định cường độ cạnh tranh và mứclợi nhuận trong ngành và yếu tố mạnh nhất sẽ đóng vai trò thống trị và trở nênquan trọng đối với việc hoạch định chiến lược Chẳng hạn, ngay cả một công ty có
vị trí thị trường rất mạnh trong một ngành trong đó các đối thủ gia nhập mớikhông phải là nguy cơ đối với nó sẽ vẫn có thể có giá thấp hơn và chất lượng vượttrội Ngay cả khi trong ngành không có nguy cơ gia nhập mới và không có sảnphẩm thay thế, cạnh tranh khốc liệt giữa các đối thủ hiện có cũng sẽ làm hạn chế
Trang 11lợi nhuận tiềm năng Trường hợp cực đoan về mức độ cạnh tranh chính là “ngànhcông nghiệp cạnh tranh hoàn hảo” theo giả thiết của nhà kinh tế, trong đó có việcgia nhập ngành là tự do, các doanh nghiệp hiện có không có sức mạnh mặc cả đốivới khách hàng và nhà cung cấp, và cạnh tranh không hạn chế bởi vì có vô sốdoanh nghiệp và sản phẩm tương tự nhau.
Những yếu tố khác nhau dĩ nhiên sẽ có vai trò nổi trội trong việc định hìnhcạnh tranh trong các ngành khác nhau Trong ngành tàu biển chở dầu, yếu tố quyếtđịnh có lẽ là khách hàng (các công ty dầu lửa lớn), trong khi trong ngành lốp xe,
đó lại là các khách hàng gia công thiết bị cùng với các đối thủ cạnh tranh mạnh
mẽ Trong ngành thép, các yếu tố trọng yếu là các đối thủ cạnh tranh nước ngoài
và các vật liệu thay thế.[3]
b Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Điểm lại các tài liệu trong và ngoài nước, có nhiều cách quan niệm về năng lựccạnh tranh doanh nghiệp Dưới đây là một số cách quan niệm về năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp đáng chú ý
Một là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và mở rộng
thị phần, thu lợi nhuận của doanh nghiệp Đây là cách quan niệm khá phổ biếnhiện nay, theo đó năng lực cạnh tranh là khả năng tiêu thụ hàng hóa, dịch vụ so vớicác đối thủ và khả năng “thu lợi” của các doanh nghiệp
Hai là, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng chống chịu trước sự
tấn công của doanh nghiệp khác Chẳng hạn, Hội đồng Chính sách năng lực cạnhtranh của Mỹ đưa ra định nghĩa: năng lực cạnh tranh là năng lực kinh tế về hànghóa và dịch vụ trên thị trường thế giới… Ủy ban Quốc gia về hợp tác kinh tế cótrích dẫn khái niệm năng lực cạnh tranh theo Từ điển Thuật Ngữ chính sáchthương mại (1997), theo đó, năng lực cạnh tranh là năng lực của một doanh nghiệp
“không bị doanh nghiệp khác đánh bại về năng lực kinh tế” Quan niệm về nănglực cạnh tranh như vậy mang tính chất định tính, khó có thể định lượng
Trang 12Ba là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với năng suất lao động Theo Tổ chức
Hợp tác và Phát triển kinh tế (OECD), năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp làsức sản xuất ra thu nhập tương đối cao trên cơ sở sử dụng các yếu tố sản xuất cóhiệu quả làm cho các doanh nghiệp phát triển bền vững trong điều kiện cạnh tranhquốc tế Theo M Porter (1990), năng suất lao động là thước đo duy nhất về nănglực cạnh tranh Tuy nhiên, các quan niệm này chưa gắn với việc thực hiện các mụctiêu và nhiệm vụ của doanh nghiệp
Bốn là, năng lực cạnh tranh đồng nghĩa với duy trì và nâng cao lợi thế cạnh
tranh Chẳng hạn, tác giả Vũ Trọng Lâm (2006) cho rằng, năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp là khả năng tạo dựng, duy trì, sử dụng và sáng tạo mới các lợi thếcạnh tranh của doanh nghiệp, tác giả Trần Sửu (2005) cũng có ý kiến tương tự:
“Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng tạo ra lợi thế cạnh tranh, cókhả năng tạo ra năng suất và chất lượng cao hơn đối thủ cạnh tranh, chiếm lĩnh thịphần lớn, tạo ra thu nhập cao và phát triển bền vững”
Có thể đưa ra khái niệm năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp như sau: Năng
lực cạnh tranh của doanh nghiệp là khả năng duy trì và nâng cao lợi thế cạnh tranh trong việc tiêu thụ sản phẩm, mở rộng mạng lưới tiêu thụ, thu hút và sử dụng có hiệu quả các yếu tố sản xuất nhằm đạt lợi ích kinh tế cao và bền vững.
Như vậy, năng lực cạnh tranh không phải là chỉ tiêu đơn nhất mà mang tínhtổng hợp, bao gồm nhiều chỉ tiêu cấu thành và có thể xác định được cho nhómdoanh nghiệp (ngành) và từng doanh nghiệp.[9]
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm
Một sản phẩm được coi là có sức cạnh tranh và có thể đứng vững khi có mứcgiá thấp hơn hoặc khi cung cấp các sản phẩm tương tự với chất lượng hay dịch vụngang bằng hay cao hơn
Theo lý thuyết thương mại truyền thống, khả năng cạnh tranh được xem xétqua lợi thế so sánh về chi phí sản xuất và năng suất lao động
Trang 13Theo M.Porter, khả năng cạnh tranh phụ thuộc vào khả năng khai thác cácnăng lực độc đáo của mình để tạo sản phẩm có giá phí thấp và sự khác biệt của sảnphẩm.
Muốn nâng cao năng lực cạnh tranh, doanh nghiệp cần phải xác định lợi thếcạnh tranh của mình Lợi thế cạnh tranh của sản phẩm được hiểu là những thếmạnh mà sản phẩm có hoặc có thể huy động để đạt thắng lợi trong cạnh tranh Cóhai nhóm lợi thế cạnh tranh:
- Lợi thế về chi phí: tạo ra sản phẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh.Các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn và lao động thường được xem là nguồn lực
để tạo lợi thế cạnh tranh
- Lợi thế về sự khác biệt hóa: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tănggiá trị cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng caotính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm Lợi thế này cho phép thị trường chấp nhậnmức giá thậm chí cao hơn đối thủ
Thông thường việc xác định khả năng cạnh tranh của sản phẩm dựa vào 4 tiêu chí:
- Tính cạnh tranh về chất lượng và mức độ đa dạng của sản phẩm
- Tính cạnh tranh về giá cả
- Khả năng thâm nhập thị trường mới
- Khả năng khuyến mãi, lôi kéo khách hàng và phương thức kinh doanh ngàycàng phong phú hơn
Nhìn chung đánh giá năng lực cạnh tranh của sản phẩm phải xem xét các mặt:chất lượng sản phẩm, chủng loại sản phẩm, tính đa dạng, mẫu mã, bao bì của sảnphẩm, uy tín thương hiệu của sản phẩm, nguồn hàng cung cấp ổn định, giá cả sảnphẩm và công tác Marketing sản phẩm
c Lợi thế cạnh tranh
Trang 14Nền tảng cơ bản để hoạt động của doanh nghiệp đạt mức trên trung bình trongdài hạn là lợi thế cạnh tranh bền vững (sustainable competitive advantage) Cho dùdoanh nghiệp có vô số điểm mạnh và điểm yếu trước các đối thủ khác, tựu trunglại có 2 loại lợi thế cạnh tranh mà doanh nghiệp có thể sở hữu: chi phí thấp hoặckhác biệt hóa Điều quan trọng của bất cứ thế mạnh hay nhược điểm nào củadoanh nghiệp cuối cùng vẫn là việc ảnh hưởng từ những ưu điểm, khuyết điểm đóđến chi phí và sự khác biệt hóa có liên quan Lợi thế về chi phí và khác biệt hóa,đến lượt chúng, lại xuất phát từ cấu trúc ngành, thể hiện khả năng của doanhnghiệp chống chọi với 5 nguồn áp lực tốt hơn các đối thủ cạnh tranh [7]
Lợi thế cạnh tranh trước hết là biểu hiện tính trội của mặt hàng đó về chấtlượng giá cả và cơ chế vận hành của nó trên thị trường tạo nên sự hấp dẫn, thuậntiện cho khách hàng trong quá trình tiếp cận và sử dụng
Lợi thế cạnh tranh còn thể hiện tính kinh tế của các yếu tố đầu vào cũng nhưđầu ra của sản phẩm, nó bao gồm chi phí cơ hội và năng suất lao động cao, chấtlượng sản phẩm tốt đạt tiêu chuẩn quốc tế và thị hiếu tiêu dùng trên các thị trường
cụ thể Do vậy lợi thế cạnh tranh xét theo tính chất thương mại còn là “ nghệ thuậtbuôn bán” được biểu hiện thông qua các nội dung mang tính giải pháp về chiếnlược và sách lược của một ngành hàng, một sản phẩm trong quá trình sản xuất vàtrao đổi thương mại, chiến lược cạnh tranh suy cho cùng là “chinh phục kháchhàng bằng uy tín, giá cả và chất lượng”[8]
2.1.2.2 Sự cần thiết phải nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nâng cao năng lực cạnh tranh là : đánh giá thực tế năng lực cạnh tranh củaquốc gia, doanh nghiệp, sản phẩm, dịch vụ đó thông qua các tiêu chí để có nhữngnhận định, biện pháp, chiến lược nhằm đưa doanh nghiệp có đủ sức cạnh tranhtrên thị trường Hay nâng cao năng lực cạnh tranh là thay đổi mối tương quan giữathế và lực của doanh nghiệp về mọi mặt của quá trình sản xuất kinh doanh
Trang 15Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh là một quy luật khách quan của sảnxuất hàng hóa, là một nội dung trong cơ chế vận động của thị trường Sản xuấthàng hóa càng phát triển, hàng hóa dịch vụ bán ra càng nhiều, số lượng cung cấpcàng đông thì cạnh tranh càng gay gắt Nhưng cũng chính nhờ sự cạnh tranh mànền kinh tế thị trường vận động theo hướng ngày càng nâng cao năng suất laođộng xã hội Trong nền kinh tế thị trường, cạnh tranh diễn ra ở mọi lúc, mọi nơi,không phụ thuộc vào yếu tố chủ quan của riêng ai, nên cạnh tranh trở thành mộtquy luật quan trọng thúc đẩy sự phát triển Mọi ngành, doanh nghiệp đều phải tựmình vận động để đứng vững trong cơ chế này Cơ chế thị trường mở đường chodoanh nghiệp nào biết nắm thời cơ, biết phát huy tối đa thế mạnh của mình và hạnchế được tối thiểu những bất lợi để giành thắng lợi trong cạnh tranh.
Hiện nay, nền kinh tế nước ta đang hội nhập với kinh tế thế giới đã tạo điềukiện thuận lợi cho doanh nghiệp sản xuất kinh doanh, song cũng buộc các doanhnghiệp có những đổi mới để nâng cao sức cạnh tranh trên thương trường, hội nhậpkinh tế chính là khơi thông các dòng chảy nguồn lực trong nước và nước ngoài,tạo điều kiện mở rộng thị trường chuyển giao công nghệ và các kinh nghiệm quảnlý
Thách thức hàng đầu khi hội nhập kinh tế thế giới là tính cạnh tranh ngàycàng khốc liệt cả thị trường trong nước và xuất khẩu do các hàng rào thuế quanbảo hộ cũng như các chính sách ưu đãi đang dần bị loại bỏ Chính vì vậy, cácngành; doanh nghiệp phải không ngừng tăng vốn đầu tư, luôn đổi mới công nghệ,chất lượng lao động để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh và tăng năng lựccạnh tranh Thách thức nữa là hàng hóa và dịch vụ sẽ ngày càng phải đương đầuvới những rào cản thương mại quốc tế mới Vì vậy, các doanh nghiệp cần phảitramg bị cho mình những kiến thức về thị trường cả trong nước và ngoài nước,nắm bắt tập quán, luật kinh doanh ở thị trường trong nước và ngoài nước Khi màsức cạnh tranh của doanh nghiệp được nâng cao nó sẽ thể hiện tốt vai trò, chứcnăng của mình trong việc:
- Phục vụ tốt hơn nhu cầu tiêu dùng của khách hàng
Trang 16- Kích thích sản xuất phát triển ổn định
- Thúc đẩy sự phát triển của khoa học kỹ thuật
- Mở rộng quan hệ kinh tế quốc tế
Trong bối cảnh đó nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm của các doanhnghiệp là một tất yếu khách quan
2.1.2.3 Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp, sản phẩm
hàng hóa
Khi đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp dựa vào các tiêu chí sau
Đáp ứng yêu cầu của khách hàng là chuẩn mực;
Thực lực của doanh nghiệp là yếu tố cơ bản để đảm bảo thỏa mãn nhu cầucủa khách hàng, khi nói đến sức cạnh tranh là bao hàm ý so sánh với các đối thủcạnh tranh Muốn giữ vững và lôi kéo khách hàng doanh nghiệp phải có thực lựcđược thể hiện thành các lợi thế so với các đối thủ
Ít có doanh nghiệp nào có đầy đủ lợi thế mà thường thì mạnh về mặt này lạiyếu mặt khác Vì thế cần đánh giá từng mặt mạnh, yếu, phát huy thế mạnh
Việc đánh giá sức cạnh tranh nếu chỉ dừng lại ở định tính, thì không tránh khỏiđược các yếu tố cảm tính, bởi vậy phải cố gắng lượng hóa Tuy nhiên, khó có thểlượng hóa được một chỉ tiêu tổng hợp đo lường sức cạnh tranh của doanh nghiệp,cần sử dụng một hệ thống chỉ tiêu;
- Thị phần của sản phẩm đó trên thị trường so với các đối thủ cạnh tranh: Thịphần của doanh nghiệp đó là phần thị trường mà doanh nghiệp chiếm được, thịphần càng lớn càng thể hiện sức mạnh của doanh nghiệp càng mạnh
Để tồn tại và có sức cạnh tranh, doanh nghiệp phải chiếm giữ được mộtphần thị trường bất kể nhiều hay ít dù nó là địa phương, quốc gia hay thế giới, qua
Trang 17đó đánh giá được sức cạnh tranh của mỗi doanh nghiệp, ưu thế cũng như các điểmmạnh, điểm yếu tương đối của doanh nghiệp so với các đối thủ cạnh tranh.
- Vị thế tài chính: vị thế tài chính của một doanh nghiệp có tầm quan trọngtối cao trong việc nâng cao vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp Khả năng nguồntài chính mạnh được đánh giá bằng năng lực cạnh tranh của các tham số: lợinhuận, dòng tiền mặt, tỷ lệ vốn vay, mức dự trữ và hiệu suất lợi tức cổ phần doanhnghiệp, cụ thể, các hệ số thanh khoản, các hệ số hoạt động, các chỉ số sinh lợi, các
tỷ số vốn vay, phân tích các nguồn vốn và sử dụng các ngân quỹ
- Quản lý và lãnh đạo: quản trị là sự đương đầu với tính phức hợp – mộtquyết định quản trị tốt phải đạt được một mức quyết định và khả năng định hướngđúng vào các vấn đề chất lượng và tính sinh lợi của sản phẩm Lãnh đạo cũnggiống như sự việc đương đầu với sự thay đổi – sự đạt tới của một tầm nhìn Nhữngthách thức đối với doanh nghiệp càng lớn thì tầm quan trọng của sự lãnh đạo cànglớn
- Khả năng nắm bắt thông tin: doanh nghiệp phải nắm bắt đầy đủ các thôngtin, bao gồm các thông tin về khả năng cạnh tranh của hàng hóa và dịch vụ cùngloại; thông tin về tình hình cung – cầu và giá cả; thông tin về công nghệ mới thíchhợp; thông tin về hoạt động giá cả và cả thủ đoạn của đối thủ cạnh tranh,…
- Chất lượng sản phẩm và bao gói: người tiêu dùng khi mua hàng trước hếtphải nghĩ tới khả năng hàng hóa đáp ứng nhu cầu của họ, tới chất lượng mà nó có.Trong điều kiện hiện tại, chất lượng là yếu tố quan trọng bậc nhất mà các doanhnghiệp lớn thường sử dụng trong cạnh tranh vì nó đem lại khả năng “chiến thắng”(vì thay đổi giá thì dễ nhưng muốn thay đổi chất lượng thì cần phải có thời gian)
Đó cũng là con đường mà doanh nghiệp thu hút khách hàng, giữ gìn tạo dựng chữtín tốt nhất, khi tiếp cận hàng hóa cái mà người tiêu dùng quyết định mua hàngmột cách nhanh chóng hơn
Trang 18Hàng hóa đủ đẹp và bền đến đâu cũng sẽ bị lạc hậu trước những yêu cầungày càng cao của khách hàng, do đó, doanh nghiệp phải thường xuyên đổi mới vàhoàn thiện về chất lượng, kiểu dáng, mẫu mã, tạo những nét riêng độc đáo, hấpdẫn người mua Đây cũng là yếu tố quan trọng để bảo vệ nhãn hiệu, uy tín sảnphẩm trong điều kiện ngày càng có nhiều sản phẩm giống nhau, hàng thật, hànggiả lẫn lộn.
- Giá cả sản phẩm và dịch vụ: giá cả phải đủ sức cạnh tranh với sản phẩmcùng loại Bảng giá đưa ra cần trả lời được câu hỏi rất cơ bản: với giá đó thì ngườimua chấp nhận không
- Kênh phân phối: kênh phân phối được coi là một chỉ tiêu quan trọng dùng
để đánh giá sức cạnh tranh của doanh nghiệp Bởi lẽ, sản phẩm và giá cả là hai yếu
tố quyết định những giá trị cơ bản dành cho khách hàng ở khâu sản xuất còn phânphối là yếu tố đem đến cho khách hàng những giá trị gia tăng và cách đưa hànghóa tới tay người tiêu dùng, thông qua những dịch vụ khách hàng Trong xu thếtiêu dùng hiện tại, giá trị gia tăng là một trong những yếu tố quan trọng quyết định
sự hài lòng của khách hàng, nếu mức độ hài lòng của khách hàng cao hơn so vớiđối thủ cạnh tranh sẽ quyết định khả năng chiếm lĩnh thị trường, tức là quyết địnhthắng lợi trong cạnh tranh
- Truyền tin và xúc tiến: tùy theo mục tiêu kế hoạch tiêu thụ sản phẩm khácnhau mà các doanh nghiệp có chi phí này cao hay thấp Khi xem xét tỷ lệmarketing so với tổng doanh thu ta thấy, chỉ tiêu này cao mà doanh nghiệp vẫnduy trì và mở rộng được thị phần so với mục tiêu đề ra thì có nghĩa là việc đầu tưcho khâu marketing là hiệu quả Còn nếu thay vì quảng cáo rầm rộ, doanh nghiệp
có thể đầu tư chiều sâu để tăng lợi ích lâu dài như đầu tư cho chi phí nghiên cứu
Trang 19có được sức mạnh trong đổi mới công nghệ, có ưu thế trong giới thiệu sản phẩmmới thành công, cải tiến cập nhật liên tục sản phẩm Lợi thế về chị phí: tạo ra sảnphẩm có chi phí thấp hơn đối thủ cạnh tranh, các nhân tố sản xuất như đất đai, vốn
và lao động thường được xem như là nguồn lực để tạo lợi thế cạnh tranh
- Lợi thế về sự khác biệt: dựa vào sự khác biệt của sản phẩm làm tăng giá trị
sử dụng cho người tiêu dùng hoặc giảm chi phí sử dụng sản phẩm hoặc nâng caotính hoàn thiện khi sử dụng sản phẩm, lợi thế này cho phép thị trường chấp nhậnmức giá thậm chí cao hơn đối thủ cạnh tranh
Trong điều kiện hiện nay, mức sống của người dân ngày càng đựơc nângcao, tức là nhu cầu có khả năng thanh toán của người tiêu dùng tăng lên thì sựcạnh tranh bằng giá cả đã và sẽ có xu hướng vị trí cho sự cạnh tranh bằng chấtlượng
Chất lượng sản phẩm là tập hợp các thuộc tính của sản phẩm trong điềukiện nhất định về kinh tế kỹ thuật Chất lượng là một chỉ tiêu tổng hợp thể hiện ở
Trang 20nhiều mặt khác nhau tính cơ lý hoá đúng như các chỉ tiêu quy định, hình dáng mầusắc hấp dẫn Với mỗi loại sản phẩm khác nhau, tuy nhiên vấn đề đặt ra là doanhnghiệp phải luôn luôn giữ vũng và không ngừng năng cao chất lượng sản phẩm.
Đó là điều kiện không thể thiết nếu doanh nghiệp muốn giành được thắng lợi trongcạnh tranh, nói một cách khác chất lượng sản phẩm là vấn đề sống còn đối vớidoanh nghiệp Khi chất lượng không còn được đảm bảo, không thoả mãn nhu cầukhách hàng thì ngay lập tức khách hàng sẽ rời bỏ doanh nghiệp
Nâng cao chất lượng sản phẩm có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với việctăng khả năng cạnh tranh thể hiện trên các giác độ
Chất lượng sản phẩm tăng lên sẽ thu hút được khách hàng tăng đựơc khốilượng hàng hoá tiêu thụ, tăng uy tín sản phẩm mở rộng thị trường, từ đó tăngdoanh thu, tăng lợi nhuận, đảm bảo hoàn thành các mục tiêu mà doanh nghiệp đã
- Các yếu tố kiểm soát được: Chi phí sản xuất sản phẩm, chi phí bán hàng,chi phí lưu động và chi phí yểm trợ xúc tiến bán hàng
- Các yếu tố không kiểm soát được: quan hệ cung cầu cường độ cạnh tranhtrên thị trường, chính sách điều tiết thị trường của Nhà nước
Giá cả được sử dụng làm công cụ cạnh tranh thông qua các chính sách định giábán sản phẩm của doanh nghiệp trên thị trường, một doanh nghiệp có thể có cácchính sách định giá sau:
Trang 21Chính sách định giá thấp
Đây là cách định giá bán thấp hơn mức giá thị trờng Chính sách định giá thấp
có thể hướng vào các mục tiêu khác nhau, tuỳ theo tình hình sản xuất và thị trường
và đựơc chia ra các cách khác nhau
Định giá thấp hơn so với thị trường nhưng cao hơn giá trị sản phẩm, doanhnghiệp chấp nhận mức lãi thấp Nó được ứng dụng trong trưòng hợp sản phẩmmới thâm nhập thị trường, cần bán hàng nhan với khối lượng lớn, hoặc dùng giá
để cạnh tranh với các đối thủ
Định giá bán thấp hơn giá thị trường và cũng thấp hơn giá trị sản phẩm: Doanhnghiệp bị lỗ Cách này đựơc áp dụng trong trường hợp bán hàng trong thời kỳ khaitrương hoặc muốn bán nhanh để thu hồi vốn ( tương tự bán phá giá )
Trang 22Chính sách định giá theo giá thị trường
Đây là cách định giá phổ biến của các doanh nghiệp hiện nay tức là giá bánsản phẩm xoay quanh mức giá thị trường của sản phẩm đó Ở đây do không sửdụng yếu tố giá làm đòn bẩy kích thích người tiêu dùng nên để tiêu thụ được sảnphẩm, doanh nghiệp tăng cường công tác tiếp thị thực hiện nghiêm ngặt các biệnpháp giảm chi phí sản xuất kinh doanh
Chính sách giá phân biệt
Với cùng một loại sản phẩm nhưng doanh nghiệp định ra nhiều mức giákhác nhau dựa theo nhiều tiêu thức khác nhau:
Phân biệt theo lượng mua: Mua khối lượng nhiều hoặc giảm giá hoặchưởng chiết khấu
Chất lượng: Các loại chất lượng ( 1,2,3 ) có mức giá khác nhau phục vụ chocác nhóm đối tượng khác nhau
Phân biệt theo phương thức thanh toán: Thanh toán ngay hay trả chậm,thanh toán bằng tiền mặt hay chuyển khoản
Phân biệt theo thời gian: Tại các thời điểm khác nhau, giá cả khác nhau
Chính sách bán phá giá
Định mức giá bán thấp hơn hẳn giá thị trường và thấp hơn cả giá thành sảnxuất Mục tiêu của bán giá là tối thiểu hoá rủi ro hay thua lỗ hoặc để tiêu diệt đốithủ cạnh tranh Muốn đạt đựơc mục tiêu này đòi hỏi doanh nghiệp phải có tiềm lực
về tài chính, về khoa học công nghệ sản phẩm đã có uy tín trên thị trường Bán phágiá chủ yếu nên áp dụng khi sản phẩm bị tồn đọng quá nhiều, bị cạnh tranh gaygắt, lạc hậu không phù hợp với nhu cầu tiêu dùng, sản phẩm mang tính thời vụ, dễ
hư hỏng, càng để lâu càng lỗ lớn
Ngày nay cùng với sự phát triển của nền sản xuất xã hội mức sống củangười dân không ngừng nâng cao, giá cả không còn là công cụ cạnh tranh quan
Trang 23trọng nhất của doanh nữa nhưng nếu doanh nghiệp biết kết hợp công cụ giá vớicác công cụ khác thì kết quả thu được sẽ rất to lớn.
c Cạnh tranh bằng nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm
Đối với mỗi doanh nghiệp hoạt động trong cơ chế thị trường, sản xuất tốt chưa
đủ để khẳng định khả năng tồn tại và phát triển của mình, mà còn phải biết tổ chứcmạng lướt bán hàng, đó là tập hợp các kênh đưa sản phẩm hàng hoá từ nơi sảnxuất đến người tiêu dùng sản phẩm ấy Thông thường kênh tiêu thu sản phẩm củadoanh nghiệp được chia thành 4 loại sau:
A: Kênh trực tiếp ngắn, từ doanh nghiệp đưa sản phẩm đến tay người tiêudùng
B: Kênh trực tiếp dài ( từ doanh nghiệp tới người bán lẻ, sau đó đến tayngười tiêu dùng)
C: Kênh gián tiếp ngắn ( từ doanh nghiệp tới các đại lý, tiếp đó phân tới cácngười bán lẻ và sau cùng đến tay người tiêu dùng)
D: Kênh gián tiếp dài ( từ tay người tiêu dùng tới các đại lý, các đại lý nhỏ
sẽ mua lại hàng của những đại lý lớn sau đó phân phối tới những người bán lẻ màcác đại lý lớn không phục vụ)
Bên cạnh đó, để thúc đẩy quá trình bán hàng doanh nghiệp có thể tiến hànhmột loạt các hoạt động hỗ trợ như: Tiếp thị, quảng cáo, yểm trợ bán hàng, tổ chứchội nghị khách hàng, tham gia các tổ chức liên kết kinh tế
Ngày nay, nghệ thuật tiêu thụ sản phẩm đóng vai trò vô cùng quan trọng,thậm chí quyết định đến sự sống còn của doanh nghiệp trên thị trường bởi vì nótác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp trên các khía cạnh sau:
- Tăng khả năng tiêu thụ hàng hoá thông qua việc thu hút sự quan tâm củakhách hàng tới sản phẩm của doanh nghiệp
Trang 24- Cải thiện vị trí hình ảnh của doanh nghiệp trên thị trường ( thương hiệu,chữ tín của doanh nghiệp)
- Mở rộng quan hệ làm ăn với các đối tác trên thị trường, phối hợp với cácchủ thể trong việc chi phối thị trường, chống hàng giả
d Phương thức phục vụ và thanh toán
Trách nhiệm của doanh nghiệp đối với sản phẩm của mình không phải chấmdứt sau khi giao hàng và nhận tiền của khách hàng bởi vì có một nguyên tắc chung
là “Ai sản xuất thì người đó phục vụ kỹ thuật” Tốt hơn nữa là chuẩn bị cho việcphục vụ kỹ thuật sớm hơn việc cung cấp sản phẩm đó ra thị trường Doanh nghiệp
sẽ bán được nhiều sản phẩm nếu khách hàng cảm thấy yên tâm rằng sản phẩm đóđảm bảo chất lượng ngay cả khi quan hệ mua bán đã chấm dứt
Dịch vụ sau bán hàng thường áp dụng đối với trường hợp sau
- Sản phẩm mang tính kỹ thuật cao
- Đơn giá sản phẩm cao
- Sản phẩm đựơc bán đơn chiếc
- Người mua không am hiểu tính năng và cách sử dụng của sản phẩm
- Sản phẩm chiếm lĩnh thị trường nhiều
Nội dung của dịch vụ sau bán hàng gồm
- Cam kết thu lại sản phẩm và hoàn trả tiền lại cho khách hàng hoặc đổi lạihàng nều sản phẩm không đúng với thoả thuận ban đầu hoặc không thoả mãn nhucầu của họ
- Cam kết bảo hành trong thời gian nhất định
- Cung cấp các dụch vụ bảo dưỡng kỹ thuật cho các sản phẩm có tuổi thọ dài
- Phương thức thanh toán cũng là một công cụ cạnh tranh được nhiều doanhnghiệp sử dụng Phương thức thanh toán gọn nhẹ, rườm rà hay chậm chễ ảnh
Trang 25huởng đến công tác tiêu thụ và do đó ảnh hưởng đến khả năng cạnh tranh củadoanh nghiệp trên thị trường.
e Yếu tố thời gian
Những thay đổi nhanh chóng của khoa học công nghệ làm thay đổi nhanhchóng cách nghĩ, cách làm việc của con người, tạo thời cơ cho mỗi người, mỗi đấtnước tiến nhanh về phía trước Đối với các doanh nghiệp yếu tố quyết định trongchiến lược kinh doanh hiện tại là tốc độ chứ không phải là yếu tố cổ truyền nhưnguyên vật liệu, lao động muốn chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này, cácdoanh nghiệp phải biết tổ chức nắm bắt trong tin nhanh chóng tiêu thụ để thu hồivốn nhanh trước khi chu kỳ sản xuất sản phẩm kết thúc
f Cạnh tranh về thời cơ thị trường
Doanh nghiệp nào dự báo trước thời cơ thị trường và nắm được thời cơ thịtrường sẽ có thêm điều kiện để chiến thắng trong cạnh tranh Thời cơ thị trườngthường xuất hiện do các yếu tố sau
- Sự thay đổi của môi trường công nghệ
- Sự thay đổi về yếu tố dân cư, điều kiện tự nhiên
- Các quan hệ tạo lập được của từng doanh nghiệp
Cạnh tranh về thời cơ thị trường thể hiện ở chỗ doanh nghiệp dự báo đượcnhững thay đổi của thị trường, từ đó có các chính sách khai thác thị trường hợp lý
và sớm hơn các doanh nghiệp khác Tuy nhiên cạnh tranh về thời cơ thị trườngcũng có thể thể hiện ở chỗ doanh nghiệp tìm ra được những lợi thế kinh doanh,sớm đi vào khai thác thị trường và một loạt sản phẩm của doanh nghiệp cũng sẽsớm bị bão hoà Yêu cầu này đòi hỏi phải thích ứng nhanh với những thay đổi đó.Thương lượng trong cạnh tranh Đó là việc thoả thuận giữa các chủ doanhnghiệp để chia sẻ thị trường một cách ôn hoà ( hơn là cạnh tranh gây bất lợi )
Trang 26g Áp dụng khoa học kỹ thuật và quản lý hiện đại
Sức cạnh tranh của doanh nghiệp tăng lên khi giá cả hàng hóa cá biệt của họthấp hơn giá cả trung bình trên thị trường, nhưng đó mới chỉ là một mặt của vấn
đề, mặt khác còn phải đảm bảo lợi nhuận của doanh nghiệp khi chấp nhận hạ giá.Điều đó thúc đẩy doanh nghiệp phải tập trung các nguồn lực để tăng năng suất laođộng, hao thấp chi phí đầu vào, nâng cao chất lượng hàng hóa… để giành ưu thếtrong cạnh tranh Muốn vậy, các doanh nghiệp phải thường xuyên cái tiến công cụlao động, hợp lý hóa sản xuất, nhanh chóng ứng dụng những thành tựu khoa học
kỹ thuật, quản lý hiện đại vào trong sản xuất kinh doanh.[6]
h Cạnh tranh bằng khuyến mại
Trong quá trình cạnh tranh đòi hỏi rất nhiều vấn đề, nó không đơn giản là tạo
ra hàng hóa có chất lượng tốt, mẫu mã đẹp hay giá cả thấp mà còn phải cung cấpcho người kinh doanh (bán buôn, bán lẻ), người tiêu dùng thông tin mục tiêu để cóthể tiếp cận được hàng hóa
Để kích thích người kinh doanh và người tiêu dùng, các doanh nghiệp cần phảithực hiện nhiều nội dung trong đó có chương trình khuyến mại, cung ứng dịch vụbằng cách giành những lợi ích nhất định cho khách hàng, khuyến mại kích thíchngười mua tiêu dùng sản phẩm, khuyến mại làm tăng doanh số bán
Ngoài ra, thông tin quảng cáo cũng là một biện pháp quan trọng đẩy mạnh tiêuthụ hàng hóa, nó làm cho người tiêu dùng biết đến sản phẩm, dịch vụ mà doanhnghiệp sẽ cung cấp.[4]
2.1.2.5 Các nhân tố tác động đến khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp
Khả năng cạnh tranh của sản phẩm, nhóm sản phẩm phụ thuộc vào khảnăng cạnh tranh của doanh nghiệp và của ngành đặt trong môi trường hoạt động
Trang 27chung của toàn bộ nền kinh tế Như vậy, khả năng cạnh tranh của sản phẩm phụthuộc trước hết là hoạt động và chiến lược của doanh nghiệp, chiến lược củangành và môi trường kinh doanh.[4]
Cũng như bản thân doanh nghiệp, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệpchịu tác động của rất nhiều nhân tố khác nhau Theo mô hình Kim cương của M.Porter có thể thấy, có ít nhất 6 nhóm yếu tố tác động tới năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp, điều kiện cầu (thị trường), điều kiện yếu tố (nguồn lực đầu vào), cácngành cung ứng và liên quan (cạnh tranh ngành), các yếu tố ngẫu nhiên và yếu tốnhà nước Tuy nhiên, có thể chia các nhân tố tác động đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp làm hai nhóm: các yếu tố bên trong doanh nghiệp và các yếu tố bênngoài doanh nghiệp.[9]
a Các nhân tố bên ngoài doanh nghiệp[9]
Có rất nhiều nhân tố bên ngoài tác động đến năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) dựa trên mô hình Kim cương củaM.Porter để đưa ra các yếu tố bên ngoài tác động tới năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp dưới tiêu đề môi trường kinh doanh của doanh nghiệp” với 56 chỉtiêu cụ thể (các chỉ tiêu này được lượng hóa để xếp hạng cho các quốc gia) thuộc 4nhóm yếu tố như sau:
Một là, các điều kiện yếu tố đầu vào, gồm 5 phân nhóm: kết cấu hạ tầng vật
chất – kỹ thuật; hạ tầng hành chính, nguồn nhân lực, hạ tầng công nghệ, thị trườngtài chính
Hai là, các điều kiện về cầu: sở thích của người mua, tình hình pháp luật về
tiêu dùng, về công nghệ thông tin…
Ba là, các ngành cung ứng và ngành liên quan: chất lượng và số lượng các
nhà cung cấp địa phương, khả năng tại chỗ về nghiên cứu chuyên biệt và dịch vụđào tạo, mức độ hợp tác giữa các khu vực kinh tế, khả năng cung cấp tại chỗ cácchi tiết và phụ kiện máy móc
Trang 28Bốn là, bối cảnh đối với chiến lược và cạnh tranh của doanh nghiệp, gồm
hai phân nhóm là động lực và cạnh tranh (các rào cản vô hình, sự cạnh tranh củacác nhà sản xuất địa phương, hiệu quả của việc chống độc quyền)
Theo logic truyền thống, các yếu tố bên ngoài doanh nghiệp được chiathành các nhóm sau đây: thị trường, thể chế - chính sách, kết cấu hạ tầng, cácngành hỗ trợ…
Thị trường
Thị trường là môi trường kinh doanh rất quan trọng đối với doanh nghiệp Thịtrường vừa là nơi tiêu thụ sản phẩm, tìm kiếm đầu vào thông qua hoạt động mua –bán hàng hóa dịch vụ đầu ra và các yếu tố đầu vào Thị trường còn đồng thời làcông cụ định hướng, hướng dẫn hoạt động của doanh nghiệp, thông qua mức cầu,giá cả, lợi nhuận… để định hướng chiến lược, kế hoạch kinh doanh Như vậy, sự
ổn định của thị trường có ý nghĩa rất quan trọng đối với hoạt động của doanhnghiệp nói chung và nâng cao sức cạnh tranh của doanh nghiệp nói riêng Để pháthuy vai trò của các yếu tố thị trường đối với doanh nghiệp, cần có sự can thiệp củanhà nước vào thị trường nhằm ổn định thị trường (hạn chế những biến động lớncủa thị trường), thông qua việc xây dựng và thực hiện tốt, nghiêm pháp luậtthương mại, tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực và hiệu quả, chốnggian lận thương mại, hạn chế độc quyền kinh doanh,…
Điều quan trọng là tạo lập môi trường thị trường cạnh tranh tích cực, tăngsức ép đổi mới quản lý, cải tiến quy trình sản xuất, ứng dụng thành tựu khoa học –công nghệ, đổi mới và đa dạng hóa sản phẩm,… tạo động lực cho doanh nghiệp đểvươn lên
Trong điều kiện thị trường lành mạnh và ổn định thì doanh nghiệp mới cóđiều kiện thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình Ngoài ra, cần tạođiều kiện thuận lợi cho việc gia nhập thị trường, tạo ra nhiều nhà cung cấp cũngnhư nhiều đối tác kinh doanh, nhiều khách hàng cho doanh nghiệp
Trang 29 Thể chế, chính sách
Thể chế, chính sách là tiền đề quan trọng cho hoạt động của doanh nghiệp Nộidung của thể chế, chính sách bao gồm các quy định pháp luật, các biện pháp hạnchế hay khuyến khích đầu tư hay kinh doanh đối với hàng hóa, dịch vụ, ngànhnghề, địa bàn… Thể chế, chính sách bao gồm pháp luật, chính sách về đầu tư, tàichính, tiền tệ, đất đai, công nghệ, thị trường… nghĩa là các biện pháp điều tiết cảđầu vào và đầu ra cũng như toàn bộ quá trình hoạt động của doanh nghiệp Dovậy, đây là nhóm yếu tố rất quan trọng và bao quát rất nhiều vấn đề liên quan tớihoạt động của doanh nghiệp nói chung và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanhnghiệp nói riêng
Các thể chế, chính sách đối với doanh nghiệp có thể được đánh giá theotừng chính sách hoặc bằng chỉ tiêu tổng hợp với nhiều cách tiếp cận khác nhau.Chẳng hạn, để đánh giá việc thực hiện thể chế, chính sách đối với các doanhnghiệp ở Việt Nam, Quỹ Châu Á và Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam(VCCI) đã tiến hành nghiên cứu đánh giá môi trường kinh doanh với 9 chỉ tiêuthành phần: về đăng ký kinh doanh, chính sách đất đai, tình hình thanh tra – kiểmtra, chính sách phát triển, tính minh bạch, chi phí giao dịch, năng động của chínhquyền
Kết cấu hạ tầng
Kết cấu hạ tầng bao gồm hạ tầng vật chất – kỹ thuật và hạ tầng xã hội, bao gồm
hệ thống giao thông, mạng lưới điện, hệ thống thông tin, hệ thống giáo dục – đàotạo… Đây là tiền đề quan trọng, tác động mạnh đến hoạt động của doanh nghiệp,ảnh hưởng đến chất lượng và giá cả của sản phẩm Diễn đàn Kinh tế thế giới(WEF) đã sử dụng tới tiêu chí phản ánh kết cấu hạ tầng trong tổng số 56 tiêu chíđánh giá về môi trường kinh doanh được sử dụng để tính năng lực cạnh tranh quốcgia
Trang 30Để bảo đảm cho doanh nghiệp hoạt động bình thường và nâng cao năng lựccạnh tranh, cần có hệ thống kết cấu hạ tầng đa dạng, có chất lượng tốt Điều đó đòihỏi có sự đầu tư đúng mức để phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế - xã hội.
Các ngành công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ
Hoạt động sản xuất kinh doanh với mỗi doanh nghiệp sẽ liên quan tới mộtchuỗi các ngành khác và dịch vụ hỗ trợ kinh doanh như: những ngành cung cấpnguyên liệu đầu vào, dịch vụ vận tải, cung cấp điện, cung cấp nước… Nếu sửdụng các dịch vụ với chi phí thấp, chất lượng phục vụ tốt sẽ tạo ra lợi thế chodoanh nghiệp tăng năng lực cạnh tranh, bởi vì mỗi lĩnh vực hoạt động sẽ có cơ hội
để thực hiện mức độ chuyên môn hóa cao hơn làm tăng hiệu quả sản xuất kinhdoanh
Vì vậy, doanh nghiệp rất cần duy trì mối quan hệ hợp tác lâu dài với cácngành có liên quan nhằm tạo ra lợi thế tiềm tàng cho cạnh tranh
Trong nền sản xuất hiện đại, cùng với sự cạnh tranh ngày càng khốc liệt thì
sự liên kết, hợp tác cũng phát triển mạnh mẽ Thực tế chỉ ra rằng, khi trình độ sảnxuất càng hiện đại thì sự phụ thuộc lẫn nhau càng lớn
Trình độ nguồn nhân lực
Trình độ nguồn nhân lực quốc gia nói chung có vai trò rất quan trọng đối với
sự phát triển doanh nghiệp Trong nền sản xuất hiện đại, đặc biệt là trong xuhướng chuyển sang nền kinh tế tri thức thì chất lượng nguồn nhân lực của quốc giahay của một vùng lãnh thổ là yếu tố được quan tâm nhất khi các doanh nghiệp lựachọn đầu tư Trình độ và các điều kiện về nguồn nhân lực thể hiện ở kỹ năng củanguồn nhân lực, mức lương, hệ thống lương, điều kiện làm việc, sức khỏe và antoàn, đầu tư cho đào tạo, vai trò của công đoàn Để nâng cao chất lượng nguồnnhân lực, cần chú trọng giáo dục và đào tạo, tạo mọi điều kiện thuận lợi để các cơ
Trang 31sở đào tạo, các hoạt động đào tạo phát triển thông qua cơ chế, chính sách và cácbiện pháp khác của Nhà nước.
b Các nhân tố bên trong doanh nghiệp[9]
Có nhiều yếu tố bên trong doanh nghiệp tác động tới năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Diễn đàn Kinh tế thế giới (WEF) đang sử dụng các chỉ tiêu thuộc 5nhóm yếu tố bên trong doanh nghiệp trong việc xác định năng lực cạnh tranh gồm:năng lực quản lý (triết lý kinh doanh, sự tin tưởng vào quản lý nghiệp vụ, sự hiệndiện chuỗi giá trị), chất lượng nhân lực (mở rộng đào tạo nhân viên), năng lựcmarketing (định hướng khách hàng, đổi mới mẫu mã, tăng cường tiếp thị, mở rộngthị trường quốc tế, kiểm soát hoạt động phân phối ở nước ngoài, mở rộng mạnglưới bán lẻ), khả năng đổi mới, năng lực nghiên cứu và phát triển (chỉ tiêu chonghiên cứu và phát triển)
Theo cách tiếp cận truyền thống, các yếu tố bên trong của doanh nghiệp ảnhhưởng đến năng lực cạnh tranh gồm: năng lực tổ chức quản lý của doanh nghiệp,trình độ công nghệ, năng lực tài chính, trình độ tay nghề của người lao động… Cóthể phân bổ thành 4 nhóm yếu tố bên trong tác động đến năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp như sau:
- Trình độ, năng lực và phương thức quản lý
Trình độ và năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp
Năng lực tổ chức, quản lý doanh nghiệp được coi là yếu tố quyết định sự tồntại và phát triển của doanh nghiệp nói chung cũng như năng lực cạnh tranh doanh
Trang 32nghiệp nói riêng Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp được thể hiện ở các mặtsau
- Trình độ của đội ngũ cán bộ quản lý: trình độ của đội ngũ này không chỉ
đơn thuần là trình độ học vấn mà còn thể hiện những kiến thức rộng lớn và phứctạp thuộc rất nhiều lĩnh vực liên quan tới hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp,
từ pháp luật trong nước và quốc tế, thị trường, ngành hàng, … đến kiến thức về xãhội, nhân văn
- Trình độ tổ chức, quản lý doanh nghiệp: thể hiện ở việc sắp xếp, bố trí cơ
cấu tổ chức bộ máy quản lý và phân định rõ chức năng, nhiệm vụ của các bộ phận.Việc hình thành tổ chức bộ máy quản lý doanh nghiệp theo hướng tinh, gọn, nhẹ
và hiệu quả cao có ý nghĩa quan trọng không chỉ bảo đảm hiệu quả quản lý cao, raquyết định nhanh chóng, chính xác, mà còn làm giảm tương đối chi phí quản lýcủa doanh nghiệp Nhờ đó mà nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
- Trình độ, năng lực quản lý của doanh nghiệp còn thể hiện trong việc hoạchđịnh chiến lược kinh doanh, lập kế hoạch, điều hành tác nghiệp… Điều này có ýnghĩa lớn trong việc nâng cao hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp trong ngắnhạn và dài hạn và do đó có tác động mạnh tới việc nâng cao năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp
Trình độ thiết bị, công nghệ
Thiết bị, công nghệ sản xuất là yếu tố rất quan trọng, ảnh hưởng rất lớn đếnnăng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Công nghệ phù hợp cho phép rút ngắn thờigian sản xuất, giảm mức tiêu hao năng lượng, tăng năng suất, hạ giá thành sảnphẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm, tạo ra lợi thế cạnh tranh đối với sản phẩmcủa doanh nghiệp Công nghệ còn tác động đến tổ chức sản xuất của doanhnghiệp, nâng cao trình độ cơ khí hóa, tự động hóa của doanh nghiệp
Trình độ lao động trong doanh nghiệp
Trang 33Trong doanh nghiệp, lao động vừa là yếu tố đầu vào vừa là lực lượng trựctiếp sử dụng phương tiện, thiết bị để sản xuất ra sản phẩm hàng hóa và dịch vụ.Lao động còn là lực lượng tham gia tích cực vào quá trình cải tiến kỹ thuật, hợp lýhóa quá trình sản xuất và thậm chí góp sức vào những phát kiến và sáng chế… Dovậy, trình độ của lực lượng lao động tác động rất lớn đến chất lượng và độ tinh xảocủa sản phẩm, ảnh hưởng lớn đến năng suất và chi phí của doanh nghiệp Đây làmột yếu tố tác động trực tiếp tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Để nângcao sức cạnh tranh, doanh nghiệp cần chú trọng bảo đảm cả chất lượng và sốlượng lao động, nâng cao tay nghề của người lao động dưới nhiều hình thức, đầu
tư kinh phí thỏa đáng, khuyến khích người lao động tham gia vào quá trình quản
lý, sáng chế, cải tiến…
Năng lực tài chính của doanh nghiệp
Năng lực tài chính của doanh nghiệp được thể hiện ở quy mô vốn, khả nănghuy động và sử dụng vốn có hiệu quả, năng lực quản lý tài chính… trong doanhnghiệp Trước hết, năng lực tài chính gắn với vốn – là một yếu tố sản xuất cơ bản
và là một đầu vào của doanh nghiệp Do đó, sử dụng vốn có hiệu quả, quay vòngvốn nhanh… có ý nghĩa rất lớn trong việc làm giảm chi phí vốn, giảm giá thànhsản phẩm Đồng thời, vốn còn là tiền đề đối với các yếu tố sản xuất khác
Việc huy động vốn kịp thời nhằm đáp ứng vật tư, nguyên liệu, thuê nhâncông, mua sắm thiết bị, công nghệ, tổ chức hệ thống bán lẻ… Như vậy, năng lựctài chính phản ánh sức mạnh kinh tế của doanh nghiệp, là yêu cầu đầu tiên, bắtbuộc phải có nếu muốn doanh nghiệp thành công trong kinh doanh và nâng caonăng lực cạnh tranh
Để nâng cao năng lực tài chính, doanh nghiệp phải củng cố và phát triểnnguồn vốn, tăng vốn tự có, mở rộng vốn vay dưới nhiều hình thức Đồng thời, điềuquan trọng là doanh nghiệp phải sử dụng có hiệu quả các nguồn vốn, hoạt độngkinh doanh có hiệu quả để tạo uy tín đối với khách hàng, với ngân hàng và nhữngngười cho vay vốn
Trang 34 Năng lực marketing của doanh nghiệp và khả năng xác định lượng cầu
Năng lực marketing của doanh nghiệp là khả năng nắm bắt nhu cầu thịtrường, khả năng thực hiện chiến lược 4P (Product, Place, Price, Promotion) tronghoạt động marketing Khả năng marketing tác động trực tiếp tới sản xuất và tiêuthụ sản phẩm, đáp ứng nhu cầu khách hàng, góp phần làm tăng doanh thu, tăng thịphần tiêu thụ sản phẩm, nâng cao vị thế của doanh nghiệp Đây là nhóm nhân tốrất quan trọng tác động tới năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Vì vậy, điều tra cầu thị trường và dựa trên khả năng sẵn có của doanhnghiệp để lựa chọn lĩnh vực kinh doanh phù hợp, tạo ra sản phẩm có thương hiệuđược người sử dụng chấp nhận
Trong điều kiện kinh tế hàng hóa phát triển, văn minh tiêu dùng ngày càngcao, thì người tiêu dùng càng hướng tới tiêu dùng những hàng hóa có thương hiệu
uy tín Vì vậy, xây dựng thương hiệu cho sản phẩm là một tất yếu đối với nhữngdoanh nghiệp muốn tồn tại trên thị trường
Mặt khác, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp phụ thuộc nhiều khâu nhưtiêu thụ, khuyến mãi, nghiên cứu thị trường… do đó dịch vụ bán hàng và sau bánhàng đóng vai trò quan trọng đến doanh số tiêu thụ - vấn đề sống còn của mỗidoanh nghiệp
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp
Năng lực nghiên cứu và phát triển của doanh nghiệp là yếu tố tổng hợp gồmnhiều yếu tố cấu thành như nhân lực nghiên cứu, thiết bị, tài chính cho hoạt độngnghiên cứu và phát triển (R&D), khả năng đổi mới sản phẩm của doanh nghiệp.Năng lực nghiên cứu và phát triển có vai trò quan trọng trong cải tiến công nghệ,nâng cao chất lượng sản phẩm, thay đổi mẫu mã, nâng cao năng suất, hợp lý hóasản xuất
Trang 35 Yếu tố liên quan đến mức độ cạnh tranh lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp, vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp tham gia cạnh tranh
Vị thế của doanh nghiệp so với các doanh nghiệp cùng loại khẳng định mức
độ cạnh tranh của nó trên thị trường Doanh nghiệp nào lựa chọn lĩnh vực có mức
độ cạnh tranh càng thấp thì càng thuận lợi, vì vậy, hiểu biết thị trường để quyếtđịnh kinh doanh ở lĩnh vực có mức độ cạnh tranh thấp là yếu tố quan trọng dẫnđến sự thành công và mang lại lợi nhuận cao cho doanh nghiệp Tuy nhiên, trongmôi trường cạnh tranh lành mạnh sẽ có tác dụng thúc đẩy doanh nghiệp nhiều hơn
là môi trường độc quyền
Vị thế của doanh nghiệp được thể hiện qua thị phần sản phẩm so với sảnphẩm cùng loại, uy tín thương hiệu sản phẩm đối với người tiêu dùng, sự hoàn hảocủa các dịch vụ và được đo bằng thị phần của các sản phẩm dịch vụ đó trên thịtrường
Ngoài ra, một số yếu tố khác nhau như lợi thế về vị trí địa lý, ngành nghềkinh doanh của doanh nghiệp, quy mô doanh nghiệp… có ảnh hưởng tới năng lựccạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.3 Tổng hợp và đánh giá các nghiên cứu có liên quan trước đây
Nguyễn Thị Hồng Thái (2009) đã nghiên cứu khả năng cạnh tranh của sản
phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Từ Sơn Bắc Ninh Từ thực trạng sản xuất kinh doanh và sảnphẩm đồ gỗ Đồng Kỵ của một số cơ sở sản xuất và hộ sản xuất trên huyện Từ SơnBắc Ninh Tác giả đã đánh giá khả năng cạnh tranh của sản phẩm từ đó so sánhsản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ với sản phẩm đồ gỗ của Vạn Điểm Tác giả đã tập hợpnhững ý kiến đánh giá của khách hàng về sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ Sử dụng môhình kim cương, ma trận SWOT từ đó định hướng một số giải pháp nhằm nângcao năng lực cạnh tranh của sản phẩm đồ gỗ Đồng Kỵ
Trang 36Đỗ Thị Huyền (2006) đã nghiên cứu năng lực cạnh tranh một số sản phẩm
chủ yếu tại công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu Tác giả đã tổng quát về năng lựccạnh tranh của sản phẩm và năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp Với việc sửdụng ma trận các yếu tố bên ngoài (EFE), ma trận các yếu tố bên trong (IEF) và
ma trận SWOT tác giả đã đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty cổ phần bánhkẹo Hải Châu một cách cụ thể Tác giả đã chỉ ra vị thế của công ty so với hai đốithủ cạnh tranh trong ngành đó là công ty bánh kẹo Hải Châu và công ty bánh kẹoKinh Đô; từ đó chỉ ra được lợi thế cạnh tranh và những bất lợi thế của công ty.Hơn thế tác giả đã đưa ra được những giải pháp cụ thể nhằm nâng cao năng lựccạnh tranh của công ty cổ phần bánh kẹo Hải Châu
Nguyễn Thị Thùy Dung (2010) đã nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công
ty cổ phần 77 Trong đề tài đã hệ thống hóa được cơ sở lý luận và thực tiễn về
cạnh tranh và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp; phân tích thực trạng
về năng lực cạnh tranh của công ty trên thị trường; đề xuất các giải pháp nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của công ty Tác giả đã tiến hành thu thập số liệuthông qua khảo sát 40 đại lý và 70 người tiêu dùng cuối cùng Qua phương phápđiều tra thu thập thông tin(sơ cấp, thứ cấp) đã cho người đọc hiểu phần nào vềcạnh tranh và có cái nhìn tổng quan sơ lược về công ty cũng như vấn đề nâng caonăng lực cạnh tranh của công ty Từ đó sử dụng phương pháp phân tích và xử lý sốliệu (thống kê mô tả, so sánh, ma trận swot) làm rõ và đánh giá được thực trạng vềnăng lực cạnh tranh của công ty
Trang 37Yếu tố bên ngoài
- Thị trường,
- Trình độ nguồn nhân lực;
Trang 39- Phương pháp nghiên cứu thị trường người tiêu dùng: Là phương pháp lấy ýkiến hiện tại cũng như khách hàng tiềm năng cho kế hoạch mua hàng trong tươnglai của họ Việc nghiên cứu do phòng bán hàng hoặc nghiên cứu thị trường đượcthực hiện bằng nhiều hình thức như hỏi ý kiến khách hàng hoặc phỏng vấn cánhân Cách tiếp cận này không những giúp chúng ta chuẩn bị dự báo mà còn cóthể cải tiến, thiết kế sản phẩm và hoạch định sản phẩm mới.
III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN
3.1 Đặc điểm cơ bản của Công Ty TNHH Tân Thế Kỷ
3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của Công ty TNHH Tân Thế Kỷ [10]
3.1.1.1 Thông tin chung về Công ty
Tên đăng ký của Công
ty
: CÔNG TY TRÁCH NHIỆM HỮU HẠN TÂN THẾ KỶ
Tên giao dịch quốc tế : New Century international Co., Ltd
Trang 40thể công ty TNHH Tân Thế Kỷ đã tham gia cung cấp, lắp đặt thiết bị hàn – cắt chomột số công trình công nghiệp, dân dụng quan trọng của quốc gia như : Nhà máyhiệt điện Phả Lại, Trung tâm Hội Nghị Quốc Gia, Nhà máy lọc dầu Dung Quất,Bảo tàng Hà nội…Với việc chuyên nghiệp và năng động Công ty Tân Thế Kỷ đã
để lại dấu ấn tốt cho các khách hàng
Công ty khởi nghiệp với hai thành viên sáng lập là Ông Lê Thành Vinh(Chủ tịch thành viên kiêm Giám đốc) và bà Cung Thị Kim Thoa (thành viên sánglập), với số vốn điều lệ là 30 tỷ đồng Trong đó, ông Lê Thanh Vinh có phần vốngóp chiếm 75% tổng số vốn, còn phần vốn góp còn lại của bà Cung Thị KimThoa Kể từ khi thành lập và đi vào hoạt động trong lĩnh vực kinh doanh thươngmại từ năm 1997 tới nay, kết quả hoạt động kinh doanh của công ty ngày một hiệuquả và phát triển
Cùng các cán bộ kỹ thuật có tay nghề cao và các nhân viên kinh doanh cónhiều kinh nghiệm Công ty đã xây dựng được một hệ thống bán hàng tại các tỉnhphía Nam và phía Bắc, cung cấp các dịch vụ , hỗ trợ kỹ thuật, bảo hành , sửa chữamiễn phí cho khách hàng
Không chỉ là đơn vị kinh doanh, Công ty còn tham gia vào các hoạt động
xã hội nhằm hỗ trợ đào tạo nguồn nhân lực nghề hàn và nâng cao năng lực quản lýcho các trường đào tạo nghề và doanh nghiệp Như tham gia vào các dự án ODAcủa Nhật Bản, dự án JICA Nhật Bản Công ty đã thực hiện nhiều dự án viện trợcho trường Cao đẳng nghề công nghiệp Hà nội, Trường trung cấp Vệt Đức VĩnhPhúc Ngoài ra Công ty còn tổ chức được rất nhiều hội thảo với các nội dungnhư cải tạo môi trường, phát triển bền vững, công nghệ về hàn cắt hiện đại củaNhật Bản
Hàng năm công ty cấp học bổng Tân Thế Kỷ cho các học sinh ngành hàncủa các trường Đại học, Cao đẳng, Dạy nghề…và quỹ Tân Thế Kỷ tài trợ cho các
dự án nghiên cứu khoa học công nghệ và giáo dục đào tạo