1. Trang chủ
  2. » Luận Văn - Báo Cáo

Đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ, nghệ an

126 342 1

Đang tải... (xem toàn văn)

Tài liệu hạn chế xem trước, để xem đầy đủ mời bạn chọn Tải xuống

THÔNG TIN TÀI LIỆU

Thông tin cơ bản

Định dạng
Số trang 126
Dung lượng 839 KB
File đính kèm xã Tân Xuân.rar (164 KB)

Các công cụ chuyển đổi và chỉnh sửa cho tài liệu này

Nội dung

1.2.1 Mục tiêu chung Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế của các hộ nông dân trên địa bàn xã Tân Xuân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn xã Tân Xuân, Tân Kỳ, Nghệ An. 1.2.2 Mục tiêu cụ thể Để góp phần thực hiện được mục tiêu chung đề tài hướng tới các mục tiêu cụ thể sau: Hệ thống hóa cơ sở lý luận, thực tiễn về nhu cầu, cầu, bảo hiểm y tế và bảo hiểm y tế tự nguyện. Đánh giá thực trạng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện thời gian qua của các hộ nông dân trên địa bàn xã Tân Xuân. Đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã. Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã. Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã.

Trang 1

LỜI CAM ĐOAN

Tôi xin cam đoan những số liệu trong bài khóa luận là hoàn toàn có thật

và chưa được sử dụng trong tài liệu nào, cũng như các luận văn, luận án, cácbài khoa học của các học hàm, học vị trước đây nghiên cứu

Tôi xin cam đoan rằng các tài liệu đã được trích nguồn đầy đủ và trungthực chỉ rõ nguồn gốc của tài liệu

Sinh viên

Lê Thị Dung

Trang 2

LỜI CẢM ƠN

Qua 4 năm học tập và rèn luyện tại trường Đại học Nông Nghiệp – HàNội, tôi xin chân thành biết ơn đến các thầy cô giáo giảng dạy trong trường,đặc biệt trong khoa kinh tế và phát triển nông thôn, những người đã trang bịcho tôi những kiến thức cần thiết để vào đời

Để hoàn thành khóa luận tốt nghiệp đại học tôi chân thành cảm ơn đếnthầy giáo PGS.TS Nguyễn Văn Song, trưởng bộ môn Kinh tế tài nguyên vàmôi trường và các thầy cô giáo trong khoa đã tận tình giúp đỡ tôi hoàn thànhkhóa luận tốt nghiệp

Tiếp theo tôi xin chân thành cảm ơn đến các phòng ban của UBND xãTân Xuân, các cán bộ y tế tại địa phương cùng những người dân trên địa bàn

xã Tân Xuân đã giúp tôi rất nhiệt tình trong quá trình điều tra tại địa bàn

Cuối cùng tôi xin chân thành biết ơn đến gia đình, bạn bè…đã luôn bêntôi trong suốt 4 năm học qua để tôi có thể hoàn thành khóa học của mình

Tôi xin chân thành cảm ơn!

Hà Nội, Ngày 24 tháng 5 năm 2010

Sinh viên

Lê Thị Dung

Trang 3

TÓM TẮT KHÓA LUẬN Khung phân tích của đề tài nghiên cứu

I ĐẶT VẤN ĐỀ

Trong những năm gần đây, việc mở rộng và phát triển chính sách BHYT được đảng

và nhà nước ta đặc biệt quan tâm Trong đó, chính sách BHYT TN cũng là một vấn đề đáng chú ý Đây là chính sách liên quan đến sức khỏe của con người, nguồn nhân lực quan trọng và trung tâm cho sự phát triển của đất nước Vì vậy chúng tôi nghiên cứu xem chính sách này phổ biến và phát triển tốt ở những địa phương nông thôn, miền núi, vùng cao hay không?

Thực trạng tham gia BHYT của các

hộ ND.

Nhu cầu tham gia BHYT

TN của các hộ ND.

Phân tích các yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ ND

Các hộ

ND và cán bộ địa phương

Hộ ND

ND, Cán

bộ y tế, cán

bộ địa phương

- Phỏng vấn trực tiếp bằng bảng hỏi.

- Điều tra nông hộ

Chuyên gia chuyên khảo

- Phỏng vấn bảng hỏi -Phương pháp tạo dựng thị trường(CVM) -Chuyên gia chuyên khảo

-Phỏng vấn bằng bảng hỏi

-Chuyên gia chuyên khảo

Số lượng người tham gia, mức giá BHYT, chất lượng BHYT

-Tỷ lệ hiểu biết

về BHYT TN.

- Tỷ lệ đồng ý tham gia BHYT TN, tỉ lệ yếu tố nào ảnh hưởng nhiều nhất

Chủ thể nghiên cứu

Phương pháp tiếp cận phân tíchChỉ tiêu

- Tỉ lệ khó khăn khi tham gia BHYT

- Nhu cầu tham gia

- Mức WTP

- Cơ chế thực hiện, quyền lợi, thời gian BHYT TN, hình thức KBCB, số người đồng ý tham gia.

Trang 4

Hiện nay trên thế giới, việc triển khai chính sách BHYT rất phát triển Ở các nước phát triển từ lâu đã hình thành khái niệm: “sống không có bảo hiểm là mạo hiểm” Những nước tư bản phát triển coi sức khỏe con người được đặt lên hàng đầu Tỷ lệ bác sĩ so với người dân cao hơn rất nhiều so với những nước đang phát triển như nước ta

Hiện nay, với chính sách BHYT đã sự hiểu biết của người dân về chính sách BHYT thì đang là một vấn đề cần quan tâm của Đảng và nhà nước Vấn đề này đang còn khá mới

mẻ và gặp rất nhiều khó khăn tại những vùng quê nông thôn nghèo Họ chưa có điều kiện chăm sóc cho sức khỏe, do điều kiện kinh tế còn khó khăn.

Tân Xuân là một xã miền núi nằm phía Tây của huyện Tân Kỳ và cách trung tâm thành phố Vinh –Nghệ An gần 100km Điều kiện kinh tế của những người dân ở đây đang còn khó khăn Hầu hết người dân đều làm nông nghiệp, chưa có điều kiện chăm sóc sức khỏe cho chính bản thân mình cũng như những thành viên trong gia đình Vì vậy, mục đích của bài khóa này là đánh giá nhu cầu tham gia BHYT TN của những hộ nông dân tại địa bàn xã để từ đó có những hiểu biết nhất định về những khó khăn của những người nông dân và đưa ra những tác động tích cực cho việc tham gia BHYT TN được nhiều hơn.

Vấn đề nghiên cứu đặt ra là: Nhu cầu, cầu, BHYT, BHYT TN là gì? Chính sách

này thực hiện từ khi nào? Những đối tượng nào là bắt buộc tham gia những đối tượng nào

là tự nguyện? Các nguyên nhân chính ảnh hưởng tới cầu BHYT TN? Những đề xuất cơ bản nhằm tăng cường BHYT TN cho khu vực nông thôn, ND? Vì sao người ND nên tham gia BHYT TN? Vấn đề này tại sao ở địa phương chưa phát triển? Hiện nay, nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ ND ở đây như thế nào? Tham gia BHYT TN có đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh và nâng cao sức khỏe cho người ND không?

Mục tiêu nghiên cứu này nhằm: Góp phần hoàn thiện những vấn đề lý luận và

thực tiễn liên quan đến nhu cầu tham gia BHYT TN; Đánh giá thực trạng tham gia BHYT

TN và thực trạng khám chữa bệnh của người dân của xã trong thời gian qua; Đánh nhu cầu tham gia BHYT TN của người dân; Đề xuất một số giải pháp nhằm đáp ứng nhu cầu tham gia BHYT TN một cách hiệu quả nhất.

II NGUỒN SỐ LIỆU VÀ PHƯƠNG PHÁP NGHIÊN CỨU

2.1 Nguồn số liệu thứ cấp

Số liệu thứ cấp về tình hình chung của xã được thu thập từ phòng thống kê, phòng nông nghiệp, phòng tổng hợp của UBND xã Tân Xuân Số liệu thứ cấp từ trạm y tế xã Tân Xuân.

2.2 Nguồn số liệu sơ cấp

Số liệu về tình hình kinh tế của hộ, nhu cầu tham gia BHYT TN của hộ được thu thập từ 90 hộ ND, điều tra phỏng vấn thêm 10 cán bộ địa phương để hiểu thêm tình hình chung của xã Từ đó đưa ra được những số liệu có tính chất tổng quan nhất và không bị sai lệch thống kê quá nhiều, 90 hộ điều tra được phân tổ thành 3 nhóm khác nhau theo thu nhập: 30 hộ có thu nhập dưới 8 triệu đồng/người/năm; 30 hộ có thu nhập từ 8-12 triệu đ/người/năm; 30 hộ có thu nhập trên 12 triệu đồng/người/năm.

2.3 Phương pháp phân tích và xử lý số liệu

Để đạt được mục tiêu nghiên cứu, ngoài sử dụng những phương pháp cơ bản như: chọn điểm, chọn mẫu nghiên cứu, phương pháp thu thập thông tin sơ cấp, thứ cấp, thống

kê kinh tế, so sánh…phương pháp chính được sử dụng trong nghiên cứu này là phương pháp tạo dựng thị trường (Contingent Valuation Method – CVM) nhằm xác định mức sẵn lòng chi trả ( Willingness to pay – WTP) cho việc tham gia BHYT TN của các hộ ND.

Phương pháp CVM được sử dụng trong nghiên cứu của đề tài nhằm tạo dựng một thị trường khi mà chưa có thị trường về một loại hàng hóa, dịch vụ nào đó Các hộ ND được điều tra được coi là những tác nhân tham gia thị trường hàng hóa, dịch vụ Các hộ

ND sẽ được giới thiệu, mô tả để hiểu rõ được lợi ích của việc tham gia BHYT TN Sau khi được tìm hiểu người ND sẽ được hỏi về mức sẵn lòng chi trả (WTP) khi tham gia BHYT

Trang 5

TN Đường cầu về nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ ND được mô tả như là đường

“sẵn lòng chi trả”.

Trong nghiên cứu chúng tôi sử dụng bộ câu hỏi mở (Open – Ended Question) để tìm hiểu các giá trị của mức sẵn lòng trả và kỹ thuật trò đấu thầu (Bidding Game) để tìm hiểu mức sẵn lòng trả cao nhất của người được hỏi.

- Sử dụng câu hỏi mở: Các hộ điều tra sẽ được hỏi một cách đơn giản rằng hộ có

sẵn lòng chi trả bao nhiêu tiền cho việc tham gia BHYT TN? Hộ điều tra sẽ đưa ra mức giá

mà hộ thấy phù hợp với điều kiện của mình nhất.

- Sử dụng phương pháp đấu thầu: Trước tiên các chủ hộ được điều tra sẽ được hỏi

họ có sẵn lòng chi trả một khoản tiền A nào đó cho việc tham gia BHYT TN không?

Nếu câu trả lời của những người được điều tra là “có”, câu hỏi trên sẽ được lặp lại với một mức tiền B cao hơn mức tiền A một tỉ lệ nào đó, câu hỏi trên được hỏi cho đến khi nhận được câu trả lời là “không” thì kết thúc Giá trị nhận được trước câu hỏi là “không” được hiểu là mức sẵn lòng trả lớn nhất của hộ được điều tra.

Nếu câu trả lời của những người được điều tra là “không”, câu trên sẽ được lặp lại với mức tiền C thấp hơn mức tiền A một tỉ lệ nào đó, câu hỏi trên được hỏi cho đến khi nhận được câu trả lời là “có” Giá trị nhận được trước câu trả lời là “có” được hiểu là mức sẵn lòng trả lớn nhất.

III KẾT QUẢ NGHIÊN CỨU VÀ THẢO LUẬN

3.1 Thực trạng tham gia BHYT TN của các hộ nông dân tại Xã Tân Xuân

Tân Xuân là một trong những xã nghèo của cả nước Từ những năm 2003 trở lại đây, với việc chuyển đổi cơ cấu cây trồng người dân chuyển từ trồng ngô, lạc, đỗ…sang trồng cây mía cung cấp cho nhà máy đường Tân Kỳ Đời sống của người dân cũng từ đó được thay đổi Thu nhập của người dân tăng dần lên theo từng năm Đời sống được cải thiện nên người nông dân cũng có thời gian chăm sóc sức khỏe cho mình hơn Thực trạng tham gia BHYT TN của người dân tại địa phương tăng dần lên từng năm nhưng không nhiều lắm Bình quân tăng 55.89% trong một năm Tổng số người ND tham gia BHYT TN năm 2009 là 367 người Nhìn chung tỉ lệ số hộ ND tham gia BHYT TN tại địa phương đang còn thấp.

3.2 Đánh giá nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân xã Tân Xuân

Thứ nhất, Nhu cầu của người ND tham gia BHYT TN: Để có một sức khỏe tốt đảm

bảo cho cuộc sống ngày càng văn minh lịch sự, giàu đẹp thì người ND ngày càng ý thức rõ hơn vai trò sức khỏe của mình Có 43.33% cho rằng tham gia BHYT TN là rất cần thiết cho sức khỏe Nhưng có 86.52% số hộ tham gia phỏng vấn cho rằng do điều kiện còn khó khăn nên hộ chưa có điều kiện tham gia BHYT TN.

Thứ hai, Đường cầu biều diễn mức sẵn lòng chi trả tham gia BHYT TN của người

ND: Mức sẵn lòng chi trả của 3 nhóm hộ ND phụ thuộc vào thu nhập, quan điểm, suy

nghĩ, mức độ hiểu biết và kỳ vọng của mỗi nhóm hộ sau khi tham gia vào BHYT TN cũng khác nhau Vì vậy, Mức tham gia của các nhóm hộ cũng có chênh lệch, nhưng sự chênh lệch đó cũng không quá lớn Hầu hết các nhóm hộ đồng ý tham gia với mức giá WTP thấp hơn mức giá của nhà nước quy định Mức giá bình quân của nhóm hộ có thu nhập cao cũng chỉ đạt 348,000đồng/người/năm Mức bình quân chung của tất cả các hộ cũng chỉ đạt 340,444 đồng/người/năm Với mức WTP này thì đang thấp hơn quy định của nhà nươc hơn 10 nghìn đồng/người/năm Hình dáng đường cầu phác họa trong tất cả các trường hợp

là phù hợp với quy luật cầu trong kinh tế như các loại hàng hóa dịch vụ khác.

3.3 Các yếu tố ảnh hưởng tới nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân

Yếu tố ảnh hưởng chủ yếu đến nhu cầu tham gia BHYT TN của người ND là thu nhập, trình độ học vấn, độ tuổi, nghề nghiệp, giới tính, chất lượng khám chữa bệnh, số

Trang 6

nhập Nhìn chung những yếu tố này nếu được khắc phục tốt, vận động người ND tham gia thì trong những năm tới tỷ lệ số người tham gia BHYT TN sẽ tăng đáng kể.

3.4 Một số giải pháp đáp ứng nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân

Các giải pháp đề tài đưa ra nhằm đáp ứng nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ ND là: Thứ nhất từ phía các cơ quan ban ngành liên quan như cơ quan BHXH, BHYT, các

cơ sở KCB cần làm việc một cách nghiêm túc có hiệu quả, không nên có thái độ phục vụ khác đối với những người có thẻ BHYT Cần trang bị thêm những thiết bị y tế cho những địa điểm y tế địa phương nhằm tạo lòng tin cho nhân dân và giảm bớt gánh nặng cho những bệnh viện tuyến trên.

Thứ hai từ phía chính quyền địa phương và người ND Chính quyền địa phương cần làm tốt công tác tuyên truyền vận động người ND hiểu được lợi ích từ chính sách mang lại Cần nâng cao nhận thức của người ND, tạo điều kiện cho người dân tăng gia sản xuất nâng cao thu nhập để người dân có điều kiện tham gia BHYT TN.

Cần tuyên truyền vận động người ND tham gia BHYT TN Nâng cao nhận thức của người ND về lợi ích, quyền lợi, vai trò trách nhiệm khi tham gia BHYT TN

ND ở địa phương tham gia BHYT TN

Đề tài cũng đưa ra các giải pháp: cần làm tốt khâu vận động tuyên truyền người ND tham gia BHYT TN Nêu cao nhận thức của người dân về mặt dân trí, giúp người dân nhận thức được quyền lợi, lợi ích khi tham gia BHYT TN.

Các cơ quan ban ngành từ trung ương đến địa phương cần làm tốt công tác triển khai, các cơ sở KCB cần làm việc một cách nghiêm túc có hiệu quả, không nên có thái độ phục vụ khác đối với những người có thẻ BHYT Cần trang bị thêm những thiết bị y tế cho những địa điểm y tế địa phương nhằm tạo lòng tin cho nhân dân và giảm bớt gánh nặng cho những bệnh viện tuyến trên.

Chính quyền địa phương cần làm tốt công tác xóa đói giảm nghèp, giúp đỡ người

ND làm kinh tế ngày càng giỏi để người ND có điều kiện tham gia BHYT TN ngày càng nhiều hơn.

Trang 7

MỤC LỤC

Trang 8

DANH MỤC CÁC BẢNG

Trang 9

DANH MỤC CÁC ĐỒ THỊ

Trang 10

DANH MỤC CÁC SƠ ĐỒ, HÌNH

Trang 11

DANH MỤC CÁC HỘP

Trang 12

DANH MỤC CÁC TỪ VIẾT TẮT

4 BHYT TN: Bảo hiểm y tế tự nguyện

12 N-L-TS: Nông –lâm –thủy sản

13 UBND: Ủy ban nhân dân

15.WTP: Mức sẵn lòng chi trả( Willingness to pay)

Trang 13

PHẦN I: MỞ ĐẦU1.1 Tính cấp thiết của đề tài

Trong suốt quá trình đổi mới Đảng và Nhà nước ta đã đạt được nhữngthành tựu to lớn trong công cuộc xây dựng và phát triển đất nước Đưa nước

ta vào hội nhập nền kinh tế thế giới, phát triển nền kinh tế hàng hóa nhiềuthành phần Nhưng bên cạnh đó, lĩnh vực an sinh xã hội là lĩnh vực có nhiềuvấn đề cần phải quan tâm nhất như thất nghiệp, việc làm, nhà ở, bảo hiểm y tế(BHYT),…Trong đó, BHYT đang được Đảng và Nhà nước quan tâm nhiều,đây là lĩnh vực liên quan đến sức khỏe con người, nguồn nhân lực quan trọngquyết định đến sự nghiệp phát triển của đất nước

BHYT là một chính sách quan trọng của Đảng và Nhà nước Chính

sách này trong những năm gần đây được xác định là giải pháp cơ bản, nhằmtập trung và tạo nguồn lực tài chính phục vụ cho chiến lược chăm sóc và bảo

vệ sức nhân dân theo định hướng công bằng, tiết kiệm và hiệu quả Sau hơn

15 năm tổ chức thực hiện, BHYT đã chứng minh sự cần thiết đối với mỗingười, cũng như đã thể hiện tính nhân đạo cộng đồng xã hội qua hình thứcchia sẻ rủi ro giữa các thành viên tham gia BHYT BHYT cho thấy đây cũng

là nguồn kinh phí quan trọng, giúp nhiều người bệnh nặng vượt qua được khókhăn trong điều trị bệnh Mặc dù, BHYT có những hạn chế nhất định do hoạtđộng trong môi trường mà nhận thức của nhiều người dân chưa hiểu đúng vềbản chất của BHYT và sự chưa đồng bộ một số chính sách có liên quan, song

có thể khẳng định rằng, BHYT đã trở thành nhu cầu cần thiết khách quantrong đời sống của dân cư xã hội và là giải pháp duy nhất nhằm đổi mới chínhsách tài chính y tế trong công cuộc đổi mới và hội nhập

BHYT cho nông dân( ND) là một trong những điểm mới của dự thảoluật BHYT Theo đó, người ND “có mức sống trung bình” sẽ được nhà nước

hỗ trợ một phần mức đóng BHYT Nếu xét từ góc độ quan điểm, thì một

Trang 14

với những chủ trương, đường lối mà chúng ta đang theo đuổi Bảo hiểm y tế

tự nguyện (BHYT TN) sẽ một phần giúp giải bài toán thoát nghèo cho ND

Sự hỗ trợ ban đầu của nhà nước sẽ như một “ cú hích” để ND dễ tiếp cận hơnvới BHYT, tạo ra một “ thói quen” cho người ND trong việc lựa chọn cơ chế,giải pháp tài chính phù hợp phục vụ cho việc chăm sóc sức khỏe Năm 2008

số người tham gia BHYT là 39,3 triệu người chiếm 46% tăng hơn 10 lần sovới năn 1993 ND chiếm 70% dân số, việc hỗ trợ để người ND có điều kiệntham gia BHYT là thông điệp rõ ràng nhất từ nhà nước trong vai trò người

bảo trợ để sớm đạt tới mục tiêu BHYT toàn dân.[4]

Tân Xuân là một xã miền núi nghèo của Tỉnh Nghệ An Phần lớn ngườidân sản xuất nông nghiệp là chủ yếu Chính sách BHYT đã có từ khá lâunhưng vẫn còn mới mẻ với người ND do điều kiện kinh tế còn khó khăn nên

họ không được tiếp xúc với nhiều chính sách của đảng và nhà nước Vấn đềđạt ra ở đây là chúng ta cần phải làm gì để người ND ở đây hiểu rõ hơn vềchính sách BHYT nhằm chăm sóc sức khỏe cho người dân Khi người dân ởđây hiểu hơn về chính sách BHYT thì nhu cầu tham gia của người dân ở đâynhư thế nào? Trong nghiên cứu của tôi nhằm đánh giá nhu cầu tham giaBHYT TN của các hộ ND trong xã từ đó đề xuất một số giải pháp nhằm nângcao nhu cầu tham gia của các hộ ND trong tương lai hướng tới BHYT bắtbuộc cho người ND năm 2014

Câu hỏi nghiên cứu cần giải quyết:

Nhu cầu, cầu, BHYT, BHYT TN là gì? Chính sách này thực hiện từ khinào? Những đối tượng nào là bắt buộc tham gia những đối tượng nào là tựnguyện? Các nguyên nhân chính ảnh hưởng tới cầu BHYT TN? Những đềxuất cơ bản nhằm tăng cường BHYT TN cho khu vực nông thôn, nông dân?

Vì sao người ND nên tham gia BHYT TN? Vấn đề này tại sao ở địaphương chưa phát triển?

Hiện nay, nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ ND ở đây như thế nào?

Trang 15

Tham gia BHYT TN có đáp ứng được nhu cầu khám chữa bệnh vànâng cao sức khỏe cho người ND không?

Nhằm giải quyết được những câu hỏi trên và nâng cao nhận thức của

các hộ ND về chính sách BHYT nên tôi tiến hành nghiên cứu đề tài: “Đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã Tân Xuân , Tân Kỳ, Nghệ An”.

1.2 Mục tiêu nghiên cứu

1.2.1 Mục tiêu chung

Trên cơ sở tìm hiểu, đánh giá nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế của các

hộ nông dân trên địa bàn xã Tân Xuân, từ đó đề xuất một số giải pháp nhằmđáp ứng nhu cầu tham gia BHYT TN của các hộ nông dân trên địa bàn xã TânXuân, Tân Kỳ, Nghệ An

Phân tích những yếu tố ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế

tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã

Đề xuất một số giải pháp nhằm nâng cao nhu cầu tham gia bảo hiểm y

tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã

Trang 16

1.3 Đối tượng nghiên cứu và phạm vi nghiên cứu

1.3.1 Đối tượng nghiên cứu

Đối tượng nghiên cứu là các hộ nông dân trên địa bàn xã, cán bộ quản

Đề tài thu thập số liệu trong 3 năm từ 2007-2009

Đề tài được triển khai nghiên cứu từ 23/1/2009 đến 22/5/2010

Trang 17

PHẦN II: TỔNG QUAN TÀI LIỆU NGHIÊN CỨU

2.1 Cơ sở khoa học, lý luận của đề tài

2.1.1 Tổng quan về nhu cầu, cầu

2.1.1.1 Khái niệm về nhu cầu

Trong cuộc sống hàng ngày con người chúng ta có vô số nhu cầu, cónhững nhu cầu có thể thực hiện được nhưng cũng có những nhu cầu khôngthể thực hiện được Hiện nay có rất nhiều khái niệm khác nhau về nhu cầu vàcũng có nhiều cách hiểu khác nhau:

Theo Philip Kotler chuyên gia marketing : “ Nhu cầu là cảm giác thiếuhụt một cái gì đó mà con người cảm nhận được Nhu cầu con người là một tậphợp đa dạng và phức tạp, từ những nhu cầu có tính bản năng sinh tồn như ăn,uống, mặc, ở…đến những nhu cầu về tình cảm trí thức, tôn trọng, tự thể hiệnmình Những nhu cầu đó gắn liền với tình cảm con người, gắn liền với sự pháttriển của xã hội mà mỗi con người sống trong đó”.[3]

Nhu cầu theo kinh tế học: được hiểu là nhu cầu tiêu dùng, là sự cầnthiết của một cá thể về một dịch vụ hàng hóa nào đó Khi nhu cầu của toàn thểcác cá thể đối với một mặt hàng trong nền kinh tế gộp lại ta có nhu cầu thịtrường Khi nhu cầu của tất cả các cá thể đối với tất cả các mặt hàng gộp lại talại có tổng cầu

Khái niệm nhu cầu và vật chất của Thonon Armand: Nhu cầu là toàn bộmong muốn của con người để có thể có một số của cải vật chất hay dịch vụ đểlàm bớt khó khăn của họ hay tăng phúc lợi cho cuộc sống của họ Theo cáchchia của ông nhu cầu của con người có thể được chia làm hai loại Thứ nhất lànhu cầu về tâm lý, thứ hai là nhu cầu về xã hội Còn vật chất là tất cả nhữngcái đóng góp vào để làm thỏa mãn một hay nhiều nhu cầu Ông chia kháiniệm vật chất ra làm hai loại:

Trang 18

- Vật chất tiết kiệm: mọi vật chất được gọi là tiết kiệm khi nó hiếm cónghĩa không đủ về số lượng để thỏa mãn toàn bộ một hay nhiều nhu cầu mà

nó đáp ứng

- Vật chất tiêu thụ: trong khái niệm này ông chia làm ba loại:

+ Vật chất tiêu thụ cuối cùng là toàn bộ vật chất được sử dụng trực tiếp

để thỏa mãn nhu cầu của con người

+ Vật chất tiêu thụ trung gian là những loại được chuyển hóa trong điềukiện sản xuất

+ Vật chất thiết bị là những loại không bị hấp thụ hoàn toàn bởi một lầnhoạt động hay tiêu thụ

Nhà tâm lý học Abraham Maslow (1908-1970) được xem như mộttrong những người tiên phong trong trường phái Tâm lý học nhân văn(humanistic psychology), trường phái này được xem là thế lực thứ 3 (theThird Force) khi thế giới lúc ấy đang biết đến 2 trường phái tâm lý chính:Phân tâm học (Psychoanalysis) và Chủ nghĩa hành vi (Behaviorism) Kháiniệm nhu cầu của Abraham H.Maslow: là thuyết đạt tới đỉnh cao trong việcnhận dạng các nhu cầu tự nhiên của con người nói chung Cho đến nay, chưa

có thuyết nào thay thế tốt hơn thuyết này mặc dù cũng đã có khá nhiều “ứng

cử viên” có ý định thay thế Căn cứ vào tính chất của nhu cầu tác giả đã giảithích tại sao trong những thời gian khác nhau con người lại bị thôi thúc bởinhững nhu cầu khác nhau Tại sao người này lại bị hao phí thời gian và sứclực để kiếm sống, còn người kia thì cố gắng dành lấy sự danh dự và địa vị.Ông cho rằng nhu cầu của con người được sắp xếp trật tự theo thứ bậc ý nghĩaquan trọng, từ cấp cần thiết nhất đến cấp ít cần thiết nhất Tùy theo mức độquan trọng các nhu cầu sắp xếp theo thứ tự sau:

Trang 19

Hình 2.1 Thứ tự sắp xếp nhu cầu của Abraham H.Maslow năm 1943

+ Nhu cầu về thể chất và sinh lý (Physiological Needs): Đây còn đượcgọi là nhu cầu về vật chất, đầu tiên thể hiện rõ ràng là con người ta cần có ăn,mặc, có các điều kiện đi lại học tập, làm việc để tồn tại và phát triển

+ Nhu cầu về an toàn (Safety Needs): đó là nhu cầu được bảo vệ khỏimối nguy hiểm đang rình rập hàng ngày, là mong muốn có được sức khỏe, cóđược cuộc sống ổn định, giữ gìn tài sản của mình…Tóm lại là được bảo vệ vềmặt thể xác, tinh thần và xã hội

+ Nhu cầu về tình cảm, xã hội (Socical Needs) : Cao hơn nhu cầu antoàn là nhu cầu quan hệ như quan hệ giữa người với người, quan hệ con ngườivới tổ chức hay quan hệ giữa con người với tự nhiên Con người luôn có nhucầu yêu thương gắn bó Cấp độ nhu cầu này cho thấy con người có nhu cầugiao tiếp để phát triển

+ Nhu cầu danh dự ( tôn trọng) (Esteem Needs): khi thỏa mãn được cácnhu cầu trên thì con người quan tâm đến nhu cầu danh dự Con người muốnđược tôn trọng, được thừa nhận, được đề cao, cố gắng phấn đấu để giành mộtđịa vị nhất định trong xã hội mua sắm được nhà lầu, xe hơi, dùng hàng hiệu,

Trang 20

mãn.Đây là khát vọng và nỗ lực để đạt được mong muốn Con người tự nhậnthấy bản thân cần thực hiện một công việc nào đó theo sở thích và chỉ khicông việc đó được thực hiện thì họ mới cảm thấy hài lòng Thuyết nhu cầusắp xếp nhu cầu con người từ thấp lên cao Những nhu cầu ở cấp cao hơn sẽđược thỏa mãn khi nhu cầu cấp thấp hơn được đáp ứng [7]

Như vậy theo Maslow con người cố gắng thỏa mãn những nhu cầu thiếtyếu nhất và khi nhu cầu ở cấp độ thấp được thỏa mãn thì nhu cầu ở cấp độtiếp theo sẽ xuất hiện Chuỗi nhu cầu đó không bao giờ chấm dứt mà cứ tiếpdiễn theo mức độ tăng dần Tuy nhiên trên thực tế thì tùy vào từng điều kiện

từng nước mà áp dụng ( Giáo trình Marketing – Wesbsite Ebook.edu.vn)[14]

Tóm lại khi nói về bản chất nhu cầu là một khái niệm về tâm sinh lý.Con người luôn luôn tìm cách thỏa mãn nhu cầu trong mọi thời đại khác nhau,đặc biệt là trong thời nền sản xuất hàng hóa nhiều thành phần Khi con ngườingày càng phát triển thì những nhu cầu ngày càng được tăng lên và có giá trịvật chất cũng như tinh thần cao hơn

Nhu cầu của con người là những mong muốn của họ về những điềukiện nào đó để khi đạt được nhu cầu đó thì cuộc sống sẽ tốt hơn Nhu cầucũng chính là động cơ để con người thực hiện những hành vi có ý thức nhằmthỏa mãn nhu cầu đó Nhu cầu của con người rất vô vàn, những người nghèothì có nhu cầu đủ ăn, mặc, nhà cửa…những người có điều kiện thì có nhu cầugiải trí, du lịch…Nhu cầu là những gì đó trong tương lai mà con người muốnđạt được để có một cuộc sống tốt đẹp hơn Khi một nhu cầu nào đó được đápứng thì nhu cầu mới khác sẽ hình thành Chuỗi nhu cầu trong mỗi con ngườikhông bao giờ chấm dứt mà cứ dàn trải trong cuộc sống của mỗi chúng ta

2.1.1.2 Khái niệm cầu

* Cầu, lượng cầu, quy luật cầu

Cầu: là nhu cầu cộng với khả năng thanh toán cho nhu cầu đó; là sự cần

thiết của một cá thể về một hàng hóa hay dịch vụ nào đó mà cá thể sẵn sàng có

Trang 21

khả năng thanh toán cho hàng hóa hay dịch vụ đó Khi cầu của toàn thể các cáthể đối với mặt hàng trong một nền kinh tế gộp lại, ta có cầu thị trường Khi cầucủa toàn thể các cá thể đối với tất cả các mặt hàng gộp lại, ta có tổng cầu.

Thực chất, Cầu là một thuật ngữ dùng để diễn đạt thái độ người mua vàkhả năng mua về một loại hàng hóa, dịch vụ

Khi chúng ta gia nhập thị trường hàng hóa, có hai yếu tố xác địnhchúng ta có thể trở thành người mua( có nhu cầu):

Yếu tố đầu tiên: ý muốn sẵn sàng mua và sự ưa thích Yếu tố này quyếtđịnh, chúng ta có sẵn sàng chi tiền để mua hàng hóa đó hay không Nếu hànghóa đó rẻ thì có thể mua hoặc cũng có thể không cần lấy khi được cho không,vậy cầu trong trường hợp này bằng không

Yếu tố thứ hai: khả năng tài chính Ý muốn sẵn sàng mua và sự ưathích chưa đủ để thúc đẩy ta trở thành người mua hàng Hàng hóa có thể phùhợp với sự ưa thích nhưng lại quá nhiều tiền, vậy cầu trong trường hợp nàycũng bằng không

Lượng một hàng hóa, dịch vụ nào đó mà một cá thể có nhu cầu, khi có

đủ ngân sách để mua tại một thời điểm nhất định với mức giá cả xác định của nó

và mức giá cả xác định của hàng hóa khác gọi là lượng cầu Như vậy, có thể thấylượng cầu một mặt hàng hóa dịch vụ phụ thuộc vào giá cả thị trường của chính

nó, mức thu nhập của mỗi cá thể, và vào giá cả của các mặt hàng khác( nhất làcác mặt hàng thay thế hoặc bổ sung cho nó), phụ thuộc vào thời điểm, thị hiếukhách hàng, kỳ vọng giá trong tương lai, quy mô dân số và thời tiết

Trang 22

Đường cong cầu: Trong kinh tế học nhập môn, để cho đơn giản, người

ta thường cố định các yếu tố như giá cả các mặt hàng khác, mức thu nhập củangười tiêu dùng, thời tiết,…và chỉ tập trung vào xem xét quan hệ giữa giá cảmột mặt hàng với lượng cầu về nó rồi biểu diễn quan hệ này qua đường congcầu Đường này được đặt trong một trục tọa độ hai chiều với trục tung là mứcgiá và trục hoành là lượng cầu Đường cong cầu của một loại hàng hóa bìnhthường sẽ là một đường dốc xuống phía phải, bởi vì quan hệ giữa giá cả vàlượng cầu là quan hệ nghịch Giá cả tăng thì lượng cầu giảm, còn khi giá cảgiảm thì lượng cầu sẽ tăng lên Kinh tế học gọi đó là sự dịch chuyển dọc theođường cầu Quan hệ này cũng có thể được gọi là quy tắc cầu

Tuy nhiên có một số hàng hóa lại không tuân theo quy luật này, nhưhàng hóa xa xỉ Mức độ nhạy cảm trong thay đổi lượng cầu của một hàng hóa,dịch vụ khi giá cả của chính nó thay đổi gọi là độ co dãn của cầu theo giá cả.Nếu như sự dịch chuyển dọc theo đường cầu là do mức giá thay đổi trong khicác yếu tố khác không đổi, thì với mức giá cố định còn các yếu tố khác( thunhập, sở thích, giá cả hàng hóa khác…) thay đổi, cả đường cầu sẽ dịchchuyển Đường cong cầu này được thể hiện ở đồ thị sau

Đồ thị 2.1 Đường cầu về hàng hóa dịch vụ

Q 1 Q 2 Q 3 Q 0

P 3

P 1

P

P 2

D

Trang 23

* Hàm cầu và các nhân tố ảnh hưởng đến cầu

Hàm cầu: Cầu thị trường một loại hàng hóa dịch vụ phụ thuộc vào rấtnhiều yếu tố, cho nên sự thay đổi của những yếu tố này sẽ ảnh hưởng trực tiếpđến cầu hàng hóa dịch vụ đó Để nghiên cứu mối quan hệ giữa cầu hàng hóa

và các yếu tố ảnh hưởng đến nó, người ta sử dụng một hàm số gọi là hàm sốcủa cầu ( hàm cầu)

Hàm cầu có dạng tổng quát như sau: QD(x,t) = f(Px; I; Py; T; N; E…)Trong đó:

- QD( x, t) là cầu hàng hóa X xác định trong khoảng thời gian t ( ngày, tháng,quý, năm…) và đóng vai trò hàm số cầu

- Px; I; Py; T; N; E…là các yếu tố ảnh hưởng đến cầu hàng hóa X và đóng vaitrò như những biến số của hàm cầu Cụ thể, Px là giá cả hàng hóa X; I là thunhập của người tiêu dùng; Py là giá cả hàng hóa liên quan; T là chuẩn mực vềthị hiếu sở thích của người tiêu dùng; N là quy mô dân số; E là kỳ vọng củangười tiêu dùng về sự thay đổi các yếu tố trên [5]

2.1.1.3 Thặng dư người tiêu dùng và mức sẵn lòng trả

a) Thặng dư người tiêu dùng

Giống như các nhà sản xuất luôn muốn gia tăng lợi nhuận cho mình,người tiêu dùng cũng mong muốn lợi ích tiêu dùng cũng được tăng lên Thếnhưng làm thế nào để biết được người tiêu dùng sẽ được nhiều lợi ích hơn haythiệt hại khi mua hàng hóa Khái niệm thặng dư người tiêu dùng sẽ giúpchúng ta đo lường được lợi ích cũng như thiệt hại mà người tiêu dùng đạtđược khi mua hàng hóa

Đối với các loại hàng hóa, thặng dư người tiêu dùng là sự chênh lệchgiữa lợi ích tiêu dùng mà người tiêu dùng nhận được và tổng giá trị thị trường

mà người tiêu dùng phải chi ra để mua hàng hóa Trong đó tổng giá trị thịtrường của hàng hóa đó được tính bằng giá nhân với sản lượng Chênh lệchnày được gọi là thặng dư vì phản ánh phần nhận được nhiều hơn phần phải

Trang 24

trả Người tiêu dùng mua một loại hàng hóa với cùng một mức giá( giá trị củatừng hàng hóa không đổi khi chúng ta mua thêm môt đơn vị hàng hóa đó),nhưng thặng dư tiêu dùng của đơn vị hàng hóa mua sau sẽ nhỏ hơn đơn vịhàng hóa mua trước vì theo quy luật độ thỏa dụng biên giảm dần thì các đơn

vị hàng hóa mua trước cho ta sự thỏa mãn nhiều hơn các đơn vị hàng hóa muasau Thặng dư người tiêu dùng chỉ tối đa hóa trong sự cạnh tranh hoàn hảo, tại

đó được quyết định bởi vai trò tự do của cầu thị trường

Ví dụ: Giả sử lúc đầu người tiêu dùng rất khát, giống như đi trong samạc gặp nước vậy Có lẽ lúc này, người tiêu dùng sẽ trả mọi số tiền anh ta cótrong người để thỏa mãn nhu cầu cơn khát cũng như bảo vệ sự sống của mình.Hãy giả sử rằng anh ta sẵn sàng chi ra tới 90.000 đồng để mua một lít nước.Tuy nhiên người bán chỉ nhận của anh ta 10.000đồng vì trên thị trường một lítnước chỉ như vậy Vậy là anh ta được “lợi” những 80.000đồng Đến lít nướcthứ 2, khi đã bớt khát anh ta chỉ sẵn sàng trả 80.000đồng/lít để thỏa mãn cơnkhát này Một lần nữa anh ta được lợi 70.000đồng Cứ tiếp tục như thế cho tớiđiểm cân bằng Người tiêu dùng sẵn sãng mua đúng bằng mức giá của thịtrường và chi trả thực cũng bằng với mức thỏa mãn cơn khát Qua đó ta thấyquy luật độ thỏa dụng biên giảm dần nên lợi ích của người tiêu dùng cũnggiảm theo

Trang 25

Đồ thị 2.2 Thặng dư tiêu dùng của một người sử dụng nước

b) Mức sẵn lòng chi trả (WTP)- thước đo giá trị kinh tế

WTP chính là biểu hiện sở thích tiêu dùng của khách hàng Khách hàngthông qua giá trị thị trường để thanh toán các loại hàng hóa dịch vụ mà họ tiêudùng Nhưng cũng có nhiều trường hợp chấp nhận chi cao hơn giá thị trường

để được tiêu dùng hàng hóa dịch vụ mà họ thích WTP là thức đo độ thỏa mãncủa con người, khi mức sẵn lòng trả cho mỗi đơn vị hàng hóa thêm là giảmxuống khi khối lượng tiêu dùng tăng lên Đây chính là quy luật độ thỏa dụngbiên giảm dần Phần bằng lòng trả của khách hàng (WTP) bằng phần giá phảitrả cộng với phần thặng dư của người tiêu dùng hay nói cách khác bằng chiphí sản xuất cộng thặng dư người sản xuất và thặng dư người tiêu dùng

Ta có : WTP = MP+ CS

Trong đó: WTP là mức sẵn lòng chi trả

MP là chi phí theo giá thị trường

CS là thặng dư người tiêu dùngTrong đồ thị trên thể hiện giá thị trường của hàng hóa X được xác địnhbởi quan hệ cung cầu trên thị trường Tuy nhiên, đối với nhiều loại hàng hóa,

Giá nướcE

Trang 26

quan đến mức WTP cao nhất sẽ khó có thể xác định và sẽ không có thước đocho giá trị mà các cá nhân gắn với hàng hóa đó Khi đó, để đánh giá mứcWTP của các cá nhân phải sử dụng các phương pháp khác nhau để xác định.

2.1.2 Một số khái niệm cơ bản về BHYT

2.1.2.1 Khái niệm BHXH, BHYT, BHYT TN

Bảo hiểm xã hội (BHXH): Như chúng ta đã biết, BHXH ra đời ở Nam

Âu, khi mà nền kinh tế hàng hóa bắt đầu phát triển Cho đến nay, trải quahàng trăm tồn tại và phát triển, còn rất nhiều quan điểm khác nhau về BHXH

và mỗi quốc gia đều xây dựng một hệ thống BHXH riêng cho mình Tuynhiên về bản chất thì giống nhau nhưng khác nhau về phạm vi áp dụng cácchế độ Theo quan điểm của các chuyên gia về BHXH ở Việt Nam hiện naythì: BHXH là sự đảm bảo thay thế hay bù đắp một phần thu nhập đối vớingười lao động khi họ gặp phải những biến cố làm giảm hoặc mất khả nănglao động, mất việc làm trên cơ sở hình thành và sử dụng quỹ tiền tệ tập trungnhằm đảm bảo đời sống cho người lao động và gia đình họ, góp phần bảođảm an toàn xã hội

Theo Nguyễn Viết Vượng: BHXH là sự tổ chức bảo đảm bù đắp hoặc

thay thế một phần thu nhập cho người lao động khi họ bị giảm hoặc mất thunhập từ nghề nghiệp do bị giảm hoặc mất khả năng lao động hoặc sức laođộng không được sử dụng thông qua việc hình thành và sử dụng một quỹ tàichính, do sự đóng góp của các bên tham gia BHXH, nhằm góp phần đảm bảo

an toàn kinh tế cho người lao động và gia đình họ, đồng thời góp phần đảm

bảo an toàn cho xã hội.[6]

Bảo hiểm xã hội tự nguyện: là loại hình BHXH mà người dân tự

nguyện tham gia, được lựa chọn mức đóng góp và phương pháp đóng góp phùnhập với thu nhập của mình để hưởng BHXH

BHYT: là chính sách của Đảng và Nhà nước mang tính nhân đạo và

cộng đồng sâu sắc, BHYT không vì mục đích kinh doanh Là hình thức đóng

Trang 27

góp của cộng đồng, chia sẻ nguy cơ bệnh tật và giảm bớt gánh nặng tài chínhcủa mỗi người khi ốm đau, bệnh tật, tạo nguồn tài chính hỗ trợ cho hoạt động

y tế, thực hiện công bằng nhân đạo trong lĩnh vực bảo vệ và chăm sóc sứckhỏe cho nhân dân BHYT gồm một số vấn đề sau:

- Hệ thống tổ chức bộ máy và chính sách BHYT: Chính sách BHYT ở

Việt Nam bắt đầu được triển khai từ năm 1992 Theo điều lệ BHYT được banhành kèm theo nghị định 299/NĐ/CP của chính phủ, BHYT Việt Nam trựcthuộc Bộ Y tế, BHYT các tỉnh và ngành trực thuộc BHYT Việt Nam Đếnnăm 1998, thực hiện nghị định số 58/1998/NĐ/CP của chính phủ, BHYT ViệtNam được thành lập trên cơ sở thống nhất hệ thống cơ quan BHYT từ trungương đến địa phương và BHYT ngành để quản lý và thực hiện chính sáchBHYT Quỹ BHYT được quản lý tập trung, thống nhất trên phạm vi cả nước

Từ 1-1-2003, BHYT sáp nhập vào BHXH Việt Nam và BHXH Việt Nam là

cơ quan tổ chức thực hiện chính sách BHYT Vụ BHYT thuộc Bộ Y tế đểthực hiện chức năng quản lý nhà nước về BHYT Trong 17 năm qua, chínhphủ và các bộ ngành liên quan đã ban hành nhiều văn bản pháp luật vềBHYT, tạo cơ sở pháp lý cho việc triển khai chính sách BHYT, góp phần tíchcực tạo nguồn tài chính cho việc bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe chonhân dân Đặc biệt vào ngày 14-11-2008 quốc hội họp và thông qua luậtBHYT và bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1-7-2009 và ngày này được Thủ TướngChính phủ quyết định là ngày BHYT Việt Nam theo quyết định số 823/QĐ-TTg ngày 16-6-2009 Nội dung của luật BHYT đã cơ bản khắc phục đượcnhững vướng mắc, tồn tại trong việc thực hiện chính sách tài chính y tế đểtừng bước tiến tới mục tiêu xây dựng nền y tế Việt Nam theo định hướngcông bằng, hiệu quả và phát triển

- Đối tượng tham gia BHYT: đối tượng ngày càng được mở rộng và

tăng dần về số lượng BHYT ngày nay đã áp dụng cho toàn bộ nhân có nhucầu tham gia Nghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16-5-2005 của Chính phủ,

Trang 28

đối tượng và phạm vi bao phủ BHYT tăng nhanh và nhu cầu khám chữa bệnhcủa người bệnh của người bệnh BHYT cũng gia tăng nhóng Nếu như năm

1993 mới chỉ có 3,79 triệu người tham gia BHYT thì đến năm 2005 số ngườitham gia BHYT đã lên tới 23,7 triệu người, chiếm 28% dân số; năm 2008tổng số người tham gia BHYT là 39,3 triệu người chiếm 46% dân số, tăng 10lần so với năm 1993 [4]

- Quyền lợi tham gia BHYT ngày càng đầy đủ hơn: Nghị định 63/2005/

NĐ-CP ra đời đã tạo nhiều đổi mới trong thực hiện chính sách, người thamgia BHYT được hưởng quyền lợi khá đầy đủ và toàn diện, vừa đảm bảo khámchữa bệnh với kỹ thuật cao, vừa từng bước đảm bảo quyền lợi về y tế dựphòng và phục hồi chức năng

- Tổ chức khám bệnh chữa bệnh (KBCB) và thanh toán chi phí ngày càng phù hợp hơn: Cơ sở KBCB BHYT ngày càng được mở rộng, cả khu vực

công lập và tư nhân Việc tổ chức KBCB BHYT tại tuyến xã đã tạo điều kiệnthuận lợi cho người tham gia BHYT trong việc tiếp cận, lựa chọn cơ sởKBCB ban đầu phù hợp, góp phần củng cố và phát triển mạng lưới y tế cơ sở,nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe ban đầu và KBCB thông thường tạituyến y tế cơ sở Đây cũng là định hướng rất phù hợp với chủ trương xã hộihóa y tế và giải quyết một phần tình hình quá tải hiện nay tại các cơ sở y tếnhà nước Số người được KBCB BHYT tăng nhanh hàng năm

- Thu và chi quỹ BHYT: cùng với việc mở rộng đối tượng, mở rộng

quyền lợi, tăng dần tần suất KBCB, chi trả kinh phí KBCB từ quỹ BHYT chongười bệnh tăng dần hàng năm Năm 2008 quỹ BHYT là khoảng 9.415 tỷđồng, tăng gần 3.000 tỷ đồng so với năm 2007.[4]

BHYT TN: là hình thức BHYT được thực hiện trên cơ sở tự nguyện

của người tham gia bảo hiểm BHYT tự nguyện được mở rộng đến các đốitượng: ND, hội viên các hội đoàn thể quần chúng ( phụ nữ, thanh niên, cựuchiến binh, …), người ăn theo Tổng số người tham gia BHYT tự nguyện năm

Trang 29

2008 tăng 2 lần so với năm 2003 Bên cạnh những người tham gia BHYT bắtbuộc, những người thuộc đối tượng ưu đãi xã hội và chính sách xã hội đượccấp thẻ BHYT, nay lại có thêm một bộ phận dân cư tự nguyện tham giaBHYT bằng sự đóng góp từ thu nhập của cá nhân mình Đây là minh chứngsinh động cho chủ trương xã hội hóa công tác chăm sóc sức khỏe nhân dâncủa Đảng ta đã nêu trong Nghị quyết Đại hội lần thư IX Chính phủ thể chếhóa chủ trương đó của Đảng bằng chương trình hành động “ Xây dựng vàtriển khai tốt lộ trình tiến tới BHYT toàn dân vào năm 2010” Số người thamgia BHYT TN ngày càng tăng lên qua các năm.

2.1.2.2 Phân biệt BHYT, BHXH, BHYT TN

Đối với các hợp đồng lao động có thời hạn dưới 3 tháng tiền BHXHgộp trong tiền lương

* BHYT bắt buộc và BHYT TN

Đây là hai hình thức giống nhau về bản chất, mục tiêu, sự hình thành,

sử dụng quỹ, mục đích hoạt động Nhưng điểm khác nhau cơ bản giữa BHYTbắt buộc và BHYT TN là BHYT bắt buộc là bắt buộc những đối tượng bắtbuộc phải đóng như học sinh ở các cổng trường công lập, cán bộ, nhân viênthuộc cơ quan, doanh nghiệp nhà nước…còn BHYT TN là ai có nhu cầu thìtham gia trừ những người thuộc diện BHYT bắt buộc và miễn BHYT cho trẻ

em dưới 6 tuổi

2.1.2.3 Bản chất của BHYT TN

Trang 30

* Bản chất kinh tế của BHYT TN

Một bộ phận nhân dân thật sự mong muốn tham gia BHYT nhưng lạigặp khó khăn về kinh tế, nhất là khi yêu cầu tham gia BHYT xã hội phải cótính cộng đồng, mặt khác để đảm bảo nhu cầu phục vụ người bệnh, mức đóngBHYT TN đang còn khá thấp, nhưng cũng không dễ dàng đối với nhữngngười dân so mức sống trung bình trở xuống Bên cạnh đó, một bộ phận nhândân có mức sống cao lại chưa muốn tham gia BHYT, họ thích thanh toán trựctiếp với các cơ sở khám chữa bệnh khi ốm đau, vì họ được quyền chọn nơikhám chữa bệnh khi cần thiết Chất lượng dịch vụ cung cấp cho người thamgia BHYT, tinh thần thái độ phục vụ người bệnh cũng như các trở ngại khôngnhỏ đối với việc vận động người dân tham gia BHYT Thông qua BHYT, đốitượng tự nguyện chỉ cần đóng góp một lượng tiền nhất định theo quy định củanhà nước để tạo ra một quỹ BHYT Quỹ này là tập hợp của tất cả nhữngngười tham tự nguyện BHYT để bù đắp cho số ít người tham gia gặp rủi rotrong cuộc sống cũng như trong công việc Khi rủi ro không may xảy ra, bằnghình thức BHYT lấy số đông bù số ít BHYT không phải là dịch vụ sản xuất

mà nó là dịch vụ tài chính nhằm phân phối lại những khoản thu nhập bị mấtcủa đối tượng tự nguyện khi gặp sự cố trong cuộc sống

* Bản chất xã hội của BHYT TN

Bản chất xã hội của BHYT nói chung và BHYT TN nói riêng là sự san

sẻ rủi ro giữa tập thể người tham gia Qua đó cũng thể hiện trách nhiệm xã hộigiữa người dân trong cộng đồng với nhau và sự quan tâm của nhà nước vớinhân dân

* Bản chất pháp lý của BHYT TN

Mối quan hệ giữa các bên tham gia BHYT được quy định, điều chỉnhthông qua bộ luật BHYT và các văn bản dưới luật có liên quan Do đó, nóràng buộc rất chặt chẽ trách nhiệm và quyền lợi của các bên có liên quan.Trách nhiệm lớn nhất của đối tượng tự nguyện là đóng phí BHYT cho cơ

Trang 31

quan BHXH, quyền lợi lớn nhất của người tham gia là được chi trả BHYT khi

có sự cố theo quy định của pháp luật BHYT là một trong những loại BHXHmang ý nghĩa nhân đạo, có tính chia sẻ cộng dồng sâu sắc, góp phần quantrọng thực hiện mục tiêu công bằng xã hội trong bảo vệ, chăm sóc và nângcao sức khỏe nhân dân Ngày 14-11-2008 tại lì họp thứ tư của quốc hội thứXII đã thông qua luật BHYT, đây là một đạo luật quan trọng nhằm đáp ứngnhu cầu phát triển nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa vàquá trình tiến tới BHYT toàn dân, đồng thời tạo hành lang pháp lý thuận lợicho công tác BHYT trong giai đoạn tới, góp phần tích cực vào việc thực hiệnthành công sự nghiệp bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe cho nhân dân

2.1.2.4 Các giai đoạn của BHYT TN

[9]

Ngày 15-8-1992, chính sách BHYT đã chính thức được ra đời ở ViệtNam bằng Nghị định số 299/HĐBT của hội đồng Bộ trưởng ( nay là chínhphủ) Trong bản điều lệ BHYT đầu tiên do hội đồng Bộ trưởng ban hành đã

đề cập đến 2 loại hình BHYT là: BHYT bắt buộc và BHYT TN Mỗi loại hìnhquy định việc thực hiện đối với một số nhóm đối tượng BHYT bắt buộc dànhcho những người làm công hưởng lương, diện chính sách xã hội và ưu đãi xãhội, còn BHYT TN dành cho những người không thuộc diện tham gia BHYTbắt buộc Chia BHYT TN thành 3 giai đoạn như sau:

Giai đoạn I: Từ khi thực hiện thí điểm BHYT TN từ năm 1989 đến

tháng 8-1998 Từ năm 1989 đến 8/1992, thí điểm triển khai BHYT TN tại một

số huyện của các tỉnh: Hải Phòng, Phú Thọ, Quảng Trị, Bến Tre…và ngànhđường sắt, việc thí điểm mang nặng tính khảo sát để xem xét “hưởng ứng”của người dân mức đóng và mức hưởng BHYT khi đó là rất thấp Từ 8-1992đến 8-1998, BHYT TN được quy định duy nhất tại 1 điều trong điều lệ BHYTban hành kèm theo Nghị định 299 Thời gian này BHYT TN nhân dân hoàntoàn là các mô hình thí điểm Nổi bật trong số các tỉnh thực hiện thí điểm

Trang 32

BHYT TN là thành phố Hải Phòng, có thời điểm số người tham gia của thànhphố đạt 70.000 người, chủ yếu là nông dân Do khả năng đóng góp của ngườidân có hạn nên chỉ được khám chữa bệnh trên địa bàn xã và huyện Tuynhiên, việc cân đối quỹ BHYT TN ở các địa phương còn gặp nhiều khó khăn,năm nào cũng phải điều chỉnh tăng mức đóng, nên số người tham gia BHYT

TN ngày càng giảm, thời điểm dân tham gia BHYT TN nhiều nhất năm 1996khoảng 300.000 người, sau đó giảm dần theo từng năm BHYT TN học sinh,theo thông tư hướng dẫn liên bộ, nên ngay năm đầu tiên đã có trên 600.000

em tham gia Quyền lợi của học sinh tham gia BHYT giới hạn ở mức đượcchăm sóc sức khỏe ban đầu tại y tế trường học và thanh toán chi phí ốm đau,tai nạn phải điều trị bệnh viện ( không thanh toán khi khám chữa bệnh ngoạitrú) Mặc dù mức đóng BHYT của học sinh khá thấp

( từ 10.000-30.000đ/em/năm), nhưng quỹ BHYT học sinh vẫn cân đối đượcqua các năm Số lượng học sinh tham gia BHYT tăng đều qua các năm, mỗinăm tăng vài trăm nghìn em

Giai đoạn II: Từ tháng 8/1998 đến tháng 5/2005

Ngày 13-8-1998, chính phủ ban hành Nghị định số 58 kèm theo Điều lệBHYT mới thay thế Điều lệ BHYT đã ban hành năm 1992 Điều lệ mới dànhmột chương để quy định BHYT TN Tuy nhiên với nhiều lý do khác nhau,đến tận năm 2003, liên bộ Y tế- tài chính mới có thông tư hướng dẫn thựchiện Giai đoạn trước các địa phương vẫn tiếp tục triển khai cá mô hình thíđiểm thực hiện BHYT TN, nổi bật là thành phố Hà Nội, liên tiếp được triểnkhai các huyện như Gia Lâm, Sóc Sơn, Đông Anh…với mong muốn thựchiện BHYT toàn dân Tuy nhiên, dù đầu tư nhiều tiền của và công sức hầu hếtcác mô hình thí điểm đều thất bại, mà nguyên nhân chính là không cân đốiđược thu chi quỹ BHYT TN Đến cuối năm 2002 trên địa bàn cả nước chỉ cókhoảng 30.000 người tham gia BHYT TN nhân dân Riêng học sinh, đã có thông

tư hướng dẫn riêng của liên Bộ, nên việc triển khai vẫn thực hiện bình thường

Trang 33

Sau khi có thông tư của liên Bộ y tế - tài chính hướng dẫn thực hiện thìBHYT TN nhân dân đã khôi phục và tăng dần, cụ thể năm 2003 có trên280.000 người, năm 2004 có trên 315.000 người tham gia Riêng BHYT họcsinh năm 2003 có 4,818 triệu em, năm 2004 có 6,079 triệu em tham gia Điềuthành công nhất của BHYT TN trong 2 năm này là quỹ BHYT TN cân đối thuchi và có kết dư ( năm 2003 dư 32 tỷ đồng, năm 2004 dư 16 tỷ đồng).

Giai đoạn III: Từ 2005 đến nay

Tháng 5-2005, chính phủ ban hành nghị định số 63 kèm theo điều lệBHYT mới, liên bộ y tế - tài chính có thông tư số 21, 22 hướng dẫn thực hiệnBHYT bắt buộc và BHYT TN Sự thay đổi lần này là quyền lợi được mởrộng và điều kiện đăng kí tham gia BHYT TN khá đơn giản, nên số ngườitham gia BHYT TN tăng nhanh.[9]

Cùng với việc tăng nhanh số người tham gia BHYT TN và để đáp ứngkhả năng chi trả chi phí KBCB, nên mức đóng BHYT cũng được điều chỉnhtăng trong những năm qua, dẫn đến số thu về quỹ BHYT TN cũng tăngnhanh, năm 2003: 173 tỷ; năm 2004: 242 tỷ; năm 2005: 393 tỷ; năm 2006 :

745 tỷ đồng

2.1.2.5 Nội dung của BHYT TN

Từ ngày 14 -1-2008, BHYT TN bắt đầu triển khai thực hiện theo chínhsách mới Thông tư 14 của liên bộ y tế - Tài chính Quy định này đã bãi bỏđiều kiện tham gia BHYT tự nguyện của thông tư 06 như phải có 100% thànhviên hộ gia đình, 10% số hộ gia đình trong phạm vi xã, phường thị trấn và10% số học sinh, sinh viên của nhà trường tham gia

Theo thông tư 14, mức đóng BHYT tự nguyện đối với cá nhân khu vựcthành thị là 320.000 đồng/ người / năm, khu vực nông thôn là 240.000 đồng /người / năm Người dân ở thành phố áp dụng mức đóng thành thị Điểm đánglưu ý, nếu mua theo hộ gia đình, người thứ 3 được giảm 10% và người thứ 4trở đi được giảm 20% theo mệnh giá thẻ Đối với học sinh, sinh viên cũng có

Trang 34

2 mức đóng khu vực thành thị là 120.000 đồng / người / năm và khu vực nôngthôn là 100.000 đồng / người / năm Nếu đối tượng học sinh, sinh viên muatheo hộ gia đình sẽ không đóng theo mức quy định cho học sinh, sinh viên màphải theo mức đóng người lớn và được miễn giảm theo quy định của ngườithứ 3, thứ 4 trong gia đình mua như trên Nhưng hiện nay với những quy địnhmới thì giá BHYT TN ngày càng được tăng lên.

Cơ quan BHXH sẽ bán thẻ BHYT TN theo đợt, mỗi tháng một đợt Từngày 25 - 30 hàng tháng đại lý bảo hiểm sẽ đến hộ gia đình đăng ký mua thẻ

và nộp vào tài khoản của cơ quan bảo hiểm, chậm nhất là ngày 10 của thángsau người mua sẽ nhận được thẻ Thẻ sẽ có giá trị bắt đầu từ ngày 1 của thángtiếp sau nữa và hạn dụng trong vòng 1 năm

Ở những tỉnh chưa có đầy đủ đại lý thì cũng từ 25 – 30 hàng tháng bảohiểm tỉnh sẽ cử đại diện tới các ủy ban nhân dân xã /phường để thu tiền, việctrả thẻ ngày 10 hàng tháng cũng được thực hiện tại đây

Khi đi khám bệnh, ngoài thẻ BHYT TN, người dân phải mang theochứng minh thư hoặc giấy tờ tùy thân có ảnh hoặc sổ hộ khẩu Người dân xã,huyện nào thì đăng ký mua thẻ BHYT ở bệnh viện đa khoa huyện đó Chỉtrong trường hợp cấp cứu thẻ BHYT mới có giá trị ở bất kỳ cơ sở y tế nào,hoặc bệnh viện đó tự chuyển lên bệnh viện tuyến trên ( phải có chứng minhthư và giấy chuyển viện) Trường hợp người dân mua thẻ bảo hiểm rồi mớithay đổi địa điểm làm việc thì có thể làm thủ tục chuyển đổi thẻ tại BHXHtỉnh nơi đã cấp thẻ

Khi tham gia BHYT TN tại các cơ sở khám chữa bệnh công lập vàngoài công lập có hợp đồng khám chữa bệnh với BHYT, người có thẻ khikhám chữa bệnh ngoại trú được thanh toán 100% chi phí với mức dưới100.000 đồng / lần khám, được thanh toán 80% chi phí khám chữa bệnh trên100.000 đồng Trường hợp sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao được thanh toán 80%cho chi phí dưới 20 triệu đồng/ 1 lần sử dụng Riêng trường hợp người thamgia BHYT TN ở cơ sở y tế không có hợp đồng hay khám chữa bệnh ở nước

Trang 35

ngoài được cơ quan BHXH tham gia thanh toán 80% chi phí trên 100.000đồng Đối với học sinh, sinh viên khi tham gia BHYT TN ngoài các quyền lợiđược hưởng theo quy định còn được hưởng quyền lợi về chăm sóc sức khỏe

ban đầu tại y tế trường học Trường hợp tử vong được trợ cấp 1 triệu đồng.

[15]

Bộ trưởng bộ y tế vừa đệ trình lên quốc hội dự án luật BHYT Theo đó,

từ năm 2010, học sinh, sinh viên sẽ tham gia đóng BHYT bắt buộc và sau đó

là nông dân, ngư dân cùng các đối tượng khác, tổng cộng khoảng 25 nhóm

Lộ trình thực hiện quy định học sinh, sinh viên đóng BHYT bắt buộc từ năm

2010, thân nhân thuộc hộ gia đình của cán bộ, công chức…từ năm 2012 Năm

2014, đến lượt nông dân, ngư dân, xã viên, hộ kinh doanh cá thể…

2.1.2.6 Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BHYT TN

Quan điểm của Đảng và Nhà nước về BHYT TN là tiến tới mục tiêuBHYT toàn dân, đã được xác định trong hiến pháp năm 1992: “…kết hợpphát triển y tế nhà nước với y tế tư nhân; thực hiện BHYT, tạo điều kiện đểmọi người dân được chăm sóc sức khỏe”

Nghị quyết số 46- NQ/TW ngày 23 tháng 02 năm 2005 của bộ chính trị

về công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân trong tình hìnhmới, khẳng định: “Phát triển BHYT toàn dân, nhằm từng bước đạt tới sự côngbằng trong chăm sóc sức khỏe, thực hiện sự chia sẻ giữa người khỏe vớingười ốm, người giàu với người nghèo, người trong độ tuổi lao động với trẻ

em, người già…”

Nghị quyết đại biểu đại hội toàn quốc lần thứ X Đảng cộng sản ViệtNam tiếp tục nhấn mạnh: “Phát triển và nâng cao chất lượng BHYT; xâydựng và thực hiện tốt lộ trình tiến tới BHYT toàn dân; phát triển mạnh cácloại hình BHYT TN, BHYT cộng đồng Mở rộng diện các cơ sở y tê công lập

và ngoài công lập khám bệnh, chữa bệnh theo BHYT để phục vụ nhân dân.Hạn chế và giảm dần hình thức thanh toán viện phí trực tiếp từ người bệnh

Trang 36

Đổi mới phương thức thanh toán viện phí trực tiếp từ người bệnh Đổi mớiphương thức thanh toán viện phí qua Quỹ BHYT”.

Chỉ thị số 06-CT/TW ngày 22 tháng 01 năm 2002 của Ban Bí thư trungương đảng về củng cố và hoàn thiện y tế cơ sở định hướng: “…phát triểnBHYT ở nông thôn, đặc biệt là BHYT cho người nghèo, những người thực

hiện chính sách trợ cấp xã hội và nông dân”.[16]

Như vậy, quan điểm của đảng và nhà nước ta về BHYT đều khẳng địnhnhất quán mục tiêu từng bước tiến tới BHYT toàn dân, vì lợi ích nhân dânphục vụ

2.1.2.7 Trách nhiệm của các bên tham gia BHYT TN

* Trách nhiệm của cơ quan BHXH

Tuyên truyền, hướng dẫn giải thích và cung cấp thông tin về quyền lợi,trách nhiệm, phạm vi chi trả khám chữa bệnh (KCB) cho người tham giaBHYT

Ký hợp đồng trách nhiệm với lãnh đạo các hội đoàn thể, với ủy bannhân dân, xã, phường, thị trấn để triển khai chính sách BHYT TN và nhu cầuBHYT TN của đối tượng thuộc phạm vi địa phương, đơn vị đoàn thể quản lý

Thực hiện công tác thu phí, cấp thẻ BHYT và quản lý người tham giaBHYT TN

Ký hợp đồng khám chữa bệnh BHYT với các cơ sở khám chữa bệnh.Thực hiện công tác giám định đảm bảo quyền lợi cho người tham giaBHYT Thanh quyết toán chi phí KCB BHYT kịp thời, đúng quy định, từchối thanh toán chi phí KCB không đúng quy định

Phối hợp với cơ sở KCB giải quyết các khiếu nại liên quan đến quyềnlợi hợp pháp của người tham gia BHYT TN

*Trách nhiệm của các cơ sở khám chữa bệnh

Trang 37

Cơ sở KCB có trách nhiệm kí hợp đồng KCB với cơ quan BHXH, đảmbảo quyền lợi của người có thẻ BHYT theo các quy định của các điều lệBHYT.

Tổ chức tiếp nhận, hướng dẫn phối hợp với các đại diện cơ quanBHXH kiểm tra BHYT, đảm bảo đúng người đúng thẻ Thực hiện KCB theođúng chuyên môn, phối hợp với các cơ quan BHXH quản lý các người bệnhtrong thời gian điều trị tại bệnh viện

Tổ chức công tác thống kê chi phí KCB BHYT làm cơ sở việc thanhtoán với cơ quan BHXH

* Trách nhiệm của UBND xã phường, thị trấn,hội, đoàn thể, nhà trường

Xác định rõ việc triển khai BHYT TN là trách nhiệm của đơn vị mìnhtrong việc thực hiện đường lối chủ trương, chính sách của đảng, Nhà nước

Tổ chức công tác tuyên truyền, vận động hướng dẫn nhân dân, học sinhnhận thức được BHYT TN là một chính sách của Đảng nhà nước góp phầnchăm sóc, bảo vệ sức khỏe cho nhân dân, thực hiện xã hội hóa công tác y tếgiáo dục, đồng thời hiểu rõ ý nghĩa, mục đích, quyền lợi, trách nhiệm củangười tham gia BHYT TN từ đó tự giác tham gia

Tổ chức cho học sinh, nhân dân tham gia đăng ký BHYT và đạt đượccác điều kiện như quy định Thực hiện ký hợp đồng với cơ quan BHXH về sốngười tham gia BHYT TN Thành lập đại lý thu BHYT TN để thực hiện cácnghiệp vụ về thu và cấp thẻ BHYT

* Trách nhiệm của người tham gia BHYT TN

Đăng ký tham gia BHYT, thực hiện đóng BHYT TN đầy đủ, đúng thời hạn Xuất trình thẻ BHYT còn giá trị sử dụng và giấy tờ tùy thân có ảnh đi KCB Bảoquản, giữ gìn thẻ BHYT không cho người khác mượn thẻ, thuê thẻ Phản ánhvới cơ quan BHXH về tình hình KCB khi quyền lợi chính đáng của mình bị viphạm

Trang 38

2.1.2.8 Quyền lợi của người có thẻ BHYT TN

Thẻ BHYT TN có giá trị sử dụng sau 30 ngày kể từ ngày đóng BHYTtrong trường hợp tham gia BHYT lần đầu hoặc tham gia BHYT sau một thờigian gián đoạn vì bất cứ lý do gì Thẻ BHYT TN có giá trị sử dụng ngay khiđóng phí BHYT trong trường hợp tham gia BHYT liên tục

Người có thẻ BHYT TN còn giá trị sử dụng khi ngoại trú, nội trú tạicác cơ sở KCB có hợp đồng với cơ quan BHXH về KCB cho người có thẻBHYT được hưởng các quyền lợi sau: khám bệnh, chuẩn đoán, điều trị, xétnghiệm, chuẩn đoán hình ảnh, thăm dò chức năng, các thủ thuật, phẫu thuật,máu, dịch truyền trong danh mục của Bộ y tế; sử dụng vật tư thiết bị y tế, chiphí khám thai, sinh con,…

Người có thẻ BHYT TN khi KCB tại nơi đăng ký KCB ban đầu và cơ

sở KCB khác theo giới thiệu chuyển viện phù hợp với tuyến chuyên môn kỹthuật theo quy định của Bộ y tế hoặc trong trường hợp cấp cứu tại các cơ sởKCB BHYT , được cơ quan BHXH thanh toán chi phí theo giá viện phí hiệnhành của nhà nước, riêng trường hợp sử dụng dịch vụ kỹ thuật cao có chi phílớn được thanh toán theo quy định Được thanh toán 100% chi phí KCB ngoạitrú khi chi phí dưới 100.000 đồng/lần Từ 100.000đồng/lần trở lên được thanhtoán 80% Được thanh toán 80% chi phí KCB nội trú Trường hợp sử dụng kỹthuật cao, chi phí lớn, được cơ quan Bảo hiểm xã hội thanh toán 80% chi phí,nhưng không quá 20 triệu đồng/lần sử dụng vụ kỹ thuật đó

Người tham gia BHYT TN liên tục đủ 36 tháng, từ tháng 37 trở đi, khi

sử dụng thuốc chữa bệnh điều trị ung thư, thuốc chống thải ghép ngoài danhmục được phép lưu hành tại Việt Nam, thì BHYT TN thanh toán 50% chi phí

Trong một số trường hợp theo quy định của pháp luật thì quỹ BHYT

TN không thực hiện chi trả chi phí KCB

Trang 39

2.1.2.9 Ý nghĩa của việc tham gia BHYT TN

Những người thuộc công nhân viên chức hoặc người lao động có hợpđồng dài hạn với các công ty thuộc mọi thành phần kinh tế đều là nhữngngười thuộc diện tham gia BHYT bắt buộc Họ không những là những người

có thu nhập ổn định và sức khỏe được đảm bảo một phần khi họ tham giaBHYT Trong khi đó, lao động tự do và nông dân là những người có thu nhậpthấp, không ổn định thì lại phải đối mặt với tình trạng khó khăn nếu khôngmay bị ốm đau, tai nạn Vì vậy, chính sách BHYT TN giúp họ có điều kiện cóđược công bằng hơn trong xã hội

Việc tham gia BHYT TN giúp người ND bớt đi một phần lo ngại nếugặp vấn đề không may về sức khỏe Đó là chi phí trả trước cho rủi ro có thểgặp phải trong tương lai Khi tham gia BHYT người ND phải trả số tiền ít hơnkhi đi khám chữa bệnh Như vậy sức khỏe của người ND được đảm bảo hơndẫn đến làm tăng thu nhập cho họ Không chỉ có ý nghĩa với người ND, việctham gia BHYT TN còn có ý nghĩa to lớn đối với cộng đồng và xã hội Mỗingười tham gia BHYT đã đóng góp cho cộng đồng, chia sẻ rủi ro, lấy số đông

bù số ít Việc tham gia BHYT nhiều cũng giúp cho nhà nước tránh phải bỏ ramột lượng tiền lớn trong ngân sách để chi trả cho quỹ BHYT âm mỗi năm, từ

đó có thể đầu tư vào phát triển kinh tế

Mặt khác, khi sức khỏe của mỗi người được nâng cao thì tuổi thọ cũngngày được tăng lên Tuổi thọ bình quân là ba yếu tố cấu thành nên chỉ số pháttriển con người (HDI) Nâng cao tuổi thọ cũng đồng thời nâng cao HDI củaNước ta tăng góp phần nâng cao vị thế của đất nước ta trên trường quốc tế

2.1.2.10 Một số yếu tố ảnh hưởng đến việc tham gia BHYT TN của người ND

* Yếu tố thu nhập

Thu nhập quyết định đến rất nhiều vấn đề đối với mỗi con người, đờisống của ND nước ta đang còn thấp nên việc tham gia BHYT TN cũng chưacao Khi đời sống của người ND được nâng cao thì họ sẽ có xu hướng chú ý

Trang 40

quan tâm đến sức khỏe của mình hơn BHYT của nước ta có rất nhiều mức đểngười ND có thể lựa chọn mức bảo hiểm từ 120.000-160.000đ/thẻ/năm.Nhưng đối với người ND với mức đóng trên thì còn hơi cao vì trong hộ NDthường có nhiều thành viên.

* Yếu tố nhận thức tâm lý, độ tuổi

Tâm lý người ND nước ta đang còn ít tham gia vào các chính sách liênquan đến lợi ích cộng đồng Do đời sống kinh tế người ND còn khó khănchưa dư giả gì cho cuộc sống nên họ chưa chú ý gì đến việc tâm lý sức khỏecho chính bản thân mình Họ chỉ lo làm ăn kinh tế tăng thu nhập cho hộ giađình Họ thường có tâm lý khi không có ai tham gia thì lợi ích thấy trước mắt

họ cũng do dự khi tham gia nhưng khi với nhiều người tham gia thì họ sẵnsàng tham gia Tâm lý người ND ở nước ta chỉ có khi ốm đau, bệnh tật mớitham gia BHYT và gắng nặng chi trả KCB cho họ lại trút lên ngân sách nhànước Độ tuổi cũng ảnh hưởng đến nhu cầu tham gia BHYT TN, những người

có độ tuổi cao thì có nhu cầu tham gia BHYT nhiều hơn những người trẻ tuổi.Những người trẻ thường có tâm lý nghĩ mình đang khỏe nên không tham gia.Thường thì độ tuổi từ 55 trở lên là có nhu cầu tham gia BHYT nhiều hơn

* Yếu tố chính sách

Chính sách BHYT của nhà nước cùng với các văn bản dưới luật và luậtgóp phần làm cho người ND yên tâm hơn về chế độ quyền lợi và nghĩa vụ khitham gia BHYT Nhà nước đã ban hành rất nhiều chỉ thị, thông tư như năm

1998 nghị định số 58/1998/NĐ –CP ngày 13-8-1998, năm 2005 thực hiệnnghị định số 63/2005/NĐ-CP ngày 16-5-2005 của chính phủ, Nghị quyết số46-NQ/TW ngày 23-022005 của bộ chính trị về công tác bảo vệ, chăm sóc vànâng cao sức khỏe cho nhân dân Nghị định của đảng ta có một số nghị địnhkhông thật phù hợp

Ngày đăng: 15/05/2016, 17:19

Nguồn tham khảo

Tài liệu tham khảo Loại Chi tiết
1. Báo cáo tình hình phát triển kinh tế của xã Tân Xuân- Tân Kỳ- Nghệ An qua 3 năm 2007- 2009 Khác
2. Báo cáo tổng kết chung của xã Tân Xuân qua từng năm 2007, 2008, 2009 3. PGS. TS Nguyễn Nguyên Cự, 2005. giáo trình Marketing nông nghiệp.Nhà xuất bản Nông nghiệp Hà Nội Khác
4. PGS.TS Đào Văn Dũng, 2009. Thực hiện chính sách BHYT ở nước ta- thành tựu, thách thức và giải pháp của bộ y tế Khác
5. TS. Trần Văn Đức & ThS. Lương Xuân Chính, 2006. Giáo trình kinh tế học vi mô. Nhà xuất bản nông nghiệp Hà Nội Khác
6. Nguyễn Thị Huyền, 2005. Xác định cầu tiêu dùng thịt lợn ở Thành Phố Hà Nội, luận văn thạc sĩ kinh tế chuyên ngành kinh tế đại học Nông Nghiệp Hà Nội Khác
7. Phạm Thị Lam, 2009. Đánh giá nhu cầu về xây dựng, quản lý và phát triển nhãn hiệu tập thể Bưởi Phúc Trạch huyện Hương Khê Hà Tĩnh. Luận văn tốt nghiệp đại học Khác
8. Thái Thị Nhung, 2009. Đánh giá nhu cầu tạo lập, quản lý và phát triển nhãn hiệu chứng nhận Cam bù huyện Hương Sơn Tỉnh Hà Tĩnh. Luận văn tốt nghiệp đại học Khác
9. Hoàng Kiến Thiết, 2006. Bảo hiểm y tế tự nguyện – thực trạng và giải pháp. trưởng ban BHYT tự nguyện, BHXH Việt Nam Khác
10. Đỗ Thị Thúy, 2008. nghiên cứu thực trạng và khả năng tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của người lao động trên địa bàn thị xã Phủ Lý – tỉnh Hà Nam hiện nay. Luận văn tốt nghiệp đại học Khác
11. Nguyễn Viết Vượng,2006 . Giáo trình kinh tế bảo hiểm. Nhà xuất bản lao động Hà Nội Khác

HÌNH ẢNH LIÊN QUAN

Hình 2.1 Thứ tự sắp xếp nhu cầu của Abraham H.Maslow năm 1943 - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
Hình 2.1 Thứ tự sắp xếp nhu cầu của Abraham H.Maslow năm 1943 (Trang 19)
Đồ thị 2.1 Đường cầu về hàng hóa dịch vụ - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
th ị 2.1 Đường cầu về hàng hóa dịch vụ (Trang 22)
Đồ thị  2.2 Thặng dư tiêu dùng của một người sử dụng nước - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
th ị 2.2 Thặng dư tiêu dùng của một người sử dụng nước (Trang 25)
Đồ thị 3.1. Cơ cấu diện tích đất tự nhiên            Đồ thị 3.2. Cơ cấu các loại đất NN                             năm 2009                                       năm 2009 - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
th ị 3.1. Cơ cấu diện tích đất tự nhiên Đồ thị 3.2. Cơ cấu các loại đất NN năm 2009 năm 2009 (Trang 51)
Đồ thị 3.3. Cơ cấu lao động năm 2009 - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
th ị 3.3. Cơ cấu lao động năm 2009 (Trang 53)
Đồ thị 3.4. Cơ cấu ngành trong  tổng GTSX năm 2009 - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
th ị 3.4. Cơ cấu ngành trong tổng GTSX năm 2009 (Trang 54)
Đồ thị 3.5. Cơ cấu GTSX các ngành trong ngành N- L – TS năm 2009 - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
th ị 3.5. Cơ cấu GTSX các ngành trong ngành N- L – TS năm 2009 (Trang 54)
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích của nghiên cứu - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
Sơ đồ 3.1 Khung phân tích của nghiên cứu (Trang 56)
Sơ đồ 3.2: Trình tự các bước tiến hành áp dụng phương pháp tạo dựng thị trường - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
Sơ đồ 3.2 Trình tự các bước tiến hành áp dụng phương pháp tạo dựng thị trường (Trang 66)
Bảng 4.2 : Điều kiện sống và văn hóa của các hộ nông dân trong xã Tân - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
Bảng 4.2 Điều kiện sống và văn hóa của các hộ nông dân trong xã Tân (Trang 71)
Bảng 4.3 : Số người tham gia khám chữa bệnh tại trạm y tế xã Tân Xuân - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
Bảng 4.3 Số người tham gia khám chữa bệnh tại trạm y tế xã Tân Xuân (Trang 74)
Bảng 4.4 : Tình hình tham gia bảo hiểm y tế của người dân qua 3 năm - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
Bảng 4.4 Tình hình tham gia bảo hiểm y tế của người dân qua 3 năm (Trang 76)
Đồ thị 4.1. Ý kiến của hộ điều tra về khó khăn trong việc tham gia về BHYT TN - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
th ị 4.1. Ý kiến của hộ điều tra về khó khăn trong việc tham gia về BHYT TN (Trang 80)
Bảng 4.7 : Số hộ điều tra có thu nhập theo các ngành năm 2009 - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
Bảng 4.7 Số hộ điều tra có thu nhập theo các ngành năm 2009 (Trang 82)
Bảng 4.8: Kết quả điều tra ý kiến của các hộ nông dân về vấn đề tham gia - Đánh giá  nhu cầu tham gia bảo hiểm y tế tự nguyện của các hộ nông dân trên địa bàn xã tân xuân , tân kỳ,  nghệ an
Bảng 4.8 Kết quả điều tra ý kiến của các hộ nông dân về vấn đề tham gia (Trang 84)

TỪ KHÓA LIÊN QUAN

TÀI LIỆU CÙNG NGƯỜI DÙNG

TÀI LIỆU LIÊN QUAN

🧩 Sản phẩm bạn có thể quan tâm

w