1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị VVMI

97 284 0

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 97
Dung lượng 1,17 MB

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

Xuất phát từ thực tiễn trên em thực hiện nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI", vớ

Trang 1

LỜI CẢM ƠN

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp này, trước hết em xin chân thành cảm ơn Ban giám hiệu trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, Ban chủ nhiệm khoa Kế toán và Quản trị kinh doanh cùng toàn thể các thầy cô giáo đã tận tình chỉ bảo, giúp đỡ em trong suốt bốn năm học vừa qua

Đặc biệt em xin bày tỏ lòng biết ơn sâu sắc tới cô giáo Lê Thị Thu Hương và thầy giáo T.S Nguyễn Quốc Chỉnh đã tận tình hướng dẫn, giúp đỡ

em trong suốt quá trình nghiên cứu và hoàn thành khóa luận tốt nghiệp của mình

Em cũng xin chân thành cảm ơn Ban giám đốc công ty cổ phần sản xuất

và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI và toàn thể cán bộ công nhân viên trong công ty, cùng bạn bè và người thân đã tận tình giúp đỡ em trong thời gian làm khóa luận tốt nghiệp của mình

Do còn hạn chế về trình độ chuyên môn và thời gian thực tập có hạn nên khóa luận không tránh khỏi những thiếu sót Vì vậy, em rất mong nhận được sự góp ý của các thầy cô giáo và các bạn bè để khóa luận tốt nghiệp của mình được hoàn thiện hơn

Xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, ngày 02 tháng 06 năm 2011

Sinh viên

Giáp Thị Hảo

Trang 2

MỤC LỤC

- Trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng của tiến bộ khoa

học kỹ thuật 16

- Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin của doanh nghiệp 17

- Nhân tố tổ chức quản lý doanh nghiệp 18

* Nhóm nhân tố khách quan 19

TÀI LIỆU THAM KHẢO……….94

Trang 3

DANH MỤC BẢNG BIỂU

- Trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng của tiến bộ khoa

học kỹ thuật 16

- Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin của doanh nghiệp 17

- Nhân tố tổ chức quản lý doanh nghiệp 18

* Nhóm nhân tố khách quan 19

Trang 4

DANH MỤC HÌNH

- Trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng của tiến bộ khoa

học kỹ thuật 16

- Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin của doanh nghiệp 17

- Nhân tố tổ chức quản lý doanh nghiệp 18

* Nhóm nhân tố khách quan 19

Trang 5

I MỞ ĐẦU

1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Hiệu quả sản xuất kinh doanh luôn là mục tiêu hướng đến và là thước đo

sự thành công cho mỗi tổ chức kinh tế, mỗi hộ gia đình Tìm giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là vấn đề muôn thuở mà các nhà quản lý kinh

tế cũng như nhà đầu tư cần quan tâm Đặc biệt, trong cơ chế thị trường hiện nay, khi mà sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp diễn ra ngày càng mạnh mẽ, mỗi doanh nghiệp muốn tồn tại và phát triển được thì đều phải vận động bằng chính nội lực của mình thì mới có thể đứng vững được ở trên thương trường cạnh tranh đầy khốc liệt

Cho tới nay, đã có nhiều nghiên cứu về vấn đề hiệu quả sản xuất kinh doanh trên cả mặt lý luận và thực tiễn Tuy nhiên những nghiên cứu, đánh giá một cách có hệ thống và toàn diện trên cơ sở khoa học để tìm ra giải pháp hữu ích cho một doanh nghiệp cụ thể vẫn chưa được quan tâm nhiều

Công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI, là công

ty con trực thuộc công ty TNHH một thành viên mỏ Việt Bắc – TKV, trực thuộc Tập đoàn công nghiệp - than khoáng sản, hoạt động trong lĩnh vực sản xuất và kinh doanh vật tư phục vụ cho ngành than đã nhiều năm nay Được sự

hỗ trợ của tổng công ty, của tập đoàn cùng với kinh nghiệm kinh doanh nhiều năm nay công ty đã có được những thành công nhất định Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đạt được công ty đang phải đối đầu với sự biến động tiêu cực của nền kinh tế thế giới nói chung và trong nước nói riêng, những thách thức mới do những biến đổi liên tục trong chính sách của nhà nước nói chung và tổng công ty, tập đoàn nói riêng Hơn nữa, từ cuối năm 2008 Việt Nam đã phải hứng chịu những tác động của suy thoái kinh tế khiến cho hàng loạt các doanh nghiệp gặp phải khó khăn, thậm chí có nhiều doanh nghiệp bị phá sản hoặc đứng trước bờ vực phá sản Đứng trong môi trường chung cũng gặp phải không

ít những khó khăn Công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI cũng phải chịu hoàn cảnh chung như các doanh nghiệp khác Hoạt động

Trang 6

sản xuất kinh doanh của công ty ngày càng gặp phải nhiều khó khăn cả về đầu vào lẫn đầu ra, lợi nhuận của công ty bị ảnh hưởng nghiêm trọng và lâm vào tình trạng giảm liên tục trong 3 năm trở lại đây Vậy đâu là giải pháp giúp công

ty nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh nhằm thoát khỏi tình trạng khó khăn hiện nay để ngày một phát triển

Xuất phát từ thực tiễn trên em thực hiện nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất

và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI", với mục tiêu hướng đến trên cơ sở

những phân tích về hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty trong thời gian vừa qua để tìm ra những giải pháp mới phù hợp nhằm giúp công ty nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh trong thời gian tới

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI, từ đó đề ra các biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

1.2.2 Mục tiêu cụ thể

- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Đánh giá thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

- Đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho công ty trong thời gian tới

1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu của đề tài là thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty và các biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho công ty

Trang 7

1.3.2 Phạm vi nghiên cứu

- Phạm vi nội dung: Tập trung hệ thống hóa cơ sở lý luận, đánh giá đúng thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty và đề xuất một số biện pháp chủ yếu nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho Công ty

cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI

- Phạm vi không gian: Nghiên cứu tại địa bàn của công ty ở tổ 26 – Thị trấn Đông Anh – Huyện Đông Anh – TP Hà Nội và các thị trường tiêu thụ sản phẩm của công ty

- Phạm vi thời gian: Thời gian thực hiện đề tài từ 27/12/2010 – 27/5/2011., Đề tài thực hiện nghiên cứu hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty từ năm 2008 đến 2010

1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến

- Hệ thống hóa được cơ sở lý luận về hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Đánh giá đúng thực trạng của hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty

- Một số biện pháp hữu ích giúp công ty nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh trong giai đoạn sắp tới

Trang 8

II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Tổng quan tài liệu

2.1.1 Lý luận chung về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

2.1.1.1 Khái niệm

Trong điều kiện sản xuất và kinh doanh theo cơ chế thị trường, để tồn tại

và phát triển đòi hỏi các doanh nghiệp kinh doanh phải có lãi Để đạt được hiệu quả cao nhất trong sản xuất và kinh doanh, các doanh nghiệp cần phải xác định phương hướng mục tiêu trong đầu tư, biện pháp sử dụng các điều kiện sẵn có

về các nguồn nhân tài, vật lực Muốn vậy, các doanh nghiệp cần nắm được các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Vậy hiệu quả sản xuất kinh doanh là gì?

Hiện nay có rất nhiều quan điểm khác nhau về hiệu quả kinh doanh Tuỳ theo từng lĩnh vực nghiên cứu mà người ta đưa ra các quan điểm khác nhau

về hiệu quả sản xuất kinh doanh Dưới đây là một số quan điểm về hiệu quả kinh doanh:

Theo nhà kinh tế học người Anh, Adam Smith, cho rằng: "Hiệu quả là kết quả đạt được trong hoạt động kinh tế, doanh thu tiêu thụ hàng hoá"[1] Theo quan điểm này, Adam Smith đã đồng nhất hiệu quả với chỉ tiêu phản ánh kết quả sản xuất kinh doanh Hạn chế của quan điểm này là kết quả sản xuất kinh doanh có thể tăng lên do chi phí sản xuất tăng hay do mở rộng sử dụng các nguồn lực sản xuất Nếu với cùng một kết quả sản xuất kinh doanh

có hai mức chi phí khác nhau thì theo quan điểm này cũng có hiệu quả Quan điểm này chỉ đúng khi kết quả sản xuất kinh doanh tăng với tốc độ nhanh hơn tốc độ tăng của chi phí đầu vào của sản xuất Do vậy, quan điểm này chưa phản ánh chính xác về hiệu quả sản xuất kinh doanh

Quan điểm thứ hai cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là quan hệ tỉ lệ giữa phần tăng thêm của phần kết quả và phần tăng thêm của chi phí"[1] Quan điểm này đã xác định hiệu quả trên cơ sở so sánh tương đối giữa kết quả đạt

Trang 9

được với phần chi phí bỏ ra để có được kết quả đó Nhưng xét trên quan niệm của triết học Mác-Lênin thì sự vật hiện tượng đều có quan hệ ràng buộc có tác động qua lại lẫn nhau chứ không tồn tại một các riêng lẻ [2] Hơn nữa sản xuất kinh doanh là một quá trình tăng thêm có sự liên hệ mật thiết với các yếu

tố có sẵn Chúng trực tiếp hoặc gián tiếp tác động làm kết quả sản xuất kinh doanh thay đổi Hạn chế của quan điểm này là nó chỉ xem xét hiệu quả trên cơ

sở so sánh phần tăng thêm của kết quả và phần tăng thêm của chi phí, và nó không xem xét đến phần chi phí và phần kết quả ban đầu Do đó, quan điểm này chỉ đánh giá được hiệu quả của phần kết quả sản xuất kinh doanh mà không đánh giá được toàn bộ hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Quan điểm thứ ba cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh được đo bằng hiệu

số giữa kết quả và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó"[1] Quan niệm này có

ưu điểm là phản ánh được mối quan hệ bản chất của hiệu quả kinh tế Nó gắn được kết quả với toàn bộ chi phí, coi hiệu quả là sự phản ánh trình độ sử dụng các yếu tố sản xuất kinh doanh Tuy nhiên quan điểm này chưa phản ánh được tương quan về lượng và chất giữa kết quả và chi phí Để phản ánh trình

độ sử dụng các nguồn lực chúng ta phải cố định một trong hai yếu tố hoặc kết quả đầu ra hoặc chi phí bỏ ra, nhưng trên thực tế thì các yếu tố này không

ở trạng thái tĩnh mà luôn biến đổi và vận động

Quan điểm thứ tư cho rằng: "Hiệu quả kinh doanh là mức độ thoả mãn yêu cầu quy luật cơ bản của chủ nghĩa xã hội, cho rằng quỹ tiêu dùng với tư cách là chỉ tiêu đại diện cho mức sống của mọi người trong doanh nghiệp"[1] Quan điểm này có ưu điểm là bám sát mục tiêu tinh thần của nhân dân Nhưng khó khăn ở đây là việc xác định mức độ thỏa mãn của con người Bởi

vì, mỗi con người có một mức độ thỏa mãn về cuộc sống riêng nếu không muốn nói là nó rất đa dạng và phong phú và cũng có vô số các chỉ tiêu để phản ánh mức độ thỏa mãn nhu cầu hay mức độ nâng cao đời sống nhân dân

Quan điểm thứ năm cho rằng: "Hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (hoặc quá trình) kinh tế, là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (nhân lực, tài lực, vật lực, tiền vốn) để đạt được mục tiêu xác

Trang 10

định Từ khái niệm khái quát này có thể hình thành công thức biểu diễn khái quát phạm trù hiệu quả kinh tế như sau:

H = K/C Với: -H là hiệu quả kinh tế của một hiện tượng (quá trình) kinh tế nào đó

- K là kết quả thu được từ hiện tượng (quá trình kinh tế đó)

- C là chi phí toàn bộ đã bỏ ra để đạt được kết quả đó

Như vậy, có thể khái niệm ngắn gọn: hiệu quả kinh tế phản ánh chất lượng hoạt động kinh tế và được xác định bởi tỷ số giữa kết quả đạt được và chi phí bỏ ra để đạt được kết quả đó

Theo quan điểm này hiệu quả kinh tế đã đánh giá được tốt trình độ sử dụng nguồn lực ở mọi điều kiện “động” của hoạt động kinh tế Quan niệm hiệu quả kinh tế như vậy thì hoàn toàn có thể lượng hóa được hiệu quả kinh tế trong sự vận động và biến đổi không ngừng của các hoạt động kinh tế, không phụ thuộc vào quy môvà tốc độ biến động khác nhau của chúng

Từ các quan điểm về hiệu quả kinh doanh, hiệu quả kinh tế nói trên có thể đưa ra một khái niệm đầy đủ về hiệu quả sản xuất kinh doanh là: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu mà doanh nghiệp đã xác định

2.1.1.2 Vai trò và sự cần thiết của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh đối với doanh nghiệp

* Vai trò của việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh

Mục tiêu baotrùm và lâu dài của mọi doanh nghiệp là tạo ra lợi nhuận, tối ưu hoá lợi nhuận trên cơ sở nguồn lực sẵn có Để đạt được mục tiêu này doanh nghiệp sử dụng nhiều phương pháp khác nhau Hiệu quả sản xuất kinh doanh là một trong những công cụ hữu hiệu để các nhà quản trị đánh giá các phương án thực hiện nhằm đạt lợi nhuận tối ưu cho doanh nghiệp Việc xem

Trang 11

xét, đánh giá tính toán hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ cho biết sử dụng các nguồn lực vào các hoạt động kinh doanh ở mức độ nào cho phù hợp

mà còn cho phép nhà quản trị phân tích, tìm ra các nhân tố để đưa ra các biện pháp quản trị kinh doanh thích hợp trên cả hai phương diện: tăng kết quả và giảm chi phí sản xuất kinh doanh, nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh Với tư cách là một công cụ đánh giá và phân tích kinh tế, phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh không chỉ được sử dụng ở giác độ tổng hợp, đánh giá chung trình

độ sử dụng tổng hợp đầu vào trên phạm vi toàn doanh nghiệp mà còn được sử dụng để đánh giá trình độ sử dụng từng yếu tố đầu vào ở phạm vi toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của toàn doanh nghiệp cũng như ở từng bộ phận cấu thành của doanh nghiệp Bản chất của hiệu quả kinh doanh chỉ rõ trình độ

sử dụng nguồn lực vào kinh doanh: Trình độ sử dụng nguồn lực kinh doanh càng cao, các doanh nghiệp càng có khả năng tạo ra kết quả cao trong cùng một nguồn lực đầu vào hoặc tốc độ tăng của kết quả lớn hơn so với tốc độ tăng của việc sử dụng nguồn lực đầu vào Do đó, trên phương diện lý luận và thực tiễn phạm trù hiệu quả sản xuất kinh doanh đóng vai trò rất quan trọng trong việc so sánh đánh giá phân tích kinh tế nhằm tìm ra một giải pháp tối ưu nhất đưa ra phương pháp đúng đắn nhất để đạt được mục tiêu tối đa hoá lợi nhuận Như vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh không những là mục tiêu, mục đích của các nhà kinh tế, các nhà kinh doanh mà còn là một phạm trù để phân tích đánh giá trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào nói trên

* Sự cần thiết phải nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Sản xuất cái gì, sản xuất như thế nào, sản xuất cho ai sẽ không phải lựa chọn cách kết hợp các yếu tố đầu vào nếu như nguồn tài nguyên không hạn chế Người ta có thể sản xuất vô tận, hàng hóa, sử dụng thiết bị máy móc, nguyên vật liệu, lao động một cách tùy ý nếu như nguồn tài nguyên là vô tận Nhưng thực tế, mọi nguồn tài nguyên trên trái đất như đất đai, khoáng sản, hải sản, lâm sản,… là một phạm trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm, cạn kiệt do sự khai thác và sử dụng của con người Khi tiến hành lựa chọn phương án sản xuất kinh doanh mỗi quốc gia, doanh nghiệp, hộ gia đình luôn luôn đối diện với hai mặt của một vấn đề

Trang 12

Một mặt, dân số thế giới liên tục gia tăng Theo số liệu thống kê vào ngày 20/10/2010, dân số thế giới ước lượng là 6.877.200.000 người Như vậy, mốc 7 tỷ người sẽ được chạm tới vào năm 2011 Dự đoán đến năm 2050, dân

số thế giới là 9,51 tỷ[3] Điều này cho thấy, nhu cầu tiêu dùng vật phẩm của con người ngày càng gia tăng Thêm vào đó, nhu cầu của mỗi cá nhân là không giới hạn Qua đây đã chứng minh được rằng nhu cầu tiêu dùng vật phẩm của con người là một phạm trù không có giới hạn: Không có giới hạn ở

sự phát triển các loại cầu và ở từng loại cầu cũng không có giới hạn – càng nhiều, càng phong phú, càng có chất lượng cao càng tốt

Hình ảnh 2.1: Dân số thê giới ngày càng gia tăngMặt khác, các nguồn lực đầu vào lại là phạm trù hữu hạn và ngày càng khan hiếm theo cả nghĩa tuyệt đối và tương đối của nó Như vậy, các nguồn lực đầu vào đã khan hiếm lại càng khan hiếm hơn Khan hiếm đòi hỏi và bắt buộc con người phải nghĩ đến việc lựa chọn kinh tế, khan hiếm tăng lên dẫn đến vấn đề lựa chọn kinh tế tối ưu ngày càng được đặt ra một cách nghiêm túc và gay gắt hơn[4] Nhưng khan hiếm mới chỉ là điều kiện cần của sự lựa chọn kinh tế Trong điều kiện không khan hiếm nguồn lực thì con người đã lựa chọn phương án phát triển kinh tế theo chiều rộng, tức tăng trưởng kết quả sản xuất dựa trên cơ sở gia tăng, mở rộng các yếu tố sản xuất như tư liệu sản xuất, đất đai,…

Trang 13

Điều kiện đủ cho sự lựa chọn kinh tế là cùng với sự phát triển của kỹ thuật sản xuất thì càng ngày người ta càng tìm ra nhiều phương pháp khác nhau để tạo ra sản phẩm Kỹ thuật sản xuất phát triển cho phép với cùng nguồn lực đầu vào nhất định người ta có thể tạo ra nhiều sản phẩm đầu vào khác nhau để chế tạo ra rất nhiều loại sản phẩm Điều này cho phép các doanh nghiệp có khả năng lựa chọn kinh tế, lựa chọn sản xuất kinh doanh sản phẩm (cơ cấu sản phẩm) tối ưu Trong khi đó, theo định nghĩa ở trên thì hiệu quả sản xuất kinh doanh là một phạm trù kinh tế phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc, thiết bị, nguyên vật liệu và tiền vốn) nhằm đạt được mục tiêu đã định Do vậy, sự lựa chọn và kết hợp các yếu tố đầu vào đúng đắn sẽ mang lại cho doanh nghiệp hiệu quả sản xuất kinh doanh cao nhất, thu được nhiều lợi ích nhất Giai đoạn phát triển kinh tế theo chiều rộng đã kết thúc và nhường chỗ cho sự phát triển kinh tế theo chiều sâu: sự tăng trưởng kết quả sản xuất kinh doanh chủ yếu nhờ vào việc cải tiến các yếu tố sản xuất về mặt chất lượng, ứng dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật mới, công nghệ mới, hoàn thiện công tác quản trị và cơ cấu kinh tế …, nâng cao chất lượng các hoạt động sản xuất kinh doanh Nói một cách khái quát là nhờ vào sự nâng cao hiệu quả kinh doanh.

Như vậy, nâng cao hiệu quả kinh doanh tức là nâng cao khả năng sử dụng các nguồn lực có hạn trong sản xuất, đạt được theo sự lựa chọn tối ưu Trong điều kiện khan hiếm các nguồn lực sản xuất thì nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện không thể thiếu đối với bất kỳ hoạt động sản xuất kinh doanh nào, bởi vì:

- Thứ nhất, hoạt động kinh doanh trong cơ chế kinh tế thị trường, môi trường cạnh tranh gay gắt, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện, là cơ sở để đảm bảo sự tồn tại và phát triển của doanh nghiệp Bởi vì sự tồn tại của doanh nghiệp được xác định bởi sự có mặt và vị trí của doanh nghiệp trên thị trường Mà hiệu quả sản xuất kinh doanh lại là nhân tố trực tiếp đảm bảo cho sự tồn tại và xác định vị trí đứng cho doanh nghiệp trên thị trường Trên cơ chế thị trường, việc giải quyết ba vấn đề kinh tế cơ bản: sản xuất cái gì, sản xuất cho ai, sản xuất như thế nào dựa trên quan hệ cung cầu,

Trang 14

giá cả thị trường, cạnh tranh và hợp tác [4] Các doanh nghiệp phải tự ra các quyết định kinh doanh của mình, tự hạch toán lãi lỗ, lãi nhiều hưởng nhiều, lãi ít hưởng ít, không có lãi sẽ đi đến phá sản Lúc này, mục tiêu lợi nhuận trở thành một trong những mục tiêu quan trọng nhất, mang tính sống còn của sản xuất kinh doanh Mặt khác, trong nền kinh tế thị trường thì các doanh nghiệp phải cạnh tranh để tồn tại và phát triển Môi trường cạnh tranh ngày càng gay gắt, trong cuộc cạnh tranh đó có nhiều doanh nghiệp trụ vững, phát triển sản xuất nhưng cũng không ít doanh nghiệp đã thua lỗ, giải thể, phá sản Để có thể trụ lại được trong cơ chế thị trường, các doanh nghiệp luôn phải nâng cao chất lượng hàng hóa, giảm chi phí sản xuất, nâng cao uy tín … nhằm đạt tới mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Các doanh nghiệp phải có được lợi nhuận và đạt được lợi nhuận càng cao càng tốt Do vậy, đạt hiệu quả kinh doanh và nâng cao hiệu quả kinh doanh luôn là vấn đề được quan tâm của doanh nghiệp và trở thành điều kiện sống còn để doanh nghiệp có thể tồn tại trên thị trường Tuy nhiên mục tiêu của các doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở sự tồn tại Bởi vì sự tồn tại luôn luôn đi kèm với sự phát triển mở rộng của doanh nghiệp, đòi hỏi phải có sự tích lũy đảm bảo cho quá trình sản xuất mở rộng theo đúng quy luật phát triển Nên mục tiêu lâu dài của doanh nghiệp là ngày một mở rộng và phát triển vững chắc trên thị trường Do vậy, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp xác lập một vị thế lớn mạnh của mình trên thị trường và ngày một phát triển hơn.

- Thứ hai, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là nhân tố thúc đẩy

sự cạnh tranh và tiến bộ trong kinh doanh Chính việc thúc đẩy cạnh tranh yêu cầu các doanh nghiệp phải tự tìm tòi, đầu tư tạo nên sự tiến bộ trong kinh doanh Chấp nhận cơ chế thị trường là chấp nhận sự cạnh tranh Khi thị trường ngày càng phát triển thì cạnh tranh giữa các doanh nghiệp ngày càng gay gắt và khốc liệt hơn Sự cạnh tranh lúc này không còn là sự cạnh tranh về mặt hàng mà cạnh tranh về mặt chất lượng, giá cả mà còn phải cạnh tranh nhiều yếu tố khác nữa như sự cạnh tranh về thương hiệu, cạnh tranh nguồn cung ứng các nguyên liệu đầu vào và cạnh tranh ngay cả trong dịch vụ chăm sóc hàng … Mục tiêu của doanh nghiệp là phát triển thì cạnh tranh là yếu tố

Trang 15

làm cho doanh nghiệp mạnh lên nhưng ngược lại cũng có thể làm cho doanh nghiệp bị triệt tiêu trên thị trường Để đạt được mục tiêu là tồn tại và phát triển mở rộng thì doanh nghiệp phải chiến thắng trong cạnh tranh trên thị trường Do đó doanh nghiệp cần phải có hàng hóa, dịch vụ chất lượng tốt, giá

cả hợp lý Mặt khác hiệu quả sản xuất kinh doanh là đồng nghĩa với việc giảm giá thành, tăng khối lượng hàng hóa, chất lượng, mẫu mã không ngừng được cải thiện nâng cao

- Thứ ba, việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh chính là nhân tố

cơ bản tạo ra sự thắng lợi cho doanh nghiệp trong quá trình hoạt động kinh doanh trên thị trường Bởi vì, khi doanh nghiệp nâng cao được hiệu quả sản xuất kinh doanh cũng có nghĩa là trình độ sử dụng các yếu tố đầu vào của doanh nghiệp đã đạt đến mức cao và đạt được kết quả cao dựa trên sự kết hợp các yếu tố đầu vào với chi phí thấp Do vậy, phần lợi nhuận mà doanh nghiệp tạo ra cũng tăng lên góp phần vào tích lũy cho tái sản xuất và mở rộng của doanh nghiệp, thúc đẩy doanh nghiệp ngày một phát triển lớn mạnh hơn Muốn tạo ra sự thắng lợi trong cạnh tranh đòi hỏi các doanh nghiệp phải không ngừng nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của mình Chính sự nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh là con đường nâng cao sức cạnh tranh và khả năng tồn tại, phát triển của mỗi doanh nghiệp

2.1.1.3 Bản chất và đặc điểm của hiệu quả sản xuất kinh doanh

* Bản chất

Khái niệm hiệu quả sản xuất kinh doanh đã khẳng định bản chất của hiệu quả kinh tế trong hoạt động sản xuất kinh doanh Đó chính là phản ánh mặt chất lượng của các hoạt động sản xuất kinh doanh, phản ánh trình độ sử dụng các nguồn lực (lao động, máy móc thiết bị, nguyên nhiên vật liệu và tiền vốn) để đạt được mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp – mục tiêu tối đa hóa lợi nhuận Vậy, hiệu quả sản xuất kinh doanh là mục tiêu hay phương tiện của kinh doanh? Trong thực tế, nhiều lúc người ta sử dụng các chỉ tiêu hiệu quả như là mục tiêu cần đạt đến và

Trang 16

trong nhiều trường hợp khác người ta lại sử dụng chúng như công cụ để nhận biết “khả năng” tiến tới mục tiêu cần đạt được là kết quả.

Khái niệm về hiệu quả sản xuất kinh doanh ở trên đã khẳng định bản chất hiệu quả kinh tế của hoạt động sản xuất kinh doanh Theo khái niệm này, hiệu quả sản xuất kinh doanh đã phản ánh được tình hình sử dụng các nguồn lực của doanh nghiệp để đạt mục tiêu cuối cùng của mọi hoạt động sản xuất kinh doanh của mọi doanh nghiệp là tối đa hoá lợi nhuận

* Đặc điểm của hiệu quả sản xuất kinh doanh

Hiệu quả sản xuất kinh doanh có 3 đặc điểm chính sau:

- Thứ nhất: Hiệu quả sản xuất kinh doanh là chỉ tiêu kinh tế tổng hợp phản ánh trình độ khai thác các nguồn lực của doanh nghiệp Hiệu quả kinh tế càng cao chứng tỏ doanh nghiệp có trình độ khai thác các nguồn lực cao Trình độ khai thác các nguồn lực của doanh nghiệp vừa được đánh giá trên mức độ tổng hợp vừa được đánh giá ở mức độ bộ phận Hiệu quả sản xuất kinh doanh phán ánh được trình độ khai thác các nguồn lực đầu vào ở cả mức độ tổng hợp và mức độ bộ phận

- Thứ hai: Hiệu quả sản xuất kinh doanh được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu, từ chỉ tiêu đánh giá hiệu quả tổng hợp tới chỉ tiêu đánh giá hiệu quả bộ phận Do được thể hiện bằng nhiều chỉ tiêu khác nhau từ chỉ tiêu tổng hợp đến chỉ tiêu bộ phận nên hiệu quả sản xuất kinh doanh mới có thể đánh giá được trình độ sử dụng các nguồn lực đầu vào của doanh nghiệp

- Thứ ba: Hiệu quả sản xuất kinh doanh bị chi phối bởi nhiều yếu tố Bao gồm cả nhân tố chủ quan và nhân tố khách quan của doanh nghiệp Mỗi nhân tố tác động đến hiệu quả sản xuất kinh doanh là khác nhau Nhưng sự tác động của các nhân tố này có mối liên hệ với nhau và tác động một cách tổng hợp nên hiệu quả sản xuất kinh doanh

2.1.1.4 Phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh

Có 4 cách chủ yếu để phân loại hiệu quả sản xuất kinh doanh:

* Căn cứ vào nội dung và bản chất của hiệu quả sản xuất kinh doanh

Trang 17

Theo cách phân loại này, hiệu quả kinh doanh được phân thành 4 loại:

- Hiệu quả kinh tế: Phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích thu được về mặt kinh tế và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Nó gắn liền với một phương án sản xuất và đánh giá trình độ sản xuất chủ yếu về mặt kinh tế

- Hiệu quả xã hội: Phản ánh mối quan hệ tương quan giữa kết quả hữu ích thu được về mặt xã hội và chi phí bỏ ra để đạt kết quả đó Nó đánh giá trình độ sản xuất chủ yếu về đáp ứng nhu cầu xã hội Tuy nhiên, việc lượng hóa các chỉ tiêu biểu hiện hiệu quả xã hội còn gặp nhiều khó khăn mà chủ yếu phản ánh bằng các chỉ tiêu mang tính định tính như tiết kiệm thời gian cho cùng một đơn vị sản xuất, tạo công ăn việc làm để giải quyết lượng lao động

dư thừa trong nông thôn và nâng cao sức khỏe, tinh thần, trình độ hiểu biết cho người lao động và cộng đồng, thực hiện công bằng xã hội giữa người giàu

và người nghèo, phụ nữ và nam giới Từ đó sẽ góp phần xóa đói giảm nghèo

- Hiệu quả môi trường: Là hiệu quả của việc làm thay đổi môi trường

do hoạt động sản xuất của doanh nghiệp Hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tác động tới môi trường theo cả chiều hướng tích cực và tiêu cực Khi doanh nghiệp tiến hành sản xuất kinh doanh theo nguyên tắc phát triển bền vững, thân thiện với môi trường thì hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiêp sẽ có những tác động tích cực tới môi trường Nhưng khi doanh nghiệp chỉ quan tâm tới lợi nhuận thu về mà không có các biện pháp để bảo vệ môi trường thì doanh nghiệp sẽ gây nên những tác động tiêu cực tới môi trường từ hoạt động sản xuất kinh doanh của mình Vậy hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp tác động như thế nào để đạt được hiệu quả về môi trường Để xác định được hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp có đạt hiệu quả môi trường hay không thì cần phải đánh giá tác động môi trường của từng dự án, cơ sở sản xuất kinh doanh tới môi trường Tuy

Trang 18

nhiên, việc đánh giá tác động môi trường là không dễ dàng Bởi vì, đánh giá tác động môi trường cần dựa trên các tiêu chuẩn môi trường mà một trong số đó là tiêu chuẩn môi trường xung quanh Tiêu chuẩn này rất khó đánh giá Bởi vì, thật khó xác định sự tác động của một đơn vị doanh nghiệp hay dự án nào đó trong trong cùng một khu vực tới môi trường là bao nhiêu Do vậy, việc xác định hiệu quả môi trường của từng doanh nghiệp với môi trường là rất khó khăn[5][6].

* Căn cứ vào phạm vi xác định hiệu quả sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại này, hiệu quả kinh doanh được phân thành 4 loại:

- Hiệu quả của nền kinh tế quốc dân: Là hiệu quả tính chung cho nền sản xuất xã hội

- Hiệu quả kinh tế ngành: Là hiệu quả kinh tế được tính cho từng ngành sản xuất như công nghiệp, nông nghiệp, lâm nghiệp, thương mại, dịch

* Căn cứ vào các giai đoạn của hoạt động sản xuất kinh doanh

Theo cách phân loại này, hiệu quả kinh doanh được phân thành 3 loại:

- Hiệu quả của giai đoạn sản xuất: Là hiệu quả được xác định trong giai đoạn sản xuất sản phẩm

- Hiệu quả của giai đoạn chế biến: Là hiệu quả được xác định trong giai đoạn chế biến sản phẩm

- Hiệu quả của giai đoạn lưu thông: Là hiệu quả được xác định trong quá trình lưu thông sản phẩm

* Căn cứ theo yếu tố tác động

Theo các phân loại này, hiệu quả kinh doanh được phân thành 2 loại:

- Hiệu quả sử dụng nguồn lực: Là hiệu quả sử dụng các nguồn lực tham gia vào sản xuất kinh doanh như đất đai, vốn, lao động, tài sản cố định…

Trang 19

- Hiệu quả chính sách nhà nước: Là hiệu quả do tác động của các cơ chế chính sách vĩ mô của nhà nước như: Trợ giá, các quy định trong quá trình sản xuất kinh doanh…

2.1.1.5 Các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

* Nhóm nhân tố chủ quan.

- Yếu tố lao động: Trong hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, lực lượng lao động tác động trực tiếp lên hiệu quả kinh doanh theo một số nhân tố sau

+ Trình độ lao động: Nếu lực lượng lao động của doanh nghiệp có trình

độ tương ứng sẽ góp phần quan trọng trong việc vận hành có hiệu quả yếu tố vật chất trong quá trình kinh doanh của doanh nghiệp

+ Cơ cấu lao động: Thông thường cơ cấu lao động được phân theo các yếu tố về tuổi, giới tính, tính chất công việc, trình độ lao động Một doanh nghiệp có cơ cấu lao động theo tuổi, giới tính, trình độ lao động phù hợp với

cơ cấu lao động theo công việc thì doanh nghiệp sẽ đạt được hiệu quả sử dụng lao động Đạt được hiệu quả sử dụng lao động sẽ góp phần giúp cho doanh nghiệp đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh Do vậy, để đạt được hiệu quả sản xuất kinh doanh tốt nhất thì doanh nghiệp cần có một cơ cấu lao động hợp lý, phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+ Ý thức, tinh thần, trách nhiệm, kỷ luật của người lao động: Đây là yếu tố cơ bản quan trọng để phát huy nguồn lao động trong kinh doanh Vì vậy, chỉ có thể đạt được hiệu quả kinh doanh trong doanh nghiệp chừng nào tạo được đội ngũ lao động có kỷ luật, có kỹ thuật, có năng suất cao

- Yếu tố vốn

Vốn là yếu tố quan trọng đối với quá trình sản xuất kinh doanh, mọi hoạt động sản xuất kinh doanh đều cần phải có vốn Bất cứ doanh nghiệp nào khi tiến hành sản xuất kinh doanh phải có vốn để mua nguyên vật liệu, trang thiết bị, trả lương cho công nhân…Hơn thế nữa, vốn có ảnh hưởng gián tiếp tới lợi nhuận của công ty, khi lượng vốn càng tăng thì doanh nghiệp có cơ hội mở

Trang 20

rộng quy mô sản xuất, tuyển dụng thêm lao động, sản xuất gia tăng Đây là điều kiện thúc đẩy sự gia tăng của kết quả sản xuất kinh doanh Đồng thời là một trong các yếu tố làm gia tăng hiệu quả sản xuất kinh doanh Khả năng huy động và sử dụng vốn của doanh nghiệp ảnh hưởng trực tiếp tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp.

- Trình độ phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng của tiến bộ khoa

học kỹ thuật

Sự phát triển của cơ sở vật chất kỹ thuật và tiến bộ khoa học kỹ thuật vừa tạo ra cơ hội vừa tạo ra thách thức cho doanh nghiệp Sự phát triển cơ sở vật chất kỹ thuật và ứng dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật vào hoạt động sản xuất kinh doanh tạo ra rất nhiều cơ hội cho doanh nghiệp Ví dụ như, cơ hội để doanh nghiệp nắm bắt thông tin về thị trường, nguồn cung ứng cũng như thông tin về đối thủ cạnh tranh một cách nhanh chóng, thuận tiện với chi phí thấp hơn Nói chung khi áp dụng các tiến bộ khoa học kỹ thuật không những giúp cho doanh nghiệp tối thiểu hóa chi phí mà còn giúp cho doanh nghiệp đa dạng hóa sản phẩm, nâng cao chất lượng sản phẩm Khi chi phí sản xuất kinh doanh được tối thiểu hóa, sản phẩm đa dạng về kiểu dáng, mẫu mã, sản phẩm sẽ nâng cao được kết quả sản xuất kinh doanh Với chi phí được tối thiểu hóa, kết quả sản xuất kinh doanh lại tăng lên làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh tăng lên Tuy nhiên, sự tiến bộ khoa học kỹ thuật cũng như con dao hai lưỡi đối với doanh nghiệp Khi tiến bộ khoa học kỹ thuật phát triển một cách nhanh chóng thì sẽ làm cho doanh nghiệp sớm bị lạc hậu về máy móc, công nghệ cũng như kỹ thuật sử dụng cho sản suất kinh doanh Như vậy, nếu không thường xuyên cập nhật tiến bộ khoa học kỹ thuật thì doanh nghiệp sẽ bị lạc hậu, sản phẩm sản xuất ra sẽ không đủ đáp ứng yêu cầu của người tiêu dùng về chất lượng, mẫu mã, kiểu dáng sản phẩm cũng như chủng loại sản phẩm Nhưng nếu như thường xuyên thay đổi, ứng dụng các khoa học kỹ thuật mới vào sản xuất kinh doanh thì doanh nghiệp phải bỏ ra một lượng chi phí lớn hơn cho việc này và chi phí khấu hao vô hình tăng lên Khi chi phí khấu hao vô hình tăng đồng nghĩa với chi phí sản xuất kinh doanh tăng lên

Trang 21

Một khi chi phí sản xuất kinh doanh tăng sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh giảm xuống.

- Hệ thống trao đổi và xử lý thông tin của doanh nghiệp

Thông tin ngày nay được coi là đối tượng lao động của các nhà kinh doanh, và nền kinh tế thị trường là kinh tế thông tin hàng hoá Để kinh doanh thành công trong điều kiện cạnh tranh trong nước và quốc tế ngày càng phát triển, các doanh nghiệp cần có thông tin chính xác về thị trường, người mua, người bán, đối thủ cạnh tranh, tình hình cung-cầu hàng hoá, giá cả Thông tin hữu ích cho hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp không chỉ dừng lại ở những thông tin kể trên Doanh nghiệp cần tìm hiểu một cách cặn kẽ các thông tin về luật pháp, chính sách của địa phương nơi doanh nghiệp hoạt động, chính sách của nhà nước và luật pháp,chính sách của các quốc gia có liên quan tới thị trường đầu vào, đầu ra của doanh nghiệp Bởi vì, những quy định của luật pháp, chính sách có liên quan tới lĩnh vực kinh doanh của doanh nghiệp sẽ có những ảnh hưởng không nhỏ tởi hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Việc tìm hiểu kỹ càng các thong tin này sẽ giúp cho doanh nghiệp có các định hướng, kế hoạch sản xuất kinh doanh phù hợp và có hiệu quả nhất Ngoài ra, doanh nghiệp cũng cần tổng hợp những thành công cũng như thất bại của các doanh nghiệp trong và ngoài nước để rút ra bài học kinh nghiệm cho mình

Mới có thông tin thì chưa đủ để đảm bảo cho thành công của doanh nghiệp Muốn đạt được thành công thì doanh nghiệp cần có được các thông tin chính xác một cách kịp thời Thông tin chính xác kịp thời là cơ sở vững chắc cho doanh nghiệp đưa ra các phương án kinh doanh kịp thời, hợp lý, xây dựng chiến lược kinh doanh dài hạn cũng như hoạch định các chương trình kinh doanh ngắn hạn Nếu doanh nghiệp không quan tâm đến thông tin, không thường xuyên nắm bắt thông tin kịp thời thì doanh nghiệp dễ đi đến thất bại

Trong điều kiện cạnh tranh ngày càng gay gắt, nếu doanh nghiệp có được thông tin chính xác về các hoạt động cũng như phương hướng sản xuất

Trang 22

kinh doanh của đối thủ cạnh tranh thì doanh nghiệp sẽ đưa ra được những phương án đối phó để giành thế “thượng phong” trên thương trường.

Qua đây có thể thấy được tầm quan trọng của thông tin đối với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp như thế nào Do vậy, nhiệm vụ của các nhà quản trị doanh nghiệp hiện nay là tổ chức một hệ thống thông tin trong doanh nghiệp hợp lý, nhạy bén trước thông tin về thị trường, đối thủ cạnh tranh nhưng cũng cần bảo mật thông tin kinh doanh của doanh nghiệp mình một cách thận trọng Bởi nếu nắm bắt tốt thông tin về thị trường, về đối thủ cạnh tranh nhưng không bảo mật được thông tin về các kế hoạch kinh doanh, dự án của mình thì doanh nghiệp sẽ không tạo được sự đột phá trên thị trường và có thể dẫn tới thất bại và đi đến phá sản doanh nghiệp

- Nhân tố tổ chức quản lý doanh nghiệp

Trong kinh doanh nhân tố quản trị kinh doanh có vai trò vô cùng quan trọng: Quản trị doanh nghiệp có vai trò định hướng cho doanh nghiệp một hướng đi đúng trong hoạt động kinh doanh Quản trị doanh nghiệp có tác động tới hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua các khâu: lập kế hoạch, tổ chức, điều khiển (lãnh đạo) và kiểm tra của nhà quản trị Thông qua các khâu nói trên hay nói cách khác là bằng các chức năng của mình nhà quản trị định hướng cho doanh nghiệp một hướng đi đúng đắn và có hiệu quả nhất

Nếu như không có một mục tiêu, mục đích cụ thể thì việc lựa chọn con đường để đi không còn quan trọng nữa Chức năng hoạch định xác định các mục tiêu, xây dựng chiến lược để thực hiện các mục tiêu đó và phát triển các kế hoạch để kết hợp và phối hợp các hoạt động với nhau và phát triển các kế hoạch

Sau khi đã có một mục tiêu cụ thể, đưa ra các chiến lược để thực hiện các mục tiêu đó thì nhà quản trị tiến hành sắp xếp công việc để đạt được những mục tiêu của doanh nghiệp mình Đây chính là chức năng tổ chức của nhà quản trị Chức năng này bao gồm xác định nhiệm vụ phải thực hiện, người thực hiện các nhiệm vụ đó, cách thức phân nhóm các nhiệm vụ, ai sẽ phải báo cáo cho ai và cấp nào sẽ ra quyết định Thông qua chức năng này,

Trang 23

nhà quản trị sẽ giúp cho hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty hoạt động một cách hợp lý và hiệu quả.

Trong bất kỳ một tổ chức nói chung hay một doanh nghiệp cụ thể nói riêng đều cần những người lãnh đạo, đặc biệt là lãnh đạo giỏi Một doanh nghiệp có một người lãnh đạo giỏi sẽ tạo ảnh hưởng tốt tới từng nhân viên trong công ty, lựa chọn các kênh thông tin có hiệu quả nhất nhay giải quyết các vấn đề nảy sinh một cách nhanh nhất, hợp lý nhất và hiệu quả nhất Yếu tố này góp phần cho hoạt động sản xuất kinh doanh đi đúng hướng và hiệu quả

Sau khi các mục tiêu được xác lập, các kế hoạch được hoạch định, cơ cấu tổ chức được xác định và tiến hành thực hiện các kế hoạch dự án sản xuất kinh doanh thì các sai sót vẫn có thể xuất hiện Do vậy, để đảm bảo cho hoạt động sản xuất kinh doanh đi đúng hướng và đạt hiệu quả cao nhất thì cần phải giám sát và đánh giá kết quả công việc Quá trình đánh giá và giám sát phải được so sánh với các mục tiêu đã được xác lập trước đó

* Nhóm nhân tố khách quan

Môi trường kinh doanh là một tập hợp các lực lượng bên ngoài mà mọi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp đều chịu sự tác động của chúng Do vậy, ngoài chịu sự ảnh hưởng của các nhân tố chủ quan bên trong doanh nghiệp thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty còn chịu sự ảnh hưởng không nhỏ của các nhân tố môi trường kinh doanh của doanh nghiệp mình Môi trường kinh doanh của doanh nghiệp rất sinh động và hoàn toàn bất định Những biến đổi của môi trường kinh doanh có thể gây ra những bất ngờ lớn, những hậu quả nặng nề Do vậy, khi tìm hiểu về các nhân tố ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ là rất thiếu sót nếu không đề cập tới sự ảnh hưởng của môi trường kinh doanh Môi trường kinh doanh gồm có môi trường

vi mô hay còn gọi là môi trường ngành và môi trường vĩ mô Môi trường vi mô bao gồm những lực lượng có quan hệ trực tiếp với bản thân doanh nghiệp; môi trường vĩ mô bao gồm những lực lượng trên bình diện xã hội rộng lớn hơn có ảnh hưởng tới môi trường vi mô

Trang 24

- Môi trường ngành: Trong mỗi ngành kinh doanh đều chịu những áp lực cạnh tranh sau:

+ Áp lực cạnh tranh của nhà cung cấp: Trong nền kinh tế thị trường, quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp phải có mối quan hệ mật thiết với các nhà cung cấp các yếu tố đầu vào Số lượng các nhà cung cấp có ảnh hưởng rất lớn tới khả năng lựa chọn và xác định phương án kinh doanh có hiệu quả Bởi vì, số lượng nhà cung cấp sẽ quyết định đến áp lực cạnh tranh, quyền lực đàm phán của họ với ngành, doanh nghiệp Nếu trên thị trường chỉ có một vài nhà cung cấp có quy mô lớn sẽ tạo ra áp lực cạnh tranh, ảnh hưởng tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành

Khả năng thay thế sản phẩm của các nhà cung cấp: Nếu dễ dàng thay thế nguyên liệu của các nhà cung cấp thì doanh nghiệp không phải chịu áp lực quá lớn từ nhà cung cấp và chi phí để chuyển đổi nhà cung cấp cũng không lớn Điều này có tác động rất lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Ngược lại, doanh nghiệp sẽ phải chịu sự chi phối lớn từ nhà cung cấp nếu số lượng các nhà cung cấp ít và ít nguyên liệu để thay thế cho sản phẩm của các nhà cung cấp đó

Thông tin về nhà cung cấp: Trong thời đại hiện nay thông tin luôn là nhân tố thúc đẩy sự phát triển của thương mại, thông tin về nhà cung cấp có ảnh hưởng lớn tới việc lựa chọn nhà cung cấp đầu vào cho doanh nghiệp

Với tất cả các ngành, nhà cung cấp luôn gây áp lực nhất định nếu họ có quy mô, sự tập hợp và việc sở hữu các nguồn lực quý hiếm Chính vì thế những nhà cung cấp các sản phẩm đầu vào nhỏ lẻ (nông dân, thợ thủ công…) sẽ có rất

ít quyền lực đàm phán với các doanh nghiệp mặc dù họ có số lượng lớn nhưng

họ lại thiếu tổ chức

+ Áp lực cạnh tranh từ khách hàng: Khách hàng là một áp lực cạnh tranh

có thể ảnh hưởng trực tiếp tới toàn bộ hoạt động sản xuất kinh doanh của ngành Khách hàng được phân thành hai nhóm là khách hàng lẻ và nhà phân phối Cả hai nhóm này đều gây áp lực với doanh nghiệp về giá cả, chất lượng sản phẩm, dịch vụ đi kèm và chính họ là người điều khiển cạnh tranh trong ngành thông qua quyết định mua hàng Tương tự như áp lực từ phía nhà cung

Trang 25

cấp, khách hàng cũng tác động tới hiệu quả hoạt động sản xuất kinh doanh thông qua quy mô, tầm quan trọng, chi phí chuyển đổi khách hàng và thông tin khách hàng.

+ Áp lực cạnh tranh từ đối thủ tiềm ẩn: Theo M Porter, đối thủ tiềm ẩn

là các doanh nghiệp hiện chưa có mặt trong ngành nhưng có thể ảnh hưởng tới ngành trong tương lai Đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn nhiều hay ít, áp lực của họ tới ngành mạnh hay yếu sẽ phụ thuộc vào các yếu tố: Sức hấp dẫn của ngành, những rào cản gia nhập ngành (kỹ thuật, vốn, các yếu tố thương mại, các nguồn lực đặc thù) Khi các đối thủ tiềm ẩn mạnh và rào cản gia nhập nghành không lớn thì sẽ ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp trong tương lai Khi đó, hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp sẽ gặp phải cạnh tranh gay gắt hơn, gặp phải nhiều khó khăn hơn Do đó, có thể ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

+Áp lực cạnh tranh từ sản phẩm thay thế: Sản phẩm và dịch vụ thay thế

là những sản phẩm, dịch vụ có thể thỏa mãn nhu cầu tương đương với các sản phẩm dịch vụ trong ngành Nếu sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp dễ dàng được thay thế bởi các sản phẩm, dịch vụ khác thì doanh nghiệp sẽ gặp phải khó khăn trong việc duy trì lượng khách hàng của mình Nếu như các dịch vụ bán hàng và sau bán hàng của doanh nghiệp không tốt thì khách hàng sẽ dễ dàng từ bỏ sản phẩm, dịch vụ của doanh nghiệp để tìm đến sản phẩm dịch vụ thay thế Điều này khiến cho doanh nghiệp phải bỏ ra nhiều chi phí bán hàng hơn để duy trì và phát triển lượng khách hàng của mình Khi chi phí tăng lên sẽ làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh giảm đi Các nhân tố về giá cả, chất lượng, các yếu tố khác của môi trường như văn hóa, chính trị, công nghệ cũng sẽ ảnh hưởng tới sự đe dọa của sản phẩm thay thế tới hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như hiệu quả sản xuất kinh doanh

+ Áp lực cạnh tranh nội bộ ngành (đối thủ cạnh tranh hiện hữu): Các doanh nghiệp trong ngành sẽ cạnh tranh trực tiếp với nhau tạo ra sức ép trở lại lên nghành tạo nên một cường độ cạnh tranh Các đối thủ cạnh tranh luôn luôn thay đổi các chiến lược kinh doanh bằng nhiều biện pháp khác nhau Do vậy, doanh nghiệp cần luôn luôn đổi mới để thích ứng với sự cạnh tranh của đối thủ,

Trang 26

phải thường xuyên đề ra các biện pháp thích ứng và có phương án, biện pháp đi trước đối thủ cạnh tranh.[7]

- Môi trường vĩ mô

+ Yếu tố kinh tế: Các yếu tố kinh tế như giai đoạn của chu kỳ kinh tế, tỷ lệ lạm phát, lãi suất, cán cân thanh toán…có ảnh hưởng lớn tới hiệu quả sản xuất kinh doanh

+ Yếu tố chính trị và chính phủ: Yếu tố này có ảnh hưởng ngày càng lớn tới hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp Doanh nghiệp phải tuân theo các quy định của chính phủ Yếu tố chính trị và chính phủ có thể tạo ra cơ hội hoặc thách thức cho doanh nghiệp

+ Yếu tố xã hội: Những yếu tố xã hội có ảnh hưởng tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp thông qua sự thay đổi của các yếu tố này Ví dụ, khi phần lớn lao động của một quốc gia thuộc độ tuổi lao động thì thị trường lao động sẽ rộng lớn hơn, nguồn cung lao động sẽ đa dạng, phong phú hơn giúp cho doanh nghiệp dễ dàng tìm được nguồn lao động phù hợp với yêu cầu công ty với chi phí thấp

+ Yếu tố tự nhiên: Sự tác động của các yếu tố tự nhiên tới hoạt động sản xuất kinh doanh của công ty là rất lớn nếu các doanh nghiệp là doanh nghiệp sản xuất có tính chất thời vụ và phụ thuộc nhiều vào thiên nhiên như các doanh nghiệp nông nghiệp

+ Yếu tố kỹ thuật, công nghệ: Ít có doanh nghiệp nào lại không chịu sự ảnh hưởng của công nghệ kỹ thuật Các công nghệ, kỹ thuật có tác động hai mặt tới hoạt động sản xuất kinh doanh của doan nghiệp Kỹ thuật công nghệ mới sẽ tạo điều kiện để doanh nghiệp phát triển sản xuất, nâng cao chất lượng, tối thiểu hóa chi phí nhưng cũng có thể làm cho doanh nghiệp lạc hậu trực tiếp hoặc gián tiếp Muốn đạt được kết quả tốt hơn thì doanh nghiệp phải thay thế công nghệ cũ bằng một công nghệ mới hơn

Trang 27

2.1.1.6 Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Việc xem xét hiệu quả kinh doanh của mỗi doanh nghiệp cần phải dựa vào một hệ thống các tiêu chuẩn, các doanh nghiệp phải coi các tiêu chuẩn là mục tiêu phấn đấu Có thể hiểu tiêu chuẩn hiệu quả là giới hạn, là mốc xác định ranh giới có hay không có hiệu quả Nếu theo phương pháp so sánh toàn ngành có thể lấy giá trị bình quân đạt được của ngành làm tiêu chuẩn hiệu quả Nếu không có số liệu của toàn ngành thì so sánh với các chỉ tiêu của năm trước Cũng có thể nói rằng, các doanh nghiệp có đạt được các chỉ tiêu này mới có thể đạt được các chỉ tiêu về kinh tế Hệ thống các chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp bao gồm:

* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp

-Tỷ suất doanh thu/ chi phí: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí bỏ

ra thu về bao nhiêu đồng doanh thu Tỷ số này càng cao càng tốt

bỏ ra Ngược lại, tỷ suất này thấp thì doanh nghiệp cần phải xem xét và đưa ra phương án có hiệu quả cao nhất

Lợi nhuận/tổng chi phí= Tổng lợi nhuận kế toán trước thuế

Tổng chi phí

Trang 28

- Tỷ suất doanh lợi (ROS): ROS là chỉ tiêu tương đối phản ánh

trong một thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi

nhuận trên một đồng doanh thu bán hàng thuần.Chỉ tiêu này càng cao

thì hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp ngày càng cao

ROS = Lợi nhuận sau thuế

Doanh thu

- Tỷ suất lợi nhuận/vốn (ROE): ROE là chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ giữa lợi nhuận và vốn ROE phản ánh mức độ sinh lời của vốn, một đồng vốn đưa vào kinh doanh tạo được bao nhiêu đồng lợi nhuận Tỷ số này càng cao cho thấy công ty sử dụng vốn càng có hiệu quả

ROE= Lợi sau thuế

× 100(%)Vốn CSHBQ

- Tỷ suất sinh lợi của vốn (ROI): ROI là chỉ tiêu tương đối phản ánh trong một thời kỳ nhất định doanh nghiệp thu được bao nhiêu đồng lợi nhuận trên 1 đồng vốn Chỉ tiêu này càng cao càng tốt

ROI= Lợi nhuận sau thuế

Tổng vốn

- Tỷ suất lợi nhuận trên tổng tài sản (ROA): ROA là chỉ tiêu tương đối phản ánh mối quan hệ lợi nhuận và tổng tài sản ROA phản ánh khả năng sinh lời của tài sản, một đồng tài sản được đầu tư đưa vào kinh doanh tạo ra bao nhiêu đồng lợi nhuận Chỉ tiêu này phản ánh hiệu quả của việc quản lý và sử dụng vốn kinh doanh của doanh nghiệp Chỉ tiêu này càng cao càng tốt, chứng tỏ tài sản của công ty được sử dụng một cách hiệu quả

ROA= Lợi nhuận sau thuế

Tổng tài sản

Trang 29

* Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng các yếu tố đầu vào cơ

bản:

► Hiệu quả sử dụng lao động

- Năng suất lao động: Chỉ tiêu này cho biết một lao động sẽ tạo ra bao nhiêu đồng giá trị sản xuất

Năng suất lao động = Tổng giá trị sản xuất tạo ra trong kỳ

Tổng số lao động bình quân trong kỳ

- Sức sinh lợi của lao động (Lợi nhuận bình quân tính cho một lao động) Chỉ tiêu này cho biết bình quân một lao động trong kỳ tạo ra được bao nhiêu lợi nhuận

Lợi nhuận bình quân

tính cho một lao động = Lợi nhuận trong kỳ

Tổng số lao động bình quân trong kỳ

- Kết quả sản xuất/chi phí tiền lương: Chỉ tiêu này cho biết một đồng chi phí tiền lương trong kỳ tạo ra được bao nhiêu đồng doanh thu

Doanh thu tiêu thụ/một

đồng chi phí tiền lương =

Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳTổng chi phí tiền lương trong kỳ

- Chỉ tiêu thu nhập bình quân/lao động:

Thu nhập bình quân/lao động = Tổng thu nhập của người lao động

Tổng số lao động bình quân trong kỳ

►Nhóm chỉ tiêu đánh giá hiệu quả sử dụng vốn

- Hiệu quả sử dụng vốn:

+ Sức sản xuất của vốn: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn trong kỳ sẽ tạo ra bao nhiêu đồng doanh thu

Sức sản xuất của

vốn = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ

Tổng vốn bình quân trong kỳ

+ Sức sinh lợi của vốn: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn trong kỳ sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Sức sinh lợi của

vốn = Lợi nhuận trong kỳ

Tổng vốn bình quân trong kỳ

Trang 30

Sức sinh lợi của

vốn cố định = Lợi nhuận trong kỳ

Vốn cố định bình quân trong kỳ

- Hiệu quả sử dụng vốn lưu động:

+ Sức sản xuất của vốn lưu động: Chỉ tiêu này phản ánh một đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Sức sản xuất của

vốn lưu động = Doanh thu tiêu thụ sản phẩm trong kỳ

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

+ Sức sinh lợi của vốn lưu động: Chỉ tiêu này cho biết một đồng vốn lưu động trong kỳ sẽ tạo ra được bao nhiêu đồng lợi nhuận

Sức sinh lợi của

vốn lưu động = Lợi nhuận trong kỳ

Vốn lưu động bình quân trong kỳ

[8][9]

Trang 31

2.1.2 Các nghiên cứu trước có liên quan

1 Nguyễn Thị Kim Dung (2005), đã nghiên cứu đề tài “Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở công ty chế biến thực phẩm nông sản xuất khẩu Nam Định” Nghiên cứu đã phân tích thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh, xem xét và đánh giá hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp trong tình hình biến động của các nhân tố (thị trường, cơ sở vật chất, lao động, vốn…) tác động đến hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, tìm ra mặt còn tồn tại và ra các nguyên nhân ảnh hưởng để từ đó tìm các biện pháp thích hợp có tính khoa học và thiết thực góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Đề tài đã góp phần hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất kinh doanh và việc nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp Công ty cổ phần chế biến thực phẩm nông sản xuất khẩu Nam Định Trên cơ sở đó để đưa ra một số biện pháp để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho doanh nghiệp như giữ vững và mở rộng thị trường; xây dựng nguồn nguyên liệu ổn định, đảm bảo chất lượng; đổi mới công nghệ chế biến; đầu tư vốn phát triển sản xuất; nâng cao công tác kiểm tra chất lượng vệ sinh an toàn thực phẩm; hoàn thiện

bộ máy quản lý và nâng cao trình độ lao động của công ty.[10]

2 Đoàn Thị Hà Mai (2005), nghiên cứu đề tài “ Hiện trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty may Chiến Thắng” Đề tài tập trung nghiên cứu tình hình sản xuất và tiêu thụ các mặt hàng may mặc của công ty may Chiến Thắng Phân tích và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty đặc biệt là hiệu quả trong hoạt động xuất khẩu của công ty Trên cơ sở đó đề xuất một số giải pháp góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho công ty như giải pháp áp dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn ISO 9000, giải pháp về tăng năng suất lao động, giải pháp tiết kiệm, giảm mức tiêu dùng vật tư để hạ giá thành sản phẩm, giải pháp đẩy mạnh tiêu thụ cả trong và ngoài nước[11]

3 Trịnh Thùy Vân (2010), nghiên cứu đề tài “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Thái Dương” Đề tài đã góp phần

Trang 32

hệ thống hóa cơ sở lý luận và thực tiễn về hiệu quả sản xuất kinh doanh Nghiên cứu tình hình sản xuất kinh doanh thức ăn chăn nuôi tại công ty TNHH Thái Dương, những khó khăn và thuận lợi của công ty trong quá trình sản xuất kinh doanh Phân tích các chỉ tiêu phản ánh hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty, đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty từ đó

đề xuất các giải pháp nhằm nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho công

ty như giải pháp tăng năng suất lao động, mở rộng thị trường tiêu thụ, liên kết với với các nhà cung ứng đầu vào….[12]

2.2 Phương pháp nghiên cứu

2.2.1 Phương pháp tiếp cận

- Phương pháp tiếp cận tổng hợp: Là phương pháp tiếp cận từ các tài liệu tổng quan về hiệu quả sản xuất kinh doanh, đặc điểm về địa bàn nghiên cứu, thực trạng hoạt động sản xuất kinh doanh và thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh Từ các tiếp cận này sử dụng các công cụ, phương pháp phân tích để đưa ra được những biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI

- Phương pháp tiếp cận hệ thống: Là phương pháp xem xét và đánh giá hiệu quả sản xuất kinh doanh trong môi trường của hệ thống công ty, hệ thống kinh tế - chính trị - xã hội để thấy được sự tương tác giữa các môi trường tới hiệu quả sản xuất kinh doanh và sự ảnh hưởng của từng yếu tố môi trường đến hiệu quả sản xuất kinh doanh như thế nào Qua đó, phân tích và đưa ra các biện pháp có thể tận dụng tối đa những điểm thuận lợi của môi trường kinh doanh và hạn chế đến mức tối thiểu nhất những bất lợi của môi trường kinh doanh tới hoạt động sản xuất kinh doanh

- Phương pháp tiếp cận có sự tham gia của ban lãnh đạo công ty: Trong quá trình thực hiện nghiên cứu em có tiếp cận với ban lãnh đạo công ty, phỏng vấn tìm hiểu những hướng đi của công ty trong thời gian vừa qua và định hướng trong thời gian tới

Trang 33

2.2.2 Phương pháp thu thập số liệu và xử lý số liệu

* Phương pháp thu thập số liệu thứ cấp:

- Phương pháp chủ yếu áp dụng để thu thập số liệu thứ cấp là phương pháp tổng hợp tài liệu Nguồn số liệu chủ yếu được thu thập từ các báo cáo tài chính, kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh, tình hình lao động của công

ty qua các năm, số liệu các báo, tạp trí đã công, các nghiên cứu trước liên quan, các tạp chí chuyên ngành, giáo trình và các Websites để tổng hợp các thông tin, số liệu cần thiết phục vụ cho việc phân tích và đưa ra các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh cho công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị – VVMI

* Phương pháp thu thập số liệu sơ cấp:

- Số liệu sơ cấp được thu thập thông qua việc phỏng vấn trực tiếp một số cán bộ công nhân viên trong công ty bằng hệ thống câu hỏi bán cấu trúc:

+ Phỏng vấn giám đốc công ty về cách quản lý nhân sự, quản lý công việc trong công ty, phương hướng kinh doanh Thông qua việc phỏng vấn giám đốc để tìm hiểu được phương pháp quản lý và điều hành hoạt động sản xuất kinh doanh một cách chung nhất Bởi nhân tố tổ chức quản lý doanh nghiệp cũng có sự ảnh hưởng không nhỏ tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp Tìm hiểu được các thông tin này sẽ phục vụ hữu ích cho việc phân tích các nguyên nhân ảnh hưởng tới hiệu quả sản xuất kinh doanh để đề

ra các biện pháp thích hợp

+ Phỏng vấn trưởng phòng hành chính nhân sự về quản lý nhân sự, lương bổng, các chính sách trong công ty để thấy rõ hơn về cách sử dụng và quản lý lao động của công ty Từ các thông tin này phân tích hiệu quả sử dụng lao động của công ty Nếu hiệu quả sử dụng lao động cao sẽ góp phần làm cho hiệu quả sản xuất kinh doanh cao

+ Phỏng vấn quản đốc xưởng lưới thép và xưởng vỏ bao về vấn đề quản lý nhân sự, cách bố trí công việc để tìm hiểu về cách bố trí công việc của công ty đã hợp lý chưa?

+ Phỏng vấn cán bộ kế hoạch về công tác lập kế hoạch sản xuất kinh doanh của công ty

Trang 34

+ Ngoài ra còn tiến hành phỏng vấn công nhân trong doanh nghiệp về lương bổng, thời gian làm việc, cường độ công việc, năng lực, nhiệt huyết với công việc để xác định năng lực, mức độ trung thành của công nhân, điều kiện thực tế mà công nhân nhận được khi làm việc cho công ty, những mong muốn, nguyện vọng của họ trong tương lai để có thể đưa ra được các biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh dựa trên việc nâng cao đời sống cho nhân viên trong công ty.

- Phương pháp quan sát: Thông qua quan sát để thấy rõ hơn về thái độ, mức độ trung thực của người được phỏng vấn, để đưa ra những kết luận chính xác Bên cạnh đó, sử dụng phương pháp quan sát để thấy rõ hơn tinh thần làm việc của người lao động trong công ty, thâý thực chất phương pháp lãnh đạo và quản lý của người lãnh đạo trong công ty

* Phương pháp xử lý số liệu:

- Số liệu sau khi được thu thập sẽ được kiểm tra, làm sạch Thông qua các phương pháp xử lý khác nhau để phân loại số liệu theo từng nhóm chỉ tiêu khác nhau, từ đó phân tích tìm ra nguyên nhân và đề xuất các giải pháp Trong nghiên cứu này em em sử dụng phần mềm Excel để xử lý các số liệu thu thập được

2.2.3 Phương pháp phân tích số liệu

Số liệu sau khi được thu thập và xử lý cần dùng các biện pháp để phân tích để thấy được nguyên nhân của thực trạng vấn đề Trên cơ sở đó có thể đề xuất các biện pháp thích hợp

- Phương pháp thống kê mô tả: Phương pháp này được dùng để mô tả

diễn biến tình hình sản xuất kinh doanh trong doanh nghiệp, các yếu tố liên quan đến hiệu quả sản xuất kinh doanh

- Phương pháp so sánh: Phương pháp này được dùng để so sánh sự thay đổi của các yếu tố trong hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp theo thời gian, theo kế hoạch, theo tiêu chuẩn công ty đề ra Từ đó thấy được

sự ảnh hưởng của các yếu tố đó tới hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

Trang 35

- Phương pháp phân tích SWOT: Là phương pháp đánh giá các điểm mạnh, điểm yếu của bản thân doanh nghiệp và các cơ hội thách thức do môi trường kinh doanh mang lại Từ đó đánh giá được hiệu quả kinh doanh thực

sự mà doanh nghiệp có được và đưa ra được các phương án, chiến lược nhằm hạn chế điểm yếu và thách thức để tận dụng điểm mạnh và cơ hội để nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp

- Phương pháp chuyên gia: Là phương pháp sử dụng sự tư vấn, góp ý của các chuyên gia có kinh nghiệm trong lĩnh vực này như thầy giáo hướng dẫn thực tập tốt nghiệp, các thầy cô trong bộ môn quản trị kinh doanh của trường Đại học nông nghiệp Hà Nội và giám đốc công ty cổ phần sản xuất kinh doanh vật tư thiết bị – VVMI về các vấn đề liên quan đến hiệu quả kinh doanh, để đánh giá một cách chính xác hơn về hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp, đặc biệt là của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật

tư thiết bị – VVMI

Trang 36

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Đặc điểm địa bàn nghiên cứu

3.1.1 Quá trình hình thành và phát triển của công ty

Công ty Cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI là một doanh nghiệp Nhà nước là Công ty con trực thuộc Công ty TNHH một thành viên mỏ Việt Bắc – TKV, trực thuộc Tập đoàn than khoáng sản Việt Nam

Địa chỉ Công ty: Tổ 26 – Thị trấn Đông Anh – Huyện Đông Anh – Thành phố Hà Nội

Điện thoại: (043)8822446

Giám đốc hiện tại : Ông Vũ Thế Tấn

Tên giao dịch quốc tế: MATRACO

Công ty Cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI là một doanh nghiệp cổ phần hóa với 51% vốn Nhà nước Công ty được thành lập theo quyết định số 68/2004 QĐ–BCN ngày 30/7/2004 của Bộ công nghiệp về việc chuyển xí nghiệp vật tư vận tải và chế biến than thành Công ty cổ phẩn sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị than Nội Địa và nay là Công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vât tư thiết bị - VVMI

3.1.2 Chức năng nhiệm vụ của công ty

3.1.2.1 Chức năng của công ty

Công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị - VVMI là công

ty con của công ty TNHH một thành viên công nghiệp mỏ Việt Bắc – TKV được hạch toán độc lập, có con dấu riêng theo tên gọi để giao dịch, được mở tài khoản tại ngân hàng, được ký kết các hợp đồng kinh tế, tổ chức thực hiện công tác tài chính kế toán theo luật kế toán Việt Nam và hoạt động theo phân cấp của công ty TNHH một thành viên công nghiệp mỏ Việt Bắc – TKV Với các ngành nghề sản xuất kinh doanh là:

- Sản xuất và kinh doanh lưới thép lót nóc lò

Trang 37

- Sản xuất và kinh doanh vỏ bao xi măng.

- Kinh doanh vật tư, hàng hóa, thiết bị, phụ tùng

- Vận tải đường bộ

3.1.2.2 Nhiệm vụ của công ty

- Chấp hành luật pháp nhà nước, thực hiện các chế độ chính sách về quản lý và sử dụng tiền vốn, vật tư, tài sản, nguồn lực, thể hiện hạch toán kinh

tế, bảo toàn và phát triển vốn, thực hiện tốt nghĩa vụ với nhà nước

- Xây dựng các phương án sản xuất kinh doanh và dịch vụ, phát triển theo kế hoạch và mục tiêu, chiến lược của công ty Liên doanh, liên kết với các đơn vị trong và ngoài ngành để mở rộng thị trường

- Tăng cường công tác kiểm tra, quản lý, hướng dẫn hoạt động sản xuất kinh doanh nhằm hạn chế thất thoát về kinh tế

- Thực hiện mọi cam kết trong các hợp đồng kinh tế đã ký kết với các tổ chức kinh tế

- Bảo vệ doanh nghiệp, bảo vệ môi trường, giữ gìn trật tự an ninh chính trị và trật tự an toàn xã hội theo quy định của nhà nước thuộc phạm vi quản lý của công ty

- Điều quan trọng nhất là công ty phải tạo ra được các sản phẩm đáp ứng được nhu cầu ngày càng khó tính của khách hàng về chất lượng, giá cả, dịch vụ, thẩm mỹ Sự tín nhiệm của khách hàng là mục tiêu cao nhất của công ty

Trang 38

3.1.3 Bộ máy tổ chức của công ty

Sơ đồ1: Bộ máy tổ chức của công ty

(Nguồn: Phòng hành chính tổ chức)

PHÒNG KINH DOANH TIÊU THỤ

PHÒNG TỔ

CHỨC HÀNH

CHÍNH

PHÒNG KẾ HOẠCH VẬT TƯ

PHÒNG KỸ THUẬT CƠ ĐIỆN

PHÒNG TÀI CHÍNH KẾ TOÁN

XƯỞNG SẢN XUẤT VỎ BAO

XI MĂNG

XƯỞNG SẢN XUẤT LƯỚI THÉP

CHI NHÁNH THAN VIỆT HÙNG

HỘI ĐỒNG QUẢN TRỊ

BAN KIỂM SOÁT

GIÁM ĐỐC

Trang 39

Cơ cấu tổ chức bao gồm các phòng ban với chức năng nhiệm vụ như sau:

Hội đồng quản trị: Hội đồng quản trị là cơ quan cao nhất của công ty giữa hai kỳ đại hội cổ đông, có toàn quyền nhân danh công ty để quyết định và thực hiện các quyền và nghĩa vụ của công ty, thuộc thẩm quyền của đại hội đồng cổ đông

Hội đồng quản trị gồm 5 thành viên, do đại hội cổ đông bầu và miễn nhiệm Thành viên hội đồng quản trị được chúng cử với đa số phiếu bằng hình thức trực tiếp bỏ phiếu kín và đảm bảo phải đạt tỷ lệ từ 60% trở lên có cổ phần biểu quyết tại đại hội

Ban kiểm soát: Là tổ chức thay mặt cổ đông để kiểm soát mọi hoạt động sản xuất kinh doanh, quản trị và điều hành công ty Ban kiểm soát gồm có

3 thành viên do đại hội đồng cổ đông bầu và bãi miễn, do các cổ đông đề cử theo tỷ lệ sở hữu cổ phần của công ty

Giám đốc Công ty: Do hội đồng quản trị bổ nhiệm quản lý và điều hành hoạt động của công ty Giám độc là người lãnh đạo cao nhất trong công ty, chịu trách nhiệm toàn bộ về kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh cũng như dảm bảo việc làm thường xuyên cho toàn bộ lao động trong công ty Giám đốc là người sắp xếp, điều hành, quản lý mọi hoạt động của công ty trên cơ sở luật pháp, chính sách của Nhà nước, của tổng công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc và tập đoàn công nghiệp than – khoáng sản Việt Nam

Phòng tổ chức – hành chính: Do đại hội đồng cổ đông bầu ra để quản trị công ty giữa hai nhiệm kỳ đại hội

Giám đốc công ty: Do hội đồng Quản trị bổ nhiệm quản lý bổ nhiệm quản lý và điều hành hoạt động của công ty

Phòng tổ chức hành chính: Giúp hội đồng Quản trị và giám đốc công ty thống nhất quản lý nhiệm vụ công tác văn phòng, công tác tổ chức cán bộ, công tác bảo hộ lao động tiền lương – đào tạo, công tác thanh tra bảo vệ - quân sự, công tác y tế toàn công ty

Phòng kế hoạch vật tư: Giúp hội đồng quản trị và giám đốc công ty thống nhất quản lý nghiệp vụ công tác kế hoạch vật tư – đầu tư trong công ty

Trang 40

theo đúng quy định của Nhà nước, quy định của cấp trên, điều lệ hoạt động của công ty và các quy định khác của công ty.

Phòng kế toán tài chính: Giúp hội đồng quản trị và giám đốc công ty,

tổ chức công tác hạch toán kế toán, công tác thống kê tài chính theo pháp lệnh

kế toán - thống kê – tài chính của Nhà nước, quy định của cấp trên và điều lệ công ty

Phòng kỹ thuật cơ điện: Thực hiện các nhiệm vụ trong lĩnh vực quản

lý kỹ thuật về công tác cơ điện, cơ khí, vận tải phục vụ cho sản xuất kinh doanh của công ty

Xưởng sản xuất lưới thép lót nóc lò: Nhiệm vụ chủ yếulà sản xuất lưới thép lót nóc lò

Xưởng sản xuất vỏ bao xi măng: Nhiệm vụ là sản xuất vỏ bao xi măng Ngoài ra, xưởng còn có bộ phận kinh doanh xi măng và các vật liệu xây dựng theo yêu cầu của tập đoàn CN than khoáng sản Việt Nam và Tổng giám đốc công ty công nghiệp mỏ Việt Bắc và quy định của công ty

Chi nhánh than Việt Hùng: Tại xã Việt Hùng - Đông Anh – Hà Nội, chi nhánh than Việt Hùng được thành lập với nhiệm vụ cơ bản ban đầu là kinh doanh than Bên cạnh đó còn có nhiệm vụ kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ và vật tư, thiết bị, phụ tùng Nhưng từ tháng 8 năm 2009, do vi phạm một số quy chế của tập đoàn nên mảng kinh doanh than đã bị đình chỉ hoạt động chỉ còn mảng kinh doanh vật tư, thiết bị phụ tùng, và dịch vụ vận tải đường bộ

Nhìn chung, công ty sử dụng mô hình tổ chức quản lý theo kiểu trực tuyến, hợp lý và khoa học, phù hợp với đặc điểm sản xuất kinh doanh của công

ty, xóa bỏ khâu trung gian, phân công rõ trách nhiệm, thực sự phát huy hiệu quả lao động của mỗi cá nhân và của từng phòng ban, phân xưởng

Ngày đăng: 15/05/2016, 20:43

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
[1] Th. S TRẦN THÚY LAN, Giáo trình kinh tế thương mại,, NXB Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế thương mại
Nhà XB: NXB Hà Nội
[2] BỘ GIÁO DỤC ĐÀO TẠO, Giáo trình triết học Mác-Lênin, NXB chính trị quốc gia, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình triết học Mác-Lênin
Nhà XB: NXB chính trị quốc gia
[4] T.S TRẦN ĐỨC VIÊN & Th.S LƯƠNG XUÂN CHÍNH, Giáo trình kinh tế học vi mô, NXB Nông nghiệp, 2006 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế học vi mô
Nhà XB: NXB Nông nghiệp
[5] PGS, TS. NGUYỄN THẾ CHINH, Giáo trình kinh tế môi trường, NXB Thống kê, 2003 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Giáo trình kinh tế môi trường
Nhà XB: NXB Thống kê
[6] HỒ THỊ LAM TRÀ - LƯƠNG ĐỨC ANH - CAO TRƯỜNG SƠN , Bài giảng quản lý môi trường, 2008 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Bài giảng quản lý môi trường
[8] PGS.TS. NGUYỄN VĂN CÔNG, Phân tích báo cáo tài chính, NXB giáo dục, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích báo cáo tài chính
Nhà XB: NXB giáo dục
[9] TẬP THỂ CÁN BỘ GIÁO VIÊN KHOA KẾ TOÁN – KIỂM TOÁN TRƯỜNG ĐẠI HỌC KINH TẾ QUỐC DÂN, Phân tích hoạt động kinh doanh, NXB Thống kê, 2001 Sách, tạp chí
Tiêu đề: Phân tích hoạt động kinh doanh
Nhà XB: NXB Thống kê
[10] NGUYỄN THỊ KIM DUNG, “Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở công ty chế biến thực phẩm nông sản xuất khẩu Nam Định”, Luận văn tốt nghiệp Đại học Nông nghiệp Hà Nội, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Một số biện pháp chủ yếu nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh ở công ty chế biến thực phẩm nông sản xuất khẩu Nam Định”
[11] ĐOÀN THỊ HÀ MAI, “ Hiện trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty may Chiến Thắng”, Luận văn Tốt nghiệp, Đại học Ngoại Thương, 2005 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “ Hiện trạng và một số giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty may Chiến Thắng
[12] TRỊNH THÙY VÂN, “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Thái Dương”, luận văn Tốt nghiệp, trường Đại học Nông Nghiệp Hà Nội, 2010 Sách, tạp chí
Tiêu đề: “Giải pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh tại công ty TNHH Thái Dương”
[3] Báo cáo dân số thế giới năm 2010 của Liên Hợp Quốc Khác
[13] Quyết định số 68/2004/QĐ-BCN của bộ công nghiệp về việc cổ phần hóa công ty Cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị Khác
[14] Khoản 1, Điều 36, Nghị định 187/2004/NĐ-CP của chính phủ về chuyển công ty nhà nước thành công ty cổ phần Khác
[15] Khoản 2, Điều 46, Nghị định 24/2007/NĐ-CP của chính phủ về quy định chi tiết thi hành thuế TNDN Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Bảng 1: Tình hình lao động của công ty qua ba năm (2008 – 2010) - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị   VVMI
Bảng 1 Tình hình lao động của công ty qua ba năm (2008 – 2010) (Trang 43)
Bảng 2: Bảng tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty qua ba năm (2008 -2010) - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị   VVMI
Bảng 2 Bảng tình hình tài sản và nguồn vốn của công ty qua ba năm (2008 -2010) (Trang 46)
Bảng 3: Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty  qua ba năm (2008 – 2010) - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị   VVMI
Bảng 3 Kết quả sản xuất kinh doanh của công ty qua ba năm (2008 – 2010) (Trang 49)
Bảng 4: Chi phí sản xuất kinh doanh của công ty qua ba năm (2008 – 2010) - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị   VVMI
Bảng 4 Chi phí sản xuất kinh doanh của công ty qua ba năm (2008 – 2010) (Trang 53)
Bảng 7: Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của công ty - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị   VVMI
Bảng 7 Thực trạng hiệu quả sản xuất kinh doanh tổng hợp của công ty (Trang 63)
Bảng 8: Thực trạng hiệu quả sử dụng lao động của công ty qua ba năm (2008 – 2010) - Một số biện pháp nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh của công ty cổ phần sản xuất và kinh doanh vật tư thiết bị   VVMI
Bảng 8 Thực trạng hiệu quả sử dụng lao động của công ty qua ba năm (2008 – 2010) (Trang 67)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w