Mục tiêu cụ thể - Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu củadoanh nghiệp xây dựng, các yếu tố ảnh hưởng cũng như phương pháp và cáctiêu chí đánh giá năng lực cạ
Trang 1PHẦN I MỞ ĐẦU
1.1 Đặt vấn đề
Việt Nam hiện nay theo nền kinh tế mở, nhiều thành phần kinh tế, cùngvới đổi mới quan hệ kinh tế khi Việt Nam gia nhập WTO thì vấn đề bình đẳngcho các thành phần kinh tế hoạt động là vấn đề hết sức được quan tâm Vấn đề
đó đã làm tăng tính cạnh tranh ở mọi lĩnh vực trong đó có ngành xây dựng
Trong cơ chế thị trường cạnh tranh khốc liệt như hiện nay thì phươngthức đấu thầu trở nên phổ biến Ở nước ta hiện nay, hoạt động đấu thầu được
áp dụng rộng rãi ở nhiều lĩnh vực khác nhau trong đó có lĩnh vực xây dựng.Đấu thầu trong xây dựng cơ bản là một hoạt động có ý nghĩa hết sức quantrọng đối với sự phát triển bền vững của ngành công nghiệp xây dựng Đặc thùriêng của hoạt động đấu thầu xây dựng là tính cạnh tranh giữa các nhà thầu rấtcao và sự tham gia ngày càng nhiều của các nhà đấu thầu xây dựng nước ngoàivào Việt Nam là những doanh nghiệp có kinh nghiệm, nguồn vốn lớn Thực tếcho thấy để đứng vững và chiến thắng trong cuộc cạnh tranh này thì bất kỳ mộtcông ty xây dựng nào cũng phải vận dụng hết tất cả khả năng của mình cũngnhư nắm bắt được cơ hội của môi trường kinh doanh Cùng với sự yêu cầungày càng cao của các chủ đầu tư về giá bỏ thầu, chất lượng công trình, tiến độthi công … đòi hỏi các nhà thầu luôn phải nỗ lực để nâng cao năng lực củamình Hoạt động đấu thầu ngày càng trở nên có tính quyết định đến sự tồn tại
và phát triển của doanh nghiệp xây dựng, việc nâng cao hiệu quả đấu thầu có ýnghĩa to lớn
Dành thắng lợi trong đấu thầu là vấn đề quan trọng bậc nhất trong hoạtđộng sản xuất kinh doanh của công ty xây dựng Để đứng vững và chiến thắngtrong cuộc cạnh tranh với các nhà thầu khác thì bất kỳ một công ty xây dựngnào cũng phải nắm bắt cơ hội của môi trường kinh doanh, đồng thời vận dụnghết tất cả các khả năng của mình và việc nâng cao năng lực cạnh tranh phảiđược quan tâm thực hiện Nhận thức được tầm quan trọng của năng lực cạnh
Trang 2tranh tới sự tồn tại sống còn của công ty mà công ty TNHH Toàn Mỹ trong thờigian qua đã có những quan tâm tới vấn đề này Do đó tôi quyết định đi sâu tìm
hiểu và nghiên cứu đề tài: “Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của công ty TNHH Toàn Mỹ”
1.2 Mục tiêu nghiên cứu
1.2.1 Mục tiêu chung
Nghiên cứu thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của công ty từ
đó đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầucho công ty TNHH Toàn Mỹ
1.2.2 Mục tiêu cụ thể
- Hệ thống hóa cơ sở lý luận về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu củadoanh nghiệp xây dựng, các yếu tố ảnh hưởng cũng như phương pháp và cáctiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
- Tìm hiểu hoạt động đấu thầu và các nhân tố ảnh hưởng tới năng lựccạnh tranh trong đấu thầu của công ty
- Phân tích, đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu củacông ty TNHH Toàn Mỹ để chỉ ra ưu nhược điểm và nguyên nhân hạn chếnăng lực cạnh tranh của công ty
- Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấuthầu xây dựng tại công ty TNHH Toàn Mỹ đến năm 2020
1.3 Đối tượng và phạm vi nghiên cứu
1.3.1 Đối tượng nghiên cứu
Đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Toàn Mỹ
Trang 31.3.2 Phạm vi nghiên cứu
1.3.2.1 Phạm vi nội dung
Đề tài nghiên cứu năng lực cạnh tranh của công ty TNHH Toàn Mỹ, trên cơ sở
đó đề ra một số giải pháp nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh trong thắng thầucủa công ty trong thời gian tới
1.3.2.2 Phạm vi không gian
Đề tài nghiên cứu tại công ty TNHH Toàn Mỹ, địa bàn huyện Thủy Nguyên tỉnh Hải Phòng
1.3.2.3 Phạm vi thời gian
Thời gian nghiên cứu và viết đề tài từ 27/12/2010 đến 27/05/2011
Số liệu trong báo cáo được lấy trong 3 năm gần nhất
1.4 Kết quả nghiên cứu dự kiến
- Hoạt động kinh doanh của công ty TNHH Toàn Mỹ
- Công tác đấu thầu của công ty TNHH Toàn Mỹ
- Thực trạng các nhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh trong đấuthầu của công ty TNHH Toàn Mỹ
- Đánh giá thực trạng năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của công tyTNHH Toàn Mỹ
- Đề xuất các giải pháp nâng cao năng lực cạnh tranh trong đấu thầu củacông ty TNHH Toàn Mỹ
Trang 4PHẦN II TỔNG QUAN TÀI LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP
Theo từ điển Việt Nam (do ngôn ngữ khoa học biên soạn, xuất bản năm
1998), đấu thầu được giải thích là “độ công khai, ai nhận làm hay nhận bán
với điều kiện tốt nhất thì được giao hoặc được bán”
Theo Bách khoa toàn thư mở Wikipedia, Đấu thầu là một quá trình chủđầu tư lựa chọn được một nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của mình theo quy
định của luật pháp Trong nền kinh tế thị trường, người mua tổ chức đấu thầu
để người bán (các nhà thầu) cạnh tranh nhau Mục tiêu của người mua là cóđược hàng hóa và dịch vụ thỏa mãn các yêu cầu của mình về kỹ thuật, chấtlượng và chi phí thấp nhất Mục đích của nhà thầu là giành được quyền cungcấp hàng hóa dịch vụ đó với giá đủ bù đắp các chi phí đầu vào và đảm bảo mứclợi nhuận cao nhất có thể
Trang 5Theo luật đấu thầu ban hành ngày 29/11/2005 của Quốc hội: “Đấu thầu
là quá trình lựa chọn nhà thầu đáp ứng các yêu cầu của bên mời thầu trên cơ
sở cạnh tranh của nhà thầu”
Từ đó ta thấy, bản chất đấu thầu là một hoạt động mua bán Tuy nhiênđây là một hoạt động mua bán đặc biệt vì khi đó người mua (bên mời thầu) cóquyền lựa chọn cho mình người bán (nhà thầu) tốt nhất một cách công khai vàtheo quy trình nhất định Đấu thầu mang tính cạnh tranh gay gắt, do vậy màhoạt động này chỉ có trong nền kinh tế thị trường Lúc này, người ta cạnh tranhvới nhau để giành khách hàng, khách hàng cũng được tự ý lựa chọn người bánphù hợp với yêu cầu và chủng loại hàng hóa mình cần
Nguyên tắc chỉ đạo trong đấu thầu
Trong đấu thầu, có một số nguyên tắc mà cả bên mời thầu lẫn nhà thầuđều phải tìm hiểu và tuân thủ một cách nghiêm túc khi tham gia dự thầu, đó là
những nguyên tắc: hiệu quả, cạnh tranh, công bằng và minh bạch
-Hiệu quả: được tính cả trên hai phương diện: hiệu quả về mặt
thời gian và hiệu quả cả về mặt tài chính Về thời gian, sẽ được đặt lên hàngđầu khi yêu cầu về tiến độ là cấp bách Nếu thời gian không yêu cầu phải cấpbách thì quy trình đấu thầu phải được thực hiện từng bước theo đúng kế hoạch
để lựa chọn nhà thầu đạt hiệu quả về mặt tài chính
-Cạnh tranh: là nguyên tắc nổi bật trong đấu thầu Nó đòi hỏi
bên mời thầu phải tạo điều kiện cho các nhà thầu được tham gia một cách tốiđa
-Công bằng: khi tham gia dự thầu các nhà thầu đều phải được
đối xử như nhau (thông tin đều được cung cấp như nhau) Tuy nhiên, nguyêntắc này chỉ là tương đối, vì có một số nhà thầu vẫn được ưu tiên và điều nàyđược ghi cụ thể trong hồ sơ mời thầu
-Minh bạch: Không được phép có bất kỳ sự khuất tất nào đó làm
nảy sinh nghi ngờ của bên mời thầu đối với nhà thầu và có điều gì đó khiến cácnhà thầu nghi ngờ lẫn nhau
Trang 6 Phương thức đấu thầu
Dựa vào cách thức nộp hồ sơ dự thầu mà ban mời thầu yêu cầu, người tachia phương thức đấu thầu thành ba loại cơ bản: túi một hồ sơ, túi hai hồ sơmột giai đoạn, túi hai giai đoạn một hồ sơ
- Một túi hồ sơ, một giai đoạn: khi đưa ra yêu cầu thực hiện theo
phương thức một túi hồ sơ, một giai đoạn tức là nhà thầu phải bỏ cả hai đề xuất(đề xuất kỹ thuật và đề xuất tài chính) vào trong chung một túi hồ sơ và túi đóđược niêm phong Việc mở thầu được tiến hành một lần; Ban mời thầu đượcbốc và chấm thầu riêng cho từng đề xuất Phương thức này thường được sửdụng với đấu thầu xây dựng và mua sắm hàng hóa, gói thầu EPC (Luật đấuthầu – điều 62 khoản 2)
- Hai túi hồ sơ, một giai đoạn: hai đề xuất kỹ thuật và tài chính được
bỏ vào hai túi và hai túi đều được niêm phong Tùy theo từng trường hợp cụ thể
mà bên mời thầu yêu cầu hoặc phải nộp hai túi cùng lúc hoặc có khi túi tàichính được phép nộp sau Các nhà thầu đạt số điểm kỹ thuật từ 70% trở lên vàkhông có tiêu chí nào đạt dưới 50% sẽ được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất giá đểđánh giá Trong quá trình đánh giá, nếu nhà thầu nào không đạt yêu cầu kỹthuật thì hồ sơ tài chính sẽ được trả lại còn nguyên niêm phong Phương thứcnày chỉ áp dụng đối với gói thầu tuyển chọn tư vấn
-Hai giai đoạn, một hồ sơ:
Phương thức này áp dụng cho những trường hợp sau:
• Các gói thầu mua sắm hàng hoá và xây lắp có giá từ 500 tỷ đồngtrở lên;
• Các gói thầu mua sắm hàng hóa có tính chất lựa chọn công nghệthiết bị toàn bộ, phức tạp về công nghệ và kỹ thuật hoặc gói thầu xây lắp đặcbiệt phức tạp;
• Dự án thực hiện theo Hợp đồng chìa khóa trao tay
Hai giai đoạn đó như sau:
Trang 71 Giai đoạn sơ tuyển lựa chọn nhà thầu - Tùy theo quy mô, tínhchất gói thầu, chủ đầu tư thông báo mời thầu trên các phương tiện thông tin đạichúng hoặc gửi thư mời thầu Chủ đầu tư có trách nhiệm cung cấp cho các nhàthầu tham dự hồ sơ mời dự thầu bao gồm các thông tin sơ bộ về gói thầu và cácnội dung chính của hồ sơ mời dự thầu Nhà thầu tham dự sơ tuyển phải nộp hồ
sơ dự thầu kèm theo bảo lãnh dự thầu nhằm bảo đảm nhà thầu đã qua giai đoạn
sơ tuyển phải tham dự đấu thầu Mức bảo lãnh dự thầu do chủ đầu tư quyếtđịnh nhưng không vượt quá 1% giá gói thầu
Tiêu chuẩn đánh giá ở vòng sơ tuyển bao gồm: Năng lực kỹ thuật; Năng lực tài chính; Kinh nghiệm
2 Giai đoạn đấu thầu - Chủ đầu tư cung cấp hồ sơ mời đấu thầu chocác nhà thầu được lựa chọn vào giai đoạn đấu thầu Nhà thầu tham dự đấu thầuphải nộp hồ sơ đấu thầu kèm theo bảo lãnh đấu thầu nhằm đảm bảo nhà thầuđàm phán ký kết hợp đồng sau khi được tuyên bố trúng thầu Mức bảo lãnh dựthầu do chủ đầu tư quyết định nhưng không vượt quá 3% giá gói thầu Tiêu
chuẩn đánh giá ở vòng đấu thầu bao gồm: Khả năng cung cấp sản phẩm, dịch vụ; Tiến độ thực hiện; Giá dự thầu; Các điều kiện khác của nhà thầu
đề xuất nhằm đạt mục tiêu đầu tư và hiệu quả cho dự án Nhà thầu được lựachọn là nhà thầu có giá dự thầu hợp lý và mang lại hiệu quả cao nhất cho dựán
Hình thức lựa chọn nhà thầu
- Đấu thầu rộng rãi: là hình thức đấu thầu không hạn chế số lượng nhà
thầu tham gia Bên mời thầu phải thông báo công khai về các điều kiện, thờigian dự thầu trên các phương tiện thông tin đại chúng tối thiểu 10 ngày trướckhi phát hành hồ sơ mời thầu Đấu thầu rộng rãi là hình thức chú ý áp dụngtrong đấu thầu
- Đấu thầu hạn chế: là hình thức đấu thầu mà bên mời thầu mời một số
nhà thầu (tối thiểu là 5) có đủ năng lực tham dự Danh sách nhà thầu tham dựphải được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩm quyền chấp thuận Hình thứcnày chỉ được xem xét áp dụng khi có những điều kiện sau:
Trang 8- Chỉ có một số nhà thầu có khả năng đáp ứng được yêu cầu của gói thầu.
- Các nguồn vốn sử dụng yêu cầu phải tiến hành đấu thầu hạn chế
- Do tình hình cụ thể của gói thầu mà việc đấu thầu hạn chế có lợi thế
- Chỉ định thầu: Chỉ định thầu là hình thức chọn trực tiếp nhà thầu đáp
ứng yêu cầu của gói thầu để thương thảo hợp đồng
Hình thức này chỉ được áp dụng trong các trường hợp đặc biệt sau:
- Trường hợp bất khả kháng do thiên tai, địch hoạ, được phép chỉ địnhngay đơn vị có đủ năng lực để thực hiện công việc kịp thời, sau đó phải báocáo thủ tướng chính phủ về nội dung chỉ định thầu để xem xét phê duyệt - Góithầu có tính chất nghiên cứu thử nghiệm, bí mật quốc gia, bí mật an ninh, bímật quốc phòng do thủ tướng chính phủ quyết định
- Gói thầu đặc biệt do thủ tướng chính phủ quyết định trên cơ sở báo cáothẩm định của bộ kế hoạch và đầu tư, ý kiến bằng văn bản của cơ quan tài trợvốn và các cơ quan liên quan
Trong báo cáo đề nghị chỉ định thầu phải xác định rõ ba nội dung sau:+ Lý do chỉ định thầu
+ Kinh nghiệm và năng lực về mặt kỹ thuật, tài chính của nhà thầu đềnghị chỉ định thầu
+ Giá trị và khối lượng đã được người có thẩm quyền hoặc cấp có thẩmquyền phê duyệt làm căn cứ cho chỉ định thầu
- Chào hàng cạnh tranh: Hình thức này được áp dụng cho những gói
thầu mua sắm hàng hoá có giá trị dưới 2 tỷ đồng Mỗi gói thầu phải có ít nhất 3chào hàng của 3 nhà thầu khác nhau trên cơ sở yêu cầu chào hàng của bên mờithầu Việc gửi chào hàng có thể được thực hiện bằng cách gửi trực tiếp, bằngFax, bằng đường bưu điện hoặc bằng các phương tiện khác
- Mua sắm trực tiếp: Trên cơ sở tuân thủ quy định tại khoản 3 điều 4 của
quy chế đấu thầu, hình thức mua sắm trực tiếp được áp dụng trong trường hợp
bổ sung hợp đồng cũ đã thực hiện xong (dưới một năm) hoặc hợp đồng đangthực hiện với điều kiện chủ đầu tư có nhu cầu tăng thêm số lượng hàng hoáhoặc khối lượng công việc mà trước đó đã được tiến hành đấu thầu, nhưng phải
Trang 9đảm bảo không được vượt mức giá hoặc đơn giá trong hợp đồng đã ký trước
đó
- Tự thực hiện: Hình thức này chỉ được áp dụng đối với các gói thầu mà
chủ đầu tư có đủ năng lực thực hiện trên cơ sở tuân thủ quy định tại khoản 3điều 4 của quy chế đấu thầu (ngoài phạm vi quy định tại điều 63 của quy chếquản lý đầu tư và xây dựng)
- Mua sắm đặc biệt: Hình thức này được áp dụng đối với các ngành hết
sức đặc biệt mà nếu không có những quy định riêng thì không thể đấu thầuđược Cơ quan quản lý ngành phải xây dựng quy trình thực hiện đảm bảo cácmục tiêu của quy chế đấu thầu và có ý kiến thoả thuận của bộ kế hoạch và đầu
tư để trình thủ tướng chính phủ quyết định
Quy trình đấu thầu và dự thầu
Theo nghị định 88CP và nghị định 14CP đấu thầu ở nước ta bao gồmcác giai đoạn Mỗi giai đoạn này lại bao gồm nhiều bước thể hiện
CHUẨN BỊ ĐẤU THẦU
Sơ tuyển nhà thầu (nếu có)
Thông báo mời thầu
Lập hồ sơ mời thầu
THẨM ĐỊNH VÀ PHÊ DUYỆT
Tính pháp líQuy trìnhKết quả đấu thầu
XÉT THẦU
Đánh giá sơ bộĐánh giá chi tiếtBáo cáo kết quả đánh giá
HOÀN THIỆN và
KÝ HỢP ĐỒNG
Trang 10Sơ đồ 1.1: Trình tự tổ chức đấu thầu
Các loại hình đấu thầu
Dựa vào đặc điểm hay bản chất của đấu thầu có thể chia đầu thầu làm bốn loạichính: đấu thầu tuyển chọn tư vấn, đấu thầu xây dựng, đấu thầu lựa chọn đốitác thực hiện dự án, đấu thầu mua sắm hàng hóa và các dịch vụ khác
- Đấu thầu tuyển chọn tư vấn là quá trình lựa chọn nhà tư vấn cung
cấp kinh nghiệm, kiến thức và chuyên môn cho bên mời thầu một cách tốt nhấthay nói một cách khác là lựa chọn nhà tư vấn có chất lượng dịch vụ tốt và giá
cả hợp lý
- Đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu đáp ứng được
các yêu cầu về xây dựng, lắp đặt thiết bị công trình, hạng mục công trình củabên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu xây dựng
- Đấu thầu lựa chọn đối tác thực hiện dự án là khi chủ đầu tư có ý
tưởng về một dự án đầu tư nhưng do một hạn chế nào đó (có thể là hạn chế vềtài chính, hoặc kỹ thuật) mà không thể tiến hành chuẩn bị đầu tư, thực hiện đầu
tư, vận hành kết quả đầu tư thì chủ đầu tư có thể tổ chức đấu thầu để lựa chọnmột đối tác thực hiện ý tưởng của mình và sau đó có thể bàn giao dự án vàomột thời điểm thỏa thuận giữa hai bên
- Đấu thầu mua sắm hàng hóa dịch vụ khác là quá trình lựa chọn nhà
thầu cung cấp hàng hóa, dịch vụ đạt yêu cầu về chất lượng và có giá cả hợp lý
Do giới hạn của đề tài nên tôi chỉ đi cụ thể vào đấu thầu xây dựng – loại hìnhđấu thầu cơ bản của công ty xây dựng cũng như của công ty TNHH Toàn Mỹ
Đấu thầu xây dựng
Đấu thầu xây dựng là quá trình lựa chọn các nhà thầu đáp ứng được
các yêu cầu về xây dựng, lắp đặt thiết bị công trình, hạng mục công trình củabên mời thầu trên cơ sở cạnh tranh giữa các nhà thầu xây dựng
Ở loại hình này chủ đầu tư cũng được thực hiện theo trình tự thuê tư vấn
và lập các thủ tục đấu thầu sau đó mở thầu để chọn ra một nhà thầu tối ưu nhất
Trang 11theo mục tiêu của chủ đầu tư, để thực hiện công việc là: xây lắp, lắp đặt bổsung sửa chữa các hạng mục công trình của dự án Chính vì có nội dung nhưvậy mà đấu thầu xây dựng thường mang những đặc điểm cơ bản như sau:
oChủ yếu có ở giai đoạn thực hiện dự án khi mà những ý tưởng đầu tưđược thực hiện trong báo cáo nghiên cứu khả thi sẽ trở thành hiện thực Tuynhiên khi sang đến giai đoạn vận hành kết quả đầu tư nếu chủ đầu tư có nhucầu sửa chữa nâng cấp thì đấu thầu xây dựng vẫn xuất hiện
oNhà thầu xây dựng luôn phải làm việc tại một địa điểm cố định có ghitrong hồ sơ mời thầu
oNhà thầu tư vấn có thể là một cá nhân song nhà thầu xây dựng phải làmột tổ chức có tư cách pháp nhân
oViệc xem xét đánh giá năng lực của nhà thầu xây dựng dựa trên ba nộidung chính Đó là: tài chính (giá công trình), kỹ thuật (phương pháp, tiến độthực hiện), uy tín công ty (chất lượng công trình) Và tài chính bao giờ cũngđược quan tâm trước tiên vì đặc điểm quan trọng nhất của đấu thầu xây dựng lànhà thầu phải thực hiện trước một phần công việc bằng vốn của mình
- Vai trò của đấu thầu xây dựng
Trong điều kiện kinh tế thị trường, sản xuất kinh doanh xây dựng là mộtlĩnh vực hoạt động mang nhiều yếu tố rủi ro Quá trình mua bán sản phẩm củaxây dựng thường xảy ra trước lúc bắt đầu giai đoạn thi công xây dựng côngtrình, thông qua việc thương lượng, đấu thầu và ký kết hợp đồng xây dựng.Đấu thầu đã trở thành phương thức phổ biến được áp dụng trong xây dựng Cácnhà thầu phải cạnh tranh với nhau để thắng thầu Đấu thầu không chỉ tốt chochủ đầu tư mà còn mang lại nhiều cơ hội cho các nhà thầu Trong điều kiệncạnh tranh khốc liệt của nền kinh tế thị trường, việc đấu thầu để nhận được hợpđồng đặc biệt là hợp đồng có giá trị cao để thi công có lợi nhuận cao là rất khókhăn Khi tham gia đấu thầu xây dựng công trình, doanh nghiệp phải tập trungnhân lực, thiết bị để lập hồ sơ dự thầu Lịch sử phát triển và quản lý dự án trongnước và quốc tế đã khẳng định, đấu thầu là phương pháp có hiệu quả cao nhất
Trang 122.1.1.2 Lý luận về năng lực cạnh tranh
Cạnh tranh
- Khái niệm về Cạnh tranh
Thuật ngữ “Cạnh tranh” có nguồn gốc từ tiếng La Tinh với nghĩa chủyếu là sự đấu tranh, ganh đua, thi đua giữa các đối tượng cùng phẩm chất, cùngloại, đồng giá trị nhằm đạt được những ưu thế, lợi thế, mục tiêu xác định.Trong hình thái cạnh tranh thị trường, quan hệ ganh đua xảy ra giữa hai chủ thểcung (nhóm người bán), cũng như chủ thể cầu (Nhóm người mua), cả hai nhómnày tiến tới cạnh tranh với nhau và được liên kết với nhau bằng giá cả thịtrường
Theo Samuelson: Cạnh tranh là sự kình địch giữa các doanh nghiệpcạnh tranh với nhau để giành khách hàng
Theo Kac-Marx: Cạnh tranh là sự ganh đua, sự đấu tranh gay gắt giữacác nhà tư bản để giành giật những điều kiện thuận lợi trong sản xuất và tiêuthụ hàng hoá nhằm thu được lợi nhuận siêu ngạch
Theo kinh tế Amô thì một thị trường cạnh tranh hoàn hảo có rất nhiềungười mua, người bán để cho không có một người mua hoặc một người bánduy nhất nào có ảnh hưởng, có ý nghĩa đối với giá cả
Cạnh tranh (competion), về mặt thuật ngữ được hiểu là sự cố gắng giành
phần hơn, phần thắng về mình giữa những người, những tổ chức hoạt động cómục tiêu và lợi ích giống nhau Trong kinh doanh, cạnh tranh được hiểu là sựganh đua giữa các nhà kinh doanh trên thị trường nhằm giành ưu thế trên cùngmột loại tài nguyên, sản phẩm, hoặc cùng một khách hàng về phía mình
Theo cuốn “Các vấn đề pháp lý và thể chế về chính sách cạnh tranh vàkiểm soát độc quyền kinh doanh” thì cạnh tranh là một trong những đặc trưng
cơ bản của kinh tế thị trường, là năng lực phát triển của kinh tế thị trường Nềnkinh tế thị trường vận hành phải tuân thủ theo những quy luật khách quan
Trang 13không chỉ riêng mình trong đó có quy luật cạnh tranh Theo quy luật này, cácdoanh nghiệp phải không ngừng cải tiến máy móc thiết bị, công nghệ, nâng caonăng suất lao động và chất lượng sản phẩm để giành ưu thế hơn so với đối thủcạnh tranh Cạnh tranh là sự sống còn của mỗi doanh nghiệp, đó là sự ganh đuagiữa các nhà doanh nghiệp trong việc giành một nhân tố sản xuất hoặc kháchhàng nhằm nâng cao lợi thế của mình trên thị trường để đạt được một mục tiêukinh doanh cụ thể như lợi nhuận, doanh số hoặc thị phần
Cạnh tranh là động lực như Adam Xmit gọi là “bàn tay vô hình” thúcđẩy lực lượng sản xuất phát triển Nếu lợi nhuận thúc đẩy các cá nhân tiến hànhsản xuất kinh doanh thì cạnh tranh lại bắt buộc và thôi thúc họ phải điều hànhcác hoạt động sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả cao nhất Đối với xã hội,cạnh tranh là động lực quan trọng để huy động sử dụng nguồn lực của xã hộivào sản xuất kinh doanh một cách hiệu quả nhất, khuyến khích áp dụng cáctiến bộ khoa học kỹ thuật Qua đó, thúc đẩy sản xuất phát triển, nâng cao nănglực sản xuất của toàn xã hội đồng thời thỏa mãn ngày càng nhiều yêu cầu của
xã hội Trong cạnh tranh, các doanh nghiệp yếu kém bị đào thải, doanh nghiệpmới xuất hiện Doanh nghiệp làm ăn có hiệu quả sẽ tiếp tục tồn tại và pháttriển, nhờ đó nguồn lực xã hội được sử dụng hợp lý, là cơ sở, tiền đề cho sựthành công trong việc tăng trưởng nền kinh tế ở mỗi quốc gia
- Các hình thức cạnh tranh
Căn cứ vào mức độ cạnh tranh trên thị trường thì có 3 loại cạnh tranh:cạnh tranh tự do, cạnh tranh hoàn hảo và cạnh tranh không hoàn hảo Căn cứvào phạm vi ngành kinh tế thì có 2 loại cạnh tranh: cạnh tranh nội bộ ngành vàcạnh tranh giữa các ngành
Cạnh tranh tự do được hiểu như là một nền kinh tế phát triển một cách
tự do, không có sự can thiệp của Nhà nước; trong đó giá cả lên xuống theo sựchi phối của các quy luật thị trường
Cạnh tranh hoàn hảo (cạnh tranh thuần túy): là hình thức cạnh tranh
trong đó giá cả của một loại hàng hóa là không đổi trong toàn bộ một địa danhcủa thị trường; các yếu tố sản xuất được tự do luân chuyển từ ngành này sangngành khác; chi phí vận tải không đáng kể và không đề cập tới Cạnh tranh
Trang 14hoàn hảo xảy ra khi không một nhà sản xuất nào có thể tác động đến giá cả trênthị trường, mỗi người sản xuất đều phải bán sản phẩm của mình theo giá thịnhhành mà thị trường đã chấp nhận thông qua quan hệ cung cầu
Cạnh tranh không hoàn hảo là hình thức cạnh tranh mà ở đó các cá
nhân bán hàng hoặc các nhà sản xuất có đủ sức mạnh và thế lực để có thể chiphối giá cả các sản phẩm của mình trên thị trường Cạnh tranh không hoàn hảo
có hai loại độc quyền nhóm và cạnh tranh mang tính độc quyền
Độc quyền nhóm: tồn tại trong ngành sản xuất mà ở đó chỉ có một số ít
người sản xuất hoặc một số ít người bán sản phẩm Sự thay đổi về giá của mộtdoanh nghiệp gây ra những ảnh hưởng đáng kể đến nhu cầu đối với sản phẩmcủa doanh nghiệp khác và ngược lại Ở các nước phát triển thì những ngành sảnxuất như ô tô, chế biến thép… mang tính độc quyền nhóm
Cạnh tranh mang tính độc quyền: là hình thức cạnh tranh mà ở đó có
những người bán có thể ảnh hưởng đến những người mua bằng sự khác nhaucủa sản phẩm của mình sản xuất ra như hình dáng, kích thước, chất lượng,nhãn hiệu… Trong nhiều trường hợp, người bán có thể bắt người mua chấpnhận giá sản phẩm do họ định ra
Cạnh tranh giữa các ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh nghiệp
trong ngành kinh tế khác nhau giành lấy lợi nhuận lớn nhất Trong quá trìnhcạnh tranh này, các chủ doanh nghiệp luôn say mê với những ngành đầu tư cólợi nhuận nên đã chuyển vốn kinh doanh từ những ngành đầu tư có ít lợi nhuậnsang những ngành có lợi nhuận cao Kết quả cuối cùng là các chủ doanhnghiệp đầu tư ở các ngành khác nhau với số vốn bằng nhau và chỉ thu được lợinhuận như nhau Tức là hình thành tỷ suất sinh lợi nhuận bình quân cho cácngành
Cạnh tranh trong nội bộ ngành: là sự cạnh tranh giữa các doanh
nghiệp cùng sản xuất, tiêu thụ một loại hàng hóa hoặc dịch vụ nào đó Trongcuộc cạnh tranh này các chủ doanh nghiệp thôn tính lẫn nhau Những doanhnghiệp chiến thắng sẽ mở rộng phạm vi hoạt động của mình trên thị trường,những doanh nghiệp thua cuộc sẽ phải thu hẹp kinh doanh thậm chí bị phá sản
Năng lực cạnh tranh
Trang 15Hiện nay vẫn còn nhiều quan điểm khác nhau về năng lực cạnh tranhcủa doanh nghiệp Có quan điểm gắn năng lực cạnh tranh với ưu thế của sảnphẩm mà doanh nghiệp đưa ra thị trường Có quan niệm lại gắn năng lực cạnhtranh của doanh nghiệp với thị phần mà nó chiếm giữ, có quan niệm cho rằngnăng lực cạnh tranh đồng nghĩa với hiệu quả kinh tế của doanh nghiệp Mộtdoanh nghiệp được coi là có năng lực cạnh tranh nếu có khả năng cung ứngmột sản phẩm có chất lượng cao với mức giá thấp hơn so với đối thủ cạnhtranh Một công ty được xem là có sức cạnh tranh khi nó duy trì được vị thếcủa mình trên thị trường cùng các nhà cung ứng khác.
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp: trước hết đó là khi tham gia
vào các hoạt động kinh doanh trên thị trường thì muốn doanh nghiệp mình tồntại và đứng vững Để làm được điều này doanh nghiệp phải có những chiếnlược cạnh tranh cụ thể và lâu dài mang tính chiến lược ở cả tầm vi mô và vĩ mô
Theo Micheal Porter, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp được xácđịnh trên cơ sở các nhóm yếu tố chủ yếu qua sơ đồ sau:
Sơ đồ 1.2: Các yếu tố thể hiện năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
2.1.1.3 Lý luận về năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Uy tín, thương hiệu, chất lượng và giá cả sản phẩm
Năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp
Nhu cầu của khách hàng đối với sản phẩm
Trang 16Đấu thầu xây lắp là loại hình đấu thầu đã khá phổ biến ở nước ta và có
sự tham gia đông đảo của nhiều doanh nghiệp nhà nước cũng như tư nhân.Chính vì thế mà mặc dù thị trường xây dựng công trình là vô cùng rộng lớn và
có sức hấp dẫn, song để có thể tìm được chỗ đứng vững chắc và uy tín nhấtđịnh, các doanh nghiệp đều phải liên tục đưa ra những phương pháp và đốisách cạnh tranh phù hợp để tồn tại trong cuộc chiến cạnh tranh khốc liệt trênthương trường Tuy nhiên, với đấu thầu xây lắp, do đặc điểm tính chất côngtrình mà năng lực tài chính là yếu tố được quan tâm hàng đầu khi xét tuyển hồ
sơ dự thầu Chính vì vậy mà hình thức cạnh tranh chủ yếu và phổ biến của cácnhầ thầu xây dựng vẫn là cạnh tranh về giá
Bằng cách hoàn thiện bộ máy nhân sự và máy móc thiết bị kĩ thuật hiệnđại, bỏ thầu với mức giá hợp lí, các doanh nghiệp có thể tạo được thế mạnhtrong cạnh tranh với các doanh nghiệp khác
Bởi đấu thầu là một hoạt động cạnh tranh công bằng và minh bạch, do
đó nhà thầu chỉ có thể cạnh tranh với nhau về giá mà thôi Vì bỏ giá thấp hợp lí
là điều kiện tiên quyết đưa nhà thầu đến với thắng lợi trong cuộc cạnh tranh vớicác nhà thầu khác Mà để có được giá dự thầu thấp lại không bị lỗ vốn đó làmột bài toán lan giải mà chỉ có những nhà thầu có năng lực thực sự mới có thểgiải quyết được
Ngoài ra trong đấu thầu còn có một mục tiêu tối quan trọng nữa mà chủđầu tư luôn đặt lên hàng đầu, đó là hiệu quả Hiệu quả cả về mặt tài chính vàthời gian Nghĩa là nhà thầu được chọn sẽ phải đáp ứng được yêu cầu với giáthấp nhất và thời gian thực hiện gói thầu phải đảm bảo để dự án phát huy tácdụng
Yếu tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng
Các nhân tố khách quan là hệ thống toàn bộ các yếu tố bên ngoài
doanh nghiệp, có liên quan ảnh hưởng đến quá trình tồn tại, vận hành và pháttriển của doanh nghiệp
- Quy chế chính sách của chính phủ, cơ quan địa phương
Trang 17Thị trường có tác dụng như một “bàn tay vô hình” điều tiết nền kinh tếsong nếu chỉ phó mặc cho thị trường thì dễ dẫn tới khủng hoảng Ở đây cầnmột “bàn tay hữu hình” can thiệp, hướng dẫn nền kinh tế đi theo mục tiêu,chiến lược đã chọn Đó chính là sự điều tiết của Nhà nước Vì vậy, yếu tốChính phủ và chính trị có ảnh hưởng ngày càng lớn đến hoạt động của doanhnghiệp Sự ổn định chính trị của đất nước, trong đó có sự ổn định của Chínhphủ là tiền đề cho sự ổn định các hoạt động kinh tế Ngoài ra, các công cụ quản
lý vĩ mô của Chính phủ như: Quy định về chống độc quyền; Luật bảo vệ môitrường; Thuế; Các chế độ đãi ngộ đặc biệt; Quy định về thuê mướn, khuyếnmại …
Luôn tạo ra cơ hội và thách thức cho doanh nghiệp, nhằm hướng chúngtheo một quỹ đạo cần thiết Hiện nay, các doanh nghiệp xây dựng hoạt động
dựa theo các Nghị định và văn bản hướng dẫn, đặc biệt là văn bản LUẬT ĐẤU THẦU của QUỐC HỘI nước CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT
NAM số 61/2005/QH11 ngày 29 tháng11 năm 2005 Ngoài ra còn các quy định
về khung giá, mức giá, những quy định về thuê mướn, thuế, cho vay, quảngcáo… bắt buộc các doanh nghiệp phải tuân theo
Chính phủ có thể tạo ra các cơ hội hoặc nguy cơ đối với doanh nghiệpchẳng hạn: Thông tư số 40/2009/TT-BXD ngày 09/12/2009 của Bộ Xây dựngquy định việc áp dụng tiêu chuẩn xây dựng nước ngoài trong hoạt động xâydựng ở Việt Nam, quy định dần xóa bỏ những ưu đãi cho các nhà thầu ViệtNam khi tham gia đấu thầu
- Đối thủ cạnh tranh
Trên thực tế cho thấy cạnh tranh có thể diễn ra trên nhiều mặt khác nhaunhưng có thể nói cạnh tranh trong đấu thầu xây dựng chủ yếu là giữa doanh
nghiệp với đối thủ cạnh tranh để giành được gói thầu Doanh nghiệp luôn phải
đối phó với hàng loạt các đối thủ cạnh tranh Sự hiểu biết về đối thủ cạnh tranh
có ý nghĩa hết sức quan trọng đối với các doanh nghiệp Các đối thủ cạnh tranhnhau sẽ quyết định tính chất và mức độ ganh đua, thủ thuật giành lợi thế trong
Trang 18ngành Mức độ cạnh tranh phụ thuộc vào mối tương tác giữa các yếu tố như sốlượng doanh nghiệp tham gia cạnh tranh, mức độ tăng trưởng của ngành, cơcấu chi phí cố định và mức độ đa dạng hóa sản phẩm Ngoài ra, các đối thủcạnh tranh mới và giải pháp công nghệ mới cũng thường làm thay đổi mức độ
và tính chất cạnh tranh
Đối thủ cạnh tranh của tổ chức xây dựng tham gia dự thầu là những nhàthầu khác cùng ngành nghề kinh doanh, cùng tham gia vào những công trìnhcần đấu thầu với tổ chức xây dựng của mình Nếu tiềm lực của đối thủ cạnhtranh lớn về năng lực tài chính, năng lực máy móc thiết bị… thì khả năng trúngthầu của doanh nghiệp sẽ giảm
Cạnh tranh trên lĩnh vực xây dựng cơ bản diễn ra ngày càng gay gắt, đốithủ ngày một nhiều Ta có thể chia thành các nhóm:
+ Các doanh nghiệp xây dựng trong nước
+ Các doanh nghiệp xây dựng ngoài nước
+ Các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn
Trong những thời điểm và những giai đoạn khác nhau thường có nhữngđối thủ cạnh tranh mới gia nhập thị trường và những đối thủ yếu đi rút khỏi thịtrường, để chống lại các đối thủ cạnh tranh tiềm ẩn, doanh nghiệp xây dựngthường tìm cách không ngừng nâng cao cải tiến kỹ thuật, vươn tới những góithầu lớn nhằm nâng cao uy tín trên thị trường Doanh nghiệp cũng nên đềphòng và lường trước những đối tác làm ăn vì họ có thể trở thành đối thủ cạnhtranh tiềm ẩn
Trang 19Giữa nhà cung ứng và doanh nghiệp thường diễn ra các cuộc thươnglượng về giá cả, chất lượng và thời gian giao hàng Khả năng thương lượng vềgiá cả của các nhà cung cấp tùy thuộc vào mức gộp và chất lượng hàng hóa mà
họ dự định cung ứng cho doanh nghiệp
Những ưu thế và đặc quyền của nhà cung cấp đầu vào cho phép họ cónhững ảnh hưởng nhất định đối với doanh nghiệp Họ có nhiều cách để tácđộng vào khả năng thu lợi nhuận của các doanh nghiệp Họ có thể nâng giá,giảm chất lượng những loại vật tư, thiết bị mà họ cung ứng hoặc không đảmbảo đúng tiến độ cung cấp theo yêu cầu của doanh nghiệp Các nhà cung cấp cóthế lực mạnh khi họ có những điều kiện sau:
+ Độc quyền cung cấp một loại vật tư thiết yếu cho doanh nghiệp
+ Doanh nghiệp không phải là khách hàng quan trọng của nhà cung cấp+ Loại vật tư cung cấp là yếu tố đầu vào quan trọng, quyết định rất lớnđến hiệu quả sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp hoặc đến chất lượng sảnphẩm của doanh nghiệp
- Khách hàng
Khách hàng là vấn đề sống còn trong môi trường cạnh tranh Sự tínnhiệm của khách hàng đôi khi là tài sản có giá trị nhất của doanh nghiệp Sự tínnhiệm đó đạt được do biết thỏa mãn một cách tốt hơn các nhu câu và thi hiếucủa khách hàng so với đối thủ cạnh tranh
Một vấn đề khác liên quan tới khách hàng là khả năng trả giá của họ.Người mua có ưu thế có thể làm cho lợi nhuận của doanh nghiệp giảm do họchèn ép giá hoặc đòi hỏi chất lượng cao hơn với cùng một mức giá, nhiều dịch
vụ đi kèm hơn, ưu thế đó là do các điều kiện sau tạo nên:
+ Lượng hàng người chiếm tỷ trọng lớn trong khối lượng hàng bán ra+ Việc chuyển sang mua hàng của người khác không gây nhiều tốn kém+ Sản phẩm của người bán ít ảnh hưởng đến sản phẩm của người mua
Trang 20Doanh nghiệp cân lập bảng phân loại khách hàng hiện tại cũng nhưkhách hàng tương lai Các thông tin thu được từ bảng này là cơ sở định hướngcho việc hoạch định kế hoạch Những thông số cơ bản cần có trong bảng phânloại là:
Các nhân tố chủ quan
Năng lực của tổ chức, doanh nghiệp xây dựng
- Năng lực tài chính:
Một đặc trưng của ngành xây dựng là cần khối lượng vốn rất lớn và vốn
bị đọng rất lâu ở các công trình, hay nói cách khác vòng quay của vốn chậm.Đặc điểm này dẫn đến thực tế là các công ty xây dựng phải có nguồn vốn đủlớn để trang trải chi phí thi công trong thời gian dài trước khi công trình đượchoàn thành và bàn giao cho bên chủ công trình Do vậy, năng lực tài chínhcũng là một yếu tố quyết định lợi thế của nhà thầu khi tham gia tranh thầu.Năng lực tài chính được bên mời thầu xem xét ở các khía cạnh sau:
+ Doanh thu, lợi nhuận trước và sau thuế
+ Vốn lưu động trong vòng 3 đến 5 năm gần đây
Trong vốn lưu động, khả năng huy động vốn ngắn hạng và dài hạn củadoanh nghiệp là chỉ tiêu hết sức quan trọng, bởi vì nguồn vốn đáp ứng nhu cầutrong bảo lãnh thực hiện hợp đồng và ứng vốn chủ yếu là vốn vay Vì vậy, khảnăng vay vốn dễ hay khó có ảnh hưởng trực tiếp tới năng lực cạnh tranh củadoanh nghiệp Đồng thời việc làm rõ nguồn vốn huy động để thực hiện hợpđồng là một nội dung quan trọng mà doanh nghiệp phải trình bày để chủ đầu tưxem xét khi đánh giá
Bên cạnh năng lực tài chính thì tài chính lành mạnh cũng ảnh hưởng tớinăng lực cạnh tranh của nhà thầu Tình hình tài chính lành mạnh thể hiện quakết quả sản xuất kinh doanh cũng như sự hợp lý và linh hoạt trong cơ cấu tàichính của doanh nghiệp Một hệ số nợ cao (nợ/vốn chủ sở hữu) sẽ ảnh hưởngxấu tới khả năng huy động vốn cho việc thi công
Trang 21- Năng lực máy móc thiết bị kỹ thuật thi công:
Thiết bị thi công là yếu tố quan trọng đối với việc thi công các côngtrình xây dựng Chi phí máy thi công thường chiếm 15 -20% giá thành xâydựng công trình Thiết bị thi công không những có ảnh hưởng đến chiến lượcđấu thầu về mặt giá thành mà còn ảnh hưởng đến năng lực uy tín của nhà thầucũng như ảnh hưởng tới kỹ thuật, công nghệ, phương án thi công Năng lực vềmáy móc thiết bị thi công sẽ được nhà thầu giới thiệu trong trong hồ sơ dựthầu, nó chứng minh cho bên mời thầu biết được khả năng huy động nguồn lực
về máy móc thiết bị đảm bảo thi công công trình, đáp ứng nhu cầu của chủ đầu
tư Khi đánh giá năng lực máy móc thiết bị thì bên mời thầu sẽ tập trung vàonhững nội dung sau:
+ Nguồn lực về máy móc thiết bị thi công của tổ chức xây dựng thể hiệnthông qua tổng giá trị các tài sản là máy móc thiết bị và xe máy thi công hiện
có của tổ chức xây dựng đó về số lượng chủng loại Nếu nguồn lực này khôngđảm bảo thì tổ chức xây dựng phải đi thuê phục vụ cho thi công sẽ ảnh hưởngtới năng lực cạnh tranh khi dự thầu
+ Trình độ hiện đại của công nghệ sản xuất, tức là máy móc thiết bịcông nghệ của tổ chức xây dựng sử dụng có hiện đại so với trình độ công nghệhiện đại trong ngành xây dựng hay không Trình độ hiện đại của công nghệđược thể hiện qua các thông số kỹ thuật về đặc tính sử dụng, công suất vàphương pháp sản xuất của công nghệ hoặc có thể đánh giá thông qua thông số
về năm sản xuất, nước sản xuất và giá trị còn lại của máy móc thiết bị
+ Mức độ hợp lý của thiết bị máy và công nghệ hiện có, tức là tính đồng
bộ trong sử dụng máy móc thi công và công nghệ, sự phù hợp trong điều kiện
sử dụng đặc thù về địa lý, khí hậu, địa chất, nguyên vật liệu… sự phù hợp giữagiá cả và chất lượng của sản phẩm do công nghệ sản xuất ra
- Nguồn nhân lực và chính sách quản lý của công ty về nguồn nhân lực
Ảnh hưởng của nguồn nhân lực trong tổ chức xây dựng tới năng lựccạnh tranh của tổ chức xây dựng thể hiện một cách trực tiếp thông qua việc bố
Trang 22trí nhân lực tại hiện trường, năng lực và kinh nghiệm của cán bộ chủ chốt dựkiến cho việc quản lý và việc thực hiện hợp đồng cũng như chất lượng và sựphù hợp về cơ cấu ngành nghề đội ngũ công nhân thi công công trình sẽ quyếtđịnh đến chất lượng và tiến độ thi công công trình Đó là lý do tại sao bên mờithầu rất chú ý tới chỉ tiêu này khi xét thầu.
Bên cạnh đó, với một doanh nghiệp xây dựng, năng lực và sự nhanhnhạy của các quản trị viên và chiến lược đấu thầu mà cán bộ lãnh đạo doanhnghiệp theo đuổi quyết định phần lớn năng lực cạnh tranh trong đấu thầu xâydựng cũng như công tác dự thầu nói chung
Ngoài ra, nếu chính sách quản lý nguồn nhân lực của công ty tạo đượcđộng lực thúc đẩy người lao động hăng say làm việc cũng cho phép doanhnghiệp rút ngắn tiến độ thi công và nâng cao chất lượng công trình
Nhìn chung, khi đề cập tới nhân tố này và tác động của nó tới năng lựccạnh tranh của tổ chức xây dựng có thể nói tới nhiều khía cạnh khác nhaunhưng phải thấy rõ vai trò hết sức quan trọng và đặc biệt của nguồn nhân lựccon người cũng như chính sách quản lý nguồn nhân lực tới việc giành thắng lợicủa doanh nghiệp
- Kinh nghiệm nhà thầu thi công các công trình xây dựng tương tự
Nhân tố này có tác động không nhỏ tới kết quả đánh giá chung của bênmời thầu đối với nhà thầu Đối với những công trình có quy mô lớn yêu cầu kỹthuật phức tạp thì đây là nhân tố khá quan trọng và sẽ chiếm một tỷ lệ khá caotrong tổng điểm đánh giá nhà thầu của bên mời thầu
Khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng
- Giá dự thầu
Trong cuộc chạy đua trên thương trường, giá dự thầu là một trongnhững yếu tố quyết định đến việc “được” hay “mất” của mỗi nhà thầu Khácvới các sản phẩm khác, giá của sản phẩm xây dựng được xác định trước khi sảnxuất và đưa vào tiêu dùng, thông thường nó được xác định thông qua đấu thầu
Trang 23(bên mời thầu xác định mức giá hợp lý từ đó bỏ thầu trong hồ sơ dự thầu củacác nhà thầu, là giá có lợi nhất cho chủ đầu tư).
Ở góc độ chủ đầu tư, thường chọn nhà thầu có giá bỏ thầu thấp, nhưngphải đáp ứng được yêu cầu kỹ thuật, chất lượng của gói thầu và nhà thầu phảithuyết minh được khả năng thực hiện dự án với giá thầu đã tính toán
Cạnh tranh bằng giá là cuộc cạnh tranh khốc liệt trong cơ chế thị trường,các công ty tham gia đấu thầu đều muốn đưa ra một mức giá hấp dẫn với bênmời thầu để có thể thắng thầu Một số chính sách giá thường được áp dụngtrong việc xác định giá tranh thầu:
• Chính sách giá cao: áp dụng khi công ty có công nghệ vượt trội sovới các đối thủ cạnh tranh hoặc thi công công trình trong điều kiện đặc biệthoặc nhà thầu xây dựng đang có quá nhiều việc để làm; nhưng mức giá khôngđược cao hơn mức giá chủ đầu tư quy định
• Chính sách giá trung bình: khi các đối thủ tham gia dự thầu có ưu thếgần như nhau
• Chính sách giá thấp: áp dụng trong điều kiện ngăn chặn đối thủ cạnhtranh tham gia vào thị trường, muốn gây thiện cảm ban đầu để làm ăn lâu dài
và trong trường hợp công ty thừa năng lực sản xuất, công nhân không có việclàm nhằm thắng thầu để bù đắp một phần chi phí cố định
• Chính sách giá linh hoạt theo thị trường: đưa ra giá hợp lý đảm bảophù hợp với tình hình thị trường, phù hợp với mục tiêu của công ty cũng nhưbên mời thầu
Tùy từng công trình, từng giai đoạn, địa điểm xây dựng mà công ty nênlựa chọn mức giá phù hợp, đảm bảo khả năng cạnh tranh của công ty khi thamgia dự thầu Như vậy, giá dự thầu là tiêu chuẩn quan trọng quyết định khảnăng thắng thầu của nhà thầu
- Phương pháp thi công và tiến độ thi công
Chỉ tiêu biện pháp thi công và tiến độ thi công được chủ đầu tư đánh giácao khi xét thầu Trong hồ sơ dự thầu, tiêu chuẩn biện pháp thi công và tiến
độ thi công do nhà thầu đưa ra được chủ đầu tư đánh giá ở hai nội dung sau:
Trang 24• Xem xét biện pháp thi công đảm bảo đúng tiến độ, an toàn mức độđảm bảo tổng tiến độ thi công quy định trong hồ sơ mời thầu Nếu nhà thầu nào
mà đưa ra được biện pháp thi công làm rút ngắn được thời gian xây dựng côngtrình thì khả năng thắng thầu sẽ cao hơn, nhất là trường hợp công trình đượcđưa vào sử dụng sớm mang lại lợi nhuận cho chủ đầu tư
• Xem xét tiến độ hoàn thành các hạng mục công trình khi tiến độthi công có liên quan tới việc sử dụng ngay các hạng mục công trình đó của chủđầu tư
Trong quá trình đánh giá hồ sơ dự thầu, tiêu chuẩn về khả năng đáp ứngcác yêu cầu về kỹ thuật và chất lượng do nhà thầu đưa ra được bên mời thầucoi là một trong các tiêu chuẩn kỹ thuật để đánh giá Tiêu chuẩn để đánh giá vềphương pháp thi công bao gồm:
+ Mức độ đáp ứng đối với các yêu cầu kỹ thuật chất lượng vật tư, thiết
bị nếu trong hồ sơ thiết kế và chỉ dẫn kỹ thuật
+ Tính hợp lý và khả thi của các giải pháp kỹ thuật, biện pháp tổ chứcthi công: sơ đồ tổng tiến độ, sơ đồ tổ chức hiện trường bố trí nhân sự, các giảipháp kỹ thuật
+ Các biện pháp đảm bảo điều kiện vệ sinh môi trường và các điều kiệnnhà thầu nêu trong hồ sơ dự thầu, qua các bản vẽ minh họa, phần thuyết minhbiện pháp…
Nhà thầu đảm bảo được tiến độ thi công đồng thời đưa ra được các giảipháp thi công hợp lý nhất chắc chắn sẽ chiếm được lợi thế trong đấu thầu.Trước sự cạnh tranh gay gắt, đòi hỏi các công ty xây dựng phải lựa chọn côngnghệ, kỹ thuật thi công, biện pháp thi công phù hợp để đảm bảo rút ngắn thờigian thi công công trình, nâng cao khả năng cạnh tranh trong đấu thầu xây lắp.Biện pháp thi công và tiến độ thi công trở thành công cụ cạnh tranh cần thiết vàhữu hiệu của các đơn vị xây dựng trong tranh thầu
- Chất lượng công trình và uy tín công ty
Trang 25Chất lượng công trình là những yêu cầu tổng hợp đối với đặc tính antoàn bền vững, mỹ quan, kinh tế của công trình phù hợp với quy chuẩn xâydựng, tiêu chuẩn kỹ thuật, phù hợp với hợp đồng kinh tế và pháp luật hiện hànhcủa Nhà nước Phương thức cạnh tranh bằng chất lượng công trình trong đấuthầu xây dựng của công ty được tiếp cận dưới hai góc độ:
• Cạnh tranh bằng chất lượng công trình đang được tổ chức đấu thầuxây dựng Đây chính là nỗ lực phát huy mọi nguồn lực vốn có của công tynhằm đảm bảo thực hiện đúng thiết kế kỹ thuật và đưa ra được các đề xuất, giảipháp kỹ thuật hợp lý nhất Điều đó được công ty trình bày phần tiêu chuẩn kỹthuật và chất lượng trong hồ sơ dự thầu
• Đánh giá tiêu chuẩn chất lượng công trình mà công ty đang tham giađấu thầu, chủ đầu tư không chỉ căn cứ vào sự phù hợp của các tiêu chuẩn trong
hồ sơ dự thầu của công ty mà còn xem xét đến chất lượng các công trình đã thicông trước đó (các công trình có tính chất kỹ thuật tương tự nằm trên khu vựcđịa lý và điều kiện tự nhiên tương tự) Điều đó cũng chính là uy tín của công tytrên thị trường Vì vậy, trong hồ sơ dự thầu có phần trình bày kinh nghiệm củacông ty trong việc thi công những công trình tương tự, những công trình tiêubiểu có chất lượng cao kèm theo những chững nhận có tính pháp lý về chấtlượng công trình
Chỉ tiêu đánh giá năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng trong quá trình dự thầu xây dựng
Thực ra cho đến nay chưa có bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào đưa ranhững tiêu thức chuẩn để đánh giá mức độ cạnh tranh giữa các doanh nghiệp,
vì để làm được điều này đòi hỏi phải có chuyên môn và chuyên nghiệp trongcông tác đấu thầu và khảo sát thăm dò thị trường Tuy vậy, để có thể ước lượngđược năng lực cạnh tranh của bản thân cũng như của đối thủ thì doanh nghiệp
có thể dựa vào một số chỉ tiêu và tiêu thức như sau
- Chỉ tiêu về lợi nhuận đạt được (hiệu quả kinh doanh)
Lợi nhuận là chỉ tiêu tổng hợp phản ánh kết quả kinh doanh của doanh
nghiệp, nó là chỉ tiêu hết sức quan trọng đánh giá tình hình hoạt động của
Trang 26doanh nghiệp, hiệu quả sử dụng vốn của doanh nghiệp dựa vào chỉ tiêu này ta
có thể thấy được vị thế của doanh nghiệp trên thị trường xây dựng
Lợi nhuận sau thuế
- Chỉ tiêu số lượng công trình trúng thầu và giá trị trúng thầu hàng năm
Giá trị trúng thầu hàng năm là tổng giá trị của tất cả các công trình
mà doanh nghiệp xây dựng đã tham gia đấu thầu và trúng thầu trong năm kế cảgói thầu của hạng mục công trình Chỉ tiêu giá trị trúng thầu và số công trìnhtrúng thầu qua các năm cho ta biết một cách khái quát tình hình kết quả dự thầucủa các doanh nghiệp xây dựng Thông qua đó để đánh giá chất lượng thựchiện công tác dự thầu trong năm Xem xét chỉ tiêu này ta có thể lập bảng sau
Bảng 2.1 : Tổng hợp và so sánh kết quả dự thầu qua các năm
Trang 27một công trình trúng thầu biểu hiện khả năng của doanh nghiệp có thể tham giađấu thầu và trúng thầu các công trình có quy mô lớn hay nhỏ
-Chỉ tiêu xác suất trúng thầu
Chỉ tiêu này được xác định theo hai mặt biểu hiện là:
Tổng số công trình trúng thầu
* Xác suất trúng thầu theo số công trình =
Tổng số công trình đã dự thầu Tổng số công trình trúng thầu
* Xác suất trúng thầu theo giá trị =
Tổng số công trình đã dự thầu
Các chỉ tiêu này được đánh giá theo từng năm Trên thực tế hai chỉ tiêunày không bằng nhau do giá trị các công trình đấu thầu khác nhau, việc đánhgiá cần căn cứ vào từng kết quả cụ thể
- Chỉ tiêu thị phần doanh nghiệp xây dựng trên thị trường xây dựng
Do đấu thầu là một hình thức cạnh tranh đặc thù của các doanh nghiệpxây dựng nên chất lượng của công tác đấu thầu, xét cho đến cùng cũng là mộttrong các biểu hiện chủ yếu khă năng cạnh tranh của doanh nghiệp Mặt khác,khả năng cạnh tranh lại được đánh giá thông qua hai chỉ tiêu tổng quát là thịphần và uy tín doanh nghiệp Chỉ tiêu thị phần được đo bằng hai mặt biểu hiện,
đó là phần thị trường tuyệt đối và phần thị trường tương đối
Giá trị SLXL do doanh nghiệp thực hiện
* Phần thị trường tuyệt đối =
Tổng giá trị SLXL thực hiện toàn ngành
* Phần thị trường tương đối của doanh nghiệp được xác định trên cơ sở
so sánh phần thị trường tuyệt đối của doanh nghiệp với phần thị trường tuyếtđối của đối thủ cạnh tranh (một hoặc một số đối thủ mạnh nhất)
Sự thay đổi của chỉ tiêu thị phần qua các năm cho phép đánh giá chấtlượng của công tác dự thầu trong doanh nghiêp Qua chỉ tiêu thị phần ta có thể
Trang 28tính toán được tốc độ tăng trưởng của thị phần so với kỳ trước để nhận biết xuhướng biến đổi vị thế cạnh tranh của doanh nghiệp
- Chỉ tiêu uy tín của doanh nghiệp
Uy tín là chỉ tiêu mang tính vô hình, rất khó định lượng Chỉ tiêu này
mang tính chất bao trùm, liên quan đến tất cả các chỉ tiêu và nhiều yếu tố khácnhư: chất lượng xây dựng, hoạt động Marketing, quan hệ của doanh nghiệp vớicác tổ chức khác… Uy tín là chỉ tiêu giữ vai trò quan trọng trong đấu thầu vàgiành thằng lợi của doanh nghiệp Chính uy tín giúp cho doanh nghiệp giànhđược lòng tin của chủ đầu tư và tạo lợi thế trong tham gia đấu thầu Vì vậy màtrong từng thời kỳ doanh nghiệp phải chú trọng đến việc nâng cao uy tín trênthị trường tạo cơ hội giành được lợi thế cạnh tranh trong đấu thầu
2.1.2 Tổng hợp đánh giá các nghiên cứu trước đây
1) Nguyễn Đình Huy, “Một số giải pháp nhằm tăng khảnăng cạnh tranh trong dự thầu xây dựng ở công ty Xây dựng Bạch Đằng”, luậnvăn tốt nghiệp khoa QTKD Công nghiệp và xây dựng cơ bản trường Đại họcXây dựng năm 2000 Luận văn đã tổng hợp một cách chi tiết cơ sở lý luận vềđấu thầu và khả năng cạnh tranh của doanh nghiệp xây dựng Mặc dù chưaphân tách nhóm cho yếu tố ảnh hưởng tới khả năng cạnh tranh nhưng tác giả đãphân tích tình hình dự thầu của công ty và đánh giá khả năng dự thầu của công
ty qua 3 chỉ tiêu: số lượng, giá trị và thị phần một cách hết sức cụ thể Tác giảtập trung phân tích những giải pháp mà mình đề ra, bên cạnh giải pháp về việctính giá dự thầu dựa trên đối thủ cạnh tranh thì tác giả tập trung vào giải pháp
về mặt tổ chức
2) Nguyễn Mạnh Chiến, “Hoàn thiện công tác đấu thầu tại công
ty cổ phần xây dựng Vinaconex 12”, luận văn tốt nghiệp đại học Kinh tế, 2009.Luận văn đã đi nghiên cứu thực trạng công tác đấu thầu để đưa ra những giải phápnhằm hoàn thiện công tác đấu thầu cho công ty xây dựng Trên cơ sở phân tích côngtác tham gia dự thầu thì tác giả đã nêu bật nên được các chỉ tiêu năng lực dự thầu:
Trang 29tài chính, nhân sự, máy móc thiết bị, kinh nghiệm; cùng với quy trình công tác đấuthầu và tình hình tham gia dự thầu mà đưa ra những đánh giá và giải pháp hoànthiện công tác đấu thầu
3) Phạm Xuân Khánh, “Nâng cao năng lực cạnh tranh trongđấu thầu xây dựng của công ty 789 của Bộ quốc phòng”, luận văn thạc sĩ quảntrị kinh doanh trường Đại học Nông nghiệp Hà Nội năm 2010 Tác giả đã phântích tình hình tổ chức thi công của công ty đồng thời đưa ra được điểm mạnh,điểm yếu, thuận lợi và khó khăn trong năng lực cạnh tranh trong đấu thầu cùngvới cách khéo léo lồng các chỉ tiêu đánh giá vào nội dung những phần này Tuynhiên, việc tác giả đưa ra các giải pháp dựa vào việc phân tích và đánh giá 5nội dung của tình hình tổ chức thi công: năng lực thi công, năng lực tài chính,quản lý kỹ thuật, chất lượng công trình, kế hoạch tiếp thị; đã bỏ qua một sốnhân tố ảnh hưởng tới năng lực cạnh tranh như đối thủ cạnh tranh, nhà cungcấp…; điều này làm mất đi độ sâu của đề tài
2.1.3 Cơ sở thực tiễn
2.1.3.1 Hoạt động đấu thầu xây dựng ở Việt Nam
Nền kinh tế nước ta chuyển từ cơ chế kế hoạch hóa tập trung sang cơchế thị trường, quy luật cạnh tranh cũng từng bước được hình thành Để tạo sựcạnh tranh bình đẳng cũng như nâng cao hiệu quả sử dụng vốn trong đầu tư xâydựng thì Chính phủ đã ban hành quy chế đấu thầu thống nhất trong cả nước Từkhi quy chế đấu thầu được ban hành, hoạt động đấu thầu đã đi vào khuôn khổ,không còn tự phát như trước Công tác đấu thầu trong những năm qua ở ViệtNam có những chuyển biến tích cực, mang lại hiệu quả cao, môi trường cạnhtranh lành mạnh Năm 2006, tổng số mua sắm trong đầu tư (giá trúng thầu) trên80.000 tỷ đồng, tiết kiệm chung là 10,37% Các gói thầu thực hiện theo phươngthức đấu thầu cạnh tranh chỉ chiếm 47,8% tổng số gói thầu nhưng lại chiếm85,4% tổng giá trị mua sắm Điều này chứng tỏ phương thức đấu thầu cạnh
Trang 30tranh được áp dụng nhiều vì tính cạnh tranh công bằng, minh bạch, hiệu quảcủa nó Sau đây là bảng số liệu cho thấy mức tiết kiệm được thông qua đấuthầu:
Bảng 2.2: Tiết kiệm chi phí thông qua hoạt động đấu thầu năm 2005
Đơn vị: triệu USDNội dung Gói thầu Bộ
(Nguồn báo Diễn đàn doanh nghiệp năm 2006)Tuy nhiên, đấu thầu xây dựng ở Việt Nam còn tồn tại nhiều vấn đề bấtcập như: nạn bỏ thầu giá thấp, nhà thầu chọn cái chết từ từ khi không có dự án
để thực hiện, hành vi bán lại gói thầu của các nhà thầu, hành vi móc ngoặc giữachủ đầu tư và nhà thầu đã làm mất đi tính cạnh tranh trong đấu thầu
2.1.3.2 Thực trạng năng lực thầu xây dựng trong nước
Các công ty xây dựng ở Việt Nam đang trong quá trình vừa thựchiện vừa học hỏi Các nhà thầu trong nước đa số là chưa có kinh nghiệm nhưnhững nhà thầu nước ngoài Mặt khác, văn bản pháp quy về đầu tư xây dựng
cơ bản chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ Do vậy, những dự án có giá trị lớn thì nhàthầu Việt Nam có ít cơ hội làm tổng thầu
Về phương pháp xét thầu, đôi khi chỉ dựa vào hồ sơ dự thầu của cácnhà thầu, thiếu thông tin thực tế Do đó, khi tham gia đánh giá năng lực nhàthầu chưa đảm bảo độ chính xác Các nhà thầu Việt Nam nhiều khi cũng bịxem thường trong khi đấu thầu ngay cả những công trình vốn trong nước, giátrị trung bình Tình trạng này diễn ra ở một số địa phương, khi một nhân vậtquan trọng nào đó muốn một nhà thầu A thắng cuộc thì dù nhà thầu B có nănglực kỹ thuật tốt và đề xuất giá thầu hợp lý cũng không được chấp nhận Nănglực của nhà thầu phải dựa trên các yếu tố về vốn, năng lực nhân sự, kinhnghiệm nghề nghiệp… việc đánh giá cho điểm các hồ sơ dự thầu hiện nay
Trang 31cũng không công bằng, tuy có điểm chuẩn nhưng chỉ tiêu đặt ra chưa địnhlượng được, việc cho điểm chỉ mang tính chủ quan, thiên vị
Tổ chức quản lý và nhân sự: Nhà thầu Việt Nam còn yếu kém trongcông tác quản lý Cơ cấu không linh hoạt nên không ứng phó kịp với nhữngthay đổi của môi trường, xử lý các sự cố còn chậm, chưa chính xác Các phòngban chức năng của doanh nghiệp xây dựng cũng chưa hợp lý Đội ngũ cán bộquản lý, trình độ năng lực, kinh nghiệm còn yếu kém, trách nhiệm cá nhân vớicông việc chưa cao
Vì đặc điểm sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp xây dựng: tính ổnđịnh không cao, thay đổi theo công trình vì vậy sự linh hoạt của cơ cấu tổ chức
có vai trờ quan trọng, tuy nhiên với các doanh nghiệp xây dựng hiện nay thì lạikhông có sự đoàn kết gắn bó giữa các cán bộ quản lý và người lao động, phốihợp giữa các bộ phận trong lập hồ sơ dự thầu và thực hiện hợp đồng không ăn
ý Bầu không khí làm việc trong các công ty xây dựng chưa tích cực hăng say
và có nề nếp
Hơn nữa cơ cấu tổ chức cồng kềnh, nhiều phòng ban nên doanh nghiệpxây dựng trong nước khó có khả năng thắng thầu các dự án có quy mô lớn Cảđội ngũ quản lý và lao động của doanh nghiệp đều chưa đáp ứng được yêu cầungày càng cao của các gói thầu Đội ngũ công nhân trong công ty xây dựngthường trẻ, do đó còn hạn chế về mặt kinh nghiệm Lao động của các doanhnghiệp thường là hợp đồng trung và dài hạn nhưng số lao động thuê ngoài vàlàm hợp đồng ngắn hạn cũng chiếm một lượng đáng kể, gây khó khăn tới chấtlượng công trình cũng như tiến độ thi công vì số lượng này không ổn đình vàmất thời gian tìm kiếm, đào tạo
Máy móc thiết bị: doanh nghiệp xây dựng của Việt Nam có trangthiết bị thường lạc hậu, cũ kỹ, nhập từ các nước Đông Âu hoặc các nước trongkhu vực Máy móc thiết bị thường có công suất nhỏ, không đáp ứng được cáccông trình lớn Đồng thời, số lượng máy móc cũng không nhiều Máy mócthường không đồng bộ, mang tính chắp vá Sự cung cấp nguyên nhiên vật liệuchưa kịp thời, ảnh hưởng tới tiến độ thi công công trình
Trang 32 Năng lực tài chính: khả năng tài chính của các doanh nghiệp xâydựng trong nước còn nhiều hạn chế so với các doanh nghiệp nước ngoài Nhìnchung, tỷ lệ nợ thường cao, vốn chủ hữu thấp, khả năng thanh toán thấp, khảnăng thu hồi vốn thấp, cơ cấu vốn chưa hợp lý Vốn cố định của doanh nghiệplớn nhưng chủ yếu là nhà xưởng, máy móc thiết bị Trong quá trình dự thầu thìviệc tính giá gói thầu cũng chưa chính xác Điều này cho thấy tiềm lực tàichính của các doanh nghiệp xây dựng trong nước còn yếu, hoạt động sản xuấtkinh doanh chưa hiệu quả.
Trang 332.1.4 Xây dựng khung nghiên cứu của đề tài
Nhân tố bên trong doanh nghiệp
bộ phận thực hiện đấu thầu
Năng lực cạnh tranh trong đấu thầu của công ty
Trang 342.2 Phương pháp nghiên cứu
2.2.1 Phương pháp thu thập số liệu
- Thu thập số liệu thứ cấp: Tôi tiến hành thu thập số liệu thứ cấp về công
ty như tình hình lao động, kết quả sản xuất kinh doanh, doanh thu, giá trị của
dự án… tại các phòng như kế toán, kế hoạch hành chính, nhân sự của công tynhằm đánh giá năng lực cạnh tranh của công ty
- Thu thập số liệu sơ cấp: Để tiến hành đánh giá nâng cao năng lực cạnhtranh của công ty tôi tiến hành thu thập số liệu sơ cấp bằng cách phỏng vấn,trao đổi với lãnh đạo công ty, nhân viên kế toán để hiểu hơn về vấn đề nghiêncứu
2.2.2 Phương pháp xử lý số liệu
- Phương pháp phân tích kinh tế
Từ các số liệu thu thập được tôi tiến hành phân tích sự biến động về tìnhhình kinh doanh của công ty qua từng giai đoạn, từ đó thấy được thực trạngkinh doanh của công ty và đưa ra giải pháp phát triển trong tương lai nhằmnâng cao năng lực cạnh tranh của công ty
- Phương pháp so sánh
Tiến hành so sánh các chỉ tiêu về giá trị dự án, chất lượng công trình,thời gian thi công… của công ty với các doanh nghiệp khác để thấy rõ năng lựccạnh tranh của công ty trên thị trường
- Phương pháp phân tích SWOT
SWOT là viết tắt của 4 chữ cái Strengths (điểm mạnh), Weaknesses(điểm yếu), Opportunites (cơ hội) và Threats (nguy cơ) Phương pháp nàynhằm chỉ ra điểm mạnh, điểm yếu, cơ hội cũng như thách thức của doanhnghiệp trong công tác phát triển thị trường Kết quả của phân tích này là đưa racác thông tin tạo cơ sở doanh nghiệp ra quyết định về các chiến lược, giải phápphát triển thị trường sao cho khai thác hết sức mạnh, nguồn lực nội tại của công
Trang 35ty và nhanh nhạy nắm bắt lấy cơ hội bên ngoài thị trường cũng như hạn chếnhững thách thức và khó khăn
W – điểm yếuW1, W2, W3…
O – cơ hội, tiểm năng
O1, O2, O3
Kết hợp SO
Sử dụng điểm mạnh đểkhai thác cơ hội
Kết hợp WO
Sử dụng cơ hội để khácphục hạn chế
Kết hợp WTTối thiểu hóa nguy cơ
và hạn chế thách thức
PHẦN III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU
Trang 363.1 Giới thiệu chung về công ty TNHH Toàn Mỹ
- Tên doanh nghiệp: Công ty TNHH Toàn Mỹ
- Địa chỉ: Xã Quảng Thanh - Thuỷ Nguyên - Hải Phòng
- VP giao dịch: Số 9 đường Bạch Đằng - T.Trấn Núi Đèo - huyện ThuỷNguyên - TP.Hải Phòng
Công ty TNHH Toàn Mỹ (tên tiếng Anh là Toàn Mỹ Company co., ltd)
là một doanh nghiệp tư nhân hoạt động trong lĩnh vực xây lắp theo mô hìnhđộc lập Được thành lập từ năm 1997 trải qua gần 15 năm hình thành và pháttriển, Công ty đã dần dần khẳng định vị thế của mình trong lĩnh vực xây lắp và
có được uy tín lớn trên thị trường
Công ty TNHH Toàn Mỹ được thành lập ngày 25/03/1997 Trụ sởchính của Công ty đặt tại số 09 đường Bạch Đằng - T.Trấn Núi Đèo - huyệnThuỷ Nguyên - TP Hải Phòng, với địa bàn hoạt động trên phạm vi cả nướcnhưng chủ yếu vẫn là các tỉnh, thành phố khu vực phía Bắc
Công ty TNHH Toàn Mỹ có tư cách pháp nhân theo pháp luật ViệtNam thực hiện chế độ hạch toán độc lập, có con dấu riêng, được mở tài khoảntại Ngân hàng theo quy định của pháp luật, được tổ chức và hoạt động theođiều lệ công ty và luật Doanh nghiệp, được đăng ký kinh doanh theo luật định
Lịch sử hình thành và phát triển của Công ty trải qua các giai đoạn sau:
+ Giai đoạn từ năm 1997-2002: Ở những năm 90, với chủ trương đổi
mới, mở cửa về kinh tế của Đảng và Nhà nước, nền kinh tế nước ta đã có sựtăng trưởng nhanh và khá ổn định Các nước trong khu vực cũng như nhiềunước công nghiệp phát triển đã có nhiều dự án đầu tư vào nước ta Vì vậy việc
Trang 37xây dựng cơ sở hạ tầng, xây dựng các trung tâm công nghiệp, trung tâm dulịch, dịch vụ đã có nhiều dự án triển khai thực hiện Đặc biệt với những vị trínằm trong khu tam giác kinh tế phía Bắc: Hà Nội - Hải Phòng - Quảng Ninh.
Là doanh nghiệp được thành lập trong giai đoạn này để muốn đạt hiệu quảtrong sản xuất kinh doanh, BGĐ Công ty đã từng bước đi lên trong điều kiệncòn gặp nhiều khó khăn nhưng cũng đã có những thành tựu nhất định như thicông đươc 35 công trình và 20 hạng mục, trong đó có những công trình tiêubiểu như: Làng nghề đúc Mỹ Đồng, Tổng kho du lịch Hải Phòng, Nhà làm việc
4 tầng công an thành phố Hải Phòng … Trong giai đoạn này số lượng cán bộcông nhân viên đã lên tới hơn 200 người
+ Giai đoạn từ năm 2003 - 2010: Trong giai đoạn hội nhập và phát
triển để phù hợp và phát triển với mô hình tổ chức mới, với quy mô mới vànhiệm vụ được giao ngày càng nặng nề, Công ty luôn tìm hiểu, nghiên cứu thịtrường để tìm cho mình những hướng đi mới Từ chỗ thuần tuý hoạt động kinhdoanh trong lĩnh vực xây lắp, Công ty đã nhanh chóng chuyển sang kinh doanh
đa ngành đa sản phẩm, trong đó lấy hoạt động kinh doanh xây lắp làm trọngtâm, sản xuất công nghiệp làm định hướng lâu dài Công ty đã tạo được uy tín
và chỗ đứng vững chắc trên thị trường, từng bước khẳng định mình để tồn tại
và ngày càng phát triển với tốc độ tăng trưởng nhanh và vững chắc Có đượcnhững thành tựu trên là do sự cố gắng, nỗ lực của tập thể ban lãnh đạo, cácphòng ban cùng toàn thể cán bộ công nhân viên của Công ty Công ty đã đổimới về mọi mặt, không chỉ cải tiến, trang bị máy móc hiện đại để đáp ứng nhucầu sản xuất mà còn không ngừng cải thiện điều kiện làm việc cho cán bộ côngnhân viên, tạo điều kiện nâng cao sức lao động và tăng cường hiệu quả kinhdoanh
3.1.2 Chức năng, nhiệm vụ của công ty TNHH Toàn Mỹ
3.1.2.1 Chức năng của Công ty
Công ty TNHH Toàn Mỹ có các chức năng cơ bản sau:
Trang 38- Xây dựng các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thong, hạ tầng
đô thị, khu công nghiệp, khai thác mỏ, vận tải thủy – bộ, đào tạo và dạy nghề
- Kinh doanh phát triển nhà ở, sản xuất kinh doanh vật liệu xây dựng
- Khai thác, chế biến và kinh doanh khoáng sản
- Kinh doanh các sản phẩm gỗ
- Thi công các công trình giao thông thủy lợi
- Tư vấn lập dự án đầu tư xây dựng công nghiệp và khai thác khoáng sản
- Sản xuất nhựa plastic
- Kinh doanh xăng dầu
3.1.2.2 Nhiệm vụ của Công ty
Công ty quản lý, sử dụng phần vốn, nguồn lực và có nhiệm vụ bảo toànphát triển vốn và nguồn lực đó, huy động nguồn vốn từ bên ngoài để phục vụcho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp Trong quá trình hoạt động công ty
có nhiệm vụ lập kế hoạch và tổ chức thực hiện kế hoạch kinh doanh xây dựng,hoàn thành các hợp đồng kinh tế với các tổ chức, cơ quan, đơn vị trong vàngoài thành phố đồng thời cũng phải thực hiện đầy đủ nghĩa vụ, trách nhiệmcủa mình với nhà nước và cơ quan cấp trên theo luật định của Nhà nước, công
ty tiến hành đào tạo và tuyển dụng đội ngũ công nhân làm việc tại công ty
Nhiệm vụ chính của công ty trong thời gian này là nhận thầu công trìnhxây dựng và tổ chức thi công hợp lý Thực hiện thi công công trình phải theođiều lệ quản lý đầu tư và xây dựng của Nhà nước ban hanh Thực hiện đầy đủnghĩa vụ với Nhà nước, phát triển và mở rộng quy mô kinh doanh Đồng thờikhông ngừng mở rộng thị trường trong nước góp phần thúc đẩy nền kinh tếphát triển Bên cạnh đó phải đảm bảo cho tất cả cán bộ công nhân viên trongcông ty có việc làm và thu nhập ổn định Thực hiện tốt các mặt như văn hóa thểthao, không ngừng quan tâm đến đời sống của người lao động
3.1.3 Đặc điểm tổ chức sản xuất tại công ty TNHH Toàn Mỹ
Công ty TNHH Toàn Mỹ được tổ chức trên cơ sở kết hợp giữ tính đa năng vàtính chuyên môn hóa trên một số ngành nghề:
Trang 39+ Xây lắp các công trình dân dụng, công nghiệp, giao thông, thủy lợi, cầutàu, bến cảng, công trình kỹ thuật hạ tầng đô thị và khu công nghiệp có các quy
mô trung và hiện đại
+ Thi công xây dựng điện nước, lắp đặt thiết bị công nghiệp, công trình
và cấu kiện xây dựng, các công trình kênh, đập, trạm bơm, hệ thống cấp thoátnước
+ Hoàn thiện xây dựng, trang trí nội ngoại thất, thiết kế xây dựng vườnhoa cây cảnh
+ Xây dựng các trạm biến thế 35-110-220KV và các đường dây trung,cao thế, hạ thế
+ Khai thác kinh doanh và các vật liệu xây dựng: cát, đá, bêtông
+ Hợp tác liên doanh với các đơn vị trong và ngoài nước trên các lĩnh vựccông nghệ xây dựng và thi công các công trình xây dựng
Sản phẩm của Công ty rất đa dạng, những sản phẩm này mang tính chấtcủa các sản phẩm xây lắp Đó là những công trình, hạng mục công trình có quy
mô vừa và lớn, mang tính đơn chiếc, vừa đáp ứng các yêu cầu về kỹ thuật vừađáp ứng các tiêu chuẩn về mỹ thuật; có thời gian xây dựng, sử dụng lâu dài,vốn đầu tư lớn Tính chất hàng hóa của sản phẩm xây lắp không thể hiện rõ (vì
đã quy định giá cả từ trước khi xây dựng thông qua hợp đồng giao nhận thầu).Sản phẩm xây lắp cố định về mặt vị trí, còn các nguồn lực đầu vào thì đa dạng,lại phải dịch chuyển theo địa điểm lắp đặt công trình Hoạt động xây lắpthường tiến hành ngoài trời nên tiến độ, chất lượng công trình đôi khi phụthuộc vào thời tiết Công ty có nhiều nhóm sản phẩm xây dựng khác nhau như:
- Công trình dân dụng, công nghiệp
- Công trình hạ tầng kỹ thuật, khu công nghiệp
- Công trình giao thông, cầu đường
- Công trình thủy lợi, kênh mương, đê kè, trạm bơm
3.1.4 Tổ chức bộ máy quản lý của công ty TNHH Toàn Mỹ
Để phù hợp với đặc điểm hoạt động sản xuất kinh doanh và yêu cầu quản lý,Công ty TNHH Toàn Mỹ tổ chức quản lý theo mô hình trực tuyến tham mưu.Với cơ cấu này, các phòng ban chức năng có nhiệm vụ tham mưu cho Giám
Trang 40đốc, vừa phát huy được năng lực chuyên môn của các phòng ban chức năng,
vừa đảm bảo quyền chỉ huy, điều hành của Giám đốc, các Phó Giám đốc
+ Giám đốc Công ty có vị trí và thẩm quyền cao nhất Công ty, chịu trách
nhiệm lãnh đạo và điều hành mọi hoạt động của Công ty Giám đốc Công ty
chịu trách nhiệm trước pháp luật và có trách nhiệm quản lý tài chính của Công
ty, đảm bảo sử dụng hiệu quả và phát triển nguồn vốn của Công ty
+ Các Phó Giám đốc: Do Giám đốc bổ nhiệm và được Giám đốc phân công
quyết định những công việc của Công ty, thay mặt Giám đốc điều hành sản
xuất kinh doanh khi Giám đốc đi vắng, trực tiếp phụ trách các mảng công việc
cụ thể, chịu trách nhiệm trước pháp luật và Giám đốc, về nhiệm vụ được phân
công, ủy quyền Hiện nay Công ty có 3 Phó Giám đốc gồm Phó Giám đốc Kỹ
thuật thi công, Phó Giám đốc Phụ trách Khu vực 1 và Phó Giám đốc Phụ trách
Khu vực 2
Sơ đồ 3: Tổ chức bộ máy quản lý công ty
Các phòng ban chức năng của Công ty có chức năng và nhiệm vụ chủ yếu:
+ Phòng Kế hoạch đầu tư: Lập kế hoạch đầu tư của Công ty, thẩm định
dự án đầu tư, lập dự toán công trình, hạng mục công trình để chuẩn bị tham gia
đấu thầu, lập định mức vật tư theo dự toán, duyệt dự toán và quyết toán các
Phó Giám đốc Phụtrách khu vực 2
Phòng
Kế hoạch
Kỹ thuật
Phòng Tàichính kếtoán
Phòng
Tổ chứchành chính
PhòngQuản lý thi công
PhòngKinh tế thị trường
Các đội xây dựng